1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ở nước ngoài theo pháp luật Việt Nam

94 715 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ Theo quy định tại Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ, nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: - Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới d

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐĂNG KÝ BẢO HỘ

NHÃN HIỆU HÀNG HÓA Ở NƯỚC NGOÀI

5

1.1 Nhãn hiệu hàng hóa và bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa 5

1.1.2 Các dấu hiệu cấu thành nhãn hiệu hàng hóa 6 1.1.3 Các điều kiện để bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa 9 1.1.3.1 Điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ 9

1.1.3.3 Dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu 13

1.1.4.1 Nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ 14

1.1.6 Ý nghĩa của việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa 25 1.1.6.1 Đảm bảo quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho chủ sở hữu 25

Trang 3

1.1.6.2 Thúc đẩy sáng tạo và đổi mới kỹ thuật sản xuất, khuyến khích

cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể trong nền kinh tế

26

1.1.6.3 Góp phần nâng cao giá trị sản phẩm và giá trị của doanh nghiệp 27 1.1.6.4 Bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người tiêu dùng 28 1.1.6.5 Có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo hộ lợi ích quốc gia 28 1.2 Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ở nước ngoài 30

1.2.2 Nguyên tắc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ở nước ngoài 30

1.2.3 Ý nghĩa của việc đăng ký nhãn hiệu hàng hóa ở nước ngoài 33 1.2.3.1 Đảm bảo cho doanh nghiệp một vị thế cạnh tranh vững

chắc trên thị trường quốc tế

34

1.2.3.2 Tạo tiền đề thúc đẩy mạnh hơn hoạt động hợp tác sản xuất

kinh doanh với các doanh nghiệp nước ngoài

35

1.3 Các văn bản pháp luật Việt Nam liên quan đến đăng ký

nhãn hiệu hàng hóa ở nước ngoài

36

Chương 2: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÁC QUY ĐỊNH

VỀ ĐĂNG KÝ BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA Ở NƯỚC NGOÀI

39

2.1 Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa theo Công ước Paris

(đăng ký trực tiếp tại từng quốc gia)

39

2.2 Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa theo Thỏa ước và Nghị

định thư Madrid

45

Trang 4

2.2.1 Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu 46

2.2.2 Nghị định thư Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu 51 2.3 Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa vào Cộng đồng châu

Âu theo thể thức CTM (the community trade mark)

54

Chương 3: THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG ĐĂNG KÝ BẢO HỘ

NHÃN HIỆU HÀNG HÓA Ở NƯỚC NGOÀI VÀ CÁC KIẾN NGHỊ

59

3.1 Thực trạng về hoạt động đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng

hóa ở nước ngoài

59

3.1.1 Số lượng đơn đăng ký và nhãn hiệu được bảo hộ ở nước

ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam còn thấp

59

3.1.2 Các dạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu

hàng hóa xảy ra thường xuyên đối với các doanh nghiệp

Việt Nam

66

3.2.1 Ý thức của các doanh nghiệp trong việc chủ động đăng ký

bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ở nước ngoài vẫn còn yếu kém

70

3.2.2 Hiểu biết pháp luật về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa

ở nước ngoài của các doanh nghiệp xuất khẩu còn hạn chế

71

3.2.3 Một số quy định về pháp luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa

còn bất cập, chưa hợp lý

72

3.3 Một số giải pháp nâng cao kết quả hoạt động đăng ký, bảo

hộ nhãn hiệu hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam ở

Trang 6

MỞ ĐẦU

Sở hữu trí tuệ có vai trò quan trọng trong quá trình cải cách kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Vai trò này ngày càng được khẳng định rõ ràng hơn trong nền kinh tế tri thức - một xu hướng của thời đại, và Việt Nam cũng coi như một mục tiêu cho công cuộc phát triển, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của mình Chính vì vậy, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nói riêng đã và đang là mối quan tâm hàng đầu của Nhà nước cũng như các doanh nghiệp Việt Nam

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài luận văn

Tháng 11 năm 2006, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đánh dấu bước thành công to lớn trong con đường hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước Việt Nam vẫn đang không ngừng nỗ lực khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế Tuy nhiên, hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ mang lại cho Việt Nam cũng như các doanh nghiệp những cơ hội phát triển mạnh mẽ mà còn tiềm tàng những thách thức lớn của nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt

Bước vào sân chơi lớn WTO, các doanh nghiệp Việt Nam không khỏi

bỡ ngỡ với những luật định hà khắc Một trong những luật chơi quan trọng là

về sở hữu trí tuệ, trong đó, nhãn hiệu hàng hóa là một yếu tố chủ chốt Những năm gần đây, bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa không còn xa lạ với các doanh nghiệp Việt Nam, nhưng do nhận thức còn hạn chế nên việc đăng ký, bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường nước ngoài vẫn đang đứng trước những thách thức rất lớn và những điều kiện hết sức mới mẻ Không ít doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu ngơ ngác khi bị chiếm đoạt nhãn hiệu hàng hóa hay xuất hiện hàng giả, hàng nhái trên thị trường thế giới Nhiều doanh nghiệp Việt Nam khác rơi vào những vụ tranh

Trang 7

chấp "ngoài dự kiến" về quyền sở hữu trí tuệ, vi phạm quy định bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa với các doanh nghiệp, đối thủ nước ngoài khác Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này chính là nhận thức của doanh nghiệp về sở hữu trí tuệ

Vấn đề đặt ra là doanh nghiệp Việt Nam phải nhanh chóng khắc phục được thực trạng và ngay lập tức chuẩn bị những bước đi cụ thể, nhằm chuẩn

bị cho việc cạnh tranh là một hậu quả tất yếu của quá trình hội nhập, coi đây

là một trong những bước thực hiện cam kết của Việt Nam khi đã gia nhập WTO Đăng ký, bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa chính là việc doanh nghiệp thực hiện việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa cho sản phẩm, dịch vụ của chính mình, bảo vệ và phát triển hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Về lâu dài, bảo

hộ quyền sở hữu trí tuệ trong đó có việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng như thiết lập các mối quan hệ thương mại của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế

Về phía các cơ quan chức năng, các nhà quản lý, các đơn vị tư vấn, đại diện về sở hữu trí tuệ của Việt Nam và của nước ngoài có hoạt động tại Việt Nam cũng đã và đang cung cấp các sự hỗ trợ, các cơ chế, hoạt động tuyên truyền hướng dẫn nhằm tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp Vấn

đề quan trọng nhất vẫn là chính bản thân các doanh nghiệp; họ cần nhận thức được đúng, đủ về tầm quan trọng của vấn đề để có thể lựa chọn được cho mình sự hỗ trợ cần thiết nhất trong "thực đơn" những sự tư vấn, hỗ trợ, quản

lý về sở hữu trí tuệ hiện có Mà một trong những nhận thức gần gũi, mang ý nghĩa thực tiễn cao nhất các doanh nghiệp nói riêng và toàn xã hội nói chung - khi tham gia vào nền kinh tế tri thức, cần được trang bị, chính là: nhận thức

về luật lệ, thủ tục tại những "sân chơi" mình sẽ tham gia

Trước tình hình đó, xin được chọn đề tài: "Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu

hàng hóa ở nước ngoài theo pháp luật Việt Nam" để góp phần vào việc bổ

Trang 8

sung một góc nhìn, một ý kiến tư vấn giúp nâng cao nhận thức tự thân của doanh nghiệp về sở hữu trí tuệ, từ "lát cắt" của một luận văn thạc sĩ Luật học

2 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tìm hiểu một số quy định về quy trình, thủ tục đăng ký bảo

hộ nhãn hiệu hàng hóa ở một số thị trường nước ngoài Bên cạnh đó, phân tích thực trạng và những vấn đề còn vướng mắc của các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu Việt Nam trong việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại thị trường nước ngoài Đồng thời, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ở nước ngoài của các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam

3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại một

số thị trường nước ngoài, một số quy định về mặt pháp lý của một số quốc gia

có quan hệ kinh tế thường xuyên với Việt Nam Ngoài ra, luận văn cũng tìm hiểu thực trạng của một số doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu có uy tín của Việt Nam đã gặp khó khăn trong việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại thị trường nước ngoài

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, ứng dụng cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử cùng với khoa học lý luận về nhà nước pháp luật

Để thực hiện nghiên cứu đề tài, luận văn còn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Trang 9

Chương 1: Những vấn đề lý luận về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng

hóa ở nước ngoài

Chương 2: Một số nội dung cơ bản của các quy định về đăng ký bảo

hộ nhãn hiệu hàng hóa ở nước ngoài

Chương 3: Thực trạng về hoạt động đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng

hóa ở nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam và các kiến nghị

Trang 10

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐĂNG KÝ BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA Ở NƯỚC NGOÀI

1.1 NHÃN HIỆU HÀNG HÓA VÀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA

1.1.1 Khái niệm nhãn hiệu hàng hóa

Thế giới bước vào nền kinh tế hội nhập kéo theo sự bùng phát không ngừng của các nhãn hiệu sản phẩm và dịch vụ mới Người tiêu dùng thế giới đang đứng trước cơ hội lựa chọn các sản phẩm, dịch vụ vô cùng rộng lớn, đa dạng Tuy nhiên, thực tế, họ vẫn có thể nhận biết, phân biệt và quyết định tiêu dùng được các sản phẩm, dịch vụ khác nhau chính là nhờ nhãn hiệu của hàng hóa.Vì thế, ngày nay, hầu như không có nhà sản xuất nào lại lãng quên việc tạo ra nhãn hiệu cho bất kỳ hàng hóa hay dịch vụ nào của họ trong bối cảnh nền kinh tế cạnh tranh khốc liệt giữa hàng triệu những nhà sản xuất lớn nhỏ trên toàn cầu với sự bùng nổ của vô vàn các loại hàng hóa cùng tính năng

Vậy, nhãn hiệu hàng hóa là gì?

