Hòa giải đã trở thành một nguyên tắc, thủ tục tố tụng, một chế định trong pháp luật tố tụng dân sự TTDS nhằm đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự trong giải quyết tranh chấp và thể hi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
luận văn thạc sĩ luật học
Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Thị Huyền
Hà nội - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Thúy
Trang 4Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI
VÀ HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
7
1.1 Khái niệm, đặc điểm, cơ sở, quá trình hình thành và phát
triển, ý nghĩa chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự
pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
Trang 5Chương 2: CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
44
2.1.1 Hòa giải phải trên cơ sở sự tự nguyện thỏa thuận của các
Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ CÁC KIẾN NGHỊ HOÀN
THIỆN CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI TRONG PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
85
3.1 Thực tiễn áp dụng chế định hòa giải trong tố tụng dân sự 85
3.1.2 Về thành phần tham hòa giải không đúng quy định của pháp luật 87
3.1.3 Nội dung hòa giải và quyết định công nhận sự thỏa thuận 90
Trang 63.2.1 Bảo đảm nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự
và các nguyên tắc khác của giao lưu dân sự, kinh tế trong điều
kiện của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
101
3.2.2 Xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước phải bảo đảm cho
đương sự thực hiện quyền tự định đoạt của mình trong việc
hòa giải các vụ việc dân sự
102
3.2.3 Chế định hòa giải phải đảm bảo các tiêu chí về hoàn thiện chế
định hòa giải, góp phần phát huy dân chủ trong mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội, củng cố khối đoàn kết cộng đồng, khơi
dậy tình tương thân tương ái của dân tộc Việt Nam
102
3.2.4 Chế định hòa giải phải giản đơn, thuận lợi bảo đảm tiến hành
hòa giải nhanh chóng, hiệu quả
103
3.3 Các kiến nghị hoàn thiện chế định hòa giải và nâng cao hiệu
quả của áp dụng chế định hòa giải
104
3.3.1 Kiến nghị về hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật tố
tụng dân sự Việt Nam hiện hành
Trang 7TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, xã hội loài người là tổng thể các quan hệ xã hội đa dạng, phức tạp, đa chiều, đa lợi ích Các mâu thuẫn, tranh chấp là một hiện tượng xã hội phổ biến, khách quan trong đời sống xã hội hàng ngày Vấn đề ở đây không phải là phủ nhận, né tránh các mâu thuẫn, tranh chấp mà phải tìm giải pháp tích cực, hữu hiệu giải quyết tranh chấp đó Trong nhiều biện pháp giải quyết tranh chấp, hòa giải là một biện pháp quan trọng để giải quyết kịp thời các tranh chấp, hướng tới mục đích bình đẳng và hòa hợp trong các mối quan hệ xã hội Hòa giải đã trở thành một nét đẹp
truyền thống, đạo lý của dân tộc Việt Nam, giúp giải quyết những mẫu thuẫn,
tranh chấp góp phần giữ gìn sự hòa thuận cho từng gia đình, bình yên cho từng làng xóm, giữ trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội, củng cố khối đoàn kết cộng đồng Truyền thống này là sức mạnh tiềm tàng, là nội lực vô tận cho công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh
Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945 đã dẫn đến sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Nhà nước ta đã chú trọng, phát huy vai trò của hòa giải trong việc giải quyết các tranh chấp Hòa giải đã trở thành một nguyên tắc, thủ tục tố tụng, một chế định trong pháp luật tố tụng dân sự (TTDS) nhằm đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự trong giải quyết tranh chấp
và thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân
Hiện nay, chế định hòa giải đã được quy định khá đầy đủ và chi tiết trong Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 và đã trở thành phương thức hữu hiệu khi giải quyết các vụ việc dân sự Trong đó, chế định hòa giải
là cơ sở để các cơ quan Tòa án tiến hành hòa giải góp phần bảo vệ quyền và
Trang 10lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức trên cơ sở tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự Hòa giải đã trở thành một chế định quan trọng trong hoạt động TTDS Thông qua hòa giải, Tòa án có thể giúp các đương sự giải quyết mâu thuẫn, thỏa thuận giải quyết vụ việc dân sự mà không cần phải kéo dài phiên tòa xét xử, đỡ tốn kém thời gian, tiền của Nhà nước, của các đương sự; hàn gắn những rạn nứt trong quan hệ giữa các đương sự góp phần xây dựng khối đoàn kết trong nhân dân Bên cạnh đó, qua việc hòa giải Tòa án còn có thể giải thích, nâng cao nhận thức pháp luật cho các đương sự giúp cho việc tổ chức thi hành án được thuận lợi Đặc biệt, khi hòa giải thành các đương sự sẽ tự nguyện thi hành án, đa số các trường hợp không phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án
Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay, sự nghiệp đổi mới đất nước đang diễn ra sâu rộng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)
đã thúc đẩy sự phát triển, đan xen giữa các giao lưu dân sự, kinh tế, các quan
hệ dân sự đã có những thay đổi đáng kể và nhanh chóng cần có sự điều chỉnh phù hợp của pháp luật Trong bối cảnh như vậy, BLTTDS nói chung và chế định hòa giải nói riêng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập; có những quy định mâu thuẫn với các văn bản quy phạm pháp luật khác; có những quy định chưa phù hợp, chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng, có nhiều cách hiểu khác nhau… và áp dụng chưa thống nhất, hạn chế hiệu quả của hoạt động hòa giải trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự Chính từ thực trạng đó đòi hỏi phải nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và đầy đủ về chế định hòa giải trong pháp luật TTDS Việt Nam nhằm góp phần hoàn thiện những quy định của pháp luật TTDS Vì vậy, BLTTDS đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15/6/2004 và được sửa đổi bổ sung năm 2011 So với BLTTDS, Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều BLTTDS năm 2011 có nhiều sửa đổi, bổ sung, quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách của thực tiễn giải quyết các vụ việc dân
sự trong giai đoạn hiện nay
Trang 11Với nhận thức như vậy, tôi đã chọn đề tài "Hoàn thiện chế định hòa
giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam" làm đề tài cho luận văn tốt
nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hòa giải là một chế định quan trọng trong thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự tại Tòa án, chế định hòa giải đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn quan tâm Nhiều công trình, bài viết khoa học nghiên
cứu về hòa giải trong TTDS như: Luận án tiến sĩ Luật học: "Chế định hòa giải
trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam - Cơ sở lý luận và thực tiễn", của
Trần Văn Quảng, Hà Nội, 2004; Luận văn thạc sĩ Luật học "Hòa giải trong tố
tụng dân sự - Thực tiễn và hướng hoàn thiện", của Bùi Đăng Huy, Trường
Đại học Luật Hà Nội, 1996; Khóa luận tốt nghiệp: "Hòa giải trong pháp luật
tố tụng dân sự Việt Nam", của Nguyễn Kiều Oanh, Hà Nội, 2010; Khóa luận
tốt nghiệp: "Hòa giải trong tố tụng dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn", của La Phương Na, Hà Nội, 2011; Luận văn thạc sĩ Luật học: "Hòa giải
vụ việc dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam", của Lê Bích Ngọc,
2013… Tuy nhiên, kể từ khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011 có hiệu lực đến nay thì chưa có công trình nào nghiên cứu một cách
tổng thể về hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật TTDS Vì vậy, vấn đề
đặt ra là cần phải có sự nghiên cứu về hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật TTDS ở Việt Nam một cách toàn diện, đầy đủ, hệ thống cả về lý luận và thực tiễn, nhằm nâng cao hiệu quả của việc hòa giải trong việc giải quyết các
vụ việc dân sự tại Tòa án
3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ cơ sở lý luận về chế định hòa giải và hoàn thiện chế định trong pháp luật TTDS Việt Nam; tìm hiểu các quy định về hòa giải và thực tế áp dụng các quy định này trong hoạt động giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án nhân dân (TAND) Mặt khác, chỉ ra những điểm còn thiếu đồng bộ, mâu thuẫn hoặc chưa hợp lý về chế định hòa
Trang 12giải trong pháp luật TTDS Việt Nam, từ đó đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện chế định này
Để đạt được mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau đây:
