1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo luật sở hữu trí tuệ 2005

141 1,5K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đề cụ thể như thủ tục xác lập quyền đối với nhãn hiệu, điều kiện để được bảo hộ là nhãn hiệu, mục đích bảo hộ nhãn hiệu, giới thiệu pháp luật của nước ngoài về bảo hộ nhãn hiệu, giới thi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HÀ THỊ NGUYỆT THU

BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU THEO LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ 2005

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG

NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU

1.1 Lý luận chung về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

1.1.1 Khái quát chung về nhãn hiệu

1.1.2 Chức năng của nhãn hiệu

1.1.3 Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

1.1.4 Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

1.2 Sơ lược lịch hình thành và phát triển của hệ thống bảo hộ

nhãn hiệu trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống bảo hộ

nhãn hiệu trên thế giới

1.2.2 Lược sử về sự hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật

Việt Nam về bảo hộ chỉ dẫn địa lý

1.3 Nhãn hiệu trong mối tơng quan với một số đối tượng SHTT

khác

1.3.1 Nhãn hiệu với tên thương mại

1.3.2 Nhãn hiệu với chỉ dẫn địa lý

1.3.3 Nhãn hiệu với nhãn hàng hóa

1.3.4 Nhãn hiệu với kiểu dáng công nghiệp

1.3.5 Nhãn hiệu với đối tượng được bảo hộ quyền tác giả

1.4 Vai trò bảo hộ nhãn hiệu trong nền kinh tế thị trường

1.4.1 Vai trò bảo hộ nhãn hiệu đối với doanh nghiệp

1.4.2 Vai trò bảo hộ nhãn hiệu đối với người tiêu dùng

1.4.3 Vai trò bảo hộ nhãn hiệu đối với toàn xã hội

Chương 2 BẢO HỘ NHÃN HIỆU THEO LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ 2005

2.1 Nhãn hiệu với tư cách là đối tượng của quyền sở hữu công

nghiệp

2.1.1 Khái niệm nhãn hiệu

2.1.2 Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu

2.1.2.1 Điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ

2.2.2.2 Khả năng phân biệt của nhãn hiệu

2.2.2.3 Dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu

2.1.3 Phân loại nhãn hiệu

Trang 3

2.2 Xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

2.2.1 Quyền đăng ký nhãn hiệu

2.2.2 Thủ tục xác lập quyền đối với nhãn hiệu

2.2.2.1 Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên

2.2.2.2 Nguyên tắc ưu tiên

2.2.2.3 Yêu cầu đối với đơn

2.2.2.4 Thẩm định đơn

2.2.2.5 Công bố đơn, văn bằng bảo hộ

2.2.2.6 Phản đối việc cấp văn bằng bảo hộ

2.2.2.7 Khiếu nại quyết định liên quan đến việc xác lập quyền đối với nhãn hiệu 2.2.2.8 Đăng ký quốc tế nhãn hiệu

2.2.3 Thời hạn bảo hộ

2.2.4 Chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ

2.2.5 Hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ

2.2.6 Sửa đổi văn bằng bảo hộ

2.3 Chủ thể quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

2.3.1 Chủ sở hữu nhãn hiệu

2.3.2 Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

2.3.2.1 Quyền sử dụng nhãn hiệu

2.3.2.2 Quyền định đoạt nhãn hiệu

2.3.2.3 Quyền ngăn cấm ngời khác sử dụng nhãn hiệu

2.3.3 Giới hạn quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

2.4 Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

2.4.1 Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

2.4.2 Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

2.4.2.1 Các quy định chung về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối

với nhãn hiệu

2.4.2.2 Biện pháp dân sự

2.4.2.3 Biện pháp hành chính, hình sự, kiểm soát hàng hóa xuất khẩu,

nhập khẩu mang nhãn hiệu đợc bảo hộ tại biên giới

Chương 3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HỘ NHÃN HIỆU Ở

VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU

3.1 Thực trạng hoạt động bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam

3.2 Một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu

3.2.1 Định hướng chung

3.2.2 Hoàn thiện pháp luật liên quan đến xác lập quyền

3.2.3 Hoàn thiện pháp luật về thực thi quyền

Trang 4

3.2.4 Hoàn thiện pháp luật liên quan đến những vấn đề mới phát

sinh trong quá trình phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế

3.2.5 Xây dựng các văn bản dới luật hướng dẫn chi tiết các nội

dung được đề cập mang tính nguyên tắc trong Luật SHTT

3.2.5.1 Xây dựng các tình huống điển hình trên cơ sở tổng kết thực tiễn

3.2.5.2 Xây dựng và luật hóa Quy chế thẩm định nhãn hiệu

KẾT LUẬN

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Nghị định thư Madrid: Nghị định thư liên quan đến Thỏa ước Madrid về đăng

ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa

hóa

của quyền sở hữu trí tuệ

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới hiện nay chúng ta đang chứng kiến quá trình tự do hoá thương mại mạnh mẽ với việc phá bỏ các rào cản thương mại, tạo nên một sân chơi chung toàn cầu với luật lệ chung, bình đẳng Sở hữu trí tuệ đang trở thành một vấn đề thời sự, thành trung tâm của sự chú ý, là vấn đề trọng tâm được thảo luận tại các cuộc đàm phán, hội nghị, hội thảo về quan hệ kinh tế quốc tế, là nội dung không thể thiếu trong các điều ước quốc tế về hợp tác kinh tế song phương và đa phương

Nhận thức được vai trò của hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với việc khuyến khích hoạt động nghiên cứu, sáng tạo, áp dụng và đổi mới công nghệ, thúc đẩy đầu tư, thương mại… Nhà nước Việt Nam đã rất coi trọng vấn đề sở hữu trí tuệ bằng việc thiết lập được một hệ thống sở hữu trí tuệ có bộ máy tổ chức, quản lý, quy định pháp luật và những bộ phận hợp thành về cơ bản tương tự như

mô hình phổ biến trên thế giới Hệ thống sở hữu trí tuệ Việt Nam đã thiết lập chế

độ bảo hộ đầy đủ các đối tượng sở hữu trí tuệ liên quan đến hoạt động của danh nghiệp trong đó có nhãn hiệu

Nhãn hiệu có vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày liên quan đến sự lựa chọn của người tiêu dùng Nhãn hiệu giúp người tiêu dùng có thể mua nhiều lần một thứ hàng hoá, dịch vụ mà không cần phải xem xét tất cả mọi yếu tố liên quan đến hàng hoá, dịch vụ đó trong mỗi lần mua

Nhãn hiệu là biểu tượng mang những thành quả đầu tư của nhà sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ Mọi nỗ lực của nhà sản xuất hàng hoá, cung cấp dịch vụ trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành đều được “tích tụ” trong nhãn hiệu

Vì nhãn hiệu mang theo những thông điệp về chất lượng, uy tín của hàng hoá, dịch vụ như trên, cần thiết phải có sự bảo hộ pháp lý để chống lại các hành vi sử

Trang 7

dụng nhằm mục đích lợi dụng uy tín, danh tiếng gắn liền với nhãn hiệu đó Việc bảo hộ đó không những nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của chủ sở hữu nhãn hiệu, người đã đầu tư vào việc nâng cao chất lượng và giảm giá thành hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu, mà còn bảo vệ người tiêu dùng khỏi bị nhầm lẫn và lừa dối do mua phải sản phẩm mang nhãn hiệu giả mạo

Vấn đề bảo hộ nhãn hiệu đang nhận được sự quan tâm đặc biệt không chỉ ở góc độ quản lý Nhà nước mà còn là sự quan tâm của toàn xã hội Về phía lợi ích quốc gia, nhãn hiệu là một công cụ để khẳng định và nâng cao uy tín sản phẩm trong nước, mở đường ra thị trường nước ngoài, ở cấp doanh nghiệp, nhãn hiệu giữ vai trò tích tụ uy tín cho sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp từ đó xây đắp nên uy tín của doanh nghiệp, còn với đông đảo công chúng, nhãn hiệu giúp cho họ có được thông tin về sản phẩm, dịch vụ thông qua đó có sự lựa chọn đúng đắn

Để đáp ứng trước những đòi hỏi của quá trình hội nhập quốc tế đối với hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói riêng về

“tính đầy đủ” và “tính hiệu quả”, Luật SHTT 2005 (Luật SHTT) đã được ban hành nhằm thống nhất các quy định điều chỉnh chung đối với việc bảo hộ quyền

sở hữu trí tuệ

Trước vai trò đặc biệt quan trọng của nhãn hiệu đối với sự phát triển kinh tế

xã hội thì tìm hiểu các quy định của pháp luật liên quan đến bảo hộ nhãn hiêu là việc thực sự cần thiết, có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn

Với lý do đó, tôi quyết định chọn đề tài “Bảo hộ quyền sở hữu công

nghiệp đối với nhãn hiệu theo Luật Sở hữu trí tuệ 2005” là đề tài nghiên cứu

cho luận văn cao học của mình

2 Tình hình nghiên cứu vấn đề

Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu đã và sẽ là đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình nghiên cứu không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới ở Việt Nam từ trước đến nay đã có khá nhiều nghiên cứu liên quan đến đối tượng này, tuy nhiên các bài viết chủ yếu đề cập đến những vấn

Trang 8

đề cụ thể như thủ tục xác lập quyền đối với nhãn hiệu, điều kiện để được bảo hộ

là nhãn hiệu, mục đích bảo hộ nhãn hiệu, giới thiệu pháp luật của nước ngoài về bảo hộ nhãn hiệu, giới thiệu các điều ước quốc tế hoặc hệ thống bảo hộ nhãn hiệu trên thế giới… Có thể kể đến những tài liệu sau: “Nhãn hiệu hàng hóa trong pháp luật dân sự”, “Nhãn hiệu hàng hóa và thương hiệu”, “Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa – Cẩm nang dành cho doanh nhân”, Luận án tiến sỹ “Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa ở Việt Nam”, Luận án tiến sỹ “Những vấn đề pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ “Bảo hộ nhãn hiệu trong pháp luật Việt Nam và pháp luật của Liên minh Châu Âu”, Luân văn thạc sỹ “Pháp luật bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa ở Việt Nam” Luận văn thạc sỹ

“Nhãn hiệu hàng hóa trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế”, Luật văn thạc sỹ

“Xác lập quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam”… Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu sâu và toàn diện nào về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ở góc độ của người trực tiếp làm công tác xác lập quyền đối với nhãn hiệu Hơn nữa, Luật Sở hữu trí tuệ mới được ban hành ngày 29/11/2005 và có hiệu lực từ 01.07.2006 nên các nghiên cứu trước đây chưa đề cập cũng như phân tích được những thay đổi trong các quy định về bảo hộ nhãn hiệu Qua quá trình thực hiện luật thực tiễn cũng nảy sinh những vấn đề bất cập

mà luật chưa điều chỉnh hoặc điều chỉnh chưa đầy đủ cần nghiên cứu, phân tích

và đề xuất hướng điều chỉnh Chính vì vậy, luận văn sẽ tiếp tục nghiên cứu những yêu cầu về mặt lý luận và thực tiễn điều chỉnh pháp luật đặt ra trong giai đoạn hiện nay trên cơ sở xác định thực trạng pháp luật nhằm đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật bảo hộ nhãn hiệu trong tương lai

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu một cách tổng thể các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 về bảo hộ nhãn hiệu trên cơ sở so sánh với các quy định trong các văn bản luật trước đây, với các đối tượng sở hữu trí tuệ khác, các quy định tương tự của nước ngoài cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật từ đó rút ra được những ưu điểm và hạn chế của cơ chế bảo hộ hiện hành và đưa ra các khuyến nghị nhằm hoàn thiện các quy

