Khả năng phân biệt với các đối tượng của quyền sở hữu Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI THỊ HẢI NHƯ
ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI THỊ HẢI NHƯ
ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số : 60 38 30
luận văn thạc sĩ luật học
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Quế Anh
Hà nội - 2009
Trang 3Chương 1: Khái quát chung về nhãn hiệu và điều kiện bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp đối với nhãn hiệu
nghiệp đối với nhãn hiệu
21
1.2.1 Cơ sở xây dựng điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu
21
1.2.2 Khái niệm điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
đối với nhãn hiệu
23
1.2.3 ý nghĩa của điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
đối với nhãn hiệu
24
1.2.4 Điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với
nhãn hiệu theo pháp luật một số quốc gia trên thế giới
25
1.2.5 Quá trình hình thành và phát triển của các quy định 28
Trang 4pháp luật Việt Nam về điều kiện bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp đối với nhãn hiệu
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
32
2.1 Những dạng dấu hiệu có khả năng được bảo hộ 32 2.2 Điều kiện về khả năng phân biệt của dấu hiệu 34
2.2.2 Khả năng phân biệt thông qua sử dụng 47 2.2.3 Khả năng phân biệt với các đối tượng của quyền sở hữu
Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM
HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU
82
3.1 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam
về điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với
nhãn hiệu
82
3.1.1 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam
về điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với
nhãn hiệu trong giai đoạn thẩm định hình thức
83
3.1.2 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam
về điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với
nhãn hiệu trong giai đoạn thẩm định nội dung
87
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp
luật Việt Nam về điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu
94
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) nói chung và nhãn hiệu nói riêng đóng vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Quyền SHCN được bảo hộ là cơ sở pháp lý đảm bảo quyền
và lợi ích của nhà sản xuất, kinh doanh, góp phần ngăn chặn và phòng ngừa hành vi xâm phạm quyền, hành vi cạnh tranh không lành mạnh từ phía các chủ thể khác Tuy nhiên, khác với tài sản thông thường, để được bảo hộ quyền SHCN, chủ sở hữu nhãn hiệu cần thực hiện thủ tục đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Thực tế cho thấy rằng, tuy các dấu hiệu được lựa chọn
để sử dụng cho sản phẩm, dịch vụ rất phong phú, đa dạng song chúng chỉ có thể được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu khi và chỉ khi thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định
Hiện nay, các chủ thể kinh doanh tại Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của việc đăng ký nhãn hiệu nhưng chưa được trang bị kiến thức về điều kiện bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu Có rất nhiều doanh nghiệp thiết kế nhãn hiệu không có khả năng tự phân biệt, trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng của chủ thể khác Thậm chí có những doanh nghiệp phải gánh chịu những thiệt hại lớn về kinh tế khi đã tiến hành sản xuất, chào bán sản phẩm mang nhãn hiệu trên thị trường rồi mới nhận được thông báo từ chối cấp văn bằng bảo hộ Bởi vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu cụ thể các điều kiện bảo hộ là yếu tố quan trọng không thể thiếu đối với mỗi cá nhân, tổ chức trong quá trình xây dựng nhãn hiệu
Ngoài ra, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng đã và đang đặt ra những thách thức trong việc hoàn thiện điều kiện bảo hộ nhãn hiệu bởi một hệ thống quy định đầy đủ và toàn diện chính là phương thức hữu hiệu bảo vệ thành quả trí tuệ của doanh nghiệp, xây dựng niềm tin cho các cá
Trang 8nhân, tổ chức nước ngoài, thu hút đầu tư và là công cụ đắc lực để phát triển kinh tế
Với mong muốn nghiên cứu có hệ thống các quy định về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu góp phần định hướng cho các chủ thể kinh doanh trong việc thiết kế, phát triển và đăng ký những dạng dấu hiệu có khả năng được pháp luật bảo hộ đồng thời đưa ra những kiến giải góp phần hoàn thiện hệ thống
pháp luật SHTT, tác giả mạnh dạn chọn "Điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam" làm đề tài luận văn
tốt nghiệp
2 Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, trước khi Bộ luật Dân sự năm 1995 ra đời, do các yếu tố
về lịch sử, xã hội và kinh tế, vai trò của pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) chưa thực sự được chú trọng, sự quan tâm của xã hội đối với lĩnh vực này rất hạn chế Khoảng vài năm gần đây, bắt đầu xuất hiện ngày một nhiều hơn các công trình nghiên cứu, các sách, báo, tạp chí đề cập đến các khía cạnh của bảo hộ quyền SHTT nói chung và quyền SHCN đối với nhãn hiệu nói
riêng Điển hình như: "Pháp luật về sở hữu trí tuệ- thực trạng và hướng phát
triển trong những năm đầu thế kỷ XXI" (Đề tài cấp Bộ, Bộ Tư pháp, 2000);
"Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoàn thiện khung pháp luật Việt Nam
về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong xu thế hội nhập quốc tế và khu vực" (Đề
tài Đại học Quốc gia, 2002); "Nhãn hiệu hàng hóa trong pháp luật dân sự"
(PGS.TS Đinh Văn Thanh, Luật gia Đinh Thị Hằng, Nxb Công an nhân dân,
2004); Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Luật: "Những vấn đề pháp lý
về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam"; Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Mai Thanh: "Những vấn đề pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam" Vấn đề này cũng được đề cập tới trong các hội thảo khoa học, bài báo
và tạp chí chuyên ngành Tuy nhiên, các công trình trên chưa tập trung nghiên cứu chuyên sâu về các khía cạnh cụ thể của bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn
Trang 9hiệu Có thể nói, điều kiện bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu chưa từng được nghiên cứu một cách có hệ thống dưới góc độ một đề tài riêng, độc lập
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Mục đích của đề tài là làm sáng tỏ về mặt lý luận, thực tiễn áp dụng các điều kiện bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu nhằm đưa ra một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật
- Phân tích các quy định cụ thể pháp luật Việt Nam về điều kiện bảo
hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu trên cơ sở so sánh, đối chiếu với quy định của điều ước quốc tế và một số quốc gia trên thế giới
- Phân tích thực trạng áp dụng các quy định điều kiện bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu tại Việt Nam, từ đó đề xuất kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật
4 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành Trên
cơ sở đó, liên hệ với quy định của một số quốc gia trên thế giới đồng thời đối chiếu so sánh với yêu cầu thực tiễn, yêu cầu của các cam kết quốc tế
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời, các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như: thu thập thông tin, thống kê, phân
Trang 10tích, so sánh… cũng được triệt để sử dụng nhằm tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu
6 Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ về phương diện lý luận trong khoa học chuyên ngành pháp luật dân sự, cụ thể hóa nội dung cơ
bản của các điều kiện bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu
Một số kiến giải trong luận văn có ý nghĩa thực tiễn trong việc hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu đồng thời góp phần hướng dẫn các chủ thể kinh doanh thiết kế, phát triển và đăng