- Tìm hiểu một cách đầy đủ và có hệ thống các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam chế định hòa giải;
- Hiện nay, việc áp dụng chế định hòa giải còn rất nhiều bất cập và hạn chế, nên đã làm cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể gặp nhiều khó khăn, nhiều trường hợp quyền và nghĩa vụ của chủ thể không thực hiện được Việc nghiên cứu, đánh giá mức độ hoàn thiện của chế định hòa giải và thực tiễn áp dụng chế định hòa giải trong TTDS chỉ ra những nội dung, những vấn đề còn thiếu sót, chưa phù hợp, những hạn chế từ việc áp dụng chế định hòa giải Từ đó, luận giải về yêu cầu hoàn thiện chế định hòa giải trong TTDS Việt Nam, đồng thời đề ra các kiến nghị hoàn thiện chế định này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
- Những vấn đề lý luận về chế định hòa giải và hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật TTDS Việt Nam
- Thực trạng chế định hòa giải trong pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành
- Thực tiễn áp dụng và các kiến nghị hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật TTDS ở Việt Nam
Hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật TTDS có phạm vi nghiên cứu rộng nên có thể được nghiên cứu dưới nhiều phương diện khác nhau và với nhiều nội dung khác nhau Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ Luật học, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu chế định hòa giải theo quy định của BLTTDS Việt Nam hiện hành Luận văn có đề cập nghiên cứu một số quy định của pháp luật tố tụng về hòa giải trước thời điểm BLTTDS được ban
Trang 13hành Tuy nhiên, cách tiếp cận về các vấn đề này chỉ là cơ sở để so sánh, nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và hệ thống về hòa giải theo quy định của BLTTDS Việt Nam Luận văn cũng có đề cập việc hòa giải theo thủ tục tư pháp ở một số nước trên thế giới, nhưng chỉ là để đối chiếu, so sánh khi cần thiết, chứ không đi sâu vào lĩnh vực này Vì định hướng nghiên cứu là tập trung nghiên cứu dưới góc độ pháp luật và thực tiễn áp dụng chế định hòa giải trong pháp luật TTDS, nên các kiến nghị mà tác giả đưa ra trong luận văn là tổng thể các kiến nghị khác nhau nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng chế định hòa giải trong pháp luật TTDS
1.5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Khi nghiên cứu đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin, những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về cải cách tư pháp Đồng thời, tác giả cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể, như: phân tích, chứng minh, tổng hợp, diễn giải, hệ thống hóa, so sánh, đối chiếu, sử dụng các kết quả thống kê thực tiễn xét xử của ngành Tòa án
6 Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn là công trình khoa học pháp lý ở cấp độ thạc sĩ ở nước ta nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống về hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật TTDS
Những đóng góp mới của luận văn là:
- Luận giải những vấn đề lý luận về chế định hòa giải và hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật TTDS
- Luận văn đã đi sâu nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam về hòa giải Làm sáng tỏ nguyên tắc, phạm vi, thành phần, nội dung, trình tự, thủ tục hòa giải và hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (QĐCNTT) tại Tòa án Từ những nghiên cứu này, luận văn
đã chỉ ra những bất cập trong các quy định pháp luật và việc tổ chức thực hiện
Trang 14hòa giải vụ việc dân sự tại Tòa án, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giải quyết vụ việc dân sự, là nguyên nhân quan trọng đưa việc giải quyết vụ việc dân sự rơi vào tình trạng xét xử lòng vòng qua nhiều cấp, kéo dài nhiều năm, gây bức xúc và mất niềm tin trong nhân dân
- Góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật TTDS Việt Nam hiện nay Luận văn này có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc xây dựng và hoàn thiện chế định hòa giải trong TTDS cũng như trong việc giảng dạy, nghiên cứu về chế định hòa giải trong pháp luật TTDS Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chế định hòa giải và hoàn thiện
chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
Chương 2: Chế định hòa giải theo quy định của pháp luật tố tụng dân
sự Việt Nam hiện hành
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và các kiến nghị hoàn thiện chế định
hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
Trang 15Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI
VÀ HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI TRONG PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, CƠ SỞ, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN, Ý NGHĨA CHẾ ĐỊNH HÒA GIẢI TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1.1 Khái niệm chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
Khi Tòa án giải quyết vụ việc dân sự thì phát sinh các quan hệ giữa Tòa án với đương sự và những người tham gia tố tụng khác Các quan hệ này xuất hiện khi đơn kiện được Tòa án thụ lý để giải quyết và tồn tại cho đến khi giải quyết vụ việc dân sự kết thúc Tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa Tòa án và các chủ thể tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và các chủ thể khác tạo thành một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, đó là ngành luật TTDS
Nhà nước bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của mọi chủ thể Khi
cá nhân, pháp nhân hay chủ thể khác có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm thì theo thủ tục do pháp luật quy định chủ thể đó được khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ (Điều 4 BLTTDS 2004) Trong phạm vi chức năng của mình Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ chế độ XHCN; bảo vệ pháp chế XHCN và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, cá nhân; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân Do vậy, khi có chủ thể khởi kiện vụ án dân sự thì Tòa án có thẩm quyền phải thụ lý vụ án và giải quyết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ
Trang 16Pháp luật TTDS quy định quyền và nghĩa vụ của Tòa án và các chủ thể tham gia tố tụng khác ở mỗi giai đoạn tố tụng Pháp luật TTDS xác định vai trò, trách nhiệm chủ động, tích cực của Tòa án trong quá trình giải quyết
vụ việc dân sự, đồng thời bảo đảm cho các đương sự trong vụ án có đầy đủ quyền tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, trong đó tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự được xác định là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTDS
Khi các bên yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp, pháp luật luôn bảo đảm cho các đương sự có quyền tự quyết định các hành vi của mình phù hợp với quy định của pháp luật như: tự rút đơn khởi kiện, thay đổi nội dung khởi kiện, hòa giải, kháng cáo bản án và quyết định chưa có hiệu lực pháp luật… Các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hòa giải các vụ việc dân sự trở thành chế định quan trọng của pháp luật TTDS
Theo Từ điển Tiếng Việt do Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa (2008):
"Chế định là định ra, lập ra một phép tắc có hệ thống để ban hành" [67, tr 153]
Theo Từ điển Luật học thì:
Chế định pháp luật được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội trong phạm vi một ngành luật Dưới góc độ pháp luật, hòa giải được coi là chế định pháp luật, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hòa giải các vụ việc dân sự [65, tr 76] Theo giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội thì: "Chế định pháp luật là một tập hợp được cấu trúc từ nhóm các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội có liên quan mật thiết với nhau thuộc cùng một loại" [55]
Theo Từ điển Tiếng Việt do Trung tâm Ngôn ngữ học trực thuộc Viện Khoa học xã hội biên soạn (1992), "Hòa giải là việc thuyết phục các bên đồng
ý chấm dứt xung đột hay xích mích một cách ổn thỏa" [53, tr 350]
Trang 17Hòa giải là một biện pháp để giải quyết các tranh chấp, theo đó, với sự giúp đỡ của bên thứ ba độc lập giữ vai trò trung gian, các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận giải quyết tranh chấp cho phù hợp với quy định của pháp luật, truyền thống đạo đức xã hội Hòa giải trong TTDS là hoạt động do Tòa
án tiến hành giúp các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự Để cho hoạt động hòa giải của Tòa án được khách quan, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì Tòa án phải tuân theo các quy
