Vị trí tố tụng và quyền và nghĩa vụ tố tụng của người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự ..... Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự năm 2004 là một bước đột phá trong tố tụn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HOÀNG THỊ HUYỀN TRANG
Đ ƢƠNG SƢ̣ THEO QUY ĐI ̣NH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SƢ̣ VIỆT NAM NĂM 2004
Chuyên ngành: Luâ ̣t dân sƣ̣
Mã số: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Lê Thu Hà
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và
đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Hoàng Thị Huyền Trang
Trang 3MỤC LỤC
Trang Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
4 Tính mới và những đóng góp của đề tài 4
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Kết cấu của luận văn 6
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 7
1.1 Đương sự trong vu ̣ án dân sự 7
1.1.1 Khái niệm đương sự trong vụ án dân sự 7
1.1.2 Địa vi ̣ pháp lý của đương sự trong vu ̣ án dân sự 10
1.1.3 Cơ sở khoa ho ̣c của viê ̣c xác đi ̣nh tư cách đương sự trong vu ̣ án dân sự 14
1.2 Đương sự trong viê ̣c dân sự 15
1.2.1 Khái niệm đương sự trong việc dân sự 15
1.2.2 Địa vi ̣ pháp lý của đương sự trong viê ̣c dân sự 17
1.2.3 Cơ sở khoa học của việc xác định tư cách đương sự trong việc dân sự 19
1.3 Lược sử quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự Viê ̣t Nam về đương sự 19
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989 20
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2004 20
1.3.3 Giai đoạn từ năm 2004 đến nay 22
Tóm tắt Chương 1 23
Trang 4Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐƯƠNG SỰ TRONG
TỐ TỤNG DÂN SỰ 24
2.1 Năng lực chủ thể của đương sự trong tố tụng dân sự theo pháp luâ ̣t hiê ̣n hành 24
2.1.1 Năng lực pháp luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự của đương sự 24
2.1.2 Năng lực hành vi tố tu ̣ng dân sự của đương sự 25
2.2 Vị trí tố tụng và quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự 33
2.2.1 Vị trí tố tụng và quyền và nghĩa vụ tố tụng củ a nguyên đơn trong vụ án dân sự 33
2.2.2 Vị trí tố tụng và quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn trong vụ án dân sự 49
2.2.3 Vị trí tố tụng và quyền và nghĩa vụ tố tụng của người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự 57
2.2.4 Vị trí tố tụng và quyền và nghĩa vụ tố tụng củ a đương sự trong viê ̣c dân sự 62
Tóm tắt Chương 2 65
Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHI ̣ 66
3.1 Thực tiễn áp du ̣ng pháp luâ ̣t về đương sự trong tố tu ̣ng dân sự 66
3.2 Một số kiến nghi ̣ 77
3.2.1 Một số kiến nghi ̣ nhằm hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t về đương sự trong tố tụng dân sự 77
3.2.2 Tăng cườ ng công tác phổ biến và tuyên truyền pháp luâ ̣t 81
3.2.3 Công tác đào ta ̣o cán bô ̣ 82
Tóm tắt Chương 3 82
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đương sự trong tố tu ̣ng dân sự là chủ thể đă ̣c biê ̣t quan tro ̣ng , nếu thiếu những chủ thể này thì không thể phát sinh những vu ̣ viê ̣c dân sự Việc quy định một cách cụ thể và chi tiết về đương sự trong tố tu ̣ng dân sự đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng góp phần vào quá trình giải quyết vụ viê ̣c dân sự
Với việc lần đầu tiên pháp điển hóa các quy định về thủ tục giải quyết
vụ việc dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã tạo ra một bước đột phá
về thủ tục tố tụng, góp phần giải quyết nhanh chóng những tranh chấp phát sinh trên các lĩnh vực do pháp luật tố tụng dân sự điều chỉnh
Kế thừa và chọn lọc các quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm
1994, Pháp lệnh giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996…thì Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã khắc phu ̣c đáng kể những ha ̣n chế , bất câ ̣p của các quy đi ̣nh về đương sự tro ng tố tu ̣ng dân sự ở các văn bản quy pha ̣m pháp luâ ̣t trước đó Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự năm 2004 là một bước đột phá trong tố tụng dân sự, phát huy tác dụng trong quá trình Tòa án giải quyết các vụ viê ̣c dân sự, bảo vệ nhanh chóng, kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân , tổ chức, lợi ích của Nhà nước, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, bên cạnh những hiệu quả đạt được của Bộ luật tố tụng dân sự , một số quy định của Bộ luật này đã bộc lộ những điểm chưa hợp lý, trong đó có những điểm hạn chế về vấn đề đương sự Các quy định của pháp luật về đương sự trong
Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự năm 2004 còn mang tính khái quát , chưa cu ̣ thể và chưa đầy đủ, thống nhất chẳng ha ̣n như chưa đưa ra được khái niê ̣m đương sự trong viê ̣c dân sự , chưa có quy đi ̣nh các quyền và nghĩa vu ̣ của đương sự trong viê ̣c dân sự, cũng như các quy định nhằm bảo đảm thực hiện các quyền ,
Trang 6nghĩa vụ đó Điều đó dẫn đến công tác áp dụng pháp luật xác định tư cách đương sự trong các vụ án dân sự đã gặp một số khó khăn , vướng mắc do nhiều nguyên nhân khác nhau, một số vấn đề nảy sinh trong thực tiễn lại chưa được pháp luật tố tụng dân sự điều chỉnh , nô ̣i dung đương sự trong viê ̣c dân sự vẫn chưa đượ c pháp luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự quy đi ̣nh cu ̣ thể… Những khó khăn, vướng mắc đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khi tham gia tố tu ̣ng ; gây khó khăn, lúng túng cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong viê ̣c áp du ̣ng pháp luâ ̣t; làm ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết vu ̣ viê ̣c dân sự của Toà án Bên ca ̣nh đó còn dẫn đến viê ̣c có những bản
án, quyết định của Tòa án bị tuyên hủy bởi các quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm với lý do xác định không đúng tư cách đương sự vẫn xảy ra Bản án, quyết định của Tòa án chỉ có giá trị đích thực khi đương sự phát huy được vai trò của mình, nhất là trong điều kiện cải cách tư pháp hiện nay
Xuất phát từ những lý do trên, đòi hỏi cần thiết nghiên cứu để hoàn thiện hơn nữa những quy định của pháp luật về đương sự , góp phần vào quá trình giải quyết các vụ viê ̣c dân sự của Tòa án được kịp thời , đúng đắn và
khách quan Vì thế, tác giả xin lựa chọn đề tài “Đương sự theo quy đi ̣nh của
Bộ luật tố tụng dân sự Viê ̣t Nam năm 2004”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ khi Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 có hiệu lực thi hành, đã có một
số công trình nghiên cứu khoa học, bài viết liên quan đến vấn đề đương sự và việc xác định tư cách của đương sự trong tố tụng dân sự Có thể kể đến như
sau: “Pha ́ p luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử” , công trình nghiên cứu của tác giả Tưởng Duy Lượng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội, 2009;
“Quyền khởi kiện và việc xác định tư cách tham gia tố tụng” của tác giả Trần
Anh Tuấn đăng trên Tạp chí tòa án nhân dân số 23 (tháng 12 năm 2008);
“Người tham gia tố tụng dân sự” của tác giả Nguyễn Việt Cường đăng trên
Trang 7Tạp chí tòa án nhân dân số 8 (tháng 4 năm 2005); “Người tham gia tố tụng dân sự” của tác giả Nguyễn Việt Cường đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân số
8 (tháng 4 năm 2005); “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong Bộ luật
tố tụng dân sự 2004” của tác giả Nguyễn Thái Phúc đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 10 năm 2005; “Người mù không có người đại diê ̣n có quyền khởi kiê ̣n dân sự ?” của tác giả Từ Văn Thiết đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân số 18 (tháng 9 năm 2006); “Những khó khăn và vướng mắc trong việc xác định người tham gia tố tụng dân sự và kiến nghị” của tác giả Tưởng Duy Lượng đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 13 (tháng 7 năm 2007); “Một số vấn đề về người đại diê ̣n theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự”
của tác giả Nguyễn Thị Hạnh đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân số 3 (tháng 2
năm 2011); “Thực tiễn áp dụng khoản 3 Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự trong giải quyết vụ án ly hôn” của tác giả Nguyễn Thị Hạnh đăng trên Tạp chí Toà
án nhân dân số 11 (tháng 6 năm 2012)
Tuy nhiên, mỗi công trình nghiên cứu, mỗi bài viết lại nhìn nhận ở một góc độ khác nhau , mang tính riêng lẻ trong vấn đề nghiên cứu về đương sự trong tố tu ̣ng dân sự Và để tập trung, tổng quát hơn vấn đề đương sự trong tố
tụng dân sự, tác giả đã lựa cho ̣n đề tài “Đương sự theo quy đi ̣nh của Bộ luật tố tụng dân sự Viê ̣t Nam năm 2004”
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
Đề tài làm rõ những vấn đề lý luận về đương sự đương sự; phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành trong phạm vi nội dung đề tài Qua đó , tìm hiểu thực trạng pháp luật , thực tiễn áp du ̣ng các quy đi ̣nh của pháp luật về vấn đề đương sự và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đề tài này
Trang 83.2 Mục tiêu cụ thể
- Đề tài nghiên cứu các khái niệm cơ bản như đương sự trong vụ án dân
