Vì vậy, với mong muốn tìm hiểu những vấn đề pháp lý và thực tiễn của bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ nhằm góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này để tạo thuận lợi cũn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGÔ THỊ NHƢ HUẾ
BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG QUYỀN ĐÒI NỢ TẠI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số : 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Minh Tuấn
Hà Nội - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Ngô Thị Như Huế
Trang 3MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG QUYỀN ĐÒI NỢ TẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG 6
1.1 Khái niệm, đặc điểm quyền đòi nợ, phân biệt quyền đòi nợ với một số quyền tài sản khác 6
1.1.1 Khái niệm quyền đòi nợ 6
1.1.2 Đặc điểm quyền đòi nợ 10
1.1.3 Phân biệt quyền đòi nợ với một số quyền tài sản khác 13
1.2 Khái niệm, đặc điểm bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng 19
1.2.1 Khái niệm bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng 19
1.2.2 Đặc điểm của bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng 20
1.3 Vai trò của bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng 26
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG QUYỀN ĐÒI NỢ TẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM 28
2.1 Nội dung của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng 28
Trang 42.1.1 Khái quát pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức
tín dụng 28
2.1.2 Nội dung của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng 29
2.2 Điều kiện, trình tự thủ tục nhận tài sản bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng 37
2.2.1 Các điều kiện khi tổ chức tín dụng nhận quyền đòi nợ làm tài sản bảo đảm tiền vay 37
2.2.2 Trình tự, thủ tục nhận tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng 47
2.3 Phạm vi bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ 50
2.4 Hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng 55
2.4.1 Loại hợp đồng bảo đảm được ký kết 55
2.4.2 Đối tượng của hợp đồng bảo đảm 56
2.4.3 Nội dung của hợp đồng bảo đảm 58
2.4.4 Các bên chủ thể của hợp đồng bảo đảm 58
2.4.5 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bảo đảm 59
2.4.6 Hiệu lực của hợp đồng bảo đảm 60
2.4.7 Công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm 62
2.5 Quản lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ 64
2.6 Xử lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ 65
2.6.1 Phương thức xử lý 65
2.6.4 Kê biên tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ 67
2.7 Tranh chấp và giải quyết tranh chấp về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng 68
Trang 5Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG QUYỀN ĐÒI NỢ TẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM 70
3.1 Các yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam 71 3.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi
nợ tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam 73 3.3 Một số kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam 74 3.3.1 Sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam 75 3.3.2 Có cơ chế đồng bộ nhằm hỗ trợ, hướng dẫn, quản lý và bảo đảm thực hiện trên thực tế bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam 82
KẾT LUẬN 84 TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ luật Dân sự NHNN : Ngân hàng Nhà nước TCTD : Tổ chức tín dụng
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động cho vay của TCTD đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống kinh tế xã hội Việc đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay của TCTD ở Việt Nam là rất cần thiết, vì hoạt động này tiềm ẩn rủi ro cao và mang tính hệ thống
Làm dịch vụ trung gian tiền tệ, TCTD nhận tiền gửi của khách hàng sau đó cho khách hàng khác vay lại bằng chính nguồn tiền đó, hoạt động của TCTD chính vì vậy luôn tiềm ẩn rủi ro Để hạn chế những rủi ro cho hoạt động của mình, trong quan hệ cho vay, bên cạnh việc kiểm tra, thẩm định, đánh giá bên vay, TCTD thường yêu cầu bên vay phải có biện pháp bảo đảm tiền vay Trong đó, bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ là một trong những biện pháp bảo đảm được pháp luật công nhận, bảo hộ, được TCTD và bên vay lựa chọn áp dụng Tuy nhiên, biện pháp bảo đảm này hiện nay chưa được áp dụng rộng rãi hay nói đúng hơn các TCTD không “hào hứng” lắm với việc nhận tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ Các văn bản pháp luật hiện hành quy định khá ít và có phần chung chung về quyền tài sản nói chung cũng như quyền đòi nợ nói riêng Có thể điểm đến một số văn bản quy định quyền đòi
nợ như sau: BLDS năm 2005, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm (sau đây gọi tắt là Nghị định
số 163), Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163 (sau đây gọi tắt là Nghị định
số 11); Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 của Chính phủ về đăng
ký giao dịch bảo đảm (sau đây gọi tắt là Nghị định số 83) Thông tư liên tịch
số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN ngày 06/6/2014 hướng dẫn một số vấn đề về xử lý tài sản bảo đảm (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 16) Pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD còn thiếu những
Trang 82
quy định, hướng dẫn cụ thể dẫn đến gặp rất nhiều khó khăn trong việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn và do đó, biện pháp bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ chưa được sử dụng phổ biến
Vì vậy, với mong muốn tìm hiểu những vấn đề pháp lý và thực tiễn của bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ nhằm góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này để tạo thuận lợi cũng như thúc đẩy các giao dịch dân sự liên quan tới quyền đòi nợ, tác giả quyết định lựa chọn
nghiên cứu về đề tài "Bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại các tổ chức tín dụng theo pháp luật Việt Nam" làm luận văn thạc sĩ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Dưới góc độ luật học, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào đề cập đến pháp luật về quyền đòi nợ và bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ
Có một số bài trao đổi, nghiên cứu liên quan đến giao dịch bảo đảm bằng quyền đòi nợ được đăng tải trên một số trang web và tạp chí chuyên ngành tài chính ngân hàng như:
- Bài viết:"Giao dịch có đối tượng là quyền đòi nợ" của ThS Bùi Đức
Giang đăng tải trên Web Thông tin pháp luật dân sự ngày 12/11/2013;
- Bài viết: “Quyền ưu tiên thanh toán của Bên nhận thế chấp quyền
đòi nợ” của ThS Bùi Đức Giang đăng tải trên Tạp chí Ngân hàng, số 17,
tháng 09/2012;
- Bài viết: “Pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ” của
ThS Bùi Đức Giang đăng tải trên Tạp chí Ngân hàng, số 5 (301), năm 2013;
- Bài viết: “Một số hạn chế của chế định thế chấp quyền đòi nợ theo
hàng, số 21, tháng 11/2011
Ngoài ra, một số khía cạnh pháp lý liên quan đến nghiệp vụ cho vay trên cơ sở có bảo đảm bằng thế chấp quyền đòi nợ cũng được nhiều bài báo viết, báo điện tử đăng tải
Trang 93
Nhưng, các bài trao đổi, bài viết trên đây chỉ mới dừng lại ở việc phân tích quyền đòi nợ là một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự Qua quá trình tra cứu tài liệu cho thấy, hiện chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ về biện pháp bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi
nợ Xuất phát từ những nguyên nhân trên, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu
để tìm hiểu một cách đầy đủ, toàn diện về lý luận và thực tiễn áp dụng bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD ở Việt Nam hiện nay
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD, từ đó thấy được những kết quả cũng như những vấn đề còn tồn tại, nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại đó và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật
về vấn đề này
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD như: khái niệm, đặc điểm quyền đòi nợ với tư cách là một tài sản bảo đảm; khái niệm, đặc điểm, vai trò của bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ; nội dung pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ
- Nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD ở Việt Nam qua việc đưa ra những nhận định khái quát và cụ thể những mặt được, những mặt hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành và thực tế áp dụng bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD ở Việt Nam
- Đưa ra định hướng và những kiến nghị, đề xuất, giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD ở Việt Nam
Trang 104
4 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu pháp luật hiện hành điều chỉnh về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD ở Việt Nam đặt trong mối quan hệ với pháp luật về quyền tài sản và các văn bản pháp lý chuyên ngành tài chính ngân hàng điều chỉnh hoạt động cho vay của TCTD Từ đó, làm nổi bật các đặc trưng của bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD so với các biện pháp bảo đảm dân sự khác và so với các biện pháp bảo đảm tiền vay khác Đồng thời nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về vấn đề này, để phát hiện các tồn tại, bất cập và kiến nghị phương hướng khắc phục, hoàn thiện
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Với mục đích triển khai những nội dung cơ bản của luận văn, tác giả
đã vận dụng tổng hợp các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các phương pháp cụ thể như phân tích, tổng hợp, giải thích, so sánh … để lý giải những vấn đề đặt ra
6 Những đóng góp mới của đề tài
Là công trình nghiên cứu pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật một cách cụ thể, luận văn có những đóng góp mới là:
- Trình bày, phân tích một cách khoa học và có hệ thống các vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD
- Nêu và phân tích nguyên nhân, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi tại TCTD ở Việt Nam;
- Luận văn kiến nghị, đề xuất các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD ở Việt Nam nhằm góp phần xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, mang tính khả thi
Trang 115
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục các chữ viết tắt và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận của pháp luật về bảo đảm tiền vay
bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi
nợ tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Chương 3: Một số phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp
luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Trang 126
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM TIỀN
VAY BẰNG QUYỀN ĐÒI NỢ TẠI TỔ CHỨC TÍN DỤNG
1.1 Khái niệm, đặc điểm quyền đòi nợ, phân biệt quyền đòi nợ với một số quyền tài sản khác
1.1.1 Khái niệm quyền đòi nợ
Quyền dân sự là khả năng pháp luật cho phép chủ thể hưởng một lợi ích vật chất, tinh thần hoặc yêu cầu người khác thực hiện một nghĩa vụ cho mình Nghĩa vụ của bên kia có thể phải làm một công việc hoặc không được thực hiện một công việc hoặc phải chuyển tài sản…
Quyền đòi nợ là một loại tài sản theo quy định của BLDS năm 2005 Đây là một tài sản vô hình mà chúng ta không thể nắm giữ trực tiếp Quyền đòi nợ có tính chất khá đặc biệt vì nó phản ánh việc một nghĩa vụ vừa là một mối quan hệ về mặt pháp luật, đồng thời lại là một loại tài sản
Dưới góc độ của pháp luật về tài sản, quyền đòi nợ là một loại quyền tài sản [24, khoản 1 Ðiều 322] và quyền tài sản lại là một trong bốn loại tài sản theo quy định hiện hành [24, Ðiều 163] Như vậy, có thể hiểu quyền đòi
nợ tự thân nó là một tài sản Ðối tượng của quyền đòi nợ chính là khoản tiền
sẽ được thanh toán vào một thời điểm nhất định Quyền đòi nợ là một tài sản đặc biệt Tài sản đó ở dạng vô hình hay nó là một dạng của quyền tài sản Quyền tài sản có rất nhiều nhưng chỉ những quyền tài sản đáp ứng một số điều kiện nhất định quy định tại Điều 163 BLDS năm 2005 mới trở thành đối tượng trong các giao dịch dân sự
Dưới góc độ kế toán, quyền đòi nợ là một “khoản phải thu” Khoản phải thu là bộ phận tài sản của doanh nghiệp đang bị các đơn vị hoặc cá nhân khác chiếm dụng mà doanh nghiệp có trách nhiệm thu hồi Khoản phải thu có liên quan đến các đối tác có quan hệ kinh tế đối với doanh nghiệp bao gồm
Trang 137
các khoản: khoản phải thu từ khách hàng, khoản ứng trước cho người bán, khoản phải thu nội bộ, khoản tạm ứng cho công nhân viên, các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ, các khoản phải thu khác Có thể nói nôm na “khoản phải thu” là số tiền khách hàng nợ doanh nghiệp do mua chịu hàng hóa hoặc dịch vụ Trong lĩnh vực kế toán, có thể nói hầu hết các công ty đều phát sinh các khoản phải thu nhưng với mức độ khác nhau, từ mức không đáng kể cho đến mức không thể kiểm soát nổi Kiểm soát khoản phải thu liên quan đến việc đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro Khoản phải thu của doanh nghiệp phát sinh nhiều hay ít phụ thuộc vào các yếu tố như tình hình nền kinh tế, giá cả sản phẩm, chất lượng sản phẩm, và chính sách bán chịu của doanh nghiệp
Đứng ở góc độ của pháp luật nghĩa vụ thì quyền đòi nợ là một dạng của quyền yêu cầu quy định tại các điều từ Điều 309 đến Điều 314 của BLDS năm 2005 Đó là quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện một công việc, cụ thể là phải thanh toán một khoản tiền cho bên có quyền tại một thời điểm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng Thời điểm thỏa thuận này có thể
là một thời điểm nhất định trong tương lai, nhưng quyền đòi nợ có thể được thanh toán khi bên có quyền yêu cầu hay khi phát sinh một sự kiện tương lai nhất định mà các bên đã thỏa thuận Bên có quyền chỉ có thể yêu cầu việc thanh toán này từ phía bên có nghĩa vụ chứ không thể yêu cầu một bên thứ ba làm việc này bởi quyền đòi nợ chỉ thiết lập các mối quan hệ giữa bên có quyền và bên có nghĩa vụ mà thôi Ðiều này minh họa cho tính chất tương đối của quyền đòi nợ
Trong khoa học pháp lý người ta chia quyền tài sản ra ba loại: quyền đối vật hay còn gọi là vật quyền; quyền đối nhân hay còn gọi là trái quyền; quyền sở hữu trí tuệ Quyền đối vật là quyền cho phép một người được hưởng các quyền năng trực tiếp và ngay lập tức đối với một vật mà không cần vai trò của một người khác Quyền đối vật chỉ bao gồm hai yếu tố: chủ thể của quyền
và vật, đối tượng của quyền Hay quyền đối vật là quyền trực tiếp trên vật Còn quyền đối nhân là quyền yêu cầu người có nghĩa vụ phải làm hoặc không
Trang 148
làm một việc nào đó Thông thường, quyền đối nhân phát sinh từ quan hệ hợp đồng nhưng cũng có thể phát sinh do các căn cứ khác do pháp luật quy định Điều 181 BLDS năm 2005 quy định: “quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự” Như vậy, theo luật Việt Nam, nếu quan hệ trái quyền có thể tính được thành tiền và chuyển giao được thì trái quyền đó mới là quyền tài sản Vật quyền và trái quyền có những
sự khác biệt cơ bản sau: thứ nhất, vật quyền mang tính chất tuyệt đối theo nghĩa tất cả những người khác trong xã hội có nghĩa vụ phải tôn trọng các quyền năng của người được hưởng vật quyền, và người này được thực hiện các quyền trực tiếp đối với tài sản Trái lại, trong quan hệ trái quyền mang tính chất tương đối, nó chỉ mối quan hệ giữa người có quyền và người có nghĩa vụ và về mặt nguyên tắc, nó chỉ có hiệu lực tương đối giữa hai người này mà thôi Thứ hai, trong quan hệ vật quyền, người có quyền có thể trực tiếp khai thác tài sản và có quyền đòi lại tài sản dù tài sản đang nằm trong tay
ai Trái lại, trong quan hệ trái quyền, người có quyền chỉ có thể yêu cầu người
có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ chứ không có quyền cụ thể đối với tài sản này hay tài sản kia của người có nghĩa vụ Theo quan niệm này thì quyền tài sản tương ứng với trái quyền và quyền đòi nợ là một trái quyền
Xét về mặt ngôn ngữ, bản thân thuật ngữ quyền đòi nợ tự nó "toát lên" những đặc điểm riêng biệt để nhận biết, trước tiên nó là một quyền, và quyền này là quyền được yêu cầu người khác phải thực hiện một nghĩa vụ tài chính đối với mình Quyền ở đây chính là một quyền năng dân sự chủ quan của chủ thể được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Nói một các nôm na thì quyền đòi nợ
