Đối với việc chứng nhận các văn bản liên quan đến tài sản của vợ, chồng, công chứng viên phải hiểu biết tường tận và vận dụng tốt các quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THU HỒNG
CÔNG CHỨNG CÁC VĂN BẢN LIÊN QUAN ĐẾN TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THU HỒNG
CÔNG CHỨNG CÁC VĂN BẢN LIÊN QUAN ĐẾN TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
Chuyên ngành : Luật dân sự
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Minh Tuấn
HÀ NỘI - 2012
Trang 3VIỆC CÔNG CHỨNG CÁC VĂN BẢN LIÊN QUAN ĐẾN TÀI SẢN CỦA VỢ, CHỒNG
1.1.3.3 Giá trị pháp lý của văn bản công chứng 18 1.2 Pháp luật Việt Nam về chế độ tài sản của vợ, chồng và việc
công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng
qua các giai đoạn
25
Trang 4Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP
DỤNG TRONG VIỆC CÔNG CHỨNG CÁC VĂN BẢN LIÊN QUAN ĐẾN TÀI SẢN CỦA VỢ, CHỒNG
34
2.1 Một số quy định chung về công chứng các văn bản liên
quan đến tài sản của vợ chồng
34
2.1.1 Thủ tục chung về công chứng hợp đồng, giao dịch 34 2.1.1.1 Công chứng hợp đồng, giao dịch đã được soạn thảo sẵn 34 2.1.1.2 Công chứng hợp đồng, giao dịch do công chứng viên soạn
thảo theo đề nghị của người yêu cầu công chứng
36
2.1.3 Tiếng nói, chữ viết và việc ghi trang, tờ trong văn bản công chứng 39 2.1.4 Sửa lỗi kỹ thuật trong văn bản công chứng 40 2.1.5 Công chứng việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ giao dịch 40 2.1.6 Người được đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng
2.2.1 Tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng 42
2.2.2 Soạn thảo các văn bản liên quan đến tài sản của vợ, chồng
hoặc kiểm tra nội dung dự thảo văn bản
77
2.2.2.1 Soạn thảo các văn bản liên quan đến tài sản của vợ, chồng
theo đề nghị của người yêu cầu công chứng
77
2.2.2.2 Kiểm tra dự thảo văn bản liên quan đến tài sản của vợ, 86
Trang 5VĂN BẢN LIÊN QUAN ĐẾN TÀI SẢN CỦA VỢ, CHỒNG THEO YÊU CẦU XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG
93
3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về công chứng các
văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng
93
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về công chứng
các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng theo yêu cầu
xã hội hóa hoạt động công chứng
95
3.2.1 Sửa đổi, bổ sung pháp luật về công chứng các văn bản liên
quan đến tài sản của vợ chồng
95
3.2.2 Sửa đổi, bổ sung pháp luật hôn nhân và gia đình có liên
quan đến việc công chứng các văn bản liên quan đến tài sản
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Bên cạnh việc ghi nhận vợ, chồng có quyền sở hữu tài sản chung, pháp luật Việt Nam hiện hành còn ghi nhận quyền sở hữu tài sản riêng của mỗi người Một trong những cách thức mà vợ, chồng có thể thực hiện khi định đoạt tài sản chung hoặc tài sản riêng là yêu cầu công chứng các văn bản thỏa thuận liên quan đến tài sản của vợ, chồng Theo quy định tại Điều 6 Luật Công chứng năm 2006 thì:
1 Văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa
vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác;
2 Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết
sự, kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu [42]
Do vậy, các văn bản thỏa thuận về tài sản của vợ, chồng được công chứng là căn cứ pháp lý để vợ, chồng tiến hành việc sang tên trước bạ (đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng) và thực hiện quyền của chủ sở hữu, sử dụng đối với tài sản
Sở dĩ văn bản công chứng có giá trị chứng cứ và giá trị thi hành bởi
"Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tình hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng" [42 Điều 2] Hơn nữa, khi chứng nhận các hợp đồng, giao dịch, cá nhân công chứng viên phải
"chịu trách nhiệm trước pháp luật về văn bản công chứng" [42, khoản 3 Điều 3]
Trang 7Do vậy, để bảo đảm tính xác thực, tính hợp pháp của các hợp đồng, giao dịch; bảo đảm giá trị thi hành, giá trị chứng cứ của các văn bản công chứng đòi hỏi công chứng viên phải có kiến thức pháp luật chuyên sâu về nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực dân sự, hôn nhân gia đình, đất đai…, đồng thời phải có những kỹ năng nghề nghiệp nhất định khi thực hiện việc công chứng Nhìn bề ngoài, hoạt động công chứng là hoạt động mang tính thủ tục, hình thức, nhưng
để giải quyết được các việc công chứng thì công chứng viên phải hoàn toàn dựa trên các quy định của pháp luật nội dung Đối với việc chứng nhận các văn bản liên quan đến tài sản của vợ, chồng, công chứng viên phải hiểu biết tường tận và vận dụng tốt các quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng, đồng thời phải vận dụng tốt các kỹ năng nghề nghiệp, tuân thủ đúng trình tự, thủ tục công chứng được quy định trong Luật Công chứng và các văn bản pháp luật có liên quan
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng việc công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng ở nước ta thời gian qua đã có nhiều quan điểm, nhận thức đánh giá khác nhau giữa các tổ chức hành nghề công chứng, giữa các công chứng viên; và đến nay cũng chưa có sự hướng dẫn thống nhất từ phía các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Điều đó dẫn đến tình trạng cùng một vụ việc, có công chứng viên từ chối công chứng nhưng có thể lại có công chứng viên khác thực hiện việc chứng nhận Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là do Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật Công chứng và các văn bản hướng dẫn thi hành các luật này về lĩnh vực công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng còn chưa đầy đủ, chưa cụ thể, chưa theo kịp với sự phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay
Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu sâu và toàn diện về công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng Thực tiễn đòi hỏi phải làm sáng tỏ hơn căn cứ để công chứng
Trang 8viên thực hiện việc chứng nhận các văn bản liên quan đến tài sản của vợ, chồng; đồng thời thực tiễn cũng đặt ra yêu cầu phải có sự phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng và thực trạng áp dụng các quy định này, từ đó đưa ra được giải pháp khắc phục những bất cập, thiếu sót và tiếp tục hoàn thiện pháp luật
về việc công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng theo chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Công chứng các văn bản liên quan đến tài
sản của vợ chồng" có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam đến nay, tuy đã có những công trình liên quan đến đề tài luận văn nhưng hầu hết tập trung nghiên cứu về chế độ tài sản của vợ chồng dưới các khía cạnh khác nhau, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu
về việc công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng Có thể kể đến một số công trình như: Công trình khoa học đề tài cấp Viện (Viện Nghiên
cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp) với "Bình luận Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000"; TS Nguyễn Ngọc Điện với "Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam"; Nguyễn Văn Cừ với đề tài luận án tiến sĩ năm
2005 "Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam" (Trường Đại học Luật Hà Nội); Trần Đức Hoài với đề tài luận văn thạc
sĩ năm 2006 "Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình trong hoạt động sản xuất kinh doanh" (Trường Đại học Luật Hà Nội); Đinh Hạnh Nga với đề tài luận văn thạc sĩ "Ảnh hưởng của Nho giáo đến các quy định pháp luật Việt Nam về mối quan hệ giữa vợ và chồng" (Khoa Luật - Đại
học Quốc gia Hà Nội)… Ngoài ra, còn một số bài viết đăng trên Tạp chí Luật học, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Nhà nước và pháp luật nghiên cứu,
đề xuất kiến nghị một số vấn đề liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng
như: "Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân" của Nguyễn Phương Lan, Tạp chí Luật học, số 6/2002; "Bàn thêm
Trang 9về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành" của ThS Bùi Minh Hồng, Tạp chí Luật học, số 5/2003; "Chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng liên hệ từ pháp luật nước ngoài đến pháp luật Việt Nam" của ThS Bùi Minh Hồng - Khoa Luật
dân sự, Đại học Luật Hà Nội, Tạp chí Luật học, số 11 (114) năm 2009…
Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện xã hội hóa hoạt động công chứng, vấn đề công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng cần được làm sáng tỏ hơn về mặt lý luận
và thực tiễn, làm cơ sở cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật về công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng
3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm rõ nội dung các quy định của pháp luật về công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng, thực tiễn thực hiện việc công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng, từ đó đánh giá, đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến việc công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng theo chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng mà Đảng và Nhà nước ta đã
