Cùng với LHNGĐ năm 1986 thì các văn bản pháp luật tiếp theo lần lượt ra đời và điều chỉnh quan hệ này; đó là kết quả cao của quá trình pháp điển hoá những quy định của pháp luật về giải
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Thị Mai Hiên
HÀ NỘI - 2014
Trang 32
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Vân Anh
Trang 41
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT
LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 11 1.1 Khái niệm và đặc điểm giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố
1.1.2 Đặc điểm của việc giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài 17
1.2 Căn cứ pháp luật và các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng luật trong
giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài 19
1.2.1 Căn cứ pháp luật của việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài 19 1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng luật trong giải quyết ly hôn
có yếu tố nước ngoài 23
1.3 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển pháp luật về giải quyết
ly hôn có yếu tố nước ngoài 24
1.3.1 Hệ thống pháp luật quốc gia 24
1.3.1.1 Giai đoạn trước năm 1945 24 1.3.1.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Luật Hôn nhân
và gia đình năm 1986 25 1.3.1.3 Giai đoạn từ năm 1986 đến trước khi ban hành Luật hôn nhân và
gia đình năm 2000 28 1.3.1.4 Giai đoạn từ khi ban hành Luật hôn nhân gia đình năm 2000 đến nay 29
Trang 52
1.4 Cơ sở pháp luật Việt Nam hiện hành về thẩm quyền và trình tự,
thủ tục giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài 31
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI TÕA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 40
2.1 Khái quát chung về thực trạng giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội 40
2.2 Vấn đề áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài 44
2.2.1 Khởi kiện và thụ lý vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài 44
2.2.1.1 Khởi kiện vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài 44
2.2.1.2 Thụ lý vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài 50
2.2.2 Chuẩn bị xét xử vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài 52
2.2.3 Hòa giải trong giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài 54
2.2.4 Phiên tòa sơ thẩm và các thủ tục sau phiên tòa xét xử vụ án ly hôn
có yếu tố nước ngoài 62
2.2.4.1.Về thời gian mở phiên tòa và quyết định hoãn phiên tòa 62
2.2.4.2 Về việc xem xét việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của đương sự 64
2.2.4.3 Về thủ tục tranh luận tại phiên tòa 65
2.2.4.4 Nghị án và tuyên án 67
2.2.4.5 Về việc Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án 68
2.2.4.6 Về thủ tục cấp trích lục bản án, bản án của Tòa án 69
2.2.5 Một số vấn đề trong giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội cần rút kinh nghiệm 70
2.3 Một số vấn đề về ủy thác tư pháp trong giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài 73
2.3.1 Việc ủy thác thu thập chứng cứ 73
Trang 63
2.3.2 Thời gian thực hiện ủy thác tư pháp 81 2.3.3 Kinh phí thực hiện ủy thác tư pháp 82 2.3.4 Địa chỉ của đương sự ở nước ngoài 83
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY 85 3.1 Thực trạng một số vấn đề của pháp luật về giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam 85 3.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài 88 KẾT LUẬN 93 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 74
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BLDS: Bộ luật dân sự
BLTTDS: Bộ Luật tố tụng dân sự
CHLB: Cộng hòa liên bang
ĐƯQT: Điều ước quốc tế
HĐTTTP: Hiệp định tương trợ tư pháp
LHNGĐ: Luật Hôn nhân và gia đình
NĐ-CP: Nghị định của Chính Phủ
NQ-HĐTP: Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao TAND: Tòa án nhân dân
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
TANDTP: Tòa án nhân dân thành phố
TTLT: Thông tư liên tịch
UTTP: Ủy thác tư pháp
VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 85
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây cùng với việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, đi đôi với sự phát triển các quan hệ hợp tác quốc tế trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, xã hội giữa nước ta với các nước khác trên thế giới ngày càng mở rộng; phát triển thì cũng kéo theo nó là vấn đề về hôn nhân có yếu tố nước ngoài nói chung cũng như ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng ngày một gia tăng
Mục tiêu của hôn nhân là cuộc sống gia đình hạnh phúc, hòa thuận Tuy nhiên, không phải lúc nào cuộc sống hôn nhân cũng đạt được mong muốn của đôi bên nam nữ; xuất phát từ lý do này hay lý do khác mà cuộc hôn nhân đã đi đến tan vỡ dẫn đến việc họ phải lựa chọn giải pháp ly hôn
Do vậy, ly hôn là một hiện tượng xã hội, bất kỳ ở xã hội nào dù muốn hay không vấn đề ly hôn cũng không thể loại trừ ra khỏi đời sống xã hội Mục đích của việc kết hôn là để xây dựng gia đình trên cơ sở sự tự nguyện của vợ chồng, nhưng khi cuộc sống hôn nhân đó không thể tồn tại trên thực tế thì vấn
đề ly hôn là điều cần thiết, nó giúp cho chủ thể của quan hệ hôn nhân thoát khỏi sự ràng buộc về mặt pháp lý; bởi ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng trên cơ sở pháp luật bằng bản án hoặc quyết định của Toà án
Hà Nội là thủ đô của cả nước, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của cả nước thì vấn đề hợp tác giao lưu quốc tế cũng ngày càng phát triển, đặc biệt là từ khi Hà Nội mở rộng địa giới hành chính, Hà Nội trở thành thành phố lớn nhất của cả nước Cùng với sự phát triển các quan hệ hợp tác, giao lưu quốc tế thì vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng ngày càng gia tăng và phổ biến ở Hà Nội
Theo pháp luật Việt Nam, Toà án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn Tuy nhiên, đối với trường hợp giải quyết ly hôn có
Trang 96
yếu tố nước ngoài pháp luật điều chỉnh quan hệ này không chỉ đơn thuần
là các văn bản luật trong nước mà bên cạnh đó nó còn được điều chỉnh bởi
hệ thống luật pháp quốc tế có liên quan như: ĐƯQT, HĐTTTP, Tập quán quốc tế
Ở Việt Nam, trước năm 1959 do vấn đề giao lưu quốc tế chưa phát triển, chúng ta chưa xác định được tầm quan trọng của quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài nên các quy định của pháp luật về vấn đề này chưa được luật điều chỉnh Xã hội ngày càng phát triển, quan hệ hôn nhân gia đình
có yếu tố nước ngoài cũng ngày càng gia tăng thì đòi hỏi pháp luật điều chỉnh quan hệ này ngày càng cấp thiết Nhận thức được vai trò đặc biệt quan trọng của quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài nên lần đầu tiên LHNGĐ năm 1986 đã có những quy định điều chỉnh quan hệ này; đây là sự điều chỉnh kịp thời của pháp luật nước ta trong quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài Cùng với LHNGĐ năm 1986 thì các văn bản pháp luật tiếp theo lần lượt ra đời và điều chỉnh quan hệ này; đó là kết quả cao của quá trình pháp điển hoá những quy định của pháp luật về giải quyết ly hôn có yếu
