Tài sản hữu hình trong doanh nghiệp bao gồm tiền mặt, nhà xưởng, máy móc, vật kiến trúc, nguyên nhiên vật liệu, bán thành phẩm hoặc thành phẩm tồn kho…Ngày nay, dưới nhận thức của các nh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THANH TÙNG
CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG NHÃN HIỆU
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: LUẬT DÂN SỰ
Mã số: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Quế Anh
HÀ NỘI - 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thanh Tùng
Trang 3MỤC LỤC
Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục biểu đồ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3 Tính mới và những đóng góp của đề tài 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Kết cấu của luận văn 6
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU VÀ CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU 7
1.1 Nhãn hiệu và khái quát quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu 7
1.1.1 Khái niệm về nhãn hiệu 7
1.1.2 Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp và quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu 13
1.1.3 Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu 18
1.2 Khái quát chung về chuyển giao quyền sử dụng đối với nhãn hiệu 23
1.2.1 Khái niệm chuyển giao quyền sử dụng đối với nhãn hiệu 23
Trang 41.2.2 Nội dung và hình thức chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu 25
1.2.3 Ý nghĩa của việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu 27
1.2.4 So sánh chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu với chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu và với chuyển giao quyền sử dụng đối với một số đối tượng SHCN khác 28
1.3 Các quy định về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu trong các điều ước quốc tế và pháp luật ở một số nước 36
1.4 Sự hình thành và phát triển của pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam 39
Chương 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG NHÃN HIỆU 44
2.1 Khái niệm quyền sử dụng nhãn hiệu 44
2.1.1 Phân biệt với quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý 44
2.1.2 Phân biệt với quyền sử dụng tên thương mại 46
2.2 Cách thức chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu 47
2.2.1 Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu độc lập 48
2.2.2 Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu đi cùng với các đối tượng khác 48
2.3 Hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu 49
2.3.1 Khái niệm hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu 50
2.3.2 Chủ thể của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu 51
2.3.3 Đối tượng của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu 52
2.3.4 Nội dung của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu 53
2.3.5 Phân loại hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu 59
2.3.6 Hiệu lực của hợp đồng 60
Chương 3: THỰC TRẠNG CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG NHÃN HIỆU TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 62
Trang 53.1 Thực trạng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam 62
3.1.1 Vấn đề xác định giá trị sử dụng của nhãn hiệu trong hoạt động
chuyển giao quyền sử dụng 68 3.1.2 Vấn đề khai thác, duy trì và phát triển nhãn hiệu sau khi
chuyển giao 69 3.1.3 Tính nghiêm túc trong hoạt động chuyển giao quyền sử dụng
nhãn hiệu 71 3.1.4 Về số phận của hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu
trong trường hợp bên chuyển giao là doanh nghiệp phá sản 72 3.1.5 Về vấn đề chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu trong trường
hợp nhãn hiệu đó trùng với tên thương mại 72 3.1.6 Về vấn đề giải quyết tranh chấp trong quan hệ hợp đồng
chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu 73
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chuyển
giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam 73 KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ luật dân sự CGCN : Chuyển giao công nghệ HĐTM : Hiệp định thương mại KDCN : Kiểu dáng công nghiệp License : Chuyển quyền sử dụng LDN : Luật Doanh nghiệp NQTM : Nhượng quyền thương mại NHHH : Nhãn hiệu hàng hóa
SHTT : Sở hữu trí tuệ SHCN : Sở hữu công nghiệp WTO : Tổ chức thương mại thế giới
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Số hiệu bảng Tên bảng Trang
3.1 Số lượng đơn đăng ký hợp đồng chuyển quyền sử 65 dụng đối tượng SHCN và hợp đồng chuyển quyền
sử dụng đối tượng SHCN đã được đăng ký tại Cục
SHTT từ năm 2000 đến 2010
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Số hiệu bản đồ Tên biểu đồ Trang
3.2 Số lượng hợp đồng chuyển quyền sử dụng các đối 66
tượng SHCN đã được đăng ký tại Cục SHTT từ
năm 2000 đến 2010
Trang 9
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Theo quan niệm truyền thống, tài sản hữu hình thường là bộ phận chủ yếu trong tổng số tài sản và đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện tình hình tài chính của doanh nghiệp Tài sản hữu hình trong doanh nghiệp bao gồm tiền mặt, nhà xưởng, máy móc, vật kiến trúc, nguyên nhiên vật liệu, bán thành phẩm hoặc thành phẩm tồn kho…Ngày nay, dưới nhận thức của các nhà kinh doanh trên thế giới, tài sản của mỗi một doanh nghiệp không chỉ còn là các tài sản hữu hình mà còn là các tài sản vô hình như giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết kinh doanh, trình độ của người lao động…Trong số các tài sản vô hình đó, với xu thế phát triển của nền kinh tế tri thức như hiện nay, giá trị quyền sở hữu trí tuệ mà đặc biệt là giá trị quyền
sở hữu công nghiệp trong đó có giá trị của nhãn hiệu được các doanh nghiệp
và các nhà làm luật quan tâm hơn cả
Cùng với sự tìm tòi, sáng tạo, cải tiến, đổi mới về công nghệ sản xuất, các doanh nghiệp ngày càng tạo ra được các sản phẩm có chất lượng tốt, mẫu
mã đẹp, tiện ích cho người tiêu dùng Ban đầu, để phân biệt sản phẩm, dịch
vụ do mình làm ra với các sản phẩm, dịch vụ của những chủ thể kinh doanh khác, các doanh nghiệp đã gắn lên mỗi loại sản phẩm, dịch vụ của mình nhãn hiệu đặc trưng riêng có Khi sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp ngày càng được nhiều người tiêu dùng biết đến và sử dụng thì cũng đồng nghĩa với việc doanh thu của doanh nghiệp sẽ không ngừng tăng lên, thị phần doanh nghiệp ngày càng lớn, uy tín doanh nghiệp ngày càng được khẳng định Chính từ đó, nhãn hiệu của sản phẩm, dịch vụ không còn chỉ đơn thuần là dùng để phân biệt nữa mà giá trị của nó đã được định hình trong tâm trí người tiêu dùng, trong các đối thủ cạnh tranh và nó có thể định giá được bằng tiền mặt Thế
Trang 10giới đã được biết đến những nhãn hiệu nổi tiếng, mang lại cho doanh nghiệp
sở hữu nhãn hiệu một giá trị tài sản khổng lồ như nhãn hiệu Coca Cola có giá gần 72 tỉ USD, Google (55,317 tỷ USD), Apple (33,492 tỉ USD), hp (28,479
tỉ USD) [1]…Còn ở thị trường Việt Nam, rất nhiều nhãn hiệu nổi tiếng cũng được nhắc đến như cà phê Trung Nguyên, kem đánh răng P/S, võng xếp Duy Lợi, phở 24, VINATABA
Trong rất nhiều thương vụ, giá trị của nhãn hiệu (thể hiện uy tín của doanh nghiệp) lại được định giá cao hơn các tài sản cố định khác của doanh nghiệp Thí dụ, trong khi góp vốn liên doanh xây dựng nhà máy sản xuất kem đánh răng Elida P/S, giá trị nhà xưởng và quyền sử dụng đất của phía Việt Nam được định giá chưa đến 1 triệu USD, trong khi đó nhãn hiệu P/S được mua với giá hơn 4 triệu USD Tất cả những điều này đều thể hiện giá trị to lớn
mà nhãn hiệu mang lại cho doanh nghiệp, từ đó đặt ra yêu cầu cấp thiết là vừa phải bảo vệ nhãn hiệu không bị xâm phạm (đăng ký bảo hộ) vừa phải mở rộng thị trường sử dụng sản phẩm, dịch vụ để tăng doanh thu và đặc biệt là quảng bá nhãn hiệu một cách rộng rãi đến người tiêu dùng Tuy nhiên, không phải lúc nào doanh nghiệp cũng có đủ năng lực về tài chính, nhân sự, thời gian …để cùng lúc làm được các điều này Do đó, một giải pháp được các doanh nghiệp sử dụng đó là tiến hành chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu cho những doanh nghiệp mà mình tin tưởng Với việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu của mình, bên chuyển giao sẽ có được một số lợi ích cơ bản như: mở rộng được thị trường tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ của mình mà không cần phải tốn nhiều tiền của, công sức đầu tư xây dựng mạng lưới chi nhánh, văn phòng đại diện tại nhiều nơi (trong nước cũng như trên thế giới); tăng doanh thu cho bên chuyển giao; nhãn hiệu được quảng bá ra nhiều thị trường và được người tiêu dùng biết đến nhiều hơn; có khả năng bảo vệ nhãn hiệu cho sản phẩm của mình tốt hơn trước các hành vi xâm phạm nhãn hiệu
Trang 11bởi bên nhận chuyển giao sẽ là “tai mắt” cho bên chuyển giao trong việc thu thập các thông tin liên quan đến việc xâm phạm nhãn hiệu…Bên nhận chuyển giao sẽ được hưởng lợi rất lớn từ việc các sản phẩm của mình được phép gắn nhãn hiệu nổi tiếng Chẳng hạn: một chiếc áo sơ mi giá bình thường chỉ cỡ 100.000 đồng, khi được gắn nhãn hiệu Pierre Cardin thì giá của nó được khách hàng toàn thế giới chấp nhận sẽ tương đương 60 – 70 USD (khoảng hơn 1 triệu đồng) Các mặt hàng điện tử gia dụng ngày nay gần như tất cả đều
là Sanyo, Toshiba, … nhưng made in China, Thailand, Malaysia, Vietnam,… phần lớn chúng được sản xuất từ các quốc gia đó nhưng được phép mang những nhãn hiệu Nhật Bản nổi tiếng Chất lượng của những sản phẩm này nhìn chung là tốt (tuy có thể ít nhiều thua kém sản phẩm chính hãng) Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa nhận thức được nhãn hiệu cũng là một tài sản của doanh nghiệp, vì vậy không nhận thức được giá trị của nhãn hiệu và việc chuyển giao nhãn hiệu nên ít đầu tư cho nó Phần lớn doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư số tiền rất lớn cho thiết bị hay công nghệ mới, song còn rất khiêm tốn khi đầu tư cho việc xây dựng, bảo vệ và quảng bá nhãn hiệu Mặt khác, khoa học pháp lý của nước ta tuy có rất nhiều công trình nghiên cứu về quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng nhưng chưa có nhiều công trình nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc về vấn đề chuyển giao quyền sử dụng đối với nhãn hiệu Do đó, các vấn
đề lý luận cũng như các vấn đề pháp lý liên quan đến chuyển giao quyền sử dụng đối với nhãn hiệu chưa được làm rõ, dẫn đến có nhiều cách hiểu không thống nhất, nhiều doanh nghiệp còn nhầm lẫn nó với các hình thức chuyển giao một số đối tượng sở hữu công nghiệp khác
Trên cơ sở những phân tích nêu trên và với mong muốn tìm hiểu, nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về lĩnh vực chuyển giao
quyền sử dụng nhãn hiệu, tác giả lựa chọn thực hiện đề tài “Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam.”