ký những dạng dấu hiệu có khả năng được pháp luật bảo hộ
Luận cứ khoa học và thực tiễn được trình bày có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy, phục vụ công tác chuyên môn của cán bộ ngành, trang bị kiến thức pháp lý cho doanh nghiệp trong việc xây dựng và bảo vệ nhãn hiệu
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện
quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu
Trang 11áp dụng, Hiệp ước đã khẳng định các đặc tính bản chất của nhãn hiệu: "được cấu tạo bởi các dấu hiệu nhìn thấy được" Cũng tại Điểm b Khoản 1 Điều 2 của Hiệp ước quy định "Hiệp ước này không áp dụng đối với nhãn hiệu là ảnh chụp ba chiều và nhãn hiệu vô hình, cụ thể là nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi" Tuy nhiên, nhãn hiệu ba chiều sẽ được thừa nhận "với điều kiện là chỉ có những bên ký kết chấp nhận việc đăng ký nhãn hiệu ba chiều mới bắt
buộc phải áp dụng Hiệp ước này đối với các nhãn hiệu đó"
Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền SHTT (Hiệp định TRIPS) đã mang lại cho SHTT những đóng góp to lớn khi đưa ra khái niệm hoàn chỉnh về nhãn hiệu tại Khoản 1 Điều 15:
Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình họa và tổ hợp các sắc màu cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó phải có khả năng
Trang 12được đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa Trường hợp bản thân các dấu hiệu không có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ tương ứng, các thành viên có thể quy định rằng khả năng được đăng ký phụ thuộc vào tính phân biệt đạt được thông qua việc sử dụng Các thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được đăng ký là các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được [26]
Như vậy, khái niệm nhãn hiệu đã được mở rộng phạm vi và cụ thể hơn rất nhiều so với Hiệp ước Luật nhãn hiệu
Trên cơ sở điều ước quốc tế đã ký kết và đáp ứng tình hình thực tiễn của đất nước, Bộ luật Dân sự Việt Nam đã định nghĩa: "Nhãn hiệu hàng hóa
là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ
sở sản xuất kinh doanh khác nhau Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc kết hợp của các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc" [36, Điều 785] Có thể nói, quy định này đã thể hiện tính mở bởi việc sử
dụng cụm từ "có thể là" hoàn toàn mang tính chất gợi ý, không bắt buộc
Khoản 1 Điều 6 Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đã đưa ra khái niệm cụ thể và gắn với các chuẩn mực quốc tế hơn:
Nhãn hiệu hàng hóa được cấu thành bởi dấu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bất kỳ của các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một người với hàng hóa hoặc dịch vụ của người khác bao gồm từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tổ hợp màu sắc, các yếu tố hình hoặc hình dạng của bao bì hàng hóa Nhãn hiệu hàng hóa bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận [25]
Khi Luật SHTT (LSHTT) năm 2005 ra đời, lần đầu tiên thuật ngữ
"nhãn hiệu" được sử dụng trong các văn bản pháp luật quốc gia bởi lẽ trước đây
"nhãn hiệu hàng hóa" được hiểu là bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ Điểm 16 Điều 4 LSHTT định nghĩa: "Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau" [35] Như vậy, bất kỳ dấu
Trang 13hiệu nào thỏa mãn điều kiện phân biệt hàng hóa/dịch vụ cùng loại của các chủ thể khác đều được coi là nhãn hiệu Tính mở và tính khái quát của quy định cho phép các loại dấu hiệu mới có thể được cấp văn bằng bảo hộ Điều này hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển không ngừng của khoa học và công nghệ, với sự xuất hiện ngày càng phong phú của các dạng dấu hiệu Tuy nhiên, đặt trong trong bối cảnh của Việt Nam, quy định trên sẽ gây khó khăn cho quá trình áp dụng thống nhất pháp luật
Bởi vậy, Khoản 1 Điều 72 LSHTT đã thu hẹp phạm vi bảo hộ bằng việc quy định: "Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc" [35] Việc quy định tách rời thành hai điều luật khác nhau là không cần thiết và có khả năng gây hiểu lầm cho các chủ thể khi lựa chọn các dấu hiệu đăng ký nhãn hiệu Theo chúng tôi, có thể hợp nhất hai quy định này
trong một khái niệm chung: Nhãn hiệu là dấu hiệu nhìn thấy được có khả
năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác nhau được thể hiện dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc
Nhìn chung, định nghĩa về nhãn hiệu trong pháp luật SHTT Việt Nam
và các quốc gia trên thế giới có sự khác nhau nhất định nhưng đều phản ánh được đặc điểm mang tính bản chất của nhãn hiệu, đó là tạo khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể khác nhau
1.1.2 Chức năng
Trong kinh doanh, nhãn hiệu luôn được coi là tài sản có giá trị nhất, là yếu tố quan trọng nhất trong chiến lược phát triển của mỗi doanh nghiệp Điều này được lý giải bởi những chức năng đặc trưng, riêng có của nhãn hiệu
* Chức năng phân biệt
Cách đây 4000 năm, thợ thủ công ở Trung Quốc, Ấn Độ và BaTư đã sáng tạo ra phương thức sử dụng chữ ký hoặc biểu tượng để phân biệt sản
Trang 14phẩm Tuy đó chỉ là dấu hiệu tương đối thô sơ, đơn giản nhưng đã chứng tỏ rằng nhãn hiệu được hình thành để thực hiện chức năng phân biệt Và kể từ đó tới nay, nó tiếp tục đóng vai trò là chức năng cơ bản và quan trọng nhất
Giả sử rằng chúng ta sống trong một thế giới mà mọi sản phẩm không
sử dụng nhãn hiệu mà chỉ được dán danh mục thành phần cấu tạo, ngày sản xuất hay quảng cáo về đặc tính ưu việt, công dụng của sản phẩm Khi đó, người tiêu dùng sẽ mất thời gian trong việc đọc và xử lý tất cả những danh mục chi tiết đó trong khi cũng khó có thể chắc chắn rằng thông tin của sản phẩm nào đáng tin cậy nhất Nhãn hiệu ngay từ khi hình thành đã được coi như một hình thức tốc ký cô đọng và khái quát truyền đạt các thông tin về sản phẩm, dịch vụ, là dấu hiệu đầu tiên và dễ dàng nhất để phân biệt sản phẩm, dịch vụ của các cơ sở kinh doanh khác nhau
Ngày nay, với sự đa dạng của hàng hóa, dịch vụ trên thị trường và vô vàn các thông tin khác nhau, người tiêu dùng luôn đứng trước muôn vàn sự chọn lựa Sự tương tự về bề ngoài của các sản phẩm có thể che dấu sự khác biệt về đặc tính và chất lượng và họ cần một phương pháp để nhận biết sự khác biệt giữa các loại hàng hóa, dịch vụ Nhãn hiệu được coi là con đường tắt làm khách hàng nhớ tới doanh nghiệp cũng như các sản phẩm của họ một cách nhanh nhất và có hiệu quả đồng thời giúp người tiêu dùng giảm chi phí, thời gian tìm kiếm thông tin về những sản phẩm, dịch vụ có giá trị, chất lượng như mong muốn
Khi mua một sản phẩm hay sử dụng một dịch vụ, người tiêu dùng thường quan tâm tới việc ai là người sản xuất hoặc ai là nhà cung cấp Ví dụ: mua quần áo gắn nhãn hiệu "Việt Tiến", người ta biết ngay Tổng công ty may Việt Tiến là nhà sản xuất hay khi mua sản phẩm mang nhãn hiệu "Samsung", người ta biết do Công ty Samsung cung cấp và phân phối Khách hàng có thể yên tâm về xuất xứ của sản phẩm và xác định được chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý khi xảy ra vi phạm, tranh chấp
* Chức năng đảm bảo chất lượng của sản phẩm, dịch vụ
Trang 15Một nhãn hiệu có đẳng cấp, đã được chấp nhận sẽ tạo ra sự tin cậy đối với khách hàng Đại đa số người tiêu dùng đều không muốn mình là người thử nghiệm đối với một nhãn hiệu mới trong khi họ đã có sự trải nghiệm, hài lòng về một nhãn hiệu khác cho loại hàng hóa tương tự
Một nhãn hiệu được người tiêu dùng được người tiêu dùng chấp nhận và tin tưởng sẽ góp phần tạo ra lợi nhuận rất lớn cho chủ sở hữu Tata - quan chức điều hành cao cấp của một tập đoàn ấn Độ đã khẳng định: "Khi nền kinh tế phát triển và người tiêu dùng có sức mua lớn hơn, dân chúng không mua sản phẩm Họ mua một lời hứa Nhãn hiệu chỉ là sự diễn đạt một lời hứa" [30, tr 153] "Lời hứa" về chất lượng không được bảo đảm sẽ ảnh hưởng tới niềm tin của người tiêu dùng và "lòng trung thành" của họ không phải là bất biến Nếu chủ sở hữu nhãn hiệu không đầu tư vào chất lượng, duy trì và cải tiến sản phẩm, dịch vụ thì khó có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng cũng như giữ vững được thị phần trên thị trường