là một quyền có giá trị tiền tệ nhưng không có đối tượng là một vật hữu hình nào: người có quyền đòi nợ thực hiện quyền của mình bằng cách yêu cầu người mắc nợ thực hiện nghĩa vụ trả nợ và tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ
đó dưới hình thức nhận một số tiền
Trang 159
Pháp luật thực định không đưa ra một định nghĩa cụ thể về quyền đòi
nợ Trước đây, Thông tư số 04/2007/TT-BTP ngày 17/5/2007 của Bộ Tư pháp hướng dẫn về thẩm quyền, trình tự và thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin về hợp đồng mua trả chậm, trả dần, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng cho thuê tài chính và hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ đã định nghĩa quyền đòi
nợ theo hướng liệt kê gồm quyền đòi nợ phát sinh từ hợp đồng vay, hợp đồng mua bán, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng dịch vụ hoặc phát sinh từ các căn
cứ hợp pháp khác Song, danh sách này đã bị hủy bỏ bởi Thông tư số 05/2011/TT-BTP của Bộ Tư pháp ngày 16/02/2011 hướng dẫn một số vấn đề
về đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên tài sản thi hành án theo phương thức trực tiếp, bưu điện, fax, thư điện tử tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp, nên hiện nay chưa có văn bản nào quy định rõ quyền đòi nợ là gì Vì pháp luật thực định chưa đưa ra một định nghĩa cụ thể về quyền đòi nợ, chưa quy định cụ thể các tiêu chí, đặc điểm
để nhận biết về quyền đòi nợ, nên các TCTD gặp nhiều khó khăn trong việc xác định quyền đòi nợ để nhận thế chấp Liệu có phải bất kỳ quyền đòi một khoản tiền phát sinh từ bất kỳ loại hợp đồng nào cũng được coi là quyền đòi nợ và đều được nhận làm tài sản thế chấp, trong khi pháp luật thực định đặt ra cho Bên nhận thế chấp nghĩa vụ chứng minh quyền được đòi nợ đối với bên có nghĩa vụ trả nợ
Nghị định số 163 là văn bản có các quy định riêng cho việc thế chấp quyền đòi nợ (chủ yếu là Điều 22, Điều 59 và Điều 66) Nghị định số 163 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 11 Nghị định số 11 có hiệu lực kể từ ngày 10/4/2012 Tuy vậy, các quy định tại Nghị định số 163 chưa đề cập hết các khía cạnh của loại hình giao dịch bảo đảm có đối tượng là quyền đòi nợ này và phải áp dụng các quy định chung của BLDS và Nghị định số 163 về giao dịch bảo đảm nói chung và về thế chấp tài sản đối với các vấn đề không được xử lý một cách riêng biệt bởi các quy định này
Trang 1610
Các văn bản luật hiện không đưa ra khái niệm thế nào là “quyền đòi nợ” Tuy nhiên, theo những phân tích ở trên, có thể rút ra khái niệm sau về Quyền đòi nợ: Quyền đòi nợ là một quyền tài sản có đối tượng là một khoản
nợ theo đó nó mang tới cho người sở hữu quyền này có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện một nghĩa vụ tài chính đối với bên có quyền Quyền đòi nợ là một loại quyền tài sản có đối tượng là một khoản nợ, tức là một khoản tiền Quyền đòi nợ được liệt kê tại Điều 322 của BLDS năm 2005 như một trong số các quyền tài sản có thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân
sự Không chỉ là đối tượng của giao dịch bảo đảm, quyền đòi nợ còn được mua, bán theo quy định tại Điều 449 BLDS năm 2005 về mua bán quyền tài sản
Nói chung, cho dù dưới góc độ nào, việc nhận thức chính xác khái niệm về quyền đòi nợ đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thiết lập và thực hiện các giao dịch liên quan đến quyền đòi nợ, cũng như trong việc xây
dựng quy định pháp luật liên quan đến quyền đòi nợ Theo tác giả, quyền đòi
nợ là một quyền tài sản có đối tượng là một khoản nợ theo đó nó mang tới cho người sở hữu quyền này có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện một nghĩa vụ tài chính đối với bên có quyền
1.1.2 Đặc điểm quyền đòi nợ
Là một quyền tài sản, quyền đòi nợ cũng có đầy đủ những đặc điểm của một quyền tài sản Hai điều kiện để được coi là quyền tài sản cũng chính
là hai đặc điểm của quyền đòi nợ Điều 181 BLDS năm 2005 quy định:
“quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao được trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ” Theo đó, quyền đòi nợ có hai đặc điểm: Thứ nhất, quyền đòi nợ phải trị giá được bằng tiền hay là phải tương đương với một đại lượng vật chất nhất định; Thứ hai, quyền đòi nợ đó
có thể chuyển giao được trong giao dịch dân sự
Có nhiều cách hiểu khác nhau về quyền đòi nợ nhưng cho dù được hiểu theo cách nào thì quyền đòi nợ vẫn phải mang những đặc điểm đặc trưng, những thuộc tính cơ bản để nhận biết đó là một quyền tài sản và để phân biệt
Trang 1711
quyền đòi nợ với các loại quyền tài sản khác Mặc dù, BLDS năm 2005 không
hề có điều khoản nào quy định về khái niệm cũng như các đặc điểm của quyền đòi nợ để phân biệt với các loại tài sản khác Tuy nhiên, từ việc phân tích tại Mục 1 phần này, có thể thấy rằng quyền đòi nợ có hai đặc điểm, thuộc tính cơ bản là: (1) Trị giá được bằng tiền; (2) Có thể chuyển giao quyền sở hữu cho chủ thể khác trong giao dịch dân sự
Thứ nhất, quyền đòi nợ trị giá được bằng tiền
Một trong những đặc điểm nổi bật của quyền tài sản nói chung cũng như quyền đòi nợ nói riêng đó là có thể trị giá được bằng tiền, nghĩa là phải tương đương với một đại lượng vật chất nhất định Thật vậy, qua khái niệm về quyền đòi nợ như đã phân tích ở trên có thể thấy rằng vì bản thân quyền đòi
nợ là xác nhận quyền yêu cầu trả nợ, quyền yêu cầu thanh toán một khoản tiền trong một thời hạn nhất định và khoản tiền đó đã được xác định rõ trên văn bản phát sinh ra nó Hiện nay, pháp luật dân sự Việt Nam công nhận một
số quyền tài sản là tài sản như: quyền sử dụng đất, quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tài sản bị xâm phạm, quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng [24, Điều 322] Trong đó, nhận tài sản bảo đảm
là các quyền tài sản này đều phải tuân thủ quy định pháp luật dân sự và các quy định của pháp luật chuyên ngành, ví dụ nhận tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất hay quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên thì ngoài việc phải tuân thủ các quy định chung của pháp luật dân sự còn phải tuân thủ các quy định của luật đất đai, luật khoáng sản…
Quyền đòi nợ luôn phát sinh từ hợp đồng, có thể là hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng thi công, xây dựng, hợp đồng dịch vụ…các hợp đồng này tuy khác nhau về nội dung nhưng có một điểm chung đó đều là hợp đồng song vụ Có nghĩa, quyền của bên này tương ứng là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại Vì vậy, nghĩa vụ trong hợp đồng được xác định cụ thể Có thể nhận
Trang 1812
thấy dù phát sinh từ hợp đồng nào thì quyền đòi nợ luôn được xác định cụ thể: bên có nghĩa vụ trả nợ, bên có quyền và số tiền bên có nghĩa vụ phải trả cho bên có quyền Trong mối quan hệ giữa người có quyền đòi nợ với người có nghĩa vụ trả nợ, khi đến hạn thanh toán đã được xác định trong hợp đồng, người có quyền đòi nợ có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ trả nợ phải thanh toán số tiền nợ đã ghi trên hợp đồng Như vậy, đến ngày thực hiện nghĩa vụ thanh toán, quyền đòi nợ đã được quy ra một khoản tiền và người có nghĩa vụ trả nợ có nghĩa vụ trả cho người sở hữu số tiền đó
Trong giao dịch bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ, mức cho vay được xác định dựa trên giá trị của khoản nợ và sự xem xét, đánh giá của các TCTD Mức cho vay thường không vượt quá giá trị của khoản nợ
Thứ hai, người có quyền đòi nợ có thể chuyển giao quyền đòi nợ ấy
cho chủ thể khác trong giao dịch dân sự
Đặc điểm đặc trưng khác của quyền đòi nợ đó là quyền đòi nợ có thể được chuyển nhượng, tức là người có quyền đòi nợ có thể chuyển giao quyền yêu cầu thanh toán (quyền được nhận khoản nợ) cho chủ thể khác trong giao dịch dân sự Pháp luật hiện hành xem quyền đòi nợ là một loại tài sản, vì vậy, chủ thể của quyền đòi nợ được quyền chuyển nhượng quyền đòi nợ cho chủ thể khác theo cách thức và thông qua các hình thức giao dịch phù hợp với quy
định của pháp luật như mua, bán, cho, tặng, trao đổi, thừa kế,
Việc chuyển nhượng quyền đòi nợ có liên hệ chặt chẽ với việc chuyển giao quyền yêu cầu được quy định tại các Điều từ 309 đến Điều 314 của BLDS năm 2005 Theo đó, chuyển giao quyền yêu cầu trong quan hệ nghĩa