đề ra trong giai đoạn hiện nay
* Phạm vi nghiên cứu
Theo quy định của pháp luật dân sự hiện hành thì có nhiều văn bản có liên quan đến tài sản của vợ, chồng Tuy nhiên phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ đề cập đến việc công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật Công chứng và các văn bản hướng dẫn thi hành các luật trên gồm:
- Công chứng văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân;
Trang 10- Công chứng văn bản khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng;
- Công chứng văn bản nhập tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng vào tài sản chung
Ngoài ra, đề tài cũng đề cập đến hai loại văn bản phát sinh trong thực tiễn hành nghề công chứng có liên quan đến tài sản của vợ, chồng được phần lớn công chứng viên thực hiện việc chứng nhận là: văn bản xác nhận tài sản riêng của vợ hoặc chồng và văn bản chia tài sản chung sau khi có bản án hoặc quyết định công nhận thuận tình ly hôn đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa hoạt động công chứng
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp lịch sử, phương pháp khảo sát thực tiễn, phỏng vấn chuyên gia…
5 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu sâu về công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng
- Luận văn đã phân tích, làm rõ quy trình công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng; chỉ ra và phân tích các yếu tố quy định và chi phối việc công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng thể hiện trong các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, chỉ ra những điểm tiến bộ
so với các quy định trước đây và những điểm còn bất cập Luận văn cũng đưa
ra những đánh giá, nhận định khách quan về thực trạng thực hiện việc công chứng các văn bản liên quan đến tài sản vợ, chồng trong thực tiễn hoạt động công chứng
Trang 11- Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn đưa ra được những kiến nghị cụ thể về hoàn thiện pháp luật công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng cũng như các kỹ năng cần thiết bảo đảm cho công chứng viên thực hiện tốt hơn vai trò là "thẩm phán phòng ngừa" của mình Do vậy, những kiến nghị luận văn đưa ra có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn đối với hoạt động công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng
6 Ý nghĩa của luận văn
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu hoàn thiện các quy định pháp luật, góp phần nâng cao hoạt động công chứng của các tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và học tập cho các học viên các lớp đào tạo nghiệp vụ công chứng, môn học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam Luận văn cũng được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các công chứng viên khi thực hiện việc chứng nhận các văn bản liên quan đến tài sản của vợ, chồng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về công chứng các văn bản liên quan đến
tài sản của vợ chồng
Chương 2: Quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng trong việc
công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về công chứng các văn bản liên quan
đến tài sản của vợ chồng theo yêu cầu xã hội hóa hoạt động công chứng
Trang 121.1.1 Khái niệm công chứng
Công chứng là một hoạt động có liên quan đến quyền lực nhà nước Khái niệm công chứng ở nước ta lần đầu tiên được đề cập đến trong Thông tư
số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp hướng dẫn công tác công chứng của nhà nước (dưới đây gọi là Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987), theo đó "Công chứng nhà nước là một hoạt động của Nhà nước, nhằm giúp công dân, các cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản, sự kiện pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện" [6] Từ khái niệm trên cho thấy công chứng nhà nước là một hoạt động chỉ
do các cơ quan nhà nước thực hiện Theo Công văn số 554/CV-CC ngày 10/7/1989 của Bộ Tư pháp về việc bổ sung một số điểm trong việc triển khai thực hiện Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 và Thông tư số 858/QLTP ngày 15/10/1987 thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện công chứng nhà nước là Phòng công chứng nhà nước và Ủy ban nhân dân tỉnh (nơi chưa có Phòng công chứng nhà nước) (mục II.2 "Về thẩm quyền thực hiện các việc làm Công chứng nhà nước") Khái niệm trên cũng chỉ rõ phạm vi công chứng nhà nước bao gồm việc lập và xác nhận các văn bản, sự kiện pháp lý theo yêu cầu của công dân, cơ quan, tổ chức và sau khi công chứng viên chứng nhận, các văn bản, sự kiện đó có giá trị pháp lý được "hợp pháp hóa" và "có hiệu lực thực hiện"
Theo Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đồng Bộ trưởng
về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước (sau đây gọi là Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991) thì:
Trang 13Công chứng nhà nước là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và các giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa [10]
Từ khái niệm này cho thấy công chứng vẫn là hoạt động đặc thù chỉ
do nhà nước thực hiện, nhưng phạm vi công chứng đã thu hẹp lại, chỉ là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và các giấy tờ theo quy định của pháp luật
Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước (dưới đây gọi là Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996) đưa ra khái niệm công chứng như sau:
Công chứng là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và các giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là tổ chức), góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa [11]
Như vậy, Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 đưa ra khái niệm "công chứng" thay vì "công chứng nhà nước" như quy định tại các văn bản pháp luật
đã đề cập trước đó Ngoại trừ điểm khác biệt đó, nội dung khái niệm "công chứng" cũng tương tự như khái niệm "công chứng nhà nước" được nêu trong Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 Đến Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 18/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực (sau đây gọi là Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 18/12/2000) thì khái niệm "công chứng" được ghi nhận tại khoản 1 Điều 2, theo đó:
Công chứng là việc Phòng Công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập
Trang 14trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và các quan hệ xã hội khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) và thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định này [13]
Như vậy, từ những văn bản đầu tiên cho đến trước khi Luật Công chứng
ra đời, khái niệm công chứng luôn gắn liền với hoạt động của nhà nước, các hoạt động công chứng đều do các Phòng công chứng nhà nước thực hiện và công chứng là việc chứng nhận tính xác thực của các văn bản được xác lập
Luật Công chứng được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực từ ngày 01/7/2007 đã đưa ra khái niệm về công chứng với nhiều điểm mới, theo đó: "Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi
là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng" [42, Điều 2] Như vậy, Luật Công chứng với khái niệm nêu trên đã khẳng định chủ thể thực hiện hành vi công chứng là công chứng viên chứ không phải là Phòng công chứng như ghi nhận tại các văn bản quy phạm pháp luật trước đó Công chứng viên là chủ thể thực hiện việc "chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch" và việc chứng nhận đó được thực hiện theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu tự nguyện của tổ chức cá nhân
1.1.2 Công chứng viên
1.1.2.1 Công chứng viên
Xuất phát từ việc công chứng là một hoạt động góp phần phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm pháp luật, giúp cho việc giải quyết tranh chấp được thuận lợi, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, các văn bản pháp luật trước đây đều có những quy định mang tính chất "chuẩn hóa" đối với chức danh công chứng viên như: công chứng viên phải là người có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; đã tốt nghiệp đại học pháp lý (đại học luật) và được bồi dưỡng về nghiệp vụ công chứng (mục II Thông tư số 574/QLTPK ngày
Trang 1510/10/1987, Điều 14 của Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991, Điều 17 Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996, Điều 30 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 18/12/2000) Ngoài các tiêu chí trên, cùng với sự phát triển của hoạt động công chứng, điều kiện để một người được bổ nhiệm công chứng viên cũng ngày càng cao hơn Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 (Điều 14), Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 (Điều 17), Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 18/12/2000 (Điều 30) đều đòi hỏi ngoài các điều kiện đã nêu, một người muốn được bổ nhiệm công chứng viên còn phải đáp ứng điều kiện có thời gian công tác pháp luật từ 5 năm trở lên; Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 18/12/2000 còn đòi hỏi công chứng viên được bổ nhiệm phải có chứng chỉ tốt nghiệp khóa đào tạo nghề công chứng Mặt khác, các văn bản pháp luật về công chứng trước đó cũng đã có những quy định về việc công chứng viên phải hoạt động chuyên trách không được kiêm nhiệm các công việc khác (mục II.5 Thông tư số 276/TT-CC ngày 20/4/1991 của Bộ Tư pháp hướng dẫn