sự, đương sự trong viê ̣c dân sự và đương sự trong tố tu ̣ng dân sự ; làm rõ địa
vị pháp lý của đương sự trong tố tụng dân sự , đưa ra một số vấn đề lý luận về việc xác định tư cách đương sự trong vụ án dân sự , đương sự trong viê ̣c dân sự, lịch sử phát triển các quy định về đương sự trong tố tu ̣ng dân sự
- Trên nền tảng lý luâ ̣n , đề tài phân tích các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về đương sự như năng lực chủ thể của đương sự trong tố tu ̣ng dân sự; vị trí tố tụng và quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự ; quy đi ̣nh liên quan đến viê ̣c xác đi ̣nh tư cách đương sự trong vu ̣ án dân sự Qua đó, đề tài chỉ ra những điểm còn hạn chế của pháp luật cũng như thực tiễn thực hiê ̣n các quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t về đương sự trong tố tu ̣ng dân sự để tìm hướng hoàn thiê ̣n đương sự trong Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự
4 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Qua việc nghiên cứu một cách tổng quát những nội dung về “Đương sự theo quy đi ̣nh của Bộ luật tố tụng dân sự Viê ̣t Nam năm 2004”, đề tài có
những điểm mới và đóng góp sau đây:
- Đề tài phân tích làm rõ một số vấn đề về mặt lý luận như xây dựng khái niệm đương sự trong vu ̣ án dân sự , đương sự trong viê ̣c dân sự ; làm rõ
đi ̣a vi ̣ pháp lý của đương sự trong vu ̣ án dân sự , cơ sở pháp lý của việc xác định tư cách đương sự trong vụ án dân sự;
- Đề tài phân tích , đánh giá những quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về đương sự như năng lực chủ thể của đương sự trong tố tu ̣ng dân sự, vị trí tố tụng và quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự , quy
đi ̣nh liên quan đến viê ̣c xác đi ̣nh tư cách đương sự trong tố tu ̣ng dân sự Qua đó, đề tài chỉ ra những điểm còn hạn chế, vướng mắc từ pháp luật và thực tiễn
áp dụng pháp luật về đương sự Những vướng mắc đó đã ảnh hưởng đến
Trang 9quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khi tham gia tố tu ̣ng ; gây khó khăn, lúng túng cho các cơ quan t iến hành tố tu ̣ng trong viê ̣c áp du ̣ng pháp luâ ̣t; làm ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết vụ việc dân sự của Toà án
- Đề tài đưa ra một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t về đương sự trong tố tu ̣ng dân sự, tháo gỡ những vướng mắc trong quy đi ̣nh của pháp luật tố tụng dân sự về đương sự cũng như những khó khăn trong quá
trình áp dụng pháp luật về đương sự trong tố tụng dân sự
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luâ ̣n chung về đương sự trong tố tu ̣ng dân sự , bao gồm đương sự trong vu ̣ án dân sự và đương sự trong viê ̣c dân sự ; những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm
2004 về đương sự; thực tiễn áp dụng pháp luật về đương sự
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được thể hiện trong khuôn khổ sau:
- Đề tài nghiên cứ u những vấn đề lý luâ ̣n về đương sự trong tố tu ̣ng dân sự
- Nghiên cứu những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 về đương sự
- Đề tài nghiên cứu m ột số hạn chế , vướng mắc trong quy đi ̣nh của pháp luật về đương sự trong tố tụng dân sự , những khó khăn từ thực tiễn áp dụng pháp luật về đương sự trong tố tụng dân sự , từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, cũng như nâng cao hơn nữa hiệu quả của thực tiễn áp du ̣ng pháp luật về đương sự trong tố tu ̣ng dân sự
6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu: Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp , xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Ngoài ra , tác giả còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học khác như : phương pháp nghiên cứu lịch sử , phương pháp phân tích , chứng minh , phương pháp
Trang 10so sánh pháp luâ ̣t hiê ̣n hành với những quy đi ̣nh của các văn bản pháp luâ ̣t trước đây về đương sự trong tố tu ̣ng dân sự để đưa ra những kết luâ ̣n về vấn đề cần nghiên cứu
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn có kết cấu nô ̣i dung gồm 3 chương:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về đương sự trong tố tu ̣ng dân sự Chương 2 Thực trạng pháp luật về đương sự trong tố tu ̣ng dân sự Chương 3 Thực tiễn áp du ̣ng pháp luật về đương sự trong tố tu ̣ng dân
sự và kiến nghị
Trang 11Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐƯƠNG SỰ
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1 Đương sư ̣ trong vu ̣ án dân sự
1.1.1 Khái niệm đương sự trong vụ án dân sự
Vụ án dân sự là vụ có tranh chấp về quyền lợi , nghĩa vụ giữa cá nhân , tổ chức với nhau [6, tr.161] Các tranh chấp gồm tranh chấp dân sự , tranh chấp hôn nhân và gia đình , tranh chấp kinh doanh và thương ma ̣i , tranh chấp lao đô ̣ng Khi mô ̣t tranh chấp dân sự thuô ̣c thẩm quyền giải quyết của Toà án , được đương sự yêu cầu Toà án giải quyết sẽ trở thành vu ̣ án dân sự
Có thể nói, đương sự là người mở đầu của vu ̣ án dân sự nên xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án dân sự, đương sự là chủ thể chính và quyết đi ̣nh đến sự phát sinh, tồn ta ̣i và kết thúc vu ̣ án dân sự Toà án giải quyế t vu ̣ án dân sự thực chất là giải quyết các quan hê ̣ pháp luâ ̣t nô ̣i dung giữa các đương sự , xác
đi ̣nh quyền và nghĩa vu ̣ của ho ̣ trên cơ sở bảo vê ̣ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự
Với tầm quan tro ̣ng đó , không phải đến pháp luật hiện hành mới có quy đi ̣nh về đương sự , mà trong các văn bản pháp luật trước đây , nô ̣i dung đương sự trong tố tu ̣ng dân sự cũng đã được đề câ ̣p đến Pháp luật tố tụng dân sự hình thành và phát triển ngay s au khi Nhà nước Viê ̣t Nam dân chủ
cô ̣ng hoà ra đời , các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về đương sự không ngừng được thay đổi và hoàn thiê ̣n Mặc dù các văn bản
pháp luật tố tụng trước năm 1989 chưa có quy đi ̣n h rõ về khái niê ̣m đương sự nhưng thuâ ̣t ngữ đương sự đã xuất hiê ̣n trong những văn bản pháp luâ ̣t
trước đây Tại Điều 12 Sắc lê ̣nh 85/SL ngày 22/05/1950 về cải cách bô ̣ máy
tư pháp và Luâ ̣t tố tu ̣ng đã đề câ ̣p đến đương sự : “Người nào khác với
Trang 12người đương sự , xét mình bị thiệt hại vì biên bản hoà giải thành , có quyền
đệ đơn xin yêu cầu toà án nhân dân huyện ra mệnh lệnh hoãn việc chấp
hành biên bản này” Sau này, các Pháp lệnh tố tụng cũng s ử dụng thuật ngữ đương sự, theo Điều 19 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì
“Các đương sự là công dân , pháp nhân tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn , bị đơn hoặc là người có quyền lợi , nghĩa vụ liên q uan”, Điều
20 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế quy định “Đương sư ̣ là cá nhân thì tự mình hoặc có thể uỷ quyền cho người khác thực hiê ̣n các quyền , nghĩa vụ của mình trong quá trình giải quyết vụ án ”
Theo Từ điển tiếng Viê ̣t thì : “Đương sự là người , là đối tượng trong một vụ viê ̣c nào đó được đưa ra giải quyết ” [28] Như vâ ̣y, theo nghĩa này
đương sự là con người cu ̣ thể , là đối tượng của bất kỳ một vụ việc nào đó được cơ quan có thẩm quyền đưa ra giải quyết căn cứ vào Hiến pháp và pháp luâ ̣t Và có thể thấy chủ thể là cá nhân , là con người cụ thể đóng vai trò quan trọng để hình thành khái niệm đương sự Tuy nhiên, đi ̣nh nghĩa trên chưa thể hiê ̣n rõ nhóm chủ thể trong thực tế có thể được công nhâ ̣n có tư cách đương sự, đó là pháp nhân, cơ quan, tổ chức và các chủ thể khác
Cũng tương tự như Từ điển tiếng Việt , Từ điển Luâ ̣t ho ̣c đã đưa ra khái
niê ̣m về đương sự như sau: “Đương sự là người có quyền, nghĩa vụ được giải quyết trong một viê ̣c khiếu nại, hoặc một vụ án Trong các vụ án dân sự, kinh tế, lao động thì đương sự bao gồm : nguyên đơn, bị đơn và người có quyền , nghĩa vụ có liên quan” [20] Khái niệm này một lần nữa cho rằng đương sự là
con người cu ̣ thể, là cá nhân mà không có chủ thể là pháp nhân, tổ chức
Mô ̣t quan điểm khác cho rằng : “Đương sự trong vụ viê ̣c dân sự là người tham gia tố tụng để bảo vê ̣ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo
vê ̣ lợi ích công cộng , lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do
có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sự” [1, tr.106]
Trang 13Và khoản 1 Điều 56 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự quy đi ̣nh : “Đương sự trong
vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”
So với các Pháp lê ̣nh tố tu ̣ng trước đây thì khái niê ̣m “đương sự trong
vụ án dân sự” trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã bao quát được tất cả các chủ thể tham gia quan hệ dân sự đã được quy định trong Bộ luật dân sự Điều 19 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 quy định: Các đương sự là công dân , pháp nhân tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn, bị đơn hoặc là người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 cũng quy định đương sự là cá nhân, pháp nhân Cụ thể là “Cá nhân , pháp nhân tham gia tố tụng là nguyên đơn , bị đơn hoă ̣c người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” (khoản 1 Điều 20 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế) Với những quy đi ̣nh trên trong Pháp lê ̣nh thì các tổ chức không có tư cách pháp nhân không được coi là đương sự Như
