Theo quy định tại khoản 4, điều 3 Luật cạnh tranh 2004, hành vi CTKLM là “hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức ki
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT - *** -
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Quế Anh
Hà Nội - 2012
Trang 3CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT
CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC
SỞ HỮU TRÍ TUỆ
5
1.1 Tổng quan về pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh 5
1.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh và cạnh tranh lành mạnh 5
1.1.1.4 Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh 14 1.1.1.5 Phân biệt hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế
1.1.2.1 Đặc điểm và cơ cấu của pháp luật cạnh tranh 18 1.1.2.2 Sơ lược về pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh 20
Trang 446
2.1 Các dạng hành vi cạnh trạnh không lành mạnh liên quan đến sở hữu
2.1.1.1 Khái niệm chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn 46 2.1.1.2 Thực tiễn hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn 46 2.1.1.3 Một số đặc điểm về hành vi chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn
2.1.2 Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước thành viên là thành viên của Điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó
51
2.1.3 Đăng ký sử dụng tên miền bất hợp pháp 51 2.2 Xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu trí tuệ 52 2.2.1 Xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu trí
2.2.2 Xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu trí 55
Trang 55 tuệ bằng các biện pháp hành chính
Trang 66
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH LIÊN QUAN ĐẾN SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
3.1.2 Thực trạng áp dụng các quy định chống cạnh tranh không lành mạnh
3.2 Những kiến nghị nhằm hoàn thiện Pháp luật chống cạnh tranh không
3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng luật chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu trí tuệ 67
Trang 77
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Tên viết tắt Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt
TRIPS Trade Related Aspects of
Intellectual Property Rights
Hiệp định về các khía cạnh của quyền SHTT liên quan đến thương mại
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 88
PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Là thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO), Việt Nam cam kết thực hiện đầy đủ Hiệp định về các khía cạnh của quyền SHTT liên quan đến thương mại (TRIPS) của WTO Nhà nước Việt Nam đã có những nỗ lực quan trọng trong suốt những năm qua để xây dựng và hoàn thiện những quy định pháp luật về SHTT phù hợp với Hiệp định TRIPS Nhìn chung, cho đến nay, Việt Nam đã triển khai toàn diện các cam kết hội nhập trong lĩnh vực sở hữư trí tuệ, đã đạt được nhiều tiến bộ, đáp ứng phần lớn các yêu cầu đặt ra Tuy nhiên, trên thực tế việc thực thi quyền sở hữư trí tuệ còn nhiều hạn chế, hiệu lực của hệ thống các quy định về bảo hộ quyền SHTT còn thấp, tính minh bạch và sự nghiêm minh trong thực thi luật còn nhiều vần đề cần xem xét, tình trạng vi phạm, xâm phạm quyền SHTT đang diễn ra khá phổ biến Nghiên cứu chống CTKLM theo quy định của luật SHTT năm 2005 là một vấn đề mới và phức tạp Cạnh tranh là một quy luật tất yếu trong nền kinh tế thị trường Nhưng trong điều kiện kinh tế thị trường nói chung và trong lĩnh vực sở hữư trí tuệ nói riêng, nếu không có sự điều chỉnh của pháp luật mà chỉ dựa vào sự phát triển tự nhiên của các quy luật vốn có của nó theo kiểu điều tiết của “bàn tay vô hình” thì cạnh tranh tự do sẽ tất yếu dẫn đến độc quyền, gây ra những hậu quả xấu đối với nền kinh tế Do vậy pháp luật phải điều tiết cạnh tranh để đảm bảo bảo vệ môi trường cạnh tranh, bình ổn giá cả thị trường, bảo vệ người tiêu dùng, kiểm soát được sự phát triển của các doanh nghiệp lớn, đồng thời thúc đẩy hội nhập về kinh tế theo xu hướng toàn cầu hóa
Ở Việt Nam, việc xem xét mối quan hệ giữa CTKLM và sở hữu trí tuệ là vấn đề không hề đơn giản, việc tồn tại song song hai phương thức dựa trên cơ
Trang 99
sở pháp luật cạnh tranh và pháp luật Sở hữu trí tuệ đối với các hành vi xâm phạm quyền SHTT càng phức tạp hơn Luật cạnh tranh và luật SHTT là hai luật đặc thù của nền kinh tế thị trường đều có mục tiêu chung nhằm thúc đẩy
sự phát triển của nền kinh tế thị trường Luật SHTT sáng tạo bằng cách trao cho người chủ sở hữu quyền bảo hộ độc quyền trong việc khai thác tài sản SHTT Luật cạnh tranh khuyến khích sáng tạo bằng cách tạo cơ hội công bằng cho các doanh nghiệp tham gia thị trường, cân bằng các quyền liên quan đến SHTT, đảm bảo các chủ sở hữu không lợi dụng quyền SHTT đã được bảo