vụ dân sự là việc bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự chuyển giao quyền yêu cầu đó cho người thế quyền theo thỏa thuận Pháp luật hạn chế một
số trường hợp bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự không được chuyển giao quyền đó cho người khác [24, Điểm a, b, c khoản 1, Điều 309] Điểm a, khoản 1 Điều 309 BLDS năm 2005 quy định những trường hợp
Trang 1913
quyền yêu cầu là những quyền gắn liền với nhân thân của chủ thể có quyền thì không được chuyển giao Ví dụ như: quyền yêu cầu cấp dưỡng, yêu cầu bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín Vì quyền đòi nợ đã loại trừ các quyền liên quan đến nhân thân như trên, do đó, trừ khi các bên có thỏa thuận khác, quyền đòi nợ được chuyển giao Đặc trưng cơ bản của luật dân sự là tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, vì vậy tại Điểm b, khoản 1, Điều 309 BLDS năm 2005 quy định một trong những trường hợp bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự không được chuyển giao quyền yêu cầu đó cho người khác nếu giữa Bên có quyền và bên có nghĩa vụ có thoả thuận không được chuyển giao quyền yêu cầu Bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự không được chuyển giao quyền yêu cầu đó cho người khác trong trường hợp mà pháp luật quy định Như vậy, việc chuyển giao quyền yêu cầu của bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự cho một chủ thể thế quyền khác chỉ bị hạn chế bởi
3 điều kiện như đã liệt kê trên
Như vậy, quyền đòi nợ bản thân nó là một loại tài sản có đủ hai đặc điểm đặc trưng cơ bản của quyền tài sản là trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao quyền sở hữu cho chủ thể khác trong giao dịch dân sự Đây là hai đặc điểm để nhận biết quyền đòi nợ
1.1.3 Phân biệt quyền đòi nợ với một số quyền tài sản khác
Điều 322 BLDS năm 2005 quy định các quyền tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm bao gồm quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng và các quyền tài sản khác thuộc sở hữu của bên bảo đảm đều được dùng để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự
1.1.3.1 Phân biệt quyền đòi nợ với quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng
Pháp luật hiện hành không quy định cụ thể các loại quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng nào khác có thể trở thành tài sản bảo đảm ngoài quyền đòi
Trang 2014
nợ và quyền được nhận số tiền bảo hiểm Trong khuôn khổ pháp luật giao dịch bảo đảm, Ðiều 322 của BLDS năm 2005 phân biệt quyền đòi nợ với quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng theo hướng đây là hai loại quyền tài sản độc lập với nhau BLDS năm 2005 công nhận một khái niệm pháp lý khác là quyền yêu cầu [24, Ðiều 309 đến Ðiều 314] Khoản 4 và 5, Ðiều 22, Nghị định số 163 coi quyền đòi nợ là một loại quyền yêu cầu Trước đây, quyền đòi
nợ được định nghĩa theo hướng liệt kê gồm quyền đòi nợ phát sinh từ hợp đồng vay, hợp đồng mua bán, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng dịch vụ hoặc phát sinh từ các căn cứ hợp pháp khác [1, điểm d khoản 1.1] Song, Ðiều 2, khoản 2, điểm 2.4 Thông tư 05/2011/TT-BTP quy định “Hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ bao gồm quyền đòi nợ hiện có hoặc quyền đòi nợ hình thành trong tương lai” Dường như các nhà làm luật muốn mở rộng hơn căn
cứ phát sinh quyền đòi nợ khi không giới hạn ở các hợp đồng nhất định nữa Tuy nhiên, không có quy định nào của BLDS năm 2005 giải thích nội hàm của các quyền phát sinh từ hợp đồng Có thể hiểu quyền đòi nợ là một quyền yêu cầu mang tính chắc chắn có thể được thực thi trong khi quyền phát sinh từ hợp đồng là quyền yêu cầu ít chắc chắn hơn, có tính chất ngẫu nhiên hơn, tức
là phụ thuộc vào các tình huống nhất định để chuyển một quyền tiềm năng thành một quyền có thể thực thi được Quyền phát sinh từ hợp đồng bao gồm rất nhiều loại quyền, chẳng hạn như quyền chọn, quyền phát sinh từ một hợp đồng cho thuê tàu biển, quyền phát sinh từ vận đơn, quyền phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, quyền phát sinh từ hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp hay quyền thuê phát sinh từ hợp đồng thuê: Quyền đòi nợ và quyền phát sinh từ hợp đồng là hai loại quyền yêu cầu tiêu biểu
1.1.3.2 Phân biệt quyền đòi nợ với quyền sở hữu trí tuệ
Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở
Trang 2115
hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng Khác với quyền tài sản hữu hình có đối tượng là các vật, quyền sở hữu trí tuệ có đối tượng mang tính chất trừu tượng – thành quả của hoạt động tư duy sáng tạo của con người Các quyền liên quan đến các sản phẩm của trí tuệ vừa mang tính chất nhân thân, vừa mang tính tài sản Quyền sở hữu trí tuệ là nhóm quyền đặc biệt, không thuộc nhóm vật quyền và cũng không thuộc nhóm trái quyền Nó không phải trái quyền bởi lẽ chủ sở hữu thực hiện quyền năng sở hữu một cách trực tiếp chứ không phải thông qua người khác Quyền sở hữu trí tuệ được hiểu là một tập hợp các độc quyền khai thác một ý tưởng, một tác phẩm, một sáng chế ở điểm này, quyền sở hữu trí tuệ có phần giống như một vật quyền, tuy nhiên, nếu như vật quyền là quyền đối vật là đối tượng tồn tại một các vật chất, hiện hữu thì đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ không phải là một vật mà là kết quả của sáng tạo tư duy, yếu tố không tồn tại một cách vật chất Trong luật Việt Nam, đối tượng của quyền tác giả bao gồm mọi tác phẩm sáng tạo trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học
Mặc dù Điều 322 BLDS năm 2005 liệt kê rõ ràng các quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng làm tài sản bảo đảm, Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29/11/2005 được sửa đổi năm 2009 không đề cập tới việc thế chấp các quyền sở hữu trí tuệ này Luật sở hữu trí tuệ chỉ quy định việc chuyển nhượng quyền tác giả, việc định đoạt đối tượng sở hữu công nghiệp thông qua việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp và việc chuyển giao quyền đối với giống cây trồng Cũng không có bất cứ quy định nào về việc xác lập và hệ quả pháp lý của giao dịch bảo đảm có đối tượng là quyền sở hữu trí tuệ trong các văn bản hướng dẫn thi hành luật này như Nghị định 100/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 21/09/2006 về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLDS, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan được sửa đổi năm 2011, Nghị định 103/2006/NĐ-CP của Chính phủ
Trang 2216
ngày 22/09/2006 về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp được sửa đổi năm 2010 hay Nghị định 88/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/08/2010 quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về quyền đối với giống cây trồng Hơn nữa, theo quy định tại khoản 6, điều 3, Thông tư số 05/2011/TT-BTP của
Bộ Tư pháp ngày 16/02/2011 hướng dẫn một số vấn đề về đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên tài sản thi hành án theo phương thức trực tiếp, bưu điện, fax, thư điện tử tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc
Bộ Tư pháp, việc đăng ký giao dịch bảo đảm đối với quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp chứ không phải tại Cục sở hữu trí tuệ như thông lệ tại nhiều nước trên thế giới
1.1.3.3 Phân biệt quyền đòi nợ với quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp
Điều 322 BLDS năm 2005 quy định có thể dùng quyền tài sản đối với phần góp vốn trong doanh nghiệp làm tài sản bảo đảm Trong thực tế, chính cách quy định như thế lại dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng chế định này bởi tính chất khá trừu tượng của khái niệm quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp Có thể hiểu quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp gồm các quyền mà thành viên góp vốn có được sau khi thực hiện việc góp vốn vào doanh nghiệp được quy định tại điều 41 của Luật doanh nghiệp (quyền biểu quyết thông qua các quyết định của công ty, quyền được chia lợi nhuận, quyền được ưu tiên góp thêm vốn, v.v…) Tuy nhiên khi nhận thế chấp, ngân hàng sẽ thích nhận phần vốn góp hơn là nhận các quyền của thành viên góp vốn vì pháp luật doanh nghiệp không quy định việc định
