Trong bối cảnh phát triển thương mại như hiện nay và việc Việt Nam có các quan hệ thương mại với thế giới thì việc nghiên cứu về luật nghĩa vụ là hết sức cần thiết, nhằm mục đích hiểu sâ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học : TS Bùi Đăng Hiếu
Hà Nội - 2011
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trần Đình Chi
Trang 4MỤC LỤC Lêi cam ®oan
Mục lục
Danh mục cỏc kớ hiệu, cỏc chữ viết tắt
MỞ ĐẦU
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ CÁC QUY ĐỊNH CHUNG
VỀ CHUYỂN GIAO QUYỀN YEU CẦU TRONG QUAN HỆ NGHĨA
VỤ DÂN SỰ 5
1.1 Nghĩa vụ dan sự 5
1.1.1 Khỏi niệm nghĩa vụ dõn sự 5
1.1.2 Cỏc yếu tố của quan hệ phỏp luật về nghĩa vụ dõn sự 10
1.1.3 Đặc điểm của nghĩa vụ dân sự 13
1.2 Quyền yờu cầu 15
1.2.1 Khỏi niệm quyền yờu cầu 15
1.2.2 Đặc điểm của quyền yêu cầu 17
1.2.3 Phõn loại quyền yờu cầu 18
1.3 Bản chất phỏp lý và cỏc quy định của BLDS 2005 về chuyển giao quyền yêu cầu trong quan hệ nghĩa vụ dân sự 19
1.3.1 Khỏi niệm chuyển giao quyền yờu cầu trong quan hệ nghĩa vụ dõn sự 19
1.3.2 Đặc điểm của chuyển giao quyền yêu cầu trong quan hệ nghĩa vụ dân sự 22 1.3.3 Phõn loại chuyển giao quyền yờu cầu trong quan hệ nghĩa vụ dõn sự 26
1.3.4 Phân biệt chuyển giao quyền yêu cầu với các giao dịch dân sự khác 27 1.3.5 Các quy định của BLDS 2005 về chuyển giao quyền yêu cầu trong quan hệ nghĩa vụ dân sự 32
Trang
Trang 5Chương 2 CHUYỂN GIAO QUYỀN YÊU CẦU TRONG MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ 40 2.1 Chuyển giao quyền yêu cầu trong trường hợp thực hiện nghĩa vụ dân
sự liên đới 40 2.2 Chuyển giao quyền yêu cầu trong hợp đồng bảo lãnh 42 2.3 Chuyển giao quyền yêu cầu trong hợp đồng bảo hiểm tài sản 47 2.4 Chuyển giao quyền yêu cầu đối với phần vốn góp trong công ty theo Luật doanh nghiệp 2005 54 Chương 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 61 3.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật 61 3.2 Phương hướng và các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về chuyển giao quyền yêu cầu 83 KẾT LUẬN 89 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 6Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
TAND : Tòa án nhân dân
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Luật dân sự là một ngành luật quan trọng của bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới từ cổ đại cho đến hiện đại, vì nó điều chỉnh các quan hệ dân sự
đa dạng thường xuyên phát sinh trong đời sống hàng ngày của chúng ta Nó không thể thiếu được dưới bất kỳ một chế độ nào
Luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng
xử của mỗi cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động (gọi chung là quan hệ dân sự)
Luật dân sự có nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, bảo đảm sự bình đẳng và an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, góp phần tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội
Luật nghĩa vụ là một tiểu phân ngành quan trọng của luật dân sự, luật nghĩa vụ cũng có thể coi là nền tảng của luật thương mại
Trong bối cảnh phát triển thương mại như hiện nay và việc Việt Nam
có các quan hệ thương mại với thế giới thì việc nghiên cứu về luật nghĩa vụ
là hết sức cần thiết, nhằm mục đích hiểu sâu hơn về luật nghĩa vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thực tiễn cũng như đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện luật nghĩa vụ.Tuy nhiên đây là vấn đề lớn và phức tạp cần có nhiều công trình nghiên cứu.Trong khuôn khổ luận văn này tôi chọn đề tài
“Chuyển giao quyền yêu cầu trong quan hệ nghĩa vụ dân sự ” làm luận văn thạc sĩ luật học của mình Đây là lát cắt mỏng trong khoa học luật dân sự Nhưng qua đó chúng ta có thể hiểu sâu hơn về nghĩa vụ dân sự, thấy được nghĩa vụ dân sự là một quan hệ pháp luật và bản chất là quyền yêu cầu của trái chủ đối với thụ trái, quyền yêu cầu là một loại quyền tài sản- một loại tài
Trang 8sản có thể chuyển giao.Tuy nhiên giao dịch chuyển giao quyền yêu cầu có đặc điểm gì giống và khác biệt với các giao dịch dân sự khác? Trường hợp nào thì không được chuyển giao quyền yêu cầu, thực tiễn áp dụng có gì vướng mắc không? và phương hướng hoàn thiện pháp luật về chuyển giao quyền yêu cầu như thế nào? Đó là những vấn đề đặt ra mà luận văn cần làm sáng tỏ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghĩa vụ dân sự là một lĩnh vực rất rộng, đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết có liên quan như:
- Nghĩa vụ dân sự và quan niệm nghĩa vụ dân sự ở Việt Nam của tiến
sĩ Ngô Huy Cương đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 5 tháng 4/2008
- Nguồn gốc của nghĩa vụ và phân loại nghĩa vụ của tiến sĩ Ngô Huy Cương đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 8 tháng 6/2008
- Bình luận khoa học về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong luật dân sự Việt Nam của tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện (1999)-NXB trẻ thành phố Hồ Chí Minh
- Bình luận các hợp đồng thông dụng trong luật dân sự Việt Nam của tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện (2000)-NXB trẻ thành phố Hồ Chí Minh
- Việt Nam dân luật lược khảo, quyển II: Nghĩa vụ và khế ước lần thứ nhất, Bộ quốc gia giáo dục xuất bản, Sài gòn (1963) của Vũ Văn Mẫu
- Bình luận khoa học về tài sản trong luật dân sự Việt Nam của tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện (2001) –NXB trẻ thành phố Hồ Chí Minh
- Quyền tài sản- Một loại tài sản theo pháp luật dân sự Việt Nam, luận văn thạc sĩ luật học của Sỹ Hồng Nam, bảo vệ thành công tại khoa luật- Đại học quốc gia Hà Nội năm 2007
- Chuyển giao quyền yêu cầu trong bảo hiểm tài sản của Thạc sĩ Nguyễn Thị Thủy đăng trên Tạp chí khoa học pháp lý số tháng 11/2008
Trang 9Do mục đích và cách tiếp cận khác nhau nên các công trình nghiên cứu chỉ đề cập đến những vấn đề chung về nghĩa vụ dân sự, về chuyển giao quyền yêu cầu với tư cách là chuyển giao quyền tài sản
Cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào một cách chuyên sâu về chuyển giao quyền yêu cầu trong quan hệ nghĩa vụ dân sự Chính vì vậy việc nghiên cứu khái niệm, bản chất pháp lý của chuyển giao quyền yêu cầu, những hạn chế của luật thực định, thực tiễn áp dụng pháp luật đồng thời đưa ra phương hướng hoàn thiện pháp luật là việc làm cần thiết Với mong muốn hoàn thiện các quy định có liên quan đến chuyển giao quyền yêu cầu trong quan hệ nghĩa vụ dân sự đã thúc đẩy tôi chọn đề tài này làm luận văn
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về chuyển giao quyền yêu cầu trong quan hệ nghĩa vụ dân sự, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về chuyển giao quyền yêu cầu, trên cơ sơ đó đưa ra một số phương hướng nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này
Từ những mục đích trên, luận văn đưa ra một số nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu cụ thể như sau:
-Đưa ra khái niệm và phân tích đặc trưng của Nghĩa vụ dân sự, quyền yều cầu và chuyển giao quyền yêu cầu trong quan hệ nghĩa vụ dân sự
-Phân biệt giao dịch chuyển giao quyền yêu cầu với các giao dịch dân
Trang 10-Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua một số tranh chấp
Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật từ đó phát hiện ra những điểm chưa phù hợp và phương hướng khắc phục, hoàn thiện
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu và mối liên hệ với các vấn đề kinh tế xã hội Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: So sánh, lịch sử, logic, hệ thống, phân tích, tổng hợp