tố nước ngoài của Việt Nam
Tuy nhiên, do sự phát triển mạnh mẽ đời sống kinh tế, xã hội của đất nước, quan hệ hợp tác giao lưu quốc tế cũng ngày một phát triển hơn, tính chất các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp hơn thì pháp luật điều chỉnh các quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài hiện hành vẫn chưa dự liệu hết những trường hợp, tình huống xảy ra trên thực tế Khi áp dụng vào thực tế công tác xét xử còn nhiều quan điểm trái ngược nhau nên đã xảy ra tình trạng không nhất quán trong cách hiểu cũng như cách giải quyết Bên cạnh đó cũng có nhiều vấn đề trong quan hệ này mà pháp luật chưa điều chỉnh kịp thời dẫn đến trong công tác xét xử của ngành Tòa án trong thời gian qua còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc
Trang 107
Bên cạnh đó trong bối cảnh hội nhập quốc tế, với thực trạng nền kinh tế thị trường và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài của ta ngày càng phong phú và cũng nảy sinh nhiều dạng tranh chấp phức tạp Qua nghiên cứu tình hình thực tiễn xét xử các vụ
án ly hôn có yếu tố nước ngoài tại TANDTP Hà Nội trong thời gian qua cho thấy, hàng năm TANDTP Hà Nội đã thụ lý và giải quyết hàng trăm vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài Nhiều vụ án phải xét xử nhiều lần mà tính thuyết phục chưa cao, có những bản án, quyết định của Toà án vẫn bị coi là chưa
"thấu tình, đạt lý", có nhiều vụ án còn để kéo dài Sở dĩ còn tồn tại những bất cập trên là do nhiều nguyên nhân, có nguyên nhân khách quan, có nguyên nhân chủ quan
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn vấn đề: "Giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài qua thực tiễn xét xử tại Toà án nhân dân thành phố Hà Nội" để làm đề tài luận văn thạc sĩ Luật học của mình Đây
là một đề tài có ý nghĩa quan trọng, cấp bách cả về phương diện lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ly hôn có yếu tố nước ngoài là vấn đề rộng và phức tạp, có lịch sử hình thành và phát triển khá phong phú, quan hệ này không chỉ được điều chỉnh bởi hệ thống luật pháp trong nước mà còn được điều chỉnh bởi hệ thống luật pháp quốc tế có liên quan Do vậy, liên quan đến vấn đề này nhiều nhà khoa học pháp lý đã quan tâm nghiên cứu, nhưng đề tài: Giải quyết ly hôn có yếu
tố nước ngoài qua thực tiễn xét xử tại Toà án nhân dân thành phố Hà Nội
chưa được đi sâu nghiên cứu Vì vậy, có thể khẳng định rằng, luận văn này là một công trình khoa học đầu tiên, nghiên cứu chuyên sâu, đánh giá thực tiễn công tác xét xử và hoàn thiện pháp luật về giải quyết ly hôn có yếu tố nước
Trang 118
ngoài; đây là một đề tài hoàn toàn độc lập, không có sự trùng lắp với bất kỳ một công trình nào của người khác
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài nhằm mục đích làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài tại TANDTP Hà Nội, trên cơ sở đó, rút
ra được những kinh nghiệm và nêu lên những quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài ở nước ta hiện nay Góp phần nâng cao nhận thức lý luận và kinh nghiệm thực tiễn trong việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài của những người làm công tác xét xử
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Ly hôn có yếu tố nước ngoài là một vấn đề rộng, do vậy trong luận văn này tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu một số vấn đề như lý luận về giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài qua thực tiễn xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, bên cạnh đó tác giả đưa
ra một số kiến nghị về sửa đổi một số quy định của pháp luật trong giải quyết
ly hôn có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, để luận văn có độ sâu, rộng cần thiết, trong một chừng mực nhất định, tác giả cũng đề cập đến một số quy định trong
tư pháp quốc tế về lĩnh vực hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài nói chung; các văn bản pháp luật liên quan để so sánh và đưa ra những kết luận, kiến nghị
có tính tham khảo nhất định
Đối với các vấn đề khác như thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, việc ly hôn có yếu tố nước ngoài, công tác thi hành án dân sự đối với các bản án ly hôn có yếu tố nước ngoài tác giả không đề cập nghiên cứu trong luận văn này
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Trang 129
Việc nghiên cứu luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về pháp luật Đặc biệt là
Mác-về quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài trong thời kỳ đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế
LuËn v¨n được hoàn thành dựa trên cơ sở phương pháp khoa học chuyên ngành như: phương pháp lịch sử; phương pháp logíc; phương pháp phân tích; phương pháp so sánh; phương pháp tổng hợp để làm sáng tỏ các nội dung cần nghiên cứu
5 Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật
về ly hôn có yếu tố nước ngoài và thực tiễn xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài tại TANDTP Hà Nội
- Tìm ra những điểm bất cập còn tồn tại trong thực tiễn giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam nói chung và TANDTP Hà Nội nói riêng
- Từ nhận xét, đánh giá thực tiễn xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài, tác giả đưa ra một số quan điểm, giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về ly hôn có yếu tố nước ngoài ở nước ta hiện nay
6 Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm cơ sở lý luận cho việc sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài Đồng thời luận văn còn là tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập của cán bộ, giáo viên và sinh viên chuyên ngành Luật và không chuyên Luật cũng như việc giảng dạy, học tập môn Nhà nước pháp luật Bên cạnh đó luận văn đề ra các giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật về hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài sẽ có ý nghĩa
Trang 1310
thiết thực góp phần giúp cho những người làm công tác xét xử trong giải quyết các vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn được bố cục 3 chương, 9 tiết
Trang 141.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm ly hôn có yếu tố nước ngoài
Ly hôn là hiện tượng xã hội gắn liền với quyền tự do hôn nhân Quyền
ly hôn là quyền cơ bản được luật pháp quốc gia và quốc tế công nhận Tuy nhiên, quyền ly hôn là quyền riêng tư Có việc ly hôn hay không trước hết phải dựa trên sự tự nguyện của ít nhất một bên vợ hoặc chồng Nhà nước bằng pháp luật không thể cưỡng ép nam nữ kết hôn, do vậy cũng không thể bằng pháp luật bắt buộc họ phải tiếp tục chung sống khi đời sống chung vợ chồng thực sự không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được Vì thế ly hôn là một giải pháp cần thiết để chấm dứt quan hệ hôn nhân thật sự tan vỡ trên cơ