Trang 122 Mục tiêu nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài: “Chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu theo
pháp luật Việt Nam” nhằm các mục tiêu sau:
Về mặt khoa học:
- Quá trình thực hiện luận văn sẽ góp phần hệ thống hóa những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành cũng như một số quy định cơ bản của các điều ước quốc tế cũng như pháp luật một số nước quy định về vấn
đề chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu
- Góp phần làm rõ cũng như bổ sung và hoàn thiện về mặt lý luận của vấn đề chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu trong khoa học pháp lý
- Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng của việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam, luận văn chỉ rõ những tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam
3 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Khoa học pháp lý của nước ta tuy có rất nhiều công trình nghiên cứu về quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng nhưng chưa có nhiều công trình nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc về vấn đề chuyển giao quyền sử dụng đối với nhãn hiệu Do đó, các vấn đề lý luận cũng như các vấn đề pháp lý liên quan đến chuyển giao quyền sử dụng đối với nhãn
Trang 13hiệu chưa được làm rõ, dẫn đến có nhiều cách hiểu không thống nhất Chính
vì vậy, tác giả mong muốn luận văn sẽ đóng góp một cách nhìn toàn diện, chuyên sâu hơn về vấn đề này, chỉ rõ những tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam Tác giả hy vọng luận văn sẽ trở thành một trong những nguồn tài liệu tham khảo cho những đọc giả quan tâm đến vấn đề này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn có đối tượng nghiên cứu chủ yếu là cơ sở lý luận về nhãn hiệu mà trong đó tập trung vào vấn đề chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu
và thực trạng của việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: cơ sở lý luận và thực trạng của việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt Nam Tuy nhiên luận văn cũng
có đề cập đến vấn đề chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu theo pháp luật quốc
tế, so sánh giữa chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu với chuyển giao tên thương mại để nhằm tăng tính phong phú, đa dạng, toàn diện của luận văn
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, tác giả đã sử dụng đến các phương pháp chủ yếu như:
- Phương pháp tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng để tìm kiếm, tập hợp lại toàn bộ các tài liệu có liên quan đến đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn
- Phương pháp phân tích: Phương pháp này giúp làm rõ các vấn đề lý luận về vấn đề cần nghiên cứu
- Phương pháp so sánh, đánh giá: Phương pháp này giúp cho luận văn có được cái nhìn đa chiều, toàn diện, đúng đắn và sâu sắc về vấn đề cần nghiên cứu từ đó rút ra được những kết luận, kiến nghị có tính chính
Trang 14xác cao và khoa học, thể hiện rõ tư duy, tính mới, tính sáng tạo và cách lập luận của tác giả
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận chung về quyền sở hữu công nghiệp
đối với nhãn hiệu và chuyển giao quyền sử dụng đối với nhãn hiệu
Chương 2 Những quy định của pháp luật Việt Nam về chuyển giao
quyền sử dụng nhãn hiệu
Chương 3 Thực trạng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu tại Việt
Nam và một số kiến nghị
Trang 15Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU VÀ CHUYỂN GIAO
QUYỀN SỬ DỤNG ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU
1.1 Nhãn hiệu và khái quát quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
1.1.1 Khái niệm về nhãn hiệu
Thuật ngữ nhãn hiệu “brand” xuất phát từ người Aixơlen cổ đại với nghĩa là đốt cháy “to burn” Theo một số nghiên cứu cho thấy, từ thời xa xưa con người đã biết sử dụng nhãn hiệu để nhận biết nguồn gốc, xuất xứ của hàng hóa, dịch vụ Đối với gia súc, người chăn nuôi gia súc khi trao đổi, mua bán gia súc của mình với người khác đã dùng biện pháp đánh dấu thông qua các vết cắt, xiên lỗ trên tai các con gia súc Đối với các đồ thủ công mỹ nghệ như đồ gốm sứ, tơ lụa, gia thú con người đã biết dùng chữ ký hoặc biểu tượng
để phân biệt sản phẩm do họ làm ra với sản phẩm của người khác Trải qua các cuộc cách mạng công nghiệp, nền sản xuất hàng hóa, dịch vụ có nhiều bước phát triển vượt bậc Khi hàng hóa được tạo ra ngày càng nhiều, dịch vụ ngày càng phong phú, đa dạng thì nhãn hiệu đã trở thành một công cụ hữu hiệu để nhận biết cũng như phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể sản xuất kinh doanh khác nhau Các sản phẩm cùng loại do các chủ thể khác nhau sản xuất ra đều có nhãn hiệu khác nhau Chính vì thế, thông qua nhãn hiệu, người tiêu dùng có thể nhận biết và lựa chọn tiêu thụ các sản phẩm có nhãn hiệu mà mình ưa dùng hoặc muốn mua mà không sợ bị nhầm lẫn và mất nhiều thời gian Hiện nay, nhãn hiệu chiếm lĩnh một vị trí quan trọng trong hoạt động thương mại, nó không chỉ là dấu hiệu để nhận biết và phân biệt như
đã nói ở trên mà nó còn có giá trị kinh tế và trở thành tài sản vô hình quý giá của chủ thể sản xuất kinh doanh, đôi khi giá trị kinh tế mà nhãn hiệu mang lại
Trang 16còn lớn hơn rất nhiều so với các tài sản hữu hình khác Chính vì vậy, nhãn hiệu có thể được mua bán hoặc có thể cho thuê quyền sử dụng
Về khái niệm nhãn hiệu hiện có rất nhiều cách hiểu khác nhau về nhãn hiệu Dưới góc độ luật pháp quốc tế, trước đây Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp không đưa ra khái niệm nhãn hiệu là gì Việc không đưa ra khái niệm cụ thể về nhãn hiệu là do muốn tạo điều kiện để các nước thành viên Công ước tự đưa ra những khái niệm về nhãn hiệu cho phù hợp với đặc điểm của nước mình Tuy nhiên, đến khi Hiệp định TRIPS 1994 về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ ra đời thì khái niệm nhãn hiệu đã được định rõ Theo Điều 15.1 hiệp định TRIPS, khái niệm
nhãn hiệu hàng hóa được quy định như sau: “Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ
hợp dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình họa
và tổ hợp các sắc màu cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa” Có thể thấy khái niệm nhãn
hiệu hàng hóa trong hiệp định TRIPS được quy định một cách khái quát, việc xác định một đối tượng bất kỳ có phải là nhãn hiệu hàng hóa hay không
sẽ căn cứ vào mục đích sử dụng và “bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân
biệt hàng hóa này với hàng hóa khác” thì đều có thể xem là yếu tố cấu thành
của một nhãn hiệu hàng hóa
Còn dưới góc độ pháp luật trong nước, trước đây, theo quy định tại Điều 785 Bộ Luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1995
thì: “Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa,
dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc” Nhưng đến Bộ luật Dân sự 2005 thì
Trang 17lại không có quy định như thế nào là nhãn hiệu mà chỉ quy định nhãn hiệu là một trong những đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp (Điều 750) Hiện nay, khái niệm nhãn hiệu được quy định cụ thể tại Khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009 (sau đây gọi tắt là Luật sở hữu trí tuệ), điều đặc biệt là Luật Sở hữu trí tuệ không có quy định về nhãn hiệu hàng hóa riêng và nhãn hiệu dịch vụ riêng mà chỉ đưa ra một khái niệm nhãn hiệu dùng
chung cho cả hai loại đó Theo đó nhãn hiệu được hiểu “là dấu hiệu dùng để
phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” Dấu hiệu
được nhắc đến trong khái niệm này phải là dấu hiệu nhìn thấy được dưới các dạng như: chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc Mặt khác, các dấu hiệu này còn phải có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác
Tuy nhiên, các nước khác nhau lại định nghĩa về nhãn hiệu có phần khác nhau Theo quy định tại Điều L711-1 Bộ luật Sở hữu trí tuệ Pháp, thì
“nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ là các dấu hiệu có thể thể hiện được dưới dạng chữ viết dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ của một thể nhân, pháp nhân
Dấu hiệu quy định tại đoạn trên chủ yếu bao gồm:
a Tên gọi được thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào như: Từ, tập hợp từ, tên người, tên địa lý, biệt hiệu, bút danh, chữ cái, chữ số, chữ viết tắt;
b Dấu hiệu âm thanh như: âm thanh, lời nhạc;
c Dấu hiệu hình ảnh như: hình vẽ, nhãn sản phẩm, con dấu, đường viền, hình nổi, ảnh chụp giao thoa laze, biểu tượng, hình ảnh tổng hợp, hình thức, đặc biệt là hình thức sản phẩm, hình thức bao bì sản phẩm, hình thức đặc trưng của dịch vụ, cách bố trí kết hợp màu sắc, sắc thái màu"
Về cơ bản, khái niệm nhãn hiệu theo quy định của Pháp cũng được
Trang 18định nghĩa theo mục đích sử dụng: là các dấu hiệu nhằm phân biệt sản phẩm
dịch vụ của thể nhân và pháp nhân, bên cạnh đó đã liệt kê một cách cụ thể
các loại dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu và phạm vi các dấu hiệu mở rộng hơn rất nhiều so với quy định của Việt Nam Nhiều dấu hiệu từ ngữ và
hình ảnh đã được bảo hộ tại Pháp mà Việt Nam chưa quy định như biệt hiệu,
bút danh, chữ viết tắt, nhãn sản phẩm, con dấu, đường viền, ảnh chụp giao thoa laze, hình thức bao bì sản phẩm, hình thức đặc trưng của dịch vụ và ngoài các loại dấu hiệu thông thường như từ ngữ, hình ảnh, màu sắc thì dấu hiệu âm thanh cũng có thể được sử dụng làm nhãn hiệu Tuy nhiên, luật của
Pháp quy định rất chặt chẽ là các dấu hiệu này phải có khả năng thể hiện được
dưới dạng chữ viết "graphisme" nghĩa là phải thể hiện được trên giấy - phải
có khả năng nhìn thấy được, kể cả với dấu hiệu âm thanh Nhãn hiệu âm thanh phải được thể hiện thành nốt nhạc và tiết tấu nhạc trên giấy và bảo hộ nhãn hiệu âm thanh là bảo hộ giai điệu nhạc gắn lên hàng hoá dịch vụ thông qua những nốt nhạc mà người nộp đơn thể hiện trên giấy [6, 13]
Các dấu hiệu như âm thanh cũng như một số dấu hiệu từ ngữ và hình ảnh được sử dụng làm nhãn hiệu theo quy định của Pháp chưa được quy định trong pháp luật hiện hành của Việt Nam nhưng cùng với việc tiếp cận
và giao lưu với những hệ thống pháp luật tiên tiến trong quá trình hội nhập, khái niệm về nhãn hiệu của Việt Nam đã được hoàn thiện và gần với chuẩn mực quốc tế hơn, điển hình là khái niệm nhãn hiệu quy định trong Hiệp định
thương mại (HĐTM) Việt Nam – Hoa Kỳ tại khoản 1 Điều 6: “Nhãn hiệu
hàng hóa được cấu thành bởi dấu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bất kỳ của các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một người với hàng hóa hoặc dịch vụ của người khác, bao gồm từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tổ hợp mầu sắc, các yếu tố hình hoặc hình dạng của hàng hóa hoặc hình dạng của bao bì hàng hóa Nhãn hiệu hàng hóa bao
Trang 19gồm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận” Có
thể thấy, khái niệm nhãn hiệu trong HĐTM Việt Nam – Hoa Kỳ đã có sự mở rộng hơn về phạm vi các yếu tố có thể được đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam trong thời gian tới
Còn đối với Cộng đồng Châu Âu nói chung, do số lượng các quốc gia thành viên tương đối nhiều và mỗi nước đều có những nét đặc thù riêng biệt nên pháp luật về nhãn hiệu của các quốc gia thành viên cũng khác nhau Do
đó, nếu muốn bảo vệ lợi ích chung của khối, Cộng đồng Châu Âu nhất thiết phải có những bước điều chỉnh, định hướng chung cho các quốc gia thành viên Chỉ thị 89/104/EEEC3 và Quy định 40/944 của Cộng đồng Châu Âu được xem là những văn bản pháp lý đầu tiên quy định các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu ở cấp độ cộng đồng, được áp dụng chung thống nhất trên toàn Châu Âu Mục đích của những quy định này là nhằm đảm bảo điều kiện đăng
ký nhãn hiệu hài hòa ở tất cả các quốc gia thành viên Theo quy định tại Điều
2 Chỉ thị 89/104/EEEC3 và Điều 4 Quy định 40/944 của Cộng đồng Châu Âu
nhãn hiệu được định nghĩa như sau: “Một nhãn hiệu cộng đồng có thể gồm
bất kỳ dấu hiệu nào được trình bày một cách rõ ràng và chi tiết, đặc biệt là các từ, bao gồm tên riêng, các phác họa hình ảnh, chữ viết, chữ số, hình dáng của hàng hóa hoặc bao bì của sản phẩm với điều kiện là những dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của chủ thể kinh doanh này với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể kinh doanh khác” Theo định nghĩa
này, nhãn hiệu phải đáp ứng ba điều kiện: thứ nhất, phải là “dấu hiệu”; thứ hai, phải “được trình bày rõ ràng và chi tiết”; thứ ba, phải “có khả năng
phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của chủ thể kinh doanh này với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể kinh doanh khác” [2, 26]
Đoạn 1127 Lanham Act (đạo luật điều chỉnh về nhãn hiệu của Hoa Kỳ), lại thiên về định nghĩa nhãn hiệu hàng hóa là chủ yếu Theo đó, nhãn
Trang 20hiệu hàng hóa được hiểu như sau: “Thuật ngữ nhãn hiệu hàng hóa bao gồm
bất kỳ từ, tên gọi, biểu tượng hay hình vẽ hoặc sự kết hợp giữa chúng mà được sử dụng bởi một người, hoặc được một người có ý định chân thành là sử dụng nó trong thương mại và xin đăng ký theo quy định tại luật này để xác định và phân biệt hàng hóa của người đó, bao gồm cả các hàng hóa đặc chủng với hàng hóa được sản xuất hoặc được bán bởi những người khác và chỉ ra nguồn gốc của hàng hóa thậm chí cả khi không xác định được nguồn gốc đó” Định nghĩa này kết hợp hai chức năng khác nhau của nhãn hiệu đó là
vừa chỉ ra nguồn gốc hàng hóa vừa phân biệt hàng hóa của chủ thể này với hàng hóa của chủ thể khác
Ngoài ra, theo Philip Kotler một chuyên gia marketing hàng đầu của
thế giới thì: “Nhãn hiệu sản phẩm là tên, thuật ngữ, dấu hiệu, biểu tượng,
hình vẽ hay sự phối hợp giữa chúng, có công dụng dùng để xác nhận hàng hóa hay dịch vụ của một người bán hay một nhóm người bán và phân biệt chúng với các hàng hóa, dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh”
Trên cơ sở những luận cứ nêu ở trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm
về nhãn hiệu như sau: “Nhãn hiệu là những dấu hiệu có thể nhận biết được
dùng để phân biệt hàng hóa (dịch vụ) của nhà sản xuất, kinh doanh này (của nhà cung ứng dịch vụ này) với hàng hóa (dịch vụ) của nhà sản xuất, kinh doanh khác (của nhà cung ứng dịch vụ khác) và chỉ ra nguồn gốc của hàng hóa (dịch vụ) Như vậy, dù được định nghĩa như thế nào đi chăng nữa thì
nhãn hiệu vẫn được xác định bởi hai yếu tố cơ bản là hình thức nhãn hiệu (dấu hiệu) và chức năng phân biệt của nhãn hiệu Nhãn hiệu luôn là dấu hiệu được gắn liền với hàng hóa, dịch vụ và có ba chức năng cơ bản nhất: là tài sản
vô hình vô cùng quý giá của nhà sản xuất kinh doanh; là dấu hiệu để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau giúp người tiêu dùng dễ dàng lựa chọn; là công cụ để quảng bá hàng hóa, dịch vụ của nhà sản xuất
Trang 21kinh doanh với người tiêu dùng, với hi vọng rằng khách hàng sẽ mua lại trong những lần sau hay giới thiệu với người khác Nhãn hiệu được phân chia thành các loại: nhãn hiệu thông thường (bao gồm cả nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ), nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu liên kết, nhãn hiệu chứng nhận và nhãn hiệu nổi tiếng
1.1.2 Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp và quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
Thuật ngữ “sở hữu công nghiệp” được sử dụng chính thức trong các văn bản pháp luật đầu tiên trên thế giới là ở nước Pháp vào thế kỷ XVIII Theo đó, quan điểm thừa nhận và bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp cũng như quyền tác giả cũng được bắt nguồn tư nước Pháp Tất cả đều xuất phát từ lý luận về quyền tự nhiên do hai nhà triết học nỗi tiếng nước Pháp Vonte và Rutxo khởi xướng Dựa theo lý luận này, quyền của người tạo ra một tác phẩm văn học nghệ thuật, một sáng chế, nhãn hiệu…đối với những sản phẩm