vâ ̣y, quy đi ̣nh ta ̣i Điều 56 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự đã quy đi ̣nh đầy đủ, bao quát các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự , khắc ph ục được những hạn chế, thiếu sót trong các Pháp lê ̣nh tố tu ̣ng trước đây
Đương sự trong vu ̣ án dân sự có thể là cá nhân , cơ quan hoă ̣c tổ chức tham gia tố tu ̣ng với tư cách nguyên đơn , bị đơn và người có quyền lợi , nghĩa
vụ liên quan trong vu ̣ án dân sự Viê ̣c giải quyết vu ̣ án dân sự ta ̣i Toà án là do nhu cầu giải quyết các quan hê ̣ pháp luâ ̣t nô ̣i dung giữa các đương sự để ổn
đi ̣nh xã hô ̣i, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể , vì thế không có đương sự thì cũng không thể có vu ̣ án dân sự ta ̣i Toà án Mă ̣t khác, đương sự cũng chính là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung được Toà án giải quyết trong vu ̣ án dân sự
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niê ̣m đương sự trong vu ̣ án
dân sự như sau : Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân , cơ quan, tổ chức
Trang 14tham gia tố tụng để bảo vê ̣ quyền , lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vê ̣ lợi ích công cộng , lợi ích của Nhà nướ c thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án dân sự Đương sự trong vụ án dân sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ
án dân sự
1.1.2 Đi ̣a vi ̣ pháp lý của đương sự trong vụ án dân sự
Đương sự trong vu ̣ án dân sự bao gồm nguyên đơn , bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Thứ nhất, đối với nguyên đơn
Khoản 2 Điều 56 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự năm 2004 quy đi ̣nh “Nguyên đơn trong vu ̣ án dân sự là người khởi kiê ̣n , người được cá nhân , cơ quan, tổ chức khác do Bô ̣ luâ ̣t này quy đi ̣nh khởi kiê ̣n để yêu cầu Toà án giải quyết vu ̣
án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm
Cơ quan, tổ chức do Bô ̣ luâ ̣t này quy đi ̣nh khởi kiê ̣n vu ̣ án dân sự để yêu cầu Toà án bảo vê ̣ lợi ích công cô ̣ng , lợi ích của Nhà nước thuô ̣c lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn”
Như vâ ̣y, nguyên đơn là người cho rằ ng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm và thể hiện ý chí muốn đưa sự việc ra cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền xem xét , giải quyết bằng việc chủ thể đó gửi đơn khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vê ̣ quyền và lợi íc h hợp pháp của mình, lợi ích công cô ̣ng hoă ̣c lợi ích của Nhà nước thuô ̣c lĩnh vực mình phu ̣ trách hoă ̣c được người khác khởi kiện vụ án dân sự yêu cầu Toà án bảo vệ quyền , lợi ích hợp pháp của họ Trong viê ̣c tham gia tố tụng, có thể thấy được nguyên đơn mang tính chủ động hơn so với các đương sự khác trong vụ án dân sự Nguyên đơn là người có quyền, lợi ích liên quan đến vu ̣ án nhưng đồng thời cũng là người đã khởi kiê ̣n hoă ̣c được người khác khởi kiện để bảo vệ quyền , lợi ích hợp pháp của họ Trong tố tu ̣ng dân sự , hoạt động tố tụng của nguyên đơn có thể dẫn đến việc làm phát sinh, thay đổi hay đình chỉ tố tu ̣ng
Trang 15Trong trường hợp cả hai bên chủ thể của mô ̣t quan hê ̣ pháp luâ ̣t nô ̣i dung trong tranh chấp mà cũng khởi kiê ̣n để yêu cầu Toà án giải quyết quan
hê ̣ nô ̣i dung tranh chấp đó thì Toà án thu ̣ lí đơn khởi kiê ̣n của bên nào trước thì bên đó được xác định là nguyên đơn
Ngoài nguyên đơn là người có đơn khởi kiện , yêu cầu Toà án bảo vê ̣ quyền lợi của cá nhân, lợi ích công cô ̣ng, lợi ích của Nhà nước thuô ̣c lĩnh vực mình phụ trách hoặc được người khác khởi kiện vụ án dân sự yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ho ̣ thì bi ̣ đơn và người có quyền lợi , nghĩa
vụ liên quan cũng trở thành nguyên đơn trong trường hợp : Nguyên đơn rú t toàn bộ yêu cầu khởi kiện , nhưng bi ̣ đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình thì bị đơn trở thành nguyên đơn hay trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện và nếu bị đơn có yêu cầu phản tố cũng rút yêu cầu phản tố nhưng người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lâ ̣p sẽ trở thành nguyên đơn
Thứ hai, đối với bi ̣ đơn
Nếu nguyên đơn là mô ̣t trong những đương sự đóng vai trò quan tro ̣ng trong vu ̣ án dân sự , tạo điều kiện tiên quyết để vụ án dân sự phát sinh thì bị đơn đóng vai trò không th ể thiếu trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Bị đơn luôn đi kèm với nguyên đơn , tư cách bi ̣ đơn được xác đi ̣nh cùng với tư cách nguyên đơn
Khoản 3 Điều 56 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự quy đi ̣nh : “Bi ̣ đơn trong vu ̣
án dân sự là ng ười bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân , cơ quan , tổ chức khác do Bô ̣ luâ ̣t này quy đi ̣nh khởi kiê ̣n để yêu cầu Toà án giải quyết
vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị
người đó xâm pha ̣m”
Để trở thành bi ̣ đơn , cá nhân, cơ quan, tổ chức đó phải đáp ứng được những điều kiê ̣n đó là:
Trang 16Thứ nhất , là người bị nguyên đơn hoặc cá nhân , cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t khởi kiê ̣n Bị đơn tham gia vào vụ án dân sự mang tính bi ̣ đô ̣ng , điều này trái ngược với tính chủ đô ̣ng của nguyên đơn gửi đơn tới Toà án khi nhâ ̣n thấy quyền lợi bi ̣ xâm ha ̣i Cùng lúc với nguyên đơn khởi kiê ̣n vu ̣ án dân sự ta ̣i Toà án và được Toà á n thu ̣ lí vu ̣ án thì
tư cách bi ̣ đơn cũng được xác lâ ̣p , đó là người mà nguyên đơn cho rằng đã xâm pha ̣m đến quyền lợi của mình và khi xét xử thì bi ̣ đơn được triê ̣u tâ ̣p nhằm giải quyết quyền lợi của nguyên đơn Bị đơn phải tham gia tố tu ̣ng để trả lời về việc kiện của nguyên đơn
Thứ hai , bị đơn là người được giả thiết là có tranh chấp hay vi phạm đến quyền lợi của nguyên đơn Viê ̣c xác đi ̣nh quyền lợi của bi ̣ đơn có xâm phạm đến quyền lợi củ a nguyên đơn hay không phải dựa vào quyết đi ̣nh của Toà án
Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vu ̣ án dân sự , nguyên đơn trở thành bị đơn trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện , nhưng bi ̣ đơn vẫn giữ yêu cầu phản tố – phản đối yêu cầu của nguyên đơn, lúc này bị đơn tham gia tố tụng với tư cách là chủ thể sử dụng quyền khởi kiện
Thứ ba, đối với có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Viê ̣c giải quyết tranh chấp trong vu ̣ án dân sự giữa nguyên đơn và
bị đơn , thì có thể ảnh hưởng đến quyền , lợi ích của người thứ ba Tương tự như bi ̣ đơn , tư cách của người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan cũng phụ thuộc vào việc khởi kiện của nguyên đơn Điều kiện để họ trở thành đương sự trong vu ̣ án dân sự đó là ho ̣ có quyền lợi và nghĩa vu ̣ cần giải
quyết trong vu ̣ án dân sự đó
Theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 4 Điều 56 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự : “Người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan trong v ụ án dân sự là người tuy không khởi kiê ̣n, không bi ̣ kiê ̣n nhưng viê ̣c giải quyết vu ̣ án dân sự có liên quan đến
Trang 17quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Toà án chấp nh ận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người tham gia tố tu ̣ng vào vu ̣ án dân sự đã phát sinh giữa nguyên đơn và bi ̣ đơn để bảo vê ̣ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Viê ̣c tham gia tố tụng của người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự có thể do
họ chủ động, theo đề nghi ̣ của đương sự khác hoă ̣c theo yêu cầu của Toà án
Họ cũng có quyề n đưa ra các yêu cầu bảo vê ̣ và phản đối yêu cầu của các đương sự khác
Người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan bao gồm hai loại , đó là người
có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng không độc lập (đứng về phía nguyên đơn hoă ̣c bi ̣ đơn)
Người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập là người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập v ới nguyên đơn và bi ̣ đơn Nghĩa là khi tham gia vào vụ án dân sự, lợi ích pháp lý của chủ thể này luôn đô ̣c lâ ̣p với lợi ích pháp lý của nguyên đơn , bị đơn, yêu cầu của
họ có thể đối lập với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng không độc lập
là người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng phụ thuộc vào nguyên đơn hoă ̣c bi ̣ đơn Khi tham gia tố tu ̣ng, chủ thể này luôn đứng về phía
mô ̣t bên đương sự nhất đi ̣nh mà người đó có quan hê ̣ pháp luâ ̣t nô ̣i dung để cùng với bên đương sự đó chống lại yêu cầu của bên đương sự kia Như vâ ̣y, lợi ích pháp lý của người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng không độc lâ ̣p có lợi ích pháp lý gắn liền với lợi ích pháp lý của nguyên đơn hoă ̣c bi ̣ đơn
Trang 181.1.3 Cơ sơ ̉ khoa học của viê ̣c xác đi ̣nh tư cách đương sự trong vụ