hộ để gây hạn chế cạnh tranh Luật cạnh tranh và Luật SHTT có mối quan hệ giao thoa chặt chẽ với nhau, tuy nhiên sự kết nối giữa hai luật này là không rõ ràng, đặc biệt, sự phối hợp giữa các cơ quan chịu trách nhiệm thi hành hai luật cũng chưa có, dẫn đến nhiều vụ việc phát sinh chưa có cơ sở giải quyết
Xuất phát từ nhu cầu thực tế và với mong muốn tìm hiểu nghiên cứu pháp luật về chống CTKLM trong lĩnh vực sở hữư trí tuệ, tôi đã chọn đề tài
nghiên cứu là: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của luật SHTT năm 2005”
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Đề tài được nghiên cứu trong bối cảnh Luật cạnh tranh được quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XI thông qua ngày 03/12/2004 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2005 Cùng với Luật Cạnh tranh, thì Luật SHTT cũng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XI thông qua ngày 20/11/2005, có hiệu lực từ ngày 01/7/2006 Ngày 19/6/2009, Quốc hội khóa XII thông qua luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Luật SHTT số 50/2005/QH11, có hiệu lực ngày 01/01/2010
Pháp luật cạnh tranh và pháp luật về bảo hộ quyền SHTT đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu đề cập ở nhiều giác độ, mức độ khác nhau, tuy nhiên, đó chỉ là những nghiên cứu mang tính riêng lẻ về hai ngành luật độc
Trang 1010
lập Còn vấn đề xử lý các hành vi CTKLM theo quy định của luật SHTT và mối quan hệ giữa hai ngành luật này trong điều chỉnh pháp luật thì cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào
về CTKLM theo Luật SHTT năm 2005
4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Nghiên cứu những vần đề lý luận về pháp luật CTKLM nói chung và CTKLM trong lĩnh vực SHTT nói riêng
- Phân tích, đánh giá các quy định pháp luật từ trước đến nay của Việt Nam về CTKLM trong kinh tế thị trường và cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực SHTT
- Kiến nghị các giải pháp thực thi pháp luật pháp luật cạnh tranh liên quan đến bảo hộ quyền SHTT tại Việt Nam
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu, Luận văn đã dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và phương pháp luận duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng các phương pháp: thống kê; so sánh; tổng hợp; điều tra xã hội học Cụ thể, chúng tôi dự kiến sử dụng hệ thống các phương pháp nghiên cứu sau:
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết (phân tích, so sánh các Điều ước quốc tế, thu thập kinh nghiệm Luật pháp và thực tế áp dụng của một
số quốc gia điển hình về hành vi CTKLM trong lĩnh vục SHTT)
Trang 1111
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn (xem xét thực tế của Việt Nam để hướng tới việc hoàn thiện các quy định pháp luật đối với các hành vi CTKLM trong lĩnh vực SHTT)
6 CƠ SỞ LÝ LUẬN
Đề tài được nghiên cứu dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác- lênin; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện qua các Nghị quyết của các
kỳ đại hội; Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật
7 ĐÓNG GÓP KHOA HỌC CỦA LUẬN VĂN
Những điểm mới của Luận văn thể hiện ở những điểm sau:
- Đây là Luận văn đầu tiên nghiên cứu về pháp luật điều chỉnh các hành
vi CTKLM xâm phạm quyền SHTT trong mối quan hệ giữa pháp luật cạnh tranh và pháp luật về bảo hộ quyền SHTT
- Nghiên cứu một cách hệ thống về bản chất, nội dung của hành vi CTKLM xâm phạm quyền SHTT
- Căn cứ trên tình hình thực tế các quy phạm pháp luật điều chỉnh và thực tế quá trình áp dụng pháp luật, Luận văn chỉ ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và quá trình áp dụng pháp luật cho phù hợp với bản chất của hành vi vi phạm
8 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu thành 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về pháp luật chống CTKLM
trong lĩnh vực SHTT
Chương 2: Những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chống
CTKLM liên quan đến lĩnh vực sở hữu tría tuệ
Chương 3: Thực trạng chống CTKLM liên quan đến việc áp dụng luật
SHTT 2005 và những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
Trang 1212
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU TRÍ TUỆ
1.1 Tổng quan về pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh
1.1.1 Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh
1.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh và cạnh tranh lành mạnh
Khái niệm “cạnh tranh” từ lâu đã được nhắc đến trong nhiều lĩnh vực khác nhau như cạnh tranh trong thể thao, trong kinh doanh hay trong đời sống sinh thái Và có thể nói, cạnh tranh là một vấn đề tất yếu của đời sống kinh