* Chức năng quảng cáo và tiếp thị
Nhãn hiệu là cách thức cô đọng dùng để chỉ sản phẩm, dịch vụ nên luôn được coi là công cụ tiếp thị hữu hiệu, phương tiện quảng cáo, xúc tiến thương mại nhằm khuếch trương sản phẩm, dịch vụ mang nhãn hiệu Trong quảng cáo, việc sử dụng nhãn hiệu sẽ góp phần giảm lượng thông tin cần truyền đạt cũng như chí phí liên quan Đồng thời, sự phát triển của nhãn hiệu được quảng cáo sẽ mang lại động lực cho chủ sở hữu nhãn hiệu trong việc đảm bảo chào bán hàng hóa có chất lượng cao, tạo ra cảm giác tin tưởng của người tiêu dùng về quảng cáo trung thực
Trang 16NHHH là dấu hiệu được đăng ký bảo hộ cho sản phẩm Trước khi LSHTT năm 2005 có hiệu lực, NHHH được hiểu là bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ
Nhãn hiệu dịch vụ: Là những dấu hiệu dùng để phân biệt dịch vụ này với dịch vụ khác hoặc giữa các dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau Dịch vụ được coi là dạng hàng hóa đặc biệt có tính chất vô hình mà khi người có nhu cầu sử dụng dịch vụ trả tiền sẽ thu được một lợi ích nhất định tương ứng với chi phí đã bỏ ra
Hiện nay, để phục vụ cho công tác thẩm định nhãn hiệu, các quốc gia trên thế giới đang áp dụng Bảng phân loại quốc tế về hàng hóa và dịch vụ NICE với 45 nhóm khác nhau, trong đó có 34 nhóm sản phẩm và 11 nhóm dịch vụ
* Căn cứ vào số lượng chủ thể quyền, nhãn hiệu được chia thành: nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu thuộc về một chủ sở hữu
Nhãn hiệu thuộc về một chủ sở hữu là nhãn hiệu được cấp văn bằng bảo hộ cho một tổ chức, cá nhân duy nhất và chỉ có tổ chức, các nhân đó mới
có quyền sở hữu nhãn hiệu Đây là dạng nhãn hiệu phổ biến nhất, thường gặp nhất trong quá trình thẩm định nhãn hiệu
Nhãn hiệu tập thể (NHTT) là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó (Khoản 17 Điều 4 LSHTT) Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp có quyền đăng ký NHTT để các thành viên của mình sử dụng theo quy chế chung mang tính chất ràng buộc Quy chế sử dụng NHTT là lài liệu không thể thiếu trong đơn đăng ký và bất kỳ sự thay đổi nào cũng phải được thông báo với cơ quan đăng ký nhãn hiệu Trong trường hợp chủ giấy chứng nhận đăng
ký NHTT không kiểm soát hoặc kiểm soát không có hiệu quả việc thực hiện quy chế thì văn bằng bảo hộ có thể bị chấm dứt hiệu lực (Điều 95 LSHTT) Tại một số quốc gia như Đức, Phần Lan, Na Uy, Thụy Điển, Thụy Sĩ, NHTT
có thể bị hủy bỏ nếu nhãn hiệu được sử dụng trái với quy chế hoặc có tính
Trang 17chất lừa dối cụng chỳng Bởi vậy, NHTT đúng vai trũ quan trọng trong việc bảo vệ người tiờu dựng, chống lại cỏc hành vi gian dối
Điểm đặc trưng của NHTT là từng thành viờn đều cú quyền sử dụng NHTT trong nhón hiệu riờng của mỡnh Vớ dụ: VINATABA là NHTT được đăng ký cho sản phẩm thuốc lỏ của Tổng cụng ty thuốc lỏ Việt Nam, cỏc thành viờn của Tổng cụng ty đều sử dụng nhón hiệu này bờn cạnh cỏc thành phần khỏc do họ thiết kế Điều này cho phộp phõn biệt hàng húa của chớnh doanh nghiệp với hàng húa của cỏc đối thủ cạnh tranh khỏc, trong khi cựng thu được lợi ớch từ sự tin tưởng của người tiờu dựng đối với hàng húa hoặc dịch vụ mang NHTT NHTT thường gắn liền với cỏc chủng loại hàng húa nhất định của nhiều doanh nghiệp khỏc nhau trong một liờn kết kinh tế, kỹ thuật và tớnh đại diện được phỏt triển chủ yếu theo chiều sõu
Kể từ sau khi LSHTT cú hiệu lực, dấu hiệu cú chứa chỉ dẫn nguồn gốc địa lý được đăng ký dưới dạng NHTT ngày càng tăng, chẳng hạn như: nhón hiệu "Chố Thỏi Nguyờn", "Hồ tiờu Chư Sờ, "Hủ tiếu Mỹ Tho"
Đăng bạ quốc gia số 77941
Thuật ngữ "nhãn hiệu nổi tiếng" lần đầu tiên đ-ợc đề cập tại Điều 6bis Cụng ước Pari 1883 về bảo hộ quyền SHCN Theo đú, cỏc nước thành viờn phải
Trang 18có nghĩa vụ bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng theo một chế độ đặc biệt Năm 1994, Hiệp định TRIPS đã được ký kết và có hiệu lực từ ngày 1.1.1995 đã tái khẳng định các quy định bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng mà Điều 6 bis của Công ước Paris đã quy định, đồng thời đưa việc bảo hộ nhãn hiệu này lên một mức cao hơn và cụ thể hơn
Trên cơ sở đó, hầu hết các nước trên thế giới là thành viên của Công ước Paris đều quy định bảo hộ các nhãn hiệu nổi tiếng, nhưng nội dung và cách thức bảo hộ không đồng nhất Một số quốc gia phân chia mức độ nổi tiếng thành nhiều cấp độ, chẳng hạn như: Cộng đồng châu Âu có "nhãn hiệu nổi tiếng" và "nhãn hiệu có danh tiếng"; Nhật Bản có "nhãn hiệu nổi tiếng" và
"nhãn hiệu rất nổi tiếng"… Tuy nhiên, đa số các nước đều sử dụng một khái niệm "nhãn hiệu nổi tiếng" Ở Việt Nam, bên cạnh nhãn hiệu nổi tiếng còn tồn tại khái niệm nhãn hiệu được sử dụng và thừa nhận rộng rãi Tuy nhiên nội hàm khái niệm và tiêu chí bảo hộ vẫn chưa được quy định cụ thể tại bất kỳ văn bản luật và dưới luật
Khoản 20 Điều 4 LSHTT Việt Nam quy định: "Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam" [35] Một nhãn hiệu được coi là nổi tiếng có thể được sử dụng trên thị trường Việt hoặc chưa từng được sử dụng hoặc đăng ký tại Việt Nam Trước đây,
"quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng phát sinh trên cơ sở quyết định công nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền" [9, Khoản 3 Điều 8], nhưng sau khi LSHTT có hiệu lực, quyền sở hữu xác lập trên cơ sở
sử dụng và không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký Như vậy, có thể thấy rằng: khác với nhãn hiệu thường, nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ không thông qua thủ tục xác lập quyền SHCN
Khi một nhãn hiệu được coi là nổi tiếng, phạm vi bảo hộ sẽ rộng hơn
so với nhãn hiệu thường Điều 6 bis Công ước Paris khẳng định: Một nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng có thể coi là xâm phạm nhãn hiệu này kể cả trường hợp hàng hóa, dịch vụ được sử dụng không trùng với
Trang 19hàng hóa, dịch vụ của nhãn hiệu nổi tiếng nếu có nguy cơ làm hiểu lầm là có
sự liên quan với chủ nhãn hiệu nổi tiếng và có nguy cơ gây tổn hại cho lợi ích của chủ thể này Trong thực tế, nhiều cá nhân, tổ chức do không nhận thức được vấn đề này nên đã đăng ký các dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng và đương nhiên bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ
Trên thế giới, cơ quan có thẩm quyền công nhận nhãn hiệu nổi tiếng thường là cơ quan SHCN quốc gia và tòa án Hầu như các nước không luật hóa các tiêu chí xác định nhãn hiệu nổi tiếng mà giải quyết theo từng vụ việc
cụ thể trong quá trình cấp đăng ký nhãn hiệu hoặc xét xử tranh chấp tại tòa
* LSHTT còn xây dựng những quy định tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, trong đó có nhãn hiệu liên kết và nhãn hiệu chứng nhận
Với chức năng phân biệt sản phẩm, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác nhau, giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu chỉ được cấp cho một
cá nhân, tổ chức Tuy nhiên, quá trình hội nhập và phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần đã mang lại những phương thức sử dụng nhãn hiệu ngày càng đa dạng Từ thực tiễn đó, pháp luật Việt Nam đã thừa nhận những biến thể của nhãn hiệu và bổ sung các quy định về NHTT, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu liên kết
Nhãn hiệu chứng nhận được quy định khá hoàn chỉnh tại Khoản 18 Điều 4 LSHTT với nội dung:
Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu [35]
Như vậy, nhãn hiệu chứng nhận không đóng vai trò phân biệt nguồn gốc thương mại sản phẩm, dịch vụ như nhãn hiệu thông thường mà nhằm
Trang 20xác định một nhãn hiệu đáp ứng những tiêu chuẩn cụ thể mà chủ sở hữu đã đặt ra