Trang 2317
đoạt quyền của thành viên góp vốn mà chỉ quy định việc định đoạt phần vốn góp Điều 140 của Luật doanh nghiệp khi quy định về quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn cho phép thành viên góp vốn của công ty hợp danh được định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách thế chấp, cầm cố Tức là Luật doanh nghiệp cho phép thực hiện giao dịch bảo đảm đối với phần vốn góp Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp không nêu rõ việc thành viên góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn có quyền thực hiện giao dịch bảo đảm đối với phần góp vốn của mình hay không [27, điểm h khoản 1 Điều 41] như trong trường hợp công ty hợp danh [27, điểm e khoản 1 Điều 140] Tuy điểm h khoản 1 điều 41 quy định mở là thành viên góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn có thể định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách khác theo quy định của pháp luật và điều lệ của công ty, nhưng thật khó có thể hình dung giá trị pháp lý của việc thế chấp phần vốn góp nếu chỉ được quy định trong điều
lệ của một công ty Một điểm đáng chú ý là Luật doanh nghiệp vẫn còn thiếu vắng các quy định về việc chấp thuận giao dịch thế chấp phần vốn góp Thực vậy, Luật doanh nghiệp chỉ quy định việc chấp thuận thành viên mới của công
ty trong trường hợp chuyển nhượng phần vốn góp hay sử dụng phần vốn góp
để trả nợ Với các quy định này, khi chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người khác, thành viên góp vốn phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện và chỉ được chuyển nhượng cho người khác không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày chào bán Hơn nữa trong trường hợp thành viên sử dụng phần vốn góp để trả nợ thì người nhận thanh toán chỉ được trở thành thành viên của công ty nếu được các thành viên còn lại chấp thuận, nếu không sẽ bắt buộc phải chào bán phần vốn góp đó Có thể thấy tinh thần của Luật doanh nghiệp là hạn chế sự xuất hiện của thành viên mới trong công
Trang 2418
ty và tôn trọng quyết định chấp thuận hay không chấp thuận thành viên mới của các thành viên còn lại Khi xây dựng các quy định mới về vấn đề này đối với việc thế chấp phần vốn góp, nhà làm luật nên đi theo hướng tôn trọng nguyên tắc này của Luật doanh nghiệp
1.1.3.4 Phân biệt quyền đòi nợ với quyền phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
Như trình bày ở phần trên, điều 322 của BLDS năm 2005 quy định quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm là một loại quyền tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Theo điều 346 của BLDS năm 2005, trong trường hợp tài sản thế chấp được bảo hiểm thì khoản tiền bảo hiểm cũng thuộc tài sản thế chấp Nếu đọc kết hợp hai điều này của BLDS năm 2005 có thể thấy BLDS năm 2005 chỉ công nhận quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm là một phần của tài sản thế chấp Quy định như thế rõ ràng là tương đối hẹp và đây chỉ là một ví dụ về việc pháp luật Việt Nam công nhận việc thay thế đối vật – giá trị của tài sản thế chấp ở vị trí của tài sản thế chấp bị phá hủy một phần hay toàn bộ Hệ thống pháp luật của nhiều nước trên thế giới công nhận rộng rãi giao dịch bảo đảm
có đối tượng là hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, hay cụ thể hơn là số tiền bảo hiểm vốn là một quyền đòi nợ của bên mua bảo hiểm hay người được thụ hưởng Điều 18, Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000 về kinh doanh bảo hiểm được sửa đổi bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm số 61/2010/QH12 ngày 24/11/2010 khi quy định về quyền của bên mua bảo hiểm cho phép bên mua bảo hiểm được chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm nhưng không đề cập tới việc bên mua bảo hiểm có được sử dụng hợp đồng bảo hiểm làm tài sản bảo đảm hay không Điều 18 cũng có quy định theo hướng mở là bên mua bảo hiểm được thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật Tuy vậy,
Trang 2519
cách quy định mở đó cũng không đảm bảo cho việc xác lập giao dịch bảo đảm đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Phần quy định về hợp đồng bảo hiểm con người của luật này cũng như Nghị định số 45/2007/NĐ-CP ngày 27/03/2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm không đề cập tới giao dịch bảo đảm đối với hợp đồng bảo hiểm Về bản chất, thế chấp hợp đồng bảo hiểm là một dạng đặc biệt của thế chấp quyền đòi
nợ nên về lý thuyết có thể thiết kế một hợp đồng thế chấp hợp đồng bảo hiểm dưới dạng một hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ Tuy vậy, do điều 322 của BLDS năm 2005 chỉ nêu một trường hợp duy nhất liên quan đến giao dịch bảo đảm đối với hợp đồng bảo hiểm như đã phân tích ở trên nên khả năng này
ít nhiều tiềm ẩn rủi ro
1.2 Khái niệm, đặc điểm bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại
Theo nghĩa khách quan, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là tổng hợp các quy định pháp luật do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện trong
đó quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Về mặt chủ quan, bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ dân sự là việc thỏa thuận giữa các bên nhằm qua đó đặt ra các biện pháp tác động mang tính chất dự phòng để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ, đồng thời ngăn ngừa và khắc phục những hậu quả xấu do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ gây ra Ngoài ra, biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự còn có tính chất bắt buộc đối với các bên trong giao dịch
Trang 2620
Trên phương diện hợp đồng, theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều
406 BLDS năm 2005 và Điều 15 Nghị định số 163 thì biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đều là những hợp đồng mang tính chất tài sản và là hợp đồng phụ theo đó các biện pháp bảo đảm về mặt tài sản chỉ được xử lý khi có hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của một bên trong quan hệ nghĩa vụ
Trong hoạt động cho vay của TCTD, bảo đảm tiền vay hiểu theo nghĩa chung nhất là việc TCTD áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo
cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho bên vay vay
Bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ là việc bên bảo đảm dùng quyền đòi nợ thuộc quyền sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hoàn trả
nợ vay của bên vay đối với TCTD Hay nói nôm na là lấy nợ để bảo đảm nợ
Như vậy, bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ thực chất là việc TCTD
áp dụng biện pháp dân sự vào hoạt động cho vay, biện pháp cụ thể ở đây là dùng quyền đối với một khoản nợ để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay của bên vay
1.2.2 Đặc điểm của bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng
1.2.2.1 Là biện pháp bảo đảm được thiết lập nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay của bên vay vốn đối với bên cho vay là TCTD
Biện pháp bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ không tồn tại độc lập
mà luôn phụ thuộc và gắn liền với một nghĩa vụ, đó là nghĩa vụ trả nợ tiền vay của bên vay vốn đối với bên cho vay là TCTD Nghĩa vụ trả nợ tiền vay phát sinh từ hợp đồng chính là hợp đồng vay
Khi bên vay và TCTD thiết lập hợp đồng vay thì TCTD cho bên vay vay một khoản tiền với điều kiện bên vay có nghĩa vụ hoàn trả số tiền vay đó cộng thêm lãi phát sinh trên khoản tiền vay, kèm theo các chi phí khác liên
Trang 2721
quan đến khoản vay khi hết thời hạn vay Trong mối quan hệ này, TCTD có quyền yêu cầu và bên vay có nghĩa vụ trả nợ vay theo quy định tại hợp đồng vay Tuy nhiên, việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay có đúng, đầy đủ hay không lại phụ thuộc nhiều vào khả năng tài chính (nguồn trả nợ) và thiện chí hợp tác của bên vay, mặc dù, trước khi quyết định cho vay TCTD đã thực hiện thẩm định, phê duyệt khoản vay theo quy chế và quy trình rất chặt chẽ Chính vì vậy, trong quan hệ cho vay, khi thiết lập hợp đồng vay, TCTD luôn đặt ra yêu cầu bên vay phải thực hiện biện pháp bảo đảm để bảo đảm cho nghĩa vụ trả