tế và xã hội Tuy nhiên nơi mà cạnh tranh diễn ra sôi nổi và khốc liệt nhất có
lẽ là trong lĩnh vực kinh tế Những mầm mống đầu tiên của cạnh tranh trong kinh tế xuất hiện ngay từ khi con người nhận thức được về giá trị vật chất và
từ khi con người biết “kinh doanh”, có thể đó đơn giản chỉ là việc các ông chủ muốn quảng cáo sản phẩm của mình nhằm thu hút khách hàng để bán được nhiều hàng hóa hơn các ông chủ khác Khái niệm cạnh tranh được hiểu khác nhau tại mỗi quốc gia và trong từng thời kì lịch sử và tùy vào hướng tiếp cận của các chủ thể
Theo K Marx: "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch" Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa Marx đã phát hiện
ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường Quy luật này dựa trên những chênh lệch giữa giá cả chi phí sản xuất và khả năng có thể bán hành hoá dưới giá trị của nó nhưng vẫn thu được lợi nhuận Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh), cạnh tranh trong
cơ chế thị trường được định nghĩa là "Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà
Trang 13hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất Hai nhà kinh tế học Mỹ P.A Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn kinh tế học (xuất bản lần thứ 12) cho rằng: Cạnh tranh (Competition) là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường Hai tác giả này hiểu cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition)
Ba tác giả Mỹ khác là D.Begg, S Fischer và R Dornbusch cũng cho cạnh tranh là cạnh tranh hoàn hảo, các tác giả này viết: Một cạnh tranh hoàn hảo, là nghành trong đó mọi người đều tin rằng hành động của họ không gây ảnh hưởng tới giá cả thị trường, phải có nhiều người bán và nhiều người mua
Ở phạm vi quốc gia, theo Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống Mỹ thì cạnh tranh đối với một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hoá và dịch
vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường Quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của người dân nước đó
Tại diễn đàn Liên hợp quốc trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm
2003 thì định nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia là "Khả năng của nước
đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt đựơc các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tính trên đầu người theo thời gian”
Từ những định nghĩa và các cách hiểu không giống nhau trên có thể thấy cạnh tranh phải có các điều kiện tiên quyết sau:
Trang 1414
- Phải có nhiều chủ thể cùng nhau tham gia cạnh tranh: Đó là các chủ thể
có cùng các mục đích, mục tiêu và kết quả phải giành giật, tức là phải có một đối tượng mà chủ thể cùng hướng đến chiếm đoạt Trong nền kinh tế, với chủ thể canh tranh bên bán, đó là các loại sản phẩm tương tự có cùng mục đích phục vụ một loại nhu cầu của khách hàng mà các chủ thể tham gia cạnh tranh đều có thể làm ra và được người mua chấp nhận Còn với các chủ thể cạnh tranh bên mua là giành giật mua được các sản phẩm theo đúng mong muốn của mình
- Việc cạnh tranh phải được diễn ra trong một môi trường cạnh tranh cụ thể, đó là các ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia cạnh tranh phải tuân thủ Các ràng buộc này trong cạnh tranh kinh tế giữa các doanh nghiệp chính
là các đặc điểm nhu cầu về sản phẩm của khách hàng và các ràng buộc của luật pháp và thống kê kinh doanh ở trên thị trường Còn giữa người mua với người mua, hoặc giữa những người mua và người bán là các thoả thuận được thực hiện có lợi hơn cả đối với người mua
- Cạnh tranh có thể diễn ra trong một khoảng thời gian không cố định, có thể trong thời gian ngắn (từng vụ việc) hoặc thời gian dài (trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động của mỗi chủ thể tham gia cạnh tranh)
Như vậy, qua những phân tích và các quan điểm khác nhau ở trên,
chúng tôi hiểu: cạnh tranh là một sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm có được những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Những hiệu quả tích cực của cạnh tranh chỉ có thể phát huy được khi tất cả những chủ thể tham gia đều tuân thủ những nguyên tắc của cạnh tranh
đó là cạnh tranh một cách lành mạnh
Trang 1515
Theo từ điển Black’law dictionary thì “cạnh tranh lành mạnh được
hiểu là hình thức cạnh tranh công khai, công bằng và ngay thẳng giữa các đối thủ cạnh tranh trong kinh doanh” Đặc trưng của nó là cạnh tranh bằng
chính tiềm lực vốn có của doanh nghiệp; có mục đích thu hút khách hàng; không trái pháp luật và tập quán kinh doanh