về tổ chức và quản lý công chứng nhà nước; Điều 17 Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 và Điều 29 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 18/12/2000)
Luật Công chứng đã có sự kế thừa và phát triển các quy định trước đây về công chứng viên Điều 7 Luật Công chứng quy định "Công chứng viên
là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Luật này, được bổ nhiệm để hành nghề công chứng" [42] Khoản 1 Điều 13 Luật Công chứng quy định về tiêu chuẩn công chứng viên là:
1 Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt và có đủ các tiêu chuẩn sau đây thì được xem xét, bổ nhiệm làm công chứng viên: a) Có bằng cử nhân luật; b) Có thời gian công tác pháp luật từ năm năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức; c) Có Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng; d) Đã qua thời gian tập sự hành nghề công chứng; đ) Có sức khỏe bảo đảm hành nghề công chứng [42]
Trang 16Như vậy, ngoài các điều kiện đã được nêu tại các văn bản pháp luật trước đó, một người để được bổ nhiệm làm công chứng viên theo quy định của Luật Công chứng thì còn phải qua thời gian tập sự hành nghề công chứng
ít nhất là 12 tháng tại tổ chức hành nghề công chứng Luật cũng quy định rõ nội dung công việc mà người tập sự nghề công chứng phải làm trong thời gian tập sự Và công chứng viên phải hoạt động chuyên trách, phải "hành nghề tại một tổ chức hành nghề công chứng" (điểm d khoản 2 Điều 22 Luật Công chứng)
Một trong những điểm rất mới của Luật Công chứng là công chứng viên không bắt buộc phải là công chức nhà nước Điều 22 Luật Công chứng quy định công chứng viên có quyền lựa chọn tổ chức hành nghề công chứng Điều 23 Luật Công chứng quy định tổ chức hành nghề công chứng gồm có Phòng công chứng và Văn phòng công chứng Phòng công chứng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập, là đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Tư pháp Văn phòng công chứng do công chứng viên thành lập, được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân (nếu Văn phòng công chứng do một công chứng viên thành lập); được tổ chức và hoạt động theo loại hình công ty hợp danh (nếu Văn phòng công chứng do hai công chứng viên trở lên thành lập) Như vậy, công chứng viên là công chức hoặc viên chức nhà nước nếu làm việc tại Phòng công chứng, không phải là công chức hay viên chức nhà nước nếu làm việc tại các Văn phòng công chứng Dù làm việc ở tổ chức hành nghề công chứng nào và có là công chức, viên chức nhà nước hay không thì địa vị pháp lý của các công chứng viên trong hành nghề công chứng là hoàn toàn như nhau Họ đều có quyền công chứng các loại hợp đồng, giao dịch như nhau và các văn bản do họ chứng nhận có giá trị pháp lý như nhau
1.1.2.2 Vai trò của công chứng viên trong việc chứng nhận hợp đồng, giao dịch
Công chứng viên có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động công chứng Tuy nhiên các văn bản pháp luật về công chứng trước đây chưa làm rõ được vị trí của công chứng viên, thậm chí vai trò, vị trí của công chứng viên
Trang 17bị lu mờ so với Phòng công chứng Cách thức tổ chức Phòng công chứng nhà nước trước đây khiến cho phần lớn người dân và các cơ quan, tổ chức coi Phòng công chứng là chủ thể duy nhất của hoạt động công chứng, còn công chứng viên chỉ là công chức làm việc trong Phòng công chứng giống như các công chức làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước khác
Điều 2 Luật Công chứng quy định "Công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch" [42] Khi chứng nhận hợp đồng, giao dịch, công chứng viên phải tuân theo các nguyên tắc hành nghề công chứng được quy định tại Điều 3 Luật Công chứng như: tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; khách quan, trung thực; chịu trách nhiệm trước pháp luật về văn bản công chứng; tuân theo quy tắc đạo đức hành nghề công chứng Như vậy chủ thể thực hiện việc công chứng nói chung và thực hiện việc chứng nhận các văn bản liên quan đến tài sản của vợ, chồng nói riêng là công chứng viên Tuy nhiên trách nhiệm đặt lên vai các công chứng viên là rất lớn bởi khi chứng nhận hợp đồng, giao dịch trong đó có các văn bản liên quan đến tài sản của vợ, chồng, công chứng viên không chỉ đảm bảo "tính xác thực" mà còn phải đảm bảo "tính hợp pháp" của các hợp đồng, giao dịch đó Bản thân công chứng viên phải chịu trách nhiệm về văn bản công chứng do mình chứng nhận Theo Giáo trình kỹ năng công chứng của Học viện Tư pháp do Nhà xuất bản Tư pháp ấn hành năm 2010 thì:
Công chứng viên có vai trò rất quan trọng, không chỉ xác lập hợp đồng, giao dịch về mặt hình thức phù hợp pháp luật mà còn phải giải thích về pháp luật và tư vấn cho các bên về quyền và nghĩa vụ của họ; bảo đảm các quy định bắt buộc của pháp luật phải được tuân thủ; tư vấn cho các bên về những sự lựa chọn mà họ có thể trong trường hợp các bên còn chưa thống nhất, hay nói cách khác làm cho nội dung của hợp đồng, giao dịch phù hợp theo quy định của pháp luật và đạo đức xã hội, và một vấn đề rất quan trọng
là làm cho các giao dịch thực tế đúng như quy định của pháp luật
Trang 18Nó cũng đòi hỏi công chứng viên phải xác định chính xác và khách quan những người tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch hoàn toàn
tự nguyện, không bị ép buộc, cưỡng ép, lừa dối [29, tr 79]
Tính xác thực của hợp đồng, giao dịch được công chứng viên chứng nhận là một yếu tố bảo đảm cho các hợp đồng, giao dịch đó có giá trị chứng
cứ Mà nói đến chứng cứ trong hoạt động tố tụng là nói đến "những gì có thật" và công chứng viên chỉ được chứng nhận "những gì có thật" Điều 3 Luật Công chứng cũng quy định công chứng viên phải "khách quan, trung thực" khi thực hiện việc công chứng Công chứng viên "có quyền từ chối công chứng" nếu trong hồ sơ yêu cầu công chứng "có vấn đề chưa rõ" hoặc
"có sự nghi ngờ đối tượng của hợp đồng, giao dịch là không có thật" mà người yêu cầu công chứng "không làm rõ được" hoặc sau khi công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định theo đề nghị của người yêu cầu công chứng mà cũng "không làm rõ được" (khoản 4 Điều 35 Luật Công chứng) Do vậy, các tình tiết, sự kiện trong các văn bản công chứng đã được công chứng viên chứng nhận là những tình tiết, sự kiện có thực, khách quan, đúng như được mô tả trong hợp đồng, giao dịch
Khi chứng nhận hợp đồng, giao dịch, trong đó có các văn bản liên quan đến tài sản của vợ, chồng, ngoài việc đảm bảo tính xác thực, công chứng viên còn phải đảm bảo tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch đó Đây chính
là điểm khác biệt giữa trường phái công chứng hệ Latine (công chứng nội dung) và công chứng hệ Anglosason (trường phái công chứng hình thức) Đối với công chứng hệ Anglosason, việc công chứng được giao cho các luật sư,
hộ tịch viên hoặc cố vấn pháp lý của nhà thờ thực hiện Khi công chứng, họ chỉ chú trọng đến tính xác thực về mặt hình thức như: nhận diện đúng khách hàng, xác định đúng thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, ghi lại sự kiện pháp lý hoặc thỏa thuận của các bên mà không quan tâm đến việc xác định tình trạng pháp lý của đối tượng hợp đồng, không quan tâm đến việc thỏa thuận của các bên yêu cầu công chứng có phù hợp hay trái với các quy định
Trang 19của pháp luật…Do vậy, những hợp đồng, văn bản được lập và chứng nhận bởi các luật sư, hộ tịch viên hoặc cố vấn pháp lý của nhà thờ mang lại sự an toàn pháp lý không cao, không được coi là chứng cứ trước Tòa án mà chỉ được coi
là nguồn chứng cứ nên vẫn cần phải điều tra, xác minh Trong công chứng hệ Latine, công chứng viên chỉ chứng nhận các hợp đồng, giao dịch hợp pháp và được từ chối công chứng đối với những hợp đồng, giao dịch bất hợp pháp Luật Công chứng của nước ta quy định công chứng viên khi chứng nhận hợp đồng, giao dịch là chứng nhận "tính hợp pháp" của các hợp đồng, giao dịch
đó Công chứng viên "có quyền từ chối công chứng" đối với những hợp đồng, giao dịch "có điều khoản vi phạm pháp luật" sau khi công chứng viên đã chỉ rõ cho người yêu cầu công chứng sửa chữa nhưng họ không sửa chữa (khoản 5 Điều 35 Luật Công chứng)
Theo Giáo trình kỹ năng công chứng của Học viện Tư pháp do nhà xuất bản tư pháp ấn hành năm 2010 thì việc đảm bảo tính xác thực và tính hợp pháp trong văn bản công chứng "chính là việc công chứng viên đảm bảo
an toàn pháp lý cho hợp đồng, giao dịch, hạn chế tranh chấp, đạt hiệu quả tích cực về mặt kinh tế - xã hội" [29, tr 179] Và như vậy công chứng viên "đã hoàn thành nhiệm vụ chính trị của một "thẩm phán phòng ngừa" đối với việc