sở thực tế và về mặt pháp lý "Ly hôn là một mặt của quan hệ hôn nhân Nếu kết hôn là hiện tượng bình thường nhằm xác lập quan hệ vợ chồng, thì ly hôn
là hiện tượng bất bình thường, là mặt trái của hôn nhân nhưng là mặt không thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ" [37, tr 251]
Pháp luật Việt Nam ghi nhận và tôn trọng quyền ly hôn và có những công cụ đảm bảo thực hiện quyền tự do ly hôn của cá nhân Quyền ly hôn là quyền tự do về dân sự Tuy nhiên, việc thực hiện quyền ly hôn gắn liền với thủ tục, thẩm quyền, và sự kiểm soát giải quyết việc ly hôn của cơ quan nhà nước Thẩm quyền tài phán nói chung, thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng được giải quyết dựa trên cơ sở các nguyên tắc về chủ
Trang 1512
quyền tài phán quốc gia Hay nói cách khác, giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài là việc áp dụng pháp luật để giải quyết ly hôn trên cơ sở vận dụng các
nguyên tắc xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế
Mặt khác, việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài phải dựa trên cơ
sở những quy định của pháp luật về đảm bảo lợi ích chung của gia đình, của con cái, dựa trên căn cứ ly hôn, việc giải quyết ly hôn không dựa vào lỗi của các bên, mà dựa vào bản chất của quan hệ hôn nhân, bởi:
Ly hôn chỉ là việc xác nhận một sự kiện, cuộc hôn nhân này là một cuộc hôn nhân đã chết, sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài
và giả dối Đương nhiên, không phải sự tùy tiện của nhà lập pháp, cũng không phải sự tùy tiện của những cá nhân, mà chỉ bản chất của sự kiện mới quyết định được là cuộc hôn nhân này đã chết hoặc chưa chết Bởi vì…việc xác nhận sự kiện chết là tùy thuộc vào thực chất của vấn đề chứ không phải vào nguyện vọng của những bên hữu quan…Nhà lập pháp chỉ có thể xác định những điều kiện trong
đó hôn nhân được phép tan vỡ, nghĩa là trong đó, về thực chất hôn nhân tự nó đã bị phá vỡ rồi, việc Tòa án cho phép phá bỏ hôn nhân chỉ có thể là việc ghi biên bản sự tan vỡ bên trong của nó [6, tr.234]
Theo pháp luật Việt Nam cơ sở để chấm dứt quan hệ vợ chồng về mặt pháp lý là một bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật Vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn Quyền yêu cầu ly hôn là quyền nhân thân, gắn liền với vợ chồng, do vợ chồng tự mình thực hiện mà không thể chuyển giao cho người khác, vì vậy quyền yêu cầu ly hôn của vợ chồng là cơ sở để Toà án xem xét việc giải quyết
ly hôn, nhưng Tòa án có giải quyết cho vợ chồng ly hôn hay không phải dựa vào căn cứ ly hôn được pháp luật quy định
Trang 1613
Khoản 8 Điều 8 LHNGĐ năm 2000 đưa ra khái niệm ly hôn như sau:
Ly hôn là chấm dứt quan hệ vợ chồng do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng
Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài theo ph¸p luËt ViÖt
Nam lµ quan hÖ ly h«n gi÷a c«ng d©n ViÖt Nam víi ng-êi ng-íc ngoµi, gi÷a ng-êi n-íc ngoµi víi nhau th-êng tró tại ViÖt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài, cụ thể kho¶n
14 §iÒu 8 LHNG§ năm 2000 ®-a ra kh¸i niÖm nh- sau:
14 Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình:
a) Giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài;
b) Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; c) Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài
Như vậy, theo các quy định trên ly hôn có yếu tố nước ngoài có thể hiểu bao gồm các trường hợp sau:
- Trong vụ án ly hôn có ít nhất một bên chủ thể là người nước ngoài Theo pháp luật Việt Nam người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, người nước ngoài bao gồm người có quốc tịch nước ngoài (họ có thể có một hoặc nhiều quốc tịch nước ngoài) và người không có quốc tịch
- Quan hệ trong vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài đó có thể xuất phát
từ việc giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, ví dụ giữa hai công dân Việt Nam kết hôn với nhau tại Mỹ, theo pháp luật Mỹ, chung sống với nhau tại Mỹ Nay
họ về Việt Nam xin ly hôn tại Tòa án Việt Nam, trường hợp này Tòa án có
Trang 1714
thẩm quyền của Việt Nam có thể thụ lý vụ án để giải quyết trên cơ sở thừa nhận việc kết hôn của họ ở Mỹ và tài sản của họ ở Mỹ là hợp pháp, việc kết hôn của họ không trái với các quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn
- Trong vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài đó có tài sản tranh chấp ở nước ngoài Trường hợp này có thể là các bên đương sự đều là người Việt Nam nhưng tài sản tranh chấp ở nước ngoài nhưng cũng có thể là giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài có tài sản ở nước ngoài Đối với việc giải quyết vụ án ly hôn mà giải quyết về tài sản là bất động sản ở nước ngoài thì khi ly hôn giải quyết về bất động sản sẽ tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó (điểm c khoản 14 LHNGĐ năm 2000)
Như vậy ta có thể đưa ra khái niệm như sau: Ly hôn có yếu tố nước ngoài là việc Toµ ¸n chấm dứt quan hệ vợ chồng có yếu tố nước ngoài theo trình tự thủ tục do pháp luËt quy định
1.1.1.2 Khái niệm, nội dung trình tự, thủ tục giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Ở Việt Nam cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới, Toà án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết, xét xử các vụ án ly hôn Khi giải quyết các vụ án ly hôn Tòa án phải thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
mình Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng theo trình tự, thủ tục vµ những
nguyên tắc cơ bản được quy định trong luËt tố tụng dân sự nh- nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng
Vụ án ly hôn có yếu tố nưíc ngoài cũng phát sinh tại Tòa án từ khi vợ chồng hoặc cả hai vợ chồng có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn Tòa án tiến hành giải quyết qua nhiều thủ tục tố tụng khác nhau như: nhận đơn khởi
Trang 18Trong quá trình giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài thì việc xác định thẩm quyền giải quyết, quyền khởi kiện, điều kiện khởi kiện, tư cách đương sự là rất quan trọng, tiền đề cho các giai đoạn tố tụng tiếp theo
Về xác định tư cách ng-êi tham gia tè tông:
- Nguyên đơn: là người khởi kiện, như đã phân tích ở trên trong vụ án
ly hôn nguyên đơn phải là vợ hoặc chồng, Tòa án chỉ thụ lý vụ án ly hôn trên
cơ sở sự tự nguyện yêu cầu ly hôn của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng Nếu thiếu sự tự nguyện yêu cầu ly hôn thì Tòa án không giải quyết cho ly hôn
vì có thể là do bị cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, thuận tình ly hôn giả để che dấu một nội dung khác
- Bị đơn: là người bị nguyên đơn khởi kiện, trong vụ án ly hôn bị đơn
có thể là vợ hoặc chồng bị nguyên đơn khởi kiện
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: là trường hợp những người tham gia tố tụng trong vụ án ly hôn tuy không có đơn khởi kiện, không bị kiện nhưng việc giải quyết vụ án ly hôn có liên quan đến quyền lợi, nghĩa