Theo Hiệp định TRIPs, nhãn hiệu hàng hóa là:

Bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa Các dấu hiệu đó, đặc biệt các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố minh họa và tổ hợp các màu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa Trường hợp dấu hiệu không

có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ liên quan, các thành viên có thể quy định khả năng được đăng ký phụ thuộc vào tính

Trang 11

phân biệt thông qua việc sử dụng Các thành viên có thể yêu cầu như một điều kiện để được đăng ký là dấu hiệu phải nhận thức được [11] Theo Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, định nghĩa về nhãn hiệu hàng hóa cũng không có nhiều điểm khác biệt:

Nhãn hiệu hàng hóa được cấu thành bởi dấu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một người với hàng hóa hoặc dịch vụ của người khác, bao gồm từ ngữ, tên người, hình, chữ cái, tổ hợp màu sắc, các yếu tố hình hoặc hình dạng của bao bì hàng hóa [10] Như vậy, theo các quy định quốc tế, nhãn hiệu hàng hóa là bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch

vụ của doanh nghiệp này với hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp khác

Luật pháp Việt Nam quy định về nhãn hiệu hàng hóa có những điểm

cụ thể và thu hẹp hơn so với các hiệp định quốc tế Theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ, nhãn hiệu hàng hóa là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch

vụ của tổ chức, cá nhân khác nhau [21]

Như vậy, khái niệm nhãn hiệu hàng hóa tại Luật Sở hữu trí tuệ được định nghĩa theo tiêu chí chức năng của nhãn hiệu Chúng ta có thể thấy chức năng của nhãn hiệu là để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở khác nhau, do đó, dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu hàng hóa phải làm cho người tiêu dùng dễ nhận biết, phân biệt được đó là hàng hóa, dịch vụ của

cơ sở sản xuất, kinh doanh nào Vì vậy, các dấu hiệu này phải độc đáo, không giống với bất cứ dấu hiệu nào của các cơ sở kinh doanh khác

1.1.2 Các dấu hiệu cấu thành nhãn hiệu hàng hóa

Theo xu hướng quốc tế hiện nay thì các dấu hiệu có thể được đăng ký làm nhãn hiệu hàng hóa rất phong phú, nó có thể cấu thành bởi dấu hiệu bất kỳ hoặc là sự kết hợp bất kỳ của các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa,

Trang 12

dịch vụ của cơ sở sản xuất kinh doanh này với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của

cơ sở sản xuất kinh doanh khác Trên tinh thần của các Điều ước quốc tế, có thể phân loại một số dấu hiệu hiện nay được dùng làm nhãn hiệu hàng hóa như sau:

 Dấu hiệu từ ngữ

Từ ngữ là dấu hiệu được dùng phổ biến nhất và chiếm số lượng lớn trong thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa Loại dấu hiệu này bao gồm:

- Nhãn hiệu là tên người: May Hồng Ngọc, Bông Bạch Tuyết

- Nhãn hiệu là tên địa danh: Bia Hà Nội, Xi Măng Bỉm Sơn

- Nhãn hiệu là tên sự vật: Bánh Kinh Đô, Diêm Thống Nhất

- Nhãn hiệu là tên tự đặt: Sony, Omo

- Nhãn hiệu là tên ghép: VINATABA, VINAMILK

 Dấu hiệu là chữ cái và con số

Dấu hiệu này bao gồm một hoặc nhiều chữ cái, một hoặc nhiều chữ số hoặc kết hợp cả hai Ở Việt Nam, không phải mọi chữ cái và con số đều được thừa nhận là nhãn hiệu hàng hóa Các chữ cái đơn lẻ và không được cách điệu thì thường được coi là không có khả năng phân biệt và do vậy không được đăng ký làm nhãn hiệu hàng hóa Theo quy định tại Khoản 2 Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, các chữ số, chữ cái thuộc các ngôn ngữ không thông dụng bị loại trừ Tuy nhiên, các dấu hiệu này được bảo hộ với điều kiện

đã được sử dụng và được thừa nhận rộng rãi hoặc phải được thể hiện dưới hình thức hình họa sáng tạo chứ không phải đơn thuần là các chữ in Ví dụ:

"333", "IBM" hay chữ "M" được trình bày cách điệu của McDonald

 Dấu hiệu là hình vẽ

Dấu hiệu này bao gồm các hình họa, các nét vẽ, biểu tượng hoặc hình họa hai chiều của hàng hóa hoặc bao bì Pháp luật của nhiều nước trong đó có Việt Nam không chấp nhận cho đăng ký các hình và hình học đơn giản như

Trang 13

hình chữ, hình vuông, hình tròn vì chúng bị coi là không có khả năng phân biệt (Khoản 2 Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005)

 Dấu hiệu là sự kết hợp các dấu hiệu từ ngữ, chữ cái, con số, hình vẽ với nhau Loại dấu hiệu này được sử dụng rộng rãi tại Việt Nam cũng như ở các nước khác

 Dấu hiệu là các biểu tượng: bao gồm những biểu tượng vui, những hình vẽ như biểu tượng "bò cười" sử dụng cho sản phẩm phomat

 Dấu hiệu tổ hợp màu sắc: Bao gồm các từ ngữ, hình ảnh và bất kỳ

sự kết hợp nào giữa chúng có màu sắc hoặc sự kết hợp màu sắc với các yếu tố khác hoặc chỉ riêng màu sắc Việc sử dụng các chữ cái, hình họa với màu sắc thường làm tăng thêm tính phân biệt của chúng và thường dễ dàng được chấp nhận đăng ký hơn Hiệp định TRIPS và Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa

Kỳ đều quy định tổ hợp màu sắc là một loại dấu hiệu có thể đăng ký làm nhãn hiệu hàng hóa Tuy nhiên, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 lại không thừa nhận dấu hiệu màu sắc có thể được đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa mà chỉ xác định màu sắc là phương thức thể hiện của các loại dấu hiệu khác Vì vậy, trong thời gian tới, pháp luật Việt Nam cần có sự bổ sung, sửa đổi hoàn thiện hơn đối với việc cho phép tổ hợp màu sắc được đăng ký bảo hộ làm nhãn hiệu hàng hóa

Trên đây là những dấu hiệu được sử dụng rộng rãi nhất trong các nhãn hiệu hàng hóa Tuy nhiên, hiện nay tại nhiều quốc gia nhất là những quốc gia phát triển, những dấu hiệu mà con người có khả năng tri giác được đều có thể

sử dụng như là một nhãn hiệu hàng hóa Vì vậy, bên cạnh những dấu hiệu nhìn thấy được như từ ngữ, hình ảnh, màu sắc, sự kết hợp của các yếu tố này thì những dấu hiệu nghe thấy được, ngửi thấy được như âm thanh, mùi vị cũng đã được một số quốc gia bảo hộ như nhãn hiệu hàng hóa

Hiện nay, các nhà sản xuất luôn tìm kiếm những nhãn hiệu mới lạ, độc đáo và hấp dẫn cho sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của mình để tạo ấn tượng đến

Trang 14

công chúng và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra thì việc công nhận, bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại các quốc gia khác là một xu thế tất yếu của thời đại

Do vậy, theo chúng tôi thì pháp luật Việt Nam nên có quy định để bảo hộ cho các loại dấu hiệu này nếu việc bảo hộ đó không trái với quy định của pháp

luật và ảnh hưởng đến quyền lợi của người khác

1.1.3 Các điều kiện để bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa

Nhãn hiệu hàng hóa có ý nghĩa quan trọng, nhất là trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Việc lựa chọn sản phẩm thích hợp của người tiêu dùng chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi uy tín của nhãn hiệu hàng hóa đồng thời là uy tín của doanh nghiệp đó Do vậy, hầu hết mọi doanh nghiệp đều có nhu cầu sử dụng nhãn hiệu hàng hóa để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ của người khác Tuy nhiên, không phải tất cả những nhãn hiệu đăng ký đều được pháp luật bảo hộ Mà một nhãn hiệu chỉ được chấp nhận bảo hộ nếu nó đáp ứng các quy định của pháp luật Luật Sở hữu trí tuệ quy định để đăng ký và bảo hộ như một nhãn hiệu hàng hóa thì nhãn hiệu

đó phải đáp ứng một số điều kiện sau:

1.1.3.1 Điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ

Theo quy định tại Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ, nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

- Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc;

- Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác

Như vậy, nếu như khái niệm nhãn hiệu tại Điều 4 mang tính mở thì tại Điều này đã giới hạn phạm vi các dấu hiệu có thể được bảo hộ

Trang 15

1.1.3.2 Điều kiện về tính phân biệt

Tính phân biệt là yêu cầu trước tiên cần phải có nếu một nhãn hiệu hàng hóa muốn được đăng ký bảo hộ vì để thực hiện chức năng cơ bản là phân biệt sản phẩm, dịch vụ của nhà sản xuất này với sản phẩm, dịch vụ của nhà sản xuất khác thì nhãn hiệu hàng hóa phải có khả năng phân biệt