6 Những điểm mới của luận văn
Trong quá trình nghiên cứu các học thuyết pháp lý, pháp luật thực định, thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp về chuyển giao quyền yêu cầu trong quan hệ nghĩa vụ dân sự, đồng thời so sánh với pháp luật của các nước khác trên thế giới, luận văn có một số điểm mới sau:
-Luận văn phân tích một cách khoa học khái niệm về chuyển giao quyền yêu cầu trong quan hệ nghĩa vụ dân sự
Trang 11-Luận văn so sánh những quy định về chuyển giao quyền yêu cầu trong pháp luật Việt Nam với pháp luật một số nước trên thế giới
-Luận văn phân tích, đánh giá các quy định hiện hành về chuyển giao quyền yêu cầu
-Luận văn nhận xét về việc giải quyết một số tranh chấp cụ thể về chuyển giao quyền yêu cầu
-Luận văn đưa ra phương hướng hoàn thiện pháp luật và một số kiến nghị cụ thể
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CÁC QUY ĐỊNH CHUNG
VỀ CHUYỂN GIAO QUYỀN YÊU CẦU TRONG QUAN HỆ
NGHĨA VỤ DÂN SỰ
1.1 Nghĩa vụ dân sự
1.1.1 Khái niệm nghĩa vụ dân sự
Nghĩa vụ hiểu theo nghĩa hẹp hay theo cách hiểu thông thường là những
gì mà một người phải làm hoặc không được làm vì lợi ích của người khác
Đó cũng chính là hành vi của một bên phải thực hiện theo yêu cầu của bên kia Như vậy theo cách hiểu này, nghĩa vụ là mối liên hệ giữa hai hay nhiều người với nhau, trong đó một bên phải thực hiện những hành vi nhất định theo yêu cầu của bên kia
Trong đời sống hàng ngày thuật ngữ nghĩa vụ là sự xử sự mà một người phải thực hiện vì lợi ích của một hoặc nhiều người khác nhưng sự thực hiện đó không được bảo đảm bằng pháp luật của nhà nước Pháp luật không điều chỉnh những hành vi này, họ thực hiện nghĩa vụ theo lương tâm, thói quen trong gia đình hay những nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo và để làm tròn bổn phận làm người của họ, ở phương diện này nghĩa vụ được điều chỉnh bởi các quy phạm đạo đức
Trang 12Ví dụ: Nghĩa vụ thờ cúng tổ tiên không được pháp luật bảo đảm thực hiện Pháp luật nước ta không cấm cũng không buộc một người phải thờ cúng
tổ tiên, việc thờ cúng này có thể do thói quen trong gia đình thể hiện sự tôn trọng đối với những người đã khuất, nếu người đó không thờ cúng tổ tiên có thể bị sự chê trách của gia đình dòng họ
Tuy nhiên chúng ta cần lưu ý ở nhiều nước trên thế giới nhất là các nước theo đạo Thiên chúa giáo và tin lành như Anh, Pháp, Đức, Đan mạch, Phần lan họ chỉ thờ phụng Chúa Jesus, họ không có tục lệ thờ cúng tổ tiên
và người chết mà họ có những cách thể hiện khác đối với tổ tiên và những người đã khuất Như vậy trong cuộc sống hàng ngày, nghĩa vụ chịu ảnh hưởng rất nhiều của phong tục, tập quán, văn hóa và tôn giáo
Một người làm từ thiện đóng góp tiền để nuôi những đứa trẻ mồ côi hay ủng hộ những người bị thiên tai như bão lụt, hạn hán, núi lửa, động đất thì khoản tiền đóng góp hay thời gian đóng góp phụ thuộc vào lòng hảo tâm và khả năng của họ Pháp luật cũng không điều chỉnh loại nghĩa vụ này Những nghĩa vụ như trên đã phân tích do các quy phạm đạo đức điều chỉnh
và còn được gọi là nghĩa vụ đạo đức
Các luật gia La mã còn đưa ra một loại nghĩa vụ nữa là nghĩa vụ tự nhiên cũng là loại nghĩa vụ không có hiệu lực pháp lý, mặc dù không có định nghĩa chính xác về loại nghĩa vụ này nhưng để phân biệt người ta chia nghĩa
vụ tự nhiên thành hai loại:
Loại thứ nhất là các nghĩa vụ ban đầu do pháp luật điều chỉnh (có hiệu lực pháp lý) sau đó trở thành nghĩa vụ tự nhiên, ví dụ: nghĩa vụ chi trả một khoản nợ đã hết thời hiệu, loại nghĩa vụ này ngày càng nhiều ở nước ta khi thời hiệu khởi kiện được rút ngắn Điều 427 BLDS 2005 quy định: Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ
Trang 13thể khác bị xâm phạm, đây là điểm mới của Bộ luật dân sự 2005 so với Bộ luật dân sự 1995
Loại thứ hai là những nghĩa vụ đạo đức đúng đắn đặc biệt rõ ràng và thúc buộc “ Chẳng hạn nghĩa vụ trợ giúp những người nghèo khó trong gia đình, bù đắp những thiệt hại gây ra mà không có lỗi về mặt pháp lý hoặc thực hiện những dịch vụ đã cam kết mà thiếu nguyên nhân hay khoản đối ứng có giá trị” [5]
Ví dụ : Một người cam kết ngừng bán hàng trong 1 ngày để cho người hàng xóm liền kề sử dụng mặt bằng vào mục đích dựng phông bạt tổ chức đám cưới cho con
Nghĩa vụ hiểu theo nghĩa rộng là một quan hệ theo đó một bên có quyền yêu cầu, còn bên kia phải thực hiện hành vi nhất định theo yêu cầu đó,
có nghĩa là thể hiện mối quan hệ giữa trái chủ và người thụ trái xác định Vì vậy khi nói hợp đồng làm căn cứ phát sinh ra nghĩa vụ thì có nghĩa là hợp đồng làm căn cứ phát sinh ra quan hệ giữa trái chủ và người thụ trái xác định Những quan hệ nghĩa vụ dân sự mà được pháp luật dân sự điều chỉnh thì còn được gọi là nghĩa vụ pháp lý hay nghĩa vụ dân sự Đây là loại quan hệ nghĩa
vụ được nghiên cứu trong khuôn khổ luận văn này
Trên thế giới có một số định nghĩa về nghĩa vụ như sau: “ Nghĩa vụ là một quan hệ pháp luật được xác lập giữa hai chủ thể theo đó một chủ thể (chủ thể quyền- người có quyền) có quyền yêu cầu chủ thể kia (chủ thể nghĩa vụ –người có nghĩa vụ) phải hoàn thành một yêu cầu nhất định’’ [3] “ Ở đây các đặc điểm chính của quan hệ nghĩa vụ được đề cập tới và đối tượng của nghĩa
vụ được trừu tượng hóa để làm rõ bản chất là quyền yêu cầu” [4]
Cuốn từ điển của Pháp mang tên Petit Dictionaire de Droit định nghĩa:
“ Nghĩa vụ là một mối quan hệ pháp lý theo đó một người được gọi là trái chủ, có thể sử dụng phương cách cưỡng chế của quyền lực công theo sự lựa chọn của anh ta để buộc người khác, người thụ trái xác định, chuyển giao tài
Trang 14sản, làm hoặc không làm việc gì đó’’[4] Điều 421 Bộ luật dân sự Cộng hòa liên bang Đức quy định: “ Hiệu lực của nghĩa vụ là việc trái chủ có quyền yêu cầu sự thực hiện từ người thụ trái, sự thực hiện này bao gồm việc không hành động”[4]
Điều 194 Bộ luật dân sự Thái Lan cũng có quy định như sau: “ Đối với một nghĩa vụ, trái chủ có quyền yêu cầu sự thực hiện từ người thụ trái Sự thực hiện bao gồm việc không hành động’’[4]
Ở Việt Nam có một số quan niệm về nghĩa vụ như sau:
Trong cuốn Việt Nam dân luật lược khảo, quyển II Nghĩa vụ và khế ước Vũ Văn Mẫu định nghĩa: “ Nghĩa vụ là mối liên hệ pháp lý giữa hai người nhờ
đó một người là trái chủ (hay chủ nợ) có quyền đòi người kia là người thụ trái (hay con nợ) phải thi hành một cung khoản có thể trị giá bằng tiền’’ [11] Giáo trình luật dân sự Việt Nam của Học Viện Tư Pháp năm 2007 đưa ra định nghĩa:
Nghĩa vụ dân sự được hiểu là quan hệ pháp luật về tài sản và nhân thân của các chủ thể, theo đó chủ thể mang quyền có quyền yêu cầu chủ thể mang nghĩa vụ chuyển giao một tài sản, thực hiện một công việc hoặc không thực hiện một công việc vì lợi ích của mình hay lợi ích của người thứ ba, phải bồi thường một thiệt hại về tài sản hoặc nhân thân do có hành vi gây thiệt hại, vi phạm lợi ích hợp pháp của bên có quyền Chủ thể mang nghĩa vụ có nghĩa vụ thực hiện yêu cầu của chủ thể mang quyền Các quyền dân sự và nghĩa
vụ dân sự của các bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận của các bên xác lập quan
hệ nghĩa vụ [9]
Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, tập 2 của Trường Đại học luật Hà Nội năm 2008 có định nghĩa:
Trang 15Nghĩa vụ là một quan hệ pháp luật dân sự, trong đó một bên chủ thể là một hoặc nhiều người phải làm hoặc không được làm một hoặc một số công việc nhất định vì lợi ích của chủ thể bên kia Bên phải làm hoặc không được làm những công việc được gọi là người có nghĩa vụ (thụ trái) Bên được hưởng lợi ích có quyền yêu cầu bên kia thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nào đó vì quyền lợi của mình được gọi là người có quyền (trái chủ) [22]