vụ của họ mà Tòa án đưa họ vào tham gia tố tụng Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan pháp luật chia thành người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
Trang 19do vậy cú 3 quan hệ trong vụ ỏn ly hụn đú là quan hệ nhõn thõn, quan hệ con cỏi và quan hệ tài sản thỡ ở quan hệ thứ nhất vợ chồng khụng được phộp ủy quyền cho người khỏc thay mặt họ để giải quyết mà họ phải tự tham gia, bởi
đú là là quyền nhõn thõn khụng thể tỏch rời, do vậy đối với việc ly hụn, đương
sự phải tự mỡnh tham gia mà khụng được ủy quyền cho người khỏc (khoản 3 Điều 73 BLTTDS) Đối với vụ ỏn ly hụn cú yếu tố nước ngoài nếu đương sự đang ở nước ngoài mà cú ủy quyền cho người khỏc thay mặt họ tham gia tố tụng thỡ Tũa ỏn cũng phải kiểm tra xem thủ tục ủy quyền đỳng chưa, giấy ủy quyền đú đó được hợp phỏp húa lónh sự chưa, nội dung ủy quyền đến đõu để xỏc định người được ủy quyền cú thực hiện đúng nội dung được ủy quyền khụng, thực hiện cú vượt quỏ phạm vi được ủy quyền hay khụng Trong thực tiễn xột xử cho thấy cú trường hợp đương sự chỉ ủy quyền cho người khỏc thay mặt mỡnh tham gia tố tụng tại phiờn tũa nhưng người được ủy quyền lại thực hiện hành vi vượt quỏ phạm vi được ủy quyền như rỳt đơn khởi kiện…cú trường hợp đương sự ủy quyền chết, quỏ trỡnh giải quyết vụ ỏn Tũa ỏn chỉ bỏo gọi người đại diện theo ủy quyền của họ đến để giải quyết vụ ỏn và vẫn xỏc định người đó chết trong vụ ỏn là đương sự, đõy là những trường hợp vi phạm nghiờm trọng thủ tục tố tụng
Như vậy trỡnh tự thủ tục giải quyết vụ ỏn ly hụn cú yếu tố nước ngoài
là việc Tũa ỏn cú thẩm quyền tiến hành cỏc hoạt động tố tụng theo quy định
Trang 2017
của phỏp luật giải quyết vụ ỏn ly hụn cú yếu tố nước ngoài theo cỏc giai đoạn tố tụng từ khởi kiện, thụ lý vụ ỏn, chuẩn bị xột xử, hoà giải và mở phiờn toà xột xử vụ ỏn để ra phỏn quyết về vụ ỏn ly hụn cú yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật
1.1.2 Đặc điểm của việc giải quyết cỏc vụ ỏn ly hụn cú yếu tố nước ngoài
Khi giải quyết cỏc vụ ỏn ly hụn cú yếu tố nước ngoài Tũa ỏn phải tiến hành theo trỡnh tự, thủ tục được quy định trong phỏp luật tố tụng dõn sự, một mặt phải đảm bảo lợi ớch của chủ thể tham gia quan hệ đú, một mặt phải đảm bảo thực hiện đường lối, chớnh sỏch của Đảng, phỏp luật của Nhà nước, bảo đảm việc mở rộng và phỏt triển quan hệ hợp tỏc quốc tế tốt đẹp giữa nước ta với cỏc nước khỏc
Việc giải quyết cỏc vụ ỏn ly hôn có yếu tố n-ớc ngoài cú những đặc điểm sau:
- Tũa ỏn chỉ thụ lý giải quyết vụ ỏn ly hụn cú yếu tố nước ngoài nếu vợ chồng trong quan hệ đú đó đăng ký kết hụn tại cơ quan Nhà nước cú thẩm quyền của Việt Nam, tuõn theo phỏp luật Việt Nam hoặc việc đăng ký kết hụn của họ được cụng nhận trờn lónh thổ Việt Nam, hoặc việc kết hụn của họ đó được hợp phỏp húa lónh sự và đó được ghi chỳ vào sổ cỏc thay đổi về hộ tịch theo quy định của phỏp luật
- Đơn khởi kiện xin ly hụn của đương sự ở nước ngoài phải được chứng thực hợp phỏp, tức là phải được hợp phỏp húa lónh sự nếu đương sự là người nước ngoài, hoặc phải được xỏc nhận của cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài nơi cụng dõn đú đang cư trỳ nếu đương sự là cụng dõn Việt Nam đang ở nước ngoài Thực tế giải quyết cỏc vụ ỏn ly hụn cú yếu
tố nước ngoài tại TANDTP Hà Nội trong những năm qua cho thấy: cú những trường hợp khi đương sự ở nước ngoài cú đơn xin ly hụn nhưng đơn của họ
Trang 2118
chưa được hợp pháp hóa lãnh sự hay chưa được xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài nơi công dân đó đang cư trú nhưng Tòa án vẫn phải xem xét giải quyết ví dụ như trường hợp công dân Việt Nam ra nước ngoài du lịch rồi ở lại sinh sống ở nước ngoài, họ không về Việt Nam để giải quyết ly hôn mà gửi đơn về Việt Nam qua đường bưu điện hoặc qua thân nhân của họ ở Việt Nam Do họ ở nước ngoài là bất hợp pháp nên đơn của họ chưa được hợp pháp hóa lãnh sự, chưa được xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài nơi công dân đó đang cư trú trường hợp này thực tiễn xét xử sau khi nhận được đơn của họ và trên cơ
sở yêu cầu của đương sự Tòa án đã tiến hành trưng cầu giám định chữ viết chữ ký trong đơn với tài liệu mẫu (nếu có), nếu xác định là đúng thì Tòa án vẫn giải quyết cho ly hôn Như vậy việc giải quyết này đã góp phần tháo gỡ vướng mắc trong việc để án tồn đọng, kéo dài
- Việc tiến hành các bước tố tụng như lấy lời khai của đương sự, tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài, việc điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ ở nước ngoài phải được thực hiện qua con đường ngoại giao, Tòa án UTTP theo quy định chung của Tư pháp quốc tế
- Thủ tục hòa giải trong vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài đối với đương sự đang ở nước ngoài không được đặt ra, coi như trường hợp không thể hòa giải nên Tòa án không phải báo gọi đương sự ở nước ngoài về tham gia phiên hòa giải Tuy nhiên đối với đương sự ở nước ngoài về nước trong thời gian Tòa án hòa giải thì Tòa án vẫn tiến hành hòa giải đối với họ theo thủ tục chung
- Tòa án không phải triệu tập đương sự ở nước ngoài tham gia tố tụng tại phiên tòa, trường hợp này Tòa án chỉ thông báo cho họ biết việc Tòa án
mở phiên tòa Tuy nhiên pháp luật không quy định Tòa án thông báo cho họ
Trang 22- Việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng các ĐƯQT mà Việt Nam ký kế hoặc tham gia; người nước ngoài tại Việt Nam được hưởng các quyền và có nghĩa vụ tố tụng như công dân Việt Nam, bên cạnh đó nhà nước ta cũng bảo hộ quyền lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam, pháp luật của nước sở tại và Tập quán quốc tế trên cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài
1.2 Căn cứ pháp luật và các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng luật trong giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài
1.2.1 Căn cứ pháp luật của việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài
Việc giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài có thể được điều chỉnh bởi nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, do vậy khi Tòa án giải quyết từng vụ việc cụ thể Tòa án cần phải xác định hệ thống pháp luật được áp dụng Bên cạnh việc áp dụng pháp luật trong nước để giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng nảy sinh vấn đề xung đột pháp luật Để giải quyết vấn đề này các nước đã tích cực tham gia ký kết hay gia nhập các ĐƯQT để giải quyết Khi giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài một số kiểu hệ thuộc cơ bản áp dụng đó là:
- Luật nhân thân: bao gồm luật nơi cư trú và luật quốc tịch và được áp dụng theo thứ tự:
Trang 2320
+ Phỏp luật nơi cư trỳ của đương sự, như trong vụ ỏn ly hụn cú yếu tố nước ngoài mà hai vợ chồng xin ly hụn họ khụng cú quốc tịch Việt Nam nhưng họ cựng thường trỳ tại Việt Nam thỡ việc ly hụn của họ được giải quyết
theo phỏp luật Việt Nam Trường hợp một trong hai người là cụng dõn Việt
Nam nhưng họ khụng thường trỳ tại Việt Nam mà nơi thường trỳ chung của