định về hòa giải trong TTDS Việt Nam
Từ những phân tích trên, chế định hòa giải là một trong những chế
định của pháp luật TTDS, bao gồm tổng thể các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hòa giải vụ việc dân sự
Cụ thể hơn chế định hòa giải là tổng hợp các quy định pháp luật tố tụng về nguyên tắc, phạm vi,thành phần, nội dung, trình tự thủ tục do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về giải quyết
vụ việc phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội
1.1.2 Đặc điểm chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự
Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, sự vật, hiện tượng không chỉ là sự biểu hiện của những mặt, những mối quan hệ bên ngoài, mà còn hàm chứa bản chất của sự vật, hiện tượng đó Hay nói cách khác, bản chất là những mặt, những mối liên hệ bên trong, quy định sự vận động của sự vật, hiện tượng Theo đó, chế định hòa giải trong pháp luật TTDS không chỉ đơn thuần là tổng thể các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hòa giải các vụ việc dân sự, mà còn phản ánh bản chất của các quan hệ
xã hội đó Bản chất của chế định này thể hiện ở những điểm sau đây
1.1.2.1 Chế định hòa giải điều chỉnh hoạt động hòa giải do Tòa án tiến hành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm
Chế định hòa giải với vị trí cấu thành của hệ thống pháp luật TTDS quy định về nguyên tắc, phạm vi, nội dung, trình tự, thủ tục hòa giải của Tòa án trong giải quyết vụ việc dân sự Chế định hòa giải quy định về quyền và nghĩa
Trang 18vụ cho các chủ thể khi tham gia trong quá trình hòa giải Khi các tranh chấp dân
sự xảy ra, các chủ thể có quyền tự thỏa thuận với nhau để giải quyết tranh chấp Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nếu hòa giải không thành, Tòa án phải củng
cố, hoàn hiện hồ sơ vụ việc để đưa ra xét xử tại phiên tòa Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là giai đoạn rất quan trọng, nó làm tiền đề, cơ sở pháp lý vững chắc đảm bảo cho việc xét xử và ra các quyết định của Tòa án được khách quan, toàn diện và đúng pháp luật Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
sơ thẩm, hoạt động hòa giải các vụ việc dân sự có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, hòa giải là một thủ tục bắt buộc đối với hầu hết vụ việc trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự
Hòa giải đã được pháp luật TTDS Việt Nam xác định là một nguyên tắc, thủ tục trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự để đương sự thực hiện quyền tự định đoạt của mình nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân, đồng thời còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc trong việc củng cố tình tương thân, tương ái, giữ gìn khối đoàn kết cộng đồng
Các quy định về hòa giải cũng như các hoạt động tố tụng khác trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự luôn luôn được hoàn thiện đáp ứng yêu cầu của đời sống xã hội Theo quy định BLTTDS, hòa giải là một giai đoạn bắt buộc đối với vụ án mà theo quy định phải tiến hành hòa giải ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, chỉ đưa ra xử tại phiên tòa sơ thẩm khi đã hòa giải không thành Hòa giải không phải là thủ tục bắt buộc tại phiên tòa sơ thẩm và các giai đoạn tố tụng tiếp theo trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự
Theo quy định BLTTDS, hòa giải là một nguyên tắc, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự Điều 10 BLTTDS quy định: "Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau
về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này" [31] Theo Điều 186 BLTTDS quy định: "Khi các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án dân sự thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành Biên bản này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hòa giải" [31]
Trang 19Như vậy, hòa giải là một thủ tục bắt buộc trước khi xét xử sơ thẩm đối với những vụ việc dân sự mà pháp luật quy định phải hòa giải; nếu hòa giải thành sau thời gian bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không
có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công ra QĐCNTT Nếu hòa giải không thành thì Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa
sơ thẩm Hòa giải là thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm và ở các giai đoạn tố tụng tiếp theo, nếu thấy có khả năng hòa giải thành thì Tòa án cũng tiến hành hòa giải Quy định này là cơ sở để các đương sự có thể hòa giải với sự giúp đỡ của Tòa án trong bất cứ thời điểm nào của quá trình giải quyết vụ án
Thứ hai, Tòa án là chủ thể trung gian tiến hành hòa giải giữa các đương sự
Trong quá trình hòa giải các vụ việc dân sự, Tòa án được pháp luật quy định có vai trò trung gian tổ chức hòa giải giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án Trách nhiệm hòa giải của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự là một nguyên tắc, thủ tục tố tụng không chỉ bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự, mà còn bảo đảm tính pháp lý của hòa giải Sau khi hoàn tất hồ sơ vụ án, Tòa án giải thích pháp luật liên quan đến những quan hệ đang tranh chấp, giải quyết vướng mắc giúp các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án Kết quả của hòa giải do Tòa án tiến hành là những văn bản có tính chất pháp lý (biên bản hòa giải thành hoặc không thành), là cơ sở để tiếp tục các hành vi tố tụng như quyết định công nhận hòa giải thành hoặc đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm Mặt khác, ở phiên tòa sơ thẩm và ở các giai đoạn tố tụng tiếp theo, pháp luật quy định nếu thấy có khả năng hòa giải thì chỉ có Tòa án có thẩm quyền tiến hành hòa giải và giải quyết các hậu quả pháp lý của vụ việc dân sự Sự có mặt của Tòa án trong hòa giải khẳng định vị trí trung gian của Tòa án trong hòa giải các vụ việc dân sự Đây là sự khác biệt giữa hòa giải do Tòa án tiến hành với hòa giải do Tổ hòa giải ở cơ sở tiến hành, hay việc tự hòa giải của đương
sự về giải quyết tranh chấp Trong trường hợp các đương sự tự hòa giải thì
Trang 20Tòa án có thể ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, còn việc hòa giải ở
Tổ hòa giải cơ sở thì không phải là thủ tục bắt buộc
Thứ ba, kết quả hòa giải thành là sự thỏa thuận của các đương sự
Trong các vụ việc dân sự, các đương sự là chủ thể của các quan hệ có nội dung tranh chấp nên họ mới có quyền thương lượng và điều đình với nhau về giải quyết các tranh chấp Việc thỏa thuận giữa các đương sự chỉ đạt được trên cơ
sở thương lượng một cách tự nguyện, trung thực, hợp lý, hợp tình, không một ai với bất kỳ một hình thức nào cưỡng ép, can thiệp vào thỏa thuận của các đương sự
Sự thỏa thuận của chính các đương sự là đặc trưng cơ bản của hòa giải, thể hiện sự tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự Chỉ có đương sự mới có quyền quyết định về việc giải quyết quyền và lợi ích của họ trong quá trình hòa giải vụ việc dân sự Đây cũng là điểm khác biệt giữa hòa giải với xét
xử Khi xét xử, đương sự phải tuân thủ nghiêm chỉnh mọi phán quyết của Tòa
án theo quy định của pháp luật, không có sự thương lượng giữa Tòa án và các đương sự, còn khi hòa giải, Tòa án chỉ có vai trò trung gian giúp đỡ các bên tranh chấp thỏa thuận với nhau mà không được can thiệp vào thỏa thuận đó
Thứ tư, hòa giải vụ việc dân sự được tiến hành theo trình tự, thủ tục
do chế định hòa giải quy định
Hòa giải vụ việc dân sự, cũng như các thủ tục tố tụng khác do Tòa án tiến hành trên cơ sở quy định của pháp luật Việc quy định trình tự và thủ tục hòa giải các vụ việc dân sự bảo đảm tính khách quan, công bằng trong hoạt động hòa giải của Tòa án, bảo đảm sự bình đẳng của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án Với ý nghĩa là một nguyên tắc, thủ tục TTDS, mọi quan
hệ phát sinh trong quá trình hòa giải các vụ việc dân sự được pháp luật điều chỉnh Các quy định của pháp luật TTDS về trình tự, thủ tục hòa giải là cơ sở
để tiến hành hòa giải các vụ việc dân sự và bắt buộc Tòa án và những người khác tham gia hòa giải các vụ việc dân sự phải tuân thủ các quy định đó
Từ những phân tích về hoạt động hòa giải, chế định hòa giải điều chỉnh mọi hoạt động hòa giải phát sinh trong quá trình Tòa án tiến hành giải