đó là quyền tự nhiên, không thể tách rời và không phụ thuộc vào sự công nhận hay không công nhận từ phía Nhà nước [10, 9] Quan điểm này đã được
cụ thể hóa trong Luật Sáng chế 1791 của Pháp với nội dung: “Bất kỳ ý tưởng
mới nào, mà việc công bố và thực hiện có thể có lợi cho xã hội, sẽ thuộc về người sáng tạo ra ý tưởng đó; sẽ là sự hạn chế nhân quyền nếu không coi một sáng chế công nghiệp mới là sở hữu của người đã tạo ra sáng chế đó” Ngày
nay, thuật ngữ “sở hữu công nghiệp” đã được sử dụng một cách phổ biến trên
thế giới và theo Điều 1 Công ước Paris 1883 tổng sửa đổi 1979 thì: “Sở hữu
công nghiệp phải được hiểu theo nghĩa rộng nhất, không những chỉ áp dụng cho công nghiệp và thương mại theo đúng nghĩa của chúng mà cho cả các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp khai thác và tất cả các sản phẩm chế biến hoặc sản phẩm tự nhiên như rượu vang, ngũ cốc, lá thuốc lá, hoa quả, gia súc, khoáng sản, nước khoáng, bia, hoa và bột” Thuật ngữ này cũng
Trang 22cần phải được phân biệt với thuật ngữ quyền tác giả Tuy cùng là sản phẩm trí
tuệ nhưng nếu sản phẩm nào không liên quan đến việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội thì được bảo hộ dưới hình thức quyền tác giả, ngược lại, những sản phẩm trí tuệ nào gắn liền với hoạt động sản xuất, kinh doanh, có khả năng áp dụng để tạo ra của cải vật chất cho xã hội thì sẽ được bảo hộ dưới hình thức quyền sở hữu công nghiệp
Các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp cùng với tiến trình phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hàng hóa trên thế giới đã dần dần trở thành tài sản vô hình vô cùng quý giá đối với những ai sở hữu chúng Do đó, quyền sở hữu hợp pháp đối với các đối tượng này cần phải được pháp luật bảo vệ và đó chính là quyền sở hữu công nghiệp Công ước Paris đã liệt kê một loạt các đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, bao gồm: sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, mẫu hữu ích, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý (chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ) và chống cạnh tranh không lành mạnh Sau đó, danh sách này đã được pháp luật một số nước bổ sung thêm một số đối tượng mới, đó là: Bí mật kinh doanh, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn
Còn ở Việt Nam, theo khoa học pháp lý hiện nay, quyền sở hữu công nghiệp được nhìn nhận dưới hai phương diện là phương diện khách quan và phương diện chủ quan Trên phương diện khách quan, quyền sở hữu công nghiệp được hiểu là pháp luật về sở hữu công nghiệp hay nói cách khác là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh sau khi con người sáng tạo ra sản phẩm trí tuệ và được pháp luật coi là các đối tượng sở hữu công nghiệp Với nghĩa này, quyền sở hữu công nghiệp là quyền sở hữu đối với tài sản vô hình, mặt khác, quyền sở hữu công nghiệp còn bao gồm các quy định trong các hiệp định, điều ước quốc tế song phương
và đa phương mà Việt Nam là thành viên như Hiệp định TRIPS 1994, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ năm 2000, Công ước Paris về Sở hữu
Trang 23Công nghiệp 1967, Trên phương diện chủ quan, quyền sở hữu công nghiệp
là quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp Theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật SHTT thì quyền sở hữu công
nghiệp là “quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công
nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh” Không những thế, Khoản 1 Điều 750
BLDS 2005 cũng quy định: “Ðối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm
sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý” Từ những quy
định này, chúng ta có thể suy luận quyền sở hữu công nghiệp là quyền, nghĩa
vụ của các chủ thể liên quan đến việc sử dụng, chuyển dịch các đối tượng sở hữu công nghiệp Ngoài ra, quyền sở hữu công nghiệp còn được hiểu dưới góc độ là quan hệ pháp luật với đầy đủ các yếu tố hội tụ như chủ thể, khách thể, nội dung Theo đó, chủ thể của quyền sở hữu công nghiệp là tất cả các cá nhân, tổ chức như tác giả hay chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp hoặc tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp Khách thể của quyền sở hữu công nghiệp là các kết quả của hoạt động sáng tạo trí tuệ hoặc chuyển giao quyền sở hữu được áp dụng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh như sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh Nội dung của quyền sở hữu công nghiệp được pháp luật ghi nhận và bảo hộ Tuy nhiên, một điều hạn chế của BLDS 2005 lẫn Luật SHTT là đã quy định đối tượng quyền
sở hữu công nghiệp bằng phương pháp liệt kê nhưng lại theo hướng đóng, trong khi khả năng sáng tạo của con người là vô tận và do đó đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp trong tương lai có thể không chỉ dừng lại ở những đối tượng như hai văn bản này đã liệt kê
Trang 24Hầu hết pháp luật của các nước trên thế giới, các điều ước quốc tế, hiệp định song phương và đa phương đều quy định nhãn hiệu là một trong các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp Còn ở nước ta, theo quy định tại khoản
2 Điều 3 Luật SHTT thì đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm: “sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý” Mặt khác, theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học có thể được bảo hộ quyền tác giả Còn trong các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp thì chỉ có sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn là được bảo hộ quyền tác giả (Điều 122 Luật SHTT) (tức là các đối tượng này là sản phẩm có được bằng sức lao động sáng tạo của con người) còn các đối tượng không được bảo hộ quyền tác giả bao gồm nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, bí mật kinh doanh Từ đó, chúng ta có thể chia các đối tượng sở hữu công nghiệp thành hai nhóm là nhóm đối tượng
có tính sáng tạo bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn và nhóm đối tượng mang tính chỉ dẫn thương mại gồm nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại Sở dĩ không chỉ Việt Nam mà nhiều nước trên thế giới không xếp nhãn hiệu vào nhóm đối tượng có tính sáng tạo
mà lại được xếp vào nhóm đối tượng có tính chỉ dẫn thương mại trong khi nhãn hiệu ít nhiều cũng do con người sáng tạo ra là do hàm lượng sáng tạo thường không nhiều, cái làm cho nhãn hiệu được mọi người biết đến và tin dùng chính là chất lượng, mẫu mã, công năng của sản phẩm được gắn nhãn hiệu chứ không phải là bản thân nhãn hiệu Một nhãn hiệu cho dù có đặt tên hay, màu sắc có bắt mắt bao nhiêu đi chăng nữa mà chất lượng sản phẩm không đảm bảo thì cũng chẳng có ai dùng đến sản phẩm đó và lúc này nhãn hiệu đó cũng chỉ là một thứ nhãn mác tầm thường không đem lại lợi ích kinh
tế cho chủ sở hữu Ngược lại, nếu chất lượng sản phẩm tốt, mẫu mã đẹp cộng
Trang 25với chiến lược maketing hiệu quả thì nhãn hiệu được gắn lên sản phẩm đó sẽ
tự động in sâu vào trí nhớ của người tiêu dùng, nhãn hiệu đó nhanh chóng được mọi người biết đến, từ đó giá trị kinh tế của nhãn hiệu sẽ bắt đầu định hình và ngày càng được nâng lên mang lại lợi ích lớn cho chủ sở hữu Thế giới ngày nay khi nhắc đến một số các ngành hàng, lĩnh vực thì người tiêu dùng thường nghĩ ngay đến các nhãn hiệu nỗi tiếng, ví dụ: nói đến lĩnh vực phần mềm máy tính thì có Microsoft; máy tính xách tay thì có Sony vaio, hp, Apple; điện thoại di động thì có Nokia, Samsung; ti vi thì có Samsung, LG, Sony; tủ lạnh thì có Toshiba, Sharp; áo quần thì có Pierre Cardin, Cavil clein; lĩnh vực ngân hàng có HSBC; lĩnh vực bảo hiểm có Prudential, AAA,…