Điều 15.1 Hiệp định TRIPS quy định bất kỳ một dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa

Mục B điểm 2 Điều 6quinquies

Công ước Paris quy định rằng nhãn hiệu hàng hóa sẽ bị từ chối đăng ký nếu nhãn hiệu hàng hóa đó không hề có bất cứ dấu hiệu phân biệt nào hoặc chỉ bao gồm toàn các dấu hiệu hoặc các chỉ dẫn được sử dụng trong thương mại để chỉ chủng loại, chất lượng, số lượng, mục đích sử dụng, giá trị, xuất xứ của một hàng hóa, hoặc thời gian sản xuất, hoặc

đã trở thành thông dụng trong ngôn ngữ hiện thời hoặc trong tập quán thương mại lành mạnh và lâu đời tại nước có yêu cầu bảo hộ

Theo Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ thì nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ và không phải là các dấu hiệu bị loại trừ sau đây:

- Hình và hình học đơn giản, chữ số, chữ cái, chữ thuộc các ngôn ngữ không thông dụng, trừ trường hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu Các hình tròn, vuông, hình chữ nhật đơn giản hoặc các chữ số 1, 2, 3, các chữ cái A, B, C hay chữ Lào, Campuchia… sẽ không được đăng ký bảo hộ là nhãn hiệu hàng hóa Tuy nhiên, có những trường hợp ngoại lệ như nhãn hiệu "333" là nhãn hiệu bao gồm các chữ số đơn thuần nhưng vẫn được bảo hộ vì đã được sử dụng và đã được thừa nhận một cách rộng rãi

Trang 16

- Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của hàng hóa, dịch vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên, nhiều người biết đến Hiện nay có nhiều dấu hiệu, biểu tượng, quy ước đã được thừa nhận chính thức như các ký hiệu giao thông, năm vòng tròn lồng vào nhau là biểu tượng cho các thế vận hội thể thao, hình chữ thập

đỏ biểu tượng cho ngành y tế… Các biểu tượng, quy ước này không thể được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu hàng hóa

- Dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại,

số lượng, chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị hoặc các đặc tính khác mang tính mô tả hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã đạt được khả năng phân biệt thông qua quá trình sử dụng trước thời điểm nộp đơn đăng ký nhãn hiệu

- Dấu hiệu mô tả hình thức pháp lý, lĩnh vực kinh doanh của chủ thể kinh doanh Chẳng hạn, "xây dựng" không thể được bảo hộ với tư cách là nhãn hiệu hàng hóa cho các công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng

- Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu hoặc được đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận quy định tại Luật này;

- Dấu hiệu không phải là nhãn hiệu liên kết trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự trên cơ sở đơn đăng ký có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn trong trường hợp đơn đăng ký được hưởng quyền ưu tiên, kể cả đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi cho hàng hóa, dịch vụ

Trang 17

trùng hoặc tương tự từ trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên;

- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà đăng ký nhãn hiệu đó đã chấm dứt hiệu lực chưa quá năm năm, trừ trường hợp hiệu lực bị chấm dứt vì lý do nhãn hiệu không được sử dụng trong thời hạn năm năm liên tục mà không có lý do chính đáng;

- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi là nổi tiếng của người khác đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đăng ký cho hàng hóa, dịch vụ không tương tự, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc việc đăng

ký nhãn hiệu nhằm lợi dụng uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng;

- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ;

- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch về nguồn gốc địa lý của hàng hóa;

- Dấu hiệu trùng với chỉ dẫn địa lý hoặc có chứa chỉ dẫn địa lý hoặc được dịch nghĩa, phiên âm từ chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ cho rượu vang, rượu mạnh nếu dấu hiệu được đăng ký để sử dụng cho rượu vang, rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó;

- Dấu hiệu trùng hoặc không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp của người khác được bảo hộ trên cơ sở đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn so với ngày nộp đơn, ngày ưu tiên của đơn đăng ký nhãn hiệu

Trang 18

Tóm lại, các quy định về khả năng phân biệt của nhãn hiệu trong Luật

Sở hữu trí tuệ khá chi tiết, đầy đủ, các nhà làm luật cũng đã ghi nhận trường hợp khả năng phân biệt được của nhãn hiệu qua quá trình sử dụng

1.1.3.3 Dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu

Điều 73 Luật Sở hữu trí tuệ quy định các dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu, bao gồm:

- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc

kỳ, quốc huy của các nước;

- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng,

cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị,

tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép;

- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài;

- Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu

đó làm nhãn hiệu chứng nhận;

- Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ

1.1.4 Các loại nhãn hiệu hàng hóa

Việc phân loại nhãn hiệu hàng hóa có ý nghĩa rất lớn, không chỉ về mặt lý luận mà cả trong thực tiễn Trước hết, phân loại nhãn hiệu hàng hóa

Trang 19

cho phép xác định đặc trưng của một loại nhãn hiệu hàng hóa - đặc trưng này không chỉ ảnh hưởng tới yếu tố cảm nhận nhãn hiệu hàng hóa trong người tiê dùng, tới tính chất của việc sử dụng nhãn hiệu hàng hóa mà còn ảnh hưởng tới

cả quá trình đăng ký nhãn hiệu hàng hóa đó [1] Về cơ bản, các nước trên thế giới thừa nhận một số loại nhãn hiệu sau:

1.1.4.1 Nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ

Trong các điều ước quốc tế như Hiệp định TRIPs, Công ước Paris, Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ khi đề cập đến nhãn hiệu hàng hóa đều có sự phân biệt nhất định giữa nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ Tuy nhiên, sự khác biệt giữa hai loại nhãn hiệu này chỉ ở chỗ nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu phân biệt được gắn lên các sản phẩm hữu hình còn các nhãn hiệu dịch vụ là những dấu hiệu phân biệt dành cho các sản phẩm vô hình Nhưng về mặt bản chất, hai loại nhãn hiệu này cơ bản giống nhau Vì nhãn hiệu dịch vụ cũng mang đầy đủ chức năng biểu hiện nguồn gốc và phân biệt đối với dịch vụ khác giống như các chức năng tương tự của nhãn hiệu hàng hóa đối với hàng hóa Đồng thời trong hầu hết các hệ thống pháp luật nhãn hiệu hàng hóa quốc gia hay quốc tế, nhãn hiệu dịch vụ được đăng ký, gia hạn và hủy bỏ theo cùng một cách như nhãn hiệu hàng hóa và được chuyển giao và cấp phép sử dụng theo cùng những điều kiện như nhãn hiệu hàng hóa Vì thế, các quy định điều chỉnh nhãn hiệu hàng hóa ở các nước cũng được áp dụng, về nguyên tắc, giống hệt như nhãn hiệu dịch vụ

Ở Việt Nam, trước đây, thuật ngữ nhãn hiệu dịch vụ được đề cập đến trong Khoản 1 Điều 6, Chương II, Nghị định 63 của Chính phủ: "Nhãn hiệu hàng hóa bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ" Tuy nhiên, đến Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, các nhà làm luật không tách bạch giữa khái niệm nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ mà quy định một cách khái quát: Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau Như vậy, trong khái niệm nhãn hiệu đã bao hàm cả nhãn hiệu dịch vụ

Trang 20

1.1.4.2 Nhãn hiệu tập thể

Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu thuộc sở hữu bởi một tập thể mà bản thân tập thể này không sử dụng nhãn hiệu nhưng mỗi thành viên của nó có quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể đã đăng ký Mỗi thành viên của tập thể được sử dụng nhãn hiệu tập thể đó đối với hàng hóa, dịch vụ của riêng mình nhưng phải tuân thủ quy chế do tập thể đưa ra Vì vậy, chức năng của nhãn hiệu tập thể là để thông báo cho công chúng biết về các đặc điểm đặc biệt của các sản phẩm mang nhãn hiệu tập thể Thông thường, quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể phải có trong đơn xin đăng ký nhãn hiệu tập thể và bất kỳ

sự sửa đổi nào đối với quy chế này phải được thông báo cho cơ quan có thẩm quyền đăng ký nhãn hiệu hàng hóa Tại nhiều nước trên thế giới, đăng

ký nhãn hiệu tập thể có thể bị hủy bỏ nếu nhãn hiệu này trái với các điều khoản của quy chế sử dụng hoặc nhãn hiệu này có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng Như vậy, nhãn hiệu tập thể đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ người tiêu dùng

Các điều ước quốc tế về nhãn hiệu hàng hóa không đi sâu vào việc quy định về nội dung của nhãn hiệu tập thể Hiệp định TRIPS không có quy định về khái niệm hay việc bảo hộ nhãn hiệu tập thể Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ cũng chỉ quy định về nhãn hiệu tập thể như sau: "Nhãn hiệu hàng hóa bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận" Công ước Paris có quy định về nhãn hiệu tập thể tại Điều 7bis

Theo đó, các nước thành viên của Liên minh phải có trách nhiệm chấp nhận đơn đăng ký và bảo hộ các nhãn hiệu tập thể với chủ sở hữu là các tập thể tồn tại hợp pháp theo pháp luật của các nước sở tại, cho dù các tập thể đó có trực tiếp sở hữu các cơ sở công nghiệp và thương mại hay không Mặc dù tổ chức tập thể có thể không thành lập ở nước sở tại nhưng nước sở tại vẫn có trách nhiệm cho đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu tập thể miễn là sự tồn tại của tổ chức tập thể đó không trái với pháp luật của nước sở tại Đương nhiên, các nước