đă ̣t ra là phải có sự phân loa ̣i để giả i quyết thuâ ̣n lợi hơn những vu ̣ viê ̣c dân sự Từ đó , dẫn đến viê ̣c phân biê ̣t cơ chế giải quyết các yêu cầu dân sự có tranh chấp (vụ án dân sự ) và việc giải quyết những yêu cầu không có tranh chấp (viê ̣c dân sự ) Đối với các chủ thể có yêu cầu bảo vệ quyền , lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp vu ̣ viê ̣c có tranh chấp thì quyền yêu cầu này go ̣i là quyền khởi kiê ̣n
Điều 161 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự quy đi ̣nh : “Cá nhân, cơ quan, tổ chức
có quyền tự mình hoă ̣c thông qua người đa ̣i diê ̣n hợp pháp khởi kiê ̣n vu ̣ án (sau đây gọi chung là người khởi kiê ̣n ) tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”
Quyền khởi kiê ̣n được nhà nư ớc trao cho các cá nhân , cơ quan, tổ chức
để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền , lợi ích hợp pháp của mình và trao cho các chủ thể khác như cơ quan dân số , gia đình và trẻ em , hô ̣i liên hiê ̣p phu ̣ nữ , công đoàn trong viê ̣c khởi kiê ̣ n yêu cầu Toà án bảo vê ̣ quyền , lợi ích hợp pháp của người khác
Quyền khởi kiê ̣n theo nghĩa rô ̣ng đó là quyền năng của chủ thể cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bi ̣ xâm pha ̣m , quyền phản bác la ̣i yêu cầu trên của chủ thể bị kiện và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và
Trang 19nghĩa vụ liên quan đến vụ án dân sự đó Hiểu theo nghĩa này thì quyền khởi kiê ̣n không chỉ của chủ thể cho rằng quyền và nghĩa vu ̣ của mình bi ̣ xâm phạm mà còn bao gồm cả quyền khởi kiện của người bị kiện phản đối yêu cầu của người khởi kiện và quyền yêu cầu giải quyết quyền lợi của chủ thể có quyền lợi và nghĩa vu ̣ liên quan trong vu ̣ án đó
Hiểu theo nghĩa he ̣p thì q uyền khởi kiê ̣n chỉ đă ̣t ra đối với chủ thể của pháp luật nội dung có quyền lợi hợp pháp bị xâm hại , chính là chủ thể đầu tiên đáp ứng đủ điều kiê ̣n khởi kiê ̣n
1.2 Đương sư ̣ trong viê ̣c dân sự
1.2.1 Khái niệm đương sự trong viê ̣c dân sự
Trước khi Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự năm 2004 ra đời, thì chưa có sự phân biê ̣t giữa yêu cầu bảo vê ̣ quyền lợi hợp pháp trong trường hợp có tranh chấp
và không có tranh chấp Trình tự, thủ tục giải quyết hai yêu c ầu này là giống nhau và do Toà án thực hiê ̣n Tuy nhiên, với sự phát triển đa da ̣ng , phức ta ̣p của phương thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể đã dẫn đến viê ̣c phân biê ̣t cơ chế giải quyết các yêu cầu dân sự có tranh chấp và viê ̣c giải quyết những yêu cầu dân sự không có tranh chấp , từ đó đã dẫn đến sự tách bạch giữa vụ án dân sự và việc dân sự
Viê ̣c dân sự là viê ̣c không có tranh chấp về quyền và lợi ích nhưng có yêu cầu của cá nhân , tổ chức đề nghi ̣ Toà án công nhâ ̣n mô ̣t sự kiê ̣n pháp lý
mà phát sinh quyền và nghĩa vụ của các cá nhân , tổ chức này [6, tr.162] Có các việc yêu cầu về dân sự, các việc yêu cầu về hôn nhân và gia đình, các viê ̣c yêu cầu về kinh doanh và thương ma ̣i , các việc yêu cầu về lao động Tất cả các việc yêu cầu này được gọi chung là việc dân sự
Các văn bản pháp luật tố tụng trước đây cũng như pháp luật tố tụng dân sự Viê ̣t Nam hiê ̣n hành không có quy đi ̣nh về khái niê ̣m đương sự trong viê ̣c dân sự Mă ̣c dù ta ̣i Điều 311 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự quy đi ̣nh: “Toà án áp du ̣ng
Trang 20những quy đi ̣nh của Chương này, đồng thời áp du ̣ng những quy đi ̣nh khác của
Bô ̣ luâ ̣t nà y không trái với những quy đi ̣nh của Chương này để giải quyết những viê ̣c dân sự quy đi ̣nh ta ̣i các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7 và 8 Điều 26, các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 7 Điều 28, khoản 1 và 4 Điều 30, khoản 3 Điều 32 của
Bô ̣ luâ ̣t này” Tuy nhiên, mô ̣t vấn đề đă ̣t ra cần xem xét là khái niê ̣m đương sự trong viê ̣c dân sự chưa được luâ ̣t hoá Vì vậy, từ thực tiễn xét xử còn tồn ta ̣i những quan điểm khác nhau về đương sự trong viê ̣c dân sự
* Quan điểm thư ́ nhất
Quan điểm này cho rằng đương sự trong viê ̣c dân sự bao gồm người yêu cầu, người bi ̣ yêu cầu, người có liên quan trong viê ̣c dân sự
Chẳng ha ̣n như yêu cầu huỷ viê ̣c kết hôn trái pháp luâ ̣t; yêu cầu ha ̣n chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoă ̣c quyền thăm nom con sau khi ly hôn thì vẫn có chủ thể bị yêu cầu Chủ thể bị yêu cầu tham gia tố tụng với tính chất bi ̣ đô ̣ng , yêu cầu của người có quyền yêu cầu ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của họ và họ phải tham gia tố tụng để trả lời về yêu cầu của viê ̣c dân sự Trong trường hợp này , không thể go ̣i ho ̣ là người có liên quan trong viê ̣c dân sự bởi yêu cầu trực tiếp hướng đến ho ̣
* Quan điểm thư ́ hai
Quan điểm này cho rằng đương sự chỉ gồm người yêu cầu và người
có liên quan trong việc dân sự Bởi bản chất của việc dân sự là việc Tòa án xác định một sự kiện pháp lý hoặc công nhận hoặc không công nhận quyền
và nghĩa vụ dân sự chứ không phải là việc giải quyết các tranh chấp giữa các bên đương sự Bên ca ̣nh đó , quan điểm này viê ̣n dẫn Điều 313 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự quy đi ̣nh về những người tham gia phiên ho ̣p giải quyết viê ̣c dân sự thì chỉ có hai chủ thể là người yêu cầu và n gười có liên quan trong viê ̣c dân sự Ở khoản 3 Điều 313 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự quy đi ̣nh : “Người
có đơn yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp của họ phải tham gia phiên
Trang 21họp theo giấy triệu tập của Toà án” Khoản 4 Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự quy đi ̣nh : “Người có liên quan hoă ̣c người đa ̣i diê ̣n hợp pháp của ho ̣ được Toà án triê ̣u tâ ̣p tham gia phiên ho ̣p” Như vâ ̣y, Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự không có quy đi ̣nh về người bi ̣ yêu cầu
Từ những phân tíc h trên , có thể đưa ra khái niệm về đương sự trong
viê ̣c dân sự như sau : Đương sự trong việc dân sự là cá nhân , cơ quan, tổ chức tham gia tố tụng đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bảo
vệ lợi ích chung của xã hội hay quyền, lợi ích hợp pháp của người khác Đương sự trong việc dân sự bao gồm người yêu cầu và người có liên quan trong viê ̣c dân sự
Từ những phân tích về khái niê ̣m đương sự trong vu ̣ án dân sự và
đương sự trong viê ̣c dân sự , có thể đưa ra khái niệm đương sự tr ong tố tu ̣ng
dân sự như sau : Đương sự trong tố tụng dân sự là cá nhân , cơ quan, tổ chức tham gia tố tụng để bảo vê ̣ quyền , lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vê ̣ lợi ích công cộng , lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án dân sự
1.2.2 Đi ̣a vi ̣ pháp lý của đương sự trong viê ̣c dân sự
Các khái niệm về đương sự trong vụ án dân sự được quy định tại
Điều 56 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự Nhưng đối v ới khái niệm người yêu cầu , người có liên quan trong viê ̣c dân sự thì chưa được pháp luâ ̣t quy đi ̣nh cu ̣ thể Trong khi đó , có thể thấy rằng việc dân sự phát sinh do các cá nhân , cơ quan, tổ chứ c thực hiê ̣n quyền yêu cầu của mì nh đến Toà án và khi được Toà án thụ lí đơn yêu cầu thì tư cách của những chủ thể trong việc dân sự được xác đi ̣nh Căn cứ vào Điều 313 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự quy đi ̣nh về những người tham gia phiên ho ̣p giải quyết viê ̣c dâ n sự thì chỉ có hai chủ thể là người yêu cầu và người có liên quan trong viê ̣c dân sự Điều 313 không đề câ ̣p đến người bi ̣ yêu cầu , người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan
Trang 22trong viê ̣c dân sự , nhưng có đề câ ̣p đến “người có liê n quan” Vâ ̣y, mô ̣t câu hỏi đặt ra là người có liên quan có bao gồm người bị yêu cầu và người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan hay không ? Hay “người có liên quan” là để chỉ người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan , còn việc dân sự không có người
bị yêu cầu ? Danh phâ ̣n tố tu ̣ng của chủ thể này vẫn chưa được rõ ràng Trong khi ta ̣i phần quy đi ̣nh về thẩm quyền của Toà án , cụ thể ở điểm a , b khoản 2 Điều 35 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự có nhắc đến thuâ ̣t ngữ “người bi ̣ yêu cầu” Quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự đã ta ̣o sự không thống nhất đối với quy đi ̣nh về đương sự trong viê ̣c dân sự
Thứ nhất, đối với người yêu cầu trong viê ̣c dân sự
Do viê ̣c dân sự có đă ̣c tính là cá c bên không có tranh chấp về quyền , nghĩa vụ nên các chủ thể khi tham gia vào việc dân sự chỉ yêu cầu Toà án công nhâ ̣n hoă ̣c không công nhâ ̣n các quyền về dân sự , hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao đô ̣ng ; công nhâ ̣n hoă ̣c không công nhâ ̣n mô ̣t sự kiê ̣n pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vu ̣ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương ma ̣i và lao đô ̣ng
Như vâ ̣y , người yêu cầu trong viê ̣c dân sự là người tham gia tố tu ̣ng đưa ra yêu cầu về giải quyết việc dân sự Bởi xuất phát từ ý chí chủ quan của người yêu cầu nên ho ̣ sẽ chủ đô ̣ng đưa ra yêu cầu của mình để Toà án giải quyết cũng như nguyên đơn chủ đô ̣ng khởi kiê ̣n đến Toà án nhằm bảo vê ̣ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Viê ̣c yêu cầu của chủ thể này chỉ giới ha ̣n trong pha ̣m vi yêu cầu Toà án công nhâ ̣n quyền và nghĩa vu ̣ của ho ̣ hoă ̣c yêu cầu Toà án công nhâ ̣n hay không công nhâ ̣n mô ̣t sự kiê ̣n pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứ t các quyền và nghĩa vu ̣ của ho ̣