Đăng bạ quốc gia số 106507
Trong hoạt động kinh doanh, mọi cá nhân, tổ chức có thể sản xuất một hoặc nhiều loại sản phẩm hoặc cung cấp một hoặc nhiều hình thức dịch vụ tương tự nhau tùy thuộc vào khả năng tài chính, trình độ kỹ thuật, nhu cầu của thị trường Để tạo điều kiện cho các chủ thể đó, pháp luật dành cho họ khả năng đăng ký bảo hộ nhãn hiệu liên kết
Ở Việt Nam, nhãn hiệu liên kết lần đầu tiên được ghi nhận tại Nghị định 63/CP được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 06/NĐ-CP:
Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu hàng hóa tương tự với nhau do cùng một chủ thể đăng ký để dùng cho các sản phẩm, dịch
vụ cùng loại, tương tự với nhau hoặc có liên quan tới nhau, và các nhãn hiệu hàng hóa trùng nhau do cùng một chủ thể đăng ký để
Trang 21dùng cho các sản phẩm, dịch vụ tương tự với nhau hoặc có liên quan tới nhau" [11, Khoản 8a Điều 2]
Nội dung này được tiếp tục khẳng định trong LSHTT năm 2005 với cách diễn đạt cô đọng, rõ ràng và dễ hiểu hơn: "Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau" [35, Khoản 19 Điều 4]
Nhãn hiệu liên kết có tính khái quát cao và có tính đại diện cho tất cả các chủng loại hàng hóa cùng loại hoặc tương tự của doanh nghiệp Ví dụ: Nhãn hiệu Panasonic được đăng ký cho các sản phẩm điện tử như điện thoại, tivi, máy ảnh, máy tính, điều hòa Bằng việc đăng ký nhãn hiệu liên kết, chủ
sở hữu nhãn hiệu có thể tiết kiệm thời gian, công sức, tài chính trong quá trình quảng cáo, tiếp thị, xây dựng lòng tin với khách hàng đồng thời loại trừ khả năng các cơ sở kinh doanh khác lợi dụng uy tín của họ để đăng ký nhãn hiệu
có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng gây ảnh hưởng tới lợi ích kinh
tế Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi có thể đạt được nhờ việc đăng ký nhãn hiệu liên kết, chủ sở hữu cũng phải đối mặt với nguy cơ tiềm ẩn về hệ quả mang tính chất dây chuyền khi một trong số các nhãn hiệu hoặc sản phẩm, dịch vụ mang nhãn hiệu bị mất uy tín
Hiện nay, nhãn hiệu liên kết rất hiếm khi được đăng ký và cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cũng chưa có những quy định cụ thể về vấn đề xác lập quyền đối với dạng nhãn hiệu này
Trên đây là một số dạng nhãn hiệu được phân loại theo những tiêu chí nhất định nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu Phân loại nhãn hiệu sẽ góp phần định hướng cho doanh nghiệp trong quá trình lựa chọn, thiết kế, đăng ký loại nhãn hiệu phù hợp với chiến lược phát triển đồng thời giúp các nhà lập pháp xây dựng, hoàn thiện các quy định áp dụng cho từng dạng nhãn hiệu
1.1.4 Phân biệt nhãn hiệu với một số chỉ dẫn thương mại khác
Trang 22Xuất phát từ nhu cầu phân biệt nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa, dịch vụ của các nhà sản xuất trên thị trường, nhiều dạng chỉ dẫn thương mại đã được hình thành và ghi nhận trong các văn bản pháp luật, điển hình là tên thương mại và chỉ dẫn địa lý Tuy nhiên, mục đích chung cần hướng tới của các dạng chỉ dẫn thương mại cũng là nguyên nhân dẫn tới khả năng gây nhầm lẫn giữa các đối tượng này Để hiểu rõ chế độ pháp lý đối với nhãn hiệu sẽ là bổ ích nếu chúng ta tiến hành làm rõ mối tương quan giữa tên thương mại, chỉ dẫn địa lý với nhãn hiệu
1.1.4.1 Phân biệt nhãn hiệu với tên thương mại
Tên thương mại và nhãn hiệu là hai đối tượng bảo hộ độc lập theo quy định của LSHTT và có bản chất tương đối khác biệt
* Về chức năng thương mại
Theo quy định tại Khoản 21 Điều 4 LSHTT 2005: "Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh" [35] Như vậy, tên thương mại thực hiện chức năng phân biệt chủ thể kinh doanh trong khi nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau
* Về yếu tố cấu thành
Cũng giống như tên thương mại, nhãn hiệu được hình thành theo nguyên tắc "tự do lựa chọn" Các cá nhân, tổ chức hoàn toàn tự do trong việc lựa chọn chỉ dẫn thương mại để tiến hành hoạt động kinh doanh của mình Tuy nhiên
sự lựa chọn ấy đặt trên cơ sở phù hợp với các quy định của pháp luật nhà nước dạt ra những khung pháp lý, điều kiện bảo hộ có tính chất bắt buộc
Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân và thường bao gồm hai thành phần chính: dấu hiệu xác định loại hình doanh nghiệp, dấu hiệu tên riêng của doanh nghiệp Khác với tên thương mại, nhãn hiệu không chỉ là tên gọi hay từ ngữ mà còn bao gồm dấu hiệu khác như hình vẽ, hình ảnh, kể cả
Trang 23hình ba chiều hoặc sự kết hợp của các yếu tố trên tạo thành một tổng thể phân biệt Thậm chí, ở một số quốc gia trên thế giới, hình ảnh, âm thanh được thể hiện dưới dạng đồ họa cũng được coi là nhãn hiệu
* Về căn cứ xác lập quyền SHCN
Ngoại trừ nhãn hiệu nổi tiếng, quyền SHCN đối với nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký hoặc công nhận đăng ký quốc tế trên cơ sở quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Quyền SHCN đối với tên thương mại được tự động xác lập khi thỏa mãn các điều kiện nhất định và trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó
Theo nguyên tắc chung, quyền đối với NHHH được bảo hộ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia nơi nó được đăng ký hay được sử dụng trên thực tế; còn quyền đối với tên thương mại được bảo hộ không chỉ trong phạm vi quốc gia nơi chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh mà còn tại tất cả các nước thành viên Công ước Pari (với điều kiện tuân thủ những qui định của pháp luật nước sở tại, nhưng không cần phải qua thủ tục đăng ký) Điều 8 Công ước Pari quy định: "Tên thương mại được bảo hộ ở tất cả các nước thành viên của Liên minh mà không bị bắt buộc phải nộp đơn hoặc đăng ký, bất kể tên thương mại đó có hay không là một phần của nhãn hiệu hàng hóa"
* Về khả năng sử dụng
Một nhãn hiệu có thể được sử dụng cho nhiều hàng hóa, dịch vụ của cùng một chủ thể kinh doanh, chẳng hạn như nhãn hiệu Panasonic được sử dụng cho tivi, tủ lạnh, điện thoại, máy giặt Bên cạnh đó, doanh nghiệp có quyền lựa chọn nhiều nhãn hiệu khác nhau để gắn lên một loại sản phẩm, dịch
vụ, điển hình như trong lĩnh vực dược phẩm Ngược lại, tên thương mại chỉ
có thể được gắn với một chủ thể kinh doanh xác định hay nói cách khác mỗi chủ thể kinh doanh chỉ có một tên thương mại duy nhất (có thể có tên đối nội
Trang 24và tên đối ngoại) Ví dụ: Công ty cổ phần thuốc thiên nhiên Việt Nam (viết tắt: NAPHAVINA.,JSC) có tên đối ngoại là NATURAL PHARMACY VIET NAM JOINT STOCK COMPANY
* Về phạm vi bảo hộ
Phạm vi bảo hộ về mặt thời gian đối với nhãn hiệu được xác định theo hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu là 10 năm và có thể được gia hạn liên tiếp Đối với tên thương mại, thời hạn bảo hộ là khoảng thời gian
mà doanh nghiệp còn tiếp tục duy trì hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó Có thể nói, trừ những trường hợp đặc biệt, tên thương mại và nhãn hiệu sẽ được pháp luật bảo hộ cho tới khi chủ sở hữu không có khả năng và nhu cầu sử dụng
Quyền đối với nhãn hiệu cùng với sự luân chuyển của thời gian luôn
có xu hướng bị "hao mòn", ví dụ như quá trình biến nhãn hiệu thành tên gọi chung cho một chủng loại hàng hóa Trong bất kỳ trường hợp nào để duy trì hiệu lực bảo hộ cần tiến hành thủ tục đăng ký lại qua tùng thời gian nhất định
và trả lệ phí Ở một loạt nước hiệu lực bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá phụ thuộc vào việc nhãn hiệu đó có được sử dụng tại các quốc gia đó hay không Quyền đối với tên thương mại tồn tại không bị hạn chế về mặt thời gian, không có xu hướng bị "hao mòn", không phụ thuộc vào việc nộp lệ phí hay sử dụng dấu hiệu là tên thương mại [3]
Về mặt không gian, văn bằng bảo hộ nhãn hiệu có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam Bất kỳ chủ thể nào sử dụng nhãn hiệu mà không được sự cho phép của chủ sở hữu thì hành vi đó dù được thực hiện trên bất kỳ tỉnh thành nào cũng bị coi là vi phạm quyền SHCN Tuy nhiên, điều này không được áp dụng đối với tên thương mại Bảo hộ tên thương mại chỉ được giới