Điều 280 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:
Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)[15]
Về thuật ngữ “nghĩa vụ’’ có hai nghĩa Một nghĩa chỉ hành vi phải thực hiện của một bên theo yêu cầu của bên kia (nghĩa hẹp) Một nghĩa khác chỉ một quan hệ mà theo đó bên có quyền yêu cầu, còn bên kia phải thực hiện hành vi nhất định theo yêu cầu đó Có nghĩa là chỉ mối quan hệ giữa trái chủ
và thụ trái xác định (nghĩa rộng)
Định nghĩa về nghĩa vụ như điều 280 BLDS 2005 nói trên chỉ xuất phát từ hành vi của bên phải thực hiện một đối tượng vì lợi ích của người khác Định nghĩa này chưa thể hiện được rõ nghĩa vụ dân sự là một quan hệ pháp luật mà trong đó có hai chủ thể đối lập nhau về mặt lợi ích, chưa nêu lên vai trò chủ động của bên có quyền yêu cầu Do vậy cần đưa ra một định nghĩa chính xác hơn về nghĩa vụ dân sự
Như vậy từ những phân tích và những quan niệm về nghĩa vụ như trên chúng ta có thể đưa ra được khái niệm về nghĩa vụ dân sự như sau: Nghĩa vụ
Trang 16dân sự là một quan hệ pháp luật dân sự về tài sản trong đó bên có quyền (trái chủ) có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ (thụ trái) phải thực hiện yêu cầu đó
Sự thực hiện bao gồm cả việc không hành động
1.1.2 Các yếu tố của quan hệ pháp luật về nghĩa vụ dân sự
1.1.2.1 Chủ thể
Chủ thể của một quan hệ pháp luật nói chung là những người tham gia quan hệ pháp luật đó Nghĩa vụ là một quan hệ pháp luật dân sự Do vậy, chủ thể của những quan hệ này bao gồm: Cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình, Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Các chủ thể này có những quyền và nghĩa vụ dân sự phát sinh từ những quan hệ nghĩa vụ mà họ tham gia
Các chủ thể khi tham gia quan hệ nghĩa vụ sẽ thiết lập mối liên hệ pháp
lý về quyền và nghĩa vụ giữa hai bên Trong đó một bên được gọi là người có quyền, một bên được gọi là người có nghĩa vụ
Ví dụ: Nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng vay tài sản, khi đến hạn trả, bên vay phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bên cho vay tài sản, nếu là tiền thì phải trả
đủ tiền, nếu là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Bên cho vay là bên có quyền yêu cầu đối với bên vay hoàn trả tài sản
Sự đa dạng của các quan hệ trong giao lưu dân sự làm cho các quan hệ
về nghĩa vụ phát sinh trong đời sống thực tế cũng hết sức đa dạng và phong phú Có những quan hệ dân sự mà trong đó một bên chỉ có quyền yêu cầu mà không phải gánh vác một nghĩa vụ nào, còn một bên có nghĩa vụ phải thực hiện cho bên kia một công việc nhất định mà không có quyền yêu cầu như các quan hệ dân sự phát sinh từ hợp đồng đơn vụ
Phần lớn các quan hệ dân sự, mỗi bên chủ thể đều có quyền yêu cầu
Trang 17ngược lại họ cũng phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định nhằm đáp ứng lợi ích cho phía bên kia như các quan hệ dân sự phát sinh từ hợp đồng song vụ
Ví dụ: Nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng mua bán tài sản, bên bán có quyền yêu cầu bên mua trả tiền, bên mua có nghĩa vụ trả tiền cho bên bán (quan hệ nghĩa vụ trả tiền), ngược lại bên mua có quyền yêu cầu bên bán chuyển giao quyền sở hữu vật, bên bán có nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu vật cho bên mua (quan hệ nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu vật)
Vậy chủ thể của nghĩa vụ là những người được phép tham gia vào một quan hệ nghĩa vụ và họ có các quyền, nghĩa vụ do pháp luật điều chỉnh đồng thời họ phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ
đó
1.1.2.2 Nội dung của nghĩa vụ
Khi tham gia các quan hệ nghĩa vụ dân sự, các bên luôn hướng tới những lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần nhất định Lợi ích đó chỉ đạt được khi các bên thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình để thỏa mãn yêu cầu của bên kia Muốn thực hiện tốt nghĩa vụ của các bên thì phải xác định rõ các quyền và các nghĩa vụ của các bên tham gia các quan hệ nghĩa vụ đó Trong một quan hệ nghĩa vụ cụ thể thì các quyền dân sự và các nghĩa vụ dân
sự là yếu tố cấu thành nội dung của quan hệ nghĩa vụ dân sự đó
Nội dung của quan hệ pháp luật về nghĩa vụ dân sự là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ Các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể phụ thuộc vào các quy định của pháp luật và các điều kiện do các bên thỏa thuận để thực hiện quyền và nghĩa vụ
Quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ được thể hiện dưới dạng sau đây:
Trang 18- Quyền yêu cầu: Bên có quyền được phép yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện một số hành vi nhất định hoặc yêu cầu bên có nghĩa vụ không được thực hiện một số hành vi nhất định vì lợi ích của mình Trong trường hợp đã yêu cầu trực tiếp nhưng bên có nghĩa vụ vẫn không thực hiện nghĩa
vụ đó thì bên có quyền có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ đó
- Nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu: Đối lập với bên có quyền yêu cầu, bên có nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện những hành vi nhất định theo yêu cầu của bên có quyền hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền vì lợi ích của bên có quyền
1.1.2.3 Khách thể của quan hệ nghĩa vụ
Khách thể của quan hệ nghĩa vụ là cái mà các chủ thể luôn hướng tới
và nhằm đạt được Nghĩa vụ là một quan hệ pháp luật dân sự, cho nên khách thể của nó là cách xử sự của các chủ thể nhằm tác động lẫn nhau để đạt được mục đích của mình Quan hệ nghĩa vụ có đặc trưng cơ bản là quyền và nghĩa
vụ của các bên đối lập nhau một cách tương ứng Vì vậy, trong các quan hệ nghĩa vụ, chủ thể có quyền luôn hướng tới hành vi thực hiện nghĩa vụ của chủ thể bên kia Nếu các bên đều thực hiện tốt nghĩa vụ của mình thì lợi ích của các chủ thể đều được thỏa mãn
Hành vi thực hiện nghĩa vụ là một phương tiện mà thông qua đó, quyền lợi ích của các chủ thể được đáp ứng Vì vậy trong các quan hệ nghĩa
vụ, hành vi là cái mà các chủ thể đều hướng tới, là khách thể của mọi quan hệ nghĩa vụ Hành vi của chủ thể bao giờ cũng tác động vào một tài sản hoặc hành vi thực hiện một công việc nào đó (hoặc không thực hiện một công việc nào đó).Vật được gắn liền với hành vi trong quan hệ nghĩa vụ được gọi là đối tượng của nghĩa vụ Có những quan hệ nghĩa vụ mà trong đó hành vi của chủ thể không gắn liền với một vật nhưng hành vi đó vẫn mang đến cho chủ thể
Trang 19bên kia một lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần nhất định như hành vi thực hiện dịch vụ tư vấn pháp lý và các loại dịch vụ khác Lúc này đối tượng của nghĩa vụ không được thể hiện rõ nét mà đã đồng nhất với hành vi thực hiện nghĩa vụ, có nghĩa là đối tượng của nghĩa vụ cũng chính là khách thể của nghĩa vụ “ Đối tượng’’ hay “ Khách thể’’ đều được tiếng Anh gọi là
“Object’’[4] Trong cuốn từ điển Deluxe Black’s Law Dictionary định nghĩa
“ Object’’ là mục đích được hướng tới tức cũng là khách thể [4] Từ điển thuật ngữ pháp lý Việt- Pháp giải nghĩa thuật ngữ “ Object’’ như sau: “ Đối tượng của một nghĩa vụ là chủ đích của nghĩa vụ đó’’ nghĩa là “ Đối tượng’’
đã đồng nhất với “Khách thể’’[4]
Hành vi (xử sự của chủ thể) có thể được thể hiện ở dạng hành động nhưng cũng có thể được thực hiện ở dạng không hành động Nếu hành vi đó được thể hiện ở dạng hành động và kết quả được tạo thành ra từ hành vi đó là một vật cụ thể thì hành này được gọi là hành vi được vật chất hóa, nếu kết quả đó không phải là một vật cụ thể thì hành vi này là hành vi không được vật chất hóa