Thứ hai, người có liên quan trong viê ̣c dân sự
Có thể hiểu người có liên quan trong việc dân sự là người tham gia tố tụng trong việc dân sự để bảo vệ quyền , lợi ích hợp pháp của mình hoặc trả
Trang 23lời về những vấn đề liên quan đến quyền lợi , nghĩa vụ của họ Viê ̣c tham gia tố tu ̣ng của người có liên quan trong viê ̣c dân sự có thể do ho ̣ chủ đô ̣ng hoă ̣c theo yêu cầu của đương sự khác hoă ̣c theo yêu cầu của Toà án
1.2.3 Cơ sở khoa học của việc xác định tư cách đương sự trong viê ̣c dân sự
Quyền yêu cầu Toà án bảo vê ̣ quyền, lợi ích hợp pháp được đă ̣t ra nhằm bảo vệ, khôi phu ̣c những quyền lợi hợp pháp của các cá nhân , tổ chức, chống lại những hành vi xâm phạm của các cá nhân , tổ chức khác khi chủ thể mang quyền cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bi ̣ xâm pha ̣m
Trước đây , pháp luật chưa có sự phân biệt giữa việc yêu cầu bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong trường hợp có tranh chấp và không có tranh chấp Nhưng với sự phát triển đa dạng và phức ta ̣p các quan hê ̣ xã hô ̣i thì phương thức nhằm thực hiê ̣n quyền yêu cầu bảo vê ̣ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể cũng đa dạng, phức ta ̣p Điều đó dẫn đến viê ̣c Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự năm 2004 đã có quy đi ̣nh phân biê ̣t cơ chế giải quyết các yêu cầu dân sự có tranh chấp và viê ̣c giải quyết các yêu cầu dân sự không có tranh chấp
Như vâ ̣y , theo pháp luâ ̣t hiê ̣n hành , đối vớ i các yêu cầu bảo vê ̣ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp vu ̣ viê ̣c không có tranh chấp thì go ̣i là quyền yêu cầu mà không go ̣i là quyền khởi kiê ̣n Những yêu cầu dân sự không c ó tranh chấp được giải quyết theo trình tự , thủ tục giải quyết viê ̣c dân sự
Quyền yêu cầu chính là cơ sở của viê ̣c xác đi ̣nh tư cách đương sự trong viê ̣c dân sự, chủ thể thực hiện quyền yêu cầu nhằm mục đích bảo vệ quyền , lợi ích hợp pháp của mình hoă ̣c của người khác
1.3 Lươ ̣c sử quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự Viê ̣t Nam về đương sự
Pháp luật là công cụ sắc bén để giai cấp thống trị thực hiện sự thống trị,
Trang 24bảo vệ lợi ích của giai cấp mình đồng thời bảo đảm , duy trì trâ ̣t tự xã hô ̣i Vì thế, trong từng giai đoa ̣n li ̣ch sử khác nhau , chế đô ̣ chính tri ̣, kinh tế, văn hoá
xã hội khác nhau , những quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t cũng có những nét khác nhau, bở i pháp luâ ̣t phải đáp ứng được sự phù hợp với thực tiễn xã hô ̣i Và có thể thấy rằng , những quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t liên quan đến đương sự trong tố tụng dân sự trong từng thời kỳ lịch sử cũng không giống nhau
1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989
Cách mạng thánh 8 năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ
cô ̣ng hoà ra đời, đánh dấu sự thay đổi toàn diê ̣n về mo ̣i mă ̣t
Vì chưa có thời gian để xây dựng các luật , ngày 10/10/1945 Nhà nước
ta đã ban hành sắc lê ̣nh số 47/SL cho giữ ta ̣m thời những luâ ̣t lê ̣ cũ thi hành ở Bắc, Trung, Nam Kỳ thời thuô ̣c Pháp mà không trái với bản chất của nhà nước mới Sắc lê ̣nh này cho phép viê ̣c áp du ̣ng các quy pha ̣m pháp luâ ̣t nô ̣ i dung của chế đô ̣ cũ nhưng la ̣i không đề câ ̣p đến viê ̣c có cho phép tiếp tu ̣c áp dụng pháp luật tố tụng hay không Sau đó, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật khác nhau quy định liên quan đến hoạt động tố tụng dân sự Tuy nhiên, văn bản liên quan đến đương sự trong tố tu ̣ng dân sự thì chưa nhiều và nằm rãi rác trong mô ̣t số văn bản pháp luâ ̣t , có thể kể đến như Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/05/1950 về cải cách bô ̣ máy tư pháp và Luâ ̣t tố tụng đã đề cập đến đương sự
Trong thời kỳ này , Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Điều 3 Luâ ̣t tổ chức Toà án nhân dân năm 1960 và Điều 5 Luâ ̣t tổ chức Viê ̣n kiểm sát nhân dân năm 1960 đã ghi nhâ ̣n nguyên tắc “mo ̣i công dân đều bình đẳng trước pháp luâ ̣t”, tạo điều kiện cho các đương sự tham gia tố tụng dân sự , bảo
vê ̣ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
1.3.2 Giai đoa ̣n từ năm 1990 đến năm 2004
Giai đoa ̣n này đã có những bước phát triển về ph áp luật tố tụng dân sự
Trang 25Năm 1989 được đánh dấu bởi sự ra đời của Pháp lê ̣nh thủ tu ̣c giải quyết các
vụ án dân sự Sau đó, có các Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 Những văn bản này đã kế thừa và phát triển so với các văn bản trước đây , đồng thời khắc phu ̣c được tính tản ma ̣n của các quy pha ̣m pháp luâ ̣t Đây là những văn bản pháp luâ ̣t quan tro ̣ng quy đ ịnh về lĩnh vực tố tụng dân sự , trong đó có những quy đi ̣nh về đương sự
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 đã bước đầu quy đi ̣nh mô ̣t cách thống nhất nô ̣i dung về đương sự trong các vu ̣ án dân sự Điều 19 quy đi ̣nh về đương sự nói chung Điều 20 quy đi ̣nh về quyền và nghĩa vụ tố tụng của các đương sự , những quyền cũng như nghĩa vu ̣ này đã tạo điều kiện thuận lợi cho các đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, với những quyền như : quyền bình đẳng trong việc cung cấp chứng
cứ để bảo vệ quyền lợi của mình ; được biết chứng cứ do bên kia cung cấp ; yêu cầu Toà án tiến hành biện pháp điều tra cần thiết , quyết định biện pháp khẩn cấp tạm thời Điều 21 quy đi ̣nh về năng lực hành vi tố tu ̣ng của các đương sự Tuy nhiên, Pháp lệnh này vẫn chưa quy định cụ thể và vẫn còn thiếu sót mô ̣t số quyền của đương sự khi tham gia tố tu ̣ng , vì vậy vẫn gây khó khăn cho đương sự bảo vê ̣ quyền và lợi ích hợp pháp của ho ̣
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 đã quy đi ̣nh riêng về trình tự thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và các tranh chấp lao động , như
vâ ̣y hai mảng này tách với nô ̣i dung các vu ̣ án dân sự Theo đó, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế có các điều quy định về đương sự , đó là Điều
20 quy định về các đương sự nói chung, Điều 21 quy đi ̣nh về quyền, nghĩa vụ tố tu ̣ng của các đương sự , Điều 22 về người đa ̣i diê ̣n do đương sự uỷ quyền ,
Trang 26Điều 23 người bảo vê ̣ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh ch ấp lao động có Điều 19 quy đi ̣nh về đương sự nói chung, Điều 20 quy định về quyền , nghĩa vụ tố tụng của các đương sự , Điều
21 quy đi ̣nh về năng lực hành vi về tố tu ̣ng của các đương sự
1.3.3 Giai đoa ̣n từ năm 2004 đến nay
Bộ luật tố tụng dân sự được thông qua ngày 15/6/2004, trong đó quy
đi ̣nh về đương sự có 7 điều, từ Điều 56 đến Điều 62
Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự năm 2004 ra đời thay thế ba Pháp lê ̣nh trên đã quy đi ̣nh thống nhất về nô ̣i dung đươn g sự trên các lĩnh vực dân sự, hôn nhân gia đình, thương ma ̣i và lao đô ̣ng Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự năm 2004 đã quy
đi ̣nh cu ̣ thể hơn trình tự thủ tu ̣c giải quyết các vu ̣ viê ̣c dân sự , đã tách riêng trình tự thủ tục giải quyết c ác vụ án dân sự có tranh chấp và trình tự thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự không có tranh chấp Những quy đi ̣nh trong Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự năm 2004 thể hiê ̣n sự thống nhất , hoàn chỉnh và cụ thể những nô ̣i dung về đương sự, đáp ứng được yêu cầu của đương sự trong viê ̣c bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình , đồng thời cũng làm cho cơ quan tố tu ̣ng thuâ ̣n lợi hơn trong viê ̣c thực thi nhiê ̣m vu ̣ , quyền ha ̣n và giải quyết những vu ̣ viê ̣c dân sự
Luâ ̣t sửa đổi , bổ sung mô ̣t số điều của Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự có hiê ̣u lực vào ngày 01/01/2012, theo đó đã bổ sung , sửa đổi mô ̣t số quyền và nghĩa vụ của các đương sự Viê ̣c sửa đổi này đã thể hiê ̣n được tính b ảo đảm hơn nữa quyền tranh luâ ̣n của các đương sự nói riêng và quyền , lợi ích của đương sự nói chung , bên ca ̣nh đó viê ̣c sửa đổi , bổ sung này đã thể hiê ̣n được tính khoa ho ̣c cao , cụ thể hơn trong các quy định Đây cũng là cơ sở pháp lý quan trọng để nghiên cứu các quy định về đương sự trong tố tụng dân sự Viê ̣t Nam hiê ̣n hành
Trang 27Tóm tắt Chương 1
Trên đây là mô ̣t số vấn đề lý luâ ̣n về đương sự trong tố tu ̣ng dân sự
Mă ̣c dù chưa được pháp luâ ̣t tố t ụng dân sự quy định nhưng việc nghiên cứu khái niệm đương sự trong vụ án dân sự, đương sự trong viê ̣c dân sự, đương sự trong tố tu ̣ng dân sự là rất quan tro ̣ng , góp phần vào việc nghiên cứu những quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng d ân sự về đương sự Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự mới chỉ quy định cụ thể về đương sự trong vụ án dân sự chứ chưa có những quy