hạn trong một khu vực kinh doanh - nơi chủ thể kinh doanh đã có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng Phạm vi bảo hộ về không gian của hai đối
tượng không thống nhất đã và đang gây ra rất nhiều khó khăn trong cho công
Trang 25tác áp dụng pháp luật nói chung và quá trình thẩm định đơn nhãn hiệu nói riêng
Bên cạnh đó, nếu như pháp luật thường dành
sự bảo hộ cao hơn đối với NHHH nổi tiếng thì trong khoa học pháp lý không tồn tại khái niệm tên thương mại nổi tiếng và chế độ bảo hộ cao hơn đối với những tên thương mại được biết đến một cách rộng rãi, có uy tín hơn cũng không tồn tại
Trong trường hợp nhãn hiệu và tên thương mại đều thuộc quyền sở hữu của một chủ thể thì các quyền đó sẽ bổ sung cho nhau, góp phần củng cố
mở rộng quyền năng cho chủ sở hữu Do vậy, rất nhiều nhà kinh doanh đã đưa tên thương mại vào thành phần nhãn hiệu hoặc thậm chí đăng ký bảo hộ nhãn hiệu trùng với tên thương mại Xung đột quyền xảy ra nếu quyền đối với nhãn hiệu được thủ đắc bởi một chủ thể khác không phải là chủ thể có quyền đối với tên thương mại Ngoài ra, cần nhận thức sự khác biệt giữa xác lập quyền SHCN đối với tên thương mại và đăng ký kinh doanh Việc đăng ký kinh doanh là thủ tục bắt buộc đối với mọi chủ thể có nhu cầu kinh doanh và được thực hiện tại cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo qui định của pháp luật Trong đó, tên thương mại chỉ là một trong những nội dung đăng ký kinh doanh
1.1.4.2 Phân biệt nhãn hiệu với chỉ dẫn địa lý
Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể Cũng giống như nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý là đối tượng được bảo hộ quyền SHCN thông qua hệ thống đăng ký xác lập quyền và được coi là công cụ phân biệt giúp người tiêu dùng lựa chọn hàng hóa phù hợp với nhu cầu của mình Tuy nhiên, nhãn hiệu
và chỉ dẫn có những điểm khác biệt nhất định:
Thứ nhất, về chức năng, nhãn hiệu được dùng để phân biệt hàng hóa,
dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau trong khi chỉ dẫn địa lý phân biệt
Trang 26các sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể Chỉ dẫn địa lý chỉ được đăng ký cho sản phẩm trong khi nhãn hiệu được đăng ký cho sản phẩm và dịch vụ
Thứ hai, chỉ dẫn địa lý liên quan mật thiết tới lãnh thổ nên quyền đăng
ký, quyền sở hữu thuộc về Nhà nước và "Nhà nước cho phép tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý, tổ chức tập thể đại diện cho các tổ chức, cá nhân đó hoặc cơ quan quản lý hành chính địa phương nơi có chỉ dẫn địa lý thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý" [35, Điều 88] Điều này đống nghĩa với việc chỉ dẫn địa lý không thể chuyển giao Ngược lại, quyền đăng
ký nhãn hiệu thuộc về mọi cá nhân, tổ chức
Thứ ba, trong khi đối với nhãn hiệu, chất lượng, danh tiếng của hàng
hóa liên quan tới uy tín của nhãn hiệu trên thị trường thì sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng chất lượng, đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý (gồm yếu tố tự nhiên và yếu tố con người) của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định Nếu giữa hàng hóa và chỉ dẫn địa lý không có mối liên hệ này thì chỉ dẫn địa lý chỉ còn
là một địa chỉ, một thông tin mang tính công cụ đơn thuần Và khi đó, tên địa danh chỉ có thể được đăng ký dưới hình thức NHTT hoặc nhãn hiệu chứng nhận
Thứ tư, việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý phụ thuộc vào việc bảo hộ tại nước
xuất xứ Điều 80 LSHTT quy định: Một trong những đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa chỉ dẫn địa lý là "chỉ dẫn địa lý ở nước ngoài mà tại nước đó, chỉ dẫn địa lý không được bảo hộ, đã bị chấm dứt bảo hộ hoặc không còn được sử dụng" [35] Ngược lại, nhãn hiệu có khả năng được bảo
hộ tại bất kỳ quốc gia nào trên thế giới mà không liên quan đến việc nhãn hiệu
đó đã được bảo hộ hay không tại nước xuất xứ
Thứ năm, chỉ dẫn địa lý được bảo hộ vô thời hạn trong khi giấy chứng
nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết thời hạn 10 năm, kể
từ ngày nộp đơn và có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp
Trang 271.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU
1.2.1 Cơ sở xây dựng điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
Như chúng ta đã biết, chức năng cơ bản và quan trọng nhất của nhãn
hiệu là phân biệt sản phẩm/dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác nhau Bởi vậy, điều kiện bảo hộ nhãn hiệu phải được xây dựng trên cơ sở đảm bảo tính phân biệt của dấu hiệu
Với tư cách là một trong những yếu tố quan trọng của kiến trúc thượng tầng xã hội, pháp luật về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu chịu sự quyết định của cơ sở hạ tầng xã hội hay nói đúng hơn là sự trình độ phát triển kinh
tế xã hội của đất nước Mối quan hệ giữa pháp luật và kinh tế được thể hiện trên hai phương diện cơ bản: tính quyết định của kinh tế đối với pháp luật và sự tác động ngược trở lại đối với kinh tế Khi xây dựng các điều kiện phù hợp với điều kiện kinh tế thì sẽ trở thành động lực thúc đẩy sự hùng cường Ngược lại, nếu điều kiện đó được quy định ở mức thấp hơn hoặc quá tân tiến so với thực
tế thì khó có khả năng áp dụng và gây ảnh hưởng tới quyền lợi của các chủ thể kinh doanh
Hiện nay, cùng với tốc độ phát triển không ngừng của kinh tế thế giới, chủ sở hữu nhãn hiệu thường có xu hướng tìm kiếm các cách thức mới lạ và độc đáo để tạo nên tính khác biệt hơn nữa cho sản phẩm/dịch vụ của mình so với sản phẩm/dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh Ngoài các dấu hiện truyền thống thì các dấu hiệu không truyền thống như âm thanh, màu sắc, mùi vị, hình ảnh chuyển động đã, đang và sẽ được sử dụng ngày càng phổ biến như một cách thức để các doanh nghiệp quảng cáo hàng hóa và dịch vụ của mình Việc thẩm định để đưa ra quyết định một nhãn hiệu không truyền thống có khả năng phân biệt hay không là vấn đề tương đối khó khăn tuy nhiên, một số quốc gia trên thế giới đã bước đầu bảo hộ dạng dấu hiệu này Đây cũng là vấn
đề mà pháp luật Việt Nam cần điều chỉnh khi xây dựng điều kiện bảo hộ nhãn
Trang 28hiệu trên cơ sở phù hợp với khả năng của hệ thống thực thi quyền SHTT tại nước nhà
Ngoài ra, tốc độ phát triển của khoa học kỹ thuật cũng dẫn tới sự xuất hiện của những đối tượng mới của quyền SHTT, điển hình như giống cây trồng
Để đảm bảo quyền lợi của chủ thể quyền, pháp luật cần đưa ra những các điều kiện bảo hộ cụ thể đặt trong mối tương quan với các đối tượng SHTT khác
Kinh tế thị trường bên cạnh những mặt tích cực còn tồn tại nhiều khiếm khuyết đòi hỏi sự điều tiết của Nhà nước trong việc tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh Tình trạng người nộp đơn nhái nhãn hiệu của người khác đã có uy tín hoặc nổi tiếng trên thị trường và được người tiêu dùng ưa chuộng nhằm mục đích thu lợi bất chính xảy ra tương đối nhiều Nếu như các nhà lập pháp không xây dựng được điều kiện bảo hộ chặt chẽ, phù hợp và cụ thể thì không thể ngăn chặn được những nhãn hiệu tương tự của các chủ thể khác nhau cùng tồn tại trên thị trường, không thể làm lành mạnh hóa môi trường kinh doanh cũng như không thể thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển kinh tế đất nước
Sự thành công của một trật tự xã hội bắt nguồn trước tiên từ chính việc xác lập các quy tắc xử sự, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận Theo đó, luật pháp phải đồng thời dung hòa lợi ích của cá nhân và lợi ích chung của cộng đồng với tinh thần: "Pháp luật phải lấy xã hội làm cơ sở, pháp luật phải
là sự biểu hiện của lợi ích và nhu cầu chung của xã hội" [6, tr 332] Bởi vậy, xây dựng điều kiện bảo hộ nhãn hiệu không nằm ngoài quy luật ấy