Trang 21

thành viên cũng có quyền từ chối nếu nhãn hiệu tập thể đó trái với lợi ích xã hội Nội dung và điều kiện bảo hộ sẽ được thực hiện theo pháp luật nước sở tại Như vậy, Công ước Paris cũng không đưa ra khái niệm cũng như cách thức bảo vệ đối với nhãn hiệu tập thể

Ở Việt Nam, nhãn hiệu tập thể được xem như là một nhãn hiệu hàng hóa mới mẻ, chưa được quy định phổ biến và có rất ít nhãn hiệu tập thể được đăng ký bảo hộ Trước đây, nhãn hiệu tập thể không được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 1995 mà được đề cập đến trong Nghị định 63/CP ngày 24/10/1996 quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp và Thông tư 3055/TT-sở hữu công nghiệp ngày 31/12/1996 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường về việc hướng dẫn thi hành các quy định về thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp và một số thủ tục khác trong Nghị định 63/CP, theo đó nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu hàng hóa được tập thể các cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác cùng sử dụng, trong đó mỗi thành viên sử dụng một cách độc lập theo quy chế do tập thể đó quy định (Khoản 8 Điều 2 Nghị định 63/CP) Đối với nhãn hiệu tập thể, quyền nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ thuộc

về cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác cùng tuân theo quy chế sử dụng nhãn hiệu hàng hóa tương ứng (điểm d khoản 2 Điều 14 Nghị định 63/CP) Khi đăng ký nhãn hiệu tập thể, người nộp đơn phải nộp một bản quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể đó cho cơ quan có thẩm quyền đăng ký (Điểm 8.1 Thông tư 3055/TT-SHCN)

Để phù hợp với điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Luật Sở hữu trí tuệ

đã định nghĩa nhãn hiệu tập thể theo tiêu chí về chức năng với danh nghĩa là một nhãn hiệu hàng hóa đặc biệt, dùng để phân biệt hàng hóa/dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của

tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó Đặc biệt, dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ có thể được đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể (điểm đ khoản 2 Điều 74) Đây chính là điểm mới của Luật

Trang 22

Sở hữu trí tuệ năm 2005, nó cho thấy quan niệm của chúng ta về nhãn hiệu tập thể đã gần với quan niệm của các nước trên thế giới hơn

và những đặc điểm của nó Chính vì vậy mà Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đã đề cập tới nhãn hiệu hàng hóa này nhưng mới chỉ quy định nhãn hiệu chứng nhận là một trong những loại của nhãn hiệu hàng hóa mà chưa có bất

kỳ quy định nào về mặt khái niệm cũng như cơ chế bảo hộ đối với nhãn hiệu chứng nhận

Xét về bản chất, nhãn hiệu chứng nhận không phải là nhãn hiệu hàng hóa Chức năng chính của nhãn hiệu chứng nhận không phải là chức năng phân biệt nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ Nó cũng không dùng để phân biệt hàng hóa/dịch vụ của chủ nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các chủ thể cạnh tranh Mục đích của nhãn hiệu chứng nhận là đảm bảo chất lượng của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn phải đúng với yêu cầu của nhãn hiệu chứng nhận đã được chỉ rõ trong đơn đăng ký Người chủ nhãn hiệu chứng nhận chỉ đơn thuần là người đứng ra đăng ký nhãn hiệu này và chỉ rõ nó nhằm xác nhận một tiêu chuẩn nhất định, thường là tiêu chuẩn về chất lượng, nếu không là đặc điểm về quy trình sản xuất hay sử dụng nhân công lao động Chủ nhãn hiệu chứng nhận phải có trách nhiệm kiểm tra chất lượng các sản phẩm gắn nhãn hiệu chứng nhận của mình và chủ nhãn hiệu chứng nhận có thể được hưởng phí thông qua việc cho phép các nhà sản xuất khác sử dụng

Trang 23

nhãn hiệu chứng nhận Phạm vi sử dụng nhãn hiệu chứng nhận rất rộng, bao gồm nhiều doanh nghiệp trong cùng một hiệp hội thậm chí không cùng một hiệp hội nhưng thỏa mãn đầy đủ các điều kiện sử dụng nhãn do chủ sở hữu nhãn đặt ra và được chủ nhãn đồng ý Do đặc điểm này mà chủ nhãn hiệu chứng nhận thường là các hiệp hội doanh nghiệp, các liên minh doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước hay chính bản thân nhà nước

Trước khi Luật Sở hữu trí tuệ 2005 ra đời, Việt Nam chưa có các quy định về loại nhãn hiệu này dù trên thực tế có rất nhiều các doanh nghiệp của Việt Nam sử dụng Ví dụ như: các nhãn hiệu thuộc dòng ISO - International Standard Organisation (ISO 9001, ISO 9002, ISO 1400), hàng Việt Nam chất lượng cao

Để đáp ứng nhu cầu thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội của đất nước,

để thực thi các cam kết quy định trong Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa

Kỳ, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 lần đầu tiên đã ghi nhận sự tồn tại nhãn hiệu chứng nhận:

Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của

tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch

vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu [21, Khoản 18 Điều 4]

1.1.4.4 Nhãn hiệu liên kết

Đây là một khái niệm mới được đưa vào pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa của Việt Nam Các điều ước quốc tế cũng như các quy định về nhãn hiệu hàng hóa trong Hiệp định thương mại Việt Mỹ không có điều khoản nào đề cập đến loại hình nhãn hiệu hàng hóa này

Theo Nghị định số 06/2001/NĐ-CP ngày 01/02/2001 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996 của

Trang 24

Chính phủ quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp thì nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu hàng hóa tương tự với nhau do cùng một chủ thể đăng ký để dùng cho các sản phẩm, dịch vụ cùng loại, tương tự với nhau hoặc có liên quan tới nhau, và các nhãn hiệu hàng hóa trùng nhau do cùng một chủ thể đăng ký để dùng cho các sản phẩm, dịch vụ tương tự với nhau hoặc có liên quan tới nhau

Khoản 19 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ cũng quy định nhãn hiệu liên kết

là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau

Qua các khái niệm này, có thể thấy nhãn hiệu liên kết có các đặc điểm sau:

- Các nhãn hiệu liên kết do cùng một chủ thể đăng ký bảo hộ;

- Nhãn hiệu liên kết bao gồm nhiều nhãn hiệu hàng hóa tương tự nhau hoặc trùng nhau;

- Các nhãn hiệu này dùng cho các sản phẩm, dịch vụ cùng loại, tương

tự với nhau hoặc có liên quan tới nhau

Như vậy, nhãn hiệu liên kết có thể được chia thành hai loại Loại thứ nhất là các nhãn hiệu hàng hóa tương tự nhau được một chủ thể đăng ký dùng cho các hàng hóa, dịch vụ cùng loại, tương tự với nhau hay có liên quan tới nhau Loại thứ hai là các nhãn hiệu hàng hóa giống hệt nhau được một thể đăng

ký dùng cho sản phẩm, dịch vụ tương tự nhau hoặc có liên quan tới nhau

Việc đăng ký nhãn hiệu liên kết mang lại lợi thế cho chủ sở hữu nhãn hiệu, đó là được độc quyền sử dụng dấu hiệu có khả năng phân biệt cho nhiều loại hàng hóa, dịch vụ không cùng nhóm của mình nếu hàng hóa, dịch vụ đó

có liên quan với nhau nhãn hiệu liên kết còn tạo điều kiện cho người tiêu dùng một sự liên tưởng là các hàng hóa, dịch vụ này có cùng một nguồn gốc

Trang 25

xuất xứ Như vậy, chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa không phải đầu tư nhiều tiền của vào hoạt động quảng cáo, xây dựng niềm tin đối với khách hàng

Tuy nhiên, việc đăng ký nhãn hiệu liên kết cũng có nhược điểm của

nó là nếu có một sản phẩm mang nhãn hiệu bị mất uy tín thì cũng kéo theo các nhãn hiệu tương tự hoặc có liên quan khác cũng mất uy tín theo

1.1.4.5 Nhãn hiệu nổi tiếng

Nhãn hiệu nổi tiếng là một loại nhãn hiệu hàng hóa được nhiều người tiêu dùng trên thế giới biết đến, nó chiếm lĩnh thị trường rộng lớn, vượt ra khỏi phạm vi của quốc gia sản xuất ra loại hàng hóa sản phẩm đó Một nhãn hiệu nổi tiếng là tài sản vô giá của chủ nhãn hiệu Bởi vì nó không chỉ thực hiện tốt chức năng phân biệt của một nhãn hiệu thông thường mà còn là lời cam kết về chất lượng và những phẩm chất khác của sản phẩm, của nhà sản xuất đối với người tiêu dùng Cũng chính vì vậy nên tình trạng nhãn hiệu nổi tiếng bị sao chép, bị làm nhái diễn ra trên khắp thế giới Vì thế, vấn đề bảo

hộ nhãn hiệu nổi tiếng được đặt ra theo cách thức đặc biệt hơn so với nhãn hiệu thông thường trong các điều ước quốc tế cũng như trong hệ thống pháp luật của các nước [16]