nợ của mình
Tùy thuộc vào tính chất của từng khoản cho vay (số tiền vay, thời hạn vay, mục đích vay, ), tùy thuộc vào khả năng tài chính của bên vay mà họ đưa ra các biện pháp bảo đảm phù hợp để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ Trong bảy biện pháp bảo đảm được quy định trong BLDS 2005 thì biện pháp thế chấp được các TCTD sử dụng thông dụng nhất, được lựa chọn hầu hết trong các giao dịch dân sự về bảo đảm nghĩa vụ Nếu như trong biện pháp cầm cố tài sản, bên có nghĩa vụ phải “giao tài sản” cho bên có quyền thì trong quan
hệ thế chấp bên bảo đảm chỉ “dùng tài sản để bảo đảm” mà “không chuyển giao tài sản đó” cho bên có quyền Dùng tài sản để bảo đảm mà không phải chuyển giao mà lợi ích của các bên trong quan hệ dân sự vẫn đạt được là một giải pháp hữu hiệu mà chỉ có ở biện pháp thế chấp Hơn nữa, với biện pháp cầm cố thì đối tượng của cẩm cố phải là một tài sản hữu hình, phải cầm nắm được
1.2.2.2 Tài sản dùng để bảo đảm tiền vay là quyền đòi nợ
Tương tự như thế chấp một tài sản thông thường, thế chấp quyền đòi nợ là việc một bên (sau đây gọi là Bên thế chấp) dùng tài sản là quyền đòi nợ của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là Bên nhận thế chấp) và không chuyển giao quyền đòi nợ đó cho Bên nhận thế chấp
Trang 2822
Thế chấp quyền đòi nợ cũng có các đặc điểm như thế chấp một tài sản thông thường và để tham gia vào giao lưu dân sự, cũng tương tự như các tài sản khác, quyền đòi nợ phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Quyền đòi nợ do các bên thỏa thuận phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm Bên bảo đảm thường là bên có nghĩa vụ hoặc là người thứ ba
mà người này cam kết dùng quyền đòi nợ của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ đối với bên có quyền Nếu quyền đòi nợ thuộc
sở hữu chung của nhiều người thì phải được sự đồng ý bằng văn bản của tất
cả các chủ sở hữu đó
- Quyền đòi nợ không phải là đối tượng bị tranh chấp về quyền sở hữu Nếu quyền đòi nợ đang có tranh chấp thì chỉ khi nào các tranh chấp đó được giải quyết bằng văn bản thỏa thuận giữa các bên hoặc thông qua phán quyết của tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì mới được đưa vào làm đối tượng của các biện pháp bảo đảm
- Quyền đòi nợ phải phát sinh từ những giao dịch, hợp đồng hợp pháp Điều kiện này đòi hỏi, quyền đòi nợ để trở thành đối tượng của các biện pháp bảo đảm phải được phát sinh từ hợp đồng hợp pháp Có nghĩa là hợp đồng đó phải có hiệu lực pháp luật Phải đáp ứng đủ các điều kiện của một giao dịch dân sự có hiệu lực theo như điều 122 BLDS năm 2005 gồm: Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện Đối với điều kiện này, tùy thuộc vào từng TCTD sẽ có những quy định nội bộ khác nhau đặt ra để quyền đòi nợ trở thành đối tượng của biện pháp bảo đảm Điều kiện này là rất quan trọng Nếu quyền đòi nợ phát sinh từ hợp đồng bị vô hiệu do theo quy định của pháp luật
về hợp đồng dân sự vô hiệu hoặc đối tượng Hợp đồng là hàng hóa, dịch vụ bị
Trang 29Quyền đòi nợ hình thành trong tương lai: Khoản 2 Điều 4 Nghị định
số 163 chưa được sửa đổi bởi Nghị định số 11 thì: “Tài sản hình thành trong
tương lai là tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm cả tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm mới thuộc sở hữu của bên bảo đảm” [8, khoản 2 Điều 4]
Nghị định số 11 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 163 đã sửa đổi khoản 2 Điều 4 nêu trên và quy định lại theo hướng liệt kê các tài sản nào là tài sản hình thành trong tương lai và tài sản nào không là tài sản hình thành trong tương lai, cụ thể như sau:
Tài sản hình thành trong tương lai gồm: a) Tài sản được hình thành từ vốn vay; b) Tài sản đang trong giai đoạn hình thành hoặc đang được tạo lập hợp pháp tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm; c) Tài sản đã hình thành và thuộc đối tượng phải đăng ký
Trang 30Rất dễ nhận thấy danh sách các tài sản hình thành trong tương lai này
có vẻ chỉ hướng đến các tài sản hữu hình (cụ thể hơn là nhà ở và các công trình xây dựng), có vẻ khá trùng lặp và chưa bao quát hết các loại tài sản có thể coi là tài sản tương lai, đặc biệt là các quyền tài sản Rất khó có thể xác định một quyền đòi nợ nào đó có phải là quyền đòi nợ tương lai nếu dựa vào danh sách này Cần lưu ý một khoản nợ sẽ được thanh toán trong tương lai theo quy định tại một hợp đồng đã được ký kết là một quyền đòi nợ hiện tại chứ không phải là một quyền đòi nợ tương lai
Quyền đòi nợ có kỳ hạn không phải là một quyền đòi nợ tương lai
mà đơn thuần chỉ là một quyền đòi nợ hiện tại Chẳng hạn, tiền thuê tài sản
mà bên thuê phải trả cho bên cho thuê không phải là quyền đòi nợ tương lai khi mà hợp đồng thuê tài sản ghi nhận các cam kết của bên thuê tài sản đã được ký kết vì trong trường hợp này, quyền đòi nợ đã phát sinh từ một hợp đồng đã được xác lập, duy chỉ việc quyền đòi nợ đến hạn là diễn ra trong tương lai mà thôi
Ðối với nghĩa vụ dân sự có điều kiện [24, Ðiều 294], sự kiện pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ chính là điều kiện mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng Do điều kiện này chưa phát sinh tại thời điểm xác lập giao dịch (và có thể không bao giờ phát sinh!) nên về nguyên tắc, có thể xem quyền đòi nợ có điều kiện là một quyền đòi nợ tương lai Chẳng hạn, quyền đòi nợ phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vừa là một quyền đòi nợ có kỳ hạn (trong trường hợp người được bảo hiểm còn sống khi hết thời hạn quy định trong hợp đồng) vừa là một quyền đòi nợ có điều kiện (trong trường hợp người được bảo hiểm
Trang 3125
chết trong thời hạn quy định trong hợp đồng) Do việc người được bảo hiểm chết vốn là sự kiện pháp lý có khả năng làm phát sinh quyền đòi nợ bảo hiểm còn chưa diễn ra vào thời điểm sử dụng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ làm tài sản thế chấp để bảo đảm khoản vay chẳng hạn, nên quyền đòi nợ có điều kiện này là một quyền đòi nợ tương lai Quyền đòi nợ hình thành trong tương lai là quyền đòi nợ còn chưa phát sinh do giao dịch hay sự kiện pháp lý có thể làm phát sinh quyền đòi nợ này còn chưa diễn ra Do quyền đòi nợ hình thành trong tương lai rất khó mô tả trong Hợp đồng bảo đảm nên thực tế rất ít các TCTD nhận thế chấp bằng tài sản này
1.2.2.3 Một bên chủ thể trong giao dịch bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ là tổ chức tín dụng
Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phát sinh thông qua sự thỏa thuận của các bên trong một giao dịch dân sự Trong giao dịch bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD có sự tham gia của các bên chủ thể trong
đó bên bảo đảm (bên vay vốn, người thứ ba) có thể là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác … nhưng bên nhận bảo đảm phải là TCTD cho vay
Tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật hiện hành "là doanh
nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng" [30,
khoản 1 Điều 4] (trong đó đặc trưng là hoạt động cho vay) Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô
và quỹ tín dụng nhân dân
Với chức năng cho vay được pháp luật thừa nhận, tổ chức tín dụng cho các cá nhân, pháp nhân, tổ chức khác vay vốn trên cơ sở thu hồi nợ gốc và lãi Vì vậy, để đảm bảo bên vay thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ vay nhằm bảo toàn "số tiền vốn" và số tiền lãi sẽ thu được đầy đủ, TCTD và bên vay thỏa thuận và ký kết thêm hợp đồng bảo đảm bằng quyền đòi nợ Trong mối quan hệ bảo đảo này, rõ ràng bên nhận bảo đảm luôn luôn là TCTD đã cho bên vay vay vốn, còn bên bảo đảm có thể chính là bên vay vốn hoặc là người thứ
ba có tài sản là quyền đòi nợ và dùng tài sản này làm tài sản bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho bên vay
Trang 3226
Có thể khẳng định rằng, trong bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD, TCTD là chủ thể luôn được xác định rõ và là chủ thể đặc biệt TCTD nhận bảo đảm chính là TCTD cho vay, có thể là ngân hàng (ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã) hoặc TCTD phi ngân hàng (như công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác) TCTD là chủ thể đặc biệt do hoạt động của TCTD