Trang 9

định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu sao cho đạt được hiệu quả cao nhất và phù hợp với chuẩn mực quốc tế

- Nghiên cứu nhãn hiệu với tư cách là một dạng của chỉ dẫn thương mại trong mối quan hệ với các đối tượng sở hữu trí tuệ gần gũi khác như tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, quyền tác giả

- Tìm hiểu thực trạng của việc bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam từ đó rút ra những điểm còn hạn chế và đưa ra những khuyến nghị nhằm tăng cường hiệu quả bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong luận văn này là phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành trong vấn đề bảo hộ nhãn hiệu để đưa ra một cái nhìn tổng thể của vấn đề Với việc

sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp này, luận văn chỉ ra một số điểm hạn chế, bất cập của pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu từ đó đưa ra một số giải pháp khắc phục để hoàn thiện các quy định pháp luật này

Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp luật học so sánh, thống

kê, phân tích để làm rõ quá trình phát triển của vấn đề được nghiên cứu, để đánh giá sự tương thích của pháp luật Việt Nam so với pháp luật quốc tế

Các phương pháp nói trên đều dựa trên nền tảng là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Trang 10

Kết quả nghiên cứu của luận văn không chỉ mang tính lý thuyết mà có tính thực tiễn, bởi trong quá trình nghiên cứu người thực hiện không chỉ nghiên cứu trên các quy định của luật thực định mà còn nghiên cứu qua các tình huống thực

tế trong và ngoài nước, việc nghiên cứu được tiến hành bởi chính người làm công tác áp dụng pháp luật trong cơ quan xác lập quyền Do đó, kết quả nghiên cứu của luận văn một mặt làm rõ các quy định của luật để từ đó tìm ra những điểm phù hợp và chưa phù hợp, đồng thời là cơ sở lý luận cho việc kiến nghị sửa đổi pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu, đặc biệt là việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT

5 Bố cục của Luận văn

Luận án gồm Phần mở đầu, 3 chương, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục

Chương 1: Khái quát chung về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

Chương 2: Bảo hộ nhãn hiệu theo Luật Sở hữu trí tuệ 2005

Chương 3: Thực trạng và hoạt động bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam và một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu

Trang 11

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU

1.1 Lý luận chung về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

1.1.1 Khái quát chung về nhãn hiệu

Nhãn hiệu đã xuất hiện từ thời cổ đại, được người chăn nuôi gia súc, nhà buôn, nhà sản xuất khi đó dùng để đánh dấu các đàn gia súc hoặc các đồ vật của mình Phát hiện của các nhà khảo cổ hiện đại cho thấy cách đây 3000 năm, những người thợ thủ công ấn Độ đã từng chạm khắc chữ ký của mình trên các tác phẩm nghệ thuật trước khi gửi hàng tới Iran Các nhà sản xuất Trung Quốc đã bán hàng hóa mang nhãn hiệu của mình tại Địa Trung Hải từ 2000 năm trước và cùng thời gian đó hàng ngàn nhãn hiệu đồ gốm La Mã khác nhau đã được sử dụng [21] Nhờ sự hưng thịnh của hoạt động giao thương mà việc sử dụng các dấu hiệu đó trên hàng hóa tương đối phát triển Ban đầu, nhãn hiệu không hoàn toàn thực hiện chức năng phân biệt mà việc sử dụng chúng chỉ để chỉ ra mối liên hệ giữa hàng hóa với nhà sản xuất ra hàng hóa, giữa tài sản với chủ sở hữu của tài sản mà thôi Cũng chính bởi lẽ đó, ở thời kỳ đầu tầm quan trọng về mặt kinh tế của nhãn hiệu vẫn còn hạn chế

Sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa kéo theo sự phát triển của hoạt động thương mại và buôn bán hàng hóa đã khiến cho nhãn hiệu ngày càng đóng vai trò quan trọng trong giao lưu kinh tế Việc một hàng hóa có thể được cung cấp bởi nhiều nhà sản xuất hoặc nhà kinh doanh khác nhau khiến cho người tiêu dùng bối rối khi lựa chọn, họ cần có một dấu hiệu chỉ dẫn để nhận biết hàng hóa của từng nhà sản xuất hoặc kinh doanh Nhãn hiệu chính là dấu hiệu giúp họ phân biệt được nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm Xã hội hiện đại với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ trong nền kinh tế thị trường đem lại cho con người cơ hội được sử dụng rất nhiều sản phẩm hàng hóa khác nhau Các nhà sản

Trang 12

xuất và thương gia cạnh tranh đưa đến cho người tiêu dùng sự lựa chọn đa dạng cho hàng hóa cùng loại Ngoài việc nhận biết qua hình thức, giá cả, chất lượng của sản phẩm thì một dấu hiệu đặc trưng của riêng nhà sản xuất hoặc kinh doanh

sẽ giúp cho người tiêu dùng dễ dàng lựa chọn sản phẩm cạnh tranh phù hợp với mình “Do vậy, hàng hóa phải được đặt tên Phương tiện để đặt tên hàng hóa trên thị trường chính là nhãn hiệu hàng hóa.” [21]

Khi mới ra đời nhãn hiệu thường chỉ là một dấu hiệu hoặc ký hiệu mang tính ngẫu nhiên Dần dần, cùng với sự phát triển của giao lưu thương mại, nhu cầu cá biệt hóa sản phẩm khiến cho các nhà sản xuất, kinh doanh ý thức hơn về nhãn hiệu Họ chú tâm nhiều hơn vào việc lựa chọn các dấu hiệu làm nhãn hiệu và lúc này nhiều nhãn hiệu đã không còn mang tính ngẫu nhiên nữa mà chứa đựng trong

nó dụng ý, sự gửi gắm của các nhà sản xuất, kinh doanh đối với sản phẩm được đưa ra thị trường

Nhãn hiệu theo nghĩa nguyên thủy thì chỉ dùng để đặt tên cho hàng hóa Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển của xã hội, hàng hóa được cung cấp cho con người không chỉ bó hẹp ở các sản phẩm cụ thể mà còn là các loại hình dịch vụ được cung cấp đa dạng trên thị trường Các dịch vụ này cũng cần được đặt tên để cho phép người tiêu dùng có thể phân biệt giữa các dịch vụ của các công ty khác nhau cùng cung cấp Những dấu hiệu này tạo thành nhãn hiệu dịch vụ

Do nhãn hiệu dịch vụ mang bản chất giống hệt nhãn hiệu hàng hóa nên hiện nay trên thế giới, thuật ngữ “nhãn hiệu” được dùng chung cho cả nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ ở Việt Nam, Bộ luật dân sự 1995 sử dụng thuật ngữ

“nhãn hiệu hàng hóa” cho cả hàng hóa và dịch vụ Bộ luật dân sự 2005 đã sử dụng thống nhất thuật ngữ “nhãn hiệu” cho nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch

vụ

Trên thương trường nhãn hiệu ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng, nhãn hiệu được coi như một công cụ để tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm, dịch vụ, thu hút khách hàng, tạo dựng niềm tin cho người tiêu dùng… Vai trò của nhãn hiệu càng trở nên quan trọng thì khả năng nhãn hiệu đó bị sao chép, làm giả, thậm chí

Trang 13

đánh cắp càng cao Thực tế này đòi hỏi phải có một cơ chế hữu hiệu để ghi nhận chính thức và công khai những người sở hữu nhãn hiệu, từ đó duy trì và củng cố đặc tính phân biệt của nhãn hiệu, bảo vệ nhà sản xuất, nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng Hệ thống bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ra đời nhằm thỏa mãn nhu cầu thực tế đó

Nhãn hiệu là một trong các đối tượng SHTT đang được các quốc gia bảo hộ Nhãn hiệu thuộc về nhánh quyền sở hữu công nghiệp Khái niệm “sở hữu công nghiệp” bao gồm các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp Đó là những sản phẩm của sáng tạo trí tuệ tạo ra hoặc kết tinh trên sản phẩm để làm phong phú thêm đời sống vật chất cho con người Bên cạnh đó, sở hữu công nghiệp còn bao gồm nhãn hiệu, các chỉ dẫn thương mại và việc bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh Với các đối tượng này, khía cạnh sáng tạo trí tuệ vẫn có song không mang tính quyết định như các đối tượng kia, mà yếu tố quyết định ở đây là việc chuyển tải thông tin tới người tiêu dùng về sản phẩm và dịch vụ cung cấp trên thị trường và việc bảo hộ nhằm chống lại việc sử dụng không được cho phép những dấu hiệu

có khả năng lừa dối người tiêu dùng

Khái niệm nhãn hiệu có thể khác nhau ở từng nước, nhưng nhìn chung, khái niệm này có sự thống nhất ở nội dung: nhãn hiệu là bất kỳ dấu hiệu nào có thể phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một chủ thể với các chủ thể khác trong cùng lĩnh vực Nội dung này được thể hiện trong Điều 15 Hiệp định TRIPS: “Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc một tổ hợp các dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu” [17] Điểm khác nhau có chăng giữa khái niệm nhãn hiệu của các nước chính là ở nội hàm mà khái niệm này đề cập tới Dấu hiệu nói chung có thể bao gồm chữ cái, chữ số, từ ngữ, khẩu hiệu, hình ảnh, màu sắc, mùi

vị, âm thanh, hình thức bao bì… nhưng tùy hệ thống pháp luật ở mỗi quốc gia mà phạm vi của các dấu hiệu này được giới hạn ở những dấu hiệu nhất định

Theo định nghĩa của Hiệp hội nhãn hàng thế giới (INTA) thì nhãn hiệu có thể là từ ngữ, tên gọi, biểu tượng, hình ảnh, khẩu hiệu hoặc hình dạng của bao gói

Trang 14

hoặc kết hợp của các yếu tố đó phục vụ cho việc xác định và phân biệt một sản phẩm cụ thể của những chủ thể khác nhau trên thị trường hoặc trong kinh doanh Trong các định nghĩa về nhãn hiệu chúng ta dễ dàng nhận thấy một điểm chung nổi bật đó là nhãn hiệu có thể là bất kỳ dấu hiệu nào miễn là có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của các chủ thể khác nhau Như vậy, về mặt lý luận, các dấu hiệu thuộc dạng nhìn thấy được và thuộc dạng không thể nhìn thấy được như mùi vị hoặc âm thanh đều có thể trở thành nhãn hiệu Việc thừa nhận dấu hiệu thuộc dạng nào có thể sử dụng làm nhãn hiệu, vì thế, tùy thuộc và điều kiện thực tiễn của mỗi quốc gia Phần lớn các quốc gia chỉ cho phép đăng ký các dấu hiệu được thể hiện dưới dạng đồ họa (nghĩa là có thể nhìn thấy được), một trong các lý do là bởi chỉ các nhãn hiệu thuộc dạng này mới có thể ghi được trong sổ đăng bạ quốc gia và công bố một cách hữu hình trên công báo nhãn hiệu quốc gia, để công bố công khai với công chúng việc nhãn hiệu đó đã được xác lập quyền và được Nhà nước bảo hộ Về vấn đề này, Điều 15.1 Hiệp định TRIPS quy định “… Các thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được đăng ký là các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được” [17] Hiệp ước Luật nhãn hiệu hàng hóa (TLT) cũng chỉ thừa nhận sự bảo hộ đối với các dấu hiệu nhìn thấy được, không thừa nhận sự bảo hộ đối với nhãn hiệu vô hình, cụ thể là nhãn hiệu âm thanh và mùi vị “Hiệp ước này không áp dụng đối với nhãn hiệu là ảnh chụp ba chiều (holography) và nhãn hiệu vô hình, cụ thể là nhãn hiệu âm thanh và nhãn hiệu mùi.” [25]

