Và căn cứ vào việc thoả thuận giữa các bên không được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về hình thức hợp đồng, bên vi phạm có thể yêu cầu Toà tuyên huỷ hợp đồng.. Điều 400 BLDS
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THANH HẰNG
HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG-MỘT SỐ VẤN ĐỀ VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ, PHƯƠNG HƯỚNG
HOÀN THIỆN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:Tiến sĩ.BÙI ĐĂNG HIẾU
HÀ NỘI - 2006
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các tư liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Những kiến nghị nêu trong luận văn này là quan điểm độc lập của
cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Thanh Hằng
MỤC LỤC Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Trang 3Phần mở đầu 01 Chương 1: Lý luận chung về hình thức hợp đồng 10
1.1 Khái niệm hình thức hợp đồng 10 1.2 Phân loại hình thức hợp đồng 17
2.1 Cách thức biểu hiện và nguyên tắc xác lập 22 2.2 Các trường hợp giao kết hợp đồng bằng lời nói 25 2.3 Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bằng lời nói 28
Chương 3: Hình thức hợp đồng bằng văn bản 31
3.1 Cách thức biểu hiện của hình thức hợp đồng bằng văn bản 31 3.2 Các trường hợp giao kết hợp đồng bằng văn bản 35 3.3 Phân loại hợp đồng bằng văn bản 37 3.4 Phân biệt yêu cầu hình thức với yêu cầu công chứng, chứng thực và yêu cầu
Chương 5: Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng và những đề xuất,
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Bộ luật dân sự được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua vào ngày 28 tháng 10 năm 1995 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 1996 là bước tiến bộ đáng kể trong sự nghiệp bảo vệ các quyền dân sự cơ bản của công dân Sự ra đời của bộ luật (sau đây xin được viết tắt là BLDS) không chỉ tạo lập ra hành lang pháp lý để các nhà hành pháp thực thi mà ý nghĩa sâu xa của nó chính là sự thể hiện một cuộc cách mạng trong đổi mới tư duy lập pháp, hành pháp và tư pháp Các nhà lập pháp Việt Nam đã có sự tiếp thu, học hỏi những quy định pháp luật từ thực tiễn cũng như luật pháp của các nước trên thế giới, cân nhắc chúng cùng với hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam để đưa ra một văn bản có tính chuẩn mực pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật dân sự Kể từ đây, mọi quan hệ dân sự được cụ thể hoá, pháp điển hoá một cách rõ ràng và mang tính khuôn mẫu xử sự Điều này chấm dứt tình trạng lúng túng khi giải quyết những trường hợp tranh chấp dân sự tại Toà án các cấp do không có văn bản pháp luật làm cơ sở hay hướng dẫn thi hành, hoặc do sự thiếu vắng những quy định liên quan mang tính logic Việc
áp dụng pháp luật hoàn toàn mang tính thụ động, không bảo đảm cho việc bảo
vệ quyền và lợi ích của các chủ thể trong giao lưu dân sự, cũng như làm nghèo nàn đi tư duy pháp lý của chính các cán bộ trong ngành tư pháp Chính
vì vậy, những quy định của BLDS đã nhanh chóng đi vào đời sống xã hội Việt Nam, phát huy được hiệu quả của nó: góp phần điều chỉnh, ổn định tình hình kinh tế - xã hội, đời sống dân sự của cộng đồng dân cư, là cơ sở pháp lý khá đầy đủ cho Toà án trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong đời sống dân sự
Hợp đồng dân sự là mảng quan hệ pháp luật vô cùng quan trọng, là một
Trang 5trong những chế định pháp lý cổ xưa nhất, xuất hiện sớm nhất trong nội dung luật dân sự Hợp đồng dân sự là sự khái quát các hình thức giao lưu phong phú của con người Quan hệ hợp đồng luôn thể hiện tính phức tạp và đa dạng bởi nhiều nguyên nhân mà trong đó, luôn tồn tại mâu thuẫn về quyền và lợi ích giữa các bên Bởi vậy, nó luôn chiếm vị trí quan trọng, trở thành một bộ phận không thể thiếu trong pháp luật dân sự Ở Việt Nam, sau khi giành được độc lập, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với chế định này cũng đã có sự lưu ý nhất định và mang đặc điểm riêng nhưng chưa có sự pháp điển hoá ở mức cao và còn thiếu thống nhất Một loạt văn bản về hợp đồng được ban hành như Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (năm 1989) và Pháp lệnh hợp đồng dân sự (năm 1991) Trước đó, phải
kể đến hai Pháp lệnh về chuyển giao công nghệ và về sở hữu công nghiệp, trong đó cũng có phần quy định về hợp đồng Tuy nhiên, phải đến khi ra đời BLDS, hợp đồng dân sự mới được xem xét, quy định một cách đầy đủ và toàn diện Hiện nay, trong BLDS sửa đổi năm 2005, chế định hợp đồng dân sự chiếm tới hơn 200 điều, trên tổng số 777 điều của bộ luật Bên cạnh những quy định mang tính chung về hợp đồng, BLDS cũng quy định về 13 loại hợp đồng thông dụng Đây là cơ sở pháp lý không chỉ cho việc áp dụng, giải quyết các tranh chấp dân sự mà còn là cơ sở khởi nguồn của nhiều loại hợp đồng phát sinh trong đời sống xã hội hiện đại
Tuy nhiên, thực tiễn cuộc sống luôn phong phú và phức tạp, những quy định của BLDS, trong đó một số quy định về hợp đồng vẫn còn thể hiện những điểm chưa phù hợp, còn thiếu vắng những quy định cụ thể, có tính điều chỉnh phong phú hơn Hệ quả của những bất cập này có thể thấy ngay qua con
số thống kê về các vụ tranh chấp liên quan đến hợp đồng tại Toà án nhân dân các cấp rất lớn, lên đến hàng trăm ngàn vụ kiện Và trên thực tế, con số các vụ
án mà Toà án đã giải quyết còn khiêm tốn so với tổng số vụ án thụ lý Đồng
Trang 6thời, tỉ lệ các vụ án phải xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm, tái thẩm, giám đốc thẩm cũng không phải nhỏ Trước thực tiễn xét xử như vậy, chúng ta buộc phải đặt câu hỏi: liệu pháp luật đã thực sự trở thành công cụ bảo vệ quyền và lợi ích cho các chủ thể trong giao kết hợp đồng dân sự hay chưa? Hiện nay, chúng ta đang đẩy mạnh quá trình xây dựng và phát triển nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu đảm bảo sự công bằng xã hội Quá trình hội nhập quốc tế đang mở ra nhiều cơ hội và thách thức Chừng nào pháp luật chưa trở thành công cụ cơ bản điều chỉnh các quan
hệ xã hội thì chừng đó, chúng ta còn đứng ngoài sự phát triển chung của thế giới
Trong quá trình giải quyết các tranh chấp về hợp đồng dân sự tại Toà án, nhiều bất cập cũng như khó khăn buộc chúng ta phải nhìn nhận, xem xét lại
cơ sở pháp lý và thực tiễn Khó khăn trong việc giải quyết các vụ án không chỉ do nội dung tranh chấp phức tạp, do các bên đương sự không hợp tác thiện chí, không đưa ra hoặc đưa ra các chứng cứ ngụy biện khiến việc xác minh rất vất vả Mặt khác, một nguyên nhân nữa là do pháp luật còn thiếu những quy định cụ thể, hợp lý làm cơ sở cho Tòa án trong việc vận dụng, giải quyết các tranh chấp dân sự Không ít các tranh chấp hợp đồng, nếu xét ở một khía cạnh nào đó, bị Tòa án tuyên bố vô hiệu đã gây thiệt hại đáng kể cho các bên Tính công bằng, tính hợp lý của luật pháp chưa được suy tôn, quyền và lợi ích chính đáng của các bên chưa được bảo vệ Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là việc còn thiếu những quy định chặt chẽ, cụ thể và phù hợp về hình thức hợp đồng
Hợp đồng, theo điều 388 BLDS sửa đổi năm 2005 “là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quỳên, nghĩa vụ dân sự” Để giải quyết tranh chấp, vấn đề đầu tiên mà Tòa án cần xác định bao
Trang 7giờ cũng được đặt ra là: có tồn tại quan hệ hợp đồng giữa các bên hay không?