họ là ở nước ngoài thỡ ỏp dụng phỏp luật của nước nơi họ thường trỳ chung để giải quyết Khoản 2 Điều 24 HĐTTTP giữa Việt Nam và Ba Lan năm 1993
quy định: "nếu vợ chồng khụng cựng quốc tịch, quan hệ nhõn thõn và quan hệ tài sản sẽ được điều chỉnh bởi phỏp luật của nước ký kết nơi họ đang thường trỳ hoặc đó cựng thường trỳ lần cuối cựng"
+ Luật quốc tịch: là phỏp luật nước mà đương sự mang quốc tịch Theo quy định của phỏp luật Việt Nam thỡ khi giải quyết vụ ỏn ly hụn cú yếu tố nước ngoài việc xỏc định luật ỏp dụng căn cứ vào quốc tịch Việt Nam, nếu vợ chồng khụng cú nơi thường trỳ chung và một trong hai người cú quốc tịch Việt Nam thỡ ỏp dụng phỏp luật của Việt Nam để giải quyết việc ly hụn
+ Luật nơi cú tài sản: trong vụ ỏn ly hụn cú yếu tố nước ngoài nhiều trường hợp khi giải quyết vụ ỏn đú mặc dự cú thể đương sự khụng ở nước ngoài nhưng tài sản tranh chấp ở nước ngoài, nờn khi giải quyết cần phải xem xột để ỏp dụng phỏp luật một cỏch chớnh xỏc
Việc giải quyết ly hụn cú yếu tố nước ngoài liờn quan đến nguồn phỏp luật điều chỉnh quan hệ này, do đú cơ sở phỏp lý mà Tũa ỏn ỏp dụng để giải quyết vụ ỏn ly hụn cú yếu tố nước ngoài tuỳ từng tr-ờng hợp cụ thể Toà án áp dụng hệ thống pháp luật để điều chỉnh cho phù hợp
- Điều ước quốc tế: Trong giải quyết ly hụn cú yếu tố nước ngoài thỡ
ĐƯQT được coi là nguồn quan trọng điều chỉnh cỏc quan này Theo quy định
tại khoản 3 Điều 2 BLTTDS: Bộ luật tố tụng dõn sự được ỏp dụng đối với việc giải quyết vụ việc dõn sự cú yếu tố nước ngoài; trường hợp điều ước
Trang 2421
quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó Nội dung này cũng được quy định tại khoản 2 Điều 7 LHNGĐ năm 2000: Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với quy định của Luật này, thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế
- Tập quán quốc tế: Trong giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài thì tập quán quốc tế thường áp dụng khi trong trường hợp các văn bản pháp luật trong nước, ĐƯQT mà chúng ta ký kết hoặc gia nhập không quy định, nhưng việc áp dụng này cũng không được trái với pháp luật trong nước
- Pháp luật quốc gia: Hiến pháp là văn bản pháp luật có giá trị cao nhất, trong đó các nguyên tắc cơ bản về mặt pháp luật đối với các quyền cơ bản nhất của con người được quy định, về quan hệ hôn nhân gia đình Điều 64
về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; Nghị định số
Trang 2522
24/2013/NĐ-CP ngày 28/3/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của LHNGĐ về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; Thông tư số 07/2002/TT-BTP ngày 16/12/2002 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một
số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP; TTLT số BNG-TANDTC ngày 15/9/2011 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân
15/2011/TTLT-BTP-sự của Luật Tương trợ Tư pháp; Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình; Nghị định 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của
NĐ 68/CP; HĐTTTP; các ĐƯQT mà Việt Nam ký kết, tham gia và một số văn bản pháp luật liên quan khác
Việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài trong đó việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam chúng ta áp dụng LHNGĐ Đối với trường hợp bên
là công dân Việt Nam nhưng thời điểm ly hôn họ ở nước ngoài thì khi giải quyết ly hôn phải tuân thủ pháp luật nước nơi thường trú chung của vợ chồng, nếu họ không có nơi thường trú chung thì áp dụng pháp luật Việt Nam Việc giải quyết ly hôn mà có yêu cầu giải quyết về tài sản là bất động sản thì phải tuân thủ pháp luật nước nơi có bất động sản
Những văn bản trên là cơ sở pháp lý quan trọng và cần thiết để điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, các quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài vẫn chưa đáp ứng được với thực tiễn các tranh chấp xảy ra trên thực tế Do vậy đòi hỏi các quốc gia bên cạnh xây dựng pháp luật trong nước còn phải tham gia ký kết các HĐTTTP để điều chỉnh các
Trang 26ly hụn Toà ỏn phải ỏp dụng luật để giải quyết vụ ỏn trong suốt quỏ trỡnh tiến hành tố tụng từ khi đương sự cú đơn khởi kiện tại Tũa ỏn, Toà ỏn tiến hành thụ lý vụ ỏn, điều tra, thu thập chứng cứ, đưa vụ ỏn ra xột xử, ra bản án, quyết
định và phải do người tiến hành tố tụng thực hiện theo trỡnh tự, thủ tục được quy định trong phỏp luật tố tụng dõn sự Vụ ỏn ly hụn cú yếu tố nước ngoài thường nảy sinh cỏc quan hệ đa dạng, phức tạp Do vậy, khi giải quyết trong từng vụ việc cụ thể đũi hỏi người tiến hành tố tụng phải đặc biệt linh hoạt để
ỏp dụng phỏp luật cho phự hợp với quan hệ đú
Thực tiễn qua công tác giải quyết ly hôn có yếu tố n-ớc ngoài tại Toà
án trong thời gian quan cho thấy việc ỏp dụng luật trong giải quyết cỏc vụ ỏn
ly hụn cú yếu tố nước ngoài cũn nhiều vướng mắc và bất cập nh-:
- Hệ thống phỏp luật chưa hoàn thiện, khụng tương thớch như việc xỏc định thế nào là "người Việt Nam định cư ở nước ngoài" rất khú Theo khoản 2 Điều 4 Luật Quốc tịch thỡ "'người Việt Nam định cư ở nước ngoài là cụng dõn Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trỳ, làm ăn sinh sống lõu dài ở nước ngoài", nh-ng để xác định thời hạn bao lõu là lõu dài thì ch-a có giải thích Hay trường hợp người Việt Nam đi cụng tỏc, học tập, du lịch nhưng họ khụng
về nước khi hết thời hạn cú được coi là người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Trang 27- Việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài có những trường hợp khi một quan hệ pháp luật chịu sự điều chỉnh của hai hệ thống pháp luật của hai nước khác nhau dẫn đến việc xung đột pháp luật Vấn đề là khi áp dụng vào
vụ việc cụ thể Tòa án không thể cùng một lúc áp dụng cả hai hệ thống pháp luật đó, nhưng vấn đề đặt ra là xác định pháp luật sẽ được áp dụng trong trường hợp đó là pháp luật nước nào, vấn đề này không phải đơn giản đối với tất cả các Thẩm phán Việc nghiên cứu các HĐTTTP trong đó xác định quy phạm pháp luật được áp dụng trong các trường hợp cụ thể là vô cùng quan trọng trong công tác xét xử của Tòa án
1.3 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển pháp luật về giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài
1.3.1 Hệ thống pháp luật quốc gia
1.3.1.1.Giai đoạn trước năm 1945
Lịch sử Việt Nam giai đoạn trước năm 1945 nước ta là một nước thuộc địa nửa phong kiến, Thực dân Pháp đã áp dụng chính sách chia để trị, vì thế nước ta bị chia làm ba miền (Bắc, Trung, Nam) theo đó pháp luật được áp
Trang 2825
dụng để giải quyết ở mỗi miền là khác nhau, như ở Bắc kỳ áp dụng Dân pháp điển Bắc kỳ (1931), ở Trung Kỳ áp dụng Dân pháp điển Trung kỳ (1936), ở Nam kỳ áp dụng Pháp quy giản yếu (1983) Tuy nhiên pháp luật về HNGĐ trong giai đoạn này nhìn chung duy trì chế độ hôn nhân cưỡng ép, với quan
niệm "cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy", trong quan hệ hôn nhân gia đình thừa