Trang 21quyết vụ việc dân sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Chế định hòa giải thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong hòa giải các vụ việc dân sự không chỉ thể hiện ở việc Tòa án phải tổ chức hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án, mà còn ở việc bảo đảm thực hiện kết quả hòa giải thỏa thuận về giải quyết vụ án của các đương sự trong hòa giải phù hợp với quy định của pháp luật được Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự Như vậy, khi kết quả hòa giải được Tòa án ra quyết định công nhận thì bắt buộc các bên thực hiện những cam kết của mình
1.1.2.2 Chế định hòa giải có mối liên hệ mật thiết với các chế định khác trong pháp luật tố tụng dân sự, đặc biệt là chế định chuẩn bị xét xử
- Mối quan hệ giữa chế định hòa giải với chế định khởi kiện và thụ lý
vụ việc dân sự
Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, chế định khởi kiện, thụ lý
vụ việc dân sự và chế định hòa giải là những vấn đề có mối liên hệ mật thiết với nhau Khi chủ thể của quyền khởi kiện thực hiện quyền khởi kiện của mình thì Tòa án mới xem xét thụ lý
Khởi kiện vụ án dân sự là việc cá nhân, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật dân sự nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích của mình hay của người khác Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, khi có yêu cầu của các chủ thể Khởi kiện vụ án dân sự, là giai đoạn khởi đầu trong TTDS Khi người khởi kiện thực hiện quyền khởi kiện của mình bằng việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền, Tòa án có trách nhiệm nhận đơn, vào sổ theo dõi để xem xét giải quyết Một mặt, Tòa án sẽ phải xác minh nội dung sau: thẩm quyền giải quyết, điều kiện về người khởi kiện, thời hiệu, nội dung vụ việc… Khi việc khởi kiện đáp ứng các yêu cầu thì Tòa án tiến hành thụ lý vụ án
Thụ lý vụ việc dân sự là công việc đầu tiên của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, là cơ sở pháp lý phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng, đặt trách nhiệm giải quyết vụ việc dân sự cho Tòa án Hoạt động thụ lý vụ án
Trang 22có phát sinh hay không hoàn toàn phụ thuộc vào việc thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự của các đương sự có đúng các quy định pháp luật không? Thụ lý vụ việc dân sự là cơ sở pháp lý để ràng buộc các chủ thể trong quan hệ dân sự được điều chỉnh bằng pháp luật TTDS Trong quan hệ này, Tòa án là chủ thể thực hiện quyền lực nhà nước thông qua việc thụ lý giải quyết tranh chấp và các quy định của Tòa án có tính chất bắt buộc đối với các bên Thụ lý
vụ án dân sự có mối quan hệ mật thiết với các chế định khác đặc biệt là chế định hòa giải Tòa án chỉ tiến hành hòa giải sau khi đã thụ lý vụ việc dân sự Không có các hoạt động khởi kiện và thụ lý vụ việc dân sự thì vấn đề Tòa án tiến hành hòa giải đối với các đương sự cũng không đặt ra trong giai đoạn này
- Mối quan hệ giữa chế định hòa giải với chế định chuẩn bị xét xử sơ thẩm
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ việc dân sự, Tòa án tiến hành hòa giải giữa các đương sự với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự Điều 10 BLTTDS quy định: "Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân
sự theo quy định của Bộ luật này" [31] Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, theo quy định tại khoản 2 Điều 179 BLTTDS quy định: tùy từng trường hợp, Tòa án
ra một trong các quyết định sau đây: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; Tạm đình chỉ giải quyết vụ án; Đình chỉ giải quyết vụ án; Đưa vụ án ra xét xử
Trong đó quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự là kết quả của việc hòa giải thành Điều đó có nghĩa hòa giải được tiến hành như một thủ tục bắt buộc trước khi mở phiên tòa sơ thẩm và việc hòa giải nằm trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm hay nói cách khác chế định hòa giải là một thành phần trong chế định chuẩn bị xét xử sơ thẩm Chế định hòa giải có ý nghĩa to lớn cho việc giải quyết vụ việc dân sự Trong trường hợp hòa giải thành thì sẽ giảm bớt được nhiều giai đoạn tố tụng phức tạp và khó khăn như giai đoạn xét
xử với thủ tục sở thẩm, thủ tục phúc thẩm, thủ tục giám đốc thẩm hoặc thủ tục tái thẩm… Trong trường hợp hòa giải không thành cũng giúp Tòa án có điều kiện tìm hiểu kỹ hơn nội dung của vụ việc dân sự với những tình tiết liên quan Trên cơ sở đó áp dụng những cách thức giải quyết vụ việc dân sự cho phù
Trang 23hợp Vì vậy, kết quả của hòa giải tại giai đoạn chuẩn bị xét xử có mối quan hệ
là tiền đề, cơ sở để Tòa án thực hiện các bước tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự Trong trường hợp, hòa giải không thành, thì Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, phân công Thẩm phán giải quyết vụ án; thông báo thụ lý vụ án; lập hồ sơ; quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập những người tham gia tố tụng đến phiên tòa Trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án mở phiên tòa để xét xử vụ án
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Tòa án bắt buộc phải tiến hành thủ tục hòa giải Tính chất bắt buộc được hiểu là Tòa án có trách nhiệm chủ động tiến hành thủ tục hòa giải dù việc hòa giải thành có khả quan hay không Nếu Tòa án không tiến hành thủ tục hòa giải bi coi như vi phạm nghiêm trọng thủ tục TTDS và là căn cứ kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm để hủy án và xét xử sơ thẩm lại (Khoản 2 Điều 277, khoản 3 Điều 299 BLTTDS năm 2004)
Lịch sử hơn nửa thế kỷ của nền tư pháp dân chủ nhân dân đã khẳng định chế định hòa giải trong pháp luật TTDS không chỉ thể hiện quyền tự định đoạt của đương sự, mà còn thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và tập thể khi giải quyết các tranh chấp dân sự, nâng cao chất lượng của nền tư pháp Việc tăng cường hoạt động hòa giải của TAND các cấp không chỉ đơn thuần với ý nghĩa là một biện pháp giải quyết có hiệu quả các vụ việc dân sự, mà còn khơi dậy truyền thống tương thân, tương ái, đoàn kết gắn bó của dân tộc Việt Nam
1.1.3 Cơ sở của chế định hòa giải trong tố tụng dân sự
1.1.3.1 Cơ sở pháp lý
Pháp luật về hòa giải được Nhà nước ta quy định khá cụ thể trong các văn bản pháp luật và ngày càng hoàn thiện để phù hợp với chính sách pháp luật của Nhà nước nói chung, phù hợp với thực tế xét xử các vụ việc dân sự
Chế định hòa giải vụ việc dân sự là một đặc trưng của pháp luật TTDS, được pháp luật TTDS quy định mà không được quy định trong pháp luật tố tụng
Trang 24hình sự và tố tụng hành chính Trong quan hệ pháp luật giải quyết đối với vụ án hình sự là mối quan hệ giữa Nhà nước với bị can, bị cáo (người thực hiện hành
vi phạm tội) Do đó, bị can, bị cáo không có quyền thỏa thuận với cơ quan đại diện cho Nhà nước truy tố tội danh cũng như mức hình phạt mà bị can, bị cáo phải chấp hành Đối với tố tụng hành chính, mối quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án là mối quan hệ hành chính giữa cơ các cá nhân, cơ quan, tổ chức bị quản lý với các cơ quan Nhà nước thực hiện quyền quản lý nhà nước
có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện Do đó, các đương sự trong vụ án hành chính không có quyền thỏa thuận với nhau về việc giải quyết
vụ án hành chính, nên vấn đề quy định chế định hòa giải cũng không được đặt
ra Đối với quan hệ pháp luật được giải quyết trong các vụ việc dân sự là quan
hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động Trong quan hệ này, các chủ thể đều bình đẳng, các chủ thể trong quan
hệ này đều có quyền tự mình, bằng hành vi tố tụng của mình để tự dàn xếp, thương lượng với nhau hoặc thông qua sự giúp đỡ của Tòa án thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án Pháp luật khuyến khích và bảo đảm để các đương sự hòa giải với nhau về việc giải quyết tranh chấp dân sự Điều 11 Bộ luật Dân
sự (BLDS) quy định: Trong quan hệ dân sự, việc hòa giải giữa các bên phù hợp với quy định pháp luật được khuyến khích Không ai được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự [32]
Việc quy định hòa giải là một thủ tục bắt buộc của Tòa án trước khi
mở phiên tòa sơ thẩm, xuất phát từ luật nội dung (cụ thể là BLDS) Trongquan hệ dân sự thì các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào Mọi cam kết thỏa thuận hợp pháp
có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên Theo đó, BLDS điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể bằng phương pháp bình đẳng, thỏa thuận Theo
quy định tại Điều 10 BLTTDS: Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và
tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết
vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này [31] Do đó, pháp luật TTDS quy định về chế định hòa giải nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể
Trang 25khi tiến hành hoạt động hòa giải nhằm xác định trách nhiệm của Tòa án trong việc giúp các đương sự thỏa thuận với nhau, tạo điều kiện để các đương sự thực hiện quyền tự định đoạt về giải quyết vụ việc dân sự Việc ghi nhận và bảo đảm thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS có ý nghĩa thực tiễn vô cùng quan trọng trong việc bảo đảm cho các đương sự thực hiện các quyền do pháp luật nội dung quy định
Trong quá trình xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam, việc hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật TTDS đang được Nhà nước hết sức chú trọng Biện pháp hòa giải các tranh chấp không dừng lại ở lĩnh vực dân sự,
mà đã và đang trở thành một biện pháp quan trọng giải quyết các tranh chấp kinh tế, lao động Việc hoàn thiện chế định hòa giải là một yêu cầu khách quan trước sự phát triển của đời sống xã hội trong tình hình mới và là một trong những nội dung quan trọng trong quá trình xây dựng BLTTDS hiện nay
1.1.3.2 Cơ sở thực tiễn
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, thực tiễn là tiêu chuẩn, thước đo của lý luận Thực tiễn kiểm nghiệm để khẳng định tính đúng đắn, phù hợp quy luật hoặc bác bỏ một luận điểm nào đó lỗi thời không phù hợp thực tiễn Mặt khác, thực tiễn cũng là tấm gương phản chiếu để phát triển lý luận Trong đời sống pháp luật, thực tiễn xét xử đã khẳng định hòa giải là một biện pháp truyền thống quan trọng mang tính phổ biến trong việc giải quyết các vụ việc dân sự Điều đó được thể hiện ở những điểm sau đây:
- Chế định hòa giải là biện pháp truyền thống giải quyết có hiệu quả các vụ việc dân sự
Chế định hòa giải được hình thành một cách khách quan trước yêu cầu của đời sống kinh tế, xã hội và chịu sự tác động sâu sắc của các yếu tố chính
trị, kinh tế, xã hội, tập quán trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử
Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, làng xã trong nền văn minh lúa nước là nơi hội tụ của những người nông dân với một cơ cấu cộng đồng bền chặt Ở một vùng đất thiên tai khắc nghiệt và
Trang 26nạn ngoại xâm luôn rình rập, nhân dân ta luôn ý thức sâu sắc về sức mạnh đoàn kết cộng đồng Chỉ có đoàn kết mới có thể đấu tranh chiến thắng thiên tai và dịch họa để tồn tại và phát triển Mỗi con người từ khi sinh ra cho đến lúc từ giã cõi đời không thể sống thiếu tình làng nghĩa xóm Họ có thể "bán anh em xa" nhưng phải "mua láng giềng gần" để "tắt lửa tối đèn có nhau" Tinh thần tương thân, tương ái bao trùm các quan hệ xã hội Tuy nhiên, trong cuộc sống thường ngày, mâu thuẫn tranh chấp giữa các thành viên trong gia đình, trong cộng đồng
là tất yếu không thể tránh khỏi Hòa giải trở thành một biện pháp quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn Thông qua hòa giải, mọi người thấy được lẽ phải, điều hay, giải quyết kịp thời không để tranh chấp nhỏ trở thành lớn, đơn giản trở thành phức tạp Chế định hòa giải góp phần tăng cường
sự hiểu biết và hòa hợp chứ không tăng thêm sự căng thẳng, đối đầu giữa các bên tranh chấp, góp phần ngăn ngừa sự phát sinh tội phạm và tranh chấp phát triển phức tạp, giữ gìn sự hòa thuận yên vui cho từng gia đình, làng xóm, sự hòa hợp của cộng đồng dân tộc, tạo nên nội lực phát triển bền vững của đất nước Trong điều kiện đó, chế định hòa giải đã hình thành một cách khách quan vì nhu cầu đoàn kết đấu tranh cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân, cộng đồng
Tháng 9/1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, việc giữ gìn truyền thống đoàn kết từ lâu đời, tình cảm giữa người với người là một trong những mục tiêu được Đảng và Nhà nước quan tâm hàng đầu Để giải quyết tốt các mâu thuẫn thường ngày xảy ra trong đời sống xã hội sao cho có tình có lý
và vẫn giữ gìn được tình đoàn kết dân tộc, giữ gìn bản sắc dân tộc là một việc làm vô cùng quan trọng và cần thiết Với ý nghĩa đó, chế định hòa giải đã được duy trì và không ngừng phát triển Từ chỗ là một hiện tượng mang tính
cá biệt, do cá nhân "cao niên, đức trọng" thực hiện trong từng đơn vị tụ cư, hòa giải đã trở thành hiện tượng mang tính phổ biến, được Nhà nước thừa nhận, được điều chỉnh bằng các quy định của pháp luật Từ đó, chế định hòa giải là một vấn đề nhất thiết phải được đặt ra trong TTDS và trở thành một chế định quan trọng trong pháp luật TTDS, điều đó vừa phù hợp với mục tiêu chính trị của Nhà nước, vừa phù hợp với truyền thống đạo đức của dân tộc
Trang 27Ngày nay, chế định hòa giải trong TTDS được tiếp tục bổ sung, hoàn thiện đáp ứng với yêu cầu của đời sống xã hội đặt ra
- Chế định hòa giải vụ việc dân sự phù hợp xu thế chung của thời đại
Một thực tế không thể phủ nhận được là hòa giải - một biện pháp giải quyết các tranh chấp truyền thống đã tồn tại trong chiều dài lịch sử của nhân loại Chế định hòa giải các tranh chấp góp phần tôn trọng và bảo vệ quyền cơ bản của con người trong đời sống dân sự và là biện pháp giải quyết tranh chấp bảo đảm hòa bình, an ninh quốc gia trong quan hệ với cộng đồng quốc tế
Trên thế giới, đặc biệt là các nước Châu Á như Trung Quốc, Inđônêxia, Philipin, Thái Lan , chế định hòa giải đã được Nhà nước đặc biệt chú trọng duy trì và phát huy vai trò trong việc giải quyết các tranh chấp trong nội bộ cộng đồng dân cư Trong hoạt động của các cơ quan xét xử, hòa giải được xác định là biện pháp quan trọng để giải quyết các vụ việc dân sự
Ở Trung Quốc, chế định hòa giải đã được áp dụng trong hoạt động của Tòa án từ trước năm 1949 Từ sau khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tháng 10/1949, chế định hòa giải vẫn được coi trọng và ngày càng phát triển Điều 9 Luật TTDS Trung Quốc (1991) quy định: "Tòa án nhân dân giải quyết các vụ việc dân sự phải tiến hành hòa giải theo nguyên tắc tự nguyện và kíp pháp, trường hợp không hòa giải được thì phải kịp thời xét xử" [62] Chương 8 của Luật này (từ Điều 85 đến Điều 91) đã quy định chi tiết về trình
tự và thủ tục hòa giải Hòa giải góp phần tích cực trong việc giải quyết các tranh chấp, "có tác dụng tốt cho việc phát triển sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, có lợi cho sức mạnh tổng hợp quốc gia" [62]
Bộ luật Tố tụng dân sự Đài Loan cũng quy định chặt chẽ thủ tục hòa giải các vụ việc dân sự Theo quy định của Mục 4 Bộ luật này, tòa án có quyền tiến hành thương lượng ở bất cứ giai đoạn nào nếu thấy có hy vọng hòa giải được [63]
Ở Singapore, hệ thống tòa án tư pháp được chia thành 3 cấp: tòa án tối cao, tòa án cấp cao và tòa án khu vực Trong đó, tòa án khu vực được giải quyết các tranh chấp có hạn ngạch tới 10.000 đô la Singapore "Phần lớn các tranh chấp
Trang 28ở đây được giải quyết bằng cách hòa giải Thời gian giải quyết rất nhanh chóng Nếu người Singapore thì khoảng 2 tuần, còn nếu khách du lịch thì chỉ khoảng
2 ngày" [64, tr 30] Có thể thấy rằng, hòa giải là một biện pháp giải quyết các tranh chấp hiệu quả, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế phát triển của Singapore
Ở nhiều nước phát triển, các quy định về hòa giải là chế định quan trọng của pháp luật TTDS Điều 21 Mục 8 BLTTDS của Cộng hòa Pháp cũng
đã xác định: "Thẩm phán có trách nhiệm hòa giải các bên đương sự" [24] Hiện nay, trước yêu cầu của đời sống xã hội, một trong năm vấn đề cải cách TTDS của Pháp là tăng cường, khuyến khích hòa giải, thỏa thuận - một biện pháp truyền thống trong việc giải quyết các tranh chấp của tòa án
Trong điều kiện hội nhập khu vực và quốc tế diễn ra mạnh mẽ, giao lưu dân sự kinh tế ngày càng phát triển đa dạng, đan xen và phức tạp, việc giải quyết các tranh chấp nói chung và các vụ việc dân sự nói riêng bằng biện pháp hòa giải đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng để giải quyết hòa bình, thân thiện các tranh chấp, góp phần bảo đảm cho các quan hệ dân sự, kinh tế phát triển ổn định và bền vững
Ở Việt Nam, hòa giải không chỉ là một biện pháp truyền thống giải quyết có hiệu quả các vụ việc dân sự, mà còn là một biện pháp giải quyết các
vụ việc dân sự phù hợp với xu thế chung của thời đại, tạo dựng lòng tin trong giao lưu dân sự, kinh tế khu vực và quốc tế
1.1.4 Quá trình hình thành và phát triển của chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
1.1.4.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989
Cách mạng tháng Tám thành công đã xóa bỏ chính quyền nhà nước thực dân phong kiến, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là Nhà nước độc lập, dân chủ thực sự của nhân dân, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch
sử phát triển của đất nước ta Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu của chế độ mới nên không tránh khỏi những hạn chế nhất định trong quản lý của Nhà nước, các văn bản còn tản mạn, chưa quy định hoàn chỉnh mọi vấn đề về hòa giải:
Trang 29- Trong thời kỳ này do Nhà nước chưa thể xây dựng ngay được các văn bản pháp luật mới nên Sắc lệnh 47/SL ngày 10/10/1945 quy định: "Cho đến khi xây dựng được bộ luật mới thì những luật lệ cũ vẫn tạm thời được sử dụng nếu không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể cộng hòa" [2] Như vậy, trong giai đoạn này, vấn đề hòa giải vẫn áp dụng theo các quy định của chế độ cũ Ở giai đoạn này, hòa giải chưa được quy định thành một chế định trong TTDS Trong luật lệ cũ ban hành trước năm 1945, hòa giải cũng được coi là một thủ tục tố tụng bắt buộc, chẳng hạn theo quy định của Bộ Bắc Kỳ pháp viện biên chế thì đối với các việc hộ và thương sự, nhiệm
vụ chính của Chánh án Tòa án sở thẩm là hòa giải, hòa giải không thành mới đưa ra xét xử và đối với những việc thuộc thẩm quyền của Tòa án đệ nhị cấp, Chánh án Tòa án sơ cấp cũng thử hòa giải rồi lập hồ sơ gửi Tòa án cấp trên
Sau Cách mạng tháng Tám thành công, thể lệ hòa giải cũng được giữ lại và cũng được coi là một giai đoạn tố tụng bắt buộc Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của chế định này trong quá trình xây dựng Nhà nước
và pháp luật Việt Nam có thể thấy vị trí và tầm quan trọng của chế định hòa giải trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự
Văn bản pháp luật đầu tiên quy định về hòa giải là Sắc lệnh số 13 ngày 21/01/1946 về tổ chức Tòa án, trong đó Điều 3 Sắc lệnh quy định: "Ban
tư pháp xã có quyền hòa giải tất cả các việc dân sự và thương mại Nếu hòa giải được Ban tư pháp xã có thể lập biên bản hòa giải có các ủy viên và những đương sự ký" [3]
Sau đó, Điều 4 Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 về việc ấn định thẩm quyền các Tòa án và sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa án quy định rằng biên bản hòa giải thành chỉ có hiệu lực tư chứng thư Tại Điều 12 Sắc lệnh số 51/SL quy định: "Những việc kiện dân sự và thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án đệ nhị cấp đều phải giao trước về ông Thẩm phán sơ cấp thử hòa giải" [4]
Từ các quy định về hòa giải cho thấy, vai trò của công tác hòa giải đã được nhìn nhận ngay từ những văn bản pháp luật đầu tiên về thủ tục tố tụng
Trang 30Về tổ chức và hoạt động của các cơ quan Tư pháp đến năm 1950 được cải cách bởi Sắc lệnh 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng quy định Điều 9 Sắc lệnh quy định: "Tòa án nhân dân hòa giải tất
cả các vụ kiện về dân sự và thương mại kể cả việc xin ly dị trừ những vụ kiện
mà theo luật pháp đương sự không có quyền điều đình" [5] Theo Điều 10 của Sắc lệnh này biên bản hòa giải thành là một công chứng thư có thể đem chấp hành ngay Tuy nhiên, cho đến lúc biên bản hòa giải được chấp hành xong nếu Biện lý xét thấy biên bản ấy xâm phạm đến trật tự chung thì có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền sửa đổi hoặc bác bỏ điều hai bên đã thỏa thuận Hạn kháng cáo là 15 ngày tròn kể từ ngày phòng Biện lý nhận được biên bản hòa giải thành
Như vậy, với các văn bản pháp luật quy định về hòa giải trong giai đoạn này nổi bật một số vấn đề sau: Cơ quan có thẩm quyền hòa giải là Ban tư pháp xã và TAND cấp huyện Các vụ án phải hòa giải là tất cả các vụ án về dân
sự, thương mại và ly hôn, trừ những việc không được hòa giải Biên bản hòa giải thành do Ban tư pháp xã lập có hiệu lực tư chứng thư Biên bản hòa giải thành
do Tòa án lập có hiệu lực là một công chứng thư, có thể đem ra thi hành ngay
Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được biên bản hòa giải thành, phòng Biện lý có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án sửa đổi hoặc bác bỏ những điều hai bên đã thỏa thuận, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo
Như vậy, đặc trưng của chế định hòa giải trong giai đoạn này là Tòa
án không ra quyết định mà chỉ lập biên bản hòa giải thành, đồng thời chỉ có phòng Biện lý và người có liên quan có quyền kháng cáo còn nguyên đơn và
bị đơn không có quyền này
Một trong những điểm lớn trong tổ chức Tòa án là việc ban hành Luật
Tổ chức TAND năm 1960 Luật Tổ chức TAND 1960 cụ thể hóa Hiến pháp
1959 quy định thẩm quyền của TAND như sau: TAND huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã hoặc đơn vị hành chính tương đương có nhiệm vụ hòa giải những tranh chấp về dân sự…và hướng dẫn công tác hòa giải ở xã và khu phố [29]
Trang 31Pháp lệnh Tổ chức Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) và tổ chức TAND địa phương năm 1961 ngày 23/03/1961 quy định: "Tòa án nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương có thẩm quyền hòa giải những việc tranh chấp về dân sự" [59]
Đối với lĩnh vực hôn nhân và gia đình, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 ra đời đã quy định cụ thể về hòa giải trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng xin ly hôn, cơ quan có thẩm quyền sẽ điều tra và hòa giải Tòa án
có thể trực tiếp thực hiện việc hòa giải hoặc giao lại cho tổ hòa giải tiến hành với sự theo dõi hướng dẫn của Tòa án
Luật Tổ chức TAND năm 1960 và Thông tư số 1080 ngày 25/9/1961 đã quy định TAND huyện ngoài nhiệm vụ hòa giải thì còn có nhiệm vụ xây dựng và hướng dẫn các tư pháp xã thực hiện hòa giải, dàn xếp các đương sự và nhân dân
Có thể thấy rằng, trong giai đoạn này thành tựu đạt được là hòa giải đã được coi là một thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự Nhưng do đất nước trong tình trạng chiến tranh, chế định hòa giải chưa có điều kiện hoàn thiện nên vẫn còn bộc lộ rất nhiều hạn chế, bất cập lớn nhất là Tòa án chỉ lập biên bản hòa giải thành mà không ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự nên kết quả hòa giải không có hiệu lực buộc các bên phải thi hành, dẫn đến nhiều trường hợp Tòa án vẫn phải mở phiên tòa xét xử sau khi đã lập biên bản hòa giải thành do các bên không tự nguyện thi hành thỏa thuận hoặc các bên tự ý thay đổi thỏa thuận
Để khắc phục những bất cập của chế định hòa giải trong hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu giải quyết các vụ việc dân sự, ngày 30/11/1974, TANDTC
đã ra Thông tư số 25/TATC hướng dẫn việc hòa giải trong TTDS [43] Thông
tư đã quy định thẩm quyền, trình tự, phương pháp hòa giải các vụ việc dân sự Các quyết định công nhận việc hòa giải thành đều có hiệu lực như bản án Đương sự, Viện kiểm sát có quyền kháng cáo, kháng nghị Người đệ tam (người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan) có quyền chống quyết định công nhận của Tòa án cấp sơ thẩm Nếu quyết định công nhận việc hòa giải thành
Trang 32đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có sai lầm thì vụ kiện sẽ được xét xử theo trình tự giám đốc thẩm
Đối với quyết định chưa có hiệu lực pháp luật: Nếu chỉ một mình người đệ tam chống quyết định thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định sơ thẩm, Tòa án sẽ thụ lý đơn và giải quyết về khoản mà người đệ tam chống quyết định
Như vậy, Thông tư số 25/TATC của TANDTC hướng dẫn việc hòa giải trong TTDS đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng của chế định hòa giải Thông tư đã quy định rõ ràng chi tiết về thẩm quyền hòa giải, phạm vi hòa giải, thủ tục và phương pháp hòa giải, đáp ứng được yêu cầu cấp thiết cho Tòa án tiến hành hòa giải để giải quyết vụ án đạt hiệu quả cao
Năm 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất Các văn bản pháp luật trong giai đoạn này đã được nâng cao không chỉ về mặt nội dung mà cả về hình thức, hiệu lực pháp lý Về lĩnh vực hòa giải các vụ án dân sự cũng đã được hướng dẫn cụ thể trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật như: Thông tư số 81-TAND ngày 24/7/1981 của TANDTC hướng dẫn các Tòa án địa phương giải quyết các tranh chấp về thừa kế [44]; Thông tư số 06-TTLN ngày 30/12/1986 của TANDTC, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn về thẩm quyền và thủ tục giải quyết ly hôn giữa công dân Việt Nam và một bên công dân nước ngoài chưa có hiệp định tương trợ tư pháp về vấn đề hôn nhân và gia đình với Việt Nam
Như vậy, mặc dù các quy định về hòa giải các vụ việc dân sự đã từng bước được hoàn thiện Tuy nhiên, các quy định về hòa giải này vẫn chưa có tính
hệ thống, chưa được quy định thành một chế định riêng mà còn nằm trong nhiều văn bản khác nhau, còn có sự chồng chéo và hiệu lực pháp lý không cao
1.1.4.2 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2005