Tuy nhiên, thực tế lại luôn ngược lại, các chủ thể lại luôn vì lợi ích cá nhân của mình mà bất chấp những nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh bằng việc thực hiện các hành vi trái với nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh, hành vi này được hiểu một cách đơn giản đó là các hành vi CTKLM Trong kinh doanh, hành vi CTKLM xâm phạm trực tiếp tới quyền lợi chính đáng của các đối thủ cạnh tranh khác và cả quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng Đây chính là lí do thị trường cạnh tranh lành mạnh cần được pháp luật bảo hộ để chống lại các hành vi CTKLM đó Và hiển nhiên, chủ thể cần được bảo hộ trước các hành vi CTKLM ở đây là các doanh nhân trung thực và người tiêu dùng Vì lẽ đó nên pháp luật chống CTKLM ra đời
1.1.1.2 Đặc điểm của cạnh tranh
Sản phẩm của nền kinh tế thị trường chính là cạnh tranh Cạnh tranh chính là linh hồn và là động lực phát triển của thị trường Xuất phát từ vần đề bản chất của cạnh tranh, chúng ta có thể mô tả cạnh tranh vởi 3 đặc điểm chính là :
Một, cạnh tranh là hiện tượng xã hội diễn ra giữa các chủ thể kinh doanh
Với tư cách là một hiện tượng xã hội, cạnh tranh chỉ xuất hiện khi tồn tại những tiền đề nhất định sau đây:
- Có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu khác nhau Kinh tế học đã chỉ rõ cạnh tranh là hoạt động của các chủ thể kinh doanh nhằm tranh giành hoặc mở rộng thị trường, đòi hỏi phải có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp trên thị trường Một khi trong
Trang 16- Cạnh tranh chỉ có thể tồn tại nếu như các chủ thể có quyền tự do hành
xử trên thị trường Tự do khế ước, tự do lập hội và tự chịu trách nhiệm sẽ đảm bảo cho các doanh nghiệp có thể chủ động tiến hành các cuộc tranh giành để tìm cơ hội phát triển trên thương trường Mọi kế hoạch để sắp đặt các hành vi ứng xử, cho dù được thực hiện với mục đích gì đi nữa, đều hạn chế khả năng sáng tạo trong kinh doanh Khi đó, mọi sinh hoạt trong đời sống kinh tế sẽ giống như những động thái của các diễn viên đã được đạo diễn sắp đặt trong khi sự tự do, sự độc lập và tự chủ của các doanh nghiệp trong quá trình tìm kiếm khả năng sinh tồn và phát triển trên thương trường không được đảm bảo
Hai, về mặt hình thức, cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các doanh nghiệp Nói cách khác, cạnh tranh suy cho cùng là phương thức giải
quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định của người tiêu dùng
Trong kinh doanh, lợi nhuận là động lực cho sự gia nhập thị trường, là thước đo sự thành đạt và là mục đích hướng đến của các doanh nghiệp Kinh
tế chính trị Mácxit đã chỉ ra nguồn gốc của lợi nhuận là giá trị thặng dư mà nhà tư bản tìm kiếm được trong các chu trình của quá trình sản xuất, chuyển hoá giữa tiền - hàng
Trong chu trình đó, khách hàng và người tiêu dùng có vai trò là đại diện cho thị trường, quyết định giá trị thặng dư của xã hội sẽ thuộc về ai Ở đó
Trang 1717
mức thụ hưởng về lợi nhuận của mỗi nhà kinh doanh sẽ tỷ lệ thuận với năng lực của bản thân họ trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, người tiêu dùng trong xã hội
Hình ảnh của cạnh tranh sẽ được minh họa bằng quan hệ tay ba giữa các doanh nghiệp với nhau và với khách hàng Các doanh nghiệp đua nhau lấy lòng khách hàng Khách hàng là người có quyền lựa chọn người sẽ cung ứng sản phẩm cho mình Quan hệ này cũng sẽ được mô tả tương tự khi các doanh nghiệp cùng nhau tranh giành một nguồn nguyên liệu Hiện tượng tranh đua như vậy được kinh tế học gọi là cạnh tranh trong thị trường Từng thủ đoạn được sử dụng để ganh đua được gọi là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp Kết quả của cuộc cạnh tranh trên thị trường làm cho người chiến thắng mở rộng được thị phần và tăng lợi nhuận, làm cho kẻ thua cuộc chịu mất khách hàng và phải rời khỏi thị trường
Ba, mục đích của các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh là cùng tranh giành thị trường mua hoặc bán sản phẩm Với sự giục giã của lợi nhuận, nhà
kinh doanh khi tham gia vào thị trường luôn ganh đua để có thể tranh giành các cơ hội tốt nhất nhằm mở rộng thị trường Với sự giúp đỡ của người tiêu dùng, thị trường sẽ chọn ra người thắng cuộc và trao cho họ lợi ích mà họ mong muốn Trên thị trường, cạnh tranh chỉ xảy ra giữa các doanh nghiệp có chung lợi ích tiềm năng về nguồn nguyên liệu đầu vào (cạnh tranh mua); hoặc
về thị trường đầu ra của sản phẩm (cạnh tranh bán) của quá trình sản xuất Việc có cùng chung lợi ích để tranh giành làm cho các doanh nghiệp trở thành
là đối thủ của nhau Lý thuyết cạnh tranh xác định sự tồn tại của cạnh tranh giữa các doanh nghiệp theo hướng xác định sự tồn tại của thị trường liên quan đối với các doanh nghiệp Việc họ có cùng một thị trường liên quan làm cho