Có thể lấy ví dụ về các nhãn hiệu nổi tiếng được cấu thành từ các dấu hiệu khác nhau như sau:

Nhãn hiệu dạng từ ngữ: CHANEL, TOYTA, Trung Nguyên

Nhãn hiệu dạng hình ảnh: Đăng ký quốc tế số 433071

Trang 15

Nhãn hiệu kết hợp hình ảnh và từ ngữ:

Nhãn hiệu quốc gia số 90714

1.1.2 Chức năng của nhãn hiệu

Thông thường, một nhãn hiệu có những chức năng chính là: chức năng

phân biệt, chức năng chỉ dẫn nguồn gốc, chức năng thông tin về chất lượng và chức năng quảng cáo Trên thực tế hai chức năng đầu của nhãn hiệu có tính phụ

thuộc lẫn nhau và cần luôn được xem xét cùng nhau Hai chức năng sau mang tính phái sinh, có được khi nhãn hiệu đã có hai chức năng đầu

Nhãn hiệu ra đời với mục đích để phân biệt hàng hóa của chủ thể này với hàng hóa của chủ thể khác Để thực hiện được chức năng này nhãn hiệu cần phải

có khả năng tự phân biệt và khả năng phân biệt với nhãn hiệu của chủ thể khác Khả năng tự phân biệt của nhãn hiệu tạo cho nhãn hiệu một ấn tượng tổng thể tác động vào nhận thức của người tiêu dùng để họ có thể nhận biết, ghi nhớ và so sánh với các nhãn hiệu khác Tính chất này có thể thay đổi, tùy thuộc vào việc sử dụng thực tế nhãn hiệu trên thị trường Chẳng hạn như một nhãn hiệu là dấu hiệu đơn giản (hai chữ cái, tập hợp hình học đơn giản…) sau một thời gian dài được sử dụng liên tục với số lượng lớn và rộng rãi, có thể trở thành dấu hiệu có khả năng

tự phân biệt cho người tiêu dùng “PN” là một nhãn hiệu được sử dụng rộng rãi cho các sản phẩm mỹ phẩm của Hãng Shiseido Nhật Bản

Để người tiêu dùng có thể dùng để phân biệt một sản phẩm, nhãn hiệu phải chỉ ra được nguồn gốc của hàng hóa Điều này không có nghĩa là nhãn hiệu phải thông tin cho người tiêu dùng về người thực sự đã sản xuất ra sản phẩm hoặc thậm chí người bán sản phẩm Thực ra nhãn hiệu là dấu hiệu để người tiêu dùng tìm được một chủ thể nhất định để tin tưởng, tức là chủ thể sẽ chịu trách nhiệm về

Trang 16

hàng hóa mang nhãn hiệu đó Chức năng chỉ dẫn nguồn gốc liên quan mật thiết với chức năng phân biệt, khi mà nhãn hiệu cho phép người tiêu dùng phân biệt được sản phẩm mang nhãn hiệu đó với nhãn hàng hóa của các chủ thể khác đưa ra trên thị trường thì lúc đó nhãn hiệu đã hoàn thành chức năng chỉ dẫn nguồn gốc Chức năng thông tin về chất lượng của nhãn hiệu được thể hiện thông qua việc người tiêu dùng nhận biết chất lượng của sản phẩm qua nhãn hiệu Chức năng này có được khi nhãn hiệu đã được sử dụng một thời gian nhất định trên sản phẩm có chất lượng chiếm được sự tin tưởng của người tiêu dùng Chức năng

“chất lượng” của một nhãn hiệu không thể hiểu theo nghĩa là bằng chứng xác nhận chất lượng theo những tiêu chí luật định mà đây là sự đánh giá “tiêu chuẩn”

từ góc độ người sử dụng sản phẩm Ví dụ có rất nhiều nhãn hiệu ô tô đang được

sự dụng tại thị trường Việt Nam và đều đạt những tiêu chuẩn chất lượng chung do pháp luật quy định, nhưng cứ nhắc đến nhãn hiệu “TOYOTA” người tiêu dùng sẽ nghĩ đến một sản phẩm có chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện khí hậu và địa hình Việt Nam, lượng tiêu hao nhiên liệu thấp… Hoặc đối với mỹ phẩm, khi nhắc đến những sản phẩm mang nhãn hiệu CHANEL, L’OREAL, SHISEIDO… người tiêu dùng sẽ hình dung tới ngay dòng sản phẩm cao cấp với chất lượng rất tốt Nhãn hiệu đã được người tiêu dùng đánh giá tốt về chất lượng sử dụng cho các sản phẩm mới được đưa ra thị trường sẽ như một sự đảm bảo thu hút được lòng tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm đó

Chức năng quảng cáo của nhãn hiệu nhằm thúc đẩy việc tiếp thị bán hàng và tiến hành dịch vụ Nhãn hiệu khi mới ra đời chỉ là những dấu hiệu mang tính ngẫu nhiên Nhưng qua quá trình sử dụng các chủ thể sử dụng nhãn hiệu đã nhận ra cần phải lựa chọn những nhãn hiệu độc đáo, ấn tượng để thu hút sự chú ý của khách hàng hướng tới sản phẩm của mình

1.1.3 Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

Như đã trình bày ở trên, việc sử dụng nhãn hiệu là một nhu cầu khách quan

để tạo điều kiện cho các nhà sản xuất, kinh doanh cá thể hóa sản phẩm, dịch vụ nhằm phân biệt với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại của các chủ thể khác Đồng

Trang 17

thời nhãn hiệu cũng giúp người tiêu dùng có định hướng khi chọn lựa sản phẩm, dịch vụ phù hợp

Đặc tính nổi bật của nhãn hiệu là dùng để phân biệt Do đó không thể tồn tại cùng lúc những nhãn hiệu của các chủ thể khác nhau trùng hoặc tương tự nhau cho cùng sản phẩm, dịch vụ Để đảm bảo được điều này cần có một cơ chế nhất định chống lại các hành vi gây nhầm lẫn hoặc có nguy cơ gây nhầm lẫn như hành

vi sao chép, làm giả hàng hóa mang nhãn hiệu Công cụ để thực hiện nhiệm vụ này không gì khác hơn chính là hệ thống pháp luật

Nhãn hiệu là tài sản của chủ thể sở hữu nhãn hiệu Tuy nhiên, nhãn hiệu là một loại tài sản đặc biệt, không giống như các tài sản truyền thống – tài sản “hữu hình” – khác Đối với nhãn hiệu, chủ sở hữu không thể trực tiếp thực hiện sự chiếm hữu, sử dụng và định đoạt bằng các hành vi mang tính vật lý Chủ sở hữu

sẽ thực hiện các quyền năng sở hữu của mình thông qua một cơ chế pháp lý đặc thù, đó là “quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu” Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được hiểu là quyền sở hữu của cá nhân, tổ chức đối với nhãn hiệu Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở

sử dụng hoặc theo văn bằng bảo hộ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Cụ thể là, ở Việt Nam, “Quyền sở hữu công nghiệp đối với…, nhãn hiệu, … được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký… hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; đối với nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở hữu được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký” [36]

Do tính chất đặc biệt của loại tài sản có tên là nhãn hiệu nên quyền đối với tài sản này cũng không giống quyền đối với các tài sản hữu hình khác, đó là quyền bị giới hạn về thời gian, không gian, được xác định theo phạm vi bảo hộ,

và có những giới hạn nhất định

Trang 18

Về thời gian, quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu có hiệu lực trong thời hạn ghi trên văn bằng bảo hộ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp, thông thường là 10 năm, và có thể gia hạn liên tiếp nhiều lần, mỗi lần 10 năm

Về không gian, so với quyền sở hữu tài sản thông thường, quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu mang tính lãnh thổ tuyệt đối Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà trên

cơ sở pháp luật nước đó, quyền sở hữu công nghiệp phát sinh Trong trường hợp chủ sở hữu nhãn hiệu muốn nhận được sự bảo hộ quyền của mình tại nước khác,

họ cần phải nộp đơn yêu cầu bảo hộ tại nước họ mong muốn nhận được sự bảo hộ hoặc nộp đơn đăng ký quốc tế có chỉ định nước đó (nếu nước định nộp đơn có tham gia điều ước quốc tế liên quan đến bảo hộ sở hữu công nghiệp nói chung)

Do quyền sở hữu công nghiệp mang tính lãnh thổ tuyệt đối nên kể cả trong trường hợp quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở quan hệ xã hội có yếu tố nước ngoài thì cũng không làm phát sinh hiện tượng xung đột pháp luật (hiện tượng pháp lý khi có hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng điều chỉnh một quan hệ dân) Chỉ pháp luật của chính nước đã chấp nhận bảo hộ mới

có giá trị điều chỉnh các vấn đề pháp lý liên quan đến đối tượng sở hữu công nghiệp đó Chủ thể nước ngoài muốn được bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam phải tuân thủ các điều kiện để được xác lập quyền cũng như được hưởng quyền quy định theo pháp luật Việt Nam Ngược lại, một nhãn hiệu của Việt Nam muốn được bảo hộ tại nước ngoài cũng phải thỏa mãn các điều kiện tương tự Cũng do tính chất lãnh thổ tuyệt đối mà một nhãn hiệu đã được bảo hộ ở nước này nhưng chưa chắc sẽ được bảo hộ tại nước khác do mỗi nước có những quy định khác nhau về tiêu chí bảo hộ Ví dụ, trước khi Luật SHTT 2005 được ban hành, các nhãn hiệu tạo thành từ các chữ cái không phát âm được như một từ, không được thể hiện dưới dạng hình họa thuộc đối tượng không được Nhà nước bảo hộ, trong khi đó, rất nhiều nhãn hiệu tương tự như thế lại được các nước khác bảo hộ Tính lãnh thổ tuyệt đối của quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu còn được thể hiện rõ trong Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp Theo đó,

Trang 19

“một đơn đăng ký nhãn hiệu do công dân của một nước thành viên của Liên minh nộp tại bất cứ nước nào trong Liên minh cũng không thể bị từ chối – hoặc một đăng ký nhãn hiệu cũng không thể bị hủy bỏ - với lý do rằng việc nộp đơn, đăng

ký, hoặc gia hạn tại nước xuất xứ không có hiệu lực [17] “Một nhãn hiệu đã đăng

ký hợp lệ tại một nước thành viên của Liên minh được coi là không phụ thuộc vào các nhãn hiệu đăng ký tại các nước thành viên khác của Liên minh, kể cả nước xuất xứ [17]

Với tài sản thông thường, quyền sở hữu được thể hiện thông qua việc độc quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản Với tài sản là nhãn hiệu, quyền này được thể hiện thông qua quyền sử dụng, cho phép người khác sử dụng, ngăn cấm người khác sử dụng và định đoạt nhãn hiệu được bảo hộ nếu không được sự cho phép của chủ sở hữu

Quyền độc quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu chỉ giới hạn đối với hành vi sử dụng nhãn hiệu tương tự gây nhầm lẫn cho hàng hóa, dịch vụ cùng loại của người khác vì mục đích thương mại hoặc gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về hàng hóa, dịch vụ được cung cấp bởi chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng Quyền này không

áp dụng đối với hành vi sử dụng vì mục đích phi thương mại và một số trường hợp hạn chế quyền khác