có độ rủi ro cao nên theo thông lệ quốc tế và thực tế đang được áp dụng ở nước ta, TCTD ngoài việc tuân thủ các quy định chung của pháp luật doanh nghiệp, còn phải tuân thủ các tỷ lệ và giới hạn nhất định theo quy định của pháp luật chuyên ngành nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay có bảo đảm bằng quyền đòi nợ nói riêng
Trên đây là ba đặc điểm cơ bản của bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi
nợ tại TCTD Các đặc điểm này là cơ sở để phân biệt bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ với bảo đảm tiền vay bằng tài sản khác tại TCTD, với các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự khác không có sự tham gia của TCTD
1.3 Vai trò của bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại tổ chức tín dụng
Thứ nhất, bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ góp phần thúc đẩy hoạt
động cho vay của TCTD
Bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay của bên vay, là biện pháp chế tài có chức năng dự phạt,
là rào cản đối với những đối tượng đi vay có chủ định lừa đảo Tài sản bảo đảm tiền vay là quyền đòi nợ như là khoản dự phòng làm giảm bớt tổn thất cho TCTD khi bên vay vì một lý do nào đó không thanh toán được nợ vay thì tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ sẽ được xử lý để thu hồi nợ
Thứ hai, bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ chính là "cứu cánh" cho
bên vay vì nhờ có biện pháp này mà bên vay có thể vay được vốn từ TCTD để đầu tư kinh doanh hoặc nâng cao đời sống Nếu không có quyền đòi nợ làm tài sản bảo đảm và cũng không có tài sản nào khác hay không có một chủ thể
Trang 3327
khác đứng ra bảo lãnh thì không có mấy khách hàng được TCTD "cấp vốn" Bên cạnh đó, bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ góp phần nâng cao trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay của bên vay, làm động lực thúc đẩy, tác động bên vay trả nợ và sử dụng vốn vay có hiệu quả
Thứ ba, bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD còn góp phần
thúc đẩy đời sống kinh tế xã hội phát triển ổn định, thông qua việc hỗ trợ và bảo đảm cho quan hệ vay, đi vay được thực hiện thuận lợi, nguồn vốn vay được luân chuyển sử dụng phục vụ việc cải thiện, nâng cao đời sống và phát triển sản xuất kinh doanh Nguồn tiền vay trên cơ sở có bảo đảm bằng quyền đòi nợ đóng vai trò là một trong những kênh tạo vốn quan trọng cho nền kinh
tế, thúc đẩy kinh tế phát triển
Qua phân tích các vấn đề lý luận của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD trên đây cho thấy, việc làm rõ các vấn đề như khái niệm, đặc điểm quyền đòi nợ, khái niệm, đặc điểm, bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD, nội dung pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng pháp luật
và áp dụng pháp luật về vấn đề này vào thực tiễn Việc "giải quyết" thấu đáo các vấn đề lý luận của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD chính là tiền đề, là cơ sở vững chắc cho "công cuộc" thiết lập hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về vấn đề này
Trang 34quyền tài sản [24, khoản 2 Điều 442]
Khi BLDS năm 2005 ra đời thay thế BLDS năm 1995, quyền đòi nợ tiếp tục được ghi nhận là một loại tài sản được dùng làm tài sản bảo đảm [24,
Điều 322] Đến năm 2006, khi Nghị định số 163 ra đời thì giao dịch bảo đảm
tiền vay bằng quyền đòi nợ đã được quy định cụ thể hơn về các nội dung như loại quyền đòi nợ được dùng làm tài sản bảo đảm, quyền của Bên nhận thế chấp quyền đòi nợ, xử lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ
Có ít văn bản quy định về quyền đòi nợ cũng như bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD, có thể kể đến là BLDS năm 2005 và Nghị định
số 163; Nghị định số 11 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 163; Thông tư số 04/2007/TT-BTP ngày 17/5/2007 Hướng dẫn về thẩm quyền, trình tự và thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin về hợp đồng mua trả chậm, trả dần, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng cho thuê tài chính và hợp đồng chuyển giao quyền đòi
nợ (đã hết hiệu lực); Thông tư số 05/2011/TT-BTP ngày 16/02/2011 của Bộ
Tư pháp hướng dẫn một số vấn đề về đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm, hợp đồng, thông báo việc kê biên tài sản thi hành án theo phương thức trực tiếp, bưu điện, fax, thư điện tử tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký Quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp; Thông
Trang 3529
tư số 08/2014/TT-BTP ngày 26/02/2014 sửa đổi một số điều của Thông tư số 05/2011/TT-BTP Và mới đây nhất, ngày 06/06/2014, liên bộ gồm: Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư liên tịch số 16 hướng dẫn một số vấn đề về xử lý tài sản bảo đảm Trong đó có 01 Điều quy định về việc xử lý tài sản thế chấp là quyền đòi nợ Tuy nhiên, những văn bản này chỉ mới quy định khá chung chung
về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ mà chưa đưa ra một quy chế pháp
lý chuẩn, đầy đủ và thống nhất Xét trong phạm vi hoạt động của các TCTD, NHNN cũng chưa ban hành quy chế, quy trình nào về hoạt động cho vay của TCTD đối với khách hàng có bảo đảm bằng quyền đòi nợ Bởi vậy, việc thực hiện bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD hiện đang ở trong tình trạng do mỗi TCTD tự đặt ra, không theo một "quy chuẩn" pháp lý thống nhất nào
2.1.2 Nội dung của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi
nợ tại tổ chức tín dụng
Nội dung của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD là tổng hợp các quy định pháp luật điều chỉnh trực tiếp và liên quan đến bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD Vấn đề đặt ra là pháp luật điều chỉnh về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD quy định những gì? Việc trả lời câu hỏi này cần dựa trên hệ thống các văn bản pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD Sau đây, luận văn xin nêu ra một số quy định của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD
2.1.2.1 Quy định của pháp luật về quyền đòi nợ được dùng làm tài sản bảo đảm
BLDS năm 2005 chỉ có 02 điều luật có nhắc đến quyền đòi nợ Điều
449 về mua bán quyền tài sản: « Trong trường hợp quyền tài sản là quyền đòi
nợ và bên bán cam kết bảo đảm khả năng thanh toán của người mắc nợ thì bên bán phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán, nếu khi đến hạn mà
Trang 3630
người mắc nợ không trả » và Điều 322 có liệt kê quyền đòi nợ là một loại
quyền tài sản cùng với một số quyền tài sản khác được dùng để bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ dân sự Nghị định số 163 quy định: « Bên có quyền đòi
nợ được thế chấp một phần hoặc toàn bộ quyền đòi nợ, bao gồm cả quyền đòi nợ hình thành trong tương lai mà không cần có sự đồng ý của bên có nghĩa vụ trả nợ » [8, Điều 322]
Như vậy, cũng như các tài sản khác, quyền đòi nợ có thể được đem thế chấp một phần hoặc toàn bộ, có thể thể chấp quyền đòi nợ hiện tại và quyền đòi nợ hình thành trong tương lai
Trong giao dịch bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ, các bên chủ thể giao dịch được tự do, tự nguyện thỏa thuận loại quyền đòi nợ dùng làm tài sản bảo đảm Tuy nhiên, sự tự do thỏa thuận đó phải nằm trong khuôn khổ, giới hạn mà pháp luật cho phép, tức là loại quyền đòi nợ mà các bên lựa chọn làm tài sản bảo đảm nghĩa vụ phải được pháp luật cho phép đưa vào giao dịch và thỏa mãn các điều kiện khác mà pháp luật đã đặt ra
Mặc dù, pháp luật hiện hành chưa có quy định rõ ràng, cụ thể về điều kiện của quyền đòi nợ dùng làm tài sản bảo đảm Tuy nhiên, qua việc kết nối các quy định của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD, tác giả cho rằng, một quyền đòi nợ được dùng làm tài sản bảo đảm khi thỏa mãn hai điều kiện cơ bản: quyền đòi nợ phải thuộc sở hữu hợp pháp của bên bảo đảm (bên bảo đảm có toàn quyền quyết định việc dùng quyền đòi nợ đó làm tài sản bảo đảm) và quyền đòi nợ phải được phép giao dịch (được phép tham gia giao dịch bảo đảm)