Mặc dù đã được biết đến từ rất lâu, song cho đến nay cách hiểu về nhãn hiệu nổi tiếng vẫn còn đang rất khác nhau trong các điều ước quốc tế cũng như trong pháp luật các nước Công ước Paris năm 1883 lần đầu tiên

đề cập đến nhãn hiệu nổi tiếng tại Điều 6bis bằng cách quy định nghĩa vụ bắt buộc của các quốc gia thành viên trong việc từ chối hay hủy bỏ mọi sự đăng

ký cũng như ngăn cấm mọi sự sử dụng của nhãn hiệu hàng hóa mà nó được coi là sự sao chép, một sự bắt chước, một bản dịch hoặc có thể gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu nổi tiếng; và quy định về khoảng thời gian cho phép chủ

sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ sự đăng ký đối với những nhãn hiệu xâm phạm Tuy nhiên, Công ước lại không

Trang 26

hề đưa ra một định nghĩa chính thức và rõ ràng về nhãn hiệu nổi tiếng Chỉ

có một căn cứ duy nhất để xác định một nhãn hiệu hàng hóa trở nên nổi tiếng, đó là sự chấp nhận hay thừa nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của quốc gia nơi nhãn hiệu được đăng ký hay quốc gia nơi sản phẩm được sử dụng

Theo những quy định của Hiệp định TRIPs, vấn đề bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng nhìn chung dựa trên các nguyên tắc được ấn định bởi Công ước Paris với những sự thay đổi và bổ sung phù hợp Theo đó, khái niệm nhãn hiệu nổi tiếng không chỉ được sử dụng cho đối tượng là hàng hóa mà còn được sử dụng cho cả các đối tượng dịch vụ, và Hiệp định cũng ghi nhận một

số căn cứ chung để xác định một nhãn hiệu hàng hóa có phải là nổi tiếng hay không Ngoài ra, Hiệp định cũng mở rộng phạm vi các nhãn hiệu nổi tiếng được bảo hộ, bao gồm cả các nhãn hiệu được coi là rất nổi tiếng

Luật Nhãn hiệu hàng hóa của Trung Quốc đã đưa ra một định nghĩa về nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng hơi khác so với các nước khác Cụ thể, nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu hàng hóa được đăng ký mà nó có một bộ phận khách hàng thực tế và được coi là nổi tiếng trong bộ phận công chúng liên quan [8] Như vậy, một nhãn hiệu hàng hóa có thể là nhãn hiệu nổi tiếng ở các nước khác nhưng chưa được đăng ký ở Trung Quốc thì sẽ không được xem là nhãn hiệu nổi tiếng để được hưởng chế độ pháp lý về bảo hộ theo Luật Nhãn hiệu hàng hóa của nước này

Ngoài ra, chúng ta cũng có thể tìm thấy các quy định về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng trong hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới, chẳng hạn như Đạo luật về nhãn hiệu hàng hóa năm 1938 và sau đó được sửa đổi bởi Đạo luật nhãn hiệu hàng hóa năm 1994 của Vương quốc Anh, Đạo luật nhãn hiệu hàng hóa của Hàn Quốc, Đạo luật nhãn hiệu hàng hóa và

Bộ luật về sở hữu trí tuệ của Pháp, Luật nhãn hiệu hàng hóa của Canada

Trang 27

Hiện nay, Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định: "Nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được nhiều người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn

bộ lãnh thổ Việt Nam"

Mặc dù có những sự khác biệt giữa các hệ thống pháp luật, chúng ta vẫn có thể đưa ra một định nghĩa chung nhất về nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng Theo đó, nhãn hiệu nổi tiếng được hiểu là nhãn hiệu được biết đến một cách rộng rãi bởi nhiều người trong những phạm vi lãnh thổ nhất định hoặc được xem xét, thừa nhận bởi các cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia nơi nhãn hiệu được đăng ký bảo hộ hay được sử dụng

Từ đó, có thể thấy nhãn hiệu nổi tiếng có một số đặc trưng sau nổi bật

so với các nhãn hiệu hàng hóa thông thường khác:

- Một nhãn hiệu nổi tiếng phải là nhãn hiệu có tính phân biệt Thông qua một nhãn hiệu nổi tiếng, người tiêu dùng có thể nhận biết ngay loại hàng hóa hay dịch vụ mà nhãn hiệu đó được sử dụng Ví dụ, khi nói đến nhãn hiệu Heineken, người tiêu dùng nghĩ ngay đến bia, hoặc khi nói đến Ford thì người tiêu dùng sẽ nghĩ đến xe hơi

- Nhãn hiệu nổi tiếng thường có tính phổ biến cao, một nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được biết đến bởi nhiều người ở nhiều khu vực địa lý khác nhau Chẳng hạn, Toyota là một nhãn hiệu xe hơi của Nhật nhưng nó lại biết đến bởi người tiêu dùng trên hầu hết các quốc gia trên thế giới

- Nhãn hiệu nổi tiếng thường có giá trị kinh tế lớn Nó cấu thành một

bộ phận tài sản quan trọng trong khối lượng tài sản của doanh nghiệp Thật vậy, có không ít nhãn hiệu nổi tiếng đã trở thành một phần tài sản quan trọng, thậm chí đóng vai trò quyết định trong khối lượng tài sản các công ty sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng Trên thực tế, trong nhiều trường hợp các doanh nghiệp có thể sử dụng nhãn hiệu nổi tiếng của mình như là một loại vốn để đưa vào các hoạt động đầu tư, kinh doanh

Trang 28

Tư liệu sau đây cho thấy giá trị to lớn mà những nhãn hiệu nổi tiếng mang lại cho doanh nghiệp

Nhãn hiệu Giá trị (tỷ USA) Nước xuất xứ

Nguồn: Business Week (tháng 7 năm 2005)

Tất cả các nhãn hiệu trên đều rất nổi tiếng trên toàn thế giới, được mọi người công nhận do hàng hóa và dịch vụ mang các nhãn hiệu này có mặt khắp nơi trên thế giới

1.1.5 Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa

Nhãn hiệu được bảo hộ thông qua việc đăng ký hoặc có thể thông qua việc sử dụng Thông qua việc đăng ký, nhãn hiệu sẽ được bảo hộ mạnh hơn, đặc biệt trong trường hợp có tranh chấp với một nhãn hiệu giống hoặc tương tự

Theo quy định của pháp luật, việc đăng ký mang lại cho doanh nghiệp độc quyền ngăn chặn người khác đưa ra thị trường các sản phẩm giống hoặc tương tự mang nhãn hiệu giống hoặc tương tự gây nhầm lẫn Nếu không đăng

Trang 29

ký, việc đầu tư tiếp thị một sản phẩm của doanh nghiệp có thể trở nên vô ích bởi vì công ty đối thủ có thể sử dụng nhãn hiệu giống hoặc gây nhầm lẫn Nếu một đối thủ cạnh tranh sử dụng nhãn hiệu giống hoặc tương tự, người tiêu dùng có thể bị mắc lừa khi mua sản phẩm của đối thủ đó và doanh nghiệp có nhãn hiệu sẽ giảm lợi nhuận và gây phương hại đến danh tiếng và hình ảnh của công ty nếu sản phẩm của đối thủ cạnh tranh có chất lượng thấp Bởi vì, giá trị của nhãn hiệu và tầm quan trọng mà một nhãn hiệu có thể tự quyết định

sự thành công của một sản phẩm trên thị trường, điều quan trọng là phải đảm bảo rằng nhãn hiệu đó được đăng ký tại các thị trường liên quan

Theo quy định tại Điều 11 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và Điều 3 Nghị định 103/2006/NĐ-CP, quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Đặc biệt, riêng đối với nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở hữu được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký

Doanh nghiệp muốn sở hữu và được bảo hộ nhãn hiệu cho các sản phẩm, dịch vụ của mình thì phải đăng ký nhãn hiệu tại cơ quan có thẩm quyền Để tiến hành đăng ký một nhãn hiệu, doanh nghiệp cần gửi hoặc làm đơn đăng ký hoàn chỉnh (theo mẫu) quy định trong đó bao gồm cả địa chỉ công ty, bản mô tả nhãn hiệu và mẫu nhãn hiệu (theo quy định) kèm theo danh mục nhóm hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp cần đăng ký và trả một khoản lệ phí nhất định

Khi làm đơn doanh nghiệp cần phải chỉ ra các hàng hóa, dịch vụ mà mình cần đăng ký và phân nhóm cụ thể dựa trên hệ thống phân loại Nice về nhãn hiệu

Đơn đăng ký nhãn hiệu của doanh nghiệp được nộp tại Cục Sở hữu trí tuệ hoặc tại bất kỳ địa điểm tiếp nhận đơn nào khác do Cục Sở hữu trí tuệ

Trang 30

thiết lập hoặc được gửi bằng hình thức bảo đảm qua bưu điện tới các địa điểm tiếp nhận

Trình tự, thủ tục đăng ký nhãn hiệu tại Cục Sở hữu trí tuệ: Chủ thể nộp đơn phải là người có quyền nộp đơn theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ đồng thời đơn xin đăng ký nhãn hiệu cũng phải đáp ứng các yêu cầu nhất định (theo Điều 101 và Điều 105 Luật Sở hữu trí tuệ) Đơn phải được nộp theo đúng cách thức và được chấp nhận theo nguyên tắc người nộp đơn đầu tiên Pháp luật Việt Nam cũng chấp nhận nguyên tắc ưu tiên theo Công ước Paris