Nhãn hiệu không phải tự nhiên mà có, bất kỳ một nhãn hiệu nào cũng đều do con người tạo ra Do đó, chủ sở hữu nhãn hiệu có những quyền nhất định đối với nhãn hiệu Hầu hết pháp luật các nước đều ghi nhận chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp là cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc được chuyển giao văn bằng bảo
hộ Từ đó, chúng ta có thể hiểu chủ sở hữu nhãn hiệu là tổ chức, cá nhân được
cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hoặc có nhãn hiệu nỗi tiếng Nói như thế không có nghĩa là luật buộc tất cả các nhà sản xuất kinh doanh đều phải đi đăng ký bảo hộ nhãn hiệu của mình và nó cũng không có nghĩa là nếu không đăng ký bảo hộ thì nhãn hiệu đó không phải là của nhà sản xuất kinh doanh mà việc đăng ký bảo hộ tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
có thể sẽ mang lại cho chủ sở hữu nhãn hiệu những quyền năng nhất định mà người khác không có được Đặc biệt, khi có tranh chấp về quyền sở hữu nhãn hiệu xảy ra, lúc đó văn bằng bảo hộ sẽ là cơ sở pháp lý vững chắc để chứng minh quyền sở hữu nhãn hiệu thuộc về bên nào Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, nếu người tạo ra nhãn hiệu cho sản phẩm không tiến hành đăng ký bảo
hộ mà một người khác dù tạo ra nhãn hiệu đó sau nhưng lại đăng ký bảo hộ
Trang 26trước thì quyền sở hữu nhãn hiệu thuộc về bên có đăng ký bảo hộ trước, người tạo ra nhãn hiệu trước đó có thể sẽ bị mất quyền sở hữu nhãn hiệu đó
và không được sử dụng nhãn hiệu đó nữa Khi đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, chủ nhãn hiệu sẽ có quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu Quyền sở hữu
công nghiệp đối với nhãn hiệu là quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân hoặc
các chủ thể khác đối với nhãn hiệu của mình Chủ sở hữu công nghiệp đối với
nhãn hiệu có quyền sử dụng, cho phép người khác sử dụng nhãn hiệu, ngăn cấm người khác sử dụng nhãn hiệu và định đoạt nhãn hiệu [25] Quyền sở hữu đó có căn cứ pháp lý bởi Văn bằng bảo hộ đối với nhãn hiệu do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp theo đúng quy định của pháp luật
1.1.3 Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
1.1.3.1 Quyền của chủ sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu
Theo quy định của pháp luật về SHTT ở nhiều nước trên thế giới, Hiệp định TRIPS, Công ước Paris và của Việt Nam (khoản 3 Điều 751 và khoản 1 Điều 753 Bộ luật Dân sự 2005, khoản 1 Điều 123 Luật SHTT) thì chủ sở hữu nhãn hiệu có các quyền cơ bản như: Độc quyền sử dụng nhãn hiệu; chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu; định đoạt quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu; buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu đối với nhãn hiệu của mình phải chấm dứt hành vi xâm phạm và bồi thường thiệt hại
- Quyền sử dụng nhãn hiệu: chủ sở hữu có quyền đưa nhãn hiệu của mình vào nhằm khai thác công dụng để thu được các lợi ích từ chúng mang lại thông qua các hành vi như gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh
- Quyền chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu: đây là quyền thể hiện rõ nhất lợi ích kinh tế mà nhãn hiệu mang lại cho chủ sở hữu của nó Trong thời gian
Trang 27bảo hộ, chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu cho người khác Việc chuyển quyền sử dụng phải bắt buộc thể hiện dưới hình thức
ký kết hợp đồng bằng văn bản, hợp đồng này được gọi là hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (licensing agreement to use the trademark) hay còn gọi là li – xăng nhãn hiệu Khi soạn thảo và ký kết hợp đồng này, các bên phải tuân thủ các quy định về hợp đồng của pháp luật
Quyền chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu thường được thực hiện theo
hai cách: Cách thứ nhất, chủ sở hữu nhãn hiệu chuyển quyền sử dụng nhãn
hiệu thông qua hợp đồng độc quyền Tức là, chủ sở hữu chuyển giao toàn bộ quyền sử dụng nhãn hiệu của mình cho người khác; trong thời hạn của hợp đồng sử dụng nhãn hiệu đã ký kết, chủ sở hữu không được chuyển giao đối tượng đó cho bất kỳ bên thứ ba nào khác và cũng không được sử dụng nó cho
đến khi hết hạn hợp đồng Cách thứ hai, chủ sở hữu nhãn hiệu chuyển quyền
sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng không độc quyền Tức là, chủ sở hữu nhãn hiệu mặc dù đã ký hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu cho người khác nhưng đồng thời vẫn có quyền sử dụng nhãn hiệu đó và vẫn được quyền chuyển tiếp quyền sử dụng nhãn hiệu đó cho bất kỳ chủ thể thứ ba nào khác Khi kí kết hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, chủ sở hữu có quyền cho phép hoặc không cho phép bên được chuyển quyền sử dụng được
kí kết hợp đồng thứ cấp với bên thứ ba [4, 164]
- Quyền định đoạt nhãn hiệu: Quyền định đoạt ở đây được hiểu là việc chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền quyết định về sự tồn tại cũng như số phận pháp lý của nhãn hiệu Cụ thể:
Thứ nhất, chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền chuyển nhượng quyền sở hữu
nhãn hiệu của mình cho người khác thông qua một hợp đồng được ký kết dưới hình thức bằng văn bản (gọi là hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu) Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu chỉ phát sinh
Trang 28hiệu lực khi đã được đăng ký với cơ quan cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu Kể
từ thời điểm hợp đồng được đăng ký thì bên nhận chuyển nhượng có đầy đủ, toàn bộ các quyền của chủ sở hữu đối với nhãn hiệu Bên nhận chuyển nhượng cũng sẽ tiếp nhận các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu phát sinh trên cơ sở giao dịch với người thứ ba, với điều kiện điều đó phải được ghi nhận trong hợp đồng chuyển nhượng Cũng cần lưu ý rằng, việc chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu không được nhầm lẫn về đặc tính hoặc nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu
Thứ hai, chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền từ bỏ quyền sở hữu đối với
nhãn hiệu của mình Tuy nhiên, chủ sở hữu không được từ bỏ quyền sở hữu đối với nhãn hiệu thuộc phạm vi hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu đang còn thời hạn hiệu lực mà bên nhận chuyển giao không đồng ý chấm dứt hợp đồng đó trước thời hạn
Thứ ba, vì nhãn hiệu lẫn quyền chuyển giao nhãn hiệu cũng là một loại
tài sản có giá trị kinh tế (định giá được bằng tiền) nên người chủ sở hữu nhãn hiệu cũng có quyền sử dụng và định đoạt đối với loại tài sản này Một trong
số đó là quyền để lại thừa kế nhãn hiệu (theo di chúc hoặc theo pháp luật) cho những người khác sau khi chủ sở hữu nhãn hiệu chết Do đó, khi chủ sở hữu nhãn hiệu chết đi mà quyền sở hữu đối với nhãn hiệu vẫn đang còn thời hạn bảo hộ thì nó cũng được định đoạt để lại thừa kế cho những người còn sống khác tương tự như các loại tài sản khác
Thứ tư, chủ sở hữu nhãn hiệu còn thực hiện quyền định đoạt đối với
hãn hiệu thông qua việc dịch chuyển quyền theo sự sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, …pháp nhân Nhãn hiệu thường gắn kết với một loại hàng hóa, dịch vụ nào đó của doanh nghiệp, đôi khi nó còn có ý nghĩa quyết định đến việc thành công hay thất bại trong kinh doanh của chủ thể kinh doanh Do đó, nhãn hiệu cũng là sản nghiệp của chủ thể kinh doanh và chủ sở hữu của nó có quyền đối
Trang 29Thứ năm, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn
hiệu: Tại Điều 6septies
Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp (sau đây
gọi tắt là Công ước Paris) quy định: “Nếu đại lý hoặc người đại diện của