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống các quy định về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu được đặt trong bối cảnh Việt Nam đang chủ động hội nhập quốc tế
và khu vực Quá trình này mang lại cho đất nước những cơ hội to lớn cùng với những thách thức không nhỏ, trong đó phải kể tới sức ép từ phía các quốc gia phát triển trong việc bảo hộ SHTT Không thể đi ngược lại xu hướng chung của thời đại, chúng ta có nghĩa vụ thực hiện các cam kết quốc tế đã ký
Trang 29kết và xây dựng các quy phạm pháp luật phù hợp, tương thích với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
1.2.2 Khái niệm điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
Hiện nay, khái niệm về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu cũng như điều kiện bảo hộ các đối tượng SHCN khác như: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn thương mại chưa được quy định trong các văn bản pháp luật Trong các công trình nghiên cứu, vấn đề này thường chỉ được xem xét, bình luận dưới góc độ nội dung của từng điều luật riêng biệt
Theo Từ điển tiếng Việt, "điều kiện" là thuật ngữ dùng để chỉ những tính chất, chuẩn mực nhằm phê phán hoặc đánh giá một vấn đề cụ thể Do
vậy, có thể hiểu điều kiện bảo hộ nhãn hiệu là những chuẩn mực do pháp luật
quy định nhằm xem xét khả năng xác lập quyền SHCN đối với nhãn hiệu
Pháp luật các nước khác nhau quy định điều kiện bảo hộ nhãn hiệu khác nhau Mặc dù có sự khác biệt về chi tiết nhưng về cơ bản pháp luật các
nước ghi nhận các điều kiện cơ bản sau: Một là, đối tượng đăng ký phải thuộc các dạng dấu hiệu được bảo hộ theo quy định của pháp luật SHTT Hai là, để thực hiện được chức năng cố hữu, nhãn hiệu phải có khả năng phân biệt Ba là,
nhãn hiệu phải phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng Điều này xuất phát
từ các hậu quả mà nhãn hiệu có thể gây ra nếu có những đặc tính gây hiểu nhầm hoặc vi phạm trật tự công cộng hoặc đạo đức xã hội Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu không mang tính bất biến mà có thể được bổ sung và hoàn thiện cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội
1.2.3 Ý nghĩa của điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu được coi là những quy phạm có tính chất quyết định tới khả năng xác lập quyền SHCN Bởi lẽ, dù đơn đăng ký nhãn
Trang 30hiệu có đáp ứng được những điều kiện về chủ thể hay có đầy đủ những tài liệu cần thiết nhưng không đáp ứng được điều kiện bảo hộ thì đều không có giá trị
Nhà nước đặt ra quy định về điều kiện bảo hộ không chỉ có ý nghĩa đối với quá trình xác lập quyền mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc hủy
bỏ quyền cũng như xác định hành vi xâm phạm quyền SHCN theo quy định tại Điều 129 LSHTT
Đối với chủ sở hữu nhãn hiệu, điều kiện bảo hộ nhãn hiệu góp phần ngăn ngừa, ngăn chặn, loại trừ khả năng song song cùng tồn tại của các nhãn hiệu tương tự gây nhầm lẫn trên thị trường, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp
Xét trên một phương diện nào đó, điều kiện bảo hộ nhãn hiệu là công
cụ pháp lý hữu hiệu để Nhà nước thực hiện vai trò điều tiết các nguồn lợi ích trong xã hội Việc đặt ra những điều kiện tương đối chặt chẽ khắt khe cũng là một phương thức bảo vệ người tiêu dùng, giúp họ tránh được khả năng bị lừa dối, nhầm lẫn về chất lượng sản phẩm Điều kiện bảo hộ được coi là công cụ sàng lọc loại bỏ những nhãn hiệu không đủ khả năng bảo hộ, định hướng và tạo điều kiện cho người tiêu dùng có thể tiếp cận với những nhãn hiệu thực
sự Và hơn hết, nó giúp củng cố những quy phạm đạo đức, góp phần bảo đảm trật tự xã hội của cả cộng đồng
Hiện nay, khi đầu tư vào Việt Nam, điều đầu tiên mà doanh nghiệp nước ngoài quan tâm là vấn đề bảo hộ nhãn hiệu bởi họ lo ngại rằng pháp luật nước sở tại không có cơ chế xác lập và bảo vệ quyền hiệu quả Do đó, việc xây dựng điều kiện bảo hộ nhãn hiệu được coi là một trong những nhân tố góp phần tạo niềm tin cho nhà đầu tư nước ngoài, qua đó thúc đẩy quá trình hợp tác kinh tế quốc tế, phát triển đất nước
1.2.4 Điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo pháp luật một số quốc gia trên thế giới
Trang 31Luật nhãn hiệu được ban hành lần đầu tiên tại Pháp năm 1857 Kế tiếp là Italia (30.08.1868), Bỉ (01.04.1879), Hoa Kỳ (03.03.1881), Anh (25.08.1883), Đức (12.03.1894), Nga (26.02.1896)… Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xây dựng chế độ pháp lý đối với nhãn hiệu theo một trong hai nguyên tắc bảo hộ: trên cơ sở nộp đơn đầu tiên (first-to-file) hoặc trên cơ sở
sử dụng (first-to-use) Trong đó, nguyên tắc "nộp đơn đầu tiên" được hiểu là nếu có từ hai chủ thể trở lên nộp đơn cho các nhãn hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn thì Văn bằng sẽ chỉ được cấp cho người nộp đơn đầu tiên thỏa mãn các tiêu chuẩn bảo hộ Ngược lại, nếu áp dụng nguyên tắc "sử dụng đầu tiên" trong trường hợp này thì dấu hiệu được sử dụng đầu tiên sẽ được bảo hộ
Một trong những đại diện tiêu biểu nhất của hệ thống xác lập quyền trên cơ sở nộp đơn đầu tiên là nhãn hiệu cộng đồng (còn gọi là CTM) của các nước trong Cộng đồng Châu Âu (EU) Đơn sau khi nộp tại Cơ quan hài hòa hóa thị trường nội địa (OHIM) sẽ được thẩm định hình thức Nếu đơn có đủ các thông tin và tài liệu cần thiết, ngày nộp đơn được ghi nhận Sau đó đơn được chuyển sang thẩm định nội dung Trong giai đoạn này, nhãn hiệu được thẩm định trên cơ sở tuyệt đối theo quy định tại Điều 7 (1) Quy chế nhãn hiệu cộng đồng bao gồm các điều kiện: 1- Dấu hiệu không thể hiện dưới dạng đồ họa hoặc không thực hiện được chức năng của nhãn hiệu; 2- dấu hiệu thiếu tính phân biệt; 3- dấu hiệu mang tính mô tả; 4- dấu hiệu thông dụng; 5- dấu hiệu là hình dạng của sản phẩm; 6-dấu hiệu xâm phạm trật tự công cộng, quy tắc đạo đức; 7- dấu hiệu gây nhầm lẫn cho công chúng về bản chất, nguồn gốc địa lý của hàng hóa và dịch vụ mang nhãn hiệu; 8- dấu hiệu trái với Điều 6terCông ước Pari; 9- dấu hiệu là chỉ dẫn địa lý của rượu vang; 10- chỉ dẫn nguồn gốc các sản phẩm nông nghiệp Nếu không có lý do để từ chối đơn trên cơ sở tuyệt đối, thì đơn đăng ký nhãn hiệu sẽ được công bố trên Công báo Nhãn hiệu cộng đồng bằng các ngôn ngữ chính thức của Cộng đồng Châu Âu trong vòng 3 tháng để các bên thứ ba có quyền lợi và lợi ích liên quan có thể phản đối OHIM không tự động thẩm định nhãn hiệu trên cơ sở tương đối hay nói cách khác là không xem xét nhãn hiệu có trùng lặp hoặc tương tự gây nhầm
Trang 32lẫn với các nhãn hiệu đã được bảo hộ hoặc có ngày nộp đơn sớm hơn hay không Công việc này chỉ được tiến hành trên cơ sở yêu cầu của bên thứ ba khi thực hiện thủ tục phản đối đơn hoặc thủ tục hủy bỏ nhãn hiệu đã được đăng
ký
Nếu dấu hiệu được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu cộng đồng thì sẽ
có hiệu lực ở tất cả các nước thành viên EU Ngược lại, nếu nhãn hiệu bị hủy
bỏ hay mất hiệu lực ở một nước thành viên thì đương nhiên bị mất hiệu lực trong cả cộng đồng Trong quá trình đăng ký, chỉ cần một trong các nước EU
từ chối bảo hộ thì việc đăng ký nhãn hiệu thông qua hệ thống đăng ký CTM coi như không thành công Lúc này, nếu chủ sở hữu vẫn muốn đăng ký vào những nước thành viên khác không từ chối bảo hộ nhãn hiệu thì có thể chuyển đơn đăng ký CTM thành nhiều đơn đăng ký quốc gia vào từng nước
đó và vẫn được bảo lưu ngày nộp đơn của đơn CTM
Mỹ là trong những quốc gia có hệ thống bảo hộ quyền SHTT lâu đời
và phát triển nhất thế giới đồng thời là đại diện của hệ thống xác lập quyền
trên cơ sở sử dụng đầu tiên Đơn đăng ký NHHH sẽ được thẩm định trong
vòng 6 tháng kể từ ngày nộp đơn Nếu không có bất kỳ sửa đổi, bổ sung hay phản đối nào của thẩm định viên đưa ra trong thời hạn quy định, đơn sẽ được chuyển sang công bố trên công báo SHCN để bất kỳ bên thứ ba có quyền và lợi ích liên quan có thể phản đối việc đăng ký NHHH Đơn xin đăng ký nhãn hiệu sẽ bị từ chối nếu:
- Nhãn hiệu tương tự đến mức gay nhầm lẫn với một nhãn hiệu đã được đăng ký hoặc xin đăng ký trước;