họ có cùng mục đích và trở thành đối thủ cạnh tranh của nhau Theo kinh nghiệm pháp lý của các nước và theo Luật Cạnh tranh Việt Nam, thị trường
Trang 1818
liên quan bao gồm thị trường sản phẩm và thị trường địa lý Việc xác định thị trường liên quan suy cho cùng là xác định khả năng thay thế cho nhau giữa sản phẩm của các doanh nghiệp trên một khu vực không gian nhất định Trong đó, khả năng thay thế của các sản phẩm thường được mô tả bằng tính năng sử dụng, tính chất lý hoá và giá cả tương tự nhau Mọi sự khác biệt của một trong ba dấu hiệu về tính năng sử dụng, tính chất lý hóa và giá cả sẽ làm phân hoá nhóm khách hàng tiêu thụ và làm cho các sản phẩm không thể thay thế cho nhau Có thể nói, với đặc trưng này, cạnh tranh được mô tả như quy luật đào thải rất tự nhiên diễn ra trên thương trường
1.1.1.3 Ý nghĩa của cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường, nếu quan hệ cung cầu là cốt vật chất, giá cả
là diện mạo thì cạnh tranh là linh hồn của thị trường Nhờ có cạnh tranh mà nền kinh tế thị trường đã đem lại những bước phát triển nhảy vọt mà loài người chưa từng có được trong các hình thái kinh tế trước đó Sự ham muốn không có điểm dừng đối với lợi nhuận của nhà kinh doanh sẽ mau chóng trở thành động lực thúc đẩy họ sáng tạo không mệt mỏi, làm cho cạnh tranh trở thành động lực của sự phát triển Theo đó, cạnh tranh có những vai trò cơ bản sau đây:
a Cạnh tranh đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng
Trong môi trường cạnh tranh, người tiêu dùng có vị trí trung tâm, họ được cung phụng bởi các bên tham gia cạnh tranh Nhu cầu của họ được đáp ứng một cách tốt nhất mà thị trường có thể cung ứng, bởi họ là người có quyền bỏ phiếu bằng đồng tiền để quyết định ai được tồn tại và ai phải ra khỏi cuộc chơi Nói khác đi, cạnh tranh đảm bảo cho người tiêu dùng có được cái
mà họ muốn Một nguyên lý của thị trường là ở đâu có nhu cầu, có thể kiếm được lợi nhuận thì ở đó có mặt các nhà kinh doanh, người tiêu dùng không còn phải sống trong tình trạng xếp hàng chờ mua nhu yếu phẩm như thời kỳ
Trang 1919
bao cấp, mà ngược lại, nhà kinh doanh luôn tìm đến để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng một cách tốt nhất
b Cạnh tranh có vai trò điều phối các hoạt động kinh doanh trên thị trường
Như một quy luật sinh tồn của tự nhiên, cạnh tranh đảm bảo phân phối thu nhập và các nguồn lực kinh tế tập trung vào tay những doanh nghiệp giỏi,
có khả năng và bản lĩnh trong kinh doanh Sự tồn tại của cạnh tranh sẽ loại bỏ những khả năng lạm dụng quyền lực thị trường để bóc lột đối thủ cạnh tranh
và bóc lột khách hàng Vai trò điều phối của cạnh tranh thể hiện thông qua các chu trình của quá trình cạnh tranh Dẫu biết rằng, cạnh tranh là một chuỗi các quan hệ và hành vi liên tục không có điểm dừng diễn ra trong đời sống của thương trường, song được các lý thuyết kinh tế mô tả bằng hình ảnh phát triển của các chu trình theo hình xoắn ốc Theo đó, chu trình sau có mức độ cạnh tranh và khả năng kinh doanh cao hơn so với chu trình trước Do đó, khi một chu trình cạnh tranh được giả định là kết thúc, người chiến thắng sẽ có được thị phần (kèm theo chúng là nguồn nguyên liệu, vốn và lao động…) lớn hơn điểm xuất phát Thành quả này lại được sử dụng làm khởi đầu cho giai đoạn cạnh tranh tiếp theo Cứ thế, kết quả thực hiện các chiến lược kinh doanh và cạnh tranh hiệu quả sẽ làm cho doanh nghiệp có sự tích tụ dần trong quá trình kinh doanh để nâng cao dần vị thế của người chiến thắng trên thương trường Trong cuộc cạnh tranh dường như có sự hiện diện của một bàn tay vô hình lấy đi mọi nguồn lực kinh tế từ những doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả để trao cho những người có khả năng sử dụng một cách tốt hơn Sự dịch chuyển như vậy đảm bảo cho các giá trị kinh tế của thị trường được sử dụng một cách tối ưu
c Cạnh tranh đảm bảo cho việc sử dụng các nguồn lực kinh tế một cách hiệu quả nhất
Những nỗ lực giảm chi phí để từ đó giảm giá thành của hàng hoá, dịch
vụ đã buộc các doanh nghiệp phải tự đặt mình vào những điều kiện kinh
Trang 2020
doanh tiết kiệm bằng cách sử dụng một cách hiệu quả nhất các nguồn lực mà
họ có được Mọi sự lãng phí hoặc tính toán sai lầm trong sử dụng nguyên vật liệu đều có thể dẫn đến những thất bại trong kinh doanh Nhìn ở tổng thể của nền kinh tế, cạnh tranh là động lực cơ bản giảm sự lãng phí trong kinh doanh, giúp cho mọi nguồn nguyên, nhiên, vật liệu được sử dụng tối ưu
d Cạnh tranh có tác dụng thúc đẩy việc ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong kinh doanh
Nhu cầu tìm kiếm lợi nhuận đã thúc đẩy các doanh nghiệp không ngừng
áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất để đáp ứng ngày càng tốt hơn đòi hỏi của thị trường, mong giành phần thắng về mình Cứ như thế, cuộc chạy đua giữa các doanh nghiệp sẽ thúc đẩy sự phát triển không ngừng của khoa học, kỹ thuật trong đời sống kinh tế và xã hội Trên thực tế, sự thay đổi và phát triển liên tục của các thế hệ máy vi tính và sự phát triển của hệ thống viễn thông quốc
tế hiện đại cho thấy rõ vai trò của cạnh tranh trong việc thúc đẩy tiến bộ khoa học, kỹ thuật
e Cạnh tranh kích thích sự sáng tạo, là nguồn gốc của sự đổi mới liên tục trong đời sống kinh tế - xã hội
Nền tảng của quy luật cạnh tranh trên thị trường là quyền tự do trong kinh doanh và sự độc lập trong sở hữu và hoạt động của doanh nghiệp Khi sự
tự do kinh doanh bị tiêu diệt, mọi sự thi đua chỉ là những cuộc tụ họp theo phong trào, không thể là động lực đích thực thúc đẩy sự phát triển Cạnh tranh đòi hỏi Nhà nước và pháp luật phải tôn trọng tự do trong kinh doanh Trong
sự tự do kinh doanh, quyền được sáng tạo trong khuôn khổ tôn trọng lợi ích của chủ thể khác và của xã hội luôn được đề cao như một kim chỉ nam của sự phát triển Sự sáng tạo làm cho cạnh tranh diễn ra liên tục theo chiều hướng gia tăng của quy mô và nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế Việc thiếu vắng
Trang 2121
sự sáng tạo sẽ làm cho cạnh tranh trở thành những tua quay được lặp đi lặp lại
ở cùng một mức độ, làm cho ý nghĩa của cạnh tranh - động lực của sự phát triển sẽ chỉ còn là những danh hiệu sáo rỗng Sự sáng tạo không mệt mỏi của con người trong cuộc cạnh tranh nhằm đáp ứng những nhu cầu luôn thay đổi qua nhiều thế hệ liên tiếp là cơ sở thúc đẩy sự phát triển liên tục và đổi mới không ngừng Sự đổi mới trong đời sống kinh tế được thể hiện thông qua những thay đổi trong cơ cấu thị trường, hình thành những ngành nghề mới đáp ứng những nhu cầu của đời sống hiện đại, sự phát triển liên tục của khoa học kỹ thuật, là sự tiến bộ trong nhận thức của tư duy con người về các vấn đề liên quan đến kinh tế - xã hội
Với ý nghĩa là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, cạnh tranh luôn là đối tượng được pháp luật và các chính sách kinh tế quan tâm Sau vài thế kỷ thăng trầm của của kinh tế thị trường và với sự chấm dứt của
cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, con người ngày càng nhận thức đúng đắn hơn về bản chất và ý nghĩa của cạnh tranh đối với sự phát triển chung của đời sống kinh tế Do đó, đã có nhiều nỗ lực xây dựng và tìm kiếm những cơ chế thích hợp để duy trì và bảo vệ cho cạnh tranh được diễn ra theo đúng chức năng của nó
1.1.1.4 Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh
Trong nền kinh tế thị trường xuất phát từ lợi nhuận và sự ganh đua của con người thì cạnh tranh luôn mang tính 2 mặt Dưới góc độ tích cực, cạnh tranh đem lại các lợi ích cho xã hội, cho người tiêu dùng, cho doanh nghiệp Song, ở chừng mực nào đó, khi nhu cầu lợi nhuận thúc giục và cám dỗ con người đến với những thủ đoạn thái quá trong cạnh tranh, thì các hành vi cạnh tranh ấy trở thành nỗi ám ảnh và có thể gây ra nhiều hậu quả bất lợi cho sự phát triển, xâm hại lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp khác, của người tiêu dùng Lý thuyết cạnh tranh gọi đó là những hành vi CTKLM
Trang 2222
Mặc dù có nhiều cố gắng, song pháp luật các nước đều không thể đưa ra được khái niệm CTKLM có thể bao quát được mọi biểu hiện trên thực tế Vì vậy, nếu có đưa ra khái niệm CTKLM, pháp luật của các nước cũng phải kèm theo các quy định liệt kê từng hành vi cụ thể Lý giải về điều này, Phó Giáo
sư Nguyễn Như Phát cho rằng sức sáng tạo bất tận của các nhà kinh doanh đã
làm cho phạm vi của hành vi không lành mạnh luôn thay đổi bằng sự xuất
hiện của những thủ đoạn bất chính mới Do đó, pháp luật với tính ổn định tương đối sẽ mau trở thành lỗi thời trước thực tế sinh động của thị trường Với những lý do đó, lý thuyết về cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh cho
dù có những cách thức tiếp cận có khác nhau, nhưng họ đều có sự thống nhất
về những căn cứ để nhận dạng CTKLM Theo đó, CTKLM là hành vi:
- Nhằm mục đích cạnh tranh phát sinh trong kinh doanh;
- Trái với pháp luật cạnh tranh hoặc tập quán kinh doanh thông thường;
- Gây thiệt hại cho đối thủ hoặc cho khách hàng
Điều 10 Bis Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp quy định: “bất cứ hành vi cạnh tranh nào trái với các hoạt động thực tiễn, không trung thực trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại đều bị coi là hành vi CTKLM ”
Theo quy định tại khoản 4, điều 3 Luật cạnh tranh 2004, hành vi
CTKLM là “hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”