nhận chế độ đa thê điều đó thể hiện sự bất bình đẳng giữa nam và nữ trong gia đình, trong gia đình quyền của người chồng được đề cao Giai đoạn này pháp luật về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài chưa điều chỉnh
1.3.1.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986
Trong giai đoạn này được chia làm ba giai đoạn nhỏ: giai đoạn từ năm
1945 đến năm 1954; giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975; giai đoạn từ năm
1975 đến năm 1986 Pháp luật điều chỉnh về quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài trong ba giai đoạn này về cơ bản chưa đề cập đến
- Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954
Trong giai đoạn này hôn nhân gia đình theo tư tưởng phong kiến lạc hậu vẫn còn tồn tại Ngày 10/10/1945 Hồ Chủ Tịch ký Sắc lệnh số 90- SL, là
cơ sở để đấu tranh xóa bỏ những hủ tục của chế độ hôn nhân gia đình phong kiến lạc hậu, xây dựng chế độ hôn nhân gia đình mới dân chủ tiến bộ, quyền bình đẳng nam nữ, tư tưởng giải phóng phụ nữ được đề cập Trong giai đoạn này Sắc lệnh 51-SL ngày 17/4/1946 ra đời đã đề cập đến yếu tố nước ngoài, trong đó xác định thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các việc dân
sự có yếu tố nước ngoài, tuy nhiên nó cũng chỉ quy định chung chung, chưa
cụ thể Trong giai đoạn này Hiến pháp năm 1946 ra đời đã có qui định về
quyền của đàn bà ngang quyền đàn ông: Điều 9 Hiến pháp 1946: "đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện" Đây là bước tiến bộ vượt bậc
của xã hội ta lúc bấy giờ Sắc lệnh 85/SL và Sắc lệnh 97/SL ra đời đã đề cập
Trang 2926
đến thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc dân sự cũng như hôn nhân gia đình, đã có những qui định chi tiết, tiến bộ về vấn đề ly hôn mà các văn bản trước đó chúng ta chưa đề cập đến
Sắc lệnh 159/SL ngày 17/11/1950 là văn bản pháp lý riêng biệt đầu tiên của Việt Nam đề cập đến lĩnh vực HNGĐ, có nhiều điểm mới tiến bộ như quy định ly hôn là quyền của cả vợ và chồng, nguyên nhân ly hôn, thủ tục ly hôn,
hiệu lực của ly hôn cũng được đề cập đến cụ thể, rõ ràng Điều 3 quy định:
"vợ chồng có thể xin thuận tình ly hôn"
Nhìn chung giai đoạn này đã có những bước chuyển nhất định trong các văn bản pháp luật về quan hệ hôn nhân gia đình, tuy nhiên chỉ đề cập đến việc Tòa án trong việc giải quyết các việc dân sự có yếu tố nước ngoài một cách chung chung còn các quy định về ly hôn có yếu tố nước ngoài chưa được
đề cập đến một cách cụ thể
- Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975
Giai đoạn này nước ta bị chia cắt bởi hai miền Nam - Bắc, vì thế pháp luật ở mỗi miền là khác nhau
+ Ở Miền Bắc: Sắc lệnh 97-SL và Sắc lệnh 159 -SL đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của nó, góp phần vào việc xóa bỏ chế độ hôn nhân gia đình phong kiến lạc hậu Tuy nhiên nó vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của cách mạng nước ta lúc bấy giờ
Hiến pháp năm 1959 ra đời, cùng với nó là các văn bản pháp luật khác như LHNGĐ năm 1959 ra đời đánh dấu một bước tiến vượt bậc của pháp luật nước ta trong quan hệ hôn nhân gia đình, là bước tiến cho việc tách quan hệ hôn nhân gia đình khỏi ngành luật dân sự, trở thành một ngành luật độc lập
Là cơ sở để từng bước xây dựng LHNGĐ trở thành một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam Trong đó các quy định điều chỉnh các vấn
Trang 3027
đề như kết hôn, quyền nghĩa vụ của vợ chồng, quan hệ cha mẹ với con cái, quy định về ly hôn được quy định
Mặc dù vậy cả Hiến pháp năm 1959 và LHNGĐ năm 1959 đều không
có qui định riêng nào về ly hôn có yếu tố nước ngoài Vấn đề này chỉ được đề cập đến sau khi có Pháp lệnh Tòa án ngày 23/3/1961; Thông tư 1080/TC ngày 25/9/1961 của TANDTC hướng dẫn việc thực hiện thẩm quyền mới của
TAND cấp tỉnh lấy các vụ việc có liên quan đến "ngoại kiều, việt kiều mới"
về nước từ TAND cấp huyện lên để giải quyết thì khi đó việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài có cơ sở pháp lý để giải quyết TANDTC cũng ban hành văn bản hướng dẫn giải quyết các quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài như: Thông tư số 09/TANDTC ngày 28/6/1974 hướng dẫn giải quyết các quan hệ hôn nhân ở vùng biên giới Việt -Trung, các văn bản luật hướng dẫn các bước tiến hành tố tụng cho Tòa án khi giải quyết vụ việc như vấn đề ủy thác lấy lời khai đương sự, việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án được quy định
Ngày 12/7/1974 TANDTC tiếp tục ban hành Thông tư số 11/TANDTC
về việc hướng dẫn một số nguyên tắc và thủ tục trong việc giải quyết ly hôn
có yếu tố nước ngoài, trên cơ sở đó TAND cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài Trong đó quy định về vấn đề UTTP Như vậy trong giai đoạn này các quy định của pháp luật điều chỉnh ly hôn có yếu tố nước ngoài bắt đầu được ban hành để điều chỉnh phù hợp thực tế
+ Ở Miền Nam: Sau năm 1954 đế quốc Mỹ cai trị nước ta với âm mưu của chúng là chia cắt đất nước làm hai miền Nam Bắc Ở Miền Nam dưới sự cai trị của chính quyền Ngô Đình Diệm, vấn đề ly hôn giữa vợ và chồng không được công nhận, quy định của pháp luật rất lạc hậu như cấm đoán ly hôn, coi kết hôn là phải gắn bó suốt đời Tuy nhiên những tư tưởng này không mang tính chất xây dựng, nó không phản ánh đúng thực chất vấn đề trong
Trang 3128
quan hệ hôn nhân, do những qui định mang tính khắt khe với gia đình nên nó không những duy trì được quan hệ vợ chồng trong thực tế mà nó cũng không được người dân đồng tình Các quy định của pháp luật dưới chế độ Ngô Đình Diệm cấm vợ chồng không được ly hôn, nó còn thể hiện nguyên tắc bất bình đẳng giữa vợ và chồng, phân biệt đối xử giữa con trong giá thú với con ngoài giá thú, các văn bản pháp luật mang tính phản động, đi ngược với lợi ích của nhân dân lao động nên không được sự đồng tình của nhân dân
- Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1986
Giai đoạn này Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất ngày 30/4/1975 Pháp luật trong cả nước cũng được áp dụng thống nhất Các quan hệ hôn nhân và gia đình vì thế áp dụng chung LHNGĐ năm
1959 Trong tình hình đất nước vừa hòa bình nên một số điều của LHNGĐ năm 1959 không còn phù hợp với tình hình thực tế nữa Nhà nước ta đã quyết định thành lập Ban dự thảo LHNGĐ mới, đó là cơ sở để ra đời LHNGĐ năm
1986 Nhìn chung từ giai đoạn trước năm 1986 ở Việt Nam vẫn chưa có một quy phạm pháp luật cụ thể nào điều chỉnh các giải quyết các quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài
1.3.1.3 Giai đoạn từ năm 1986 đến trước khi ban hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
LHNGĐ năm 1986 ra đời, trong đó quy định các nguyên tắc hôn nhân
tự nguyện, tiến bộ, hôn nhân một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, các quy định về vấn đề hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài được quy định rõ ràng, đây là một bước phát triển lớn trong công tác lập pháp của nước ta về vấn đề này, góp phần hội nhập trong quan hệ hợp tác quốc tế