"phòng ngừa những giao dịch, thỏa thuận không phù hợp với quy định của pháp luật, tạo môi trường lành mạnh, trong sạch cho đời sống kinh tế, thương mại, dân sự của xã hội" [29, tr 179] Và chính sự đảm bảo tính xác thực và tính hợp pháp khi chứng nhận hợp đồng, giao dịch là một yếu tố quan trọng làm nên giá trị pháp lý của văn bản công chứng
1.1.3 Văn bản công chứng
1.1.3.1 Khái niệm
Theo Đại từ điển Tiếng Việt do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 2011 thì văn bản là "bản chép tay hoặc in ấn với một nội dung nhất định, thường để lưu lại lâu dài" [59, tr 1744] Khoản 1
Trang 20Điều 4 Luật Công chứng quy định về văn bản công chứng, theo đó văn bản công chứng là "hợp đồng, giao dịch bằng văn bản đã được công chứng theo quy định của luật"
Khác với các hợp đồng, giao dịch thông dụng, văn bản công chứng bao gồm hai yếu tố Một là nội dung của hợp đồng, giao dịch được thể hiện trên giấy Các nội dung này thể hiện ý chí, sự thỏa thuận của các bên khi tham gia giao dịch Công chứng viên có trách nhiệm kiểm tra nội dung của hợp đồng, giao dịch để đảm bảo những nội dung đó không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội và công chứng viên sẽ thực hiện chứng nhận tính hợp pháp, tính xác thực của các nội dung đó theo một trình tự thủ tục do pháp luật qui định
Yếu tố thứ hai trong văn bản công chứng là lời chứng của công chứng viên Theo quy định tại Điều 5 của Luật Công chứng thì lời chứng của công chứng viên phải ghi rõ các nội dung sau: thời gian, địa điểm công chứng, họ, tên công chứng viên, tên tổ chức hành nghề công chứng; chứng nhận người tham gia hợp đồng, giao dịch hoàn toàn tự nguyện, có năng lực hành vi dân
sự, mục đích, nội dung của hợp đồng, giao dịch không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội, đối tượng của hợp đồng, giao dịch là có thật, chữ
ký trong hợp đồng, giao dịch là đúng chữ ký của người tham gia hợp đồng, giao dịch Sau những nội dung trên, công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng vào văn bản công chứng
1.1.3.2 Đặc điểm của văn bản công chứng
Văn bản công chứng có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, văn bản công chứng có tính chính xác về thời gian, địa điểm
công chứng và chủ thể tham gia hợp đồng, giao dịch
Thời gian công chứng phải chính xác ngày, tháng, năm; trong một số trường hợp như công chứng di chúc hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu công chứng, thời gian công chứng còn phải chính xác cả giờ, phút Ngày,
Trang 21tháng, năm chính xác vì đó là ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng, giao dịch;
là ngày, tháng, năm công chứng viên ký, là ngày, tháng, năm văn bản công chứng có hiệu lực Ngày, tháng, năm trong lời chứng của công chứng viên ghi bằng chữ Ngoài ra, các số liệu trong văn bản công chứng, sau phần ghi bằng
số phải ghi bằng chữ để tránh sai lệch hoặc sửa chữa
Chính xác về thời gian công chứng, văn bản công chứng còn phải chính xác về địa điểm công chứng Điều 5 Luật Công chứng quy định: "Lời chứng của công chứng viên phải ghi rõ thời gian, địa điểm công chứng" [42] Theo quy định tại Điều 39 Luật Công chứng về địa điểm công chứng thì việc công chứng phải được thực hiện tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng Việc công chứng có thể được thực hiện ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng nếu người yêu cầu công chứng là người già yếu không thể đi lại được, là người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc có lý
do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng Như vậy, cho dù việc công chứng có thể được thực hiện tại trụ sở hay ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng nhưng trong mọi trường hợp văn bản công chứng vẫn bắt buộc phải ghi rõ địa điểm công chứng
Văn bản công chứng cũng thể hiện sự chính xác về chủ thể tham gia hợp đồng, giao dịch (người yêu cầu công chứng) Theo quy định tại Điều 8 Luật Công chứng thì "người yêu cầu công chứng là cá nhân, tổ chức Việt Nam hoặc cá nhân, tổ chức nước ngoài" [42] Nếu người yêu cầu công chứng là tổ chức thì việc yêu cầu công chứng được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của tổ chức đó Người yêu cầu công chứng phải có năng lực hành vi dân sự, xuất trình đủ các giấy tờ cần thiết liên quan đến việc công chứng và chịu trách nhiệm về tính chính xác, tính hợp pháp của các giấy tờ đó Một trong những hoạt động không thể thiếu của công chứng viên trong quá trình giải quyết việc công chứng là phải kiểm tra, nhận dạng người yêu cầu công chứng thông qua các giấy tờ tùy thân, để xác định được chủ thể tham gia giao dịch có đủ điều kiện giao kết hợp đồng, giao dịch; xác định
Trang 22được chủ thể đó trùng hợp với giấy tờ tùy thân và các giấy tờ khác có liên quan đến việc công chứng mà họ đã cung cấp Và theo quy định tại Điều 41 Luật Công chứng thì "người yêu cầu công chứng phải ký trước mặt công chứng viên" [42] Điều 5 Luật Công chứng cũng quy định lời chứng của công chứng viên phải "chứng nhận người tham gia hợp đồng, giao dịch hoàn toàn
tự nguyện, có năng lực hành vi dân sự…, chữ ký trong hợp đồng, giao dịch là đúng chữ ký của người tham gia hợp đồng, giao dịch" [42] Như vậy, bất luận
vì lý do gì dẫn đến việc không chính xác về chủ thể tham gia hợp đồng, giao dịch sẽ là nguyên nhân dẫn đến việc mất hiệu lực của văn bản công chứng
Thứ hai, văn bản công chứng chính thức hóa, công khai hóa các sự
kiện pháp lý Đặc điểm này được thể hiện rất rõ ngay từ những văn bản đầu tiên quy định về hoạt động công chứng (Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987), theo đó công chứng nhà nước là một hoạt động của Nhà nước
"nhằm giúp công dân, các cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản, sự kiện pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện" [6] Ý chí của các bên phải được thể hiện rõ trong văn bản công chứng vì đây sẽ là cơ sở cho việc thực hiện hoạt động công chứng Điều 5 Luật Công chứng quy định trong lời chứng của công chứng viên phải chứng nhận việc "người tham gia hợp đồng, giao dịch hoàn toàn tự nguyện" và "đối tượng của hợp đồng, giao dịch là có thật" Theo quy định tại khoản 4 Điều 35 Luật Công chứng thì trong trường hợp có căn cứ cho rằng "việc giao kết hợp đồng, giao dịch có dấu hiệu bị đe dọa, cưỡng ép" hoặc
"có sự nghi ngờ đối tượng của hợp đồng, giao dịch là không có thật" thì "công chứng viên đề nghị người yêu cầu công chứng làm rõ hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định; trường hợp không làm rõ được thì có quyền từ chối công chứng" [42]
Thứ ba, văn bản công chứng là những văn bản phù hợp với pháp luật,
đạo đức xã hội Sự phù hợp của nội dung văn bản công chứng với pháp luật, đạo đức xã hội là điều kiện cơ bản, quan trọng để văn bản công chứng đó có
Trang 23giá trị pháp lý Do vậy, khi thực hiện việc công chứng, công chứng viên có trách nhiệm xem xét các nội dung của hợp đồng, giao dịch có phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành và đạo đức xã hội hay không Khoản 5 Điều 35 Luật Công chứng quy định:
Công chứng viên kiểm tra dự thảo hợp đồng, giao dịch; nếu trong dự thảo hợp đồng, giao dịch có điều khoản vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội, đối tượng của hợp đồng, giao dịch không phù hợp với thực tế thì công chứng viên phải chỉ rõ cho người yêu cầu công chứng để sửa chữa Trường hợp người yêu cầu công chứng không sửa chữa thì công chứng viên có quyền từ chối công chứng [42]
Thứ tư, văn bản công chứng là văn bản tuân thủ đúng về mặt hình
thức Văn bản công chứng phải đáp ứng các điều kiện của pháp luật về hình thức để đảm bảo tính chính xác và giá trị pháp lý của văn bản công chứng (ví dụ: vợ chồng thỏa thuận chia tài sản chung thì hình thức văn bản bắt buộc phải là văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân mà không phải là một văn bản chuyển nhượng nào khác) Ngoài ra, văn bản công chứng cũng phải tuân thủ các quy định về chữ viết, sửa lỗi kỹ thuật, ghi số tờ, số trang trong văn bản, ký tên hoặc điểm chỉ…
Thứ năm, văn bản công chứng là văn bản tuân thủ các nguyên tắc, thủ
tục công chứng Luật Công chứng đã có các quy định về các nguyên tắc, trình
tự, thủ tục công chứng Và công chứng viên là người chịu trách nhiệm trước pháp luật về văn bản công chứng nên việc tuân thủ các nguyên tắc, thủ tục này đem lại sự an toàn pháp lý cho công chứng viên đồng thời bảo đảm tính pháp lý cho văn bản mà công chứng viên chứng nhận, tránh được các tranh chấp có thể xảy ra
1.1.3.3 Giá trị pháp lý của văn bản công chứng
Giá trị pháp lý của văn bản công chứng nói chung và của các văn bản liên quan đến tài sản của vợ, chồng được công chứng nói riêng có ý nghĩa
Trang 24quyết định sự tồn tại của thiết chế công chứng trong đời sống xã hội Tại sao các hợp đồng, giao dịch, đặc biệt là các hợp đồng, giao dịch về bất động sản cần phải được công chứng? Nói cách khác, các bên trong hợp đồng, giao dịch
có được lợi ích gì khi qua thủ tục công chứng?