đi ̣nh cu ̣ thể về đương sự trong viê ̣c dân sự Điều này dẫn đến những quan điểm khác nhau đối với vấn đ ề đương sự trong việc dân sự , mà đặc biệt là những quan điểm khác nhau về khái niê ̣m đương sự trong viê ̣c dân sự Căn cứ vào Điều 313 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự thì cho thấy đương sự trong viê ̣c dân sự chỉ có hai chủ thể là ngườ i có yêu cầu và người có liên quan trong viê ̣c dân sự Nhưng xét cho cùng thì đương sự trong viê ̣c dân sự vẫn chưa được quy
đi ̣nh rõ ràng, cụ thể Bên ca ̣nh viê ̣c nghiên cứu khái niê ̣m đương sự trong tố tụng dân sự, thì địa vị pháp lý của đương sự trong tố tụng dân sự cũng là nội dung cần được làm rõ Qua đó, có thể đưa ra được cơ sở khoa học của việc xác định tư cách đương sự trong vụ án dân sự và tư cách đương sự trong việc dân sự Cơ sở của viê ̣c xác đi ̣nh tư cách đương sự trong vu ̣ án dân sự là quyền khởi kiê ̣n , cơ sở của viê ̣c xác đi ̣nh tư cách đương sự trong viê ̣c dân sự là quyền yêu cầu Chương 1 cũng đã nêu lên được những quy định của pháp luật liên quan đến đương sự trong tố tu ̣ng dân sự qua từng thời kỳ li ̣ch sử, để từ đó tìm ra được những điểm khác, sự phát triển của pháp luâ ̣t qua các thời kỳ
Trang 28Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐƯƠNG SỰ
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
2.1 Năng lực chủ thể của đương sự trong tố tu ̣ng dân sự theo pháp luâ ̣t hiê ̣n hành
Các pháp lệnh tố tụng trước đây , chưa có khái niê ̣m năng lực pháp luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự, năng lực hành vi tố tu ̣ng dân sự của đương sự Điều 57 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự đã đưa ra các khái niê ̣m này
Năng lực pháp luật tố tụng dân sự là khả năng có các quyền , nghĩa vụ trong tố tụng dân sự do pháp luật quy đi ̣nh
Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiê ̣n quyền , nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc uỷ quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự
Đương sự là mô ̣t loa ̣i chủ thể tham gia vào quan hê ̣ pháp luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự nên khi tham gia vào quan hê ̣ pháp luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự , đương sự phải thoả mãn các điều kiện do pháp luật tố tụng dân sự quy định về năng lực pháp luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự và năng lực hành vi tố tu ̣ng dân sự
Về phương diê ̣n lý luâ ̣n , năng lực pháp luâ ̣t và năng lực hành vi nói chung hình thành quyền chủ thể của quan hệ pháp luật Như vâ ̣y, khả năng trở thành chủ thể quan hệ pháp luật là thuộc tính không tách rời của mỗi cá nhân , tổ chức nhưng không phải là thuô ̣c tính tự nhiên và sẵn có khi cá nhân đó được sinh ra hay khi tổ chức đó được thành lâ ̣p , mà do nhà nước thừa nhận cho mỗi cá nhân, tổ chức Và việc thừa nhận này của nhà nước được thể hiện trong những quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t
2.1.1 Năng lư ̣c pháp luật tố tụng dân sự của đương sự
Đối với cá nhân , năng lực pháp luâ ̣t bắt đầu kể từ khi cá nhân đó được
Trang 29sinh ra và mất đi khi cá nhân đó chết; đối với tổ chức, năng lực pháp luâ ̣t xuất hiê ̣n khi tổ chức đó được thành lâ ̣p và mất đi khi tổ chức đó chấm dứ t hoa ̣t
đô ̣ng Vì thế, năng lực pháp luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự của cá nhân cũng xuất hiê ̣n khi cá nhân đó được sinh ra và mất đi khi cá nhân đó chết ; năng lực pháp luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự của tổ chức cũng xuất hiê ̣n khi tổ c hức đó được thành lâ ̣p và mất đi khi tổ chức đó chấm dứt hoa ̣t đô ̣ng Pháp luật quy định cho mọi chủ thể có năng lực pháp luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự như nhau , có quyền và nghĩa vụ như nhau trong viê ̣c yêu cầu Toà án bảo vê ̣ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Năng lực pháp luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự của tổ chức phát sinh khác với năng lực pháp luâ ̣t của cá nhân , năng lực pháp luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự của tổ chức do luâ ̣t xác đi ̣nh về nô ̣i dung , phù hợp với đă ̣c điểm của từng loa ̣i tổ chức , cũng như mu ̣c đích hoa ̣t đô ̣ng của tổ chức đó Chẳng ha ̣n như, tổ chức không thể có các quyền và nghĩa vụ đặc thù của cá nhân như quyền khởi kiện về việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân ; yêu cầu công nhâ ̣n thuâ ̣n tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
Năng lực pháp luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự là điều kiê ̣n đầu tiên để mô ̣t chủ thể tham gia vào quá trình tố tu ̣ng dân sự Pháp luật dân sự và pháp luật tố tụng dân sự có mối quan hê ̣ mâ ̣t thiết với nhau Vì thế khi nghiên cứu năng lực pháp luật tố tu ̣ng dân sự thì bên ca ̣nh đó cũng cần xem xét những nô ̣i dung của năng lực pháp luật dân sự Năng lực pháp luâ ̣t tố tụng dân sự của đương sự là biểu hiện quyền năng của các chủ thể quan hê ̣ pháp luâ ̣t dân sự trong viê ̣c bảo vê ̣ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Toà án Nô ̣i dung của năng lực pháp luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự của đương sự bao gồm toàn bô ̣ các quyền và nghĩa vu ̣ tố tụng dân sự mà đương sự có được theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự
2.1.2 Năng lư ̣c hành vi tố tụng dân sự của đương sự
2.1.2.1 Năng lư ̣c hành vi tố tụng dân sự của đương sự là cá nhân
Đối với cá nhân , khác với năng lực pháp luật tố tụng dân sự , năng
Trang 30lực hành vi tố tu ̣ng dân sự của đương sự chỉ xuất hiê ̣n khi cá nhân chỉ đã
đa ̣t đến đô ̣ tuổi nhất đi ̣nh và đa ̣t được những điều kiê ̣n nhất đi ̣nh Năng lực hành vi tố tụng dân sự và năng lực hành vi dân sự có mối quan hệ mật thiết với nhau Mô ̣t chủ thể có năng lực hành vi dân sự thì chủ thể đó có năng lực hành vi tố tu ̣ng dân sự
Năng lực hành vi tố tu ̣ng của đương sự được xác đi ̣nh bởi khả năng nhâ ̣n thức và khả năng điều khiển hành vi của ho ̣ Đương sự muốn bảo vê ̣ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì khả năng nhâ ̣n thức và khả năng điều khiển hành vi đòi hỏi phải đa ̣t ở một yêu cầu nhất định , và rõ ràng rằng , nếu đương sự có khả năng hiểu biết tốt về pháp luâ ̣t mà đă ̣c biê ̣t là hiểu biết về pháp luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự , đương sự sẽ sử du ̣ng quyền cũng như thực hiê ̣n tốt những nghĩa vu ̣ m à pháp luật tố tụng dân sự quy định khi tham gia trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự
Năng lực hành vi tố tu ̣ng dân sự của đương sự là cá nhân được thể hiê ̣n dưới nhiều da ̣ng khác nhau:
- Cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
- Cá nhân chưa đủ 18 tuổi
- Cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự
- Cá nhân bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
* Cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
Theo pháp luâ ̣t dân sự, năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập , thực hiê ̣n quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 17 Bộ luâ ̣t dân sự năm 2005), người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên (Điều 18 Bô ̣ luâ ̣t dân sự năm 2005) và tại Điều 19 Bô ̣ luâ ̣t dân sự năm
2005 quy đi ̣nh về năng lực hành vi dân sự của người thành niên thì người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Như vâ ̣y, người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là người từ đủ 18 tuổi trở lên có khả năng nhận thức và
Trang 31làm chủ được hành vi của mình , tự mình tham gia vào các quan hê ̣ pháp luâ ̣t dân sự và tự chi ̣u trách nhiê ̣m về những hành vi mà ho ̣ thực hiê ̣n
Bên ca ̣nh đương sự đủ 18 tuổi, có khả năng nhận thức và làm chủ hành
vi của mình thì còn có đương sự bi ̣ nhược điểm về thể chất và tinh thần
Đối với đương sự bị nhược điểm về thể chất (mù, loà, câm, điếc ), trước đây, theo khoản 3 Điều 21 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì “nếu đương sự là người vì có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần mà không thể tham gia tố tụng được thì phải có người đại diện tham gia tố tụng” , nhưng theo Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự năm 2004 và Bộ luật dân sự năm 2005 thì đương sự có nhược điểm về thể chất tự mình tham gia vu ̣ viê ̣c dân sự Người
có nhược điểm về thể chất vẫn nhận thức được hành vi của mình , vẫn thể hiê ̣n
rõ được ý chí của mình khi tham gia tố tụng vì thế không có văn bản pháp luật nào quy định việc phải có người đại diện cho người có nhược điểm về thể chất tham gia tố tu ̣ng dân sự Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử, mô ̣t số Toà án vẫn lúng túng khi gă ̣p trường hợp đương sự là người có nh ược điểm về thể chất đứng đơn khởi kiê ̣n Ví dụ: Đó là trường hợp anh Trương Viết Lợi là thương binh loa ̣i 1/4, anh bi ̣ mù hai mắt với tỷ lê ̣ thương tâ ̣t 99% theo Giấy chứng nhâ ̣n của cơ quan có thẩm quyền Toà án nhân dân huyệ n A cho rằng anh Lợi bi ̣ mù hai mắt tự mình làm đơn khởi kiê ̣n không có ý kiến của người
đa ̣i diê ̣n theo pháp luâ ̣t nên Toà án nhân dân huyê ̣n A đã đình chỉ viê ̣c giải quyết vu ̣ án, trả lại đơn khởi kiện và các chứng cứ có liê n quan cho anh Lợi