Trên cơ sở hồ sơ đăng ký của người nộp đơn, Cục Sở hữu trí tuệ sẽ tiến hành thẩm định đơn bao gồm thẩm định hình thức và thẩm định nội dung sau đó quyết định cấp hay từ chối cấp đăng ký bảo hộ nhãn hiệu

Cơ quan có thẩm quyền đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam là Cục Sở hữu trí tuệ, đồng thời là cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về nhãn hiệu Thời gian để một nhãn hiệu được đăng ký bảo hộ theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ là 9 tháng Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu là Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, có hiệu lực 10 năm và có thể được gia hạn nhiều lần, mỗi lần 10 năm

Khi được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu, chủ

sở hữu nhãn hiệu có quyền trực tiếp sử dụng nhãn hiệu; ngăn không cho người khác sử dụng nhãn hiệu trùng hay tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ; có quyền định đoạt nhãn hiệu thông qua lixăng hoặc

để lại thừa kế nhãn hiệu đó cho người khác… Đây là những độc quyền mà chỉ chủ sở hữu mới có được

1.1.6 Ý nghĩa của việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa

1.1.6.1 Đảm bảo quyền lợi hợp pháp, chính đáng cho chủ sở hữu

Theo khái niệm về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, có thể hiểu rằng, khi chủ sở hữu đăng ký bảo hộ cho nhãn hiệu hàng hóa của mình, họ sẽ được luật

Trang 31

pháp công nhận và được bảo vệ về mặt pháp lý Theo đó, họ có toàn quyền thực hiện các hoạt động bảo vệ và phát triển danh tiếng của mình trên thị trường

1.1.6.2 Thúc đẩy sáng tạo và đổi mới kỹ thuật sản xuất, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể trong nền kinh tế

Nhãn hiệu hàng hóa là tài sản vô hình quý giá bậc nhất của doanh nghiệp, là đối tượng sở hữu công nghiệp gắn chặt nhất với quá trình lưu thông hàng hóa Thông qua nhãn hiệu hàng hóa, nhà sản xuất có thể đánh dấu hàng hóa của mình sản xuất khi đưa ra thị trường, có thể quảng cáo cho sản phẩm, dịch vụ hay cho chính doanh nghiệp trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm đẩy mạnh lưu thông, tăng doanh số hàng hóa của mình Và cũng chính thông qua nhãn hiệu hàng hóa, người tiêu dùng có thể dễ dàng lựa chọn hàng hóa theo nhu cầu, sở thích, yêu cầu chất lượng và khả năng tài chính của mình Đó chính là nguyên cớ để các nhà sản xuất kinh doanh không ngừng đầu tư tiền của và công sức nhằm xây dựng các nhãn hiệu hàng hóa uy tín Tuy nhiên, để tạo ra được một nhãn hiệu hàng hóa có uy tín, nhà sản xuất phải

có sự đầu tư về sản phẩm nhãn hiệu hàng hóa có uy tín thường đi kèm với hàng hóa, dịch vụ có thị trường tiêu thụ rộng lớn cả trong và ngoài nước Và

để đạt được lợi ích kinh doanh đó, nhà sản xuất phải không ngừng cải tiến mẫu mã, nâng cao năng suất, củng cố chất lượng nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng cao của những người tiêu dùng thông minh và khó tính Và như vậy, nhãn hiệu hàng hóa trở thành động lực thúc đẩy sản xuất, tạo nên uy tín và sự phát triển của các nhà kinh doanh

Vậy có thể thấy việc sử dụng đúng đắn chức năng của nhãn hiệu hàng hóa theo đúng pháp luật sẽ tạo nên một sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm Tuy nhiên, trên thực tế do ham lợi, muốn đạt lợi nhuận nhanh chóng và bằng mọi cách rẻ nhất, người ta đã làm hàng giả, bắt chước hoặc nhái theo các nhãn hiệu đã được công chúng ưa chuộng để sản xuất các hàng hóa kém chất lượng và bán với giá rẻ hơn Hậu

Trang 32

quả được đổ lên đầu cả người tiêu dùng, nhà sản xuất lẫn toàn bộ nền kinh tế Người tiêu dùng thiếu lòng tin vào chất lượng và uy tín sản phẩm khiến nhà sản xuất không muốn đầu tư sản xuất hàng hóa mang nhãn hiệu của mình, và nền kinh tế đương nhiên bị triệt tiêu sức sản xuất Thị trường sẽ không còn bình đẳng cho mọi doanh nghiệp khi sản phẩm của những kẻ làm nhái, làm giả được mang thương hiệu nổi tiếng dù không cần thời gian cũng như chi phí đầu tư lại bán được với giá rẻ có thể cạnh tranh với những sản phẩm của trí tuệ

Trước thực tế đó, bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa được xem là biện pháp pháp lý hữu hiệu nhất để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho các chủ nhãn hiệu hàng hóa, tạo cho họ một sân chơi lành mạnh giữa những nhà sản xuất đúng nghĩa với những sản phẩm của trí tuệ thực sự Sự bảo hộ nhãn hiệu loại bỏ sự cạnh tranh không công bằng đối với những sản phẩm, dịch vụ tương tự không bảo hộ Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa đồng nghĩa với việc người đăng

ký được chứng nhận quyền sở hữu cũng như ngăn chặn mọi sự xâm phạm bất hợp pháp của bên thứ ba đối với nhãn hiệu hàng hóa của họ

Tuy nhiên, cần nhận thức được rằng, bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa không thỏa đáng có thể được xem là cạnh tranh thiếu lành mạnh và là rào cản đối với việc mở cửa thị trường Trong một số trường hợp, bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa thực chất là việc bảo hộ sản xuất trong nước, chống lại sự xâm nhập của các sản phẩm quốc tế vào thị trường trong nước Vụ kiện cá tra, cá basa và nhãn hiệu CATFISH chính là bài học đắt giá về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Mỹ nói riêng và thị trường nước ngoài nói chung

1.1.6.3 Góp phần nâng cao giá trị sản phẩm và giá trị của doanh nghiệp

Nhãn hiệu hàng hóa tạo ra giá trị cho sản phẩm, khách hàng sẽ rất sẵn lòng trả giá cao hơn để được sử dụng sản phẩm/dịch vụ mang nhãn hiệu mà

họ yêu thích Đồng thời, họ cũng sẵn sàng sử dụng sản phẩm/dịch vụ đó thường xuyên hơn, vì vậy, giá trị mang lại cho doanh nghiệp sẽ cao hơn

Trang 33

Chính vì thế, việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa là việc làm nhằm tạo ra

sự khác biệt giữa sản phẩm, dịch vụ của mình với những sản phẩm, dịch vụ cùng loại khác và đây cũng chính là một trong những phương pháp nâng cao giá trị sản phẩm và giá trị của doanh nghiệp

1.1.6.4 Bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người tiêu dùng

Người tiêu dùng là một chủ thể quan trọng không thể thiếu để tạo nên thị trường đa dạng và sôi động như hiện nay Bởi vậy, trước tình trạng hàng giả, hàng nhái tràn lan như hiện nay, người tiêu dùng lại là người sẽ phải chịu những hậu quả trực tiếp từ những hàng hóa thiếu chất lượng

Với người tiêu dùng, nhãn hiệu hàng hóa có vai trò vô cùng quan trọng Trong nhịp sống sôi động và bận bịu, với vô vàn các mặt hàng, dịch vụ luôn đáp ứng nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng thì việc bỏ thời gian lựa chọn loại sản phẩm yêu thích và thiết yếu dường như là không thể Người tiêu dùng chủ yếu đưa ra quyết định lựa chọn dựa trên kinh nghiệm tiêu dùng, cụ thể chính là sự hiểu biết và tin tưởng của họ về các nhãn hiệu hàng hóa khác nhau của cùng một loại hàng hóa, dịch vụ Tuy nhiên, người tiêu dùng không thể khôn ngoan tới mức họ có thể phân biệt được các hàng hóa mang nhãn hiệu thật với những sản phẩm làm nhái, làm giả đầy tinh vi như hiện nay Việc mua nhầm xảy ra thường xuyên hơn và hậu quả là không thể lường được Khi đó, bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa là công cụ hữu hiệu nhất để bảo vệ người tiêu dùng Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa góp phần đẩy lùi tệ nạn hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, giúp người tiêu dùng thoát khỏi tâm lý hoang mang, lo sợ khi lựa chọn sản phẩm tiêu dùng [13]

1.1.6.5 Có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo hộ lợi ích quốc gia

Vì việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa chỉ mang tính lãnh thổ nên một nhãn hiệu hàng hóa được bảo hộ đầy đủ ở Việt Nam sẽ không được bảo hộ ở các quốc gia khác nếu không đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ở nước đó