Tại các nước có hệ thống công chứng Latine (Pháp, Bỉ, Tây Ban Nha,
Hà Lan, Italia…), văn bản công chứng có giá trị chứng cứ và giá trị thi hành Các hợp đồng, giao dịch đã được công chứng thì có hiệu lực thi hành đối với các bên trong hợp đồng, giao dịch đó và có hiệu với người thứ ba Tại Pháp, nếu chủ nợ có giấy chứng nợ là một văn bản công chứng được lập dưới hình thức bản gốc, trong đó có ghi một phần nợ có thực và đã đến hạn phải trả thì chủ nợ không phải mất thời gian đi đòi nợ, không phải kiện ra tòa án để đòi
nợ mà có thể trực tiếp yêu cầu con nợ thanh toán Chủ nợ chỉ cần cung cấp cho nhân viên thừa phát lại một bản sao có hiệu lực thi hành để nhân viên này tiến hành thủ tục thi hành (kê biên tài sản của con nợ) Như vậy, giá trị thi hành của văn bản công chứng thể hiện ở việc nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia không cần phải kiện ra tòa án mà chỉ cần xuất trình văn bản hợp đồng, giao dịch đã được công chứng đó cho cơ quan có thẩm quyền (ví dụ, thừa phát lại) để cưỡng chế thi hành Theo quy định tại Điều 1319 của Bộ luật Dân sự Pháp, người nào đưa ra một văn bản công chứng có bề ngoài hợp thức thì không phải chứng minh tính xác thực của của nội dung văn bản đó Người nào muốn phản đối tính xác thực của văn bản thì phải chứng minh được cái sai trong văn bản đó thông qua một thủ tục rất phức tạp gọi là thủ tục khởi kiện về hành vi giả mạo giấy tờ Các nước có hệ thống công chứng Latine đều ghi nhận việc văn bản công chứng có giá trị chứng cứ; các tình tiết, sự kiện đã ghi trong hợp đồng, giao dịch được coi là chứng cứ hiển nhiên trước tòa, không cần phải xác minh Người muốn phản đối đối văn bản đó phải khởi kiện trước tòa án phải có phải xuất trình được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình Và chỉ có tòa án mới có thẩm quyền bác bỏ hiệu lực của văn bản công chứng nếu có đủ chứng cứ Điều đó
Trang 25cho thấy văn bản công chứng có vai trò phòng ngừa, bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên trong hợp đồng, giao dịch đồng thời hạn chế được rất nhiều các
vụ kiện tụng ra tòa án, gây tốn kém, lãng phí
Trên cơ sở kế thừa các quy định của pháp luật về công chứng trước đây và học hỏi kinh nghiệm các nước trên thế giới một cách có chọn lọc cho phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam, Điều 6 của Luật Công chứng đã quy định về giá trị pháp lý của văn bản công chứng, theo đó văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa
án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết sự, kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu Như vậy, hợp đồng, giao dịch nói chung và các văn bản liên quan đến tài sản của vợ, chồng đã được công chứng nói riêng (sau đây gọi là văn bản công chứng) sẽ có hai giá trị pháp lý cơ bản sau đây:
Một là, văn bản công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết sự,
kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa
án tuyên bố là vô hiệu
Việc văn bản công chứng có giá trị chứng cứ đã được ghi nhận trong các văn bản pháp luật trước đây về công chứng Điều 1 Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/02/1991 đã quy định: "Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ" [10] Điều 1 Nghị định số 31/CP ngày 18/05/1996 quy định: "Các hợp đồng và giấy tờ đã được Công chứng Nhà nước chứng nhận hoặc Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền chứng thực có giá trị chứng cứ, trừ trường hợp bị Tòa án nhân dân tuyên bố là vô hiệu" [11] Khoản 2 Điều 14 Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 14/03/2000 quy định: "Văn bản công chứng, văn bản chứng thực có giá trị chứng cứ, trừ trường hợp được
Trang 26thực hiện không đúng thẩm quyền hoặc không tuân theo quy định tại Nghị định này hoặc bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu" [13]
Việc văn bản công chứng có giá trị chứng cứ, những tình tiết sự, kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh cũng hoàn toàn phù hợp với các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011) Theo quy định tại Điều 81 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 thì:
Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự [39]
Điều 83 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 quy định về việc xác định chứng
cứ thì "các tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp…" [39] Điều 80 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 tiếp tục quy định "Những tình tiết, sự kiện được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp" là "những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh" [39]
Những quy định nêu trên trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 hoàn toàn thống nhất với các quy định của Luật Công chứng về việc công chứng viên khi chứng nhận văn bản công chứng phải đảm bảo việc tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch Tính xác thực do công chứng viên chứng nhận đảm bảo cho các tình tiết, sự kiện có trong hợp đồng, giao dịch nói chung và trong các văn bản liên quan đến tài sản của vợ, chồng nói riêng trở thành chứng cứ hiển nhiên trước tòa và không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên là vô hiệu Sở dĩ văn bản công chứng có giá trị chứng cứ và không phải chứng minh trước Tòa án là bởi khi công chứng, công chứng viên phải tuân theo các quy định của pháp luật về công chứng, về trình tự, thủ tục công chứng và tuân thủ các quy định của pháp luật khác có
Trang 27liên quan; công chứng viên phải khách quan, trung thực, nếu công chứng viên biết hoặc phải biết việc công chứng hoặc nội dung công chứng là vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội thì phải từ chối thực hiện việc công chứng Ngoài
ra, công chứng viên là một chức danh tư pháp được nhà nước trao quyền thực hiện việc chứng nhận hợp đồng, giao dịch và chỉ có công chứng viên mới được nhân danh nhà nước chứng nhận các hợp đồng, giao dịch đó mà không
có sự phân biệt giữa công chứng viên là công chức nhà nước làm việc tại các Phòng công chứng nhà nước hay là công chứng viên làm việc tại các Văn phòng công chứng
Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết sự, kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu Tuy nhiên Tòa án cũng không thể tùy tiện tuyên một văn bản công chứng là vô hiệu Theo quy định tại Điều 45 Luật Công chứng thì chỉ có công chứng viên, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới "có quyền đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu khi có căn cứ cho rằng việc công chứng có vi phạm pháp luật" [42] Và việc Tòa án tuyên
bố một văn bản công chứng bị vô hiệu cũng phải tuân theo quy định của pháp luật Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự số 65/2011/QH12 được Quốc hội thông qua ngày 29/03/2011 đã dành các Điều 339a, 339b, 339c quy định về thủ tục giải quyết việc yêu cầu tuyên văn bản công chứng vô hiệu, theo đó người được đề nghị tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu phải gửi đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu có các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 312 của Bộ luật tố tụng dân
sự, gửi kèm theo đơn là các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu là có căn cứ và hợp pháp Hết thời hạn chuẩn bị xét xử (ba mươi ngày kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu), Tòa
án phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu Trong thời hạn
Trang 28chuẩn bị xét đơn yêu cầu, nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu Trong thời hạn mười lăm ngày, kể
từ ngày ra quyết định mở phiên họp, Tòa án phải mở phiên họp để xét đơn yêu cầu và Tòa án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu Như vậy, một văn bản công chứng bị Tòa án tuyên là vô hiệu khi và chỉ khi văn bản công chứng đó có vi phạm pháp luật Nếu không có chứng cứ và không chứng minh được văn bản công chứng có vi phạm pháp luật thì văn bản công chứng đó sẽ được công nhận là chứng cứ hiển nhiên trước Tòa án
Hai là, văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan
Văn bản công chứng có giá trị thi hành là việc các bên trong hợp đồng, giao dịch, thậm chí cả bên thứ ba (trong một số trường hợp) có nghĩa vụ bắt buộc thực hiện những thỏa thuận đã được ghi trong văn bản công chứng Quy định này hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc của luật dân sự Các bên hợp đồng hiển nhiên phải thực hiện những gì họ đã cam kết trong hợp đồng, giao dịch, nếu vi phạm họ sẽ bị áp dụng các biện pháp chế tài theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật Mặt khác, văn bản công chứng cũng có hiệu lực bắt buộc người thứ ba phải tôn trọng và thi hành Ví dụ: Ông Nguyễn Văn A nhận chuyển nhượng quyền sử dụng 100 m2
đất ở của ông Nguyễn Văn B; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở đã được các bên ký kết và đã được công chứng theo đúng quy định của pháp luật Trong trường hợp này, ông Nguyễn Văn A và ông Nguyễn Văn B phải thực hiện các thỏa thuận đã ghi tại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được công chứng Ngoài ra đối với người thứ ba (các cơ quan: Tài nguyên môi trường, cơ quan thuế và các cá nhân có liên quan) cũng phải công nhận và làm các thủ tục liên quan (trước bạ, sang tên)
Như vậy có thể thấy những hợp đồng, giao dịch nói chung và những văn bản liên quan đến tài sản của vợ, chồng nói riêng được công chứng sẽ có
Trang 29rất nhiều lợi ích Nhưng văn bản đó khi được công chứng sẽ mang lại sự an toàn pháp lý cho các bên, góp phần phòng ngừa tranh chấp và giảm thiểu vi phạm pháp luật Cùng là làm chứng (chứng nhận) nhưng văn bản do công chứng viên chứng nhận có giá trị pháp lý cao hơn rất nhiều so với những văn bản do luật sư hoặc bất kỳ người nào khác chứng nhận (làm chứng) Điều đó xuất phát từ sự khác nhau về địa vị pháp lý của công chứng viên và luật sư; về
từ trình tự, thủ tục lập và chứng nhận hợp đồng, giao dịch và quan trọng hơn
cả là khi chứng nhận hợp đồng, giao dịch, công chứng viên là người đứng giữa các bên và phải bảo đảm tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch đó; còn luật sư chỉ đứng về một bên nên những hợp đồng, giao dịch do luật sư thực hiện thường chỉ chú trọng đến việc làm sao mang lại quyền lợi cao nhất cho thân chủ của mình Do vậy, trừ các hợp đồng, giao dịch bắt buộc phải công chứng hoặc phải chứng thực "theo quy định của pháp luật" như các hợp đồng về nhà ở (các Điều 450, 492, 463, 467 Bộ luật Dân sự và Điều 93, 107 Luật nhà ở…); các hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất (hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất; hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất…) (Điều 689 Bộ luật Dân sự và các Điều 126, 127,
128, 130, 131 Luật Đất đai…); hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá đối với tài sản bán đấu giá là bất động sản (Điều 459 Bộ luật Dân sự, Điều 35 của Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 về bán đấu giá tài sản)… thì ngay cả những trường hợp pháp luật không quy định hợp đồng, giao dịch phải được công chứng, các bên vẫn nên đề nghị công chứng viên chứng nhận để đảm bảo an toàn pháp lý cho mình Điều 2 Luật Công chứng cũng đã ghi nhận việc quyền được yêu cầu công chứng khi quy định công chứng viên được quyền chứng nhận các hợp đồng, giao dịch mà "cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng"
Trang 301.2 PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ, CHỒNG VÀ VIỆC CÔNG CHỨNG CÁC VĂN BẢN LIÊN QUAN ĐẾN TÀI SẢN CỦA VỢ, CHỒNG QUA CÁC GIAI ĐOẠN
1.2.1 Giai đoạn từ 1945 đến năm 1954
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
ra đời Trong giai đoạn đầu, với việc ban hành Sắc lệnh số 90-SL ngày 10/10/1945 nhà nước ta vẫn cho phép vận dụng những quy định trong pháp luật cũ có chọn lọc, nếu những đạo luật đó "không trái với các nguyên tắc độc lập của Nhà nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa" Hiến pháp năm
1946 ra đời đã ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ về mọi mặt Theo quy định tại Điều 9 của Hiến pháp năm 1946 thì "đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện" Sắc lệnh số 97-SL ngày 22/5/1950 về sửa đổi một
số quy lệ và chế định trong dân luật gồm 15 điều, trong đó có 8 điều quy định
về hôn nhân và gia đình Điều 5 quy định "chồng và vợ có địa vị bình đẳng trong gia đình" Ngày 17/11/1950 nhà nước ta ban hành tiếp Sắc lệnh số 159-SL quy định về vấn đề ly hôn Sắc lệnh số 97-SL ngày 22/5/1950 và Sắc lệnh số 159-SL ngày 17/11/1950 đã góp phần đáng kể vào việc xóa bỏ chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến lạc hậu, góp phần vào sự nghiệp giải phóng phụ
nữ thoát khỏi chế độ đó, thúc đẩy sự phát triển của xã hội Việt Nam trong thời
kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
Tuy nhiên những văn bản nêu trên không có quy định cụ thể về vấn đề tài sản của vợ chồng Theo Điều 11 Sắc lệnh số 97-SL ngày 22/5/1950 thì
"trong lúc còn sinh thời người chồng góa hay vợ góa, các con đã thành niên
có quyền xin chia phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết, sau khi đã thanh toán tài sản chung"; mặt khác, Sắc lệnh số 90-SL ngày 10/10/1945 cho phép vận dụng những quy định trong pháp luật cũ có chọn lọc
Từ đó chúng ta có thể suy luận rằng: mặc dù Sắc lệnh số
97-SL không có điều nào quy định về thành phần tài sản chung của vợ
Trang 31chồng thì chế độ tài sản của vợ chồng được áp dụng theo tinh thần của các sắc lệnh trên là chế độ cộng đồng toàn sản… Toàn bộ tài sản của vợ chồng dù có trước hoặc được tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân, không phân biệt về nguồn gốc, công sức tạo dựng đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng trên nguyên tắc bình đẳng, vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt ngang nhau đối với tài sản chung [23, tr 85-86]
Với những quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình nêu trên cho thấy sẽ thực sự là không cần thiết việc pháp luật phải có những quy định về công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng, mặc dù trong giai đoạn này, nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh số 59/SL ngày 15/11/1945 ấn định thể lệ việc thị thực các giấy tờ và Sắc lệnh số 85/SL ngày 29/2/1952 quy định thể lệ trước bạ về việc mua, bán, cho đổi nhà cửa, ruộng đất Do vậy trong giai đoạn này chưa xuất hiện việc chứng nhận các văn bản liên quan đến tài sản của vợ, chồng
1.2.2 Giai đoạn từ 1954 đến năm 1975
Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, Miền Bắc được giải phóng bước vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội; Miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, đấu tranh thống nhất nước nhà
Ở Miền Nam: dưới sự thống trị của đế quốc Mỹ, chính quyền ngụy Sài Gòn đã ban hành các văn bản: Luật gia đình ngày 02/01/1959; Sắc luật số 15/64 về giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng; Bộ dân luật ngày 20/12/1972 Theo Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam của Trường đại học Luật Hà Nội thì "Các văn bản pháp luật này đều đã bãi bỏ các quy định về chế
độ đa thê, song vẫn thực hiện nguyên tắc bất bình đẳng giữa vợ chồng, bảo vệ quyền gia trưởng, phân biệt đối xử giữa các con trong và ngoài giá thú; quy định giải quyết hôn nhân dựa trên lỗi của vợ chồng" [53, tr 71] Đặc biệt Điều 55 Luật gia đình ngày 02/01/1959 đã cấm vợ chồng không được ly hôn
Trang 32Miền Bắc thời kỳ này đang trong giai đoạn đầu xây dựng cơ sở vật chất của chế độ xã hội chủ nghĩa Với chủ trương xóa bỏ triệt để những tàn tích lạc hậu của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến lạc hậu, xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa, Luật Hôn nhân và gia đình năm
1959 đã được ban hành Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định "Vợ chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới" [33] Quy định tại Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 cho thấy tài sản chung của vợ chồng bao gồm toàn
bộ các tài sản của vợ chồng có trước khi kết hôn và có trong thời kỳ hôn nhân
mà không phân biệt nguồn gốc tài sản và công sức đóng góp, không phân biệt tài sản đó là tài sản do vợ, chồng được tặng cho riêng, được thừa kế riêng hay được tặng cho chung, được thừa kế chung
Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định: "Khi một bên chết trước, nếu tài sản của vợ chồng cần chia, thì chia như quy định ở Điều 29" [33] Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định:
Khi ly hôn, việc chia tài sản sẽ căn cứ vào sự đóng góp về công sức của mỗi bên, vào tình hình tài sản và tình trạng cụ thể của gia đình Lao động trong gia đình được kể như lao động sản xuất Khi chia phải bảo vệ quyền lợi của người vợ, của con cái và lợi ích của việc sản xuất [33]
Như vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 không thừa nhận việc
vợ, chồng có tài sản riêng và tài sản chung của vợ chồng chỉ được chia khi rơi vào các trường hợp quy định tại Điều 16 (khi một bên chết trước) và Điều 29 (khi ly hôn) Do vậy pháp luật của nhà nước ta trong thời kỳ này cũng không có quy định về việc công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng
1.2.3 Giai đoạn từ 1975 đến năm 2000
Cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, đất nước thống nhất Ngày 25/3/1977, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 76/CP quy định
Trang 33về việc thực hiện pháp luật thống nhất trong phạm vi cả nước, trong đó có việc áp dụng thống nhất quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 Trước những thay đổi lớn lao của đất nước, Hiến pháp 1980 đã được ban hành Cùng với những quy định về chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội; quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động của bộ máy nhà nước…, quy định tại các điều 38, 47, 63, 64 của Hiến pháp năm 1980 về các nguyên tắc của chế độ hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa đã tạo nền tảng cho bước phát triển mới của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam…Việc áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 trong giai đoạn này đã có một số điều khoản không phù hợp Do vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã được ban hành thay thế Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có nhiều điểm khác biệt so với các văn bản pháp luật về hôn nhân và gia đình trước đó Theo quy định tại Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 thì "Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản
mà vợ chồng được thừa kế chung, được tặng cho chung" [34] Điều 15, 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 còn quy định mục đích sử dụng tài sản chung là "để đảm bảo những nhu cầu chung của gia đình" và "vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung" Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 cũng đã quy định ba trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng, trong đó có hai trường hợp kế thừa các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 như trường hợp một bên chết trước (Điều 17), khi vợ, chồng ly hôn (Điều 42) Ngoài ra Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 còn có một quy định mới về việc chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân đang tồn tại (Điều 18) và xác định nguyên tắc chia tài sản chung trong các trường hợp trên Đặc biệt, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã ghi nhận vợ chồng có quyền có tài sản riêng Tài sản riêng của vợ hoặc chồng là tài sản
Trang 34"mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân" Và cũng theo quy định tại Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 thì vợ hoặc chồng có tài sản riêng "có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng" [34]
Từ những quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đặc biệt là việc quy định vợ chồng có quyền có tài sản riêng, vợ chồng có quyền chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, pháp luật về công chứng đã xuất hiện những quy định về việc công chứng văn bản liên quan đến tài sản của vợ, chồng Văn bản đầu tiên điều chỉnh hoạt động này là Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp hướng dẫn công tác công chứng của nhà nước, theo đó các Phòng công chứng nhà nước chuyên trách được thực hiện việc "chứng nhận phần tài sản riêng trong khối tài sản chung của vợ chồng" (mục II.2) Thông tư số 858/QLTPK ngày 15/10/1987 của Bộ
Tư pháp hướng dẫn thực hiện các việc làm công chứng, trong đó mục II.7 về trình tự thực hiện việc chứng nhận phần tài sản riêng trong tài sản chung của
vợ chồng đã quy định:
Giấy chứng nhận tài sản riêng trong tài sản chung có thể cấp theo yêu cầu của cả hai vợ chồng hay một bên vợ hoặc chồng nếu bên kia chết
Giấy chứng nhận tài sản riêng trong tài sản chung của vợ, chồng chỉ cấp khi vợ, chồng chưa ly hôn; còn khi ly hôn thì Tòa án
sẽ định đoạt tài sản của vợ, chồng theo quy định của pháp luật
Trình tự cấp giấy chứng nhận tài sản riêng của vợ, chồng như sau:
- Xem đơn yêu cầu cấp giấy chứng nhận tài sản riêng trong tài sản chung của vợ, chồng Công chứng viên không cần biết vì sao
vợ, chồng muốn lập giấy chứng nhận phần tài sản riêng trong phần tài sản chung của họ
Trang 35- Xác định quan hệ vợ, chồng trên cơ sở giấy kết hôn, chú ý ngày tháng kết hôn để xác định chính xác tài sản chung
- Xác định tài sản riêng, tài sản chung của vợ chồng theo quy định của pháp luật hiện hành (chú ý các giấy tờ xác nhận quyền
sở hữu)
Giấy chứng nhận tài sản riêng của vợ, chồng lập theo mẫu
số 8 (kèm theo văn bản này) [5]
Như vậy, mặc dù lần đầu tiên được ghi nhận và vẫn còn những hạn chế nhất định song những quy định về việc chứng nhận các văn bản liên quan đến tài sản của vợ, chồng đã tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho vợ, chồng trong việc định đoạt, sử dụng tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và tài sản riêng của mỗi người
Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về
tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước, Điều 15 của Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 quy định về các việc công chứng công chứng viên thực hiện, trong đó có việc "chứng nhận tài sản chung của vợ chồng hoặc tài sản riêng của vợ hoặc chồng" (khoản 5) Chương III Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 quy định về trình tự, thủ tục thực hiện các việc công chứng Điều 27 Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 quy định về việc chứng nhận tài sản chung của vợ chồng hoặc tài sản riêng của vợ hoặc chồng như sau:
Công chứng viên chứng nhận tài sản chung của vợ chồng hoặc tách một phần tài sản trong khối tài sản chung của vợ chồng thành tài sản riêng của vợ hoặc chồng trên cơ sở đơn viết chung của
vợ chồng khi hôn nhân đang tồn tại
Công chứng viên chứng nhận tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản đó được nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng trên cơ sở đơn viết của người có tài sản đó [10]
Trang 36Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước không có điều luật nào quy định cụ thể về việc chứng nhận các văn bản liên quan đến tài sản của vợ, chồng mà chỉ quy định
về phạm vi công chứng, theo đó Phòng công chứng nhà nước thực hiện việc
"chứng nhận các việc theo quy định của pháp luật phải được thực hiện công chứng" và "Chứng nhận theo yêu cầu của đương sự các việc mà pháp luật giao cho công chứng chứng nhận" (khoản 2, 3 Điều 18 Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ) Và như vậy, các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng có thể được chứng nhận nếu rơi vào một trong hai trường hợp là "theo quy định của pháp luật phải được thực hiện công chứng" hoặc
"theo yêu cầu của đương sự"
1.2.4 Giai đoạn từ 2000 đến nay
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 được ban hành và áp dụng trên thực tế đã đạt được những thành tựu to lớn Tuy nhiên cùng với sự phát triển của đất nước đòi hỏi phải có những sửa đổi Luật Hôn nhân và gia đình năm
1986 cho phù hợp với tình hình thực tiễn hơn Ngày 9/6/2000, Quốc hội khóa X
kỳ họp thứ 7 đã chính thức thông qua Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Luật có hiệu lực từ ngày 01/01/2001 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã
kế thừa và phát triển hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, trong
đó tiếp tục quy định về thành phần khối tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng; các trường hợp chia tài sản chung và hậu quả của việc chia tài sản chung của vợ, chồng