Xét về tính lãnh thổ thì quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu là quyền độc quyền tuyệt đối Nhưng trong phạm vi một lãnh thổ quốc gia thì quyền này lại chỉ mang tính chất tương đối Vì trong lĩnh vực bảo hộ sở hữu công nghiệp nói riêng và SHTT nói chung luôn tồn tại các quyền độc quyền khác nhau của các chủ sở hữu khác nhau, do đó, quyền độc quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu này phải tôn trọng và đảm bảo quyền độc quyền của chủ thể khác và của xã hội

1.1.4 Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

Nhãn hiệu là một tài sản vô hình rất có giá trị trong giao lưu thương mại, là một đối tượng SHTT dễ bị xâm hại Nhãn hiệu đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ những nhà sản xuất, kinh doanh trung thực, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, góp phần tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các chủ thể, từ đó

Trang 20

tạo sự ổn định cho nền kinh tế mỗi quốc gia Do tầm quan trọng như vậy của nhãn hiệu nên các nước đều có những cơ chế, chính sách để bảo hộ nhãn hiệu từ phía Nhà nước

Với các tài sản hữu hình, chủ sở hữu có thể thực hiện quyền sở hữu của mình đối với tài sản thông qua việc nắm giữ tài sản, và nhờ đó thậm chí không cần đến sự công nhận quyền sở hữu của Nhà nước thì tài sản vẫn thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu Với tài sản hữu hình, quyền đối với tài sản này rất khác

“Loại quyền về tài sản này phải được Nhà nước công nhận và bảo vệ mới thực sự chống lại được hành vi xâm phạm của bên thứ ba trong quá trình khai thác.” [39] Nội dung của quyền này được thể hiện thông qua việc Nhà nước ghi nhận các loại tài sản vô hình được Nhà nước bảo hộ, cách thức xác lập quyền, nội dung quyền, các hạn chế quyền và cơ chế bảo vệ quyền

Xuất phát từ những tính chất đặc thù, riêng có của từng loại đối tượng sở hữu công nghiệp, pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới đều ghi nhận hai nguyên tắc xác lập quyền cơ bản, đó là (i) xác lập quyền theo nguyên tắc đăng ký bảo hộ tại cơ quan có thẩm quyền và (ii) xác lập quyền theo nguyên tắc tự động khi đáp ứng các điều kiện nhất định Đối với đối tượng sở hữu công nghiệp cụ thể

là nhãn hiệu thì cả hai nguyên tắc này đều được áp dụng Với nhãn hiệu không phải là nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, với nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở hữu công nghiệp được xác định khi nhãn hiệu thỏa mãn các tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng được quy định trong luật, không cần thực hiện thủ tục đăng

ký Thông thường việc công nhận nhãn hiệu nổi tiếng chỉ được đặt ra khi có hiện tượng xâm phạm quyền và cơ quan nhà nước có thẩm quyền được yêu cầu xác định xem có thực sự hay không việc xâm phạm quyền của một nhãn hiệu nổi tiếng

Để một dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ được Nhà nước bảo

hộ là một nhãn hiệu, dấu hiệu đó cần phải thỏa mãn những tiêu chí nhất định gọi chung là tiêu chuẩn bảo hộ Quy định về tiêu chuẩn bảo hộ nhằm đảm bảo một

Trang 21

nhãn hiệu có khả năng tự phân biệt, phân biệt với dấu hiệu khác, không xâm phạm đến trật tự công cộng và đạo đức xã hội Tùy theo tình hình phát triển kinh

tế, xã hội cũng như quan niệm truyền thống của mỗi quốc gia mà tiêu chuẩn bảo

hộ này sẽ khác nhau ở từng nước

Quyền sở hữu đối với nhãn hiệu thể hiện thông qua quyền độc quyền được Nhà nước ghi nhận, đó là độc quyền sử dụng, định đoạt, ngăn cấm người khác sử dụng và định đoạt khi không được phép Một nguyên tắc đặc thù trong hệ thống pháp luật SHTT nói chung là luôn phải đảm bảo sự hài hòa về mặt lợi ích giữa các đối tượng có liên quan trong xã hội Điều này có vẻ như mâu thuẫn với nguyên tắc độc quyền là người có quyền sở hữu sẽ nắm quyền tuyệt đối và không

bị hạn chế Để giải quyết mâu thuẫn này, các hệ thống bảo hộ sở hữu công nghiệp đều sử dụng cơ chế “độc quyền tương đối” cho chủ sở hữu Có thể dễ dàng thấy tính “độc quyền tương đối” được thể hiện trong các quy định liên quan đến hạn chế quyền của chủ sở hữu mà ví dụ cụ thể nhất là trường hợp nhập khẩu song song

Bảo hộ nhãn hiệu không chỉ bao gồm các quy định pháp luật để chủ sở hữu thực hiện các quyền được xác định trong nội dung quyền của chủ sở hữu, mà quan trọng hơn cả là quy định xử lý các hành vi xâm phạm

Qua các phân tích ở trên có thể hiểu bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu là việc Nhà nước bằng công cụ pháp luật của mình ghi nhận quyền của chủ sở hữu đối với nhãn hiệu đồng thời quy định cơ chế xác lập quyền, nội dung quyền và cơ chế thực thi quyền đối với nhãn hiệu

1.2 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống bảo hộ nhãn hiệu trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống bảo hộ nhãn hiệu trên thế giới

Vấn đề bảo hộ nhãn hiệu đã được đặt ra và phát triển từ lâu đời Ngay từ thời

cổ đại, nhiều vùng đã có tục lệ dùng một dấu hiệu riêng gắn lên sản phẩm để đánh dấu người sản xuất hoặc người chủ sở hữu của sản phẩm Theo kết quả nghiên

Trang 22

cứu của các nhà khảo cổ học thì cách đây 3000 năm, những người thợ thủ công ấn

Độ đã từng chạm khắc chữ ký của mình trên các tác phẩm nghệ thuật trước khi gửi hàng tới Iran Cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hoá, nhất là khi nền sản xuất cơ khí ra đời, nhiều nhà sản xuất khác nhau cùng đưa ra thị trường một loại hàng thì những dấu hiệu trên bắt đầu thực hiện chức năng phân biệt sản phẩm cùng loại của các nhà sản xuất khác nhau Tuy nhiên, trong quá trình cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường, xuất hiện hiện tượng bắt chước nhãn hiệu, gây nhiều thiệt hại cho chủ nhãn hiệu, dẫn đến sự gia tăng số vụ xử kiện tại các tòa án, các toà án thời đó phải phán quyết quyền đối với một nhãn hiệu cụ thể thuộc về ai? Trong trường hợp này, nguyên tắc thường được các tòa án áp dụng là: quyền thuộc về người đầu tiên sử dụng nhãn hiệu hàng hòa Để dễ theo dõi các nhãn hiệu bị tranh chấp, lúc đầu tòa án sử dụng sổ nhãn hiệu Sau đó sổ này còn ghi cả các nhãn hiệu khác chưa bị tranh chấp để đề phòng những tranh chấp xảy ra trong tương lai, rồi tiến tới ghi các nhãn hiệu mà chủ các nhãn hiệu đó có ý định sẽ sử dụng Sổ theo dõi nhãn hiệu hàng hóa dần dần trở thành sổ đăng bạ nhãn hàng và cũng từ đó hình thành phương thức đăng ký nhãn hiệu hàng hóa tại các tòa án Song, vào thời gian này, việc đăng ký nhãn hiệu được thực hiện theo thông lệ chứ không theo quy định của một văn bản pháp luật nào Chỉ đến năm 1857 Luật Nhãn hiệu hàng hoá mới được ban hành đầu tiên tại Pháp Theo luật này, quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa thuộc về người thực hiện sớm nhất một trong hai việc: sử dụng nhãn hiệu và đăng ký nhãn hiệu theo quy định của luật Nếu một người đăng ký một nhãn hiệu nhưng thời điểm sử dụng nhãn hàng của người đó lại sau người đăng ký thứ hai thì quyền đối với nhãn hiệu thuộc về người thứ hai Tiếp theo Pháp, các nước khác đã lần lượt ban hành bộ luật nhãn hiệu hàng hoá của mình như Italia (năm 1868), Bỉ (năm 1879), Mỹ (năm 1881), Anh (năm 1883), Đức (năm 1894), Nga (năm 1896) … số đơn đăng ký và số giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa ngày càng tăng ở từng nước, đặc biệt ở các nước có nền kinh

tế thị trường phát triển

Trang 23

Cùng với sự phát triển giao lưu kinh tế quốc tế, bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá trở thành một việc hết sức quan trọng đối với nhà sản xuất nhằm tạo lập và tăng cường khả năng cạnh tranh cho sản phẩm của mình không chỉ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà còn trên trường quốc tế Xu hướng toàn cầu hoá kinh tế thế giới khiến cho hàng hóa trở nên dễ dàng lưu thông từ quốc gia này sang quốc gia khác, thậm chí cả ở những nơi xa xôi về địa lý đối với nước xuất xứ Tuy nhiên, việc bảo hộ nhãn hiệu trên quy mô quốc tế gặp một trở ngại rất lớn do đặc thù của quyền SHTT nói chung là bị giới hạn bởi yếu tố lãnh thổ, theo đó quyền đối với nhãn hiệu xác lập ở quốc gia nào thì chỉ có giá trị trên lãnh thổ quốc gia đó Mà bảo đảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm ở những thị trường nước ngoài, chống lại tình trạng hàng nhái, hàng giả, cạnh tranh một cách bất chính, vấn đề bảo hộ nhãn hiệu ở các nước khác ngoài nước xuất xứ của sản phẩm càng trở thành vấn đề cần thiết và cấp bách Vì thế, chủ nhãn hiệu có nhu cầu được mở rộng sự bảo hộ nhãn hiệu đến cả những vùng lãnh thổ mà mình sẽ xuất khẩu hàng hóa tới bằng các thủ tục xác lập quyền của mình một cách kịp thời tại các vùng lãnh thổ này Nhằm đảm bảo cho nhãn hiệu được bảo hộ rộng khắp trên phạm vi quốc tế, theo sáng kiến của Pháp, Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp được ký kết ngày 20/3/1883 tại Paris, được xem xét lại tại Brussels năm 1900, tại Washington năm 1911, tại La Hay năm 1925, tại Luân Đôn năm 1934, tại Lisbon năm 1958, tại Stockholm năm 1967 và được sửa đổi vào năm 1979 Tính đến 01/08/2007 Công ước Paris đã có 171 nước thành viên Việt Nam trở thành thành viên Công ước Paris từ 08/3/1949 Công ước Paris ra đời đã khiến cho trở ngại do yếu tố lãnh thổ quốc gia không còn, công ước Paris đã quy định một số nguyên tắc chung đối với hệ thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp mà các nước thành viên phải tuân thủ, khiến cho các hệ thống này giảm các khác biệt và tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các chủ thể xác lập quyền bên ngoài nước xuất xứ.