Trang 34

Như vậy, trong trường hợp các hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp Việt Nam được xuất khẩu sang thị trường nước ngoài, nếu các doanh nghiệp chưa kịp thời đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ở nước đó thì rất dễ xuất hiện hàng giả, hàng nhái Ngoài ra, các doanh nghiệp còn có thể bị đối tác hoặc các doanh nghiệp khác trên thị trường nước ngoài đăng ký nhãn hiệu hàng hóa của mình tại thị trường đó Khi đó, việc xuất khẩu hàng hóa với nhãn hiệu hàng hóa đó của doanh nghiệp Việt Nam vào thị trường này sẽ trở thành hành vi phạm pháp vì đương nhiên, doanh nghiệp Việt Nam bị cấm xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ với nhãn hiệu hàng hóa đã được doanh nghiệp khác đăng ký Trên thực tế những năm vừa qua, đã có nhiều doanh nghiệp Việt Nam thành công trong việc xây dựng các sản phẩm có mẫu mã đẹp, chất lượng tốt, tạo được uy tín trong lòng người tiêu dùng Tuy nhiên, khi đưa những sản phẩm này ra thị trường nước ngoài, họ, một phần vì thiếu hiểu biết, một phần vì chậm chân đã để các doanh nghiệp nước ngoài chiếm đoạt mất nhãn hiệu hàng hóa của mình đơn giản chỉ bằng cách đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại thị trường xuất khẩu Kết quả tất yếu là chúng ta mất đi thị trường tiềm năng ở nước ngoài Điều này thực sự là một tổn thất đối với nền kinh tế Việt Nam khi mà tổng thu nhập quốc dân phần lớn là đóng góp doanh thu của các ngành có sản phẩm xuất khẩu

Ngoài ra, pháp luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa còn tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho việc thu hút vốn đầu tư và chuyển giao công nghệ nước ngoài Khi tìm hiểu cơ hội đầu tư, các nhà đầu tư nước ngoài rất quan tâm đến việc tài sản của họ khi đầu tư vào một nước có được pháp luật bảo hộ hay không, đặc biệt là các tài sản trí tuệ, trong đó có nhãn hiệu hàng hóa Nếu đứng trước thực trạng nhãn hiệu hàng hóa không được bảo hộ hoặc bảo hộ kém hiệu quả,

họ luôn dự kiến được khả năng sản phẩm gắn nhãn hiệu của mình sẽ bị sao chép, làm giả hoặc sẽ có rất nhiều nhãn hiệu tương tự gắn lên các sản phẩm cùng loại được bán với giá rẻ thì nhiều khả năng là họ sẽ lựa chọn một quốc gia khác nơi mà nhãn hiệu hàng hóa của họ được bảo hộ tốt hơn

Trang 35

1.2 ĐĂNG KÝ BẢO HỘ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA Ở NƯỚC NGOÀI

Theo quy định về pháp luật bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, một nhãn hiệu được đăng ký tại Việt Nam thì chỉ được bảo hộ trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam và không đương nhiên được bảo hộ ở nước ngoài Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chưa nhận thức được vấn đề này và hậu quả

là nhãn hiệu của nhiều doanh nghiệp đã bị người nước ngoài chiếm đoạt, đăng

ký trước Vì vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, doanh nghiệp Việt Nam cần đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại những nước mà doanh nghiệp có dự định sản xuất kinh doanh

1.2.1 Định nghĩa

Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ở nước ngoài là việc chủ nhãn hiệu hàng hóa đăng ký quyền được bảo hộ về nhãn hiệu hàng hóa tại các nước khác, nơi họ có nhu cầu xác lập về quyền sở hữu độc quyền đối với nhãn hiệu hàng hóa

Để sản phẩm của doanh nghiệp có chỗ đứng vững trên thị trường nước ngoài, doanh nghiệp đang tiến hành xuất khẩu hoặc sẽ tiến hành xuất khẩu hàng hóa trong tương lai nên đăng ký nhãn hiệu hàng hóa của mình tại nước ngoài Việc xuất khẩu hàng hóa mang nhãn hiệu phân biệt sẽ cho biết sản phẩm của doanh nghiệp được biết đến ở thị trường nước ngoài, cho phép doanh nghiệp xây dựng được danh tiếng và hình ảnh đối với người tiêu dùng nước ngoài, điều đó tạo ra được lợi nhuận cao hơn cho doanh nghiệp

1.2.2 Nguyên tắc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ở nước ngoài

Việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa không phải là một việc làm đương nhiên cho bất kỳ các doanh nghiệp có mong muốn được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa phải tuân theo các nguyên tắc về bảo hộ

Trang 36

1.2.2.1 Nguyên tắc lãnh thổ

Đây là một nguyên tắc đặc trưng trong bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa của Luật nhãn hiệu của Việt Nam và quốc tế Nhãn hiệu được đăng ký, bảo hộ theo nguyên tắc lãnh thổ, nghĩa là đăng ký ở nước nào thì chỉ có hiệu lực ở nước đó Thông thường, các doanh nghiệp khi sản xuất hàng hóa đều tạo dựng cho hàng hóa một nhãn hiệu đặc trưng, mang tính riêng biệt, nhằm đánh dấu sự ra đời, tồn tại và phát triển của hàng hóa đó Và để bảo vệ quyền sở hữu độc quyền đối với nhãn hiệu đó, người ta phải đăng ký bảo hộ với các cơ quan có chức năng về sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, việc bảo hộ chỉ có hiệu lực trong lãnh thổ mà nhãn hiệu hàng hóa được đăng ký Khi hàng hóa được xuất

đi bất kỳ một quốc gia nào khác, chủ nhãn hiệu phải làm thủ tục đăng ký bảo

hộ nhãn hiệu hàng hóa tại nước đó theo các quy định hiện hành

Trong một số trường hợp, có xảy ra ngoại lệ là nhãn hiệu hàng hóa được đăng ký bảo hộ ở một quốc gia nhưng lại có giá trị ở một nhóm các quốc gia Có thể lấy ví dụ ở các quốc gia Đông Âu như nhãn hiệu BENELUX

có thể được đăng ký ở một trong các nước Bỉ, Hà Lan, Lucxambua và có hiệu lực tại cả ba quốc gia này Hay nhãn hiệu của Cộng đồng chung Châu Âu sẽ

có hiệu lực cho tất cả các nước thuộc cộng đồng châu Âu mặc dù chỉ cần đăng

ký tại một quốc gia trong đó Vấn đề ở đây là các quốc gia này áp dụng chung một điều luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nên phạm vi pháp lý của việc bảo

hộ nhãn hiệu hàng hóa có hiểu là tương đương nhau Tóm lại, nguyên tắc bảo

hộ nhãn hiệu hàng hóa là nguyên tắc lãnh thổ

1.2.2.2 Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên

Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên (first to file) được thể hiện trong trường hợp các nhãn hiệu xin đăng ký trùng nhau thì nhãn hiệu sẽ được ưu tiên cấp cho người nộp đơn đầu tiên Đây là một nguyên tắc bảo hộ hết sức hợp lý Ý tưởng về một nhãn hiệu hàng hóa đối với các hàng hóa tương đối giống nhau

về chức năng và hình thức dẫn đến sự trùng lặp giữa những nhà sáng tạo Và

Trang 37

nhãn hiệu được chấp nhận bảo hộ theo quy định của pháp luật cũng rất chặt chẽ trong việc xác định các dấu hiệu tạo nên nhãn hiệu hàng hóa để phân biệt

Vì vậy, việc chỉ chấp nhận đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa đầu tiên chính là việc phòng tránh tình trạng ăn cắp, làm nhái, bắt chước các nhãn hiệu

đã được bảo hộ trước đó

Hệ thống pháp luật của các nước trên thế giới như pháp luật EU, Mỹ

và Nhật Bản đều quy định và áp dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên như căn cứ pháp lý đầy đủ nhất để chấp nhận đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa

Pháp luật Nhật Bản quy định rõ nguyên tắc này tại Điều 8 Luật nhãn hiệu hàng hóa Nhật Bản Theo quy định này, khi có hai hay nhiều đơn đăng

ký nhãn hiệu hàng hóa liên quan đến các nhãn hiệu hàng hóa tương tự hoặc giống nhau được áp dụng đối với các hàng hóa, dịch vụ cùng loại được nộp vào những ngày khác nhau thì chỉ người nộp đơn nào có ngày nộp đơn sớm nhất mới có thể được cấp đăng ký nhãn hiệu hàng hóa Trong trường hợp các đơn nộp cùng một ngày thì bắt buộc các chủ thể nộp đơn phải đàm phán với nhau để chọn ra một người được quyền đăng ký Cơ quan cấp đăng ký sẽ có yêu cầu về vấn đề này và buộc các bên phải báo cáo về đàm phán giữa họ trong một thời hạn nhất định Thông thường, nội dung thỏa thuận của các bên liên quan đến việc một hoặc một số chủ thể chấp nhận rút đơn đăng ký và bên kia chấp nhận thanh toán cho bên rút đăng ký một khoản tiền bù đắp chi phí

để tạo ra một nhãn hiệu mới Tuy nhiên, không phải lúc nào các bên cũng thỏa thuận được vấn đề này với nhau Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được hoặc thỏa thuận được nhưng báo cáo không đúng hạn thì cơ quan cấp đăng ký sẽ tổ chức bốc thăm một cách công bằng để chọn ra một bên [24]

Giống như pháp luật Nhật Bản, pháp luật Việt Nam cũng quy định áp dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên Tuy nhiên, chính nguyên tắc này sẽ tạo ra thách thức lớn cho các doanh nghiệp khi chưa kịp thời đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa Nguy cơ bị cướp mất nhãn hiệu là rất lớn đến từ những doanh