- Nhãn hiệu gây ra hiểu nhầm hoặc lừa dối;
- Nhãn hiệu xác định một cá nhân đang sống (bao gồm tên, chân dung hay chữ ký của một người nhất định mà không được sự đồng ý bằng văn bản của người đó;
Trang 33- Nhãn hiệu vi phạm đạo đức hoặc liên quan tới các vấn đề khiếm nhã
vụ tương tự; 7- Bản chất và phạm vi của sự nhầm lẫn thực tế (nếu có); 8- Nếu không có sự nhầm lẫn thực tế thì khoảng thời gian và điều kiện mà theo đó sẽ tránh được sự nhầm lẫn; 9- Nhãn hiệu có được sử dụng trên nhiều loại hàng hóa và dịch vụ hay không; 10- Bản chất và phạm vi (nếu có) của sự tác động lẫn nhau giữa hai bên; 11- Phạm vi mà người nộp đơn có quyền ngăn không cho người khác sử dụng nhãn hiệu cho hàng hóa của họ; 12- Phạm vi khả năng gây nhầm lẫn; 13- Sự kiện bất kỳ khác đã được xác minh để chứng minh cho hiệu lực của việc sử dụng
Về cơ bản, điều kiện bảo hộ nhãn hiệu mà các quốc gia đặt ra đều tương tự nhau Điểm khác biệt lớn nhất nằm ở chỗ cơ chế áp dụng các điều kiện bảo hộ Các nhà lý luận đã phân chia thành ba hệ thống:
Một là, hệ thống pháp luật của Anh quy định việc thẩm định của Cơ
quan dựa trên các căn cứ tuyệt đối và tương đối, đồng thời cũng dựa trên thủ tục phản đối Hệ thống này cũng được áp dụng tại châu Âu, như tại Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và các nước Bắc Âu
Trang 34Hai là, hệ thống được áp dụng theo Luật nhãn hiệu cũ của Pháp và
Thụy Sĩ Việc thẩm định chỉ dựa trên các căn cứ tuyệt đối Pháp luật không quy định về thủ tục phản đối mà để ngỏ cho chủ sở hữu các quyền có trước tiến hành thủ tục kiện đòi hủy bỏ hiệu lực đăng ký hoặc khởi kiện hành vi xâm phạm do việc đăng ký hoặc sử dụng một dấu hiệu có sau Tuy nhiên, cả hai quốc gia này đều quy định về thủ tục phản đối trong luật mới của họ
Ba là, hệ thống của Đức quy định việc thẩm định dựa trên các căn cứ
tuyệt đối và cũng áp dụng việc phản đối theo thủ tục hành chính Theo đó, chủ
sở hữu các quyền có trước có thể phản đối đơn đăng ký nhãn hiệu xâm phạm quyền bằng một thủ tục đơn giản và không quá tốn kém Hệ thống này là sự thỏa hiệp giữa các hệ thống nêu trên và theo xu hướng hiện đại được phản ánh trong hệ thống Nhãn hiệu cộng đồng của châu Âu
1.2.5 Quá trình hình thành và phát triển của các quy định pháp luật Việt Nam về điều kiện bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
Trước năm 1975, trong khi nhiều nước phương Tây đã xây dựng được
hệ thống bảo hộ nhãn hiệu có bề dày hàng trăm năm thì Việt Nam đang tập trung mọi nguồn lực để tiến hành hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống
Mỹ Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nắm giữ từ bí quyết, công nghệ sản xuất cho đến việc phân phối sản phẩm và không thừa nhận hình thức sở hữu tư nhân Do vậy, pháp luật về nhãn hiệu không được quan tâm phát triển Trong khi đó, ở miền Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm đã ban hành Đạo luật số 13/57 ngày 01.08.1957 quy định về nhãn hiệu chế tạo và thương hiệu
Sau năm 1975, văn kiện pháp lý đầu tiên khởi đầu cho sự phát triển hệ thống chính sách bảo hộ nhãn hiệu của Nhà nước Việt Nam thống nhất là Điều lệ về NHHH ban hành kèm theo Nghị định 197/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 14.12.1982 Năm 1986 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng cho
sự chuyển mình và phát triển của lĩnh vực SHTT nói chung và nhãn hiệu nói riêng khi Việt Nam bước sang nền kinh tế thị trường, chính thức thừa nhận hình thức sở hữu tư nhân Một loạt các văn bản pháp luật được ban hành nhằm đáp
Trang 35ứng yêu cầu kinh tế như: Điều lệ về mua, bán quyền sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, NHHH và bí quyết kỹ thuật ban hành kèm theo Nghị định 201 của Hội đồng bộ trưởng ngày 28.12.1988; Pháp lệnh Bảo hộ quyền SHCN (theo Lệnh công bố của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ngày 11.02.1989 quy định đầy đủ và thống nhất về bảo hộ các đối tượng SHCN); Nghị định 84/HĐBT ngày 20.03.1990 sửa đổi bổ sung các điều lệ ban hành kèm theo Nghị định 197/HĐBT; Thông tư 437 ngày 19.03.1993 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn bổ sung về đăng ký NHHH Tuy nhiên, các văn bản này chỉ đề cập sơ lược tới một vài dấu hiệu không được chấp nhận là NHHH Riêng đối với dạng dấu hiệu xâm phạm quyền SHTT có trước của các chủ thể khác, các văn bản trên chỉ ghi nhận trường hợp "Các dấu hiệu giống hoặc tương tự với nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký trước tại Việt Nam hoặc
đã được bảo hộ theo một Hiệp ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, cho cùng một loại hàng hóa" (Điều 2, Điều lệ về NHHH ban hành kèm theo Nghị định
số 197-HĐBT được sửa đổi bổ sung theo Nghị định 84-HĐBT ngày 20-3-1990)
Năm 1992, Hiến pháp thứ tư của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận việc Nhà nước bảo hộ quyền SHCN, trong đó có NHHH Điều này đánh dấu một bước mới trong nhận thức của chúng ta về SHTT nói chung và NHHH nói riêng Trên cơ sở nguyên tắc hiến định đó, cuối năm
1995, BLDS được thông qua đã giành một phần riêng quy định về quyền SHTT và chuyển giao công nghệ Hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền SHTT
đã có bước phát triển về chất Để hướng dẫn áp dụng các quy định chung của BLDS, Chính phủ đã ban hành Nghị định 63/CP ngày 24.10.1996 quy định chi tiết về SHCN, Thông tư 3055/TT-SHTT ngày 31.12.1996 hướng dẫn thi hành các thủ tục xác lập quyền SHCN và một số thủ tục khác trong Nghị định 63/CP, Nghị định 06/2001/NĐ-CP ngày 01.02.2001 sửa đổi bổ sung nghị định 63/CP Nhìn chung, điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu đã được quy định đầy
đủ hơn so với trước nhưng trên thực tế, thẩm định viên nhãn hiệu vẫn chủ yếu dựa vào quy chế xét nghiệm riêng mang tính chất nội bộ
Trang 36Qua 10 năm thi hành, vào tháng 2/2005, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Dân sự sửa đổi Dựa trên quan điểm đảm bảo tính toàn diện và khoa học,
Bộ luật Dân sự chỉ quy định những vấn đề chung mang tính nguyên tắc về quyền SHTT, các vấn đề cụ thể sẽ do LSHTT được Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 8, thông qua và có hiệu lực từ 1/7/2006 điều chỉnh Cùng với Bé luËt D©n sù n¨m 2005, LSHTT đã tạo thành một hệ thống các quy định hoàn chỉnh thống nhất về quyền SHTT trên cơ sở bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng và cân bằng lợi ích giữa chủ thể quyền với công chúng Lần đầu tiên các quy định về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu được tập hợp và quy định cụ thể, chi tiết trong một mục riêng của Chương VII Phần thứ ba LSHTT Trên cơ sở đó, các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành LSHTT đã được ban hành và từng bước đi vào thực tiễn, bao gồm: Nghị định 103/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của LSHTT về SHCN; Thông tư 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/02/2007 hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP Kinh nghiệm thực tiễn của Cục SHTT về thẩm định nội dung đơn đăng ký nhãn hiệu, trong đó có việc đánh giá khả năng phân biệt của nhãn hiệu đã được luật hóa
Sau một thời gian áp dụng, các quy định các quy định của LSHTT về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu đã bộc lộ một số thiếu sót nhất định Nhận thức được điều này, các nhà lập pháp đã nhanh chóng tiến hành sửa đổi, bổ sung LSHTT và được Chủ tịch nước công bố ngày 29/06/2009 Theo đó, chỉ cấp một văn bằng bảo hộ duy nhất trong trường hợp có nhiều đơn của cùng một người đăng ký các nhãn hiệu trùng dùng cho các sản phẩm, dịch vụ trùng nhau đồng thời quy định rõ việc đăng ký NHTT và nhãn hiệu chứng nhận đối với địa danh hoặc dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương của Việt Nam được quản lý bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Bởi vậy, các quy định về điều kiện bảo hộ quyền SHCN đối với nhãn hiệu đã tương đối đầy đủ, hoàn thiện hơn trước và có những bước tiến đáng