Vụ việc này đã có những quan điểm khác nhau Có quan điểm cho rằng , viê ̣c đình chỉ vu ̣ án là vi pha ̣m nghiêm tro ̣ng thủ tu ̣c tố tu ̣ng dân sự ; có quan điểm cho rằng anh Lợi bi ̣ mù hai mắt là người mất năng lự c hành vi dân sự ; mô ̣t quan điểm nữa cho rằng anh Lợi là người bi ̣ ha ̣n chế năng lực hành vi dân sự [21] Chiếu theo Bộ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự có thể thấy, không có quy đi ̣nh về viê ̣c phải có người đại diện đối với đương sự có nhược điểm về thể chất Vì thế
Trang 32Toà án nhân dân huyện A đình chỉ vụ án , trả lại đơn khởi kiện cho anh Lợi là không có cơ sở pháp lý
Trên thực tế , khi đương sự tham gia tố tu ̣ng , họ thường chủ động tìm người giúp đỡ mình trước những khó khăn của nhược điểm về thể chất Tuy nhiên, để giải quyết vụ việc được thuận lợi , Toà án nên chủ động tìm phiên dịch viên trong trường hợp đương sự bị câm , điếc; hướng dẫn người mù , bị liê ̣t tìm người giúp đỡ mình viết đơn, đo ̣c các văn bản tố tu ̣ng
Đối với đương sự bị nhược điểm về tinh thần (hạn chế khả năng nhận
thức) như đần, thô ̣n, ngớ ngẩn do bẩm sinh hoă ̣c do tai na ̣n nghề nghiê ̣p Luâ ̣t thực đi ̣nh chưa có bất cứ mô ̣t quy đi ̣nh nào về đương sự có nhược điểm về tinh thần cũng như vấn đề đa ̣i diê ̣n cho đương sự này trong các vu ̣ viê ̣c dânsự Trường hợp đương sự có nhược điểm về tinh thần không được xem là bi ̣ hạn chế năng lực hành vi dân sự hay bi ̣ mất năng lực hành vi dân sự nên Toà
án không thể chỉ định người đại diện bắt buộc cho họ Tuy nhiên, có thể thấy đương sự có nhược điểm về tinh thần nên khả năng nhâ ̣n thức của ho ̣ bi ̣ ha ̣n chế, viê ̣c ho ̣ tự mình tham gia tố tu ̣ng là rất hy hữu và nếu tham gia tố tu ̣ng thì với khả năng nhâ ̣n thức bi ̣ ha ̣n chế, họ khó có thể hiểu rõ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình cũng như khó để thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ đó được
* Cá nhân chưa đu ̉ mười tám tuổi
Theo quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự , cá nhân chỉ được coi là có đầy đủ năng lực hành vi tố tu ̣ng dân sự khi đủ mười tám tuổi trở lên Đương sự chưa đủ mười lăm tuổi thì viê ̣c bảo vê ̣ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này ta ̣i Toà án do người đa ̣i diê ̣n hợp pháp của ho ̣ thực hiê ̣n Đương sự là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao đô ̣ng theo hợp đồng lao đô ̣ng hoă ̣c giao di ̣ch dâ n sự bằng tài sản riêng của mình được tự mình tham gia tố tu ̣ng về những viê ̣c có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó Đối với những việc khác , viê ̣c
Trang 33bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ tại Toà án do người đa ̣i diê ̣n hợp pháp của họ thực hiện
Tuy nhiên, đối với trường hợp ly hôn mà mô ̣t bên đương sự chưa đủ mười tám tuổi , thì theo pháp luật hôn nhân và gia đình thì trường hợp người vợ từ đủ mười bảy tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi trong viê ̣c ly hôn vẫn được coi là có năng lực hành vi tố tu ̣ng dân sự đầy đủ và tự mình tham gia vào quá trình tố tụng đó Trong khi đó, theo pháp luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự, thông thường cá nhân chưa đủ mười tám tuổi thì viê ̣c bảo vê ̣ quyền , lợi ích cho ho ̣ ta ̣i Toà án
do người đa ̣i diê ̣n hợp pháp của ho ̣ thực hiê ̣n Để khắc phu ̣c luâ ̣t tố tu ̣ng và luâ ̣t nô ̣i dung có sự xung đô ̣t , Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 hướ ng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy đi ̣nh chung” của Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự năm 2004 hướng dẫn như sau :
“Ngoại trừ người mất năng lực hành vi dân sự , người bi ̣ ha ̣n chế năng lực hành vi dân sự , nếu trong trường hợp pháp luâ ̣t có quy đi ̣nh khác , thì người chưa đủ mười tám tuổi vẫn có thể có đầy đủ năng lực hành vi tố tu ̣ng dân sự hoă ̣c ngược la ̣i người từ đủ mười tám tuổi trở lên vẫn có thể không có đầy đủ năng lực hành vi tố t ụng dân sự” Điều 9 Luâ ̣t hôn nhân và gia đình quy đi ̣nh nữ từ mười tám tuổi trở lên được kết hôn và theo hướng dẫn của Hô ̣i đồng thẩm phán Toá án nhân dân tối cao thì nữ đã bước sang tuổi mười tám mà kết hôn là không vi phạm điều kiện về tuổi kết hôn ; do đó, khi có yêu cầu Toà án giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình thì họ có quyền tự mì nh tham gia tố tu ̣ng dân sự [10]
* Cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự
Khoản 1 Điều 22 Bô ̣ luâ ̣t dân sự năm 2005 quy đi ̣nh: “Khi mô ̣t người
do bi ̣ bê ̣nh tâm thần hoă ̣c mắc bê ̣nh khác mà không thể nhâ ̣n thức , làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền , lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luâ ̣n của tổ chức giám định”
Trang 34Trong quan hê ̣ pháp luâ ̣t hôn nhân và gia đình , vụ án ly hôn mà một trong các bên đương sự bi ̣ bê ̣nh tâm thần hoă ̣c mất năng lực hành vi dân sự có thể chia thành hai trường hợp:
Thứ nhất, vợ hoă ̣c chồng của người mất năng lực hành vi dân sự không yêu cầu ly hôn Tuy nhiên, đă ̣t ra mô ̣t giả thiết trên thực tế người bi ̣ mất năng lực hành vi dân sự bi ̣ người chồng hoă ̣c vợ của mì nh ngược đãi , hành hạ, và
do người đó bi ̣ mất năng lực hành vi dân sự mà không thể thực hiê ̣n quyền yêu cầu ly hôn được Quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t thì vợ hoă ̣c chồng đều có quyền yêu cầu ly hôn , nhưng người mất năng lực hành vi dân sự không thể tự mình thực hiê ̣n quyền này được , vâ ̣y cha me ̣ của người đó có quyền yêu cầu ly hôn hay không Hiê ̣n nay , pháp luật chưa điều chỉnh tình huống nếu vợ hoặc chồng bi ̣ mất năng lực hành vi dân sự thì cha , mẹ của người đó có quyền đa ̣i diê ̣n đứng đơn xin ly hôn và tham gia tố tu ̣ng
Thứ hai, mô ̣t bên vợ hoă ̣c chồng yêu cầu ly hôn với người bi ̣ mất năng lực hành vi dân sự thì phát sinh vu ̣ án ly hôn ta ̣i Toà án
Thực tế các trường hợp ly hôn mà mô ̣t trong các bên đương sự là người
bị bệnh tâm thần, trong quá trình giải quyết thì Toà án gă ̣p không ít khó khăn , trở nga ̣i Theo quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự năm 2004 thì vợ hoặc chồng hoàn toàn có quyền ly hôn khi mô ̣t bên mắc bê ̣nh tâm thần hoă ̣c bê ̣nh khác mà không thể nhận thức , làm chủ được hành vi của mình Đó cũng là cơ sở để khẳng đi ̣nh vấn đề “đời sống chung không thể kéo dài” hoă ̣c “mu ̣c đích hôn nhân không đa ̣t được” (Điều 89 Luâ ̣t hôn nhân và gia đình năm 2000),
mô ̣t trong những lý do để Toà án cho phép ly hôn
Theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự , khi đương sự bi ̣ mất năng lực hành vi dân sự thì không tự mình tham gia quá trình tố tu ̣ng mà phải thông qua người đa ̣i diê ̣n hợp pháp để bảo vê ̣ quyền lợi hợp pháp cho những người này trước Toà án (khoản 4 Điều 57 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự ) Pháp luật quy
Trang 35đi ̣nh khi người vợ bi ̣ mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hô ̣, nếu chồng mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hô ̣ (khoản 1 Điều
62 Bộ luâ ̣t dân sự) Tuy nhiên, trong án ly hôn, do quyền lợi của vợ chồng đối
lâ ̣p nhau nên người này không thể làm giám h ộ cho người kia và ngược lại Đây là trường hợp không được làm người đa ̣i diê ̣n theo pháp luâ ̣t trong mô ̣t
vụ án (khoản 1 Điều 75 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự ) Và thực tiễn cũng cho thấy rằng hầu như không thấy có cơ quan nhà nướ c có thẩm quyền yêu cầu chỉ
đi ̣nh người giám hô ̣ thay thế trong trường hợp này bởi quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t về người đa ̣i diê ̣n trong trường hợp này còn bỏ ngỏ
* Cá nhân bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
Khoản 1 Điều 23 Bô ̣ luâ ̣t dân sự năm 2005 quy đi ̣nh: “Người nghiê ̣n
ma tuý, nghiê ̣n các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền , lợi ích có liên quan , cơ quan hoă ̣c tổ chức hữu quan, Toà án có th ể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự” Điều kiê ̣n để yêu cầu Toà án tuyên bố mô ̣t người là bi ̣ ha ̣n
chế năng lực hành vi dân sự bao gồm:
Thứ nhất, nghiê ̣n ma tuý hoă ̣c các chất kích thích khác
Thứ hai, phá tán tài sản gia đình nghĩa là làm cho tài sản bị thiệt hại , mất mát, hao hu ̣t mà không mang la ̣i lợi ích gì Thường thì những trường hợp nghiê ̣n ma tuý , cờ ba ̣c, rượu chè và sống vô trách nhiê ̣m với gia đìn h, xã hội thì có hành vi phá tán tài sản Trong thực tế , có nhiều trường hợp một người
vì cờ bạc dẫn đến phá tán tài sản gia đình và những người đánh bạc này cũng thực hiê ̣n hành vi của mình như mô ̣t thói quen khó bỏ , tuy nhiên Bô ̣ luâ ̣t dân sự năm 2005 chỉ mới quy định trường hợp “nghiện ma tuý và các chất kích thích khác” chứ chưa quy định trường hợp này
Trong trường hợp cá nhân bi ̣ tuyên bố ha ̣n chế năng lực hành vi dân sự thì mọi giao di ̣ch dân sự liên quan đến tài sản của người đó phải có sự đồng ý
Trang 36của người đại diện theo pháp luật trừ giao dịch dân sự nhỏ phục vụ cho nhu cầu sinh hoa ̣t hằng ngày Vâ ̣y trong quan hê ̣ hôn nhân gia đình thì những người này có được quyền tham gia tố tu ̣ng với tư cách là đương sự hay không; thủ tục giải quyết ly hôn trong trường hợp này như thế nào?