Ngày 30/12/1986 TANDTC, VKSNDTC và Bộ tư pháp đã ban hành TTLT số 06/TTLT hướng dẫn về thẩm quyền loại việc này của Tòa án Tiếp theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ra đời vµ có hiệu lực thi
Trang 32Pháp lệnh về hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài có hiệu lực pháp luật ngày 01/3/1994 đã cụ thể hóa các quy định của pháp luật về ly hôn có yếu tố nước ngoài được quy định trong LHNGĐ năm 1986 Bên cạnh đó TANDTC cũng đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn giải quyết các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài như: công văn 517/NCPL ngày 09/10/1993 hướng dẫn thủ tục tố tụng của Tòa án như việc điều tra, lấy lời khai của đương sự ở nước ngoài, vấn đề UTTP
Trong giai đoạn này BLDS năm 1995 ra đời, trong đó qui định về
quyền ly hôn tại Điều 38 BLDS năm 1995 qui định như sau: "ly hôn được coi là quyền của mỗi bên vợ chồng, theo đó vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu Tòa án cho chấm dứt quan hệ hôn nhân khi có lý do chính đáng"
1.3.1.4 Giai đoạn từ khi ban hành Luật hôn nhân gia đình năm
2000 đến nay
LHNGĐ năm 2000 ra đời thay thế cho LHNGĐ năm 1986 đã đáp ứng được phần nào đòi hỏi của đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế, theo đó quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài được qui định tại chương XI gồm 7 Điều, từ Điều 100 đến Điều 106 Về việc ly hôn có yếu tố nước ngoài được qui định tại Điều 102 và Điều 104 Như vậy với sự ra đời của LHNGĐ năm 2000 đã chấm dứt hiệu lực của Pháp lệnh về hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
Trang 3330
Nhằm cụ thể húa một số quy định của LHNGĐ năm 2000 về quan hệ hụn nhõn và gia đỡnh cú yếu tố nước ngoài, ngày 10/7/2002 Chớnh phủ đó ban hành Nghị định số 68/2002/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của luật hụn nhõn và gia đỡnh về quan hệ hụn nhõn gia đỡnh cú yếu tố nước ngoài năm 1993 Sau khi BLTTDS năm 2005 cú hiệu lực thi hành, ngày 16/4/2003 TANDTC đó ban hành Nghị quyết số 01/2003/NQ HĐTP của Hội đồng Thẩm phỏn TANDTC hướng dẫn ỏp dụng phỏp luật trong việc giải quyết một số cỏc tranh chấp dõn sự, hụn nhõn gia đỡnh, trong đú cú hướng dẫn về thủ tục giải quyết một số trường hợp ly hụn cú một bờn đương sự ở nước ngoài
BLTTDS năm 2005 ra đời, được sửa đổi, bổ sung một số Điều của BLTTDS năm 2011 trong đú đó dành hẳn chương XXXV quy định về thủ tục giải quyết cỏc vụ việc dõn sự cú yếu tố nước ngoài núi chung và vụ việc
ly hụn cú yếu tố nước ngoài núi riờng Cỏc Điều 27; 28; 33; 34 BLTTDS quy định về cỏc tranh chấp, yờu cầu về hụn nhõn và gia đỡnh thuộc thẩm quyền giải quyết của Tũa ỏn Như vậy cỏc văn bản phỏp luật điều chỉnh giải quyết ly hụn cú yếu tố nước ngoài được coi là nguồn cơ bản Khi giải quyết ly hụn cú yếu tố nước ngoài Tũa ỏn cần nghiờn cứu nhiều văn bản phỏp luật để giải quyết
Bên cạnh đó Hiến phỏp; BLDS; đặc biệt LHNGĐ năm 2000 đó dành cả chương XI để quy định về quan hệ hụn hõn và gia đỡnh cú yếu tố nước ngoài Quỏ trỡnh thực hiện LHNGĐ chỳng ta tiếp tục cú sự sửa đổi bổ sung cho phự hợp với tỡnh hỡnh thực tế Ngoài cỏc văn bản trờn để giải quyết ly hụn cú yếu
tố nước ngoài Tũa ỏn còn ỏp dụng nhiều cỏc văn bản d-ới luật để giải quyết cho từng tr-ờng hợp cụ thể
Bên cạnh việc ỏp dụng hệ thống phỏp luật quốc gia khi giải quyết cỏc
vụ án ly hụn cú yếu tố ngước ngoài, Tũa ỏn còn ỏp dụng cỏc văn bản luật như: ĐƯQT, thường ĐƯQT khụng trực tiếp điều chỉnh quan hệ hụn nhõn gia đỡnh
Trang 3431
có yếu tố nước ngoài mà ta áp dụng trong tường hợp giải quyết vụ việc xảy ra xung đột pháp luật; Tập quán quốc tế Quá trình giải quyết tùy từng trường Tòa án áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh với đối tượng cụ thể
1.4 Cơ sở pháp luật Việt Nam hiện hành về thẩm quyền và trình tự giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài
Cơ sở pháp luật Việt Nam hiện hành quy định về thẩm quyền giải quyết
ly hôn có yếu tố nước ngoài như sau:
- Ở Việt Nam Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết việc
ly hôn Theo qui định tại khoản 3 Điều 33 BLTTDS thì: những tranh chấp, yêu cầu ly hôn mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải UTTP cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài thì thẩm quyền thuộc TAND cấp tỉnh Tại phần I, mục 4 Nghị quyết 01/2005/NQ-HĐTP TANDTC hướng dẫn về khoản 3 Điều 33 của BLTTDS như sau:
4.1 Đương sự ở nước ngoài bao gồm:
a Đương sự là cá nhân không phân biệt là người nước ngoài hay người Việt Nam mà không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Toà án thụ lý vụ việc dân sự đương sự là người Việt Nam định
cư, làm ăn, học tập,công tác ở nước ngoài hoặc người nước ngoài không ở Việt Nam có mặt tại Việt Nam để nộp đơn khởi kiện vụ án dân sự hoặc đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Toà án
Đối với yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha,
mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam, thì theo quy định tại khoản 3 Điều 102 của Luật hôn nhân và gia đình
Trang 35vụ việc dân sự
4.2 Tài sản ở nước ngoài
Tài sản ở nước ngoài là tài sản được xác định theo quy định của Bộ luật dân sự ở ngoài biên giới lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại thời điểm Toà án thụ lý vụ việc dân sự 4.3 Cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài
Cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài là trường hợp trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự cần phải tiến hành một hoặc một số hoạt động tố tụng dân sự ở nước ngoài mà Toà án Việt Nam không thể thực hiện được, cần phải yêu cầu cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện hoặc đề nghị Toà án nước ngoài thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập hoặc theo nguyên tắc có đi có lại
Do quan hệ ly hôn là quan hệ đặc biệt nên ngoài tuân thủ các thủ tục tố tụng chung thì tại khoản 3 Điều 102 LHNGĐ năm 2000 cũng qui định:
Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương huỷ việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ có yếu tố nước ngoài, xem xét việc công nhận hoặc không công nhận bản án, quyết định về
Trang 3633
hôn nhân và gia đình của Toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của nước ngoài theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam
Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi cư trú của công dân Việt Nam huỷ việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam
Đây là một quy định mới của LHNGĐ năm 2000, xuất phát từ thực tế một số khu vực biên giới nước ta mặc dù ở đây có yếu tố nước ngoài nhưng khi giải quyết ly hôn không máy móc phải giải quyết ở Tòa án cấp tỉnh mà trường hợp này để tạo điều kiện cho các đương sự tham gia vào quá trình tố tụng, khắc phục được những khó khăn trong quá trình tố tụng đối với các bên đương sự cũng như đối với cơ quan tiến hành tố tụng, giúp tiết kiệm được thời gian và công sức đi lại và cũng để tránh tình trạng vụ án kéo dài nên Tòa