1.1.3 Đặc điểm của nghĩa vụ dân sự
Thứ nhất, nghĩa vụ dân sự là một quan hệ pháp luật dân sự, được các quy phạm pháp luật dân sự điều chỉnh
Đặc điểm này nói lên tính cưỡng chế thi hành của pháp luật khi điều chỉnh quan hệ nghĩa vụ và để phân biệt nó với nghĩa vụ tự nhiên và nghĩa vụ đạo đức
Thứ hai, nghĩa vụ dân sự là một quan hệ đối nhân
Đặc điểm này nói lên trong một quan hệ nghĩa vụ thì bên có quyền yêu cầu chỉ có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ chứ không được quyền yêu cầu thi hành trên bất cứ một tài sản cụ thể nào Quan hệ đối nhân
là một quan hệ có tính chất tương đối trong đó một bên có quyền áp đặt một
Trang 20nghĩa vụ đối với một người xác định, khác với quan hệ đối vật là một quan hệ
có tính chất tuyệt đối trong đó một bên có quyền áp đặt một nghĩa vụ đối với mọi người nói chung; có nghĩa là hoặc đối với tất cả thế giới hoặc đối với tất
cả thế giới trừ một số người xác định Đặc điểm này nói lên sự khác biệt của quan hệ nghĩa vụ dân sự so với quan hệ sở hữu một vật cụ thể
Thứ ba, nghĩa vụ dân sự là một quan hệ tài sản
Đặc điểm này xuất phát từ việc nghĩa vụ có thể trị giá bằng tiền, khi thực hiện nghĩa vụ, thì người có nghĩa vụ phải bỏ thời gian, chi phí, công sức
ra để thực hiện trong khi đó bên có quyền được hưởng lợi ích từ việc thực hiện nghĩa vụ đó Ví dụ: Nghĩa vụ dân sự phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà
ở Đây là một hợp đồng song vụ Bên mua có nghĩa vụ trả tiền cho bên bán
và bên bán có nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu nhà cho bên mua Trong quan hệ nghĩa vụ dân sự trả tiền, bên mua đã phải chi phí tài sản của mình và bên bán được hưởng lợi ích từ việc nhận tiền Trong quan hệ nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu nhà, bên bán đã phải chuyển giao tài sản của mình cho bên mua, bên mua được hưởng lợi ích từ việc sở hữu nhà được chuyển giao Có một số quan niệm cho rằng Nghĩa vụ dân sự là quan hệ pháp luật về tài sản
và nhân thân như Giáo trình luật dân sự Việt Nam của Học Viện Tư Pháp năm 2007 đã định nghĩa: “ Nghĩa vụ dân sự được hiểu là quan hệ pháp luật về tài sản và nhân thân của các chủ thể…”[9].Nhưng giáo trình này không đưa
ra giải thích tại sao nghĩa vụ dân sự là quan hệ nhân thân
Trong trường hợp bồi thường thiệt hại về tài sản do danh dự, nhân phẩm uy tín bị xâm phạm Chúng ta thấy việc bồi thường thiệt hại ở trên là một nghĩa vụ phát sinh ngoài ý chí của bên có nghĩa vụ do hành vi trái pháp luật Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu cùng với chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại và thu nhập thực tế bị
Trang 21mất hoặc bị giảm sút Như vậy nghĩa vụ dân sự trong trường hợp này là nghĩa
vụ tài sản.Việc xâm phạm quyền nhân thân của người khác chỉ là căn cứ phát sinh ra quan hệ nghĩa vụ dân sự Cũng cần lưu ý người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác còn phải chịu các chế tài khác như phải chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi , cải chính công khai, nếu không thực hiện thì người bị vi phạm có quyền yêu cầu cơ quan tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai bằng các quyết định hành chính.Từ những phân tích trên cho thấy nghĩa vụ dân sự
là một quan hệ tài sản
1.2 Quyền yêu cầu
1.2.1 Khái niệm quyền yêu cầu
Quyền hiểu theo nghĩa thông thường được hiểu là điều mà xã hội cho được hưởng, được làm, được hỏi
Khi tham gia các giao dịch dân sự thì quyền dân sự được hiểu là cách xử sự được phép của người có quyền năng
Quyền dân sự của các chủ thể trong các quan hệ pháp luật dân sự cụ thể khác nhau thì có nội dung khác nhau, đó là những xử sự khác nhau phù hợp với nội dung của quan hệ đó Chủ thể quyền trong các quan hệ dân sự có thể thực hiện những hành vi khác nhau phù hợp với nội dung, mục đích của quyền năng đó như chủ sở hữu có quyền sử dụng, định đoạt những tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, người sở hữu cổ phần của công ty có quyền được hưởng cổ tức, có quyền chuyển nhượng cổ phần cho người khác theo quy định của pháp luật Người mua bảo hiểm có quyền yêu cầu cơ quan bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra
Thông qua hành vi của mình thỏa mãn quyền của mình hoặc quyền yêu cầu người khác( người có nghĩa vụ) thực hiện những hành vi nhất định Chủ
sở hữu cũng có thể thực hiện quyền của mình thông qua hành vi của người
Trang 22khác (trong trường hợp ủy quyền) Khi quyền dân sự bị vi phạm, chủ thể quyền có thể sử dụng các biện pháp bảo vệ mà pháp luật cho phép Ví dụ: Làm đơn khởi kiện đến tòa án kiện đòi tài sản trong trường hợp người khác xâm phạm đến quyền sở hữu của mình
Trong khoa học pháp lý tồn tại khái niệm quyền chủ quan và quyền khách quan Quyền khách quan là quyền dân sự được pháp luật quy định cho các chủ thể, là nội dung năng lực pháp luật của chủ thể (khả năng có thể có của chủ thể) Quyền chủ quan là quyền dân sự của chủ thể trong một quan hệ dân sự cụ thể đã được xác lập Quyền chủ quan phải phù hợp với quyền khách quan mà pháp luật đã quy định
Quyền dân sự chỉ phát sinh trong mối quan hệ giữa người này với người khác Quyền yêu cầu cũng chỉ phát sinh trong một quan hệ nghĩa vụ dân sự nhất định, quyền yêu cầu là yếu tố cấu thành nội dung của quan hệ nghĩa vụ dân sự, bên có quyền yêu cầu được phép yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện một số hành vi nhất định Người
có quyền yêu cầu chỉ có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ xác định thực hiện yêu cầu đó chứ không có quyền yêu cầu đối với bất kỳ một tài sản nào hay yêu cầu đối với bất kỳ ai khác Trong trường hợp đã yêu cầu trực tiếp nhưng bên có nghĩa vụ vẫn không thực hiện nghĩa vụ đó thì bên có quyền có quyền khởi kiện đến tòa án buộc bên có nghĩa vụ phải thực hiện Người có quyền yêu cầu khi yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ sẽ thỏa mãn một số lợi ích vật chất hoặc tinh thần nhất định Khi họ không muốn thụ hưởng những lợi ích này hoặc để đổi lấy một lợi ích khác thì có thể thỏa thuận chuyển giao quyền yêu cầu cho người khác
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về quyền yêu cầu như sau: Quyền yêu cầu là quyền của bên có quyền trong quan hệ nghĩa vụ dân sự
Trang 23xác định, có tính chất tài sản, có thể được chuyển giao và được pháp luật dân
sự điều chỉnh
1.2.2 Đặc điểm của quyền yêu cầu
Thứ nhất, quyền yêu cầu là một quyền pháp lý, nó được pháp luật công nhận và có tính cưỡng chế
Đặc điểm này cũng phân biệt quyền yêu cầu với quan hệ nghĩa vụ dân
sự vì quan hệ nghĩa vụ dân sự là một quan hệ pháp lý còn quyền yêu cầu là quyền pháp lý, là quyền năng của chủ thể, là yếu tố cấu thành nội dung của quan hệ pháp luật về nghĩa vụ
Thứ hai, quyền yêu cầu là quyền đối nhân, có tích chất tương đối Khác với quyền đối vật có tính chất tuyệt đối Người có quyền yêu cầu chỉ có quyền yêu cầu một người nhất định thực hiện yêu cầu trong một quan
hệ nghĩa vụ xác định Còn quyền đối vật là một quyền áp một nghĩa vụ đối với mọi người nói chung Ví dụ : A có quyền sở hữu một thửa đất thì A có quyền loại trừ tất cả mọi người từ thửa đất đó, mọi người đều phải có nghĩa
vụ tôn trọng quyền sở hữu của A B có quyền yêu cầu C thực hiện một công việc thì B chỉ có quyền đối với C và B không có quyền gì đối với những người khác Đặc điểm này của quyền yêu cầu cũng cho phép phân biệt quyền yêu cầu với quyền nhân thân, vì quyền nhân thân là một quyền tuyệt đối, tức