Tuy nhiên, theo Công ước Paris, công dân của các nước thành viên khi đăng

ký bảo hộ nhãn hiệu ở nước ngoài, mặc dù được hưởng chế độ đối xử quốc gia tương đương như sự bảo hộ dành cho công dân của chính nước đó, nhưng chủ

Trang 24

nhãn hiệu vẫn phải thực hiện các thủ tục xác lập quyền độc lập tại từng nước thành viên Nhãn hiệu muốn được bảo hộ ở càng nhiều quốc gia thì tốn càng nhiều thời gian và chi phí Để khắc phục khó khăn này, hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu đã ra đời Ngày 14/4/1891 tại Madrid, Tây Ban Nha, một số nước thành viên Công ước Paris đã cùng ký kết Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu Theo Thỏa ước này, công dân một nước thành viên của Thỏa ước muốn nhận được sự bảo hộ nhãn hiệu ở nước thành viên khác thì trước tiên cần phải đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại cơ quan có thẩm quyền ở quốc gia mình, sau đó, thông qua cơ quan này nộp đơn đăng ký quốc tế tại Văn phòng quốc tế WIPO trong đó có chỉ ra nước thành viên mà mình mong muốn nhận được sự bảo hộ Văn phòng quốc tế sẽ công bố đơn đăng ký quốc tế và nước thành viên được chỉ định có thời hạn 1 năm kể từ ngày công bố đăng ký quốc tế để xem xét việc có chấp thuận bảo hộ nhãn hiệu hay không Hết thời hạn 1 năm nếu nước được chỉ định không ra thông báo từ chối thì nhãn hiệu mặc nhiên được bảo hộ tại nước thành viên đó Nhãn hiệu là đối tượng của một đăng ký quốc tế theo Thỏa ước Madrid chỉ khi nhãn hiệu đó đã được bảo hộ tại nước xuất xứ Thỏa ước Madrid

ra đời đã giúp đơn giản hóa thủ tục đăng ký và duy trì hiệu lực của nhãn hiệu bên ngoài lãnh thổ quốc gia mỗi nước thành viên Chỉ thông qua một đơn duy nhất, sử dụng một ngôn ngữ (tiếng Pháp), nộp phí bằng một loại tiền tới một cơ quan (Văn phòng quốc tế của WIPO), chủ nhãn hiệu có thể nhận được sự bảo hộ ở nhiều quốc gia khác nhau ngoài nước xuất xứ Tính đến 01/8/2007 đã có 57 nước là thành viên của Thỏa ước Madrid

Từ khi ra đời cho đến nay Thỏa ước Madrid đã hỗ trợ đắc lực cho chủ nhãn hiệu của các nước thành viên đạt được sự bảo hộ ở nước ngoài với thủ tục đơn giản và đỡ tốn kém nhất Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, Thỏa ước Madrid cũng bộc lộ những hạn chế nhất định khiến nó chưa thực sự thu hút được đông đảo các quốc gia tham gia, trong đó có một số nước có nền kinh tế phát triển như Nhật Bản, Anh Quốc và Hoa Kỳ Với mục đích làm cho hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu có thể được nhiều nước hơn chấp nhận, Nghị định thư liên quan đến

Trang 25

Thỏa ước Madrid đã được thông qua năm 1989, có hiệu lực từ ngày 1/12/1995 và hoạt động từ 1/4/1996 Nghị định thư Madrid ra đời đã khắc phục được những hạn chế của Thỏa ước Madrid, đó là: cho phép đăng ký quốc tế được dựa trên các đơn quốc gia, chứ không chỉ dựa trên đăng ký quốc gia; thời hạn 18 tháng thay cho thời hạn một năm dành cho nước thành viên được chỉ định để từ chối bảo hộ, với khả năng có được thời gian dài hơn trong trường hợp từ chối dựa trên đơn phản đối; khả năng chuyển đổi một đăng ký quốc tế không còn được bảo hộ vì nhãn hiệu cơ sở bị mất hiệu lực tại nước xuất xứ thành các đơn quốc gia hoặc khu vực tại một số hoặc tất cả các bên tham gia được chỉ định, với ngày nộp đơn, ngày ưu tiên (nếu có) của đăng ký quốc tế; khả năng dành cho Cơ quan của nước được chỉ định được quy định một khoản “lệ phí riêng” (có giới hạn); dành khả năng tham gia Nghị định thư cho các Tổ chức liên chính phủ có Cơ quan đăng ký nhãn hiệu với hiệu lực trong lãnh thổ của tổ chức đó Tính 01/8/2007 đã có 74 nước và tổ chức là thành viên của Nghị định thư Madrid Việt Nam hiện là thành viên của cả Thỏa ước và Nghị định thư Madrid

Với sự ra đời của các Điều ước quốc tế nêu trên, khung pháp luật quốc tế về bảo hộ nhãn hiệu đã hình thành và ngày càng phát triển, đóng góp đáng kể trong việc bảo hộ nhãn hiệu trên phạm vi quốc tế Tuy nhiên, có thể dễ dàng nhận thấy các Điều ước quốc tế đó mới chỉ tập trung vào việc thiết lập cơ chế xác lập quyền đối với nhãn hiệu Quyền đã được xác lập mà không được bảo vệ một cách đúng mức thì các quyền đó không có giá trị Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT (Hiệp định TRIPS) ra đời là một sự sửa chữa kịp thời cho khiếm khuyết đó Đây là một Hiệp định trong khuôn khổ của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Mặc dù không phải là Hiệp định đầu tiên liên quan đến SHTT nhưng nó là Hiệp định quốc tế đầu tiên đề cập đến các vấn đề liên quan đến cơ chế thực thi quyền và quy định một hệ thống giải quyết tranh chấp Hiệp định TRIPS thừa nhận tầm quan trọng của việc bảo hộ SHTT đối với hoạt động thương mại và đầu tư, và các thiệt hại đối với các quyền lợi thương mại hợp pháp khi quyền SHTT không được bảo hộ và thực thi thỏa đáng và hiệu quả Từ

Trang 26

năm 1995, Hiệp định TRIPS đã mang lại những thay đổi căn bản trong lĩnh vực SHTT Hiệp định TRIPS đã khẳng định lại và mở rộng các chuẩn mực và quy định của Công ước Paris, làm thay đổi bộ mặt của luật SHTT vì các nước thành viên WTO thay đổi luật của họ để phù hợp với Hiệp định TRIPS

Ngoài các Điều ước quốc tế nêu trên, còn có một số điều ước quốc tế khác

hỗ trợ cho quá trình xác lập quyền đối với nhãn hiệu như Thỏa ước Nice về phân loại quốc tế hàng hóa, dịch vụ dùng để đăng ký nhãn hiệu, Thỏa ước Vienna về phân loại quốc tế các yếu tố hình vẽ của nhãn hiệu

1.2.2 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam

Nhãn hiệu xuất hiện và được sử dụng tại nhiều nước trên thế giới từ cách đây hàng nghìn năm, sự ra đời của hệ thống bảo hộ nhãn hiệu trên thế giới cũng

đã xuất hiện cách đây hàng trăm năm “Tại Việt Nam, vào thế kỷ XV, dưới thời vua Lê Thánh Tông cũng đã có những quy định về việc xử phạt đối với tội làm hàng giả trong Bộ luật Hồng Đức Tuy không phải là quy định trực tiếp về nhãn hiệu hàng hóa nhưng quy định này lại có giá trị pháp lý trong việc bảo vệ các nhãn hiệu hàng hóa được công nhận đối với xã hội lúc bấy giờ.” [38] Đây được coi là một trong những quy định đầu tiên về bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam.”

Trước chiến thắng mùa xuân năm 1975 nước ta tạm thời bị chia cắt thành hai miền, với hai chế độ xã hội khác nhau Ngày 08/3/1949, ở Miền Nam, với danh nghĩa nước Việt Nam Cộng hòa, Chính phủ ngụy quyền đã tham gia ký kết hai Điều ước quốc tế quan trọng trong lĩnh vực SHTT là Công ước Paris 1883 và Thỏa ước Madrid năm 1891

Các văn bản liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu cũng đã được chính quyền hai miền ban hành ở miền Bắc, ngày 03/1/1958 Thủ tướng Chính phủ đã ký nghị định số 175-TTg trong đó có đề cập đến việc đăng ký nhãn hiệu thương phẩm ở miền Nam, theo luật 12/57 ngày 01/8/1957 và luật số 13/57 ngày 01/8/1957 một

số đối tượng sở hữu công nghiệp đã được ghi nhận bảo hộ như sáng chế, nhãn hiệu…

Trang 27

Sau giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước 30/4/1975, vì một

số lý do việc bảo hộ pháp lý các đối tượng sở hữu công nghiệp tạm thời bị gián đoạn

Ngày 14/12/1982 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 197-HĐBT về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa kèm theo Điều lệ về nhãn hiệu hàng hóa - văn bản pháp quy đầu tiên, đặt nền móng cho hệ thống pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu Văn bản này tuy là văn bản đầu tiên, nhưng quy định khá đầy đủ và toàn diện các vấn đề về bảo hộ nhãn hiệu từ tiêu chuẩn bảo hộ, hình thức bảo hộ, phạm vi bảo

hộ cho đến các quy định về bảo vệ và xử lý các hành vi xâm phạm quyền của chủ

sở hữu Trên cơ sở Nghị định này, ngày 29/6/1984 Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa đầu tiên được cấp chính thức đánh dấu hoạt động bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam Tính đến cuối năm 1988, Cục Sáng chế (cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa) đã tiếp nhận hơn 2.000 đơn đăng ký sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp và đã cấp hơn 1.700 văn bằng bảo hộ, trong đó phần lớn là nhãn hiệu do người nước ngoài đăng ký

Kể từ năm 1986, Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới chuyển từ nền kinh tế

kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế, chế độ sở hữu

có nhiều thay đổi Hoạt động bảo hộ SHTT nói chung và bảo hộ nhãn hiệu nói riêng thực sự trở thành một nhu cầu ngày càng lớn và cấp bách kể từ ngày chính sách đổi mới và mở cửa đi vào chiều sâu Trước tình hình đó, nhiều quy định về bảo hộ nhãn hiệu trong Nghị định 197/HĐBT không còn phù hợp Nhằm làm cho hoạt động sở hữu công nghiệp phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế mới, nâng cao hiệu lực của cơ chế bảo hộ nhãn hiệu, Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đã được thông qua ngày 28/01/1989, có hiệu lực ngày 11/2/1989, thay thế cho Nghị định số 197/HĐBT Với việc ban hành Pháp lệnh này, các thủ tục xem xét đơn, cấp văn bằng bảo hộ đã được quy định chặt chẽ, rõ ràng hơn, các biện pháp chế tài bảo hộ quyền đã được mở rộng hơn, không chỉ giới hạn trong phạm

vi xử lý hành chính mà chủ sở hữu còn có quyền khởi kiện ra tòa án đối với các hành vi xâm phạm quyền

Trang 28

Một sự kiện đặc biệt quan trọng trong lịch sự hoạt động SHTT ở Việt Nam, đánh dấu bước chuyển quan trọng về chất trong hệ thống pháp luật là việc ra đời

Bộ luật Dân sự năm 1995 với Phần thứ VI quy định về quyền SHTT và chuyển giao công nghệ, trong đó có Chương 2 về quyền sở hữu công nghiệp (nhãn hiệu là một trong số các đối tượng sở hữu công nghiệp) Mặc dù về nội dung và bản chất, các quy định của Chương này không khác biệt so với Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1989, nhưng việc đưa nội dung này vào Bộ luật Dân sự đã nâng cao hiệu lực pháp lý của các quy định về sở hữu công nghiệp Kể từ đó, một loạt sự kiện quan trọng khác xuất hiện đánh dấu các bước tiến của hệ thống bảo

hộ sở hữu công nghiệp nói chung và bảo hộ nhãn hiệu nói riêng ở nước ta, đó là:

- Ngày 24/10/1996 Chính phủ ban hành Nghị định 63/CP quy định chi tiết

về sở hữu công nghiệp; sau đó Nghị định này được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 06/2001/NĐ-CP ngày 01/2/2001

- Ngày 06/3/1999, Chính phủ ban hành Nghị định 12/1999/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp

- Năm 1999, ký kết Hiệp định về SHTT và hợp tác trong lĩnh vực SHTT giữa Việt Nam với Liên bang Thụy Sỹ

- Năm 2000, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) đã được ký kết, trong đó có một chương về quyền SHTT…

Như vậy, trong khoảng thời gian 10 năm từ 1995-2005, hàng loạt văn bản pháp luật về SHTT đã được xây dựng và ban hành nhằm bổ sung những quy định còn thiếu hoặc sửa đổi những quy định không phù hợp với sự phát triển của đất nước hoặc chưa đáp ứng với các yêu cầu của TRIPS/WTO và Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ Tuy nhiên, trước đòi hỏi mạnh mẽ phải hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền SHTT, ngày 14/6/2005 Quốc hội đã thông qua Bộ luật Dân sự mới, trong đó chỉ quy định mang tính nguyên tắc các vấn đề liên quan đến quyền SHTT, mở đường cho sự ra đời một đạo luật riêng về SHTT Ngày 29/11/2005 Quốc hội đã thông qua Luật SHTT, nâng cấp vượt bậc

Trang 29

hiệu lực của toàn hệ thống pháp luật SHTT, góp phần tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu luật pháp, hệ thống pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu của Việt Nam từ khi ra đời cho đến nay tuy mới trải qua một giai đoạn rất ngắn nếu so sánh với các hệ thống pháp luật trong các lĩnh vực khác nhưng hệ thống này đã phát triển ở mức rất cao, về cơ bản phù hợp với các chuẩn mực chung quy định trong các điều ước quốc tế, đặc biệt là quy định trong Hiệp định TRIPS

1.3 Nhãn hiệu trong mối tương quan với một số đối tượng SHTT khác

1.3.1 Nhãn hiệu với tên thương mại

Hiện nay rất nhiều người tưởng rằng tên thương mại và nhãn hiệu là một, nhưng thực ra điều đó là nhầm lẫn Tên thương mại và nhãn hiệu cùng là dấu hiệu chỉ dẫn thương mại, nhưng chức năng của chúng khác nhau Theo Luật SHTT

2005 “Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh” [36], “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.” [36] Chỉ qua hai định nghĩa nêu trên chúng ta đã có thể nhận ra sự khác biệt rõ ràng giữa tên thương mại và nhãn hiệu Tên thương mại dùng để phân biệt chủ thể kinh doanh trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh, còn nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa và dịch vụ Như vậy, trường hợp không cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh sẽ có thể có những tên thương mại trùng nhau Sự khác biệt giữa các tên thương mại chỉ giới hạn trong phạm vi khu vực kinh doanh Trong giao dịch, tên thương mại được sử dụng để gọi tên chủ thể kinh doanh do đó tên thương mại có thể bao gồm thành phần phân biệt (thành phần này có thể đăng ký làm nhãn hiệu), thành phần xác định hình thức doanh nghiệp và có thể là thành phần chỉ ra lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp Ví dụ: Công cổ phần dệt len Mùa Đông là một tên thương mại, trong đó “Công ty cổ phần” là phần chỉ ra loại hình doanh nghiệp, “dệt len” chỉ ra lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp và thành

Trang 30

phần phần biệt là “Mùa Đông” Một doanh nghiệp chỉ có một tên thương mại Trong khi đó, nhãn hiệu là dấu hiệu có tính phân biệt cao được sử dụng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các chủ thể khác nhau Một doanh nghiệp có thể sản xuất nhiều loại sản phẩm hoặc kinh doanh nhiều loại dịch vụ, vì vậy một doanh nghiệp có thể có nhiều nhãn hiệu Trong rất nhiều trường hợp, doanh nghiệp lấy thành phần phân biệt trong tên thương mại làm nhãn hiệu Nhãn hiệu khi đã được bảo hộ có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc Các hàng hóa, dịch vụ khi đưa ra thị trường có thể có hoặc không có nhãn hiệu, nhưng đã tiến hành hoạt động kinh doanh chủ thể kinh doanh phải có tên gọi và tên gọi này phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi bắt đầu kinh doanh Từ sự khác biệt trong mục đích sử dụng của tên thương mại và nhãn hiệu mà pháp luật cũng quy định cơ chế xác lập quyền cho hai đối tượng này khác nhau Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó, còn quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được xác lập thông quả thủ tục đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Theo nguyên tắc chung, quyền đối với nhãn hiệu được bảo hộ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia nơi

nó được đăng ký; còn quyền đối với tên thương mại được bảo hộ không những chỉ trong phạm vi quốc gia nơi chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh mà còn tại tất cả các nước thành viên Công ước Paris (với điều kiện tuân thủ những quy định của pháp luật nước sở tại, nhưng không cần qua thủ tục đăng ký) [2]

Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng trong trường hợp tên thương mại trùng với nhãn hiệu thì quyền đối với các đối tượng đó luôn bổ sung cho nhau, góp phần củng cố, mở rộng quyền năng cho người nắm giữ chúng khi chúng cùng thuộc về một chủ thể Xung đột giữa tên thương mại và nhãn hiệu có dấu hiệu trùng nhau chỉ nảy sinh khi quyền đối với nhãn hiệu được thủ đắc bởi một chủ thể khác, không phải là chủ thể có quyền đối với tên thương mại đó Trong những trường hợp như vậy quyền đối với tên thương mại có thể bị bác bỏ nếu quyền đối với nhãn hiệu được xác lập sớm hơn Và ngược lại, quyền đối với nhãn hiệu cũng

Trang 31

sẽ không được xác lập nếu có căn cứ để cho rằng việc đăng ký nhãn hiệu là vi phạm quyền đối với tên thương mại đã được xác lập trước đó

1.3.2 Nhãn hiệu với chỉ dẫn địa lý

Điều 22.1 Hiệp định TRIPS quy định “chỉ dẫn địa lý là những chỉ dẫn về hàng hóa bắt nguồn từ lãnh thổ của một thành viên hoặc từ một khu vực hay địa phương thuộc lãnh thổ đó, có chất lượng uy tín hoặc đặc tính chủ yếu do xuất xứ địa lý quy định” Như vậy chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể Chỉ dẫn địa lý có thể là xuất xứ địa lý, có thể là biểu tượng, hình ảnh, dấu hiệu đặc trưng chỉ dẫn nguồn gốc hoặc địa danh nhất định mà chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu hàng hóa do xuất xứ địa lý quyết định

Nếu nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa/dịch vụ của các chủ thể khác nhau thì chỉ dẫn địa lý dùng để thông tin về nguồn gốc, xuất xứ địa lý của sản phẩm đó Cả hai đối tượng này đều là chỉ dẫn thương mại Trên thực tế, một nhãn hiệu có thể bao gồm cả chỉ dẫn địa lý và tập hợp này được sử dụng như một loại nhãn hiệu Liệu có sự xung đột quyền nào xảy ra trong trường hợp này không khi một chỉ dẫn địa lý được đăng ký sử dụng như một nhãn hiệu thông thường, điều này có nghĩa độc quyền sử dụng nhãn hiệu đó được trao cho chủ nhãn hiệu và các chủ thể khác đương nhiên không thể sử dụng trong khi một dấu hiệu là chỉ dẫn địa lý đáng ra phải được sử dụng cho tất cả các chủ thể có hàng hóa xuất xứ từ vùng địa lý đó Pháp luật các nước quy định nguyên tắc giải quyết tranh chấp quyền đối với nhãn hiệu được xác lập trước và chỉ dẫn địa lý không giống nhau

Ở Hoa Kỳ, Canada, Trung Quốc bảo hộ chỉ dẫn địa lý thông qua nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể và như vậy họ áp dụng nguyên tắc ưu tiên cho nhãn hiệu

đã đăng ký trước Quy định này cũng phù hợp với bản chất của chỉ dẫn địa lý là dùng để chỉ dẫn về về nguồn gốc địa lý của sản phẩm và bất cứ ai cũng có thể sử dụng chỉ dẫn đó nếu hàng hóa của họ cung cấp xuất xứ từ khu vực địa lý đó và có danh tiếng, tính chất, chất lượng đặc thù do vùng địa lý đó quy định

Trang 32

Chỉ dẫn địa lý thường được bảo hộ cho các sản phẩm rượu vang, rượu mạnh, các sản phẩm nông nghiệp hay thực phẩm ở Việt Nam có một số chỉ dẫn địa lý

đã được bảo hộ như bưởi Đoan Hùng, vải Thanh Hà, trước đây có một số chỉ dẫn địa lý được bảo hộ dưới dạng tên gọi xuất xứ như cà phê Buôn Mê Thuột, nước mắm Phú Quốc… Do chỉ dẫn địa lý giúp người tiêu dùng xác định nguồn gốc địa

lý của sản phẩm có tính chất, chất lượng đặc thù quy định bởi nguồn gốc địa lý đó nên chỉ dẫn địa lý không thể cho bất kỳ ai độc quyền Người sử dụng chỉ dẫn địa

lý chỉ có quyền sử dụng – quyền gắn chỉ dẫn đó lên hàng hóa của mình Mọi cá nhân, doanh nghiệp sinh sống hoặc có trụ sở kinh doanh hoặc sản xuất ở khu vực địa lý đó đều có quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý với điều kiện tuân thủ các tiêu chuẩn nhất định Nhãn hiệu thì giúp cho người tiêu dùng xác định nhà sản xuất, nhà cung cấp sản phẩm, dịch vụ Nhãn hiệu khi được bảo hộ sẽ xác lập quyền độc quyền cho chủ sở hữu nhãn hiệu, người này có toàn quyền định đoạt cũng như ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu của mình Xuất phát từ bản chất của chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu mà pháp luật quy định thời hạn bảo hộ cho hai đối tượng này cũng khác nhau Chỉ dẫn địa lý sẽ được bảo hộ cho đến khi các điều kiện địa

lý tạo nên danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý bị thay đổi làm cho mất đi các đặc trưng đó của sản phẩm Nhãn hiệu thì được bảo

hộ mỗi chu kỳ là mười năm và có thể gia hạn mãi mãi Trường hợp chỉ dẫn địa lý đăng ký bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu chứng nhận và nhãn hiệu tập thể thì sẽ phải tuân thủ các quy định chung dành cho nhãn hiệu

Ở Việt Nam trước Luật SHTT 2005 có quy định việc cho phép sử dụng tên địa danh làm nhãn hiệu nếu được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền của địa phương trong Nghị định 63/CP Tuy nhiên quy định này đã không tính đến khả năng người tiêu dùng liên tưởng rằng nhãn hiệu chính là chỉ dẫn nơi sản xuất sản phẩm đó mà không phải là một dấu hiệu phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại, đồng thời chấp nhận bảo hộ tên địa danh đăng ký nhãn hiệu sẽ dẫn tới tình trạng mọi cá nhân, tổ chức tại địa phương có tên địa danh đáng lý đều có quyền sử dụng chỉ dẫn đó thì lại bị hạn chế bởi quyền độc quyền của người đã được bảo hộ

Trang 33

nhãn hiệu Hạn chế này đã được khắc phục trong Luật SHTT 2005 bằng quy định không chấp nhận bảo hộ những nhãn hiệu là “dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa là một nhãn hiệu hoặc đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận” [36]