Vấn đề đă ̣t ra là viê ̣c ly hôn là do chính người bi ̣ ha ̣n chế năng lực hành
vi đề nghi ̣ thì liê ̣u người này có thể tự mình đứng đơn yêu cầu xin ly hôn hay phải thông qua vai trò của người đại diện Có thể nhận thấy các quy định của
Bô ̣ luâ ̣t dân sự liên quan đến viê ̣c đa ̣i diê ̣n cho người bi ̣ ha ̣n chế năng lực hành
vi dân sự chủ yếu hướng đến các giao di ̣ch có yếu tố tài sản , và quy định của pháp luật hiện hành vẫn không thấy đề cập đến vấn đề người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có thể tự mình đứng đơn yêu cầu xin ly hôn hay thông qua người đa ̣i diê ̣n Và theo khoản 2 Điều 23 Bô ̣ luâ ̣t dân sự năm 2005 thì chỉ quy
đi ̣nh “giao di ̣ch dân sự liên quan đến tài sản của người bi ̣ ha ̣n chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luậ t, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày” , như vâ ̣y, chỉ có giao dịch dân sự liên quan đến tài sản thì mới phải có sự đồng ý của người đa ̣i diê ̣n , còn lại những vấn đề khác thì người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự có thể tự mình thực hiện Vâ ̣y, đối với trường hợp yêu cầu ly hôn thì người bi ̣ ha ̣n chế năng lực hành vi dân sự vẫn có thể tự mình thực hiê ̣n
2.1.2.2 Năng lư ̣c hành vi tố tụng dân sự của đương sự là pháp nhân, tổ chức khác
Năng lực hành vi tố tu ̣ng dân sự và năng lực hành vi dân sự có mối quan hê ̣ mâ ̣t thiết với nhau Pháp nhân, tổ chức khác “không có năng lực hành
vi thực” [5, tr.246] Pháp nhân, tổ chức không phải là mô ̣t con người cu ̣ thể , không thể tự mình điều khiển hành vi Năng lực hành vi tố tu ̣ng dân sự của pháp nhân, tổ chức chỉ được thực hiê ̣n thông qua vai trò của mô ̣t cá nhân cu ̣ thể đáp ứng được các điều kiê ̣n do pháp luâ ̣t quy đi ̣nh về vấn đề đa ̣i diê ̣n cho
Trang 37pháp nhân, tổ chức tham gia tố tu ̣ng dân sự Từ khi được thành lâ ̣p cho đến khi chấm dứt hoa ̣t đô ̣ng của pháp nhân , tổ chức thì luôn phải có người đa ̣i diê ̣n trong những hoa ̣t đô ̣ng của pháp nhân , tổ chức đó Như vâ ̣y, năng lực hành vi tố tụng dân sự của pháp nhân , tổ chức thực chất là “vay mượn” [5, tr.246] của con người cụ thể , ngườ i đó là người đa ̣i diê ̣n hợp pháp của pháp nhân, tổ chức đó
2.2 Vị trí tố tụng và quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự
2.2.1 Vị trí tố tụng và quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn trong vụ án dân sự
2.2.1.1 Vị trí tố tụng của nguyên đơn trong vụ án dân sự
Khoản 2 Điều 56 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự năm 2004 quy đi ̣nh “Nguyên đơn trong vu ̣ án dân sự là người khởi kiê ̣n , người được cá nhân , cơ quan, tổ chức khác do Bô ̣ luâ ̣t này quy đi ̣nh khởi kiê ̣n để yêu cầu Toà án giải quyết vu ̣
án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bi ̣ xâm pha ̣m
Cơ quan, tổ chức do Bô ̣ luâ ̣t này quy đi ̣nh khởi kiê ̣n vu ̣ án dân sự để yêu cầu Toà án bảo vê ̣ lợi ích công cô ̣ng , lợi ích của Nhà nước thuô ̣c lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn”
Nguyên đơn là ng ười cho rằng quyền lợi hợp pháp của mình bị xâm phạm và thể hiện ý chí đưa vụ án ra cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét giải quyết, biểu hiê ̣n của viê ̣c này chính là hành vi gửi đơn khởi kiê ̣n yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, lợi ích công cô ̣ng hoă ̣c lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách hoặc được cá nhân , cơ quan, tổ chức khác khởi kiê ̣n vu ̣ án dân sự yêu cầu Toà án bảo vê ̣ quyền , lợi ích hợp pháp của họ Viê ̣c tham gia tố tu ̣ng dân sự của nguyên đơn mang tính chủ
đô ̣ng, hoạt động tố tụng dân sự của chủ thể này có thể dẫn đến việc làm phát sinh, thay đổi hay đình chỉ tố tu ̣ng Về nguyên tắc , chủ thể được giả thiết có quyền và lợi ích hợp pháp bi ̣ tranh chấp hay bi ̣ xâm pha ̣m mới có quyền khởi
Trang 38kiê ̣n Tuy nhiên, luâ ̣t thực đi ̣nh còn ghi nhâ ̣n quyền khởi kiê ̣n của các chủ thể
có quyền và lợi ích không bị xâm phạm nhưng cũng có quyền khở i kiê ̣n để bảo vệ lợi ích của người khác hoặc lợi ích công cộng , lợi ích Nhà nước Đó chính là quyền khởi kiện của người đại diện và quyền khởi kiện của các tổ chức, cá nhân khác trong phạm vi quyền hạn , trách nhiê ̣m của mình khởi kiê ̣n những vấn đề thuô ̣c lĩnh vực mình phu ̣ trách
* Điều kiê ̣n trở thành nguyên đơn trong vụ án dân sự
Để phát sinh vu ̣ án dân sự ta ̣i Toà án , đồng thời là cơ sở để bắt đầu giải quyết vu ̣ án dân sự phả i có nguyên đơn khởi kiê ̣n hoă ̣c các chủ thể khác theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự khởi kiê ̣n để bảo vê ̣ quyền lợi của
nguyên đơn Pháp luật tố tụng dân sự hiện hành không quy định cụ thể về điều kiê ̣n trở thành nguyên đơn trong vu ̣ án dân sự Tuy nhiên, từ những quy
đi ̣nh hiê ̣n hành của pháp luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự, có thể đưa ra những điều kiện để trở thành nguyên đơn như sau:
Điều kiê ̣n thứ nhất, để được công nhận tư cách nguyên đơn thì p hải có
đơn khởi kiê ̣n gửi đến Toà án của người khởi kiện hoặc của cá nhân , cơ quan, tổ chức khác được pháp luâ ̣t trao quyền khởi kiê ̣n Nếu có đơn khởi kiê ̣n thì vẫn chưa thể dẫn đến viê ̣c chủ thể có đơn khởi kiê ̣n trở thà nh nguyên đơn nếu không đáp ứng được những điều kiê ̣n để Toà án thu ̣ lý vu ̣ án dân sự Như vâ ̣y, viê ̣c chủ thể khởi kiê ̣n gửi đơn khởi kiê ̣n đến Toà án vừa mở ra mô ̣t quá trình tố tu ̣ng vừa là cơ sở phát sinh tư cách của cá c đương sự và các chủ thể khác trong quá trình tố tu ̣ng Viê ̣c đơn khởi kiê ̣n có được Toà án thu ̣ lý hay không còn phụ thuộc vào việc xác định những vấn đề sau:
Thứ nhất, chủ thể khởi kiện phải có quyền khởi kiện Theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 161 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự thì cá nhân , cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiê ̣n vu ̣ án ta ̣i Toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vê ̣ quyền , lợi ích hợp pháp mỗi khi bị xâm hại hoặc có tranh chấp Về nguyên tắc, chủ thể được giả
Trang 39thiết có quyền và lợi ích hợp pháp bi ̣ xâm pha ̣m hay tranh chấp mới có quyền khởi kiê ̣n Tuy nhiên, luâ ̣t thực đi ̣nh còn ghi nhâ ̣n quyền khởi kiê ̣n của các chủ thể có quyền và lợi ích không bị xâm hại n hưng cũng có quyền khởi kiê ̣n
để bảo vệ lợi ích của người khác hoặc lợi ích công cộng , lợi ích của Nhà nước Đó chính là quyền khởi kiê ̣n của người đa ̣i diê ̣n và quyền khởi kiê ̣n của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi quyền hạn, trách nhiệm của mình khởi kiê ̣n những vấn đề thuô ̣c lĩnh vực mình phu ̣ trách
Thứ hai, vụ án mà chủ thể khởi kiện để yêu cầu Toà án bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải còn thời hiê ̣ u khởi kiê ̣n nếu không thuô ̣c các trường hợp tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai Thời hiê ̣u khởi kiê ̣n được quy đi ̣nh ta ̣i Điều 159 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự
Thứ ba , vụ án mà chủ thể khởi kiện phải thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án
Vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án thì Toà án mới có căn cứ để thụ lý và giải quyết Thẩm quyền của Toà án được quy đi ̣nh ta ̣i Chương III Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự
Thứ tư, vụ án mà chủ thể khởi kiện chưa được Toà án giải quyết bằng
mô ̣t bản án, quyết đi ̣nh có hiê ̣u lực pháp luâ ̣t Trong trường hợp vu ̣ án dâ n sự đã được Toà án Viê ̣t Nam giải quyết bằng mô ̣t bản án hay mô ̣t quyết đi ̣nh có hiê ̣u lực pháp luâ ̣t thì các bên không có quyền khởi kiê ̣n la ̣i vu ̣ án đó về cùng
mô ̣t quan hê ̣ pháp luâ ̣t, trừ những trường hợp đó là: Bản án, quyết đi ̣nh của Toà
án xử bác đơn xin ly hôn; yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiê ̣t ha ̣i ; vụ án đòi tài sản cho thuê , cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Toà án chưa chấp nhâ ̣n yêu cầu do chưa đủ điều kiê ̣n khởi kiê ̣n và các trường hợp khác theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t
Trang 40Điều kiê ̣n thứ hai , chủ thể khởi kiện có năng lực pháp luật tố tụng dân
sự và năng lực hành vi tố tu ̣ng dân sự
Để tham gia vào quan hê ̣ pháp luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự thì nguyên đơn phải
có năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự Lúc đó, họ mới có thể tự mình thực hiện các quyền , nghĩa vụ theo quy định của pháp luật hoặc uỷ quyền cho người đại diện tham gia tố tụng
Điều kiê ̣n thứ ba, để chủ thể khởi kiện trở thành nguyên đơn dân sự đó
là họ phải thực hiện thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp không thuô ̣c đối tượng được m iễn hoă ̣c không phải nô ̣p tiền ta ̣m ứng án phí , sau đó Toà án thụ lý vụ án , như vâ ̣y , chủ thể khởi kiện sẽ tham gia tố tụng với tư cách nguyên đơn
Khi đáp ứng những điều kiê ̣n trên , Toà án sẽ tiến hành thụ lý vụ án và
tư cách nguyên đơn xuất hiê ̣n kể từ thời điểm Toà án thu ̣ lý vu ̣ án
* Xác định tư cách nguyên đơn trong vụ án dân sự
Thứ nhất, xác định tư cách của nguyên đơn trong trường hợp người khởi kiê ̣n bảo vê ̣ lợi ích của mình
Theo quy định của pháp luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự thì có thể thấy mô ̣t khi quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể bi ̣ xâm ha ̣i thì trước tiên bản thân ho ̣ có quyền khởi kiê ̣n đến Toà án yêu cầu bảo vê ̣ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Chủ thể khởi kiện trong trường hợp này chính là nguyên đơn dân sự Viê ̣c nguyên đơn dân sự sử du ̣ng quyền khởi kiê ̣n của mình làm cơ sở cho các
cơ quan có thẩm quyền thực hiê ̣n chức năng , nhiê ̣m vu ̣ của mình nhằm bảo vê ̣ quyền, lợi ích hợp pháp cho chủ thể bi ̣ xâm ha ̣i đó Muốn xác đi ̣nh chủ thể có quyền khởi kiê ̣n để bảo vê ̣ quyền, lợi ích hợp pháp của mình là ai thì cần phải căn cứ vào những quan hê ̣ pháp luâ ̣t nô ̣i dung mà các chủ thể đã tham gia
- Đối với quyền khởi kiện của chủ thể trong quan hệ nhân thân : Các quyền và nghĩa vu ̣ đối nhân là đă ̣c trưng của quan hê ̣ pháp luâ ̣t nhân thân