án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết những vụ việc thuộc trường hợp này
Qua thực tiễn công tác xét xử của ngành Tòa án trong thời gian qua cho thấy việc quy định TAND cấp huyện khu vực biên giới có thẩm quyền giải quyết các vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên giới như trên là hoàn toàn phù hợp với công tác xét xử của ngành Tòa án, đồng thời còn tạo điều kiện cho việc giải quyết một số các vụ án ly hôn được nhanh chóng, kịp thời, bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, giảm nhẹ gánh nặng công việc cho TAND cấp tỉnh, tạo điều kiện để TAND cấp tỉnh tập trung vào giải quyết theo thủ tục phúc thẩm các vụ án Quy định này
Trang 3734
cũng phù hợp với xu hướng tăng thẩm quyền cho TAND cấp huyện của ngành Tòa án trong thời gian tới
Điều 104 LHNGĐ năm 2000 qui định về ly hôn có yếu tố nước ngoài:
1 Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam được giải quyết theo quy định của Luật này
2 Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của
vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì theo pháp luật Việt Nam
3 Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi
ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó
4 Bản án, quyết định ly hôn của Toà án hoặc cơ quan khác
có thẩm quyền của nước ngoài được công nhận tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam
Như vậy thẩm quyền giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài thuộc TAND cấp tỉnh trừ trường hợp đã nêu tại khoản 3 Điều 102 LHNGĐ năm 2000 thì TAND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết
- Để giải quyết các vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Nghị quyết
số 01/2003/HĐTP TANDTC ngày 16/4/2003 đã hướng dẫn áp dụng thống nhất trong công tác xét xử của ngành Tòa án về vấn đề giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài như sau:
2.1 Đối với trường hợp công dân Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với công dân Việt Nam đã đi ra nước ngoài
Khi giải quyết loại việc này, cần phân biệt như sau:
Trang 3835
a Đối với những trường hợp uỷ thác tư pháp không có kết quả vì lý do bị đơn sống lưu vong, không có cơ quan nào quản lý, không có địa chỉ rõ ràng nên không thể liên hệ với họ được, thì Toà
án yêu cầu thân nhân của bị đơn đó gửi cho họ lời khai của nguyên đơn và báo cho họ gửi về Toà án những lời khai hoặc tài liệu cần thiết cho việc giải quyết vụ án Sau khi có kết quả, Toà án có thể căn
cứ vào những lời khai và tài liệu đó để xét xử theo thủ tục chung
b Trường hợp bên đương sự là bị đơn đang ở nước ngoài không có địa chỉ, không có tin tức hoặc giấu địa chỉ nên nguyên đơn ở trong nước không thể biết địa chỉ, tin tức của họ, thì giải quyết như sau:
- Nếu bị đơn ở nước ngoài không có địa chỉ, không có tin tức gì về họ (kể cả thân nhân của họ cũng không có địa chỉ, tin tức
gì về họ), thì Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ
án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và giải thích cho nguyên đơn biết họ có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án cấp huyện nơi họ thường trú tuyên
bố bị đơn mất tích hoặc đã chết theo quy định của pháp luật về tuyên bố mất tích, tuyên bố chết
- Nếu thông qua thân nhân của họ mà biết rằng họ vẫn có liên hệ với thân nhân ở trong nước, nhưng thân nhân của họ không cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án, cũng như không thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết để gửi lời khai về cho Toà án, thì coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết Nếu Toà án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án cũng
Trang 3936
như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết, thì Toà án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung Sau khi xét xử Toà án cần gửi ngay cho thân nhân của bị đơn bản sao bản án hoặc quyết định để những người này chuyển cho bị đơn, đồng thời tiến hành niêm yết công khai bản sao bản án, quyết định tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi bị đơn cư trú cuối cùng và nơi thân nhân của bị đơn cư trú để đương sự có thể sử dụng quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật tố tụng
2.2 Đối với trường hợp các bên đều là công dân Việt Nam kết hôn ở nước ngoài theo pháp luật nước ngoài, nay họ về Việt Nam xin ly hôn
Khi giải quyết loại việc này cần phân biệt như sau:
a Đối với trường hợp các bên có giấy chứng nhận kết hôn
do cơ quan có thẩm quyền của nước đã ký kết với Việt Nam Hiệp định tương trợ tư pháp hoặc đã được hợp pháp hoá lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam
Theo quy định của Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch (sau đây gọi tắt là Nghị định số 83) thì việc kết hôn của đương sự cần được ghi chú vào sổ đăng ký; do đó, nếu việc kết hôn của đương sự chưa được ghi chú vào sổ đăng ký thì Toà án yêu cầu đương sự làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký theo quy định của Nghị định số 83 rồi mới thụ
lý giải quyết việc ly hôn Trong trường hợp đương sự không thực hiện yêu cầu của Toà án làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký mà vẫn
có yêu cầu Toà án giải quyết, thì Toà án không công nhận họ là vợ chồng; nếu có yêu cầu Toà án giải quyết về con cái, tài sản thì Toà
án giải quyết theo thủ tục chung
Trang 4037
b Đối với trường hợp các bên có giấy chứng nhận kết hôn
do cơ quan có thẩm quyền của nước chưa ký kết với Việt Nam Hiệp định tương trợ tư pháp cấp và cũng chưa được hợp pháp hoá lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam
Theo quy định của Nghị định số 83 thì trong trường hợp này giấy đăng ký kết hôn phải được hợp pháp hoá lãnh sự và việc kết hôn cần được ghi chú vào sổ đăng ký; do đó, nếu giấy đăng ký kết hôn của họ chưa được hợp pháp hoá lãnh sự, việc kết hôn của
họ chưa được ghi chú vào sổ đăng ký, thì Toà án yêu cầu đương sự hoàn tất thủ tục hợp pháp hoá lãnh sự và làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký rồi mới thụ lý giải quyết Trong trường hợp đương sự không thực hiện các thủ tục đó mà vẫn có yêu cầu Toà án giải quyết, thì Toà án không công nhận họ là vợ chồng; nếu có yêu cầu Toà án giải quyết về con cái, tài sản thì Toà án giải quyết theo thủ tục chung
2.3 Đối với trường hợp người Việt Nam ở nước ngoài kết hôn với người nước ngoài mà việc kết hôn đó được công nhận tại Việt Nam, nay người Việt Nam về nước và người nước ngoài xin ly hôn
a Trong trường hợp người nước ngoài đang ở nước ngoài xin ly hôn người Việt Nam mà người Việt Nam còn quốc tịch Việt Nam và đang cư trú tại Việt Nam, thì Toà án thụ lý giải quyết nhưng việc áp dụng pháp luật để giải quyết cần phân biệt như sau:
- Nếu người nước ngoài là công dân của nước mà Việt Nam đã ký Hiệp định tương trợ tư pháp với nước đó mà trong Hiệp định tương trợ tư pháp đó có quy định khác với Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì áp dụng quy định của Hiệp định tương trợ tư