Về việc công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng, cũng tương tự như Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước, Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực không quy định cụ thể việc công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng mà việc công chứng các văn bản đó được thực hiện theo thủ tục chung Điều 3 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8/12/2000 chỉ quy định về phạm vi công chứng, chứng
Trang 37thực hợp đồng, giao dịch, theo đó hợp đồng, giao dịch được công chứng, chứng thực là "Hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định phải công chứng, chứng thực" và "Hợp đồng, giao dịch mà pháp luật không quy định phải công chứng, chứng thực nhưng cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu" Như vậy, Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 8/12/2000 của Chính phủ đã kế thừa các quy định về phạm vi công chứng (chứng nhận các hợp đồng, giao dịch theo quy định của pháp luật), ngoài ra còn quy định việc công chứng các hợp đồng, giao dịch mà pháp luật không quy định phải công chứng nhưng cá nhân hoặc
tổ chức tự nguyện yêu cầu
Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8/12/2000 của Chính phủ đã thể hiện vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế của các tổ chức, cá nhân Tuy nhiên, đến trước thời điểm Luật Công chứng được ban hành và có hiệu lực, về mặt lý luận cũng như trong quy định của pháp luật còn có sự lẫn lộn giữa hoạt động công chứng của Phòng công chứng với hoạt động chứng thực của Ủy ban nhân dân Mặc dù Nghị định số 75/2000/NĐ-CP
đã có sự phân biệt về thuật ngữ "Công chứng" và "Chứng thực" nhưng đó mới chỉ là sự phân biệt về mặt hình thức Mặt khác, quy định tại khoản 2 Điều 21 của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP về việc Phòng Công chứng "được công chứng các việc thuộc thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp huyện quy định tại Điều 22 của Nghị định này" và "được công chứng tất cả các việc thuộc thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã quy định tại Điều 24 của Nghị định này" cũng như quá trình thực hiện quy định đó đã dẫn đến sự nhầm lẫn trong cách hiểu của số đông người dân về chức năng chứng thực của
Ủy ban nhân dân và chức năng công chứng của Phòng công chứng Nhiều người dân coi Phòng công chứng như một cơ quan hành chính nhà nước mà không phải là tổ chức dịch vụ công Một số văn bản quy phạm pháp luật đã quy định theo hướng các hợp đồng, giao dịch cũng như việc sao y giấy tờ có thể do Phòng công chứng chứng nhận hoặc Ủy ban nhân dân chứng thực
Trang 38Mô hình tổ chức công chứng nhà nước theo quy định tại Nghị định số 75/2000/NĐ-CP cũng bộc lộ những điểm bất cập Với việc Phòng công chứng
là cơ quan nhà nước, do Nhà nước thành lập, hoạt động của Phòng công chứng do ngân sách Nhà nước bao cấp; công chứng viên là công chức nhà nước nên việc phát triển đội ngũ công chứng viên gặp khó khăn do thiếu biên chế Việc phát triển số lượng Phòng công chứng cũng bị hạn chế do số lượng công chứng viên không đủ để thành lập Phòng (theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP thì Phòng công chứng "phải có ít nhất
3 công chứng viên"); trong khi đó nhu cầu về công chứng ngày càng lớn dẫn đến các Phòng công chứng luôn trong trong tình trạng quá tải Mặt khác, công chứng viên là công chức nhà nước nên việc làm và thu nhập của công chứng viên được nhà nước bảo đảm Điều đó dẫn đến việc một bộ phận không ít công chứng viên chưa thực sự quan tâm đến việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và nâng cao chất lượng phục vụ, thậm chí còn tư tưởng quan liêu, cửa quyền trong khi thực hiện nhiệm vụ
Dự thảo Luật Công chứng được xây dựng trên tinh thần quán triệt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về cải cách hành chính, cải cách tư pháp và xã hội hóa hoạt động công chứng Dự thảo cũng được xây dựng trên
cơ sở kế thừa những điểm tích cực, hợp lý trong tổ chức và hoạt động công chứng hiện hành và có sự tham khảo kinh nghiệm của các nước trên thế giới Ngày 29/11/2006, Quốc hội khóa XI tại kỳ họp thứ 10 đã thông qua Luật Công chứng và Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007
Luật Công chứng không có điều khoản nào quy định cụ thể về việc công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng Việc công chứng viên thực hiện chứng nhận các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng căn
cứ vào phạm vi công chứng quy định tại Điều 2 của Luật Công chứng và các quy định tại Mục 1 Chương IV về thủ tục chung về công chứng hợp đồng, giao dịch và căn cứ vào các quy định pháp luật hôn nhân và gia đình cũng như các quy định pháp luật khác có liên quan
Trang 39Chương 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TRONG VIỆC CÔNG CHỨNG CÁC VĂN BẢN LIÊN QUAN ĐẾN TÀI SẢN CỦA VỢ, CHỒNG
2.1 MỘT SỐ QUY ĐỊNH CHUNG VỀ CÔNG CHỨNG CÁC VĂN BẢN LIÊN QUAN ĐẾN TÀI SẢN CỦA VỢ, CHỒNG
Việc công chứng hợp đồng, giao dịch nói chung và công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng nói riêng có thể được thực hiện theo trình tự công chứng hợp đồng, giao dịch đã được soạn thảo sẵn hoặc công chứng hợp đồng, giao dịch do công chứng viên soạn thảo theo đề nghị của người yêu cầu công chứng Dù thực hiện theo hình thức nào thì việc công chứng cũng phải tuân theo các quy định chung của Luật Công chứng về trình tự, thủ tục, về thời hạn và địa điểm công chứng, về chữ viết và việc ghi trang, tờ trong văn bản công chứng, về việc sửa lỗi kỹ thuật trong văn bản công chứng…
2.1.1 Thủ tục chung về công chứng hợp đồng, giao dịch
2.1.1.1 Công chứng hợp đồng, giao dịch đã được soạn thảo sẵn
Việc công chứng hợp đồng, giao dịch đã được soạn thảo sẵn được thực hiện theo quy định tại Điều 35 Luật Công chứng Theo quy định tại Điều 35 Luật Công chứng thì người yêu cầu công chứng nộp một bộ hồ sơ yêu cầu công chứng, gồm các giấy tờ sau đây:
- Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch theo mẫu;
- Dự thảo hợp đồng, giao dịch;
- Bản sao giấy tờ tùy thân;
- Bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thế được pháp luật quy định đối với tài sản mà pháp luật quy định
Trang 40phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, trong trường hợp hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản đó;
- Bản sao giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định phải có
Khi nộp bản sao thì người yêu cầu công chứng phải xuất trình bản chính để đối chiếu
Cũng theo quy định tại Điều 35 Luật Công chứng thì khi nhận được yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch nói chung và yêu cầu chồng chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ, chồng nói riêng, công chứng viên cần thực hiện các hoạt động nghiệp vụ cơ bản sau:
- Công chứng viên tiếp nhận hồ sơ và kiểm tra giấy tờ trong hồ sơ yêu cầu công chứng Trường hợp hồ sơ yêu cầu công chứng đầy đủ, phù hợp với quy định của pháp luật thì thụ lý, ghi vào sổ công chứng Trường hợp hồ sơ công chứng chưa đầy đủ thì hướng dẫn cho người yêu cầu công chứng về bổ sung, hoàn thiện hồ sơ
Trường hợp có căn cứ cho rằng trong hồ sơ yêu cầu công chứng có vấn
đề chưa rõ, việc giao kết hợp đồng, giao dịch có dấu hiệu bị đe dọa, cưỡng ép, có
sự nghi ngờ về năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu công chứng hoặc có
sự nghi ngờ đối tượng của hợp đồng, giao dịch là không có thật thì công chứng viên đề nghị người yêu cầu công chứng làm rõ hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định; trường hợp không làm rõ được thì có quyền từ chối công chứng
- Sau khi kiểm tra các giấy tờ trong hồ sơ yêu cầu công chứng, công chứng viên kiểm tra dự thảo hợp đồng, giao dịch; nếu trong dự thảo hợp đồng, giao dịch có điều khoản vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội, đối tượng của
hợp đồng, giao dịch không phù hợp với thực tế thì công chứng viên phải chỉ
rõ cho người yêu cầu công chứng để sửa chữa Trường hợp người yêu cầu công chứng không sửa chữa thì công chứng viên có quyền từ chối công chứng