người là chủ nhãn hiệu tại một trong số các nước thành viên của Liên minh vẫn nộp đơn đăng ký nhãn hiệu cho chính mình tại một hoặc nhiều nước thành viên của Liên minh, mà không được sự cho phép của người chủ đó thì chủ nhãn hiệu có quyền phản đối việc đăng ký hoặc đề nghị huỷ bỏ việc đăng
ký đó, hoặc, nếu luật quốc gia cho phép, chuyển việc đăng ký đó cho mình, trừ trường hợp đại lý hoặc người đại diện biện hộ được cho hành động của mình” Việt Nam là một trong 162 nước thành viên của Công ước nên để áp
dụng quy định này vào thực tiễn nước ta, điểm c khoản 1 Điều 130 Luật
SHTT đã quy định “trường hợp sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước
là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại
lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên, nếu người sử dụng là người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu và việc sử dụng đó không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng” Đây là một quy định rất
cần thiết, vừa phù hợp với luật pháp quốc tế lại vừa đảm bảo cho khả năng cạnh tranh lành mạnh của nhãn hiệu trong và ngoài nước, góp phần xây dựng một môi trường kinh doanh cạnh tranh công bằng Bởi xét cho cùng, tính không trung thực khi sử dụng nhãn hiệu luôn là một biểu hiện thường thấy trong đời sống kinh doanh và cũng là một loại hành vi luôn bị cấm trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở các nước Theo lẽ thường, người sử dụng là người đại diện hay đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu phải nhận thức được rằng nhãn hiệu mà mình đang được phép sử dụng là thuộc sở hữu của người khác đang tồn tại Nếu họ vi phạm các quy định trên thì việc sử dụng nhãn hiệu của họ được xem là nhằm lợi dụng uy tín của nhãn hiệu để trục lợi và ngăn cản việc
Trang 30lưu thông của hàng hóa mang nhãn hiệu đó trên thị trường nước ngoài mà họ đang là đại lý hoặc đại diện
Thứ sáu, chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu đối với nhãn hiệu của mình phải chấm dứt hành vi xâm phạm và bồi thường thiệt hại Đây là quy định rất cần thiết nhằm tăng cường khả năng tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ của chủ sở hữu nhãn hiệu khi nhãn hiệu bị chủ thể nào đó xâm hại
1.1.3.2 Nghĩa vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu
Sau khi được cấp Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu, ngoài việc được thụ hưởng các quyền, chủ sở hữu nhãn hiệu còn phải thực hiện một số nghĩa vụ
cơ bản theo quy định của pháp luật Các nghĩa vụ cơ bản đó là:
Thứ nhất, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu gia hạn và lệ phí gia hạn hiệu lực
cho Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu Theo quy định, khi muốn gia hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ, chủ sở hữu nhãn hiệu phải nộp đơn yêu cầu gia hạn và lệ phí gia hạn hiệu lực cho Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu Khi hoàn thành việc gia hạn nói trên, hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu sẽ có hiệu lực cho 10 năm tiếp theo Nếu chủ sở hữu nhãn hiệu không thực hiện thủ tục gia hạn theo quy định thì hiệu lực của văn bằng bảo hộ nhãn hiệu sẽ bị đình chỉ theo quy định của pháp luật
Thứ hai, nghĩa vụ sử dụng nhãn hiệu Sau khi được cấp văn bằng bảo
hộ đối với nhãn hiệu, chủ sở hữu nhãn hiệu phải có nghĩa vụ sử dụng nhãn hiệu đó một cách liên tục, không được đình chỉ việc sử dụng nhãn hiệu quá thời hạn mà pháp luật cho phép Theo điểm d Khoản 1 Điều 95 Luật SHTT thì
văn bằng bảo hộ đối với nhãn hiệu sẽ bị chấm dứt hiệu lực khi “nhãn hiệu
không được chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu cho phép sử dụng trong thời hạn năm năm liên tục trước ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực mà không
có lý do chính đáng, trừ trường hợp việc sử dụng được bắt đầu hoặc bắt đầu
Trang 31lại trước ít nhất ba tháng tính đến ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực” Quy
định này có ý nghĩa rất lớn trong việc hạn chế tình trạng đăng ký mà không sử dụng (cố ý chiếm dụng nhãn hiệu làm của riêng) khiến người khác có nhu cầu
sử dụng nhãn hiệu thực sự một cách chính đáng nhưng lại không có cơ hội sử dụng nhãn hiệu đó
1.2 Khái quát chung về chuyển giao quyền sử dụng đối với nhãn hiệu
1.2.1 Khái niệm chuyển giao quyền sử dụng đối với nhãn hiệu
Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của các quốc gia trên thế giới luôn xác định sở hữu, quyền sở hữu là vấn đề quan trọng nhất của pháp luật dân sự Trong nội dung của quyền sở hữu thì quyền sử dụng tài sản là một trong những quyền năng quan trọng và có ý nghĩa thực tế của chủ sở hữu Chủ sở hữu hoàn toàn có toàn quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức của tài sản theo cách thức và mục đích sử dụng tài sản theo ý chí của mình: sử dụng hoặc không sử dụng tài sản, trực tiếp khai thác công dụng tự nhiên của tài sản hoặc để cho người khác sử dụng thông qua các giao dịch dân
sự như hợp đồng cho thuê, cho mượn Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, việc
sử dụng tài sản phải trên nguyên tắc không được làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Thông thường, chủ sở hữu là người có quyền sử dụng tài sản (trừ một số
trường hợp ngoại lệ) Như vậy, dưới góc độ pháp lý, quyền sử dụng chính là
quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản Khai thác công
dụng của tài sản được hiểu là việc dùng tài sản để phục vụ nhu cầu, sở thích của bản thân hoặc để khai thác lợi ích kinh tế của tài sản Chẳng hạn, sử dụng môtô làm phương tiện để đi lại, đeo nữ trang hay đồng hồ để làm đẹp…Hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản là việc chủ sở hữu thu nhận các sản vật
tự nhiên mà tài sản mang lại như trái cây, gia súc sinh con, gia cầm đẻ trứng… hoặc thu các khoản lợi từ việc khai thác tài sản như tiền cho thuê nhà,
Trang 32lợi tức cổ phiếu, lợi tức cho vay… Việc sử dụng các tài sản là vật tiêu hao, đặc biệt là các vật tiêu hao hết sau một lần sử dụng như việc sử dụng thức ăn,
đồ uống, tiêu tiền … cũng đồng nghĩa với việc chủ sở hữu sử dụng quyền định đoạt đối với tài sản
Với tư cách là một loại tài sản đặc biệt, nhãn hiệu cũng mang lại cho chủ sở hữu của nó quyền sử dụng đối với nhãn hiệu Theo đó, chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền thực hiện quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua một số hành vi như: gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh; lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hoá mang nhãn hiệu được bảo hộ; nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ [25] Một khi chủ sở hữu nhãn hiệu hoàn thành việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu thì chủ sở hữu đã có quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu Kể từ đó, chủ sở hữu nhãn hiệu sẽ có đầy đủ quyền hạn của mình đối với nhãn hiệu trong đó có quyền chuyển giao quyền sử dụng đối với nhãn hiệu Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể không được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể đó Để làm rõ khái niệm này trước hết chúng ta cần làm
rõ khái niệm chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp nói
chung Theo quy định tại khoản 1 Điều 141 Luật SHTT thì “chuyển quyền sử
dụng đối tượng sở hữu công nghiệp là việc chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp thuộc phạm vi quyền sử dụng của mình” Từ đó, chúng ta có thể đưa ra một
khái niệm về chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu như sau: “chuyển giao
quyền sử dụng nhãn hiệu là việc chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng nhãn hiệu thuộc phạm vi quyền sử dụng của mình trong phạm vi, thời hạn mà các bên đã thỏa thuận”