1.3.3 Nhãn hiệu với nhãn hàng hóa

Nhãn hiệu và nhãn hàng hóa là hai khái niệm thường bị nhầm lẫn trong thực

tế, đặc biệt là trước Luật SHTT 2005 khi khái niệm nhãn hiệu còn được sử dụng bằng cụm từ “nhãn hiệu hàng hóa” Về mặt pháp lý đây là hai đối tượng cùng có chức năng chỉ dẫn thương mại nhưng có bản chất khác nhau Nhãn hàng hóa và nhãn hiệu đều cung cấp thông tin cho người tiêu dùng về sản phẩm nhưng nhãn hàng hóa thể hiện sự quản lý của Nhà nước đối với hàng hóa được đưa ra thị trường còn nhãn hiệu là “sự đánh dấu tự nguyện” của chủ thể kinh doanh để giúp người tiêu dùng nhận biết được nguồn gốc của sản phẩm đồng thời phân biệt được các sản phẩm cung cấp bởi các chủ thể khác nhau

Nhãn hàng hóa phải thể hiện đủ các thông tin cần thiết, chủ yếu về hàng hóa được quy định trong Nghị định số 89/2006/NĐ-CP ngày 30/08/2006, theo đó, những nội dung bắt buộc phải được thể hiện trên nhãn hàng hóa gồm: tên hàng hóa, tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa, xuất xứ hàng hóa; ngoài ra, tùy theo tính chất của mỗi loại hàng hóa còn có những nội dung bắt buộc khác như với hàng hóa là lương thực thì nhãn hàng hóa còn phải thể hiện định lượng, ngày sản xuất, hạn sử dụng sản phẩm… Tên hàng hóa ghi trên nhãn do tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa tự đặt Trong nhiều trường hợp tên hàng hóa này chính là nhãn hiệu của sản phẩm (điều này không phải là bắt buộc) Khi trình bày nhãn hàng hóa, ngoài những nội dung bắt buộc,

có thể đưa vào những thành phần khác để trang trí, tạo dáng Nhãn hiệu có thể được chủ sở hữu sử dụng cho nhiều loại sản phẩm khác nhau, nhưng mỗi nhãn hàng hóa chỉ có thể sử dụng cho một loại sản phẩm cụ thể do mỗi loại sản phẩm

có những yêu cầu khác nhau về nội dung thể hiện trên nhãn hàng hóa

Trang 34

Qua phân tích ở trên có thể thấy trong nhiều trường hợp nhãn hàng hóa có thể chứa nhãn hiệu, nhưng hai đối tượng này hoàn toàn phân biệt với nhau Ngược lại, một nhãn hiệu cũng có thể chứa một phần hoặc toàn bộ các yếu tố của nhãn hàng hóa, nhưng thành phần được Nhà nước bảo hộ với danh nghĩa là nhãn hiệu chỉ là phần có khả năng phân biệt mà thôi

Do việc ghi nhãn hàng hóa thể hiện sự quản lý của Nhà nước đối với hàng hóa được đưa ra thị trường nên việc sử dụng nhãn hàng hóa là bắt buộc Còn sử dụng nhãn hiệu là hành động “tự cá thể hóa sản phẩm” nên việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu là sự tự nguyện của các chủ nhãn hiệu

1.3.4 Nhãn hiệu với kiểu dáng công nghiệp

Thoạt tiên khi đọc qua tiêu đề này hẳn nhiều người sẽ thắc mắc liệu có thể tồn tại hay không sự nhầm lẫn giữa nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp khi mà hai đối tượng này có bản chất khác hẳn nhau Tuy nhiên, trên thực tế câu trả lời lại là có Kiểu dáng công nghiệp là kết quả của hoạt động sáng tạo nhằm tìm kiếm một dáng vẻ bề ngoài có khả năng đem lại sự thích thú cho người sử dụng Nhãn hiệu là chỉ dẫn thương mại mà trong nó khía cạnh sáng tạo – tuy vẫn có – song không quyết định như kiểu dáng công nghiệp, yếu tố quyết định đối với nhãn hiệu

là ở chỗ nó chuyển tải thông tin về sản phẩm, dịch vụ tới người tiêu dùng nhằm chống lại việc sử dụng không được sự cho phép những dấu hiệu có khả năng lừa dối người tiêu dùng Chức năng của hai đối tượng này hoàn toàn phân biệt, nhưng thực tế vẫn xảy ra sự nhầm lẫn vì việc tồn tại nhiều dạng đối tượng SHTT khác nhau trong một sản phẩm trí tuệ là rất phổ biến Có trường hợp một đối tượng duy nhất vừa thuộc dạng SHTT này, vừa thuộc dạng SHTT khác Ví dụ như hình chai đựng nước của Hãng Coca Cola, chiếc chai này đã được bảo hộ nhãn hiệu dưới dạng nhãn hiệu ba chiều, nhưng hình dáng của chiếc chai này chính là đối tượng

để bảo hộ kiểu dáng công nghiệp; hoặc hình dáng bao bì hàng hóa vừa có thể đăng ký bảo hộ nhãn hiệu vừa có thể đăng ký bảo hộ kiểu dáng công nghiệp Luật

Trang 35

SHTT của hầu hết các nước đều chấp nhận trạng thái cùng tồn tại này Bản chất, phạm vi của từng loại quyền SHTT, cụ thể là quyền đối với nhãn hiệu và kiểu dáng là khác nhau, có sự phân biệt rõ ràng, do đó ít có khả năng xảy ra xung đột giữa hai loại quyền khác nhau Ngoài ra, quy định về thủ tục xác lập quyền, bao gồm việc đánh giá tính mới của kiểu dáng công nghiệp và đánh giá tính phân biệt của nhãn hiệu cho phép không để xảy ra tình huống xác lập hai quyền xung đột nhau Trong trình tự xác lập quyền sở hữu công nghiệp còn có một thủ tục quan trọng, đó là khả năng thu hẹp hoặc hủy bỏ một quyền đã được xác lập vì lý do không đáp ứng tiêu chuẩn bảo hộ Vì thế, nguy cơ xung đột giữa quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu khó có thể xảy ra

Trạng thái “cùng tồn tại” các loại quyền SHTT khác là thực tế khách quan Luật SHTT của các nước đều có xu hướng không quy định nghĩa vụ lựa chọn bảo

hộ mà chấp nhận cơ chế đồng bảo hộ

1.3.5 Nhãn hiệu với đối tượng được bảo hộ quyền tác giả

Sự nhầm lẫn giữa nhãn hiệu với đối tượng được bảo hộ quyền tác giả cũng tương tự cách mà người ta nhầm lẫn giữa nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp Đây là hai đối tượng SHTT khác biệt nhau và được bảo hộ với những tiêu chuẩn khác nhau rõ rệt Nhãn hiệu có thể bị nhầm với một tác phẩm nghệ thuật ứng dụng thuộc đối tượng bảo hộ quyền tác giả

Quyền tác giả được hình thành một cách tự động ngay khi tác phẩm được độc lập sáng tạo ra dưới một hình thức vật chất nhất định Quyền tác giả chỉ mang tính tương đối: chỉ bị coi là vi phạm khi có thực hiện hành vi sao chép tác phẩm của người khác và hai tác phẩm giống hệt nhau vẫn có thể được bảo hộ cho hai chủ thể khác nhau nếu mỗi người đều độc lập tạo ra tác phẩm của mình Mặt khác, khi cấp giấy chứng nhận quyền tác giả cho tác phẩm cơ quan có thẩm quyền không thực hiện việc thẩm định tác phẩm đó Nhãn hiệu muốn được bảo hộ cần phải thông qua thủ tục đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền, để được bảo hộ nhãn hiệu cần thỏa mãn những tiêu chuẩn bảo hộ theo luật định Bảo hộ bản quyền là bảo hộ giá trị sáng tạo của con người chống lại sự sao chép, còn bảo hộ

Trang 36

nhãn hiệu là bảo hộ một chỉ dẫn thương mại nhằm bảo vệ những cá nhân, tổ chức hoạt động kinh doanh trung thực, bảo vệ người tiêu dùng trước khả năng bị nhầm lẫn về nguồn gốc sản phẩm được chào bán trên thị trường nói chung là chống lại hành vi lừa dối

Như đã phân tích ở trên, bản thân một đối tượng sản phẩm có thể chứa đựng trong nó khả năng được bảo hộ SHTT dưới nhiều hình thức khác nhau Vấn đề là mỗi hình thức bảo hộ sẽ có những tiêu chuẩn nhất định và mang lại cho người nắm giữ quyền những quyền nhất định Nếu nắm chắc được nguyên tắc này thì khó có thể nhầm lẫn các đối tượng với nhau và tránh được khả năng xảy ra xung đột giữa các loại quyền này

1.4 Vai trò bảo hộ nhãn hiệu trong nền kinh tế thị trường

Trong nền kinh tế thị trường với sự tự do cạnh tranh giữa các doanh nghiệp vấn đề bảo hộ nhãn hiệu có vai trò rất quan trọng Nhìn chung bảo hộ nhãn hiệu

có ý nghĩa với bản thân doanh nghiệp, với người tiêu dùng và với toàn xã hội

1.4.1 Vai trò bảo hộ nhãn hiệu đối với doanh nghiệp

Nhãn hiệu là tài sản vô hình rất có giá trị của doanh nghiệp Một nhãn hiệu mạnh có thể bảo đảm mức độ an toàn lâu dài, tốc độ phát triển lớn với tỷ suất lợi nhuận cao cho doanh nghiệp Bảo hộ nhãn hiệu là bảo vệ tài sản cho doanh nghiệp Nhãn hiệu được bảo hộ sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh cho chủ sở hữu nhãn hiệu đồng thời bảo vệ sản phẩm của họ khỏi nguy cơ bị làm nhái, làm giả, ảnh hưởng tới uy tín cũng như thu nhập của doanh nghiệp Sản phẩm, dịch vụ doanh nghiệp đưa ra thị trường mang nhãn hiệu đã được bảo hộ sẽ được người tiêu dùng tin tưởng Nhãn hiệu có uy tín sẽ giúp cho doanh nghiệp dễ dàng tiêu thụ sản phẩm, đặt mức giá bán cao hơn các sản phẩm cùng loại khác Một ví dụ chứng minh thực tế này là hai chiếc sơ mi cùng do Công ty An Phước sản xuất, không

có sự khác biệt về hình thức và chất liệu, nhưng nếu mang nhãn hiệu Pierre Cardin thì có giá bán cao hơn nhiều lần so với mang nhãn hiệu An Phước Có thể nói, hiện nay tỉ lệ giá trị tài sản vô hình (trong đó có nhãn hiệu) đang chiếm ưu thế áp đảo tuyệt đối khi định giá tài sản của doanh nghiệp “Thống kê của

Trang 37

Interbrand năm 2006 về tỷ lệ giá trị tài sản trong tổng tài sản doanh nghiệp cho thấy nhãn hiệu chiếm ít nhất 1/3 giá trị cổ phiếu, có những trường hợp rất cao như McDonald’s chiếm 71%, Disney chiếm 68%, NOKIA và COCA-COLA chiếm 51% Còn tại Việt Nam, khi tập đoàn Vina Capital mua 30% cổ phần (tương đương 3 triệu đô la) của Công ty Phở 24, họ đã định giá nhãn hiệu Phở 24 giá 7 triệu đô la tương đương với 70% tổng giá trị hiện nay của chuỗi nhà hàng này” (16) Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, việc xây dựng và bảo hộ nhãn hiệu cũng tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp vươn ra chiếm lĩnh thị trường nước ngoài Chẳng doanh nghiệp nào xuất khẩu hàng hóa mà không có nhãn hiệu, thực

tế đáng buồn là “hiện hơn 90% mặt hàng nông sản, thực phẩm chế biến xuất khẩu của Việt Nam phải thông qua trung gian bằng các nhãn hiệu hàng hóa của nước ngoài” [54] Như vậy là các doanh nghiệp của chúng ta đã không biết tận dụng sự bảo hộ của Nhà nước đối với nhãn hiệu để thu lợi cho mình Bảo hộ nhãn hiệu còn giúp tạo giá trị cho doanh nghiệp thông qua các hình thức chuyển giao quyền đối với nhãn hiệu như li-xăng, chuyển nhượng