Để khắc phục tình trạng tồn tại và bất cập của quy định hòa giải nói riêng và pháp luật TTDS nói chung, ngày 29/12/1989, Nhà nước ban hành
Trang 33Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS) Pháp lệnh
này quy định cụ thể thủ tục giải quyết vụ việc dân sự Quy định về hòa giải
mới chỉ được giải quyết tại hai điều luật (Điều 43, 44 PLTTGQCVADS), trong đó hòa giải được ghi nhận là một nguyên tắc, một thủ tục mà Tòa án phải tiến hành trong quá trình giải quyết vụ án Pháp lệnh này cũng đã quy định thủ tục hòa giải, quyết định công nhận thỏa thuận của các đương sự
Trước thời điểm ban hành Pháp lệnh, QĐCNTT có hiệu lực như một bản án sơ thẩm, đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Theo PLTTGQCVADS hòa giải là một thủ tục
tố tụng, được thực hiện mang tính chất bắt buộc trước khi mở phiên tòa sơ thẩm Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự có hiệu lực pháp luật ngay Các đương sự không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Nếu quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự bị phát hiện thấy sai lầm thì sẽ kháng nghị
và xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc thủ tục tái thẩm theo quy định của pháp luật
Sau khi PLTTGQCVADS có hiệu lực pháp luật, TANDTC và các cơ quan có liên quan đã ban hành nhiều văn bản để hướng dẫn việc thực hiện các quy định về hòa giải trong PLTTGQCVADS như: Nghị quyết 03/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của PLTTGQCVADS trong đó đã hướng dẫn về thủ tục, phạm vi vụ việc hòa giải; Công văn số 33/NCPL ngày 18/04/1991 của TANDTC về giải thích hiệu lực thi hành của PLTTGQCVADS cũng đã quy định về việc ra quyết định công nhận hòa giải thành các vụ án dân sự; Công văn số 10/NCPL ngày 16/12/1991 của TANDTC giải quyết các vụ án ly hôn với một bên đương sự ở nước ngoài; Công văn 86/KHXX ngày 14/12/1996 của TANDTC trả lời về Thủ tục hòa giải trong TTDS; Công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10/06/2002 của TANDTC hướng dẫn về công tác xét xử trong đó cũng có thủ tục hòa giải trước khi mở phiên tòa xét xử phúc thẩm và hòa giải tại phiên tòa phúc thẩm và nhiều văn bản khác của TANDTC
Trang 34Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, các hướng dẫn việc thực hiện các quy định về hòa giải trong Pháp lệnh đã góp phần quan trọng nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình hòa giải các cụ án dân sự Tuy nhiên, trong giai đoạn xây dựng đất nước, trước yêu cầu phát triển của kinh
tế - xã hội, PLTTGQCVADS đã bộc lộ những bất cập và tồn tại Chế định
hòa giải vì thế mà chưa được thống nhất quy định tại một văn bản có giá trị pháp lý cao Vì vậy, việc hoàn thiện chế định hòa giải là một đòi hỏi cấp thiết
1.1.4.3 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay
Trong giai đoạn xây dựng đất nước hiện nay, trước yêu cầu phát triển của đời sống kinh tế xã hội, pháp luật TTDS hiện hành đang bộc lộ những bất cập và tồn tại Sự đổi mới cơ chế và mở cửa đất nước đã thúc đẩy sự ra đời của ba văn bản về thủ tục tố tụng trong lĩnh vực tư pháp dân sự: PLTTGQCVADS năm 1989, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 Với các văn bản pháp luật quy định về hòa giải đã nêu, tôi thấy rằng các quy định về hòa giải này chưa có tính hệ thống, nằm rải rác ở nhiều văn bản, nhiều điều, khoản khác nhau của các văn bản Do vậy, trước yêu cầu phát triển của đời sống kinh tế - xã hội, việc hoàn thiện và hệ thống hóa các quy định của hòa giải nói riêng và của pháp luật TTDS nói chung là một đòi hỏi cần thiết
Mặt khác, trên cơ sở kế thừa và phát triển ba Pháp lệnh về thủ tục tố tụng trước đó đồng thời tiếp thu những thành tựu lập pháp của nhiều nước trên thế giới như Cộng hòa Pháp, Mỹ, Úc, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Singapore… Năm 2004, nhà lập pháp Việt Nam
đã xây dựng BLTTDS chung thống nhất Như vậy, sau rất nhiều năm tồn tại
ba loại thủ tục tố tụng riêng biệt như là một sự khác biệt so với thế giới, BLTTDS ra đời đã đánh dấu một bước chuyển biến lớn trong lịch sử pháp luật TTDS Việt Nam, khẳng định sự nỗ lực của Việt Nam trong việc hội nhập
và tiếp thu thành quả của nền văn minh nhân loại
Ngày 15/6/2004, Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 5 đã thông qua BLTTDS
Bộ luật có hiệu lực từ ngày 01/01/2005 Đây là một sự kiện quan trọng trong
Trang 35đời sống pháp luật Việt Nam, đánh dấu bước phát triển mới của pháp luật TTDS Trong BLTTDS, chế định hòa giải các vụ việc dân sự được thừa kế và hoàn thiện khắc phục những tồn tại và bất cập của các quy định về hòa giải các vụ việc dân sự trong PLTTGQCVADS, đặc biệt đã thống nhất về trình tự
và thủ tục hòa giải các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và yêu cầu của thực tiễn đặt ra
Bộ luật Tố tụng dân sự đã có rất nhiều các quy định về hòa giải như: nguyên tắc hòa giải (Điều 10); Nguyên tắc tiến hành hòa giải (Điều 180); Những vụ việc dân sự không được hòa giải (Điều 181); Những vụ việc dân sự không tiến hành hòa giải được (Điều 182); Thông báo về phiên hòa giải (Điều 183); Thành phần phiên hòa giải (Điều 184); Nội dung hòa giải (Điều 185); Biên bản hòa giải (Điều 186); Ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (Điều 187); Hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (Điều 188) [31] Những quy định này tạo cơ sơ pháp lý mới cho Tòa án trong việc hòa giải các vụ việc dân sự
Để quy định chi tiết hơn về hòa giải trong TTDS, ngày 12/5/2006, Hội đồng thẩm phán TANDTC đã ban hành Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về "Thủ tục giải quyết vụ
án tòa án cấp sơ thẩm" [48]
Sau hơn năm năm thi hành, BLTTDS đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ chế độ XHCN, tăng cường pháp chế XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; bảo đảm trình
tự và thủ tục TTDS dân chủ, công khai, thuận lợi cho người tham gia tố tụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; đề cao vai trò, trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong hoạt động TTDS; bảo đảm cho việc giải quyết các
vụ việc dân sự được nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật
Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành BLTTDS trong những năm qua cho thấy một số quy định của BLTTDS đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, có những quy định mâu thuẫn với các văn bản quy phạm pháp luật khác; có những quy
Trang 36định chưa phù hợp, chưa đầy đủ và có những cách hiểu khác nhau, chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, chưa đáp ứng các yêu cầu cam kết quốc tế đa phương và song phương Một số vấn đề mới phát sinh trong hoạt động TTDS nhưng BLTTDS chưa có quy định để điều chỉnh Để khắc phục những hạn chế, bất cập trên, bảo đảm nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động TTDS đáp ứng ngày càng đầy đủ yêu cầu, nhiệm vụ TTDS trong giai đoạn mới, cần thiết phải sửa đổi, bổ sung BLTTDS hiện hành
Hơn nữa, sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS là nhằm tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, tiếp tục từng bước hoàn thiện một cách căn bản hệ thống pháp luật TTDS nói chung và BLTTDS nói riêng; bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong TTDS đồng thời tạo điều kiện để Tòa án thực hiện tốt công tác xét xử
Ngày 29/3/2011, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS Ngày 08/4/2011, Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã ký Lệnh số 07/2011/L-CTN công bố Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2012 So với BLTTDS năm 2004, Luật sửa đổi, bổ sung BLTTDS năm 2011 đã sửa đổi, bổ sung 62 điều, bãi bỏ
8 điều liên quan đến bảy phần của BLTTDS và chủ yếu tập trung các vấn đề như nguyên tắc cơ bản, thẩm quyền của Tòa án, chứng minh và chứng cứ trong TTDS, thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và thủ tục giải quyết việc dân sự Trong đó, Luật sửa đổi bổ sung chưa quy định chế định hòa giải thành một chương riêng độc lập, các quy định hòa giải nằm trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm mà chỉ bổ sung một số Điều luật liên quan đến hòa giải cụ thể: Điều 184 về thành phần phiên hòa giải; Điều 185a về phương thức hòa giải
Chế định hòa giải đã được kế thừa và hoàn thiện khắc phục những tồn tại và bất cập của các quy định về hòa giải vụ việc dân sự, hoàn thiện hơn về trình tự, thủ tục hòa giải các vụ việc dân sự nhằm đáp ứng yêu cầu của thực
tiễn đặt ra
Trang 371.1.5 Ý nghĩa của chế định hòa giải trong tố tụng dân sự
1.1.5.1 Ý nghĩa đối với Tòa án