kể trong quá trình tương thích, hài hòa hóa với pháp luật các nước trên thế giới cũng như các chuẩn mực quốc tế
Trang 37Chương 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU
2.1 NHỮNG DẠNG DẤU HIỆU CÓ KHẢ NĂNG ĐƯỢC BẢO HỘ
Theo nguyên tắc chung, bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác nhau đều có thể được dùng làm nhãn hiệu Pháp luật các quốc gia trên thế giới quy định khác nhau
về các dấu hiệu có khả năng được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu tùy thuộc vào điều kiện nội tại của đất nước Ở Việt Nam, những dạng dấu hiệu có khả năng được bảo hộ là nhãn hiệu bao gồm chữ cái, chữ số, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh,
kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc
* Dấu hiệu là chữ cái, chữ số
Lần đầu tiên pháp luật Việt Nam ghi nhận việc bảo hộ quyền SHCN đối với dạng dấu hiệu là chữ cái Nếu như trước khi LSHTT có hiệu lực, các dấu hiệu là chữ cái không có khả năng phát âm như một từ được bảo hộ khi
và chỉ khi được thể hiện dưới dạng hình họa có tính chất sáng tạo thì hiện nay, bất cứ một tập hợp nào có từ ba chữ cái trở lên đều được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu Ví dụ: A.S.P; WPS; KNCT
Chữ số, chữ cái thuộc ngôn ngữ không thông dụng hay tập hợp từ dưới ba chữ cái không phát âm như một từ sẽ bị từ chối Bản thân các dấu hiệu này hoặc sự kết hợp giữa chúng sẽ không tạo thành nhãn hiệu do khả năng khó nhận biết hoặc ghi nhớ Tuy vậy, dấu hiệu bao gồm một hoặc hai chữ cái thuộc ngôn ngữ Latinh không có khả năng phát âm như một từ và dấu hiệu đơn thuần là chữ số vẫn có khả năng được bảo hộ nếu được trình bày dưới dạng đồ họa hoặc trong một tổng thể độc đáo
* Dấu hiệu từ ngữ
Trang 38Từ ngữ là dạng dấu hiệu phổ biến nhất, được các cá nhân, tổ chức lựa chọn nhiều nhất khi xây dựng nhãn hiệu bởi tính chất dễ nhớ, thuận lợi cho quảng cáo, đặc biệt là trên các phương tiện thông tin đại chúng Theo Từ điển Tiếng Việt, từ ngữ "bao gồm tập hợp các chữ cái có thể ghép lại thành từ và ngữ hoàn chỉnh và nói lên một ý nghĩa nhất định" Tuy nhiên, từ ngữ dưới góc
độ nhãn hiệu không nhất thiết phải bó hẹp trong khái niệm của Từ điển Tiếng Việt mà có thể là một chuỗi các chữ cái có thể phát âm được, đạt được khả năng phân biệt và có nghĩa hoặc không có nghĩa Dấu hiệu là từ ngữ được dùng làm nhãn hiệu có thể bao gồm tên cá nhân, tên công ty, tên địa lý, các khẩu hiệu
* Dấu hiệu hình vẽ
Hình vẽ là tập hợp các đường nét, mảng màu theo những nguyên tắc hội họa nhất định trên mặt phẳng, phản ánh hình dạng một vật thể nào đó trong tự nhiên hoặc trong tưởng tượng Nó bao gồm hình họa, các nét vẽ, biểu tượng hoặc hình họa hai chiều của hàng hóa hoặc bao bì
Một hình vẽ được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu phải được trình bày đặc biệt, tạo ra ấn tượng và khả năng nhận biết cho người tiêu dùng Pháp luật nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam không chấp nhận việc đăng ký các hình, hình học đơn giản hoặc quá rắc rối, phức tạp vì chúng không có khả năng tự phân biệt
* Dấu hiệu hình ảnh, hình ba chiều
Dấu hiệu hình ảnh có khả năng thu hút sự chú ý của người tiêu dùng thông qua thị giác và có thể là ảnh chụp hình người, vật, cảnh tượng thông qua khí cụ quang học hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện được trong trí nhớ Dấu hiệu hình ảnh bao gồm dấu hiệu hai chiều và ba chiều Trong đó, nhãn hiệu ba chiều là dấu hiệu được thể hiện dưới hình thức hình khối đã đăng ký và được bảo hộ trong thực tế, chiếm đa số là dấu hiệu hình dáng hàng hóa hoặc bao bì sản phẩm Ví dụ như hình dáng chai Coca-Cola, hình ngôi sao ba cánh nổi nằm trong vòng tròn của Mercedes Tuy nhiên, chỉ tới khi
Trang 39LSHTT năm 2005 được ban hành, quyền SHCN đối với dạng dấu hiệu này mới được luật hóa
* Dấu hiệu kết hợp giữa các yếu tố chữ và hình được thể hiện dưới một hoặc nhiều màu sắc
Sự kết hợp của hai hay nhiều dấu hiệu hình và dấu hiệu chữ thường tạo thành một tổng thể ấn tượng, dễ nhận biết và đáp ứng được điều kiện về khả năng phân biệt Loại dấu hiệu này được sử dụng phổ biến ở Việt Nam cũng như thế giới và được coi là dạng dấu hiệu phát huy được hiệu quả nhất trong việc tạo khả năng nhận biết cho người tiêu dùng
Thông thường, dấu hiệu kết hợp được thể hiện dưới một hoặc nhiều màu sắc Cần lưu ý rằng, pháp luật Việt Nam không chấp nhận bảo hộ dấu hiệu chỉ đơn thuần là màu sắc như mảng màu, vệt màu mà không được kết hợp với dấu hiệu chữ hoặc dấu hiệu hình hoặc không được thể hiện thành dạng dấu hiệu chữ hoặc dấu hiệu hình Nếu như cho phép các công ty được độc quyền sử dụng một màu đơn sẽ dẫn đến việc "thâu tóm" hết những màu sắc hấp dẫn trong mỗi dòng sản phẩm
Hiện tại, Việt Nam chưa bảo hộ các dấu hiệu không truyền thống như
âm thanh, mùi vị Tuy nhiên, trong tương lai, với sự lớn mạnh của nền kinh
tế, khi mà các loại hàng hóa, dịch vụ ngày càng đa dạng, phong phú, các nhà sản xuất mong muốn tìm kiếm những nhãn hiệu mới lạ, độc đáo cho các sản phẩm của mình để thu hút công chúng thì mục tiêu cần hướng tới của Việt Nam là mở rộng phạm vi bảo hộ nhằm bảo đảm tối đa quyền lợi của các chủ thể và phù hợp với xu hướng chung của thế giới
2.2 ĐIỀU KIỆN VỀ KHẢ NĂNG PHÂN BIỆT CỦA DẤU HIỆU
Như chúng ta đã biết, chức năng cơ bản nhất của nhãn hiệu là phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở kinh doanh khác nhau Do vậy, hệ quả tất yếu là dấu hiệu được sử dụng làm NHHH phải có khả năng phân biệt
Trang 40Nhìn chung, khả năng phân biệt của nhãn hiệu là một vấn đề phức tạp, nhất là trong việc pháp điển hóa bằng pháp luật Việc xem xét, đánh giá liệu một nhãn hiệu có khả năng phân biệt hay không phụ thuộc vào sự nhận biết của người tiêu dùng hoặc ít nhất là những người mà dấu hiệu hướng tới Sự
phân biệt phải đặt cơ sở trên quá trình nhận biết: từ chỗ chỉ nghe qua/ thấy
qua về nhãn hiệu như qua truyền miệng đến chú ý vào một thông điệp quảng
cáo hoặc sự hiện diện của nhãn hiệu trên quầy siêu thị bên cạnh hàng loạt
nhãn hiệu cạnh tranh, rồi bị thuyết phục bởi người bán hàng về các ưu điểm
của sản phẩm mang nhãn hiệu cùng sự thỏa đáng của giá cả, tới mức ra quyết
định chọn mua và cuối dùng là sử dụng/ tiêu dùng sản phẩm mang nhãn Mỗi
bước của quá trình nhận biết đó đều có thể làm nảy sinh các nhận xét, đánh giá của khách hàng về nhãn hiệu; và số lượng các nhận xét, đánh giá đó cũng như độ chính xác của chúng có khuynh hướng tăng dần khi khách hàng càng
đi dần đến những bước sau của quá trình nhận biết Đặc biệt, số lượng và độ chính xác của các nhận xét, đánh giá về một nhãn hiệu sẽ càng tăng lên khi mật độ thông tin về các nhãn hiệu cạnh tranh tác động lên khách hàng càng
dày đặc, thể hiện dưới hai khía cạnh: khía cạnh lý tính, liên quan đến thành phần, tính năng, công dụng, kiểu dáng… hoặc sự thỏa đáng của giá cả; khía
cạnh cảm tính, liên quan đến các nhu cầu và phản ứng tâm lý của khách hàng
khi chọn mua và sử dụng nhãn hiệu như: khơi gợi được các cảm giác dễ chịu, thể hiện được vai trò/thành phần xã hội, diễn đạt được hành vi giao tiếp… Chỉ trên cơ sở các nhận xét, đánh giá và so sánh đó của khách hàng, mỗi nhãn hiệu mới thật sự xuất hiện một "khả năng phân biệt" đầy đủ
Để xác định khả năng phân biệt, chuẩn nhận thức có xu hướng được chấp nhận là mức độ nhận thức của người tiêu dùng trung bình Ngay từ cái nhìn đầu tiên, người tiêu dùng không nhận ra sự khác biệt giữa các nhãn hiệu, ngược lại họ chỉ có thể nhận ra khi dành thời gian xem xét nhãn hiệu và sản phẩm mang nhãn hiệu một cách cẩn trọng Do vậy, ấn tượng đầu tiên của người tiêu dùng sẽ có tính quyết định Điều này đặc biệt đúng đối với các sản phẩm tiêu dùng phổ biến được chào bán trong các cửa hàng bách hóa