là tất cả mọi người đều có nghĩa vụ tôn trọng bảo đảm, không được xâm phạm quyền nhân thân của một người nhất định
Thứ ba, quyền yêu cầu là một quyền tài sản
Đặc điểm này của quyền yêu cầu xuất phát từ việc quyền yêu cầu mang đến cho người thụ hưởng một lợi ích nhất định, từ đó quyền yêu cầu có thể trị giá được thành tiền và có thể được chuyển giao Ví dụ: Khi bên có quyền yêu cầu giao vật thì bên có nghĩa vụ phải thực hiện giao đúng vật đó, nếu vật không còn hoặc bị hư hỏng thì phải thanh toán giá trị của vật Trong
Trang 24trường hợp quyền yêu cầu là yêu cầu thực hiện một công việc mà bên có nghĩa vụ không thực hiện thì bên có quyền có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện công việc hoặc giao cho người khác thực hiện hoặc tự mình thực hiện công việc đó và yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán chi phí hợp lý
và bồi thường thiệt hại.Như vậy quyền yêu cầu là một quyền tài sản cho nên
nó cũng là một loại tài sản có giá trị và có thể chuyển giao quyền yêu cầu, trừ một số trường hợp pháp luật quy định không được chuyển giao
1.2.3 Phân loại quyền yêu cầu
Quyền yêu cầu là quyền của bên có quyền trong một quan hệ nghĩa vụ dân sự xác định nên tùy thuộc vào từng loại quan hệ nghĩa vụ dân sự ta sẽ có các quyền yêu cầu khác nhau, có nghĩa là tùy thuộc vào cách phân loại nghĩa
vụ ta sẽ có các loại quyền yêu cầu tương ứng Hiện nay các nhà khoa học đưa
ra rất nhiều tiêu chí để phân loại
Căn cứ vào đối tượng của nghĩa vụ dân sự ta sẽ có đối tượng của nghĩa
vụ dân sự có thể là tài sản, công việc phải thực hiện hoặc không được thực hiện Tương ứng ta sẽ có các quyền yêu cầu là: quyền yêu cầu chuyển giao tài sản, quyền yêu cầu thực hiện một công việc, quyền yêu cầu không được thực hiện một công việc Ví dụ: Trong hợp đồng mua bán ôtô, người mua có quyền yêu cầu người bán chuyển giao ôtô và các giấy tờ liên quan cho mình
để đăng ký quyền sở hữu, quyền yêu cầu trong trường hợp này là quyền yêu cầu chuyển giao tài sản (ô tô) Người bán có quyền yêu cầu người mua trả tiền, quyền yêu cầu ở đây cũng là quyền yêu cầu chuyển giao tài sản (tiền mua ô tô)
Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh ta sẽ có: quyền yêu cầu phát sinh từ hợp đồng, quyền yêu cầu phát sinh từ hành vi pháp lý đơn phương, quyền yêu cầu đối với người chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, quyền yêu cầu đối với người thực hiện hành vi trái pháp luật phải bồi
Trang 25thường thiệt hại Ví dụ: Trong hợp đồng xây dựng nhà ở đã phát sinh quyền yêu cầu của một bên yêu cầu bên kia phải xây dựng nhà ở, bên xây dựng nhà
ở có quyền yêu cầu bên kia trả tiền công
Căn cứ vào mức độ ta sẽ có: quyền yêu cầu đối với người có nghĩa vụ thành quả và quyền yêu cầu đối với người có nghĩa vụ mẫn cán trung thực (Trong nghĩa vụ mẫn cán trung thực, người thụ trái chỉ cam kết thi hành nghĩa vụ một cách mẫn cán trung thực nhưng không cam kết mang đến một kết quả nhất định nào Còn trong nghĩa vụ thành quả, người thụ trái cam kết
về một kết quả nhất định) Ví dụ: A và B ký kết hợp đồng trong đó A thuê B tìm kiếm và trục vớt tàu bị chìm đắm do ảnh hưởng của bão trên biển với một số tiền công nhất định Nếu B không cam kết mang đến một kết quả nào thì B chỉ cần thực hiện nghĩa vụ một cách mẫn cán và trung thực, nghĩa vụ của B trong trường hợp này là nghĩa vụ mẫn cán trung thực Nếu B muốn trả tiền công cao hơn và B đã cam kết sẽ tìm thấy và trục vớt thành công thì B phải thực hiện để đạt được kết quả đó, nghĩa vụ của B trong trường hợp này
là nghĩa vụ thành quả
Căn cứ vào từng lĩnh vực cụ thể ta sẽ có: quyền yêu cầu là quyền đòi
nợ, quyền yêu cầu là quyền mua cổ phần, quyền yêu cầu là quyền ưu tiên mua nhà chung cư, quyền yêu cầu là quyền được mua hóa giá nhà ở và quyền
sử dụng đất, quyền yêu cầu của người bảo lãnh sau khi thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, quyền yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm sau khi trả tiền bảo hiểm
1.3 Bản chất pháp lý và các quy định của BLDS 2005 về chuyển giao quyền yêu cầu trong quan hệ nghĩa vụ dân sự
1.3.1 Khái niệm chuyển giao quyền yêu cầu trong quan hệ nghĩa vụ dân
sự
Trang 26Trong một quan hệ nghĩa vụ dân sự, các bên là người trực tiếp thực hiện quyền yêu cầu và nghĩa vụ dân sự theo nội dung của quan hệ ấy theo thỏa thuận kể từ khi xác lập cho tới khi chấm dứt Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các bên thì các bên có thể thỏa thuận một người thứ ba thay thế cho một trong hai bên Người thứ ba này có thể là người kế tục pháp lý về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trước Họ sẽ là người thế quyền nếu thay thế người có quyền, là người thế nghĩa vụ nếu thay thế người có nghĩa vụ Mặt khác người thứ ba có thể chỉ là người thực hiện quyền yêu cầu thay cho người có quyền hoặc thực hiện nghĩa
vụ thay cho người có nghĩa vụ trên cơ sở ủy quyền của những người này Chuyển giao quyền yêu cầu trong quan hệ nghĩa vụ dân sự là sự thay đổi về chủ thể hưởng quyền khác với việc ủy quyền
Chuyển giao quyền yêu cầu là sự thỏa thuận giữa người có quyền trong quan hệ nghĩa vụ dân sự với người thứ ba nhằm chuyển giao quyền yêu cầu cho người đó Người thứ ba gọi là người thế quyền, trở thành người có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ cho mình
Thực chất của việc chuyển giao quyền yêu cầu là người thứ ba thay thế người có quyền trước tham gia vào một quan hệ nghĩa vụ hoàn toàn với tư cách là một chủ thể Người đã chuyển giao quyền yêu cầu chấm dứt quan hệ với người có nghĩa vụ Do đó người chuyển giao quyền yêu cầu không phải chịu trách nhiệm về khả năng thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ (trừ trường hợp có thỏa thuận khác) Nếu người có nghĩa vụ không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ thì người thế quyền với tư cách là người có quyền được phép thực hiện các quyền yêu cầu của mình theo quy định của pháp luật Ở nước ta việc chuyển giao quyền yêu cầu có thể thông qua hình thức văn bản hoặc bằng lời nói Nếu pháp luật quy định việc chuyển giao quyền yêu cầu phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc
Trang 27chứng thực, đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó, ở Pháp việc chuyển giao quyền yêu cầu theo Điều 1689 Bộ luật dân sự Pháp được thực hiện như sau: “ Khi chuyển giao quyền yêu cầu, chuyển nhượng quyền hoặc cổ phần cho người thứ ba, thì việc chuyển giao giữa người có quyền yêu cầu và người thế quyền được thực hiện bằng việc trao cho nhau chứng thư’’ [14]
Việc chuyển giao quyền yêu cầu không cần có sự đồng ý của người có nghĩa vụ, vì trong các trường hợp người có nghĩa vụ đều phải thực hiện đúng nội dung công việc đã được xác định
Người chuyển giao quyền yêu cầu phải thông báo cho người có nghĩa vụ biết
để họ thực hiện nghĩa vụ với người thế quyền Đây cũng là một căn cứ cho người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ hay từ chối thực hiện nghĩa vụ khi có
sự yêu cầu của người thế quyền trong những trường hợp chứng cứ mà người thế quyền đưa ra để chứng minh về tính xác thực của việc chuyển giao quyền yêu cầu không đủ thuyết phục đối với người có nghĩa vụ
Trong những trường hợp việc chuyển giao quyền yêu cầu mà nội dung của nghĩa vụ thực hiện bị thay đổi thì phải có sự đồng ý của người có nghĩa
vụ Ví dụ: Trong một quan hệ nghĩa vụ các bên thỏa thuận địa điểm giao hàng hóa là trụ sở của bên có quyền Khi người có quyền muốn người có nghĩa vụ chuyển hàng hóa đến trụ sở của mình khác với trụ sở trước đây của bên chuyển giao quyền thì phải có sự đồng ý của người có nghĩa vụ