Trong hoạt động tư pháp thì Tòa án giữ vai trò trung tâm và là cơ quan duy nhất có quyền nhân danh Nhà nước tiến hành xét xử các vụ việc dân sự Trong những năm qua việc xét xử của Tòa án đã góp phần giải quyết được những tranh chấp về các lĩnh vực dân sự tránh được những tranh chấp nghiêm trọng xảy ra và đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự trong các vụ việc dân sự Chế định hòa giải được quy định khá đầy đủ, tương đối phù hợp với thực tiễn làm cơ sở pháp lý cho các cơ quan áp dụng pháp luật - Tòa án xét xử các vụ việc dân sự, giải quyết các vụ việc đúng pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các đương sự
Pháp luật ra đời với tính cách là hệ thống các quy tắc xử sự chung và
là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật ngày càng đóng vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Chế định hòa giải là cơ sở pháp lý, là những chuẩn mực pháp luật mà Tòa án áp dụng để đảm bảo thực hiện đúng đắn và nghiêm chỉnh pháp luật là một yêu cầu khách quan của cơ quan quản lý nhà nước bằng pháp luật ở nước ta hiện nay
Chế định hòa giải là công cụ để Tòa án giải quyết vụ việc dân sự được tiến hành theo một thủ tục chặt chẽ Khi tiến hành hòa giải một vụ việc dân
sự, Tòa án đều phải tuân theo các bước như đã quy định về hòa giải trong BLTTDS nhằm đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của các bên đương sự Chế định hòa giải giúp Tòa án tiến hành các trình tự thủ tục hòa giải được tuân thủ nghiêm minh, khách quan Tuy nhiên, Thẩm phán cũng phải vận dụng linh hoạt các quy định pháp luật, kinh nghiệm hòa giải, tri thức khoa học của mình
để áp dụng sáng tạo, không rập khuôn, máy móc các quy định của chế định hòa giải
Từ những tác dụng của chế định hòa giải mang lại, khi hòa giải thành giúp Tòa án giải quyết vụ án mà không phải mở phiên tòa, tránh được việc khiếu nại, kháng cáo, kháng nghị, hạn chế quá trình tố tụng hạn chế không
Trang 38cần thiết như: Sơ thẩm, phúc thẩm, tái thẩm hay giám đốc thẩm Khi các bên tranh chấp chấp nhận phương án hòa giải do Thẩm phán hoặc Hội đồng xét
xử (HĐXX) của Tòa án đề xuất thì Tòa án không phải mở phiên tòa đã giảm bớt được một cách đáng kể rất nhiều chi phí về thời gian, công sức, tiền bạc của không chỉ bản thân họ, mà còn giảm bớt được gánh nặng xét xử, giảm bớt được một phần đáng kể những chi phí của Tòa án (chi phí lấy lời khai, khảo sát, điều tra, thu thập chứng cứ, chi phí cho việc mở các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm ) Các quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự thường được giải quyết dứt điểm Việc khiếu nại, kháng nghị QĐCNTT ít xảy ra Trong khi đó, nhiều vụ án đưa ra xét xử đã bị kháng cáo, kháng nghị, khiếu nại nhiều lần, diễn ra kéo dài, phức tạp, tốn kém tiền
của, công sức, thời gian của Nhà nước và đương sự
Hòa giải thành là một sự bảo đảm cho việc thi hành nghiêm chỉnh, nhanh gọn các quyết định của Tòa án Trong trường hợp hòa giải thành, mỗi bên đương sự đều thỏa thuận trên cơ sở ý chí tự nguyện và phù hợp với lợi ích của mình, nên họ tự nguyện trong việc thực hiện các quyết định của Tòa án Việc thi hành án không cần sự tác động nào của Tòa án và trở nên đơn giản, dễ dàng hơn, ít để lại hậu quả xấu Khi các vụ tranh chấp dân sự được đưa ra xét xử, bản án của Tòa án thường không dễ dàng được các đương sự và những người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp nhận và thi hành nghiêm túc, ngay cả khi nó đã có hiệu lực pháp luật Thực tế cho thấy đa số các bản án phải có sự can thiệp mạnh mẽ, dứt khoát của cơ quan thi hành án thì mới được thực hiện một cách đúng đắn Rất ít những trường hợp các bên tự nguyện thi hành bản
án của Tòa án Việc Tòa án tiến hành hòa giải, các đương sự sẽ tự nguyện thi hành quyết định của Tòa án như một việc đương nhiên cần phải làm để nhanh chóng kết thúc vụ việc tranh chấp, khắc phục các hậu quả, thiệt hại để sau đó bắt tay vào việc khôi phục, phát triển các mối quan hệ trong tương lai
Trong trường hợp hòa giải không thành thì Tòa án cũng có điều kiện nắm vững nội dung tranh chấp, tâm tư, nguyện vọng của đương sự để xác định đường lối xét xử đúng đắn trong quá trình giải quyết vụ án
Trang 391.1.5.2 Ý nghĩa đối với các đương sự
Chế định hòa giải đã tạo khung pháp lý cho các đương sự trong vụ việc dân sự biết được các quyền và nghĩa vụ của mình, từ đó hiểu rõ và nghiêm túc thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó Hòa giải là biện pháp tiết kiệm chi phí vật chất, thời gian, công sức của các đương sự mà còn tiết kiệm chi phí, thời gian công sức của Nhà nước, của xã hội Khi đã có tranh chấp, thì việc giải quyết tranh chấp bao giờ cũng đòi hỏi các đương sự, Nhà nước, xã hội phải bỏ
ra chi phí thời gian, sức lực, tiền bạc, mà những chi phí đó nhiều khi rất lớn,
do việc giải quyết tranh chấp phải huy động nhiều cơ quan chức năng, cơ quan chuyên môn và có thẩm quyền, huy động nhiều người và phương tiện Những công việc như: Thu thập chứng cứ để chứng minh và khai báo tại Tòa
án, tổ chức các buổi gặp gỡ, tiếp xúc, đối chất giữa các đương sự và những cơ quan, những người có liên quan đã làm hao phí rất nhiều thời gian, công sức
và tiền bạc của các đương sự, của xã hội cũng như của Nhà nước
Chế định hòa giải giúp các đương sự có tranh chấp hiểu biết pháp luật hơn, nắm vững các quyền và nghĩa vụ của bản thân cũng như sự việc đang tranh chấp để có những thái độ, hành vi đúng mực hơn, chuẩn bị chu đáo hơn cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong phiên tòa xét xử tranh chấp dân sự
Thông qua việc tiến hành hòa giải các vụ việc dân sự giúp các đương
sự hiểu biết và thông cảm với nhau, góp phần khôi phục lại tình đoàn kết giữa
họ, giúp họ giải quyết tranh chấp với tinh thần cởi mở, giảm bớt mâu thuẫn, ngăn ngừa tội phạm có nguồn gốc từ tranh chấp dân sự phát sinh Trường hợp không hòa giải thành thì quá trình hòa giải cũng giúp cho các đương sự ngồi lại với nhau, hiểu rõ hơn nguyên nhân tranh chấp, được bày tỏ ý chí của mình
Từ đó, họ có thể phần nào tìm được tiếng nói chung, hạn chế bớt mâu thuẫn
Chế định hòa giải giúp các đương sự hiểu rõ về quyền tự định đoạt của mình trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án Đương sự được lựa chọn các hình thức giải quyết tranh chấp như: Thương lượng, hòa giải, trọng
Trang 40tài hay tố tụng tư pháp (Tòa án) Nếu tranh chấp được đưa ra Tòa, thì toàn bộ quy trình, thủ tục giải quyết vụ kiện sẽ phải tuân theo các quy định của pháp luật TTDS Trong quy trình đó, Tòa án đại diện cho quyền lực của Nhà nước
sẽ ra các quyết định có liên quan cũng như đưa ra phán quyết cuối cùng về vụ kiện Từ đó, chế định hòa giải góp phần nâng cao ý thức pháp luật của các đương sự Thông qua việc giải thích pháp luật của Tòa án trong phiên hòa giải, các đương sự sẽ phần nào hiểu được quy định của pháp luật về vấn đề
mà họ đang tranh chấp Từ đó, các bên có thể hiểu và tự quyết định về việc giải quyết tranh chấp, không trái với quy định của pháp luật
1.1.5.3 Ý nghĩa về mặt xã hội
Trong quá trình áp dụng chế định hòa giải, với sự hướng dẫn, phân tích của Thẩm phán tiến hành hòa giải, đương sự có quyền đưa ra những yêu cầu, những nhượng bộ trên cơ sở cân nhắc kỹ những lợi ích thu được cũng như những thiệt hại có thể xảy ra cho mỗi bên trong từng phương án giải quyết thể hiện sự nhân nhượng, tiến thoái linh hoạt trên cơ sở thiện chí, thông
cảm lẫn nhau để tiến tới tiếng nói chung giữa các bên trong quá trình hòa giải
Chế định hòa giải có sự kết hợp hai phương thức giải quyết tranh chấp; giải quyết tranh chấp theo trình tự tố tụng và giải quyết tranh chấp ngoài tố tụng Các quy định hòa giải đã phát huy được truyền thống hòa giải trong đời sống xã hội, bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự, đồng thời khắc phục được sự ngẫu hứng, tùy tiện về thủ tục, trình tự cũng như việc thực hiện thỏa thuận giải quyết tranh chấp trong hòa giải ngoài tố tụng bằng thủ tục, trình tự, do Nhà nước quy định và thỏa thuận về giải quyết vụ án được Nhà nước bảo đảm thực hiện
Hòa giải nói chung, hòa giải trong tố tụng tại Tòa án nói riêng, nhất là những trường hợp hòa giải thành, không chỉ có ý nghĩa thiết thực đối với việc bảo đảm, giữ gìn lợi ích của các bên tranh chấp mà còn góp phần quan trọng để
ổn định, khơi thông, làm lành mạnh các quan hệ kinh tế - xã hội và phát triển kinh tế nói chung Thông qua quá trình hòa giải, Thẩm phán giúp cho mỗi đương
sự nhận biết rõ ràng hơn về vị thế pháp lý gắn với những điểm mạnh, điểm yếu