Trang 33Như vậy, việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu được xem như là một loại hoạt động thương mại bởi cả hai bên đều có mục đích tìm kiếm lợi nhuận từ việc cùng nhau sử dụng chung một nhãn hiệu trong một thời gian nhất định hoặc bên nhận chuyển giao kiếm được lợi nhuận từ việc sử dụng trực tiếp nhãn hiệu còn bên chuyển giao thu được khoản phí từ việc chuyển giao (trong trường hợp chuyển giao độc quyền quyền sử dụng nhãn hiệu) Mặt khác, để có thể chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, các bên tham gia cần phải có sự thỏa thuận với nhau (về đối tượng giao dịch, phí chuyển giao, phạm vi sử dụng,…) một cách chặt chẽ Chính sự thỏa thuận này là dấu hiệu cho phép chúng ta có thể biết được rằng giữa các bên đang tồn tại một hợp đồng chuyển giao, trong đó chứa đựng tất cả những nội dung liên quan đến vấn đề chuyển giao mà các bên thỏa thuận trên tinh thần tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi Đặc điểm cơ bản của việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu được biểu hiện ở chỗ, bên sở hữu đối tượng giao dịch là nhãn hiệu
có thể vừa khai thác nhãn hiệu nhưng cũng đồng thời cho phép người khác cùng sử dụng
1.2.2 Nội dung và hình thức chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu
1.2.2.1 Nội dung chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu
Cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế thế giới, các đối tượng sở hữu trí tuệ đã trở thành những thứ “hàng hóa” có thể được trao đổi, mua bán nhằm mục đích thu lợi nhuận Nằm trong chuỗi các hoạt động thương mại về quyền sở hữu công nghiệp có việc chuyển giao quyền sử dụng đối với nhãn hiệu Đây là hoạt động mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng nhãn hiệu thuộc phạm vi quyền sử dụng của mình Hoạt động này chỉ là việc “cho phép” sử dụng nhãn hiệu mà người ta còn gọi là hoạt động li – xăng nhãn hiệu chứ không phải là “bán đứt” quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu Người nhận chuyển giao chỉ có quyền khai thác
Trang 34công dụng của nhãn hiệu để thu lợi nhuận trong khi quyền sở hữu đối với nhãn hiệu vẫn thuộc về chủ sở hữu nhãn hiệu (Bên chuyển giao) Việc chuyển giao quyền sử dụng phải thể hiện được nội dung chủ yếu đó là bên chuyển giao cho phép bên nhận chuyển giao có thể gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy
tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh; lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hoá mang nhãn hiệu được bảo hộ; nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu được bảo hộ Bên chuyển giao cũng có thể không chuyển giao toàn bộ nội dung kể trên mà chỉ chuyển giao cho bên nhận chuyển giao một phần của quyền sử dụng nhãn hiệu
1.2.2.2 Hình thức chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu
Hiện nay, nhiều nước trên thế giới như Mĩ, Pháp và ngay ở tại Việt Nam đã ghi nhận hình thức chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu phổ biến là hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (cấp li – xăng nhãn hiệu)
Việc cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu cho một ai đó điều đó có nghĩa là người đó chính là chủ sở hữu hợp pháp của nhãn hiệu đó Do đó, chủ sở hữu nhãn hiệu có toàn quyền đối với nhãn hiệu của mình trong đó có cả quyền chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu cho người khác (cấp li – xăng nhãn hiệu) Điều 21 Hiệp định TRIPS quy định cho phép các quốc gia thành viên
có thể quy định điều kiện cấp li – xăng nhãn hiệu Theo quy định của pháp luật Việt Nam, việc cấp li – xăng phải được thể hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản Hợp đồng này có hiệu lực theo thoả thuận giữa các bên, nhưng chỉ có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba khi đã được đăng ký tại cơ quan quản
lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp [25] Khi chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, kể từ ngày hợp đồng li – xăng được đăng ký tại cục Sở hữu trí tuệ, bên nhận chuyển giao có quyền sử dụng nhãn hiệu trong phạm vi, thời hạn và với điều kiện ghi trong hợp đồng đã được đăng ký Chủ sở hữu nhãn
Trang 35hiệu không được từ bỏ quyền sở hữu nhãn hiệu trong khi hợp đồng li – xăng đang còn hiệu lực mà không được sự đồng ý chấm dứt hợp đồng li – xăng trước thời hạn của bên nhận chuyển giao
1.2.3 Ý nghĩa của việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu
Để xây dựng một nhãn hiệu thành công, doanh nghiệp không những chỉ đơn thuần là gắn nó lên sản phẩm do mình làm ra mà phải có một chiến lược phát triển nhãn hiệu khôn khéo Một trong những chiến lược tiêu biểu đó là thực hiện việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu cho một hoặc nhiều chủ thể khác Thông qua hoạt động này, nhãn hiệu của doanh nghiệp sẽ được nhiều người tiêu dùng biết đến hơn và thậm chí trở thành những nhãn hiệu mang tầm cỡ toàn cầu Thật vậy, khi mới thành lập năm 1891, Philips (hãng sản xuất đèn điện tử của Hà Lan) chuyên sản xuất đèn điện và các thiết bị điện
tử khác, và đến những năm 1920, Philips mở rộng sang Mỹ, Pháp và Bỉ Ngày nay, Philips không chỉ đơn thuần là một nhãn hiệu của Hà Lan được giới thiệu
ra toàn thế giới nữa nhưng là một nhãn hiệu địa phương Bất cứ tại Áo, Ấn
Độ, Úc, Mỹ… ai ai cũng có thể khẳng định điều này Philips đã trở nên thân thuộc như “người một nhà” ở nhiều quốc gia Trong hoạt động chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, cả bên chuyển giao lẫn bên nhận chuyển giao và thậm chí là nhà nước cùng toàn xã hội sẽ thu được không ít lợi ích Cụ thể:
- Đối với bên chuyển giao: Bên chuyển giao sẽ thu được một khoản tiền (phí chuyển giao) từ việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu để có thêm lợi nhuận hoặc lợi ích vật chất khác mà không phải trực tiếp sử dụng nhãn hiệu Điều này càng phát huy tính hữu ích của nó khi chủ sở hữu nhãn hiệu không hoạt động kinh doanh hoặc không có năng lực kinh doanh Còn đối với những doanh nghiệp đã tạo lập nhãn hiệu thành công thì việc chuyển giao nhãn hiệu cũng là phương thức hữu hiệu để họ mở rộng mạng lưới kinh doanh, quảng bá sản phẩm trong và ngoài nước, tăng doanh thu Đặc biệt, việc chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu còn giúp các nhà sản xuất, kinh doanh có khả năng
Trang 36bảo vệ nhãn hiệu cho sản phẩm của mình tốt hơn trước các hành vi xâm phạm nhãn hiệu bởi bên nhận chuyển giao sẽ là “tai mắt” cho bên chuyển giao trong việc thu thập các thông tin liên quan đến việc xâm phạm nhãn hiệu
- Đối với bên nhận chuyển giao: Bên nhận chuyển giao lại muốn khai thác nhãn hiệu của người khác để gắn lên hàng hóa, dịch vụ của mình trong khi không cần phải mất thời gian tạo ra nhãn hiệu có “tên tuổi” cho sản phẩm của mình nhưng vẫn được thụ hưởng lợi ích kinh tế từ việc khai thác nhãn hiệu đó (đặc biệt là nhận được quyền sử dụng các nhãn hiệu nỗi tiếng)
- Đối với nhà nước và xã hội: Một khi nhãn hiệu của một hàng hóa, dịch
vụ nào đó đã trở nên nổi tiếng, được nhiều người biết đến không chỉ trong nước
mà còn ở nước ngoài thì hoạt động xuất khẩu các sản phẩm đó sẽ được đẩy mạnh, nhà nước sẽ thu được lượng ngoại tệ nhiều hơn từ hoạt động xuất khẩu [29, 45] Đồng thời, nhãn hiệu còn xây dựng sức mạnh tiêu thụ nội địa và đóng góp nhiều hơn cho ngân sách nhà nước Ngoài ra, do nhãn hiệu có thể mang lại cho doanh nghiệp những giá trị kinh tế lớn lao nên sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp xây dựng cho mình các nhãn hiệu nỗi tiếng, nhưng để xây dựng được nhãn hiệu nỗi tiếng có uy tín trong lòng khách hàng thì vấn đề tiên quyết mà doanh nghiệp buộc phải làm là không ngừng nâng cao chất lượng hàng hóa, phong cách phục vụ Do đó, người tiêu dùng sẽ được thụ hưởng những sản phẩm có chất lượng tốt với phong cách phục vụ chu đáo và chuyên nghiệp