Nhằm bảo đảm hiệu lực của quyền yêu cầu và quyền lợi của người thế quyền thì người chuyển giao quyền yêu cầu phải cung cấp thông tin cần thiết, chuyển giao giấy tờ có liên quan cho người thế quyền
Trong trường hợp quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự có biện pháp bảo đảm kèm theo thì việc chuyển giao quyền yêu cầu bao gồm cả biện pháp bảo đảm đó Ví dụ: Khi chuyển giao quyền yêu cầu hoàn trả tiền vay có
Trang 28biện pháp bảo đảm là thế chấp quyền sử dụng đất của người vay thì người thế quyền yêu cầu hoàn trả tiền cũng được hưởng lợi quyền thế chấp quyền sử dụng đất này
1.3.2 Đặc điểm của chuyển giao quyền yêu cầu trong quan hệ nghĩa vụ dân sự
Từ việc phân tích khái niệm chuyển giao quyền yêu cầu trong quan hệ nghĩa vụ dân sự ở trên chúng ta thấy nó có một số đặc điểm sau đây :
Thứ nhất, chuyển giao quyền yêu cầu trong quan hệ nghĩa vụ dân sự là
sự thỏa thuận về sự thay đổi chủ thể hưởng quyền của người có quyền cho người thứ ba Người có quyền yêu cầu sau khi chuyển giao quyền yêu cầu đã mất tư cách chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ tức là họ không được hưởng lợi ích về quyền yêu cầu đó nữa Đặc điểm này cũng phân biệt chuyển giao quyền yêu cầu với thực hiện quyền yêu cầu thông qua người thứ ba.Vì thực hiện quyền yêu cầu thông qua người thứ ba là thỏa thuận giữa người có quyền yêu cầu với người thứ ba, theo đó người có quyền yêu cầu ủy quyền cho người thứ ba thay mình thực hiện quyền yêu cầu trước người có nghĩa vụ: Ví dụ Người có quyền yêu cầu đòi nợ ủy quyền cho người thứ ba đòi nợ cho mình Quyền và nghĩa vụ của người thứ ba được thực hiện theo nội dung
ủy quyền Người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ trước người thứ ba được ủy quyền Nếu người có nghĩa vụ không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ thì phải chịu trách nhiệm trước người có quyền Người thứ ba thực hiện quyền yêu cầu theo sự ủy quyền chứ không phải quyền yêu cầu của chính mình Người thế quyền cũng thực hiện quyền yêu cầu nhưng là quyền yêu cầu của chính mình
Thứ hai, đối tượng của giao dịch chuyển giao quyền yêu cầu là một quyền đối nhân Quyền đối nhân luôn tác động lên người có nghĩa vụ xác định Việc chuyển giao quyền yêu cầu không mất đi tư cách chủ thể của
Trang 29người có nghĩa vụ và nội dung nghĩa vụ mà họ phải thực hiện cũng không thay đổi Người thế quyền cũng chỉ có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ chứ không có đặc quyền đối với bất kỳ tài sản nào khác của người có nghĩa vụ Trường hợp quyền yêu cầu là yêu cầu chuyển giao một vật cụ thể thì người thế quyền có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ chuyển giao vật cụ thể đó chứ không phải là bất cứ vật nào khác, nếu vật không còn hoặc bị hư hỏng thì người có nghĩa vụ phải thanh toán giá trị của vật
Thứ ba, khi chuyển giao quyền yêu cầu bên chuyển giao quyền yêu cầu phải thông báo cho bên có nghĩa vụ biết về việc chuyển giao
Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không được thông báo về việc chuyển giao quyền yêu cầu tức là không có thông tin gì về việc chuyển giao quyền yêu cầu và người thế quyền không chứng minh được về tính xác thực của việc chuyển giao quyền yêu cầu thì bên có nghĩa vụ có quyền từ chối việc thực hiện nghĩa vụ đối với người thế quyền nhưng nghĩa vụ của họ không vì thế mà biến mất, trong suy nghĩ của người có nghĩa vụ thì người này vẫn có nghĩa vụ với người có quyền ban đầu
Nếu người có nghĩa vụ đã thực hiện nghĩa vụ với người chuyển giao quyền yêu cầu thì người thế quyền không được yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình trong trường hợp bên có nghĩa vụ do không được thông báo về việc chuyển giao quyền yêu cầu Người thế quyền trong trường hợp này không được hưởng lợi ích từ việc chuyển giao quyền yêu cầu Người đã chuyển giao quyền yêu cầu trở thành người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật phải có nghĩa vụ giao trả lại cho người thế quyền Nếu họ không giao trả thì người thế quyền có quyền khởi kiện người đã chuyển giao quyền yêu cầu Những thiệt hại xảy ra cho bên thế quyền do bên chuyển giao quyền yêu cầu không thông báo cho bên có nghĩa vụ thì bên chuyển giao quyền yêu cầu phải chịu Nghĩa vụ thông báo là một nghĩa vụ
Trang 30đặc biệt trong việc chuyển giao quyền yêu cầu, khác với các giao dịch chuyển giao quyền đối vật Chuyển giao quyền đối vật là chuyển giao một quyền thi hành trực tiếp trên vật nên không có nghĩa vụ thông báo cho ai (Việc pháp luật quy định giao dịch phải đănh ký, xin phép, công chứng, chứng thực là khía cạnh khác, vì mục đích là nhằm quản lý hành chính, bảo đảm an toàn cho các giao dịch hoặc có ý nghĩa với người thứ ba)
Thứ tư, có một số quyền yêu cầu không được chuyển giao như : quyền yêu cầu cấp dưỡng, yêu cầu bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín Căn cứ phát sinh những quyền này là quyền nhân thân của chủ thể và mục đích của những quyền đó là nhằm đáp ứng những nhu cầu cần thiết hoặc bù đắp những thiệt hại, tổn thất của người
có quyền yêu cầu đó Việc thụ hưởng lợi ích từ những người có quyền yêu cầu trên phải do chính họ thụ hưởng không được chuyển giao cho người khác nhằm đảm bảo ý nghĩa của những quyền yêu cầu đó Ví dụ: Quyền yêu cầu cấp dưỡng là nhằm đáp ứng những nhu cầu tối thiểu cần thiết của người được cấp dưỡng do vậy quyền này không thể chuyển giao cho người khác mặc dầu quyền này có thể trị giá thành tiền
Bên có quyền và bên có nghĩa vụ có thỏa thuận không được chuyển giao quyền yêu cầu thì quyền đó cũng không được chuyển giao Thỏa thuận này là sự tự nguyện của các bên, không vi phạm pháp luật cần được tôn trọng
và có giá trị bắt buộc Do vậy khi đã có thỏa thuận trên mà bên có quyền yêu cầu lại chuyển giao cho người khác là không được phép vì ảnh hưởng đến lợi ích của bên có nghĩa vụ
Như trên đã phân tích có những quyền dù trị giá được bằng tiền nhưng không được chuyển giao trong giao lưu dân sự vậy nó có phải là quyền tài sản không? Câu trả lời là nó vẫn là quyền tài sản nhưng tính chất tài sản của
nó không đầy đủ
Trang 31Thực ra cái gọi là tính chất tài sản của quyền có các cấp độ khác nhau: đầy đủ, không đầy đủ và không có Quyền tài sản nói tại Điều
188 BLDS 1995 nay là Điều 181 BLDS 2005 là quyền có đầy đủ tính chất tài sản.Quyền bầu cử, quyền đi lại, quyền được tôn trọng danh dự, nhân phẩm không trị giá được bằng tiền và cũng không thể chuyển nhượng, do đó, không có tính chất tài sản Còn các quyền được thực hiện dưới hình thức thu nhận các lợi ích vật chất, nhưng lại không thể chuyển nhượng được, thì chỉ có tính chất tài sản không đầy đủ (đúng ra là không hoàn hảo) [8]
Bên có quyền yêu cầu cũng không được chuyển giao quyền yêu cầu trong các trường hợp khác do pháp luật quy định Tùy thuộc vào các quốc gia khác nhau sẽ có những quy định khác nhau Ví dụ : ở Việt Nam, Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác (khoản 3, Điều 81 Luật Doanh Nghiệp 2005) mặc dù những cổ phần này cũng là tài sản
Pháp luật của Pháp quy định một số chủ thể không được tham gia giao dịch chuyển giao quyền yêu cầu với tư cách là nguời nhận chuyển nhượng Điều 1597 BLDS Pháp quy định :
Thẩm phán, thẩm phán dự khuyết, các thẩm phán giữ quyền công
tố, các lục sự, thừa phát lại, luật sư đại diện, luật sư bào chữa, công chứng viên không có quyền thụ nhượng tài sản, quyền, cổ phần tranh chấp trong phạm vi thẩm quyền quản hạt của tòa án nơi họ hành nghề, nếu không việc thụ nhượng ấy bị vô hiệu, họ phải chịu
án phí và bồi thường thiệt hại[14]
Điều 1596 BLDS Pháp quy định:
Những người sau đây không được trực tiếp hoặc thông qua trung gian mua, bán đấu giá, nếu không việc mua bán sẽ vô hiệu:- Người
Trang 32giám hộ, đối với những tài sản của người mình giám hộ,- Người
ủy thác, đối với những tài sản mà mình được ủy thác đứng ra bán.- Viên chức hành chính, đối với tài sản của xã hoặc của các công sở giao cho họ trông coi, - Viên chức nhà nước, đối với tài sản quốc gia mà cơ quan họ đứng ra bán[14]
Đối với doanh nghiệp, giao dịch giữa công ty với thành viên hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổng giám đốc phải được đại hội cổ đông hoặc hội đồng quản trị chấp thuận (Điểm b, khoản 1, Điều 120 Luật Doanh Nghiệp 2005) Quy định này nhằm hạn chế các giao dịch do những người quản lý công ty tạo ra với mục đích trục lợi cá nhân gây thiệt hại cho công ty, ảnh hưởng đến lợi ích của các cổ đông
1.3.3 Phân loại chuyển giao quyền yêu cầu trong quan hệ nghĩa vụ dân sự
- Căn cứ vào hình thức chuyển giao quyền yêu cầu có thể phân loại thành: chuyển giao quyền yêu cầu bằng văn bản, chuyển giao quyền yêu cầu bằng lời nói, chuyển giao quyền yêu cầu phải đăng ký, xin phép, công chứng hoặc chứng thực
- Căn cứ vào quyền yêu cầu được bảo đảm hay không được bảo đảm ta có: Chuyển giao quyền yêu cầu có biện pháp bảo đảm kèm theo và chuyển giao quyền yêu cầu không có biện pháp bảo đảm kem theo
- Căn cứ vào việc có cần sự đồng ý của người có nghĩa vụ hay không
ta có: Chuyển giao quyền yêu cầu không cần có sự đồng ý của người có nghĩa vụ và chuyển giao quyền yêu cầu cần có sự đồng ý của người có nghĩa
vụ (theo thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định)
- Căn cứ vào đối tượng của quyền yêu cầu ta có: Chuyển giao quyền yêu cầu chuyển giao tài sản, chuyển giao quyền yêu cầu thực hiện một công việc, chuyển giao quyền yêu cầu không được thực hiện một công việc
Trang 33- Căn cứ vào việc Người có quyền yêu cầu có cam kết về khả năng thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ hay không ta có: Chuyển giao quyền yêu cầu không phải chịu trách nhiệm về khả năng thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ và Chuyển giao quyền yêu cầu phải chịu trách nhiệm
về khả năng thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ
- Căn cứ vào lĩnh vực phát sinh quyền yêu cầu ta có: Chuyển giao quyền yêu cầu là quyền đòi nợ, chuyển giao quyền yêu cầu trong bảo hiểm tài sản, chuyển giao quyền yêu cầu trong trường hợp thực hiện bảo lãnh, chuyển giao quyền yêu cầu trong trường hợp thực hiện nghĩa vụ dân sự liên đới, chuyển giao quyền yêu cầu là quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp
1.3.4 Phân biệt chuyển giao quyền yêu cầu với các giao dịch dân sự khác 1.3.4.1 Phân biệt chuyển giao quyền yêu cầu với chuyển giao nghĩa vụ
Chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ dân sự đều là sự thỏa thuận giữa bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao
- Về nghĩa vụ thông báo của người chuyển giao:
Người chuyển giao quyền yêu cầu khác người chuyển giao nghĩa vụ dân sự ở chỗ người chuyển giao quyền yêu cầu phải có nghĩa vụ thông báo cho người có nghĩa vụ biết về việc chuyển giao, người có nghĩa vụ không phải thông báo cho người có quyền biết về việc chuyển giao vì họ phải xin phép người có quyền để được sự đồng ý của họ trước khi chuyển giao
Trang 34- Về điều kiện chuyển giao:
Việc chuyển giao quyền yêu cầu không cần có sự đồng ý của người có nghĩa vụ (trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định) trong khi đó việc chuyển giao nghĩa vụ phải có sự đồng ý của bên có quyền
- Về biện pháp bảo đảm kèm theo:
Việc chuyển giao quyền yêu cầu có biện pháp bảo đảm kèm theo thì việc chuyển giao quyền yêu cầu bao gồm cả biện pháp bảo đảm đó ngược lại việc chuyển giao nghĩa vụ dân sự có biện pháp bảo đảm kèm theo thì biện pháp bảo đảm đó chấm dứt, nếu không có thỏa thuận khác(vì đã được bên có quyền đồng ý chuyển giao
- Về đối tượng chuyển giao:
Đối tượng chuyển giao quyền yêu cầu chính là quyền yêu cầu trừ những quyền yêu cầu không được chuyển giao theo thỏa thuận hoặc do luật định Đối tượng chuyển giao nghĩa vụ dân sự là nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ dân sự trừ trường hợp nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của người có nghĩa vụ hoặc pháp luật có quy định không được chuyển giao
1.3.4.2 Phân biệt chuyển giao quyền yêu cầu với ủy quyền thực hiện quyền yêu cầu
Chuyển giao quyền yêu cầu và ủy quyền thực hiện quyền yêu cầu đều thông qua sự thỏa thuận
- Về hình thức giao dịch:
Chuyển giao quyền yêu cầu và ủy quyền thực hiện quyền yêu cầu đều
có thể thực hiện bằng văn bản hoặc bằng lời nói
- Về hậu quả pháp lý:
Người thế quyền là người có quyền yêu cầu, người nhận ủy quyền là người có quyền yêu cầu nhưng nhân danh bên ủy quyền chứ không nhân danh chính mình, còn người thế quyền là người nhân danh chính mình
Trang 35- Về nghĩa vụ cung cấp thông tin:
Người chuyển giao quyền yêu cầu có nghĩa vụ thông báo bằng văn bản cho người có nghĩa vụ, người ủy quyền không phải thông báo cho bên có nghĩa vụ về việc ủy quyền Việc bên có nghĩa vụ có chấp nhận sự ủy quyền hay không là do bên được ủy quyền phải chứng minh
- Về thù lao:
Việc chuyển giao quyền yêu cầu do các bên thỏa thuận về giá trị của quyền yêu cầu và không có thù lao, trong khi ủy quyền các bên có thể thỏa thuận về thù lao hoặc được hưởng thù lao theo luật định
1.3.4.3 Phân biệt chuyển giao quyền yêu cầu với chuyển giao quyền sử dụng đất
Chuyển giao quyền yêu cầu là sự thỏa thuận giữa bên có quyền yêu cầu với người thứ ba nhằm chuyển giao quyền yêu cầu cho người đó Chuyển giao quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa bên chuyển quyền và bên nhận chuyển quyền sử dụng đất
- Về hình thức giao dịch:
Chuyển giao quyền yêu cầu có thể được thực hiện bằng hình thức văn bản hoặc bằng lời nói Chuyển quyền sử dụng đất được thực hiện thông qua hợp đồng (trừ trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất), hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật (Điều 689 BLDS 2005)
- Về đối tượng chuyển giao:
Chuyển giao quyền yêu cầu có đối tượng là quyền yêu cầu Chuyển quyền sử dụng đất có đối tượng là quyền sử dụng đất
- Về nghĩa vụ thông báo:
Chuyển giao quyền yêu cầu có đối tượng là quyền đối nhân nên có liên quan đến người có nghĩa vụ và phải thông báo cho người có nghĩa vụ biết về
Trang 36việc chuyển giao Chuyển giao quyền sử dụng đất có đối tượng là quyền đối vật vì vậy khi chuyển giao không phải thông báo cho bất kỳ ai, tuy nhiên để việc chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực pháp luật thì phải đăng ký quyền
sử dụng đất theo quy định của pháp luật (Điều 692 BLDS 2005)
- Về sự hạn chế chuyển giao:
Như trên đã phân tích các loại quyền yêu cầu cấp dưỡng, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín thì không được chuyển giao Việc chuyển quyền sử dụng đất cũng có những hạn chế nhất định Theo quy định của Luật đất đai năm 2003 thì chỉ hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê mới có quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng một xã, phường, thị trấn với hộ gia đình, cá nhân khác còn các chủ thể khác không được hưởng quyền năng này (Điều 113 Luật đất đai năm 2003) Tổ chức kinh tế được nhà nước cho thuê đất theo hình thức trả tiền thuê đất hàng năm chỉ có quyền bán, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê
mà không được thực hiện các quyền chuyển nhượng, thế chấp bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất thuê (Điều 111 Luật đất đai năm 2003)
1.3.4.4 Phân biệt chuyển giao quyền yêu cầu với hợp đồng chuyển giao công nghệ
Chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao công nghệ đều thực hiện thông qua sự thỏa thuận
- Về hình thức chuyển giao:
Chuyển giao quyền yêu cầu có thể thực hiện bằng văn bản hoặc bằng lời nói Chuyển giao công nghệ phải được lập dưới hình thức văn bản Hợp đồng chuyển giao công nghệ rất phức tạp do tính chất phức tạp của công nghệ nên pháp luật quy định phải được lập dưới hình thức văn bản Hợp đồng chuyển giao công nghệ phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có
Trang 37thẩm quyền trong trường hợp pháp luật có quy định (Khoản 2, Điều 757 BLDS 2005)
- Về đối tượng chuyển giao:
Chuyển giao quyền yêu cầu có đối tượng là quyền yêu cầu, Chuyển giao công nghệ có đối tượng là công nghệ Chuyển giao quyền yêu cầu có đối tượng là một quyền đối nhân Chuyển giao công nghệ có đối tượng là công nghệ với tư cách là một loại tài sản đặc thù, không phải là một quyền đối nhân, cũng không phải là một quyền đối vật, nó là một tài sản vô hình tuyệt đối Trường hợp công nghệ là đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ thì việc chuyển giao công nghệ phải được thực hiện cùng với việc chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ (Khoản 2, Điều 755 BLDS 2005)
Việc chuyển giao công nghệ có thể chỉ là chuyển giao quyền sử dụng công nghệ trong một thời gian nhất định, Bên nhận chuyển giao công nghệ chỉ được quyền sử dụng công nghệ trong thời gian mà các bên thỏa thuận Việc chuyển giao công nghệ cũng có thể không làm mất đi quyền sử dụng công nghệ của bên chuyển giao Bên chuyển giao vẫn tiếp tục áp dụng công nghệ trong hoạt động của mình hoặc tiếp tục chuyển giao cho chủ thể khác Đây là điểm đặc thù của chuyển giao công nghệ, khác biệt với chuyển giao quyền yêu cầu Chủ thể có quyền yêu cầu chỉ có thể chuyển giao quyền yêu cầu đó cho một người nào đó nhất định, sau khi chuyển giao thì không còn quyền sở hữu đối với quyền yêu cầu đó và không thể tiếp tục chuyển giao cho người khác
Trong chuyển giao công nghệ, việc hoàn trả lại đối tượng chuyển giao trong nhiều trường hợp là không thể, bởi phần quan trọng trong công nghệ là kiến thức và một khi đã được chuyển giao thì không thể thu hồi lại được.Trong chuyển giao quyền yêu cầu nếu vì lý do nào đó việc chuyển giao
Trang 38vô hiệu, người có nghĩa vụ vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ với người thế quyền thì có thể hoàn trả lại quyền yêu cầu cho người chuyển giao
1.3.4.5 Phân biệt chuyển giao quyền yêu cầu với thừa kế quyền yêu cầu
Chuyển giao quyền yêu cầu được thực hiện thông qua sự thỏa thuận Quyền yêu cầu với tư cách là một loại quyền tài sản nên cũng có thể để lại làm di sản thừa kế Thừa kế quyền yêu cầu không phải là một sự chuyển giao mà nó
là một biện pháp pháp lý nhằm đảm bảo tính liên tục của các quyền và nghĩa
vụ do người chết để lại
- Về hình thức:
Chuyển giao quyền yêu cầu có thể được thực hiện bằng văn bản hoặc bằng lời nói Thừa kế có thể được chia theo di choc (nếu có) hình thức của di chúc có thể là văn bản hoặc di chúc miệng Sau 3 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc vẫn còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ (khoản 2 Điều 651 BLDS 2005) Nếu không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp thì thừa kế theo pháp luật
-Về hậu quả pháp lý:
Nguời thế quyền là người có quyền yêu cầu, người được hưởng thừa
kế quyền yêu cầu là người cũng có quyền yêu cầu
-Về nghĩa vụ thông báo:
Người chuyển giao quyền yêu cầu phải thông báo cho người có nghĩa
vụ để họ thực hiện nghĩa vụ với người thế quyền còn người thừa kế phải tự chứng minh tư cách của mình là người được hưởng thừa kế quyền yêu cầu trước người có nghĩa vụ để họ thực hiện nghĩa vụ đối với mình
1.3.5 Các quy định của BLDS 2005 về chuyển giao quyền yêu cầu trong quan hệ nghĩa vụ dân sự
Bộ luật dân sự năm 2005 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005
Trang 39có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006 Phần thứ ba của bộ luật dân sự
2005 có quy định về nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự Chương XVII là những quy định chung của phần này và tại mục 4 chương này có quy định về Chuyển giao quyền yêu cầu trong quan hệ nghĩa vụ dân sự, trong đó chuyển giao quyền yêu cầu được quy định từ điều 309 đến điều 314 BLDS 2005
Điều 309 BLDS 2005 quy định về chuyển giao quyền yêu cầu như sau:
1 Bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự có thể chuyển giao quyền yêu cầu đó cho người thế quyền theo thỏa thuận, trừ những trường hợp sau đây:
a) Quyền yêu cầu cấp dưỡng, yêu cầu bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín;
b) Bên có quyền và bên có nghĩa vụ thỏa thuận không được chuyển giao quyền yêu cầu;
c) Các trường hợp khác do pháp luật quy định
2 Khi bên có quyền yêu cầu chuyển giao quyền yêu cầu cho người thế quyền thì người thế quyền trở thành bên có quyền yêu cầu Người chuyển giao quyền yêu cầu phải báo cho bên có nghĩa vụ biết bằng văn bản về việc chuyển giao quyền yêu cầu
Việc chuyển giao quyền yêu cầu không cần có sự đồng ý của bên
có nghĩa vụ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác[15]
Điều luật này đã quy định về chuyển giao quyền yêu cầu và những trường hợp không được chuyển giao quyền yêu cầu Tại khoản 2 điều này có quy định: “ Người chuyển giao quyền yêu cầu phải báo cho bên có nghĩa vụ biết bằng văn bản về việc chuyển giao quyền yêu cầu’’[15] Theo ý kiến của tôi nên thay cụm từ “ Người chuyển giao” bằng “ Bên chuyển giao” cho thống nhất với cách gọi trong điều luật này và các điều luật khác có liên
Trang 40quan Đoạn này cũng quy định về nghĩa vụ của bên chuyển giao nói chung nên có thể chuyển sang quy định tại khoản 1 Điều 311 BLDS 2005 hoặc tách thành một khoản riêng tại điều này đồng thời quy định về trách nhiệm khi không thực hiện nghĩa vụ thông báo Quy định này thực chất là bảo vệ người thế quyền, là một căn cứ để người thế quyền chứng minh với người có nghĩa
vụ về tính xác thực của việc chuyển giao quyền yêu cầu.Tránh được sự thông đồng giữa bên có quyền yêu cầu với bên có nghĩa vụ, vì trong nhiều trường hợp dù quyền yêu cầu đã được chuyển giao cho bên thế quyền nhưng chỉ là trên giấy tờ, người thế quyền chưa thụ hưởng được những lợi ích từ việc thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ thì người có nghĩa vụ lại thực hiện nghĩa
vụ với bên có quyền yêu cầu trước đây, với lý do không được thông báo về việc chuyển giao quyền yêu cầu, việc này gây tốn kém thời gian và chi phí cho người thế quyền khi phải yêu cầu bên đã chuyển giao quyền yêu cầu hoàn trả tài sản cho mình
Điều 310 BLDS 2005 quy định về hình thức chuyển giao quyền yêu cầu như sau:
1.Việc chuyển giao quyền yêu cầu cần phải thực hiện bằng văn bản hoặc bằng lời nói
2 Trong trường hợp pháp luật có quy định việc chuyển giao quyền yêu cầu phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó[15]
Trên thực tế việc chuyển giao quyền yêu cầu bằng lời nói ít khi được các bên lựa chọn bởi quyền yêu cầu là một quyền đối nhân khi chuyển giao quyền yêu cầu có liên quan tới người có nghĩa vụ, nếu chuyển giao bằng hình thức lời nói thì bên nhận chuyển giao hay người thế quyền rất khó có thể chứng minh về tính xác thực của việc chuyển giao và có thể bị người có