2.1.2.2 Quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục nhận tài sản bảo đảm tiền vay là quyền đòi nợ
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên vay, bên bảo đảm cũng như bên nhận bảo đảm (là tổ chức tín dụng), khi thực hiện bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ tại TCTD các bên chủ thể phải tuân thủ theo các trình tự, thủ tục nhất định
Trang 3731
Mặc dù vậy, pháp luật hiện hành chưa có văn bản quy định riêng về trình
tự, thủ tục nhận quyền đòi nợ làm tài sản bảo đảm tiền vay tại TCTD Trình
tự, thủ tục thực hiện trong trường hợp này phải tuân theo quy định chung về nhận tài sản bảo đảm tại BLDS năm 2005 và các hướng dẫn cụ thể tại Nghị định
số 163, Nghị định số 11, Nghị định số 83 và các quy định pháp luật khác có liên quan
Theo quy định tại Nghị định số 163, trình tự thủ tục chung khi nhận tài sản bảo đảm sẽ là: giao kết giao dịch bảo đảm, công chứng, chứng thực giao dịch bảo đảm, đăng ký giao dịch bảo đảm, thực hiện giao dịch bảo đảm (bên bảo đảm chuyển giao tài sản, giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản cho bên nhận bảo đảm; bên nhận bảo đảm thực hiện quyền quản lý, giám sát, kiểm tra tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ trong suốt thời gian hiệu lực của giao dịch bảo đảm) và cuối cùng là xử lý tài sản bảo đảm
Qua các quy định tại Nghị định số 163, Nghị định số 83 có thể thấy, đối với bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ thì thủ tục công chứng và đăng
ký giao dịch bảo đảm không phải là thủ tục bắt buộc Hiệu lực của bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ không phụ thuộc vào việc giao dịch bảo đảm này
có được công chứng hay không Thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ cũng không thuộc diện pháp luật "yêu cầu" phải thực hiện Các thủ tục này được lựa chọn thực hiện theo thỏa thuận của các bên trong giao dịch nếu các bên thấy cần thiết
2.1.2.3 Quy định của pháp luật về hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ
Khi thiết lập biện pháp bảo đảm tiền vay bằng quyền đòi nợ, các bên chủ thể phải xác định rõ loại biện pháp bảo đảm được áp dụng là cầm cố, thế chấp hay ký quỹ và tương ứng là loại hợp đồng cần ký kết để thiết lập biện pháp bảo đảm đó
Trang 3832
Theo BLDS năm 2005 thì biện pháp cầm cố hay thế chấp khác nhau ở việc bên bảo đảm có thực hiện chuyển giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm hay không, theo đó cầm cố là việc chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm
cố, còn thế chấp thì không có việc chuyển giao tài sản cho Bên nhận thế chấp
Tuy nhiên, đối với một số tài sản cụ thể thì pháp luật hiện hành lại quy định rõ là chỉ có thế chấp hoặc cầm cố chứ không hoàn toàn dựa theo yếu tố chuyển giao hay không Ví dụ, một số loại tài sản chỉ thế chấp như quyền sử dụng đất (Luật Đất đai năm 2003), nhà ở (Luật Nhà ở năm 2005), tàu cá (Luật Thủy sản năm 2003), tàu biển (Bộ luật Hàng hải năm 2005) Nghị định số 163 cũng đã quy định quyền đòi nợ là tài sản được dùng để thế chấp
Như vậy, theo như các văn bản pháp luật vừa liệt kê trên đây, pháp luật hiện hành đã mặc nhiên xác định quyền đòi nợ chỉ sử dụng để thế chấp
mà không sử dụng để cầm cố Vì vậy, loại hợp đồng được pháp luật xác định trong trường hợp nhận quyền đòi nợ làm tài sản bảo đảm chính là hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ Và trên thực tế, các TCTD cũng chỉ nhận quyền đòi nợ làm tài sản bảo đảm theo biện pháp thế chấp quyền đòi nợ thông qua việc ký xác lập hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ
Pháp luật quy định, hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính, hợp đồng thế chấp không cần có công chứng, việc công chứng có thể thực hiện khi các bên có thỏa thuận
Theo quy định của pháp luật [24, Điều 342], các bên chủ thể của hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ tại TCTD bao gồm Bên thế chấp (bên sở hữu quyền đòi nợ) và Bên nhận thế chấp (TCTD) Bên thế chấp là bên vay hoặc là bên thứ ba (thường có quan hệ thân thiết với bên vay và được TCTD chấp nhận) dùng quyền đòi nợ thuộc sở hữu của mình thế chấp tại TCTD để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ tiền vay của bên vay
Trang 3933
Các bên chủ thể hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ có các quyền, nghĩa
vụ theo thỏa thuận và theo quy định của BLDS năm 2005 (từ Điều 348 đến Điều 353), Điều 22 Nghị định số 163
2.1.2.4 Quy định của pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ
Xử lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ phải phù hợp với quy định chung của pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm Đối với xử lý tài sản bảo đảm nói chung, BLDS năm 2005 và Nghị định số 163 đều quy định rất cụ thể về nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm Điều 336, 338, 355 BLDS năm
2005 và Điều 59, 61, 66 Nghị định số 163, phương thức xử lý tài sản bảo đảm, thời hạn xử lý tài sản bảo đảm và các nội dung khác liên quan đến xử
lý tài sản bảo đảm
Việc xử lý tài sản bảo đảm theo nguyên tắc, trước tiên thực hiện theo thỏa thuận của các bên, có thể là thỏa thuận tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm hoặc thỏa thuận tại bất kỳ thời điểm nào khác trong quá trình thực hiện giao dịch bảo đảm Trường hợp không có thỏa thuận thì xử lý theo quy định của pháp luật như khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên
có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hoặc bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận,
Bên cạnh các quy định chung, việc xử lý tài sản bảo đảm là quyền đòi
nợ còn được thực hiện theo quy định riêng như sau:
Trước hết, về thủ tục thông báo xử lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ Trước thời điểm xử lý quyền đòi nợ ít nhất bảy (07) ngày làm việc, Bên nhận thế chấp gửi cho bên có nghĩa vụ trả nợ văn bản thông báo xử lý quyền đòi nợ
và một (01) bản sao có xác nhận của tổ chức hành nghề công chứng đối với hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ đã được công chứng hoặc bản chính hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ có chữ ký, con dấu (nếu có) của các bên hoặc
Trang 4034
Giấy chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền đòi nợ do cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm cấp Người xử lý quyền đòi nợ có quyền xử lý ngay, đồng thời phải thông báo cho các bên nhận bảo đảm khác về việc xử lý quyền đòi nợ đó (trong khi đối với các loại tài sản bảo đảm khác thì trước khi
xử lý tài sản, người xử lý phải thông báo bằng văn bản về việc xử lý cho các bên cùng nhận bảo đảm khác hoặc đăng ký văn bản thông báo về xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm)
Tiếp đến, về cách thức xử lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ: Trong thời hạn bảy (07) ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản thông báo xử
lý quyền đòi nợ, bên có nghĩa vụ trả nợ có trách nhiệm thanh toán khoản nợ cho Bên nhận thế chấp theo hướng dẫn như sau:
- Nếu thời điểm thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng có căn cứ phát sinh quyền đòi nợ của Bên thế chấp xảy ra trước thời điểm xử lý quyền đòi nợ theo hợp đồng thế chấp thì bên có nghĩa vụ trả nợ có trách nhiệm chuyển khoản tiền trả nợ vào tài khoản do bên có nghĩa vụ trả nợ mở tại Ngân hàng theo chỉ định của Bên nhận thế chấp
Bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu Ngân hàng phong tỏa tài khoản này và chỉ được quyền yêu cầu Ngân hàng giải tỏa để xử lý khi đến thời điểm
xử lý tài sản thế chấp Kể từ thời điểm nộp tiền vào tài khoản, bên có nghĩa vụ trả nợ không được quyền yêu cầu Ngân hàng giải tỏa và thực hiện giao dịch đối với số tiền này
- Nếu thời điểm thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng có căn cứ phát sinh quyền đòi nợ của Bên thế chấp xảy ra sau thời điểm xử lý quyền đòi
nợ theo hợp đồng thế chấp thì Bên nhận thế chấp được quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ trả nợ phải thanh toán khoản nợ đó cho mình tại thời điểm nghĩa vụ trả nợ đến hạn
Bên nhận thế chấp không được yêu cầu Bên thế chấp thanh toán khi nghĩa vụ trả nợ chưa đến hạn, trừ trường hợp có thỏa thuận khác