1.4.2 Vai trò bảo hộ nhãn hiệu đối với người tiêu dùng

Ngoài việc tạo ra cho doanh nghiệp những ưu thế cạnh tranh trên thương trường, nhãn hiệu còn có vai trò rất quan trọng liên quan đến lợi ích của người tiêu dùng Nhãn hiệu có chức năng chính là giúp cho người tiêu dùng phân biệt các sản phẩm, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác nhau đồng thời nhận biết được nguồn gốc của sản phẩm, dịch vụ đó Nhãn hiệu có vai trò giúp người tiêu dùng định hướng khi lựa chọn sản phẩm, dịch vụ Nhãn hiệu được bảo hộ ngoài việc bảo vệ chính chủ nhãn hiệu thì còn giúp người tiêu dùng tránh được nguy cơ mua phải hàng giả, hàng nhái, hàng không đúng như mong muốn của họ Qua nhãn hiệu người tiêu dùng sẽ nhận biết được những sản phẩm đã từng làm họ hài lòng và tiếp tục lựa chọn mà không mất thời gian và rủi ro khi mua sản phẩm mới

1.4.3 Vai trò bảo hộ nhãn hiệu đối với toàn xã hội

Trang 38

Kinh tế thị trường là sân chơi mà trong đó các chủ thể tham gia được tự do cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật Bảo hộ nhãn hiệu sẽ tạo điều kiện cho sự tồn tại của một sân chơi chung lành mạnh Bảo hộ nhãn hiệu mang lại sự đảm bảo pháp lý cho người kinh doanh trung thực, đồng thời bảo vệ họ khỏi nguy cơ bị xâm phạm quyền Trong bối cảnh toàn cầu hóa với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, tài sản vô hình (trong đó có nhãn hiệu) ngày càng chiếm

tỉ trọng lớn trong khối tài sản của mỗi doanh nghiệp, bảo hộ nhãn hiệu chính là bảo hộ tài sản cho doanh nghiệp và suy rộng hơn là bảo vệ tài sản của xã hội Việc xây dựng và bảo hộ những nhãn hiệu mạnh là góp phần tăng cường năng lực cạnh tranh cho toàn bộ nên kinh tế

Với những phân tích nêu trên, có thể thấy rằng, bảo hộ nhãn hiệu thực sự có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế, thúc đẩy một xã hội phát triển lành mạnh, thiết lập một môi trường đầu tư hấp dẫn, thúc đẩy thương mại quốc tế và tăng khả năng hội nhập quốc tế cho các nền kinh tế

Trang 39

Chương 2 BẢO HỘ NHÃN HIỆU THEO LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ 2005

2.1 Nhãn hiệu với tư cách là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp

2.1.1 Khái niệm nhãn hiệu

Theo Điều 4.16 Luật SHTT 2005 “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân

biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.” Khái niệm nhãn

hiệu trong Luật SHTT 2005 đã được định nghĩa một cách rất khái quát, theo đó, nhãn hiệu được định nghĩa theo chức năng - dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau Định nghĩa mới về nhãn hiệu có ba sự thay đổi rõ rệt so với định nghĩa được đưa ra trong Bộ luật Dân sự 1995 Tại Điều 785

Bộ luật Dân sự 1995 nhãn hiệu được định nghĩa: “Nhãn hiệu hàng hóa là những

dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc.” So với định

nghĩa nhãn hiệu trong Bộ luật Dân sự 1995 thì định nghĩa trong Luật SHTT 2005

đã thay thế từ “nhãn hiệu” cho từ “nhãn hiệu hàng hóa”, không đưa vào định nghĩa các dấu hiệu cụ thể được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu và mở rộng hơn chức năng của nhãn hiệu Thuật ngữ “nhãn hiệu hàng hóa” sử dụng trong Bộ luật Dân sự 1995 trong thực tiễn tỏ ra khó tiếp cận đối với công chúng và dễ gây hiểu lầm là đối tượng này chỉ sử dụng cho hàng hóa mà không sử dụng cho dịch vụ Hơn nữa, trong hệ thống pháp luật Việt Nam còn tồn tại khái niệm “nhãn hàng hóa” – là các tập hợp các thông tin về chức năng, công dụng, địa điểm sản xuất, chất lượng, hạn sử dụng… của hàng hóa Sự tồn tại hai khái niệm “nhãn hiệu hàng hóa” và “nhãn hàng hóa” rất dễ gây nhầm lẫn cho công chúng cũng như cho chính các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thực thi pháp luật Xuất phát từ các

lý do nêu trên mà thuật ngữ “nhãn hiệu” đã được đưa ra trong luật SHTT 2005 Ngoài ra, việc sử dụng thuật ngữ “nhãn hiệu” còn phù hợp với thực tế có nhiều

Trang 40

loại nhãn hiệu khác nhau được quy định trong luật Việc không đưa vào định nghĩa nhãn hiệu các dấu hiệu được bảo hộ dưới danh nghĩa là nhãn hiệu cũng là điểm hợp lý vì các nhà làm luật đã lựa chọn cách định nghĩa nhãn hiệu theo chức năng, không định nghĩa theo điều kiện bảo hộ Một điểm mới nổi bật trong định nghĩa nhãn hiệu theo Luật SHTT 2005 là chức năng của nhãn hiệu đã được mở rộng đúng với thực tiễn, nhãn hiệu không chỉ dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại nữa mà dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ nói chung Phần mở rộng này phù hợp với quy định liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng Trong trường hợp một người sử dụng nhãn hiệu tương tự với một nhãn hiệu nổi tiếng, dù hàng hóa, dịch vụ của họ có khác loại với hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng thì hai nhãn hiệu đó vẫn bị coi là tương tự và nhãn hiệu của họ sẽ bị coi là không có khả năng phân biệt do việc sử dụng nhãn hiệu có thể gây cho người tiêu dùng nhầm lẫn về nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ hoặc làm ảnh hưởng tới danh tiếng của nhãn hiệu nổi tiếng

2.1.2 Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu

2.1.2.1 Điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ

Đối chiếu với chức năng của nhãn hiệu thì bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể kinh doanh khác nhau đều có thể

được coi là nhãn hiệu Điều 15 Hiệp định TRIPS quy định “Bất kỳ một dấu hiệu,

hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình họa và các tổ hợp các màu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu… Các Thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được đăng ký là các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được.” [17] Điều 72 của Luật SHTT 2005 quy định

nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng đầy đủ hai điều kiện sau [36]:

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Quế Anh (2002), “Bảo hộ quyền SHCN theo BTA”, Về việc thực thi BTA, Đại học quốc gia Hà Nội – Khoa luật, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ quyền SHCN theo BTA”, "Về việc thực thi BTA
Tác giả: Nguyễn Thị Quế Anh
Nhà XB: Nxb chính trị quốc gia
Năm: 2002
2. Nguyễn Thị Quế Anh (2002), Một số vấn đề về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại trên thế giới, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại trên thế giới
Tác giả: Nguyễn Thị Quế Anh
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
5. Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (2000), Thông tư số 825/2000/TT- BKHCNMT ngày 03/5 hướng dẫn thi hành Nghị định số 12/1999/NĐ-CP ngày 06 tháng 3 năm 1999 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 825/2000/TT- BKHCNMT ngày 03/5 hướng dẫn thi hành Nghị định số 12/1999/NĐ-CP ngày 06 tháng 3 năm 1999 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
Tác giả: Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2000
8. Bộ Tư pháp (2004), Báo cáo kết quả rà soát, đối chiếu các quy định của WTO với pháp luật Việt Nam hiện hành (phần sở hữu trí tuệ), Dự án WB, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả rà soát, đối chiếu các quy định của WTO với pháp luật Việt Nam hiện hành (phần sở hữu trí tuệ)
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2004
9. Chính phủ (1996), Nghị định số 63/CP ngày 24/10 quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 63/CP ngày 24/10 quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1996
10. Chính phủ (1999), Nghị định số 12/1999/NĐ-CP ngày 06/3 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 12/1999/NĐ-CP ngày 06/3 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1999
11. Chính phủ (1999), Nghị định số 12/1999/NĐ-CP ngày 06/3 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 12/1999/NĐ-CP ngày 06/3 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1999
12. Chính phủ (2001), Nghị định số 06/2001/NĐ-CP ngày 01/2 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63/CP ngày 24 tháng 10 năm 1996 quy định chi tiết vể sở hữu công nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 06/2001/NĐ-CP ngày 01/2 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63/CP ngày 24 tháng 10 năm 1996 quy định chi tiết vể sở hữu công nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2001
13. Chính phủ (2005), Nghị định số 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12 về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12 về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
14. Chính phủ (2006), Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
15. Chính phủ (2006), Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
16. Chính phủ (2006), Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước vể sở hữu trí tuệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước vể sở hữu trí tuệ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
17. Các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ trong quá trình hội nhập (2002), Chương trình hợp tác đặc biệt Việt Nam – Thụy Sỹ về sở hữu trí tuệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ trong quá trình hội nhập (
Tác giả: Các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ trong quá trình hội nhập
Năm: 2002
18. Cục Sáng chế Nhật Bản, Trung tâm sở hữu trí tuệ Châu á – Thái Bình Dương, Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa – Cẩm nang dành cho doanh nhân, Cục Sở hữu trí tuệ phát hành, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa – Cẩm nang dành cho doanh nhân
19. Cục Sở hữu công nghiệp (1998), Chiến lược phát triển và hoạt động sở hữu công nghiệp tại Việt Nam đến năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển và hoạt động sở hữu công nghiệp tại Việt Nam đến năm 2010
Tác giả: Cục Sở hữu công nghiệp
Năm: 1998
20. Cục Sở hữu trí tuệ (2004), Báo cáo Đề án “Hoàn thiện pháp luật về SHTT”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Đề án “Hoàn thiện pháp luật về SHTT”
Tác giả: Cục Sở hữu trí tuệ
Năm: 2004
21. Cục Sở hữu trí tuệ (2005), Cẩm nang sở hữu trí tuệ, Nxb Bộ Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang sở hữu trí tuệ
Tác giả: Cục Sở hữu trí tuệ
Nhà XB: Nxb Bộ Văn hóa thông tin
Năm: 2005
22. Cục Sở hữu trí tuệ (2008), Cục Sở hữu trí tuệ - Hoạt động sở hữu trí tuệ năm 2008, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục Sở hữu trí tuệ - Hoạt động sở hữu trí tuệ năm 2008
Tác giả: Cục Sở hữu trí tuệ
Năm: 2008
23. Hiệp định giữa Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ liên bang Thụy Sỹ về bảo hộ sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ (2000), Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định giữa Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ liên bang Thụy Sỹ về bảo hộ sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
Tác giả: Hiệp định giữa Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ liên bang Thụy Sỹ về bảo hộ sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2000
24. Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ 2000 (2000), Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ 2000 (2000)
Tác giả: Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ 2000
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số liệu đơn đăng ký nhãn hiệu  nộp trực tiếp tới Cục SHTT từ 1982-2008 [22] - bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo luật sở hữu trí tuệ 2005
Bảng s ố liệu đơn đăng ký nhãn hiệu nộp trực tiếp tới Cục SHTT từ 1982-2008 [22] (Trang 115)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w