Trang 38

nghiệp vốn nắm vững pháp luật về sở hữu trí tuệ hơn nhiều so với các doanh nghiệp Việt Nam, chỉ đơn giản bằng cách đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa trước tiên Họ có thể là các doanh nghiệp đối thủ nội địa tại thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam, họ cũng có thể là các đối tác làm

ăn lâu dài với các doanh nghiệp Việt Nam, biết rõ các nhãn hiệu hàng hóa của Việt Nam

Như vậy, nắm được các nguyên tắc quan trọng của bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, các doanh nghiệp cần ý thức được việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ở nước ngoài vốn không phải vấn đề đơn giản, nắm bắt được cách thức đăng ký bảo hộ cũng như quy định của các quốc gia khác nhau lại càng

là vấn đề khó khăn hơn Nhận thức được tầm quan trọng của việc đăng ký bảo

hộ nhãn hiệu hàng hóa ở nước ngoài, doanh nghiệp phải kịp thời nộp đơn đăng ký tại các quốc gia mình đã và dự định sẽ xuất khẩu hàng hóa tới

1.2.3 Ý nghĩa của việc đăng ký nhãn hiệu hàng hóa ở nước ngoài

Thế giới hiện nay đang bước sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của hội nhập kinh tế quốc tế với mọi giới hạn và khoảng cách đều đang bị xóa nhòa Tổ chức Thương mại Thế giới bao gồm nhiều nước trên thế giới trong

đó có Việt Nam đang tạo ra cho nền kinh tế thế giới một sân chơi toàn cầu với luật lệ hài hòa và thống nhất Các hàng rào thuế quan và phi thuế quan trong hoạt động xuất khẩu đang dần được bãi bỏ, hoạt động thương mại ngày càng thông thoáng

Trong bối cảnh đó, ngược với giảm thiểu các hàng rào mậu dịch quốc

tế, việc bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp ngày càng được tăng cường Tầm quan trọng của bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa càng được đề cao nhằm bảo đảm và tăng cường tính cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ Với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam, đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, đặc biệt tại thị trường xuất khẩu có ý nghĩa vô cùng to lớn Đó là:

Trang 39

1.2.3.1 Đảm bảo cho doanh nghiệp một vị thế cạnh tranh vững chắc trên thị trường quốc tế

Những năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam không ngừng tăng lên, hoạt động xuất khẩu ngày càng mở rộng cả về quy mô lẫn chất lượng Bạn bè quốc tế đã ít nhiều biết đến sản phẩm có xuất

xứ từ Việt Nam Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các doanh nghiệp có một vị thế chắc chắn ở thị trường nước ngoài, mặc dù họ vốn là những doanh nghiệp có tiếng tại Việt Nam Nguyên nhân chính là vấn đề đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa

Các doanh nghiệp Việt Nam chỉ chuyên tâm vào việc đầu tư về chất lượng sản phẩm và xây dựng thương hiệu để xuất khẩu mà lãng quên bảo vệ

và giữ gìn thương hiệu bằng việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, quên rằng họ đang bước vào sân chơi kinh tế toàn cầu với những luật lệ chặt chẽ về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa Thông thường các nhà sản xuất Việt Nam không nhận thức được tầm quan trọng của việc đăng ký nhãn hiệu hàng hóa tại thị trường nước ngoài nên tình trạng bị chiếm đoạt nhãn hiệu, xuất hiện hàng giả, hàng nhái là không hiếm Xuất khẩu hàng hóa ở một thị trường mới đồng nghĩa với việc doanh nghiệp tung ra một sản phẩm mới ở một thị trường mới Việc đầu tư xây dựng và bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa có ý nghĩa tương tự như tại thị trường trong nước, thậm chí mang tầm quan trọng cao hơn nhãn hiệu hàng hóa luôn là một tài sản quan trọng của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh Đặc biệt với hoạt động xuất khẩu, nơi hàng hóa lần đầu tiên được

ra mắt thị trường, nhãn hiệu hàng hóa là một công cụ hữu hiệu cho việc xâm nhập thị trường

Vì vậy, việc đăng ký nhãn hiệu hàng hóa tại thị trường nước ngoài một cách kịp thời là việc làm cần thiết của các doanh nghiệp xuất khẩu Mặt khác, đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại thị trường nước ngoài là một yêu cầu mang tính bắt buộc bởi nhãn hiệu hàng hóa mang tính lãnh thổ Muốn bảo

Trang 40

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời ngăn chặn mọi tình trạng xâm phạm bất hợp pháp quyền sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp phải kịp thời đăng

ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại các thị trường xuất khẩu Đó chính là cách thức doanh nghiệp xác lập quyền sở hữu đối với nhãn hiệu hàng hóa Có nhãn hiệu hàng hóa được bảo hộ tại thị trường nước ngoài, doanh nghiệp có điều kiện để xâm nhập, tạo lập, từ đó giữ vững và phát triển thị trường xuất khẩu

Do đó, cũng giống như hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước, việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại thị trường xuất khẩu sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp một vị thế cạnh tranh vững chắc trên thị trường quốc tế

1.2.3.2 Tạo tiền đề thúc đẩy mạnh hơn hoạt động hợp tác sản xuất kinh doanh với các doanh nghiệp nước ngoài

Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại thị trường nước ngoài giúp doanh nghiệp tạo lập và giữ vững thị trường xuất khẩu, đưa đến một hoạt động kinh doanh ổn định mang tính lâu dài cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việc tạo dựng uy tín trên một thị trường mới lạ không phải là điều dễ dàng Nếu như tại thị trường nội địa, người tiêu dùng có thể dễ dàng kiểm chứng sản phẩm của các nhà sản xuất trong nhờ các thông tin minh bạch của quốc gia thì ở thị trường nước ngoài, các doanh nghiệp được đặt vị trí của một trong các quốc gia xuất khẩu vào thị trường đó Người tiêu dùng không khỏi hoài nghi về chất lượng cũng như đặc tính của sản phẩm, bên cạnh sản phẩm của các doanh nghiệp xuất khẩu khác, đặc biệt với các thị trường khó tính như

Mỹ hay Châu Âu Việc tạo dựng một nhãn hiệu hàng hóa đáp ứng được các yêu cầu để được bảo hộ sẽ tạo nên uy tín của hàng hóa và hệ quả tất yếu là uy tín của doanh nghiệp

Khi doanh nghiệp đã tạo dựng được uy tín với người tiêu dùng tức là

họ đã gây dựng được niềm tin đối với các đối tác nước ngoài Mong muốn của các doanh nghiệp nước ngoài được làm việc lâu dài với các doanh nghiệp

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Chính phủ (2006), Nghị định 103/2006/NĐ-CP ngày 22-9 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 103/2006/NĐ-CP ngày 22-9 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
5. Chính phủ (2006), Nghị định 106/2006/NĐ-CP ngày 22-9 quy định xử phạt hành chính về sở hữu công nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 106/2006/NĐ-CP ngày 22-9 quy định xử phạt hành chính về sở hữu công nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
7. Cục Sở hữu trí tuệ (2004), Luật Nhãn hiệu hàng hóa của Hoa Kỳ năm 1946, (tài liệu dịch), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Nhãn hiệu hàng hóa của Hoa Kỳ năm 1946
Tác giả: Cục Sở hữu trí tuệ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004
8. Cục Sở hữu trí tuệ (2004), Luật Nhãn hiệu hàng hóa của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, (tài liệu dịch), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Nhãn hiệu hàng hóa của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Tác giả: Cục Sở hữu trí tuệ
Năm: 2004
9. Nguyễn Bá Diến - Hoàng Ngọc Giao (đồng chủ biên), Về việc thực thi Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc thực thi Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ
10. Hiệp định thương mại giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp định thương mại giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
12. Ngô Quỳnh Hoa (2005), Pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về nhãn hiệu hàng hóa ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Ngô Quỳnh Hoa
Năm: 2005
13. Trần Việt Hùng (2004), "Hàng giả, hàng nhái và những thách thức đối với doanh nghiệp trong quá trình hội nhập", Bản tin Sở hữu trí tuệ, (40) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàng giả, hàng nhái và những thách thức đối với doanh nghiệp trong quá trình hội nhập
Tác giả: Trần Việt Hùng
Năm: 2004
14. Trần Việt Hùng (2005), "Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa trong kỷ nguyên hội nhập kinh tế quốc tế", Tin tức hoạt động sở hữu công nghiệp, (22) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa trong kỷ nguyên hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Trần Việt Hùng
Năm: 2005
15. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2001), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tư pháp quốc tế
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
17. Quốc hội (1999), Bộ luật Hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Hình sự
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1999
18. Quốc hội (2004), Bộ luật tố tụng dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng dân sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2004
19. Quốc hội (2004), Luật Cạnh tranh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Cạnh tranh
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2004
21. Quốc hội (2005), Luật Sở hữu trí tuệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Sở hữu trí tuệ
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2005
22. Quốc hội (2009), Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi, bổ sung)
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2009
6. Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp được sửa đổi tại Stockholm năm 1967 Khác
11. Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs) năm 1994 Khác
23. Thỏa ước Madrid năm 1981 về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa được sửa đổi năm 1979 Khác
24. Trung tâm Sở hữu công nghiệp Châu Á - Thái Bình Dương (JIII) (2000), Giới thiệu pháp luật nhãn hiệu hàng hóa Nhật Bản Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w