Từ đó mới xác định: các bên đã giao kết những nội dung cụ thể về quyền và nghĩa vụ như thế nào? Trong mọi trường hợp, trách nhiệm của đương sự là chứng minh có hợp đồng được giao kết thông qua phương thức tồn tại của hợp đồng, hay phải chỉ ra rằng, giao kết hợp đồng đã được xác lập dưới một hình thức nhất định Trong thực tế, những tranh chấp liên quan trực tiếp về hình thức hợp đồng có rất nhiều Sự ghi nhận hợp đồng một cách không rõ ràng, không phản ánh một cách chính xác ý chí thỏa thuận giữa các bên chính
là một trong những nguyên cớ để bên có gian ý chối bỏ trách nhiệm thực hiện hợp đồng Và căn cứ vào việc thoả thuận giữa các bên không được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về hình thức hợp đồng, bên vi phạm có thể yêu cầu Toà tuyên huỷ hợp đồng Phần nhiều những hợp đồng này không được giao kết theo đúng hình thức luật định do sự chủ quan hoặc thiếu hiểu biết của các bên, hậu quả là quyền và lợi ích chính đáng của chính họ đã không được bảo vệ Đây cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản làm giảm tính tôn nghiêm và công bằng của pháp luật Phải nhìn nhận rằng, người dân chưa có thói quen tìm hiểu các quy định của pháp luật trước khi tham gia vào một loại giao dịch dân sự nào đó Họ chỉ hành xử theo nhận thức cảm tính của cá nhân Đúng là người dân còn thiếu hiểu biết về pháp luật nhưng cũng cần phải thừa nhận rằng: pháp luật chưa thực sự đến được với người dân, chưa đi vào được đời sống xã hội để trở thành nguyên tắc ứng xử của con người với nhau trong đời sống xã hội đang ngày càng trở nên hiện đại Chừng nào Tòa án chưa phải là nơi đem lại sự công bằng, bảo vệ quyền lợi của người dân thì khi ấy, tâm lý coi thường pháp luật, coi thường sự nghiêm minh của những cơ quan tư pháp còn tồn tại Muốn thay đổi, trước hết cần xem xét lại tính hiệu quả của những quy phạm pháp luật trong thực tiễn
Đề tài “Hình thức của hợp đồng - một số vấn đề và những kiến nghị,
Trang 8phương hướng hoàn thiện” nhằm giải quyết những vấn đề mang tính lý luận,
nhằm giải quyết những tồn tại trong thực tiễn áp dụng pháp luật Đây là một
đề tài cho đến nay, còn những quan điểm chưa thống nhất, thiếu tính hệ thống Những công trình nghiên cứu về hình thức hợp đồng chưa có nhiều, còn rất khiêm tốn so với những nội dung khác Những vấn đề lý luận về hình thức hợp đồng bao gồm nội dung gì, bản chất hình thức hợp đồng, ý nghĩa và vai trò của nó trong việc xác định hiệu lực hợp đồng cần được xem xét và nhìn nhận như thế nào trong hệ thống lý luận hợp đồng dân sự nói chung vẫn
là đề tài có tính mới mẻ và bức thiết Những vấn đề trên lý giải vì sao chúng
tôi lại lựa chọn đề tài “Hình thức của hợp đồng – một số vấn đề và những
kiến nghị, phương hướng hoàn thiện” làm luận văn tốt nghiệp với mong
muốn giải quyết những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn, là cơ sở cho việc hoàn thiện thêm chế định hợp đồng – một trong những chế định cơ bản, cốt lõi nhất của BLDS
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Hợp đồng vốn là một chế định pháp lý mang tính cổ xưa nhất của ngành luật dân sự Những vấn đề pháp lý về hợp đồng có rất nhiều, thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của rất nhiều nhà nghiên cứu luật pháp, các luật gia cũng như các cán bộ trong ngành tư pháp Những công trình nghiên cứu về hợp đồng, những bài viết trên các tạp chí về những nội dung của hợp đồng có rất nhiều Rất nhiều nghiên cứu được đưa ra và giải quyết những vấn đề về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, thời điểm giao kết hợp đồng hay đi vào giải quyết từng loại hợp đồng cụ thể như hợp đồng mua bán, hợp đồng dịch vụ… Hình thức hợp đồng cũng không phải là một vấn đề pháp lý mới mẻ Thông thường, khi nghiên cứu hay đề cập đến hợp đồng và hiệu lực hợp đồng, bao giờ người
ta cũng chú ý đến các yếu tố làm hợp đồng bị vô hiệu Riêng về việc xác định hiệu lực của hợp đồng, luật dân sự của các quốc gia có quy định rất khác
Trang 9nhau, trong đó, phần nhiều là quan niệm: hình thức hợp đồng có phải là một trong những điều kiện đủ để hợp đồng có hiệu lực hay không? Nếu có thì căn
cứ là gì? Nếu không thì tại sao? Những vấn đề trên không dễ lý giải một cách tường tận mà đôi khi, chúng phụ thuộc nhiều vào quan điểm của các nhà lập pháp Trong khoa học pháp lý Việt nam, rất nhiều các nhà nghiên cứu luật học tỏ rõ sự quan tâm của mình khi đề cập tới vấn đề này trong các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành Tuy nhiên, những ý kiến trao đổi này không phải chỉ nhằm giải quyết một vấn đề cụ thể như là hình thức hợp đồng
mà thực tế, nó mới được nhắc đến như là một trong những vấn đề có liên quan đến hợp đồng và hiệu lực hợp đồng Ngay cả trong các hợp đồng cụ thể, sự quan tâm cũng chưa được thể hiện rõ ràng Như vậy, những nghiên cứu liên quan đến vấn đề này còn khiêm tốn, chủ yếu thực hiện dưới góc độ những bài viết nghiên cứu, trao đổi hay chỉ được đề cập trong một phần nào đó của những luận văn, luận án Thế nhưng, những bài viết mang tính nghiên cứu trên chưa phản ánh đúng tầm một hiện tượng đang nổi cộm: mỗi một năm, Toà án nhân dân các cấp phải thụ lý hàng trăm nghìn trường hợp tranh chấp liên quan đến hình thức hợp đồng Tỉ lệ án phúc thẩm, giám đốc thẩm các vụ
án này cũng không hề nhỏ Điều này chứng tỏ, vấn đề hình thức hợp đồng đang cần có sự sửa đổi, hoàn thiện hơn nữa, giảm thiểu tối đa những tranh chấp không đáng có, những sai sót trong việc áp dụng pháp luật của các cơ
quan tư pháp Do vậy, đề tài “Hình thức của hợp đồng – một số vấn đề và
những kiến nghị, phương hướng hoàn thiện” hết sức có ý nghĩa trong việc
giải quyết về một vấn đề cụ thể cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn
3 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ CỦA VIỆC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:
Đề tài “Hình thức của hợp đồng – một số vấn đề và những kiến nghị,
phương hướng hoàn thiện” cố gắng giải quyết một vấn đề pháp lý cụ thể
một cách tương đối hoàn chỉnh, bao quát Vấn đề đặt ra đối với bản luận văn
Trang 10là phải nghiên cứu, làm rõ bản chất pháp lý của hình thức hợp đồng là gì trong mối quan hệ với hợp đồng? Trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề pháp lý liên quan, phân tích được nội hàm và đưa ra khái niệm pháp lý hoàn chỉnh về hình thức hợp đồng Tổng hợp với những vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra, đưa ra những kiến nghị nhằm mục đích hoàn thiện hơn nữa những vấn đề pháp lý về hình thức hợp đồng
Để đạt được mục tiêu đặt ra, cần thiết giải quyết những vấn đề cơ bản sau:
Trên cơ sở vận dụng lý luận về hợp đồng, tiếp cận và đưa ra một cách nhìn tổng quát về hình thức hợp đồng cũng như xây dựng khái niệm pháp
lý về hình thức hợp đồng;
Trên cơ sở luật thực định, xem xét và đánh giá những quy định hiện hành liên quan đến hình thức hợp đồng, đặc biệt mối tương quan giữa hình thức hợp đồng với hiệu lực hợp đồng cũng như tìm hiểu nguyên tắc giải quyết tranh chấp liên quan đến hình thức hợp đồng;
Tổng kết, đánh giá thực tiễn tranh chấp tại Toà án, đưa ra những kiến nghị, phương hướng hoàn thiện nội dung pháp lý về hình thức hợp đồng
So với những vấn đề pháp lý về hợp đồng dân sự nói chung, những vấn
đề lý luận về hình thức hợp đồng được nghiên cứu còn khiêm tốn Do đó, việc giải quyết những nội dung có tính chuyên sâu về hình thức hợp đồng chắc chắn không dễ dàng, đòi hỏi sự nghiên cứu, tham khảo tài liệu tương đối rộng
và phong phú
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:
Trong phạm vi thực hiện đề tài, chúng tôi tập trung nghiên cứu, giải quyết về mặt lý luận những vấn đề trực tiếp liên quan của hình thức hợp đồng, trên cơ sở có sự tham khảo, đối chiếu với quan điểm của các nhà lập pháp một
số quốc gia khác, nhận định những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn giải
Trang 11quyết tranh chấp từ hình thức hợp đồng để đưa ra quan điểm của luận văn, kiến nghị nhằm hoàn thiện những quy định liên quan đến hình thức hợp đồng, hoàn thiện pháp luật dân sự nói chung, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong giao lưu dân sự
5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN VĂN
Cho đến nay, hình thức hợp đồng vẫn là một vấn đề lý luận mới mẻ và chưa được nghiên cứu một cách toàn diện Mặc dù đã có nhiều bài viết đăng trên tạp chí nghiên cứu khoa học pháp lý nhưng nhìn chung, mới chỉ thực hiện trong phạm vi nhỏ, đặc biệt không nhằm giải quyết những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn trực tiếp có liên quan đến bản chất pháp lý của hình thức hợp đồng
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu các ngành khoa học nói chung, trong đó có luật học đòi hỏi không chỉ sự nghiên cứu, tìm tòi những vấn đề thuần lý luận mà phải kết hợp với thực tiễn áp dụng pháp luật có liên quan Bởi vậy, cơ sở phương pháp luận mà bản luận văn sử dụng chính là Chủ nghĩa Mác – Lê nin cùng tư tưởng
Hồ Chí Minh – những quan điểm biện chứng và duy vật về xã hội Đồng thời, không thể tách rời các quan điểm của Đảng ta về Nhà nước và pháp luật Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, thống kê và một số phương pháp khác Kết hợp nghiên cứu về mặt lý luận với thực tiễn, việc tham khảo các tài liệu khoa học pháp lý, ý kiến của các chuyên gia cũng như các cán bộ thực tiễn cũng làm phong phú thêm nội dung luận văn, hoàn chỉnh hơn về các đánh giá, đưa ra các quan điểm của luận văn
7 CƠ CẤU LUẬN VĂN
Đề tài “Hình thức của hợp đồng – một số vấn đề và những kiến nghị,
Trang 12phương hướng hoàn thiện” bao gồm ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung
và phần kết luận:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung
Chương 1: Lý luận chung về hình thức hợp đồng
Chương 2: Hình thức hợp đồng bằng lời nói
Chương 3: Hình thức hợp đồng bằng văn bản
Chương 4: Hình thức hợp đồng bằng hành vi
Chương 5: Những vấn đề thực tiễn tranh chấp về hình thức hợp đồng và một
số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về hình thức hợp đồng
Trang 13vụ quản lý xã hội bằng pháp luật của Nhà nước Tuy nhiên, qua một thời gian
áp dụng vào thực tiễn, BLDS đã bộc lộ một số điểm chưa phù hợp và cần phải được sửa đổi, bổ sung Một trong những nội dung cần có sự nghiên cứu và sửa đổi, bổ sung trong Bộ luật là vấn đề hình thức hợp đồng – một vấn đề mang tính lý luận phức tạp và có nhiều điểm chưa được nhận thức đầy đủ Đây là một khái niệm pháp lý cơ bản trong chế định hợp đồng – chế định có vai trò xương sống của BLDS Rất nhiều những quy định liên quan trực tiếp đến vấn đề hình thức hợp đồng như thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, hợp đồng vô hiệu … vì thế chưa có được cách hiểu và áp dụng thống nhất
Có thể nói rằng, khái niệm hợp đồng dân sự được xây dựng trong BLDS
Trang 14năm 1995 cũng như BLDS sửa đổi năm 2005 khá rõ ràng và phản ánh được bản chất quan hệ hợp đồng dân sự Tại Điều 388 BLDS sửa đổi năm 2005,
hợp đồng dân sự “là sự thoả thuận về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự” Đồng thời, Bộ luật cũng ghi nhận nguyên tắc có
tính chất quyết định, xuyên suốt toàn bộ tinh thần của một thoả thuận hợp
đồng, đó chính là nguyên tắc “Tự do hợp đồng” Sự thoả thuận của các bên
trong hợp đồng ở đây phải đạt được dựa trên sự tự do ý chí và đồng thuận của các bên Tự do hợp đồng là tự do ý chí và thể hiện ý chí của từng bên Nội dung cụ thể của nó là tự do lựa chọn đối tác, tự do lựa chọn đối tượng hợp đồng cũng như tự do lựa chọn hình thức hợp đồng Tất nhiên, pháp luật cũng
có những hạn chế để sự tự do này không gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi của những chủ thể khác và trật tự xã hội Không một hợp đồng nào được chấp nhận có giá trị pháp lý nếu vi phạm nguyên tắc này Tuy nhiên, chỉ khi nào sự tự do ý chí của các bên và sự đồng thuận được thể hiện dưới một hình thức nào đó thì hợp đồng đó mới tồn tại Hay nói cách khác, hợp đồng không bao giờ tồn tại trong ý tưởng hay suy nghĩ của con người mà nó phải được thể hiện dưới dạng thức nhất định Khoa học pháp lý đã bước đầu có sự tiếp cận
và có những lý giải về hình thức hợp đồng dựa trên cơ sở như vậy
Hình thức hợp đồng không phải là vấn đề pháp lý mới mẻ mà thực sự, nó tồn tại ngay từ khi người ta bắt đầu quan tâm đến hợp đồng dân sự là gì? Tuy nhiên, khi xây dựng BLDS năm 1995 cũng như BLDS sửa đổi năm 2005, các nhà làm luật chưa đưa ra được một khái niệm pháp lý theo đúng nghĩa về hình thức hợp đồng Điều 400 BLDS quy định về hình thức hợp đồng:
“1- Hình thức hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định đối với loại hợp đồng đó phải được giao kết dưới một hình thức nhất định
Khi các bên thoả thuận giao kết hợp đồng bằng hình thức nhất định, thì
Trang 15hợp đồng được coi là đã giao kết khi đã tuân theo hình thức đó.”
Trong khoa học pháp lý, việc đưa ra một khái niệm là kết quả của quá trình nghiên cứu, tìm hiểu bản chất vấn đề Những nhận thức một cách thấu đáo là cơ sở để xây dựng nên một khái niệm vừa khái quát, vừa thể hiện chính xác nội dung Thông qua khái niệm, các vấn đề có liên quan cũng được giải quyết một cách khoa học và thống nhất Điều 400 BLDS chưa đưa ra được một khái niệm mà chỉ thừa nhận ba hình thức hợp đồng: hình thức lời nói, hình thức hành vi và hình thức văn bản Sự liệt kê này có ý nghĩa trong việc xác định cụ thể những hình thức hợp đồng được pháp luật ghi nhận Trong chừng mực nào đó, ghi nhận một cách rõ ràng những hình thức hợp đồng là một quy định cần thiết Tuy nhiên, quy định này không thể thay thế cho việc đưa ra một khái niệm
Khi xây dựng khái niệm pháp lý về hình thức hợp đồng, chúng ta cần quan tâm đến bản chất pháp lý của vấn đề này, tương tự như hiểu được bản chất pháp lý của hợp đồng vậy Một đặc trưng cơ bản và xuyên suốt toàn bộ nội dung pháp lý của hợp đồng là sự thể hiện thống nhất ý chí của các chủ thể Tuy nhiên, không phải bất kỳ sự thống nhất ý chí nào cũng là hợp đồng mà chỉ có sự thống nhất ý chí làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt nghĩa vụ dân
sự mới chịu sự điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Vậy, thực chất sự thống nhất ý chí của các chủ thể có thể được chúng ta nhận biết ra sao hay nó được thể hiện như thế nào Mỗi một cá nhân đều có những cách thức riêng để biểu đạt suy nghĩ của mình Nhưng sự thống nhất ý chí của ít nhất là hai chủ thể trong quan hệ hợp đồng phải được thể hiện dưới những hình thức nhất định, đảm bảo khả năng nhận biết khách quan Chỉ khi đó, pháp luật mới có thể bảo
vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp nếu chúng bị vi phạm Từ khi bắt đầu đưa ra
đề nghị giao kết hợp đồng cho tới khi các bên cùng đạt được thoả thuận là một quá trình trao đổi thông tin Việc trao đổi này được thực hiện bằng nhiều
Trang 16cách, từ cách đơn giản như trao đổi bằng lời nói, bằng cử chỉ hay những cách thức phức tạp và hiện đại như qua máy fax, telephone hay internet… Chính nhờ những thông tin được trao đổi mà các bên mới đạt được thoả thuận cuối cùng, đó chính là hợp đồng Và như vậy, hợp đồng không thể là những ý tưởng riêng rẽ của một cá nhân nào đó mà nó chính là sự đồng thuận của các chủ thể có ý chí độc lập, tồn tại dưới một dạng ghi nhận thông tin nào đó Dạng thức ghi nhận thoả thuận hợp đồng không chỉ có ý nghĩa trong việc xác định đã tồn tại một hợp đồng hay không, hợp đồng được xác lập bao gồm những nội dung nào mà còn nhằm đối kháng với bên thức ba Một khi hợp đồng đã được giao kết tức là các bên phải có nghĩa vụ thực hiện đúng thoả thuận Bất kỳ sự thay đổi hay không chịu thực hiện đúng thoả thuận mà không được sự đồng ý của đối tác cũng là nguyên nhân để bên vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi Cho đến nay, vấn đề hình thức hợp đồng được thừa nhận một cách tương đối thống nhất rằng: nó chính là căn cứ để bên có quyền lợi bị vi phạm được nhận sự bảo vệ từ phía luật pháp
Trong cổ luật Việt Nam, dân luật chưa từng được chú ý xây dựng với tư cách là một đạo luật riêng và vì thế, những vấn đề pháp lý phức tạp như hợp đồng dân sự là gì, hình thức hợp đồng là gì cũng như rất nhiều vấn đề khác không hề được đề cập đến Chỉ đến khi xây dựng ba bộ dân luật Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, các nhà làm luật mới đưa ra quy định về hình thức hợp đồng một cách cụ thể và rõ ràng hơn Đương nhiên, kỹ thuật xây dựng ba bộ dân luật thời kỳ này chịu ảnh hưởng sâu sắc từ bộ dân luật Naponeon của Pháp BLDS của một nước Việt Nam hoàn toàn độc lập được xây dựng năm
1995, bước đầu tạo cơ sở pháp lý khá toàn diện về chế định hợp đồng Đặc biệt, cũng là lần đầu tiên, hình thức hợp đồng đã được quy định rõ ràng hơn Mặc dù vậy, một khái niệm pháp lý về hình thức hợp đồng chưa được ghi nhận cũng khiến cho việc hiểu và áp dụng những quy định pháp luật về hợp
Trang 17đồng có nhiều vướng mắc, bất cập Điều 400 BLDS ghi nhận ba hình thức hợp đồng:
“Hình thức hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định đối với loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.”
Trong khoa học pháp lý, việc đưa ra khái niệm không chỉ có ý nghĩa là việc thể hiện quan điểm chính thống về những vấn đề pháp lý có liên quan mà quan trọng hơn, nó thể hiện kết quả một quá trình nghiên cứu, tìm hiểu bản chất một vấn đề Một khái niệm phải thể hiện được chính xác nội dung của vấn đề đó và phải đảm bảo tính khái quát Thông qua khái niệm, chúng ta có thể tiếp cận đến những nội dung cụ thể của vấn đề một cách tường tận và khoa học Điều 400 BLDS năm 1995 cũng như Điều 401 BLDS sửa đổi năm
2005 chỉ dừng lại ở mức liệt kê các hình thức hợp đồng Đây là điểm bất cập trong việc xây dựng luật Vấn đề hình thức hợp đồng được xem xét dưới góc
độ ưu tiên trong những hệ thống pháp luật trên thế giới với quan điểm rõ ràng Các nước trong hệ thống Continental Law như Pháp là đại diện cho rằng, hợp đồng quan trọng nhất chính là sự thoả thuận ý chí chung nên nếu đủ yếu tố này, hợp đồng coi như đã được thiết lập, dù dưới bất kỳ hình thức nào Trong khi đó, các nước theo hệ thống Common Law như Anh lại có quan điểm khác Hợp đồng có giá trị như luật đối với các bên nên khi phát sinh tranh chấp, toà
án coi chúng là căn cứ cơ bản, quan trọng nhất Từ quan điểm này, việc soạn thảo và lập hợp đồng ở các quốc gia này được chú ý hết sức, những hợp đồng
có giá trị cao bắt buộc phải được lập thành văn bản Tuy nhiên, yếu tố cơ bản của hình thức hợp đồng chính là vai trò tạo lập chứng cứ khi phát sinh tranh chấp được thừa nhận tương đối thống nhất Quan điểm của các nhà lập pháp Việt Nam cũng tiếp cận theo hướng này Bởi vậy, đối với một số loại hợp đồng cụ thể, việc tuân theo yêu cầu hình thức văn bản cùng một số thủ tục
Trang 18như hợp đồng phải có công chứng, chứng thực, phải đăng ký … là yêu cầu bắt buộc Mặc dù quy định này có phần mâu thuẫn với việc thừa nhận nguyên tắc
tự do hợp đồng, làm hạn chế khả năng tự định đoạt của các bên trong việc xác lập quan hệ hợp đồng nhưng dưới góc độ nào đó, nó lại đáp ứng được nhu cầu quản lý kinh tế - xã hội của nhà nước
Khi xây dựng khái niệm pháp lý về hình thức hợp đồng, không thể bỏ qua việc tìm hiểu bản chất của vấn đề Hợp đồng được hình thành dựa trên các yếu tố cơ bản sau:
Sự tự do thể hiện ý chí của từng chủ thể;
Sự đồng thuận ý chí của ít nhất hai chủ thể
Tự do thể hiện ý chí bao gồm tự do lựa chọn đối tác, tự do lựa chọn đối tượng hợp đồng và tự do lựa chọn hình thức giao kết Nhưng cần lưu ý rằng,
không phải sự đồng thuận ý chí nào cũng là hợp đồng mà chỉ có sự đồng
thuận ý chí làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nghĩa vụ dân sự mới
chịu sự điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Điều này buộc chúng ta phải lưu ý: cái gì làm nên sự thống nhất ý chí đó? Hay nói cách khác, sự thống nhất ý chí của hai hay nhiều người được thể hiện dưới hình thức nào?
Cho đến nay, con người có rất nhiều cách thể hiện suy nghĩ, tình cảm của mình như bằng lời nói, bằng hành vi, bằng chữ viết Chữ viết chính là sản phẩm sáng tạo riêng có của con người, là sự mã hoá thông tin thông qua các
ký tự chữ cái và con số Chính nhờ chữ viết mà con người đã tìm đến những cách thức thông tin hiện đại hơn như các thông điệp dữ liệu điện tử… Quá trình giao kết hợp đồng thực chất cũng là một quá trình trao đổi thông tin thông qua một cách thức nhất định Đơn giản bởi người ta không thể kiểm chứng hay nắm bắt được những ý tưởng trong suy nghĩ của người khác Kết thúc quá trình trao đổi thông tin, kết quả là một thoả thuận hợp đồng được hình thành Thực chất, hợp đồng là sự thống nhất ý chí của các bên mà nó có
Trang 19thể tồn tại dưới một dạng ghi nhận thông tin nào đó Việc ghi nhận thoả thuận hợp đồng rất có ý nghĩa trong việc xác định sự tồn tại của một hợp đồng cùng những nội dung của nó Quan trọng hơn, nó còn nhằm mục đích đối kháng với người thứ ba Một hợp đồng mua bán hàng hoá thông thường, nếu không được ghi nhận dưới một dạng thức nào đó, chẳng hạn như một tờ giấy có ghi
rõ cam kết của bên bán về các điều kiện mua - bán, điều kiện giao hàng… sẽ rất dễ khiến bên thứ ba lầm tưởng hàng chưa được bán mà vẫn trả giá để mua chính lô hàng đó Điều này sẽ khiến các bên liên quan phải chịu những thiệt hại không đáng và chi phí tốn kém khi phát sinh tranh chấp
Sự thoả thuận ý chí của các bên làm cho các điều khoản hợp đồng có giá trị bắt buộc thực hiện, ràng buộc các bên bằng những lợi ích cũng như nghĩa
vụ Chính ý chí thực sự và nội tại đã thúc giục một người hành động vì những mục đích nhất định Bởi vậy, không thể tồn tại một thoả thuận trong ý niệm, trong suy nghĩ của con người mà nó luôn phải được thể hiện dưới một hình thức nhất định nào đó Điều này, về nguyên tắc, không bị giới hạn bởi một công thức nào Tuy nhiên, tồn tại một tranh cãi pháp lý về yên lặng có phải là một sự ưng thuận đương nhiên hay không Trên nguyên tắc, nếu khẳng định một người chỉ có thể thể hiện ý chí của mình ra bên ngoài dưới một dạng thức nhất định nào đó thì yên lặng không phải là một sự ưng thuận Yên lặng là không biểu lộ thái độ đồng tình hay không đồng tình Thực tiễn cho thấy vẫn
có những trường hợp loại trừ nếu chúng được quy định một cách rõ ràng theo định liệu của các nhà làm luật, hoặc theo tập quán giao dịch (trường hợp các bên đã thực hiện giao dịch nhiều lần với nhau và lần nào, bên thụ trái cũng không từ chối lời đề nghị của bên trái chủ thì sự yên lặng của bên thụ trái được coi là sự ưng thuận)
Quá trình giao kết hợp đồng có thể được hoàn thành một cách nhanh chóng, cũng có thể phải trải qua nhiều lần trao đổi, cứ mỗi lần bên được đề
Trang 20nghị đưa ra một yêu cầu trở lại được coi là xuất hiện đề nghị mới Chỉ đến khi giữa hai bên hoàn toàn thống nhất ý chí về những điều khoản cơ bản thì hợp đồng mới được thiết lập Đây chính là thời điểm cần thiết ghi nhận lại các thoả thuận hợp đồng dưới một dạng thức phù hợp, đảm bảo khả năng lưu giữ chúng Hợp đồng phải được ghi nhận dưới một hình thức mà bằng các giác quan tự nhiên, con người có thể nhận biết được Việc ghi nhận các hình thức hợp đồng bằng hành vi hay bằng văn bản hay có thể dưới một hình thức hoàn toàn mới hoàn toàn có thể được mở rộng hơn, phù hợp với khả năng tư duy và khả năng tri giác của con người trong thế giới của nền khoa học công nghệ hiện đại
Dưới bất kỳ dạng thức nào, hình thức hợp đồng đều mang chức năng vô cùng quan trọng: chức năng lưu giữ thông tin Chức năng này được biểu hiện dưới hai góc độ gồm khả năng ghi nhớ và khả năng tái hiện Con người – thông qua các giác quan có khả năng ghi nhớ những thoả thuận hợp đồng đã được xác lập Sự ghi nhớ thoả thuận hợp đồng không chỉ nhằm mục đích giúp nhận biết được một sự việc đã diễn ra mà quan trọng hơn, nó giúp cho người
ta có thể tái hiện lại sự việc đó Mặc dù việc giao kết hợp đồng – về nguyên tắc – xuất phát từ nhu cầu của từng chủ thể nhưng không loại trừ khả năng nó không được các bên thi hành một cách nghiêm chỉnh Khả năng tái hiện nhằm mục đích đề phòng sự gian trá của bất kỳ bên nào trong quá trình thực hiện hợp đồng Tuy nhiên, không phải bất kỳ hình thức lưu giữ thông tin nào cũng
có giá trị tái hiện như nhau Khả năng lưu giữ thông tin càng chắc chắn thì khả năng tái hiện, phản ánh lại thông tin đó càng chính xác so với nguồn thông tin ban đầu Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên, những hợp đồng có giá trị cao hay việc hoàn thành hợp đồng ngay lập tức là không thể thực hiện được lại thường được lựa chọn lập bằng hình thức văn bản Mỗi hình thức hợp đồng được lựa chọn khi nó phù hợp với tính chất cũng như yêu cầu thực hiện
Trang 21của loại hợp đồng đó Như vậy, bằng việc thể hiện dưới một hình thức nhất định, hợp đồng được khẳng định đã được thiết lập và nó có giá trị thực hiện đối với các bên
Những vấn đề pháp lý thuộc về bản chất của hình thức hợp đồng nêu trên cho phép đưa ra được một khái niệm pháp lý về hình thức hợp đồng một cách ngắn gọn:
“Hình thức hợp đồng là phương tiện ghi nhận thoả thuận hợp đồng đã được các bên xác lập.”
Tuy nhiên, cần phân biệt hình thức hợp đồng với ý nghĩa là phương tiện
ghi nhận thoả thuận hợp đồng với các phương tiện trao đổi thông tin Hợp
đồng là sản phẩm của một quá trình trao đổi thông tin mà trong quá trình đó, người ta phải sử dụng các phương tiện trao đổi thông tin Nói phương tiện trao đổi thông tin là muốn nói đến cách thức truyền tải thông tin như bằng miệng, bằng hành vi, bằng chữ viết, thậm chí bằng các dạng trao đổi hiện đại như máy điện thoại, điện tín… Bản thân quá trình trao đổi thông tin này chưa được coi là hợp đồng cũng như các phương tiện trao đổi thông tin này cũng không phải là hình thức hợp đồng bởi nó chỉ phản ánh ý chí của từng bên mà thôi
1.2 Phân loại hình thức hợp đồng
Như một lẽ tự nhiên, một khi hai (hoặc nhiều bên) mong muốn xác lập
và thực hiện một giao dịch dân sự nào đó, họ phải minh thị, hoặc phải biểu đạt
ý chí của mình đối với phía bên kia Hợp đồng được xác lập cũng có nghĩa là
ý chí của các bên về các điều kiện của hợp đồng đã được bày tỏ và thể hiện
Trang 22xuất hay tiếp nhận ý kiến Hẳn nhiên, như là một hiện tượng mang tính vật
chất, thông tin có khả năng phản ánh (hay nói cách khác có thể lưu giữ dưới
một hình thức nhất định) Quan trọng hơn, nó phải là thông tin mà các bên có thể tiếp nhận và giải mã
Trong ngữ cảnh của một giao dịch hợp đồng dân sự, môi trường vật chất chứa đựng thông tin về nội dung của giao dịch chính là hình thức của hợp
đồng ấy Khi đã tồn tại thỏa thuận của các bên về việc xác lập, thay đổi hay
chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự nào đó, thì cũng có nghĩa là đã tồn tại một hình thức vật chất nào đó phản ánh thỏa thuận ấy, và chúng tồn tại một cách khách quan
Dưới giác độ quan điểm của khoa học luật dân sự, quan hệ hợp đồng là quan hệ mang tính ý chí, cho nên khi tiếp cận để có sự phân loại hình thức hợp đồng, các nhà lập pháp dựa theo các tiêu chí sau:
* Khả năng chuyển tải ý chí của các bên
Hợp đồng được hình thành là hệ quả của quá trình trao đổi ý kiến (hay thông tin) giữa các bên Nếu vì một lý do nào đó, quá trình trao đổi thông tin
đó bị ngừng hoặc chấm dứt, thì mặc nhiên hợp đồng sẽ không được thiết lập Bởi thế, nếu hình thức hợp đồng là phương tiện chứa đựng những gì mà các
bên đã đi đến thống nhất, thì tự thân nó phải có khả năng chuyển tải ý chí của
các bên Ở đây còn có một nhân tố rất quan trọng cần phải nói đến, đó là phương tiện được dùng để truyền đạt quan điểm, mong muốn của một bên đối với bên kia (hoặc còn có thể quan niệm là phương tiện truyền đạt thông tin) Phương tiện truyền đạt thông tin như đề cập phải là phương tiện có khả năng truyền tải chân thực và chính xác ý định, mong muốn của mỗi bên Hơn thế nữa, nó phải là những đối tượng vật chất thân thiện với hoạt động tư duy của con người nói chung và các bên tham gia hợp đồng nói riêng Hợp đồng dân
sự là một dạng giao dịch gần gũi với đời sống, và phương tiện ghi nhận nó
Trang 23không phải là những gì khác ngoài những gì mà con người vẫn thường sử
dụng trong giao tiếp hàng ngày, như: ngôn ngữ (có thể là ngôn ngữ nói, có thể
là ngôn ngữ viết) và hành vi của con người (dạng hành vi có khả năng phản
ánh ý chí của người hành động)
* Khả năng lưu giữ
Hình thức của hợp đồng có thể được quan niệm như là một môi trường chứa đựng thông tin, trong đó thông tin chính là các điều khoản phản ánh
những gì các bên đã thỏa thuận Khả năng dung nạp và ghi nhận ở mỗi dạng
hợp đồng có khác nhau, nhưng yếu tố cốt yếu vẫn là bản chất thông tin được ghi nhận và lưu giữ Thông tin mang tính siêu vật chất, được truyền đạt bằng phương thức quá đặc biệt, chẳng hạn như thần giao cách cảm, không phải là thứ thông tin mà con người bình thường sử dụng và vì thế, nó không thể được
sử dụng (hay công nhận) trong các giao dịch dân sự thông thường
* Khả năng tiếp cận, kiểm tra đánh giá
Một khi đã được hình thành, hình thức của hợp đồng sẽ trở thành một sự vật tồn tại độc lập trong thế giới khách quan, cho dù nó là biểu hiện bên ngoài của một mối quan hệ mang tính ý chí Tuy thế, hình thức hợp đồng phải là một sự vật có thể tri giác được, có thể nhận thức được, bởi lẽ hợp đồng chỉ có
lý do tồn tại khi mà những người tạo ra nó có thể nhận thức được những gì họ
đã cam kết trong hợp đồng Tính khả tri của hình thức hợp đồng ở đây không
chỉ hàm ý đến vai trò nhận thức của người ký kết hợp đồng, mà còn ngụ ý đến
cả người thứ ba, nhất là tòa án với vai trò là người phân xử tranh chấp hợp đồng
Các tiêu chí này đã được nhà làm luật áp dụng khi xây dựng các quy định liên quan đến hình thức hợp đồng Các hình thức hợp đồng được ghi nhận trong BLDS, thực chất là các hình thức (phương tiện) phổ biến được sử dụng trong các giao dịch dân sự thông thường Tác giả sẽ trình bày cụ thể hơn về
Trang 24từng hình thức hợp đồng này ở Chương II của Luận văn, ở đây tác giả xin được chia xẻ suy nghĩ về việc vận dụng các tiêu chí đã được trình bày ở trên qua từng dạng hợp đồng mà BLDS năm 2005 quy định, cụ thể:
* Hình thức hợp đồng bằng lời nói
Đây là hình thức hợp đồng được các bên trao đổi và xác lập bằng miệng
So với các hình thức hợp đồng khác, đây có lẽ là hình thức hợp đồng cổ xưa nhất Khi mà đời sống dân sự còn sơ khai, các hình thức trao đổi thông tin giữa người với người mới chỉ dừng lại ở hình thức trao đổi ngôn ngữ một cách trực tiếp và bằng miệng, thì hợp đồng miệng đóng vai trò là hình thức hợp đồng chủ yếu (nếu không muốn nói là duy nhất) được các bên ký kết Trong đời sống dân sự hiện đại, cho dù con người đã tìm ra được nhiều phương thức giao tiếp khác, nhưng hợp đồng miệng vẫn còn có chỗ đứng Những hợp đồng mà nội dung đơn giản và các bên có thể thực hiện ngay, được xem là thuận tiện nhất cho các bên khi được ghi nhận bằng hình thức lời nói hay bằng hợp đồng miệng
Một điều dễ nhận thấy là hình thức này cũng có những hạn chế, nhất là ở khả năng lưu giữ thông tin, hay nói cách khác là giá trị chứng cứ của hình thức hợp đồng này Đối với các tranh chấp liên quan đến hợp đồng được xác lập bằng miệng, việc tái hiện và nhận thức đầy đủ nội dung thỏa thuận của các bên thường gặp rất nhiều khó khăn Tuy nhiên, không vì thế mà vai trò của hình thức hợp đồng miệng có phần bị mờ nhạt đi trong cuộc sống dân sự hiện đại
* Hình thức hợp đồng bằng văn bản
Hợp đồng bằng văn bản là hình thức hợp đồng mà ở đó, thỏa thuận của các bên được thể hiện dưới dạng văn bản So với hình thức hợp đồng miệng thì hợp đồng bằng văn bản có nhiều ưu thế hơn, bởi vậy hình thức hợp đồng này đang ngày càng được sử dụng nhiều trong giao lưu dân sự
Trang 25Hình thức hợp đồng bằng văn bản giờ đây không chỉ được hiểu máy móc theo nghĩa là văn bản giấy, với các ký tự (được viết tay, hay đánh máy), phản ánh ý chí của các bên Khái niệm văn bản cần phải được hiểu theo nghĩa rộng, theo nghĩa là một môi trường vật chất mà trên đó thỏa thuận của các bên được minh thị dưới dạng ký tự, có thể là chữ viết tay, có thể là các chữ được in hoặc các ký tự được thể hiện trên môi trường và thiết bị điện tử
Tuy có nhiều ưu thế hơn so với các hình thức hợp đồng khác, hình thức hợp đồng bằng văn bản cũng đặt ra nhiều vấn đề pháp lý cần nghiên cứu Chẳng hạn, hợp đồng bằng văn bản có cần thiết phải là văn bản, trên đó các bên thể hiện một cách rõ ràng ý chí của mình dưới dạng các điều khoản và cùng ký tên (đóng dấu) trên văn bản đó hay không?
* Hình thức hợp đồng được xác lập bằng hành vi
Hình thức hợp đồng được xác lập bằng hành vi có thể được hiểu là hình thức hợp đồng mà ở đó một bên đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng có đầy đủ nội dung hợp đồng, bên nhận đề nghị chỉ cần chấp nhận toàn bộ đề nghị bằng cách thực hiện hành vi thể hiện sự chấp nhận đó mà thôi
Các giao dịch dân sự đơn giản đồng thời xác lập và thực hiện với nhiều người, với cùng nội dung (hay các quan hệ nghĩa vụ trong hợp đồng) có thể được giao kết theo hình thức hành vi Đối với những hợp đồng này, bao giờ nội dung hợp đồng cũng được một bên đưa ra trước đối với bên kia, và bên kia chấp nhận lời đề nghị ngay bằng cách thực hiện nghĩa vụ của mình trong hợp đồng, chẳng hạn đưa thẻ, tiền vào máy điện thoại công cộng Ở đây, hành
vi ký kết hợp đồng đã được bên chấp nhận ngụ ý qua chính hành vi thực hiện nghĩa vụ của họ trong hợp đồng
CHƯƠNG 2
HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG BẰNG LỜI NÓI
Trang 262.1 Cách thức biểu hiện và nguyên tắc xác lập
Trong giao lưu dân sự, đặc biệt là trong việc giao kết hợp đồng, cho đến nay, người ta vẫn ghi nhận ba hình thức hợp đồng chủ yếu: lời nói, hành vi và văn bản Hình thức lời nói là một hình thức căn bản, được ghi nhận rất sớm trong lịch sử lập pháp, từ thời La mã cổ đại Điều này được lý giải một cách
dễ hiểu bởi đây là một trong những phương thức giao tiếp của con người, gần gũi, tiện lợi và hữu ích với đời sống người dân Bất kể ai, miễn là được thừa nhận có năng lực hành vi dân sự đều có thể sử dụng lời nói khi giao kết hợp đồng Thêm vào đó, trong cuộc sống, có vô số những giao dịch hợp đồng có tính đơn giản đến độ, việc lựa chọn hình thức giao kết quá chắc chắn và phức tạp trở nên không cần thiết
Không phải ngẫu nhiên mà các nhà làm luật ghi nhận hình thức lời nói là một trong những phương tiện ghi nhận nội dung thoả thuận về quyền và nghĩa
vụ của các bên Bởi với việc truyền tải các thông tin bằng lời nói, bao gồm cả việc thể hiện tâm lý tình cảm, cách suy xét, đánh giá sự vật, hiện tượng không chỉ chính xác mà trước hết, nó có khả năng truyền đạt tới đối tượng tiếp nhận một cách nhanh chóng nhất, với dung lượng lớn nhất, tác động trực tiếp đến tâm lý, tình cảm và suy nghĩ của đối tượng tiếp nhận Cách thức biểu đạt đơn giản, có khả năng truyền tải đầy đủ ý chí là con đường ngắn nhất để đi đến việc giao kết hợp đồng
Khi thực hiện việc giao kết hợp đồng, điểm quan trọng trước tiên là các bên phải đảm bảo việc trao đổi thông tin một cách chính xác và rõ ràng, nhằm đạt được sự thống nhất ý chí của tất cả các bên Nếu những nội dung thoả thuận không được các bên nhận thức đầy đủ thì thoả thuận đó không thực sự phản ánh ý chí của mỗi bên, do đó, sẽ vô hiệu Hình thức lời nói đã được ghi nhận trong Luật La mã cổ đại, theo đó, các nhà làm luật đã dự liệu trước những tình huống không được coi là hợp đồng Luật La mã thời cộng hoà quy
Trang 27định rất rõ hợp đồng bằng lời nói phải được thể hiện dưới dạng câu hỏi và trả lời Quy định này loại trừ những trường hợp trao đổi thông qua lời nói không phải là hợp đồng Đây là một quy định cần thiết bởi hợp đồng là một dạng quan hệ dân sự đặc biệt, trói buộc các chủ thể bởi những nghĩa vụ mang tính pháp lý
Sự tiện lợi và khả năng phản ánh ý chí một cách đầy đủ của các bên khi trao đổi trực tiếp bằng miệng đem lại những ưu thế rõ rệt hơn trong một số trường hợp Bởi vậy, một cách đơn giản là hợp đồng bằng lời nói phải được thoả thuận bằng miệng mà không phải dưới bất kỳ dạng thức nào khác Điều này cho thấy cách thức biểu hiện của loại hợp đồng này có điểm khá đặc biệt bởi chỗ, các bên phải có khả năng tiếp nhận được thông tin của đối tác một cách trực tiếp, bằng con đường giác quan của mình - thính giác Những người gặp khó khăn hoặc không có khả năng nói và nghe hoàn toàn không thể tham gia giao kết loại hợp đồng này Thông qua sự trao đổi thông tin và thoả thuận bằng miệng, các bên xác lập được hợp đồng dân sự Bởi vậy, im lặng không được xem như một biểu hiện của chấp nhận giao kết hợp đồng, chỉ trừ trường hợp đã có thoả thuận trước rằng: im lặng là sự trả lời chấp nhận Điều này được quy định tại Điều 403 khoản 2 B LDS năm 1995 và Điều 404 khoản 2 BLDS năm 2005 Điều này cho thấy, luật lưu ý rằng: ý chí có ý nghĩa là động lực chủ quan, thúc đẩy cá nhân tham gia vào một giao dịch và nếu mới chỉ
dừng lại ở đó, không thể tồn tại một hợp đồng Lời nói chính là cách thức
biểu hiện ý chí của một cá nhân và hình thức hợp đồng bằng lời nói là phương thức thể hiện sự thống nhất ý chí của các chủ thể trong hợp đồng
Trong lịch sử dân luật, hình thức hợp đồng bằng lời nói được quy định khá sớm, song hành cùng hình thức văn bản Luật La mã cổ đại có những quy định tương đối chặt chẽ về những điều kiện để một thoả thuận bằng miệng được coi là hợp đồng Hợp đồng bằng lời nói phải thỏa mãn hai yêu cầu:
Trang 28- Toàn bộ quá trình trao đổi của các bên phải thể hiện rõ yếu tố trao đổi – thoả thuận;
- Khi giao kết hợp đồng, các bên phải có mặt ở cùng một nơi, câu hỏi của trái chủ và câu trả lời của người thụ trái phải khớp nhau
Các nhà làm luật thời kỳ này rõ ràng đã lường trước những tình huống khó khăn khi giải quyết tranh chấp Và với kỹ thuật lập pháp như vậy, khó khăn được loại trừ bớt Tuy nhiên, những quy định về hình thức hợp đồng này không hoàn toàn còn phù hợp trong thời kỳ hiện nay Mặc dù không thể chối bỏ cách thức biểu hiện duy nhất của hình thức này là phải được các bên thoả thuận trực tiếp bằng miệng nhưng với sự hỗ trợ của các phương tiện liên lạc hiện đại, sự có mặt trực tiếp của các bên tại cùng một nơi khi giao kết hợp đồng trở nên không cần thiết Các bên hoàn toàn có thể tiến hành trao đổi, ngã giá và đi đến việc giao kết hợp đồng bằng miệng thông qua điện thoại, máy bộ đàm… ở khoảng cách xa hàng nghìn cây số
Như vậy, hợp đồng bằng lời nói được xác lập bằng một hành động cụ thể chứ không thể dưới dạng không hành động Im lặng không được coi là sự chấp nhận giao kết hợp đồng bởi con người không thể hiện ý chí của mình một cách rõ ràng thông qua trạng thái này Tuy nhiên, luật cũng ghi nhận, im lặng là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng nếu các bên đã có thoả thuận (Điều 404 khoản 2 BLDS sửa đổi năm 2005)
Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận ý chí của các bên, nhằm xác lập các quyền và nghĩa vụ Bởi vậy, hình thức hợp đồng có ý nghĩa rất lớn trong việc ghi nhận những nội dung cụ thể về quyền và nghĩa vụ của hợp đồng Đặc biệt, trong những trường hợp có sự vi phạm thoả thuận hợp đồng Nói cách khác,
đó là giá trị chứng minh của hình thức hợp đồng Lời nói là một trong những hình thức hợp đồng được pháp luật ghi nhận và sử dụng rộng rãi trong đời sống dân sự Nhưng không phải bất kỳ sự trao đổi bằng miệng nào chứa đựng
Trang 29yếu tố thoả thuận cũng là hợp đồng Bởi vậy, cũng giống như các hình thức hợp đồng khác, hợp đồng bằng lời nói có những nguyên tắc xác lập nhất định Đây là những nguyên tắc có tính đặc trưng riêng có của hình thức này:
- Hình thức hợp đồng bằng lời nói được thể hiện bằng miệng, do đó, phải được các bên trực tiếp thể hiện Trực tiếp thể hiện được hiểu là việc mỗi bên phải tự mình tham gia vào quá trình trao đổi thông tin và ngã giá, cũng như khẳng định đồng ý giao kết
- Lời nói của các bên tham gia hợp đồng phải chứa đựng nội dung của hợp đồng Đây là một nguyên tắc cơ bản, là cơ sở đánh giá sự tự nguyện ý chí của một cá nhân khi tham gia giao kết hợp đồng Điều này xuất phát từ đặc trưng của từng hình thức hợp đồng Đối với hợp đồng bằng văn bản, nội dung các quyền và nghĩa vụ được ghi nhận cụ thể, không thể chối cãi bằng chữ viết
và những con số Ngược lại, hình thức lời nói không được thể hiện dưới một cách thức cụ thể và hữu hình nên không thể tái hiện lại một cách dễ dàng nội dung thoả thuận Do đó, tại thời điểm giao kết hợp đồng, lời nói của các bên phải thể hiện rõ sự đồng ý cũng như những nội dung về quyền và nghĩa vụ của từng bên Điều này chính là sự khác biệt cơ bản giữa một thoả thuận hợp đồng với những thoả thuận thông thường hay sự đồng tình về một vấn đề nào
đó Thoả thuận bằng lời nói có chứa đựng nội dung về quyền và nghĩa vụ dân
sự chính là hình thức lời nói của hợp đồng dân sự
2.2 Các trường hợp giao kết hợp đồng bằng lời nói
Lời nói là phương tiện giao tiếp cơ bản và phổ biến bởi nó phù hợp với đời sống sinh hoạt hàng ngày Nguyên tắc tự do hợp đồng cho phép các bên được tự do lựa chọn hình thức giao kết hợp đồng, có thể bằng lời nói, bằng hành vi hay bằng văn bản Tuy nhiên, mỗi hình thức đều có những ưu và nhược điểm khác nhau, buộc các nhà làm luật phải can thiệp bằng việc quy định hình thức bắt buộc đối với một số loại hợp đồng Hình thức lời nói mang
Trang 30những ưu điểm phù hợp với đời sống hàng ngày bởi nó dễ dàng thực hiện với mọi đối tượng, trong những hoàn cảnh đa dạng, linh hoạt với nhiều loại giao dịch, tiến hành một cách nhanh chóng… Nhưng mặt khác, trong nhiều trường hợp, việc thực hiện giao kết hợp đồng bằng lời nói chứa đựng nhiều rủi ro và rất khó khăn khi các bên muốn bảo vệ quyền và lợi ích theo đúng thỏa thuận Nguyên nhân là bởi hình thức lời nói có những hạn chế nhất định như:
Hình thức lời nói chỉ có khả năng ghi nhận những thoả thuận có nội dung ngắn gọn, đơn giản Đối với những hợp đồng có khối lượng thoả thuận về các quyền và nghĩa vụ nhiều, có nhiều điểm phức tạp (như liên quan đến lợi ích của người thứ ba, quyền và nghĩa vụ vừa mang giá trị vật chất vừa mang giá trị tinh thần…), nếu được giao kết bằng miệng, sẽ khó khăn cho chính các bên ghi nhớ để thực hiện
Tính lưu giữ và phản ánh lại của hình thức lời nói rất yếu nên trong trường hợp phát sinh tranh chấp, các bên khó bảo đảm được quyền và lợi ích của mình Trong quan hệ tố tụng dân sự, Toà án chỉ xem xét, đánh giá chứng
cứ do các bên đưa ra, do đó, bên khởi kiện phải chứng minh được đã tồn tại một thoả thuận hợp đồng, tiếp theo là thoả thuận được ghi nhận dưới hình thức lời nói gồm nội dung quyền và nghĩa vụ như thế nào để làm cơ sở xác định sự vi phạm Với hình thức lời nói, việc chứng minh cũng như đánh giá các chứng cứ trở nên hết sức khó khăn đối với bên bị vi phạm cũng như Toà
án Bởi vậy, các quy định về hình thức hợp đồng có tính bắt buộc đối với một
số loại hợp đồng được xem là sự dự liệu loại trừ bớt những tranh chấp không đáng có của pháp luật
Tính phù hợp, hiệu quả và đơn giản trong giao tiếp là những thuộc tính
cơ bản của lời nói BLDS thừa nhận lời nói là một trong ba hình thức hợp đồng, là một hình thức hợp đồng mà các bên hoàn toàn có quyền lựa chọn khi giao kết Nhìn chung, lời nói là một hình thức thường được các bên lựa chọn
Trang 31trong một số trường hợp nhất định bởi nó cũng chứa đựng những yếu tố bất lợi Những trường hợp đó cụ thể như:
Thứ nhất, giá trị hợp đồng thường nhỏ, là những hợp đồng phục vụ cho
cuộc sống sinh hoạt hàng ngày Những loại hợp đồng này có vô số trong giao dịch hàng ngày bởi nó gắn liền với hoạt động ăn uống, may mặc, đi lại cũng như các dịch vụ thiết yếu khác (dịch vụ sửa chữa xe máy, chụp ảnh, giặt là…)
Thứ hai, giữa các bên thường có độ tin cậy nhất định: mối quan hệ quen
biết hoặc gần gũi làm tăng độ tin cậy giữa các bên, sự cẩn trọng khi giao kết hợp đồng do đó thường được bỏ qua Các bên có thể lựa chọn hình thức lời nói bởi tin vào sự trung thực, tự giác trong việc thực hiện các nghĩa vụ Ví dụ: hai người bạn cùng lớp cho nhau vay tiền nộp học phí (hợp đồng vay tài sản)…
Thứ ba, hợp đồng được thực hiện ngay lập tức và hoàn thành ngay sau
thời điểm giao kết hoặc trong thời gian tương đối ngắn: thời gian thực hiện hợp đồng ngắn cũng là một trong những nguyên nhân để các quyền và nghĩa
vụ được hoàn tất, do đó, khó phát sinh mâu thuẫn và tranh chấp Ví dụ: việc mua bán rau quả ngoài chợ hay bơm xe trả tiền ngay…
Thứ tư, nội dung các quyền và nghĩa vụ hợp đồng có tính đơn giản: việc
thực hiện hợp đồng không đầy đủ hoặc không thực hiện đúng là những nguyên nhân trực tiếp gây thiệt hại cho bên có quyền Bởi vậy, khi giao kết, các bên thường phải chú trọng trong khi đàm phán để đảm bảo rằng khả năng lợi ích của mình bị vi phạm thấp nhất Đối với những hợp đồng có nội dung phức tạp (đối tượng là công việc phải làm trong thời gian dài, việc thực hiện phải chia thành nhiều bước thanh toán…), việc ghi nhớ nội dung hợp đồng để các bên thực hiện là điều hết sức cần thiết và trở thành yếu tố buộc phải lựa chọn hình thức ghi nhớ chắc chắn hơn Tính đơn giản của nội dung quyền và
Trang 32nghĩa vụ của các hợp đồng miệng được thể hiện ở chỗ: là quyền và nghĩa vụ đơn lẻ và được thực hiện một cách nhanh chóng, thuận tiện Bởi vậy, không cần thiết có sự cẩn trọng quá mức bằng một văn bản
Hợp đồng bằng lời nói được ghi nhận ngay trong những bộ dân luật sơ khai nhất bởi chúng phản ánh được đặc thù của những giao dịch dân sự, vốn rất gần gũi, giản đơn nhưng cũng rất phong phú, đa dạng Tuy nhiên, hình thức này có những hạn chế nhất định Mặc dù con người có thể biểu đạt ý chí của mình một cách đầy đủ bằng lời nói nhưng khả năng lưu giữ những thông tin được truyền đạt bằng miệng lại đạt độ nông sâu khác nhau ở mỗi người, khi được phản ánh lại có thể không còn độ chính xác như lời nói ban đầu Quá trình từ lưu giữ đến phản ánh bị biến dạng, đôi khi lệch lạc Bởi vậy, giá trị chứng cứ của hình thức này không được đánh giá cao tại Toà án Trong trường hợp xảy ra tranh chấp, Toà án chỉ có thể căn cứ vào lời khai của các bên , nhân chứng hoặc phải căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu gián tiếp khác Do đó, khó tránh khỏi sự đánh giá không chuẩn xác, dẫn tới hệ quả là quyền và lợi ích hợp pháp của các bên không được bảo đảm Tuy nhiên, thực
tế cũng cho thấy rằng, thông thường, nếu phát sinh tranh chấp, các bên thường tìm đến những phương thức giải quyết ngoài trình tự tố tụng như tự hoà giải hay thương lượng; nhờ sự tham gia của người có uy tín, ảnh hưởng; vận dụng các quy định của luật tục, lệ làng… Tóm lại, đây là con đường vận dụng những quy tắc, chuẩn mực đạo đức để điều chỉnh, định hướng hành vi của mỗi chủ thể - chính những quy tắc, chuẩn mực đạo đức này là yếu tố tạo nên niềm tin nội tâm để các bên lựa chọn hình thức giao kết bằng lời nói
2.3 Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bằng lời nói
Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc xác định thời điểm các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ theo thoả thuận Kể từ thời điểm này, các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng nội dung đã
Trang 33cam kết Ngoại trừ trường hợp bất khả kháng đã được quy định theo pháp luật, việc từ chối hay thực hiện không đầy đủ, không đúng nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm dân sự Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng phân biệt với thời điểm thực hiện hợp đồng Thời điểm thực hiện hợp đồng có thể không trùng với thời điểm hợp đồng có hiệu lực Việc thực hiện nội dung hợp đồng có thể tiến hành sau thời điểm giao kết hợp đồng một thời gian Điều này có thể do các bên thoả thuận, theo tập quán hoặc pháp luật quy định Nhưng thời điểm
có hiệu lực của hợp đồng chính là thời điểm mà cam kết hợp đồng có giá trị ràng buộc các bên BLDS năm 1995 quy định tại Điều 404 khoản 3:
“Hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định khác.”
Đối với hợp đồng được lập bằng hình thức lời nói, Điều 403 khoản 1,2, 3 quy định:
“1- Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hoặc khi các bên đã thỏa thuận xong về nội dung chủ yếu của hợp đồng,
2- Hợp đồng cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp thuận,
3- Thời điểm giao kết hợp đồng miệng là thời điểm các bên đã trực tiếp thỏa thuận về nội dung chủ yếu của hợp đồng…”
BLDS sửa đổi năm 2005 có một số thay đổi khi quy định về thời điểm giao kết hợp đồng miệng:
Điều 404 khoản 1, 2, 3 quy định:
“1- Hợp đồng dân sự được giao kết vào thời đỉêm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết,
2- Hợp đồng dân sự cũng được xem như được giao kết khi hết thời hạn
Trang 34trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết,
3- Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thoả thuận về nội dung hợp đồng.”
Như vậy, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được xác định theo thời điểm giao kết hợp đồng Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thoả thuận về nội dung hợp đồng Điều này cho thấy quan điểm của các nhà lập pháp có sự thay đổi, đặc biệt liên quan đến vấn đề xác định nội dung chủ yếu của hợp đồng Theo quy định tại Điều 401 BLDS năm
1995: “Nội dung chủ yếu của hợp đồng là những điều khoản mà thiếu những
điều khoản đó thì hợp đồng không thể giao kết được Nội dung chủ yếu của hợp đồng do pháp luật quy định; nếu pháp luật không quy định thì theo thoả thuận của các bên…”
Tuy nhiên, việc đưa ra quy định về nội dung chủ yếu của hợp đồng để áp dụng cho mọi loại hợp đồng quá bao quát và không phù hợp với tính chất của từng loại hợp đồng - vốn vô cùng phong phú, đa dạng Trong trường hợp các bên có thoả thuận, thì nội dung thoả thuận được phản ánh thông qua hợp đồng Quy định về nội dung chủ yếu của hợp đồng như BLDS năm 1995 rõ ràng là cứng nhắc và trở nên không cần thiết Hợp đồng không đầy đủ những nội dung chủ yếu không có nghĩa là các bên không thể thực hiện được quyền
và nghĩa vụ theo thoả thuận Một bản hợp đồng có thể thiếu sót trong việc quy định về phương thức thanh toán, địa điểm hoặc phương thức thực hiện hợp đồng v.v Trong trường hợp đó, có thể vận dụng những quy định của pháp luật hoặc áp dụng theo tập quán, tuỳ theo từng loại hợp đồng Bởi vậy, quy
định “thoả thuận về nội dung chủ yếu của hợp đồng” trở nên không phù hợp
với hình thức hợp đồng bằng lời nói Hợp đồng bằng lời nói thường được lựa chọn cho những giao kết có nội dung hết sức đơn giản và sơ lược Trong
Trang 35nhiều trường hợp, hợp đồng được thực hiện xong ngay tại thời điểm giao kết Tuy nhiên, một trong những nguyên tắc xác lập hợp đồng bằng lời nói là các
bên phải trực tiếp giao kết hợp đồng “Trực tiếp” không phải là yêu cầu sự có
mặt tại cùng một địa điểm mà được hiểu là mỗi bên phải tự mình thoả thuận
về nội dung các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng Bởi vậy, khi xác định thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói, BLDS sửa đổi năm 2005 chỉ cần loại bỏ
quy định về nội dung chủ yếu thành “thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời
nói là thời điểm các bên đã trực tiếp thoả thuận về nội dung của hợp đồng”
CHƯƠNG 3
HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG BẰNG VĂN BẢN
3.1 Cách thức biểu hiện của hợp đồng bằng văn bản
Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng, hình thức văn bản được xem là có giá trị chứng cứ cao bởi đây là hình thức thể hiện ý chí của các bên một cách
rõ rệt và đầy đủ nhất Ngay từ khi xây dựng các bộ dân luật, các nhà làm luật đều thừa nhận và sớm điều chỉnh loại hình thức này
Chữ viết, con số và ký hiệu chính là cách thức biểu hiện của hình thức văn bản Chữ viết là sự thể hiện của ngôn ngữ dưới dạng thức được quy ước nhất định Và với sự thể hiện đó, nội dung thoả thuận bao gồm các quyền và nghĩa vụ của các bên được ghi nhận một cách rõ ràng Hợp đồng là một quan
hệ dân sự đặc biệt bởi nó mang tính pháp lý Do đó, hợp đồng bằng văn bản không phải là tập hợp những chữ viết không chứa đựng nội dung mà là tập hợp các câu chữ có nghĩa, phản ánh quan hệ nghĩa vụ Tuy nhiên, hợp đồng bằng văn bản có thể do các bên tự lập bằng cách thể hiện dưới dạng chữ viết trên giấy hoặc có thể nhờ người khác viết hộ Và với sự phát triển của khoa học tiến bộ thì chữ viết không nhất thiết phải do các bên tự tay viết lên
Mặc dù pháp luật sớm ghi nhận hợp đồng được lập bằng văn bản nhưng
Trang 36những tiêu chí cụ thể cho một văn bản được công nhận là hợp đồng thì hoàn toàn chưa được đề cập Nếu hiểu văn bản là một tập hợp câu, trọn vẹn nội dung, được sắp xếp theo một kết cấu chặt chẽ thì nó vẫn chưa phản ánh được bản chất của hình thức hợp đồng Một đặc trưng cơ bản của hình thức hợp đồng chính là khả năng ghi nhận và phản ánh nội dung quyền và nghĩa vụ đã được giao kết Đặc trưng này cũng cho phép phân biệt giữa hình thức hợp đồng và nội dung hợp đồng Nếu nội dung của hợp đồng là tổng thể các quyền
và nghĩa vụ mà các bên phải thực hiện thì hình thức văn bản chính là dạng thức vật chất chứa đựng quyền và nghĩa vụ của các bên Văn bản – dưới góc
độ luật dân sự – là phương tiện ghi nhận và truyền tải nội dung cam kết bằng chữ viết và ký hiệu Tuy nhiên, hình thức văn bản phải đáp ứng những yêu cầu nhất định mới được coi là hợp đồng Hệ thống pháp luật Anh – Mỹ có cách tiếp cận rất khác về vấn đề này Người ta cho rằng, một hợp đồng phải được thể hiện trên cùng một văn bản, các trao đổi thư tín hoặc các văn bản có
liên quan với nhau cũng đáp ứng yêu cầu về hình thức hợp đồng Văn bản
không nhất thiết phải là sản phẩm chung của các bên tham gia hợp đồng, đồng thời phải có chữ ký của các bên, mà có thể chỉ cần chữ ký của một bên
– bên là bị đơn trước Toà, vẫn đảm bảo chứng minh cho sự tồn tại của hợp đồng Mức độ quan trọng của thể thức hợp đồng lập bằng văn bản cũng không quá khắt khe, chỉ cần đủ để chứng minh cho sự tồn tại của hợp đồng, không câu nệ văn bản viết có được đặt tên là hợp đồng hay không Theo thông luật của Mỹ, hợp đồng bằng văn bản ít nhất phải đảm bảo được hai tiêu chí:
+ Văn bản phải định danh tính của các bên tham gia hợp đồng;
+ Văn bản phải nêu rõ bản chất của quan hệ hợp đồng
Những tiêu chí này cho phép xác định tư cách chủ thể cũng như khả năng gánh vác các nghĩa vụ từ quan hệ hợp đồng của từng bên Bản chất quan hệ hợp đồng có giá trị xác định nội dung cụ thể các quyền và nghĩa vụ tương ứng
Trang 37của các bên Vì thế, sự thể hiện câu chữ trong văn bản có thể không cần phải
rõ ràng và mạch lạc ở mọi khía cạnh, một số điều khoản có thể bỏ sót hoặc còn mù mờ khó hiểu thì Toà án vẫn có thể giải quyết được dựa vào thông lệ hay lời khai Tuy nhiên, quan niệm này cần được tiếp cận dưới góc độ liên quan đến nội dung và việc giải thích hợp đồng hơn là vấn đề hình thức văn bản của hợp đồng Hình thức văn bản của hợp đồng cần được đánh giá trong mối quan hệ giữa văn bản và sự khẳng định ý chí trên văn bản thông qua chữ
ký của các bên
BLDS năm 1995 và BLDS sửa đổi năm 2005 không quy định một cách
rõ ràng các yếu tố của một hợp đồng bằng văn bản Tuy nhiên, căn cứ vào những điều khoản về nội dung hợp đồng (Điều 402), thời điểm giao kết hợp đồng (Điều 404), một văn bản rõ ràng phải được lập như một hợp đồng và
phải được tất cả các bên ký vào văn bản mới có hiệu lực Những quy định này
có giá trị áp dụng trong thực tiễn cao hơn, trước hết bởi việc xét xử tại Toà án chủ yếu dựa vào quy định pháp luật thành văn cũng như tránh hiện tượng áp dụng pháp luật thiếu thống nhất của mỗi thẩm phán
Theo quy định tại Điều 124 và Điều 401 BLDS sửa đổi năm 2005, các giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản Như vậy, ngày nay, người ta ngày càng mở rộng cách thức thể hiện của văn bản Văn bản không nhất thiết chỉ được thể hiện bằng chữ viết trên giấy mà có thể được thể hiện dưới hình thức thông điệp dữ liệu Điều 10 Luật giao dịch điện tử (ngày 01 tháng 03 năm
2005) ghi nhận: “Thông điệp dữ liệu được thể hiện dưới hình thức trao đổi
dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác.”
Hình thức văn bản được thể hiện dưới dạng chữ viết và ý chí xác lập hợp đồng của các bên trong hợp đồng bằng văn bản được pháp luật ghi nhận dưới
Trang 38dạng chữ ký Chữ ký được hiểu là bất kỳ biểu tượng hay dấu hiệu nào do một
cá nhân thể hiện trên giấy với ý định xác nhận nội dung nào đó Điểm đặc
biệt là chữ ký có khả năng đặc định hoá một cá nhân, phân biệt một cá nhân này với các cá nhân khác, đảm bảo không thể bị lặp lại ở bất kỳ một cá nhân nào khác Đánh giá về cách thức biểu đạt ý chí thông qua chữ ký, mỗi quốc gia đều có những quan điểm pháp lý khác nhau Tuy nhiên, các quốc gia đều thống nhất tại một điểm: chữ ký có ý nghĩa quan trọng trong việc khẳng định
ý chí một cá nhân đối với một giao dịch Đối với những cá nhân không biết viết hoặc bị khuyết tật dẫn đến việc không thể ký được, pháp luật thừa nhận việc điểm chỉ cũng là một hình thức khẳng định ý chí tương đương với chữ ký trên văn bản Vấn đề cần quan tâm là liệu hợp đồng bằng văn bản có đòi hỏi phải có chữ ký đầy đủ của các bên hay không? có cần thiết phải ký vào từng trang văn bản không? chữ ký của người đại diện cho tổ chức có phải kèm theo con dấu không? Luật thương mại Hoa Kỳ (UCC) không coi việc tất cả các bên phải ký kết vào hợp đồng là điều kiện bắt buộc Vai trò chứng cứ của văn
bản được xem đã hoàn tất khi bên không công nhận hiệu lực của hợp đồng
đích thân hoặc thông qua đại diện của mình ký vào hợp đồng Và nếu dấu
hiệu đặc trưng của một bên (logo ở phần trên trang giấy) đã được minh thị trên giấy thì có thể được sử dụng trên từng trang văn bản thay cho chữ ký Một chữ ký – dù chưa được đóng dấu – vẫn đủ chứng minh ý chí thực của cá nhân Pháp luật Việt Nam lại tiếp cận theo một hướng khác Luật Việt Nam chỉ thừa nhận chữ ký được thể hiện rõ ràng bằng các chữ cái, có thể là biểu tượng nhưng không thừa nhận các dấu hiệu mang tính đặc trưng như logo Khi cá nhân tham gia giao dịch hợp đồng với tư cách đại diện của một tổ chức, một pháp nhân, chữ ký phải đi kèm con dấu mới được thừa nhận có giá trị pháp lý Trên thực tế, rất nhiều bản hợp đồng được lập thành nhiều bản, trong đó, chỉ có một bản được các bên ký trực tiếp, những bản còn lại được
Trang 39photo thêm rồi sau đó mới đóng dấu lên chữ ký Đây là cách hành xử có phần tuỳ tiện và thiếu hiểu biết bởi chữ ký trực tiếp (hay còn gọi là chữ ký tươi) trên văn bản mới khẳng định ý chí của chủ thể – với tư cách là người đại diện pháp nhân, tổ chức Con dấu chẳng qua là sự thể hiện mối liên hệ giữa cá nhân với tổ chức mà không thể phản ánh ý chí của pháp nhân được
Ngày nay, khi văn bản không còn dừng lại ở việc viết trên giấy mà được
mở rộng ra với các hình thức thông điệp dữ liệu điện tử, khái niệm về chữ ký cần được tiếp cận theo hướng rộng hơn Theo Luật Giao dịch điện tử (ngày 01
tháng 03 năm 2006), Điều 21 quy định: “chữ ký điện tử được tạo lập dưới
dạng từ, chữ, số, ký hiệu, âm thanh hoặc các hình thức khác bằng phương tiện điện tử, gắn liền hoặc kết hợp một cách logic với thông điệp dữ liệu, có khả năng xác nhận người ký thông điệp dữ liệu và xác nhận sự chấp thuận của người đó đối với nội dung thông điệp dữ liệu được ký” Như vậy, rõ ràng
với sự phát triển của khoa học công nghệ, khả năng khẳng định ý chí của một
cá nhân được mở rộng rất nhiều và không còn phụ thuộc vào chữ ký theo quan niệm truyền thống
3.2 Các trường hợp giao kết hợp đồng bằng văn bản
Lịch sử dân luật cũng sớm ghi nhận hợp đồng bằng văn bản là một trong những hình thức hợp đồng, cùng với sự ghi nhận hợp đồng bằng lời nói Có thể thấy rằng, khi sự phát triển của xã hội đã đạt mức độ cao đến mức, người
ta có thể trao đổi và giao kết những hợp đồng không hoàn toàn phục vụ mục đích ăn uống, đi lại hàng ngày nữa thì tính chất của những loại hợp đồng cũng trở nên vô cùng phong phú và đa dạng Và không phải ngẫu nhiên, pháp luật luôn ghi nhận ưu thế của hình thức văn bản trong giao kết hợp đồng dân sự Thông qua việc lập hợp đồng bằng văn bản, người ta có thể lưu giữ chúng trong khoảng thời gian rất dài, di chuyển chúng mà không làm mất đi khả năng tái hiện thông tin của chúng Nếu xảy ra tranh chấp, việc yêu cầu Tòa án
Trang 40bảo vệ quyền lợi cũng trở nên dễ dàng hơn Luật dân sự Việt Nam thừa nhận nguyên tắc tự do hợp đồng, theo đó, các bên hoàn toàn có thể tự do lựa chọn hình thức khi giao kết hợp đồng Tuy nhiên, đối với một số loại hợp đồng, hình thức văn bản là sự lựa chọn duy nhất được pháp luật bảo vệ Thông thường, hợp đồng bằng văn bản được lựa chọn trong những trường hợp sau: Thứ nhất, hợp đồng có giá trị lớn: giá trị lớn không phải là một khoản tiền được ấn định bằng con số cụ thể mà có thể được hiểu là khoản tiền vượt quá khả năng thu nhập bình quân, được tích cóp trong khoảng thời gian nhất định hoặc được đánh giá bởi ảnh hưởng của nó đối với đời sống sinh hoạt hàng ngày của cá nhân Chính vì giá trị hợp đồng lớn nên ngay từ khi giao kết, các bên thường lưu ý và cẩn trọng trong việc trao đổi và ngã giá Nếu có
vi phạm, ảnh hưởng tiêu cực đối với bên bị vi phạm rất lớn Hợp đồng được ghi nhận dưới hình thức văn bản là một phương thức thúc đẩy các bên phải tôn trọng và thực hiện nghĩa vụ một cách đầy đủ
Thứ hai, hợp đồng có nội dung quyền và nghĩa vụ phức tạp: phản ánh các quan hệ dân sự phong phú, đa dạng, hợp đồng được chia làm rất nhiều các loại khác nhau mà luật không thể liệt kê hết Tuy nhiên, có nhiều hợp đồng
mà nội dung không thể chứa đựng trong vài câu chữ giản đơn Thậm chí, phải mất vài chục trang giấy mới có thể ghi nhận hết những nội dung hợp đồng Tính phức tạp của những hợp đồng này được thể hiện ở rất nhiều góc độ: hợp đồng có yếu tố nước ngoài, đối tượng hợp đồng bao gồm cả tài sản và công việc phải làm, phương thức thanh toán không trực tiếp… Với những nội dung phức tạp thì việc giao kết bằng hình thức lời nói không thể đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng Mặt khác, trong trường hợp này, một hợp đồng được lập bằng văn bản với những nội dung được ghi nhận rõ ràng, mạch lạc giúp các bên yên tâm trước tính chắc chắn và tin cậy của hợp đồng
Thứ ba, hợp đồng được thực hiện trong thời gian dài: không phải hợp