1.2.4 So sánh chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu với chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu và với chuyển giao quyền sử dụng đối với một số đối tượng SHCN khác
1.2.4.1 So sánh chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu với chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu
Trong chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu (li–xăng nhãn hiệu), người cấp li-xăng vẫn tiếp tục sở hữu quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu, mà chỉ cho phép người nhận li-xăng được sử dụng nhãn hiệu trong giới hạn nhất
Trang 37định Trong hoạt động chuyển nhượng (bán) quyền, quyền sở hữu nhãn hiệu được chuyển từ người nhượng quyền (người bán) sang người tiếp nhận quyền (người mua) Đây là hình thức giao dịch một lần với mức giá thỏa thuận
Việc phân biệt giữa chuyển giao quyền sử dụng (li-xăng) và chuyển nhượng quyền sở hữu là vô cùng quan trọng nhằm xác định ai có quyền khởi kiện hành vi xâm phạm nhãn hiệu đã được li-xăng và đối tượng bị đánh thuế
(i) Quyền khởi kiện hành vi xâm phạm quyền: Để xác định ai có thể khởi kiện hành vi xâm phạm quyền thì theo nguyên tắc chung, chỉ người tiếp nhận quyền (người mua) quyền sở hữu nhãn hiệu mới có quyền khởi kiện hành vi xâm phạm quyền, còn người nhận li-xăng thì không thể thực hiện việc này Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người nhận li-xăng độc quyền có thể được trao quyền khởi kiện
(ii) Đối tượng bị đánh thuế:
+ Chuyển giao quyền sử dụng (li-xăng):
- Đối với người nhận xăng: Tiền thù lao phải trả theo hợp đồng xăng được khấu trừ vào chi phí kinh doanh của người nhận li-xăng
li Đối với người cấp lili xăng: Tiền thù lao được nhận theo hợp đồng li-xăng được tính vào thu nhập thường xuyên của người cấp li-xăng (có thể
bị đánh thuế)
+ Chuyển nhượng quyền:
- Người nhận chuyển nhượng: Khoản tiền thanh toán cho việc chuyển nhượng quyền sẽ được coi là tiền vốn của người nhận chuyển nhượng
- Người chuyển nhượng: Khoản tiền nhận được từ việc chuyển nhượng quyền có thể bị đánh thuế như là thu nhập của người chuyển nhượng quyền
1.2.4.2 Phân biệt chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu với chuyển nhượng tên thương mại
Tên thương mại được hiểu là “tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong
Trang 38hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh” Trong
thực tế kinh doanh, rất nhiều doanh nghiệp đã lấy chính tên thương mại của mình để làm nhãn hiệu cho hàng hóa mà mình sản xuất ra hoặc dịch vụ do mình cung cấp Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, những trường hợp như vậy không phải là hiếm, điển hình như: Công ty công nghiệp Sony với các sản phẩm điện tử (máy vi tính, ti vi…) mang nhãn hiệu Sony; Công ty cổ phần cà phê Trung Nguyên với sản phẩm cà phê mang nhãn hiệu Trung Nguyên; công
ty cổ phần sữa Việt Nam có tên viết tắt là Vinamilk với sản phẩm sữa tươi có nhãn hiệu là Vinamilk; công ty trách nhiệm hữu hạn Thiên Hương với sản phẩm mè xững mang nhãn hiệu Thiên Hương…Do đó, nhiều người không biết phân biệt được đâu là nhãn hiệu, đâu là tên thương mại, tên thương mại
và nhãn hiệu có phải là một hay không? Chính vì vậy mà dẫn đến việc nhầm lẫn khi hiểu chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu cũng chính là chuyển nhượng tên thương mại
Từ khái niệm về nhãn hiệu và tên thương mại đã được đề cập ở những phần trên, chúng ta có thể khẳng định rằng nhãn hiệu khác với tên thương mại Bởi nhãn hiệu không chỉ đơn thuần là một cái tên được gắn lên sản phẩm
mà còn bao gồm nhiều dấu hiệu khác nhìn thấy được như chữ cái, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc, tất cả nhằm để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác Còn tên thương mại chỉ đơn thuần là tên gọi của chủ thể kinh doanh, gắn liền với chủ thể kinh doanh và được dùng để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh Tên thương mại phải là tập hợp các chữ, phát âm được và có nghĩa Tên thương mại bao gồm hai phần: Phần mô tả và phần phân biệt Phần mô tả là một tập hợp các
Trang 39từ có nghĩa mô tả tóm tắt loại hình doanh nghiệp và lĩnh vực kinh doanh Phần phân biệt là tập hợp các chữ cái phát âm được, có thể có nghĩa hoặc không có nghĩa Phần mô tả không có khả năng tạo nên tính phân biệt cho tên thương mại (hai doanh nghiệp có tên thương mại khác nhau có thể có phần
mô tả giống nhau) Ví dụ: Với tên Công ty TNHH xây dựng Thắng Lợi Phần
mô tả là “Công ty TNHH xây dựng”, phần phân biệt là “Thắng Lợi”, phân biệt với “Công ty TNHH xây dựng Hiếu Hằng” Tuy nhiên, pháp luật cũng không có quy định ngăn cấm chủ thể kinh doanh sử dụng tên thương mại làm nhãn hiệu cho sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của mình, tức là trong một số trường hợp nhãn hiệu có thể trùng với tên thương mại Một điểm khác biệt nữa là tên thương mại thường được sử dụng lâu dài, liên tục trong suốt thời gian tồn tại chủ thể kinh doanh Còn NHHH thường chỉ được sử dụng nhất thời cho một vài thế hệ hàng hoá nhất định, nhà sản xuất có thể thay đổi cho phù hợp thị hiếu người tiêu dùng
Từ các cơ sở lý luận đó, chúng ta có thể khẳng định rằng, chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu khác với chuyển nhượng tên thương mại Chủ sở hữu nhãn hiệu có thể chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng nhãn hiệu của mình cho người khác khi các bên đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Chuyển giao quyền sở hữu và quyền sử dụng nhãn hiệu không đòi hỏi chủ sở hữu nhãn hiệu phải chuyển giao đồng thời toàn bộ cơ sở sản xuất kinh doanh cho bên nhận chuyển giao Còn đối với tên thương mại, chủ
sở hữu tên thương mại chỉ được phép chuyển nhượng quyền sở hữu tên thương mại cho người khác với điều kiện phải được chuyển nhượng cùng với việc chuyển nhượng toàn bộ cơ sở kinh doanh và hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó (điều này được thể hiện rõ tại khoản 2 Điều 753 BLDS, khoản 3 Điều 139 Luật SHTT của Việt Nam) Đồng thời, khoản 1 Điều 142 Luật SHTT quy định cấm chuyển giao quyền sử dụng đối với tên thương mại,
Trang 40tức là chủ sở hữu tên thương mại chỉ có thể chuyển nhượng quyền sở hữu chứ không được chuyển giao riêng quyền sử dụng tên thương mại cho chủ thể kinh doanh khác
1.2.4.3 Phân biệt chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu với nhượng quyền thương mại
Nhượng quyền thương mại (franchise) là hình thức kinh doanh khá phổ biến và đang được ưa chuộng trên trên thế giới Hình thành từ thế kỷ 19, hình thức này không ngừng được mở rộng, phát huy tính hiệu quả trong kinh doanh Tại Việt Nam, hình thức nhượng quyền thương mại hình thành vào những năm 90 của thế kỷ 20 Và trong những năm gần đây Việt Nam có những điều kiện rất thuận lợi cho hoạt động kinh doanh với tốc độ tăng trưởng GDP khá ổn định, một quốc gia có dân số gần 90 triệu người, tình hình kinh tế ổn định, nhà nước khuyến khích đầu tư, sức mua của thị trường được đánh giá là khá cao trên thế giới Hơn nữa, nước ta đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO, mở ra nhiều cơ hội cho các nhà kinh doanh cả trong và ngoài nước Trong bối cảnh như vậy, rõ ràng việc quyết định lựa chọn hình thức kinh doanh nào đảm bảo cho nhà đầu tư có được hiệu quả tốt nhất về sử dụng vốn, phát triển nhanh thị trường, mở rộng nhanh thị phần và kiểm soát được hệ thống nhằm tạo được tiếng nói đối với thị trường này là điều rất được quan tâm Rõ ràng, hình thức nhượng quyền thương mại sẽ là một sự lựa chọn cho cả nhà nhượng quyền và nhà nhận quyền và hình thức kinh doanh này sẽ phát triển mạnh tại Việt Nam trong những năm tới Theo quy định tại Điều 284 Luật Thương mại 2005, nhượng quyền thương mại
được hiểu là “hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và
yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây: