Do vậy, luật pháp yêu cầu di chúc phải đáp ứng những điều kiện nhất định đã được quy định tại điều 652 Bộ luật Dân sự 2005 thì bản di chúc đó mới được coi là hợp pháp và chỉ khi là một b
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ DANH
HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC THEO QUY ĐỊNH CỦA
BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 2005
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội năm 2009
Trang 2MỤC LỤC
Lời cam đoan
Danh mục các thuật ngữ viết tắt
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỪA KẾ THEO
DI CHÚC VÀ HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC
1.1 Những vấn đề pháp lý cơ bản về thừa kế theo di chúc 6 1.1.1 Một số vấn đề cơ bản về di chúc 6 1.1.2 Thừa kế theo di chúc 12
1.2 Những vấn đề lý luận chung về hình thức di chúc 15 1.2.1 Khái niệm hình thức của di chúc 15 1.2.2 Vai trò của hình thức di chúc đối với việc thực hiện pháp luật
Trang 3CHƯƠNG 2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN PHÁP LUẬT VỀ
2.3.2 Hình thức của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự 1995 38
2.4 Hình thức của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự
2005
41
2.4.1 So sánh các quy định pháp luật về hình thức di chúc theo Bộ
luật dân sự 1995 và những sửa đổi, bổ sung năm 2005
Trang 4CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HÌNH THỨC DI CHÚC TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÌNH THỨC DI CHÚC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 3.1 Thực trạng giải quyết tranh chấp về hình thức di chúc tại
tòa án nhân dân
3.1.3 Nguyên nhân cơ bản dẫn đến những tồn tại trong quá trình
giải quyết tranh chấp về hình thức di chúc
72
3.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về hình thức di chúc
trong giai đoạn hiện nay
73
3.2.1 Quan điểm về hoàn thiện pháp luật về hình thức di chúc
trong giai đoạn hiện nay
73
3.2.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hình thức di
chúc trong giai đoạn hiện nay
78
Kết luận chung
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thừa kế tài sản là một quan hệ pháp luật dân sự vừa mang tính đạo lý truyền thống vừa mang tính lợi ích kinh tế Tuy nhiên, không phải lúc nào tài sản thừa kế cũng thuần tuý mang tính lợi ích kinh tế, nó còn ẩn chứa trong đó những giá trị tinh thần mà sự cao thấp còn do quan niệm và tình cảm của mỗi người thừa kế đối với người để lại di sản Chính vì vậy, việc thừa kế tài sản trong thực tiễn diễn biến rất phức tạp
Pháp luật dân sự quy định việc thừa kế tào sản có thể thực hiện theo luật hoặc theo di chúc Di chúc là sự bày tỏ ý chí của người để lại di sản nhằm định đoạt toàn bộ hoặc một phần tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của mình cho một hoặc nhiều người sau khi người đó chết Bộ Luật Dân sự Việt Nam giành cả một Chương (Chương XXIII) với 28 Điều (từ Điều 646 đến 673) quy định về thừa kế theo di chúc Trong đó, có quy định về hình thức di chúc Mặc dù đã có các quy định về hình thức di chúc nhưng vấn đề hình thức di chúc vẫn còn nhiều điểm gây tranh luận cả về lý luận lẫn thực tiễn áp dụng pháp luật
Qua thực tế hoạt động xét xử, có nhiều vụ án dân sự tranh chấp tài sản thừa kế liên quan đến Di chúc đặc biệt là hình thức của Di chúc Người ta tố cáo nhau đã nguỵ tạo di chúc, lập di chúc giả hoặc thông đồng với người có trách nhiệm để làm giả di chúc nhằm chiếm đoạt tài sản của người chết hoặc chiếm đoạt quyền hưởng di sản thừa kế của người khác Những tranh chấp này còn dẫn đến nhiều vụ án mạng rất đau lòng khi những người ruột thịt đánh giết nhau để tranh giành tài sản thừa kế Vậy, tại sao pháp luật đã quy định rõ nhưng vẫn xảy ra tranh chấp xung quanh hình thức của Di chúc? Những vấn đề đã và đang đặt ra cho các nhà làm luật là làm thế nào để xác định một di chúc hợp pháp:
Trang 6- Tiêu chí xác định người lập di chúc đang ở trong trạng thái minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc là tiêu chí cảm tính của người chứng thực di chúc?
- Yếu tố nào xác định người lập di chúc hoàn toàn không bị đe doạ hoặc cưỡng ép (đe doạ, cưỡng ép phải trực tiếp hay là cả gián tiếp)?
- Cách thức công chứng, chứng thực di chúc nói chung và di chúc của người bị hạn chế về thể chất, người không biết chữ?
- Giá trị thực tế của di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực?
- Việc ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên bố trong trường hợp lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc UBND xã, phường, thị trấn? Người có thẩm quyền công chứng, chứng thực có trách nhiệm gì về sự trung thực ghi chép đúng, đầy đủ, chính xác ý nguyện bằng lời của người để lại di chúc? v.v.và v.v
Để giải quyết những bất cập của thực trạng nói trên, đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu sâu về lý luận và thực tiễn các quy định về hình thức di chức theo pháp luật dân sự Việt Nam
Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Hình thức Di chúc theo quy định của Bộ Luật Dân sự Việt Nam năm 2005”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều nhà luật học nghiên cứu về vấn đề thừa kế và tài sản thừa kế theo Bộ Luật dân sự Việt Nam
Có thể nêu một số công trình đã được công bố trong thời gian gần đây có
liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài như: “Những quy định chung về
quyền thừa kế trong Bộ Luật dân sự Việt Nam của Thạc sỹ Nguyễn Minh
Tuấn; “Chế định về thừa kế trong Bộ Luật Dân sự Việt Nam” của Thạc sỹ Đinh Duy Thanh;”Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt nam theo quy
định của pháp luật từ năm 1945 đến nay” của Tiến sỹ Phùng Trung Tập và
Trang 7đặc biệt là đề tài “Thừa kế theo di chúc theo quy định của Bộ Luật Dân sự
Việt Nam” của Tiến sỹ Phạm Văn Tuyết
Kết quả nghiên cứu thể hiện trong những luận án nói trên cho thấy: Các tác giả tập trung phần lớn vào việc phân tích, trình bày các nội dung của các quy định có liên quan của Luật thực định về thừa kế nói chung; có chỉ ra một
số cơ sở lý luận và thực tiễn của những quy định pháp luật cũng như một số vấn đề thực tiễn đặt ra và đề xuất phương hướng khắc phục các quy định pháp luật về thừa kế; nhưng có thể nói rằng cho đến nay, chưa có một công trình khoa học pháp lý nào nghiên cứu một cách hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về một đề tài có phạm vi hẹp và sâu sắc như đề tài do tác giả lựa chọn
Những vấn đề lý luận hoặc là đang bỏ ngỏ hoặc là còn có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau như:
- Các điều kiện để di chúc được coi là hợp pháp? Làm thế nào để xác định đúng đắn điều kiện minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc? Biểu hiện của hành vi cụ thể hay là cảm tính của người có thẩm quyền chứng thực, công chứng? Trong khi đó các tranh chấp về thừa kế theo di chúc chỉ phát sinh khi đến thời điểm mở thừa kế (người để lại di sản thừa kế đã chết)
- Thế nào là di chúc không có giá trị pháp lý vì hình thức trái với quy định của pháp luật? Trong khi Điều 649 chỉ quy định vẻn vẹn về hình thức di chúc là : “Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được bằng văn bản thì có thể di chúc miệng ”
Về tổng quan tình hình nghiên cứu của nước ngoài có liên quan đến đề tài, tác giả chưa có điều kiện thu thập và đánh giá một cách đầy đủ, xin phép được tiếp tục thu thập và trình bày khi xây dựng và bảo vệ đề cương nghiên cứu chi tiết
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ nội dung, cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy định pháp luật về hình thức Di chúc thông qua việc
Trang 8phân tích các quy định của Pháp luật Dân sự hiện hành về Di chúc, hình thức
di chúc, đánh giá thực trạng những tranh chấp dân sự liên quan đến hình thức
di chúc và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hình thức di chúc ở nước ta
Nhằm mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài dự kiến có các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra như:
+ Khái niệm, đặc điểm hình thức Di chúc;
+ Cơ sở lý luận về hình thức di chúc;
+ Một số vấn đề về công chứng, chứng thực di chúc;
- Đánh giá thực trạng các tranh chấp Dân sự về tài sản thừa kế liên quan đến hình thức Di chúc
- Nghiên cứu tham khảo tài liệu của nước ngoài liên quan đến đề tài
- Đưa ra những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về hình thức di chúc
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu đề tài, tác giả vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng và Nhà nước
về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Tác giả sẽ sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu chủ yếu và có tính phổ cập như: Phương pháp tiếp cận lịch sử, phương pháp đối chiếu, phương pháp luật học so sánh, phương pháp phân tích kết hợp giải thích và tổng hợp, khái quát hoá Đặc biệt, trên cơ sở phân tích các bản án dân sự về giải quyết các tranh chấp tài sản thừa kế liên quan đến hình thức di chúc sẽ cho thấy những bất cập hiện nay của pháp luật khi quy định về vấn đề hình thức di chúc, làm cho đề tài nghiên cứu có tính thực tiễn cao; góp phần đáng
kể làm rõ những lý luận trong quá trình hoàn thiện các quy đinh pháp luật về hình thức di chúc
5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Trang 9Việc nghiên cứu, luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn của Pháp luật Dân sự Việt Nam trong khuôn khổ đề tài sẽ không chỉ có ý nghĩa rất quan trọng về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa rất to lớn trong việc hạn chế các tranh chấp dân sự liên quan đến hình thức di chúc, hoàn thiện các quy định pháp luật dân sự về hình thức di chúc
6 Những đóng góp mới của luận văn
- Luận văn đã khái quát được những vấn đề lý luận về di chúc, thừa kế theo di chúc và hình thức của di chúc, tạo nền tảng lý luận cho việc phân tích các quy định pháp luật Việt Nam về hình thức di chúc;
- Luật văn đã khái quát quá trình hình thành và phát triển các quy định
về hình thức di chúc theo pháp luật Việt Nam Trên cơ sở đó, luận văn đã chỉ
rõ được những bước phát triển trong các quy định pháp luật về di chúc và hình thức di chúc;
- Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, Luận văn đã đề xuất một
số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về hình thức di chúc hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu làm 3 chương như sau:
Chương 1 Những vấn đề lý luận chung về thừa kế theo di chúc và hình
thức của di chúc
Chương 2 Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật về hình thức di
chúc ở Việt Nam
Chương 3 Thực trạng giải quyết tranh chấp hình thức di chúc tại toà án
nhân dân và phương hướng hoàn thiện pháp luật về hình thức di chúc ở Việt Nam hiện nay
Trang 10CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỪA KẾ THEO
DI CHÚC VÀ HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ THỪA KẾ THEO
để chứng thực; hay như việc Jacob, bằng lời nói, đã để lại cho Joseph phần tài sản gấp đôi so với những người con khác của mình [27]
Có thể câu chuyện từ trong kinh sách tôn giáo không thể là một bằng
chứng xác thực cho bất cứ một vấn đề mang tính thực tiễn nào, nhưng ít nhất
từ những mẩu chuyện như thế, ta cũng có thể nhận thấy rằng: ngay trong lòng thế giới cổ đại, di chúc đã xuất hiện, và xuất hiện với rất nhiều hình thức
đa dạng khác nhau, có thể bằng bản viết tay, cũng có thể chi bằng lời nói
Điều này là minh chứng cho vị trí, vai trò của di chúc trong đời sống xã hội
Di chúc là cơ sở quan trọng nhất để thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết và cũng là cơ sở để xác lập quyền sở hữu di sản của người được hưởng di sản thừa kế đối với di sản thừa kế
Trong thực tế cuộc sống tồn tại hai khái niệm “Di chúc” và “Chúc thư” Trong thực tế, di chúc được gọi với nhiều thuật ngữ khác nhau như “Di chúc”,
“Chúc thư”, “Chúc ngôn” Trong đó, “Di chúc” là thuật ngữ dùng để chỉ các
di chúc nói chung, “Chúc thư” là thuật ngữ chỉ về các di chúc viết (di chúc văn bản), “Chúc ngôn” là thuật ngữ chỉ về các di chúc miệng Do đó, tất cả các thuật ngữ này đều là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản
Trang 11của mình cho người khác sau khi chết Về mặt pháp lý, BLDS 2005 chỉ sử dụng thuật ngữ Di chúc, không sử dụng trực tiếp thuật ngữ Chúc thư và Chúc ngôn Tuy nhiên, BLDS vẫn qui định về Di chúc bằng văn bản và Di chúc
miệng Theo quy định tại điều 646 Bộ luật dân sự 2005, di chúc được hiểu là
“sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”
Di chúc là ý chí chủ quan của người có tài sản định đoạt tài sản của mình
cho người khác sau khi chết Theo luật gia Ulpian thì: “Di chúc là sự thể hiện
ý chí của chúng ta và ý chí đó được thực hiện sau khi chúng ta chết”[8]
Luật La Mã quy định trong di chúc không được phép “im lặng bỏ qua” đối với hàng thừa kế thứ nhất (các con, nếu con chết thì các cháu) Nếu “im lặng bỏ qua” thì di chúc được coi là vô hiệu cho dù di chúc đó có tuân thủ đầy
đủ các điều kiện khác Ví dụ ông A có ba người con là B, C, D, ông để lại di chúc với nội dung: “Tôi cho hai con tôi là B và C mỗi đứa một nửa tài sản”
mà không ghi “truất quyền thừa kế của D” thì di chúc vô hiệu vì đã im lặng
bỏ qua D Nếu A chết tài sản sẽ được chia theo luật cho B, C, D
Di chúc được thể hiện dưới hai hình thức: bằng văn bản và bằng lời nói Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe doạ,
do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản, thì có thể lập di chúc bằng lời nói Di chúc bằng lời nói chỉ được coi là hợp pháp, nếu người di chúc bằng lời nói thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng kí tên hoặc điểm chỉ Sau 3 tháng, kể từ thời điểm lập di chúc bằng lời nói mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt, thì di chúc bằng lời nói bị huỷ bỏ
Trong trường hợp nội dung di chúc không rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, thì người công bố di chúc và những người thừa kế phải cùng nhau giải thích nội dung di chúc dựa trên ý nguyện đích thực trước đây của
Trang 12người chết, có xem xét đến mối quan hệ của người chết với người thừa kế theo
di chúc Nếu những người này không nhất trí về cách hiểu nội dung di chúc, thì coi như không có di chúc và di sản được thừa kế theo pháp luật
1.1.1.2 Đặc điểm của di chúc
Theo Điều 646 BLDS 2005, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân trong việc chuyển dịch tài sản của mình cho người khác sau khi chết Di chúc
có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Một là, di chúc thể hiện ý chí của người để lại di chúc trong việc định
đoạt tài sản của mình Một trong những ngụyên tắc cơ bản của việc giải quyết thừa kế theo di chúc là phải tôn trọng ý chí của người để lại di sản Nếu như người để lại di sản lập di chúc về việc phân chia di sản cho người khác thì căn
cứ vào nguyện vọng của người để lại di sản được ghi nhận trong bản di chúc, phần tài sản sẽ phải được ưu tiên phân chia theo ý chí của người để lại di sản
Đó chính là sự tôn trọng ý chí của người để lại di sản
Điều 631 Bộ luật dân sự 2005 quy định: Cá nhân có quyền lập di chúc
để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật Mọi cá nhân đều
bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật Ý chí của người để lại di sản thừa kế được thể hiện qua các quyền của người lập di chúc là:
- Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;
- Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;
- Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;
- Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;
- Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản
Hai là, di chúc ghi nhận sự chuyển dịch tài sản của người để lại di sản
cho người được hưởng thừa kế sau khi người đó chết
Trang 13Có thể khẳng định di chúc là một giao dịch dân sự đặc biệt Bộ luật dân
sự quy định rõ, giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự Một giao dịch dân sự có hiệu lực khi thỏa mãn các điều kiện theo quy định tại Điều 122 BLDS Tính đặc biệt của di chúc được thể hiện ở những khía cạnh sau đây:
- Di chúc chỉ phát sinh hiệu lực thực tế khi người để lại di sản thừa kế chết;
- Việc định đoạt tài sản thừa kế phải tuyệt đối tuân thủ theo nội dung của
di chúc, không được thay đổi hay giải thích nội dung của di chúc;
- Việc kiểm chứng/đối chiếu di chúc là rất khó khăn vì người để lại di sản thừa kế đã chết
Ba là, di chúc chỉ được coi là hợp pháp nếu nó đáp ứng đầy đủ các điều
kiện do pháp luật quy định
Di chúc chứa đựng ý chí đơn phương của người để lại di sản thừa kế Di chúc chỉ phát sinh hiệu lực khi người để lại di sản thừa kế chết Do vậy, luật pháp yêu cầu di chúc phải đáp ứng những điều kiện nhất định đã được quy định tại điều 652 Bộ luật Dân sự 2005 thì bản di chúc đó mới được coi là hợp pháp và chỉ khi là một bản di chúc hợp pháp thì ý chí của người để lại di sản thừa kế là muốn chuyển dịch tài sản của mình cho ai mới được công nhận và bảo đảm thực hiện Trong trường hợp nếu nội dung di chúc không rõ ràng, hoặc nghi ngờ về tính chính xác thì bản di chúc đó có thể bị huỷ bỏ
Bốn là, di chúc chỉ có hiệu lực pháp luật từ thời điểm người lập di chúc
chết
Đây là điểm khác biệt cơ bản nhất của di chúc với một hợp đồng dân sự Nếu hợp đồng dân sự có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết hợp đồng thì thời điểm bắt đầu có hiệu lực của di chúc được xác lập kể từ khi người lập ra nó chết
Năm là, Di chúc luôn trong tình trạng có thể bị người lập ra nó huỷ bỏ
Trang 14Xuất phát từ đặc điểm chủ sở hữu có toàn quyền trong việc định đoạt khối tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, do đó, người lập di chúc hoàn toàn
có quyền huỷ bỏ di chúc mà mình đã lập trước đó để định đoạt lại khối tài sản thuộc quyền sở hữu của mình Vì vậy, di chúc đã lập không mang tính cố định, nó có thể bị thay đổi bất cứ lúc nào, việc thay đổi này phụ thuộc vào ý chí của người lập di chúc Bởi lẽ, di chúc chỉ là hình thức để ghi lại ý chí của
họ Nói một cách khác đi, người lập di chúc có ý định hình thành quan hệ thừa kế giữa mình với người có tên trong di chúc
Sự định đoạt trong di chúc thể hiện ý chí đơn phương, không phụ thuộc vào một cam kết hay một thoả thuận nào Do vậy, trong thời gian còn sống, người lập di chúc có thể thay đổi một, một số hoặc toàn bộ nội dung của di chúc tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, môi trường, tình cảm hiện tại Chính vì vậy pháp luật thừa kế quy định từ thời điểm mở thừa kế, nếu một người để lại nhiều bản di chúc thì chỉ bản di chúc nào thể hiện ý chí tự nguyện sau cùng mới được coi là có hiệu lực Các di chúc lập ra trước đó đều được coi là chưa từng tồn tại
Người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ di chúc vào bất kỳ lúc nào Nếu có người lập nhiều di chúc thì di chúc sau có giá trị hơn di chúc trước Để bảo đảm cho việc thay đổi nội dung di chúc được tiến hành theo quy định của pháp luật và bảo đảm tính pháp lý của các lần thay đổi, luật pháp cần quy định chặt chẽ việc sửa đổi, bổ sung di chúc
Có thể khẳng định rằng, việc xác định các điều kiện có hiệu lực của di chúc là nội dung quan trọng và truyền thống của chế định thừa kế theo di chúc Trước đây, Luật La Mã quy định khá chặt chẽ các điều kiện để một di chúc có hiệu lực như: người lập di chúc phải có khả năng lập di chúc (con gái
từ 12 tuổi, con trai từ 14 tuổi trở lên, không bị tâm thần, không phạm trọng tội); hình thức di chúc phải phù hợp với quy định của pháp luật (di chúc viết phải được quan tòa, quan chấp chính chứng thực, di chúc miệng phải có bảy người làm chứng, người thừa kế phải được chỉ định rõ ràng, chính xác); người
Trang 15được chỉ định trong di chúc phải là người có khả năng trở thành người thừa kế (thai nhi sinh vào tháng thứ mười một, đàn ông từ 25 đến 60 tuổi, đàn bà từ
20 đến 50 tuổi mà không lập gia đình thì không được hưởng thừa kế…)
1.1.1.3 Di chúc hợp pháp và nội dung của di chúc
Đây là nội dung quan trọng nhất trong các quy định về thừa kế theo di chúc, vì di chúc là căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản của người hưởng di sản thừa kế
Di chúc hợp pháp:
Phần lớn các tranh chấp liên quan đến thừa kế theo di chúc đều phát sinh
do một trong các bên phủ nhận tính hợp pháp của di chúc Điều 652 BLDS quy định rõ điều kiện có hiệu lực của di chúc là:
- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc không bị
lừa dối đe doạ hay cưỡng ép
- Nội dung di chúc không trái pháp luật và đạo đức xã hội
- Di chúc của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải lập bằng văn bản và được cha mẹ hoặc người giám hộ đồng ý Do vậy, người mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ hành vi của mình, người dưới 15 tuổi thì không có khả năng hoặc chưa đủ khả năng thể hiện ý chí trong việc định đoạt tài sản của mình bằng việc lập di chúc, pháp luật không cho phép những người này lập di chúc thông qua người đại diện
theo pháp luật
- Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực
Nội dung của di chúc:
Cùng với quy định di chúc hợp pháp, BLDS nước ta cũng quy định cụ thể nội dung di chúc và các trường hợp phát sinh Đây là căn cứ pháp lý để xác định nội dung của di chúc
Trang 16Theo Điều 653 của BLDS 2005, di chúc bằng văn bản phải thể hiện các
nội dung sau:
- Ngày, tháng, năm lập di chúc
- Họ tên và nơi cư trú của người lập di chúc
- Họ tên cơ quan, tổ chức, người hưởng di sản
- Di sản để lại và nơi có di sản
- Việc chỉ định thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ
Di chúc không được viết tắt hoặc bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc để tránh trường hợp tự ý thay đổi nội dung di chúc bằng việc đánh tráo các trang không có chữ ký hoặc điểm chỉ trái với ý chí của người lập di chúc
1.1.2 Thừa kế theo di chúc
Quyền để lại thừa kế và quyền thừa kế là những quyền cơ bản của công dân luôn luôn được pháp luật ở nhiều nước trên thế giới quan tâm, theo dõi và bảo hộ Việt Nam là một trong những nước đang phát triển và có nền văn hóa với các truyền thống đạo đức lâu đời được truyền từ đời này qua đời khác Do
đó đối với người Việt Nam hiện nay, việc coi trọng các phong tục, tập quán,tình cảm cha con, vợ chồng, anh em gắn bó keo sơn đã khiến cho không
ít người bỏ qua việc đảm bảo quyền để lại thừa kế của mình bằng cách thảo một bản di chúc Bên cạnh đó có những người đã lập di chúc nhưng lại chưa hiểu rõ về pháp luật khiến cho những bản di chúc này không rõ ràng khiến cho những người thừa kế phải nhờ pháp luật phân xử hộ (đưa ra tòa) làm giảm sút đi mối quan hệ tình cảm thân thuộc vốn có
Theo quan điểm của Ăng- ghen: thừa kế “là sự chuyển dịch tài sản của
người chết cho người còn sống” Quyền thừa kế là quyền thừa hưởng tài sản
của người chết để lại theo một trình tự do pháp luật quy định Pháp luật cho phép những người thừa kế được hưởng di sản đồng thời buộc họ phải thực hiện những nghĩa vụ tài sản của người chết
Trang 17Với tư cách là một chế định của Luật dân sự, thừa kế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh sự truyền lại tài sản của người đã chết cho người khác theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật Thừa kế theo quan hệ pháp luật dân sự chính là sự chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản của
cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức, có quyền hưởng thừa kế; người thừa kế trở thành chủ sở hữu của tài sản theo di chúc hay theo pháp luật (riêng đối với đất đai là thừa kế quyền sử dụng) Sự chuyển dịch di sản của người chết sang người sống sẽ được thực hiện theo hai căn cứ: i) Nếu căn cứ theo ý chí, nguyện vọng của người chết thì được gọi là thừa kế theo di chúc; ii) Nếu căn cứ theo các qui định của pháp luật thì được coi là thừa kế theo pháp luật Điều này cũng tương đồng với Luật La Mã
Luật La Mã quy định hai hình thức cơ bản là thừa kế theo di chúc
(testato) và thừa kế theo luật (intestato), ngoài ra hình thức thừa kế theo lệnh
của các quan cũng được thừa nhận trên thực tế Ở thời kỳ đầu, hình thức chủ yếu là thừa kế theo luật, sau đó thừa kế theo di chúc trở nên phổ biến hơn Trên cơ sở quy định tại Điều 632 BLDS 2005 có thể khẳng định: mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác, trên cơ
sở tôn trọng quyền sở hữu tài sản của cá nhân đối với thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sản xuất hoặc tư liệu tiêu dùng Bên cạnh đó, mọi
cá nhân đều có quyền để lại tài sản thuộc sở hữu của mình thông qua việc lập
di chúc hoặc để lại thừa kế cho những người thừa kế theo pháp luật Bên cạnh quyền để lại tài sản theo pháp luật cũng quy định bình đẳng về quyền thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật Pháp luật dân sự quy định như vậy nhằm xóa bỏ sự bất bình đẳng trong việc hưởng di sản thừa kế, trong việc để lại di sản do xã hội phong kiến để lại, đảm bảo quyền thừa kế được thực hiện trên thực tế, củng cố và phát triển tình đoàn kết thương yêu trong nội bộ gia đình Một trong những vấn đề quan trọng của pháp luật về thừa kế là thời điểm
mở thừa kế Khoản 1 Điều 633 BLDS 2005 quy định: Thời điểm mở thừa kế
là thời điểm người có tài sản chết Trong trường hợp Tòa án tuyên bố một
Trang 18người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật Dân sự
Như vậy, thời điểm mở thừa kế là thời điểm cá nhân có tài sản thuộc sở hữu của mình chết Trong trường hợp một người bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì thời điểm mở thừa kế được quy định theo hướng mở để tạo điều kiện cho tòa án xác định một người là đã chết Theo quy định tại Điều 81 Bộ luật dân
sự 2005, người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong các trường hợp sau đây: a) Sau ba năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống; b) Biệt tích trong chiến tranh sau năm năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống; c) Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau một năm,
kể từ ngày tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; d) Biệt tích năm năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Ðiều 78 của Bộ luật này Tùy từng trường hợp, Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết căn cứ vào các trường hợp quy định tại khoản 1 Ðiều này Đây là vấn đề cần phải làm rõ trong việc xác định thời điểm mở thừa kế cũng như xác định tính pháp lý của
di chúc trong trường hợp người bị tuyên bố là đã chết có để lại di chúc
Trên thực tế, nhiều trường hợp những người được hưởng di sản thừa kế của nhau như cha - con, vợ - chồng, mà chết cùng một thời điểm hoặc được coi là chết cùng một thời điểm thì pháp luật quy định: Trong trường hợp những người được hưởng thừa kế di sản của nhau mà chết cùng một thời điểm hoặc được coi chết cùng một thời điểm không xác định được người nào chết trước, chết sau thì những người đó không được hưởng di sản thừa kế của nhau, phần di sản của người nào sẽ do những người thừa kế của người đó hưởng (Điều 641 BLDS 2005) do đó, việc xác định thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề về thừa kế theo di chúc Cụ
Trang 19thể là:
* Xác định đi sản, thông thường, người lập di chúc xác định toàn bộ tài
sản thừa kế của mình trong di chúc Tuy nhiên, có thể do thời điểm lập di chúc cách xa với thời điểm người đó chết và dẫn đến sự biến động về tài sản của người đó nhưng họ vẫn không xác định lại tài sản đã liệt kê Trong các trường hợp này, tài sản thừa kế được xác định trong di chúc với số tài sản thực còn vào thời điểm mở thừa kế là khác nhau Vì vậy, thời điểm mở thừa
kế là mốc thời gian để xác định số di sản thừa kế mà người lập di chúc để lại sau khi chết
* Xác định người thừa kế bởi vì pháp luật quy định cá nhân phải còn
sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra còn sống sau thời điểm mở thừa
kế nhưng đã thành thai trước thời điểm này; tổ chức phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế
Thủ tục xác định thời điểm mở thừa kế dựa trên giấy chứng tử của cơ quan có thẩm quyền hoặc bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật xác định một người là đã chết
Thừa kế theo di chúc là việc để lại di sản và việc hưởng di sản theo ý chí của người chết được thể hiện bằng văn bản hoặc bằng lời nói của người đó trước khi chết Thừa kế theo di chúc là một trong hai hình thức thừa kế nhằm bảo đảm cho cá nhân trước khi chết định đoạt tài sản của mình theo ý muốn của người đó, tuy nhiên sự định đoạt đó chỉ hợp pháp khi đảm bảo các điều kiện do pháp luật quy định
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÌNH THỨC CỦA
DI CHÚC
1.2.1 Khái niệm hình thức của di chúc
Hình thức của di chúc có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực thi ý chí của người lập di chúc Mong muốn của người để lại di sản thừa kế chỉ được ghi nhận khi nó thể hiện rõ ràng về mặt nội dung và dưới những hình thức pháp lý theo quy định của pháp luật
Trang 20Ngày nay, mỗi nhà nước, mỗi hệ thống pháp luật trên thế giới lại có những quy định khác biệt về cùng một vấn đề của quan hệ pháp luật dân sự là
hình thức của di chúc Sự đa dạng của hình thức di chúc bắt nguồn từ sự
phong phú và đa dạng của cuộc sống con người, từ truyền thống lịch sử của mỗi quốc gia hay từ đặc điểm riêng biệt của mỗi xã hội Do đó, nhìn nhận
đúng đắn khái niệm hình thức di chúc có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với hoạt động lập pháp cũng như áp dụng pháp luật vào giải quyết các vấn đề phát sinh từ di chúc – một vấn đề không chỉ là những quy định pháp lý đơn thuần
mà còn là vấn đề mang ý nghĩa đạo đức truyền thống sâu sắc Bởi lẽ, các quy định pháp luật về hình thức di chúc không rõ ràng, không chặt chẽ sẽ trở thành nguyên nhân của những bất ổn xã hội, ảnh hưởng đến truyền thống tốt đẹp của từng quốc gia
Theo hiểu biết chung, hình thức của di chúc là sự biểu hiện ý chí của người để lại di sản thừa kế ra bên ngoài thế giới khách quan, chứa đựng nội
dung di chúc theo một trình tự, kết cấu nhất định Hình thức di chúc là
phương thức biểu hiện ý chí của người lập di chúc; là căn cứ pháp lý làm phát sinh quan hệ thừa kế theo di chúc, là chứng cứ để bảo vệ quyền lợi cho người được chỉ định trong di chúc””[17,331]
Bộ luật Dân sự quy định di chúc phải được lập thành văn bản, nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình
1.2.2 Vai trò của hình thức di chúc đối với việc thực hiện pháp luật
về thừa kế
Thứ nhất, hình thức của di chúc là cơ sở xác định cá nhân người thừa kế
phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế Điều 635-BLDS 2005 qui định "
Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế "
Với đặc trưng cơ bản của sự thừa kế là sự tiếp nối về sở hữu tài sản giữa người sống với người chết nên người thừa hưởng di sản đương nhiên phải là
Trang 21người còn sống Việc dịch chuyển di sản từ người chết này sang người chết khác là không thực hiện được Tiếp đó là việc người còn sống đó phải còn sống ở thời điểm mở thừa kế Có thể người thừa kế đã chết nhưng khi mở thừa kế thì ông ta còn sống hoặc đã chết hay mất tích nhưng chưa bị tuyên bố
là đã chết hoặc ngày tuyên bố nguời đó chết là sau ngày mở thừa kế, khi đó ông ta việc chuyển giao di sản cho ông ta vẫn được thực hiện và nó sẽ được tính vào tài sản của người đó Trong trường hợp người thừa kế bị tuyên bố là
đã mất tích hoặc chết nhưng sau đó người đó còn sống trở về thì người đó vẫn được coi là còn sống và được quyền hưởng di sản sau khi tòa án hủy bỏ tuyên
bố mất tích hoặc đã chết
Thứ hai, di chúc là căn cứ xác định quyền và nghĩa vụ tài sản của người
nhận di sản thừa kế do người chết để lại Quyền luôn luôn đi kèm với nghĩa
vụ Do đó những người thừa kế có quyền thừa hưởng di sản để lại từ người chết theo di chúc hoặc theo pháp luật, phần di sản họ được hưởng có thể bằng nhau hoặc không bằng nhau tùy theo ý chí của người chết Đồng thời họ có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại theo điều 637-BLDS
2005, nghĩa vụ tài sản họ phải thực hiện sẽ tùy theo phần mà họ được hưởng Nếu người thừa kế khước từ hoặc không được nhận phần di sản để lại của người chết thì họ có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết
Thứ ba, hình thức của di chúc là một trong những căn cứ để xác định
tính hợp pháp của di chúc và giải quyết các vấn đề khác liên quan đến thừa kế
Bộ luật dân sự Việt Nam cũng như các nước khác đều yêu cầu di chúc phải được thể hiện dưới hình thức nhất định, chỉ khi di chúc được thể hiện dưới hình thức nhất định thì chúng ta mới xác định được chính xác nội dung ý chí của người để lại di sản thừa kế Đã có nhiều tranh chấp liên quan đến thừa
kế theo di chúc, mà trong đó xem xét tính hợp pháp của di chúc, phủ nhận di chúc là rất phổ biến Điều này cũng là tất yếu, bởi lẽ, thông qua di chúc, việc định đoạt tài sản của người để lại di chúc là rõ ràng nhất, có liên quan trực
Trang 22tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người có tên trong di chúc cũng như những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác
1.2.3 Yêu cầu và các nhân tố tác động đến quy định pháp luật về hình thức của di chúc
1.2.3.1 Yêu cầu của quy định pháp luật về hình thức di chúc
Một trong những điểm cần lưu ý đối với pháp luật về thừa kế theo di chúc đó là người lập di chúc thường chủ động trong việc lập di chúc căn cứ vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể để lập di chúc định đoạt tài sản của mình sau khi chết Do đó, pháp luật về hình thức di chúc phải tạo điều kiện thuận lợi cho người lập di chúc trong việc tự do thể hiện ý chí và nguyện vọng của mình thông qua nội dung cũng như hình thức của di chúc
Pháp luật Việt nam cũng như các nước thường quy định hình thức của di chúc dưới hai dạng phổ biến, đó là viết (văn bản) và hình thức lời nói (di chúc miệng) Tuy vậy, pháp luật các nước thường quy định rất chặt chẽ đối với hình thức di chúc miệng vì việc giải quyết thừa kế theo di chúc ở mức độ nhất định có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của người có liên quan đến người lập di chúc
Trang 23Đây là nguyên nhân giải thích vì sao pháp luật về hình thức di chúc đã được quy định cụ thể rõ ràng mà vẫn xảy ra tranh chấp
Thứ hai, liên quan đến các quy định công chứng, chứng thực di chúc,
đặc biệt là việc lập di chúc của người bị hạn chế về thể chất, người không biết chữ; việc xác định giá trị thực tế của di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực; việc ghi chép lại nội dung mà người lập di chúc đã tuyên
bố trong trường hợp lập di chúc tại cơ quan công chứng hoặc uỷ ban nhân dân cấp xã Vì đây là những vấn đề có liên quan trực tiếp đến việc giải quyết các tranh chấp về hình thức của di chúc
Thứ ba, về hình thức của di chúc cần phải làm rõ là người lập di chúc
thường xuyên nhắc nhở về việc phân chia di sản khi còn sống có được coi là
di chúc miệng hay không? Vì trên thực tế đã có nhiều trường hợp phân chia di sản thừa kế bằng lời nói khi còn sống
Về nội dung này, theo chúng tôi, để xác định việc tuyên bố của người để lại di sản thừa kế khi còn sống cần căn cứ vào những yếu tố sau đây:
- Người để lại di sản thừa kế phải thường xuyên đề cập đến nội dung phân chia di sản;
- Những người được hưởng di sản thừa kế không có khiếu nại gì về việc phân chia di sản;
- Có sự làm chứng của những người sống xung quanh là người để lại di sản thừa kế đã tuyên bố như vậy
Như vậy, việc bảo đảm tính thuận tiện cho các quy định pháp luật về hình thức của di chúc có ý nghĩa rất quan trọng, nhất là việc bảo đảm cho hình thức di chúc bằng văn bản được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật Để tạo điều kiện thuận lợi cho người lập di chúc, kể cả đối với những người không biết chữ, pháp luật cần quy định theo hướng mở, tôn trọng tối đa quyền tự định đoạt của người lập di chúc
Bên cạnh tính thuận tiện cho người lập di chúc, pháp luật về hình thức di chúc còn phải bảo đảm tính đa dạng, đáp ứng các yêu cầu, nguyện vọng khác
Trang 24nhau của người lập di chúc Cụ thể, trong các quy định pháp luật hiện hành của nước ta mới chỉ ghi nhận hai hình thức cơ bản là di chúc bằng văn bản và
di chúc miệng Theo pháp luật các nước, các hình thức di chúc bí mật, di chúc được ghi âm, ghi hình cũng được coi là những hình thức di chúc khá phổ biến hiện nay Nhiều người không muốn lập di chúc bằng văn bản hoặc công chứng, chứng thực vì họ sợ ảnh hưởng đến việc định đoạt và thể hiện ý chí của mình trong nội dung của di chúc Việc ghi nhận tính đa dạng của các hình thức di chúc kết hợp với các điều kiện pháp lý cụ thể đối với từng hình thức di chúc sẽ tạo thuận lợi cho người lập di chúc trong việc tự do thể hiện ý chí của mình đối với phần di sản thừa kế
1.2.3.2 Các nhân tố tác động đến pháp luật về hình thức của di chúc
Pháp luật ghi nhận hình thức của di chúc chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân
tố khác nhau trong đó phải kể đến một số các nhân tố điển hình có tác động trực tiếp đến sự phát triển của pháp luật về thừa kế nói chung cũng như là pháp luật về hình thức của di chúc nói riêng:
Thứ nhất, trình độ phát triển của pháp luật về thừa kế theo di chúc
Pháp luật dân sự cũng như pháp luật thừa kế đã được hình thành từ rất sớm Bên cạnh đó, các quy định pháp luật về thừa kế theo di chúc, về hình thức của di chúc cũng ngày càng được kế thừa và hoàn thiện cho phù hợp với nhu cầu của con người và sự phát triển của xã hội Chính vì vậy, trình độ phát triển của pháp luật về thừa kế sẽ có những tác động tích cực đến việc hoàn thiện các quy định pháp luật về hình thức di chúc
Thứ hai, trình độ nhận thức của người dân và truyền thống đạo đức của
dân tộc
Là nước coi trọng đại hiếu, người Việt Nam thường không đề cập đến vấn đề thừa kế khi người lập di chúc còn sống Người lập di chúc không muốn lập di chúc sớm hoặc có nhiều người quan niệm việc để lại di chúc không cần phải viết quá chi tiết hoặc “sòng phẳng” vì nó liên quan đến tình cảm của những người thân trong gia đình
Trang 25Nhận thức được điều này, dù di chúc được biểu hiện dưới những hình thức nào thì ý chí của người để lại di sản phải được thể hiện một cách chi tiết,
rõ ràng và cụ thể
Thứ ba, trình độ khoa học công nghệ
Ngày nay, sự phát triển của khoa học công nghệ cho phép con người thể hiện ý chí của mình dưới nhiều dạng thức khác nhau, trong đó có chứa đựng những nội dung là “ý chí cuối cùng của người lập di chúc trong việc định đoạt tài sản của mình”, như thể hiện trong các trang Blog cá nhân, trong trang thư điện tử riêng của mình thì cần phải được coi một dạng của hình thức di chúc
Việc thừa nhận này là hoàn toàn có cơ sở, bởi lẽ, hình thức văn bản dạng thư điện tử đã được thừa nhận trong các quy định định luật Việt Nam, nhất là trong quan hệ thương mại
Như vậy, sự phát triển của khoa học công nghệ đã mở rộng cách hiểu hình thức của di chúc, đòi hỏi các quy định pháp luật phải thừa nhận nó, song thừa nhận ở mức độ như thế nào thì cần phải được cân nhắc thận trọng, bởi nếu không thì khó có thể xác định được chính xác hình thức của di chúc
1.2.3.4 Các hình thức của di chúc
Theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2005, có hai loại hình thức của di chúc
đó là di chúc miệng và di chúc bằng văn bản
- Di chúc miệng: Di chúc miệng là hình thức di chúc được lập trong
trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác (tai nạn, rủi ro) mà không thể lập di chúc bằng văn bản Sau 3 tháng kể từ ngày lập di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng đương nhiên bị huỷ bỏ
Di chúc miệng được coi là hợp pháp khi nó đảm bảo các điều kiện sau: + Phải là sự thể hiện ý chí cuối cùng của người để lại di sản trước mặt ít nhất hai người làm chứng
Trang 26+ Hai người làm chứng ngay sau đó ghi chép lại nội dung và ký tên hoặc điểm chỉ vào bản ghi nội dung đó
+ Người làm chứng không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 654 Theo đó, mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những trường hợp: i) Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập
di chúc; ii) Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc; iii) Người chưa đủ mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày lập di chúc miệng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực
- Di chúc bằng văn bản: bao gồm các trường hợp sau đây
+Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng với hình thức này
người lập di chúc phải tự tay viết và ký vào bản di chúc Việc quy định như vậy nhằm xác định tính tự nguyện trong việc định đoạt tài sản của người lập
di chúc
+ Di chúc bằng văn bản có người làm chứng: Trong trường hợp người
lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc, thì có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc
+ Di chúc có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực
của Ủy ban nhân dân cấp xã: Người lập di chúc có thể yêu cầu Công chứng Nhà nước chứng nhận hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực bản di chúc
Di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc được Công chứng nhà nước chứng nhận hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực bao gồm:
* Di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội trở lên, nếu quân nhân không thể yêu cầu Công chứng nhà nước chứng nhận hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã chứng thực;
Trang 27* Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của người chỉ huy phương tiện đó;
* Di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng khác có xác nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó;
* Di chúc của người đang làm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở vùng rừng núi, hải đảo có xác nhận của người phụ trách đơn vị;
+ Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của
cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó;
* Di chúc của người đang bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh có xác nhận của người phụ trách cơ sở đó
- Ngoài ra còn có di chúc của những người sau:
+ Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng
ý
+ Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã
Tuỳ từng loại hình thức di chúc cụ thể sẽ có các thủ tục riêng biệt Bộ luật Dân sự quy định chặt chẽ về các điều kiện và thủ tục lập di chúc Do vậy,
để đảm bảo cho bản di chúc được coi là hợp pháp và có hiệu lực trên thực tế thì người lập di chúc phải tuân thủ đúng các yêu cầu của một bản di chúc đã được ghi nhận trong luật
1.3 HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC THEO PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1.3.1 Quy định về hình thức của di chúc theo Bộ luật dân sự của nước Cộng hòa Pháp
Bộ luật Dân sự Pháp (hay còn được gọi là Bộ luật Napoleon) quy định
rất chi tiết về hình thức di chúc, từ Điều 967 đến Điều 1001[3] Hình thức di
Trang 28chúc bao gồm 3 dạng, là: di chúc viết tay, công chứng thư và di chúc bí mật (Điều 969)
- Di chúc viết tay chỉ có giá trị nếu người lập di chúc tự mình viết toàn
bộ phần nội dung, đề ngày, tháng, năm và ký tên Di chúc này không bị bắt buộc về hình thức trình bày (Điều 970)
- Công chứng thư phải do 2 công chứng viên hoặc 1 công chứng viên và
2 người làm chứng thừa nhận Người lập di chúc đọc cho công chứng viên viết tay, hoặc giao cho người khác viết tay, hoặc đánh máy chữ Sau khi viết xong thì phải đọc lại cho người lập di chúc nghe (Điều 972) Sau đó, người lập di chúc ký tên trước mặt công chứng viên và người làm chứng (Điều 973) Cuối cùng, công chứng viên và người làm chứng phải ký tên vào văn bản (Điều 974) Chỉ khi nào tuân thủ đủ các điều kiện cũng như các thủ tục nêu trên thì một di chúc dưới dạng công chứng thư mới có hiệu lực
- Di chúc bí mật là di chúc mà tờ giấy ghi nội dung di chúc hoặc tờ giấy làm phong bì (nếu có) phải được dán kín, đóng dấu và niêm phong Người lập
di chúc đưa bản di chúc đã được dán kín, đóng dấu và niêm phong của mình cho công chứng viên và 2 người làm chứng; hoặc dán kín, đóng dấu và niêm phong ngay trước mặt họ; và tuyên bố rằng nội dung ghi trong tờ giấy đó là di chúc của mình, do tự mình viết hoặc do nhờ người khác viết nhưng đã được mình kiểm tra nội dung
Trong mọi trường hợp, người lập di chúc đều phải chỉ rõ lối chữ đã được dùng, là viết tay hay đánh máy Sau đó, công chứng viên sẽ viết bản chứng nhận ghi rõ ngày, tháng, năm, nơi lập và mô tả rõ phong bì và con dấu cùng tất cả các thể thức trên đây Cuối cùng, người lập di chúc, công chứng viên và người làm chứng cùng ký vào bản chứng nhận Nếu một di chúc bí mật không tuân thủ đầy đủ các thể thức đã nêu trên thì nó không phải là di chúc bí mật, nhưng nếu vẫn thỏa mãn điều kiện của di chúc viết tay thì nó vẫn được công nhận là di chúc viết tay
Trang 29Ngoài ra, nhà làm luật còn dự liệu một số trường hợp đặc biệt về hình thức di chúc, như di chúc của quân nhân, lính thủy và nhân viên quốc phòng, của người bị ốm hoặc bị thương đang được điều trị trong bệnh viện hoặc các
cơ sở quân y Trong những trường hợp này, cấp chỉ huy hoặc y sĩ trưởng có thể là người chứng nhận cho bản di chúc (Điều 981, 982) Trong mọi trường
hợp, di chúc miệng đều không được công nhận ("Nuncupative wills are not
recognized" ) [28]
1.3.2 Quy định về hình thức di chúc theo Bộ luật dân sự Nhật Bản
Bộ luật dân sự Nhật Bản quy định về hình thức di chúc từ các Điều 967
đến Điều 984 [2] Di chúc có các hình thức viết tay hoặc qua công chứng hay dưới một dạng tài liệu bí mật, trong một số trường hợp đặc biệt thì cho phép lập di chúc theo thể thức khác (Điều 967)
Di chúc viết tay là di chúc do chính người lập di chúc viết ngày, tháng, năm, họ tên và đóng dấu vào đó (Điều 968)
Để lập di chúc thông qua công chứng thì cần phải hội đủ các thể thức sau: có 2 người làm chứng, người lập di chúc đọc miệng nội dung di chúc cho công chứng viên chép lại, sau đó công chứng viên đọc lại cho người lập di chúc và những người làm chứng nghe Người lập di chúc và từng người làm chứng phải kí và đóng dấu vào bản di chúc này sau khi đã khẳng định đúng nội dung của người làm di chúc Cuối cùng, công chứng viên xác nhận nội dung bản di chúc phù hợp với các thủ tục được nêu ở trên và kí tên đóng dấu ( Điều 969)
Để thực hiện việc lập di chúc dưới hình thức văn bản bí mật thì phải đáp ứng các thủ tục sau: người lập di chúc phải kí tên, đóng dấu, dán kín văn bản; sau đó đóng dấu lên phong bì bằng chính con dấu đã đóng trên bản di chúc, việc này phải được thực hiện trước công chứng viên và ít nhất 2 người làm chứng, đồng thời tuyên bố rằng đây là văn bản di chúc của mình cũng như tên
họ, nơi thường trú của người viết di chúc này Sau khi công chứng viên viết lên phong bì đã được đóng dấu ngày, tháng lập văn bản và ngày tháng mà
Trang 30người lập di chúc tuyên bố, công chứng viên, người lập di chúc và người làm chứng phải kí tên và đóng dấu của mình vào đó (Điều 970)
Trong một số các trường hợp đặc biệt theo luật định thì chấp nhận hình thức di chúc miệng Điều 976 chỉ rõ: người nào bị bệnh nặng hay trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng muốn để lại di chúc thì có thể để lại di chúc miệng trước 3 người làm chứng bằng cách đọc cho 1 trong số họ nghe nội dung di chúc, người này phải ghi chép lại Từng nhân chứng sau khi tin chắc văn bản đã được chép đúng thì ký tên và đóng dấu vào đó Di chúc này chỉ thực sự có hiệu lực khi trong khoảng thời gian 20 ngày kể từ ngày lập nó được người làm chứng hoặc cá nhân có liên quan đưa ra Tòa hôn nhân – gia đình xin công nhận Ngoài ra, trong trường hợp quy định tại Điều 978, khi người lập di chúc đang trên một con tàu sắp đắm, và có nguy cơ chết ngay thì
có thể lập di chúc miệng chỉ với 2 người làm chứng
1.3.3 Quy định của Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan về hình thức của di chúc
Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan quy định về hình thức di chúc từ
Điều 1655 đến Điều 1672 với 5 loại hình thức di chúc khác nhau
Di chúc văn bản có người làm chứng là di chúc có ghi rõ ngày, tháng, năm
lập di chúc và phải được người lập di chúc ký trước sự làm chứng của ít nhất
2 người, và những người làm chứng sau đó cũng ký xác nhận vào bản di chúc
đó (Điều 1656)
Di chúc viết tay là di chúc do người lập di chúc tự mình viết toàn bộ từ
nội dung di chúc tới điền ngày, tháng, năm và ký Di chúc này không bị ràng buộc về hình thức trình bày (Điều 1657)
Di chúc văn bản công là di chúc được người lập di chúc đọc miệng cho
"Kromakarn Amphoe" viết lại trước sự chứng kiến của ít nhất 2 người, sau khi đã được nghe đọc lại và đã xác định chắc chắn văn bản này phù hợp với những tuyên bố của người lập di chúc, người lập di chúc và người làm chứng cùng ký tên mình vào di chúc Viên chức "Kromakarn Amphoe" điền ngày,
Trang 31tháng, năm và ký vào văn bản bằng tên của mình để chứng nhận rằng di chúc
đã được lập hoàn toàn phù hợp với các quy định trên (Điều 1658)
Di chúc bí mật là di chúc đã được người lập di chúc ký tên vào, dán kín
lại và ký tên dọc theo chỗ dán Khi xuất trình văn bản dán kín này cho
"Kromakarn Amphoe" và ít nhất 2 người làm chứng khác nữa xem, người lập
di chúc phải tuyên bố rõ ràng văn bản đó bao gồm việc định đoạt theo di chúc của người đó Sau khi viên chức "Kromakarn Amphoe" ghi lên vỏ bọc ngoài của văn bản tên, lời tuyên bố của người lập di chúc và ngày tháng năm xuất trình và đóng dấu của mình lên đó, thì người lập chúc và người làm chứng phải ký tên lên đó (Điều 1660)
Trong trường hợp đặc biệt như đang có nguy hiểm chết người đến nơi, hoặc đang trong thời gian chiến tranh hay có dịch bệnh, một người bị ngăn trở trong việc lập di chúc bằng bất cứ dạng nào đã được kể ra trên đây, thì có thể
lập di chúc miệng Việc lập di chúc này được thực hiện bằng cách tuyên bố ý
định về nội dung di chúc trước mặt ít nhất Hai người làm chứng vào cùng lúc Hai người làm chứng này phải trình bày ngay lại nội dung di chúc cho
"Kromakarn Amphoe", cũng như ngày, tháng, năm và hoàn cảnh đặc biệt mà
di chúc đã được lập "Kromakarn Amphoe" ghi nhận lời khai của người làm chứng bằng văn bản, và 2 người làm chứng phải ký vào văn bản đó để xác nhận [4]
1.3.4 Quy định về hình thức di chúc theo pháp luật Hoa Kỳ
Luật pháp Hoa Kỳ không có những quy định chung thống nhất trên
phạm vi toàn liên bang điều chỉnh về hình thức di chúc, mà ở mỗi tiểu bang lại có sự quy định khác nhau về vấn đề này
Điều 29-1-5-2 Bộ luật Bang Indiana ghi nhận: " Mọi di chúc, trừ chúc
ngôn, đều phải được trình bày dưới dạng văn bản ", tức là người Indiana thừa
nhận chúc ngôn là một hình thức di chúc hợp pháp; pháp luật bang Texas quy
định khá chi tiết về trường hợp này là: " Không một chúc ngôn nào có hiệu
lực, trừ khi nó được làm ra trong thời điểm ốm yếu của bệnh tật, tại nhà của
Trang 32người đó, hay tại nơi mà người đó đang ở trước đó trong vòng 10 ngày với
sự chứng kiến của 3 nhân chứng, với 1 trong số họ là người chép lại nội dung
di chúc đó ", trong khi đó luật Bang Montana lại khẳng định dứt khoát: di
chúc phải ở dưới dạng văn bản ( Điều 72-2-522 Bộ luật bang Montana, điểm (a))
Về chúc thư ở mỗi Bang cũng có sự khác biệt Nếu như ở đa số các Bang, một bản di chúc hợp pháp yêu cầu phải có ít nhất hai người làm chứng, thì riêng tại bang Vermont thì phải có ít nhất ba người Nếu như Bang Louisiana yêu cầu rằng người lập di chúc phải kí vào tất cả các trang của di chúc, và quá trình thực hiện bản di chúc của người lập di chúc phải được giám sát bởi một công chứng viên thì luật pháp Bang Pennsylvania không đòi hỏi bản di chúc phải được công chứng, mà chỉ cần có 2 người đứng ra làm chứng cho bản di chúc này
Nếu như ở đa số các Bang hình thức di chúc dưới dạng tự bút được công nhận phổ biến, nhưng ở một số bang khác lại chỉ chấp nhận hình thức này cho một số cá nhân, như quân nhân, thủy thủ
Nói tóm lại, trong hệ thống pháp luật Hoa Kỳ tồn tại những hình thức di chúc như sau:
- Di chúc tự bút do người lập di chúc viết tay hoàn toàn, từ nội dung di
chúc tới điền ngày, tháng, năm và ký tên Di chúc này được công nhận khi xác định được chữ viết trong di chúc thực sự là chữ của người lập di chúc
- Di chúc đánh máy, thông thường là các biểu mẫu di chúc do các chính
quyền bang phát, hoặc là các di chúc do luật sư soạn thảo Loại di chúc này thường chỉ cần người lập di chúc điền ngày, tháng, năm lập di chúc và ký tên
Di chúc có hiệu lực khi có ít nhất 2 người làm chứng hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm chứng
- Di chúc miệng, thường chỉ được áp dụng khi người lập di chúc không
thể thực hiện được các hình thức khác, hoặc chỉ được công nhận đối với một
số cá nhân nhất định
Trang 33- Di chúc phi văn bản khác, loài này thường là các băng đĩa ghi âm, ghi
hình Trên lý thuyết phần lớn bộ luật các bang đều không thừa nhận đây là một hình thức di chúc, nhưng trong thực tế xét xử, các tòa án vẫn coi đây là một di chúc đặc biệt, chỉ cần nó thỏa mãn được các điều kiện: nội dung có liên quan trực tiếp đến sự việc; di chúc được làm với tình trạng đầy đủ sức khỏe và minh mẫn tình thần của người lập di chúc, thể hiện được ý chí cá nhân của người lập di chúc, và được tòa án xác nhận là hoàn toàn phù hợp
[26]
Từ các quy định về hình thức di chúc của các nước như đã trình bày ở trên, có thể thấy một số nhận xét sau đây:
Một là, phần lớn các quốc gia đều thừa nhận có 2 hình thức di chúc chủ
yếu, là hình thức văn bản và hình thức lời nói
Thực tế không phải lúc nào người ta cũng có thể viết được di chúc dưới dạng văn bản Có thể do trình độ học vấn (mù chữ), có thể do yếu tố thể chất, sức khỏe (mù lòa ), có thể do truyền thống, tập tục dân tộc (người dân vẫn quen với cách thức thừa kế như từ xưa), và chủ yếu là do yếu tố bất ngờ, cấp thiết của tình huống (lâm bệnh nặng, bị thương nặng dẫn đến không còn khả năng viết, lập di chúc; có mặt trên con tàu đang đắm ) chính những nguyên nhân như vậy đã buộc nhà làm luật phải chấp nhận cho di chúc bằng lời nói là một hình thức di chúc, bên cạnh hình thức có giá trị cao hơn, là di chúc bằng văn bản, dù đã ràng buộc nó với nhiều điều kiện khác nhau
Hai là, cũng xuất phát từ những yếu tố khó khăn như đã kể ra trên, luật
của các quốc gia đều có quy định về các trường hợp lập di chúc bằng văn bản
mà không cần có người làm chứng, hoặc không cần có sự chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Thông thường, yêu cầu quan trọng nhất của chúc thư trong mọi hệ thống pháp luật đều là phải tuân thủ đủ 3 nguyên tắc: người lập di chúc phải có năng lực chủ thể, tức là phải đạt đến một độ tuổi nhất định, có sự phát triển hoàn toàn bình thường về thể chất và tinh thần ; người lập di chúc hoàn toàn tự nguyện, không chịu sự tác động từ bất cứ
Trang 34người nào, không bị lừa dối, đe dọa hay cưỡng ép; nội dung của bản di chúc không đi trái lại các quy định của pháp luật, không chống lại các nguyên tắc đạo đức chung của cả xã hội
Tuy nhiên, giữa các quốc gia có những sự khác biệt tương đối trong các quy định về hình thức di chúc
- Luật của Pháp không thừa nhận di chúc bằng lời nói là hình thức di chúc hợp pháp, không giống như ở đa số các nước khác Một vài bang ở Hoa
Kỳ không thừa nhận di chúc bằng lời nói , nhưng trong thực tiễn ở tòa án, các
án lệ về di chúc bằng lời nói vẫn được dẫn chiếu tới để xét xử Nguyên nhân của hiện tượng này, có thể là do tập quán chính trị - pháp lý địa phương (Lousiana là bang ở Hoa Kỳ không công nhận di chúc bằng lời nói, bắt nguồn
từ việc luật pháp của bang này có nguồn gốc là luật của Pháp, chứ không phải
là luật của Anh như các bang khác, do đây từng có thời là thuộc địa của Pháp ); cũng có thể bắt nguồn từ tình hình xã hội lúc biên soạn các bộ luật ( thời điểm năm 1804, lúc Bộ luật dân sự Pháp được biên soạn, đó là một thời kỳ rất rối ren, phức tạp với chiến tranh liên miên, nên việc chấp nhận di chúc chỉ bằng một lời nói khó hội đủ các căn cứ xác đáng, dễ dẫn đến tình trạng kiện tụng kéo dài ) Xem xét trong bối cảnh nước ta hiện nay, có thể nhận thấy yêu cầu phải công nhận hình thức di chúc miệng, bởi nó đáp ứng được nhu cầu rất phức tạp của đời sống xã hội, ngoài ra lại phù hợp với suy nghĩ của dân ta là ngại chuyện giấy tờ phức tạp
- Chúc thư bí mật được một số nước công nhận, còn một số nước thì không (trong đó có Việt Nam) Điều này có nguồn gốc tùy vào phong tục tập quán của mỗi dân tộc và đặc điểm, nhu cầu riêng của từng xã hội Xem xét trong bối cảnh nước ta hiện nay, có thể khẳng định là không cần đến chúc thư bí mật, bởi nó không phù hợp với phong tục của người Việt Nam, vả lại cũng là không cần thiết khi đã cho phép người lập di chúc có thể tự viết di chúc mà không cần công chứng, làm chứng thì cũng có thể đảm bảo được tính
bí mật của bản di chúc
Trang 35- Các loại hình di chúc phi văn bản khác, như băng đĩa ghi hình, ghi âm, mới chỉ được chấp nhận ở một số bang ở Hoa Kỳ Do đây là hình thức mới xuất hiện trong thời gian gần đây nên việc xác định băng đĩa có xác thực hay không là rất khó (khó xác định được thời gian, khó xác định thông tin là chính xác hay giả mạo )
Dù hình thức di chúc này chưa được phổ biến trên thế giới, nhưng nước
ta cũng nên nghiên cứu để áp dụng, bởi sử dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật là đòi hỏi bức thiết của ngày nay, nhằm theo kịp sự biến đổi rất nhanh chóng của đời sống kinh tế - xã hội
Trang 36KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Di chúc và hình thức của di chúc là những vấn đề quan trọng bậc nhất trong việc xác định quan hệ pháp luật thừa kế theo di chúc Luật pháp các nước cũng như Việt Nam đòi hỏi di chúc phải được thể hiện duới những hình thức nhất định Thông qua hình thức di chúc, ý chí của người lập di chúc được thể hiện một cách chính xác, cụ thể, rõ ràng làm cơ sở cho việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến thừa kế
Hình thức của di chúc là một trong những căn cứ để xác định di chúc có hợp pháp hay không Nói một cách khác đi, thông qua hình thức của di chúc, người hưởng di sản thừa kế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có được cơ sở
để giải quyết các tranh chấp phát sinh Các quy định pháp luật về hình thức di chúc cần phải bảo đảm thuận lợi cho người lập di chúc thể hiện ý chí của mình một cách cụ thể nhất
Trong chương này, tác giả cũng đã nghiên cứu được quy định về hình thức của di chúc theo pháp luật một số nước Mỗi nước có truyền thống văn hoá khác nhau, song tựu chung lại luật pháp các nước đều thống nhất ở một điểm, đó là hình thức của di chúc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến thừa kế theo di chúc
Những vấn đề lý luận được trình bày trong chương này được coi là cơ sở
để luận giải những quy định pháp luật thực định về hình thức của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự 2005
Trang 37CHƯƠNG 2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN PHÁP LUẬT VỀ
HÌNH THỨC DI CHÚC Ở VIỆT NAM 2.1 HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HỒNG ĐỨC
Trong Bộ luật Hồng Đức, quan hệ thừa kế được quy định ở các phần cuối của Chương Điền sản, phần điển sản mới tăng thêm và phần luật hương hoả Qua nghiên cứu các quy định này của Bộ luật Hồng Đức có thể rút ra những nhận xét cơ bản sau đây:
- Khi cha mẹ còn sống không bao giờ nảy sinh quan hệ thừa kế tài sản, vì trong gia đình con cái không có quyền tài sản Nếu cha hoặc mẹ chết, người còn sống tiếp tục nắm quyền chủ tài sản, do vậy quan hệ thừa kế vẫn chưa nảy sinh Việc quy định như vậy là nhằm bảo đảm sự bền vững đối với các quan
hệ trong gia đình Do đó, các quy định về thừa kế không chỉ vì quyền lợi cá nhân mà quan trọng hơn còn vì mục đích duy trì mối quan hệ tốt đẹp giữa các thành viên trong gia đình
- Tương tự như hiện nay, Bộ luật Hồng Đức quy định hình thức thừa kế
có hai dạng là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật
Về thừa kế theo di chúc, Khoản 2 Điều 388 quy định “Nếu đã có lệnh
của cha mẹ và chúc thư thì phải theo đúng, trái thì mất phần mình” Điều 354 trước đó cũng quy định “người nào tranh giành nhà đất thì phải biếm hai tư Nếu đã có chúc thư mà còn cố tranh giành thì cũng xử biếm như thế và phải tước mất cả phần của mình nữa Nếu cha mẹ không nhận làm con, trong chúc thư không có tên mà vẫn cố tranh thì phải biếm ba tư, đòi lại số ruộng đất tranh cho người chủ Nếu người trưởng họ bảo đảm sai thì phải biếm một tư" Các quy định trên cho thấy, Bộ Luật Hồng Đức đã đề cập đến các yếu tố của thừa kế theo di chúc như nguyên tắc tự do lập di chúc, tôn trọng nội dung của di chúc cũng như quy định về hình thức của di chúc
Trang 38Về hình thức của di chúc, Bộ luật Hồng Đức quy định có di chúc miệng
và di chúc viết (chúc thư) Theo Điều 366 quy định rõ: người làm chúc thư phải tự viết lấy nếu không biết chữ thì nhờ quan viên nào đó trong làng xã viết giùm và phải có sự chứng kiến cũng của quan viên trong làng xã thì chúc thư mới có hiệu lực Những người làm chúc thư văn khế mà không nhờ quan trưởng trong làng viết thay và chứng kiến thì phải phạt 80 trượng, phạt tiền theo việc nặng nhẹ Chúc thư văn khế ấy không có hiệu lực Nếu biết chữ mà viết lấy thì được
Từ những quy định trên cho thấy, quan hệ thừa kế tài sản chiếm một vị trí quan trọng không chỉ trong Bộ luật Hồng Đức mà còn đối với pháp luật phong kiến của Việt Nam trước đây Một trong những nội dung quan trọng được pháp luật thừa kế ở Việt Nam ghi nhận từ trước cho đến nay đó là hình
thức của di chúc Bộ luật Hồng Đức quy định rõ: Người làm cha mẹ phải liệu
tuổi già mà lập sẵn chúc thư Người trưởng họ liệu chia nhiều ít cho phải rồi làm giấy giao lại phần hương hoả thì theo lệ cũ lấy một phần hai mươi trong
số điều sản Trong đoạn 273 Hồng Đức thiện chính thư quy định: Chúc thư
chỉ được coi là hợp pháp nếu có hương trưởng, quan viên trong bản xã từ 30 tuổi trở lên làm người viết thay hoặc chứng kiến
Việc quy định chặt chẽ hình thức của di chúc hướng tới hai mục đích:
Thứ nhất, bảo đảm sự đoàn kết thương yêu giữa anh chị em trong gia
đình - một đạo lý truyền thống của Việt Nam Thậm chí Luật còn quy định, trong trường hợp ngoại lệ, cho phép các con chia lại tài sản mà chúc thư đã định đoạt cho đến khi đạt được sự đồng ý trong gia đình (Theo Đoạn 102 Hồng Đức thiện chính thư)
Thứ hai, vừa bảo đảm việc phân chia phần hương hoả để thờ phụng tổ
tiên, vừa bảo đảm quyền lợi cho những người có quyền và nghĩa vụ liên quan Người làm trưởng họ lấy ruộng đất mấy nơi làm phần hương hoả Khi con làm trưởng họ thì phần ruộng đất làm phần hương hoả của cha nhập cả vào phần của các con, chia đều xem mỗi phần được bao nhiêu rồi mới lấy một
Trang 39phần hai mươi tổng số điền sản đó làm phần hương hoả Nếu cháu làm trưởng
họ thì cũng tương tự như vậy Trong trường hợp có nhiều người mà phần điền sản thì ít, như vậy, phần hương hoả và phần giành cho con cháu được tuỳ tiện
mà chia, miễn là đều thuận tình, không có sự tranh giành nhau
2.2 HÌNH THỨC DI CHÚC THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT THỜI PHÁP THUỘC
Ngay từ năm 1917, Toàn quyền Đông Dương đã ra Nghị định thành lập một Uỷ ban Việt – Pháp soạn thảo Bộ Dân luật Bắc kỳ Uỷ ban này trong vòng bốn năm đã soạn thảo xong quyển thứ nhất gồm 91 điều vào năm 1921 Đến năm 1927, Uỷ ban cố vấn về luật lệ Việt Nam được thành lập, bao gồm một số người Pháp và người Việt để khảo cứu các tục lệ về gia đình, thừa kế, hương hoả giúp cho việc bổ sung hoàn chỉnh Bộ dân luật Năm 1931, Bộ dân luật Bắc kỳ chính thức được ban bố thực hiện
Bộ dân luật Bắc kỳ đã thể hiện sự kế thừa và phát triển của Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long về kỹ thuật lập pháp, cơ cấu của bộ luật, hình thức pháp lý Bên cạnh đó, nó cũng tiếp thu một số nội dung của Bộ luật Napôlêông và Bộ dân luật Thuỵ Sỹ (1912) Tuy nhiên, Bộ dân luật Bắc kỳ vẫn thể hiện được những đặc thù xã hội Việt Nam thời bấy giờ khác biệt với luật các nước phương Tây và Luật của Trung Hoa Do vậy có thể nói, Bộ dân luật Bắc kỳ là Bộ luật tiêu biểu của pháp luật Việt Nam thời Pháp thuộc Trong quyển thứ nhất quy định về chế định thừa kế, tại Điều 321 Bộ dân luật Bắc kỳ và Điều 313 Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật quy định: người đã thành niên hoặc đã thoát quyền và có đủ trí khôn đều có thể làm di chúc để xử trí tất cả tài sản của mình Vợ chính và thứ khi đương giá thú, nếu được chồng ưng thuận thì có thể lập di chúc đối với tài sản riêng của mình Người cha có thể lập di chúc định đoạt tài sản của mình nhưng phải giữ quyền cho người
vợ Di chúc phải được lập thành văn bản (chúc thư), có lý trưởng và hai người thành niên khác làm chứng Chúc thư phải được lập thành nhiều bản chính, mỗi người nhận thừa kế một bản (Điều 328 Bộ dân luật Bắc kỳ)
Trang 40Theo Điều 326 Bộ dân luật Bắc kỳ và Điều 315, 316 Hoàng Việt Trung
kỳ hộ luật quy định: chúc thư phải được lập thành văn bản hoặc do viên quản
lý văn khế làm ra hoặc có công chứng thị thực Chúc thư không có viên chức thị thực thì phải do người lập chúc thư viết lấy và ký tên Nếu người lập chúc thư đọc để người khác viết thì phải có ít nhất hai người thành niên làm chứng Người làm chứng thường là lý trưởng tại nơi trú quán của người lập di chúc, nếu ở xa không về nơi trú quán thì chúc thư ấy phải có sự chứng kiến của lý trưởng nơi hiện ở của người lập chúc thư
2.3 HÌNH THỨC DI CHÚC THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM TRƯỚC NĂM 2005
2.3.1 Hình thức của di chúc theo quy định của Pháp lệnh Thừa kế năm 1990
Pháp lệnh thừa kế năm 1990 ra đời được coi là văn bản pháp lý đầu tiên ghi nhận một cách hệ thống các quy định về thừa kế, trong đó có các quy định liên quan đến thừa kế theo di chúc được quy định tại chương II, từ Điều 10 đến Điều 23
Theo quy định của Pháp lệnh thừa kế 1990, hình thức của di chúc có thể bằng miệng hoặc bằng văn bản Về di chúc miệng, Pháp lệnh thừa kế quy định, trong trường hợp tính mạng bị đe doạ nghiêm trọng mà không thể lập di chúc viết được thì có thể lập di chúc miệng Di chúc miệng cũng là di chúc hợp pháp nếu đúng là do người để lại di sản tự nguyện lập trong khi minh mẵn, không bị lừa dối và không trái với quy định của pháp luật Sau ba tháng
kể từ ngày lập di chúc miệng, nếu người lập di chúc còn sống và minh mẵn, thì coi như di chúc miệng đó bị huỷ bỏ
Di chúc bằng văn bản được Pháp lệnh thừa kế quy định cụ thể, bao gồm,
di chúc viết không có chứng thực và di chúc có chứng thực Di chúc viết có giá trị như di chúc được chứng thực Người lập di chúc có thể yêu cầu cơ quan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng thực bản
di chúc Người lập di chúc có thể tự viết hoặc nhờ người khác viết bản di