Khái niệm CTKLM theo quy định của pháp luật Việt Nam nhìn chung khá tương đồng với quy định của công ước Paris và pháp luật của các quốc gia khác Công ước Paris không giải thích khái niệm “thông lệ thương mại trung thực” mà để cho các quốc gia tự điều chỉnh và Việt Nam, khi xây dựng
Trang 2323
luật cạnh tranh đã sử dụng thuật ngữ “chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh” Còn các quốc gia khác cũng sử dụng những thuật ngữ mang ý nghĩa tương tự; như “nguyên tắc ngay tình” - Thụy Sĩ và Tây Ban Nha;
“chính xác về mặt chuyên môn” - Italia; “đạo đức hàng hóa” - Đức, Ba Lan,
Hy Lạp Các khái niệm này tuy khác nhau nhưng có thể hiểu là những quy tắc xử sự chung đã được chấp nhận rộng rãi và lâu dài trong hoạt động kinh doanh trên thị trường Đặc điểm này phần nào thể hiện nguồn gốc tập quán của pháp luật về CTKLM, các quy định về CTKLM được hình thành và hoàn thiện qua bề dày thực tiễn phát triển kinh tế xã hội, không thể một sớm một chiều mà có được Tuy nhiên các thuật ngữ này nhìn chung khá lỏng lẻo vì nó
là sự phản ánh đặc điểm của kinh tế, xã hội, đạo đức, luân thường đạo lý vậy nên, tiêu chuẩn này là khác nhau ở các quốc gia, và thậm chí là khác nhau ở cùng một quốc gia nhưng trong những giai đoạn lịch sử khác nhau Mặc dù vậy, việc sử dụng thuật ngữ này vẫn được đánh giá là phù hợp với thực tế luôn biến đổi của các hành vi CTKLM vì việc nỗ lực tìm kiếm một giới hạn cứng ngắc, chuẩn xác cho các hành vi này là điều không thể và không phù hợp Vậy nên, công ước Paris chỉ liệt kê một số các hành vi tối thiểu cần được bảo hộ, và các hành vi này là không hề bị giới hạn Các quốc gia cũng vậy, ngoài việc quy định một số hành vi điển hình thì cũng vẫn có những quy định
mở, nhằm thích nghi với sự thay đổi này Pháp luật Việt Nam cũng tương tự, tại khoản 10, điều 39 Luật Cạnh tranh, sau khi liệt kê các hành vi CTKLM bị cấm, luật cũng quy định ngoài các hành vi đó còn có “Các hành vi CTKLM khác theo tiêu chí xác định tại khoản 4 Điều 3 của luật này do Chính phủ quy định”
Có thể nói, cạnh tranh luôn tồn tại trong nền kinh tế thị trường và kèm theo nó là sự xuất hiện của các hành vi CTKLM, vậy nên sự điều chỉnh của pháp luật để chống lại các hành vi CTKLM đó nhằm bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể trong nền kinh tế là một điều hết sức cần thiết
Trang 2424
1.1.1.5 Phân biệt hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh
Cho đến nay, các nhà khoa học đã tách nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh
ra khỏi khái niệm CTKLM do những thiệt hại mà hành vi này xâm hại và những biểu hiện khách quan của chúng
Mặc dù được thực hiện từ các doanh nghiệp đều mang bản chất bất chính
và có khả năng gây thiệt hại cho thị trường hoặc cho chủ thể khác, giữa hành
vi hạn chế cạnh tranh và hành vi CTKLM có những khác biệt cơ bản, theo đó, hành vi hạn chế cạnh tranh luôn hướng đến việc hình thành một sức mạnh thị trường hoặc tận dụng sức mạnh thị trường để làm cho tình trạng cạnh tranh trên thị trường bị biến dạng Có hai nội dung cần phải xác định đối với hành
vi hạn chế cạnh tranh là:
Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi có thể là một doanh nghiệp hoặc một
nhóm doanh nghiệp, các doanh nghiệp này hoặc là đã có sức mạnh thị trường, hoặc hướng đến việc hình thành nên sức mạnh thị trường bằng cách thỏa thuận hoặc tập trung kinh tế;
Thứ hai, các hành vi được thực hiện nhằm mục tiêu làm biến dạng cạnh
tranh, sự biến dạng của cạnh tranh có thể là làm thay đổi cấu trúc thị trường, thay đổi tương quan cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, loại bỏ đối thủ, ngăn cản đối thủ tiềm năng để làm giảm đi sức ép cạnh tranh hiện có hoặc sẽ có, bóc lột khách hàng….Thông thường, hành vi hạn chế cạnh tranh bao gồm ba dạng hành vi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền để hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh tế
Như vậy, so với hành vi CTKLM, thì các hành vi hạn chế cạnh tranh có khả năng gây thiệt hại cao hơn Đồng thời do sự xuất hiện của quyền lực thị trường nên các biện pháp trừng phạt mang tính dân sự như bồi thường thiệt hai hay cải chính công khai sẽ không thể phát huy hiệu quả một cách tối ưu
Trang 2525
Vì lẽ đó, công quyền thường không thể sử dụng cùng một loại biện pháp trừng phạt giống nhau để áp dụng cho cả hai loại hành vi trên
1.1.2 Pháp luật chống CTKLM
1.1.2.1 Đặc điểm và cơ cấu của pháp luật cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố mang tính kinh tế - kỹ thuật như vốn, công nghệ, trình
độ quản trị, trình độ lao động…Pháp luật cạnh tranh của nhà nước trong nền kinh tế thị trường không nâng cao năng lực cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh Pháp luật cạnh tranh là rào cản, mang tính can thiệp và xử lý những hành vi trái pháp luật, trái đạo đức và tập quán kinh doanh của doanh nghiệp với động cơ cạnh tranh, qua đó tìm cách tạo cho mình những lợi thế cạnh tranh mà đúng ra sẽ không có được nếu không thực hiện hành vi vi phạm Các chủ thể doanh nghiệp thông qua những hành vi cạnh tranh trái phép với mong muốn hạn chế cạnh tranh và làm suy giảm năng lực cạnh tranh hiện có của
đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan Như vậy, mục tiêu của pháp luật
cạnh tranh là thực hiện việc bảo hộ năng lực cạnh tranh thực tế của các doanh nghiệp trong một thị trường và điều này đồng nghĩa với việc pháp luật cạnh tranh là chất xúc tác tạo ra sức cạnh tranh mới cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế
Cụ thể, có thể tóm lược một số đặc điểm cơ bản của pháp luật cạnh tranh như sau :
- Có tính không triệt để trong nội dung điều chỉnh;
- Các quy định của pháp luật cạnh tranh không bao giờ quy định triệt để
và toàn bộ các quy phạm pháp luật cạnh tranh tồn tại trong nền kinh tế xã hội;
- Pháp luật cạnh tranh đặt ra các điều khoản mở cho phép cơ quan nhà nước có ảnh hưởng sâu rộng tới cạnh tranh, cho phép cơ quan có thẩm quyền quản lý cạnh tranh, áp dụng pháp luật cạnh tranh một cách linh hoạt;
Trang 2626
- Đối với các hành vi bị cấm trong luật: bên cạnh một số hành vi bị cấm tuyệt đối, nhiều hành vi khác được xem xét một cách hợp lý cho phép cơ quan quản lý chiếu theo hoàn cảnh cụ thể của vụ việc để quyết định hành vi đó có xâm phạm tới cạnh tranh và ảnh hưởng xấu tới xã hội hay không;
Về mặt cơ cấu, tại nhiều quốc gia trên thế giới mặc dù có sự khác nhau
về hệ thống pháp luật, nhưng khi xem xét các cấu thành cụ thể của pháp luật cạnh tranh, các quốc gia đều chia pháp luật cạnh tranh thành hai lĩnh vực khác
biệt: pháp luật CTKLM và pháp luật về hạn chế cạnh tranh
Bên cạnh hai lĩnh vực pháp luật cạnh tranh cơ bản nêu trên, còn có các pháp luật liên quan đến pháp luật cạnh tranh như: pháp luật về SHTT, pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng, pháp luật về quảng cáo, pháp luật về thương mại, pháp luật về kinh doanh bảo hiểm, pháp luật về kinh doanh chứng khoán…và các lĩnh vực liên quan đến việc áp dụng chế tài như: pháp luật về
xử lý vi phạm hành chính, pháp luật vê dân sự, pháp luật về hình sự… Ngoài
ra, khi tiếp cận dưới góc độ xã hội học pháp luật, các nhà luật học còn quan tâm đến cơ chế đưa pháp luật cạnh tranh vào cuộc sống, như : vấn đề về tổ chức hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh, về trình tự, thủ tục, thẩm quyền khiếu nại, khiếu kiện, thẩm quyền xử lý cũng như cơ chế bảo đảm thực hiện có hiệu quả pháp luật cạnh tranh
Như vậy có thể thấy rằng, cơ cấu pháp luật cạnh tranh chủ yếu bao gồm: pháp luật chống CTKLM và pháp luật hạn chế cạnh tranh Cùng với quy định về nội dung để xác định hành vi vi phạm, pháp luật cạnh tranh còn bao
Trang 2727
gồm cả các quy định của một luật về thủ tục, trong đó quy định về trình tự, thủ tục tố tụng xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh
1.1.2.2 Sơ lược về pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh
a Nguồn của pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh
Pháp luật về CTKLM ra đời sớm hơn pháp luật về hạn chế cạnh tranh Các quy định chống hành vi hạn chế cạnh tranh chỉ ra đời khi thị trường đã phát triển và đạt được mức độ tập trung hoá nhất định dẫn đến sự hình thành các doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp mang quyền lực thị trường cần phải bị kiểm soát Pháp luật về CTKLM gắn liền với sự ra đời của thương mại
tự do tại Châu Âu thế kỷ 19, mà theo một số nhà nghiên cứu, khởi đầu từ Cách mạng Pháp 1791 Hệ thống các phường, hội thương mại đã duy trì và phát triển luật chơi trong ngành một cách mạnh mẽ, trong khi người ta nhận thấy rõ rằng không thể trông đợi các thương nhân đơn lẻ thực hiện cạnh tranh lành mạnh một cách tự giác Xuất phát từ Điều 1382 Bộ luật Dân sự Pháp về trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự nói chung, một loạt các án lệ về
CTKLM (concurrence deloyal) đã xuất hiện đem lại sự bảo vệ cho thương
nhân trước các hành vi gây nhầm lẫn, gièm pha, xâm phạm bí mật kinh doanh, cạnh tranh “ăn bám” Trong khi đó, nước Đức từ chối mô hình của Pháp và sau gần một thế kỷ đã ban hành một đạo luật riêng về CTKLM (1909) trong đó đưa ra các quy định giới hạn nghiêm ngặt hoạt động kinh doanh của thương nhân, trong đó có những hành vi ngày nay được coi là rất thông thường trong thực tiễn thương mại, như là khuyến mại, giảm giá Còn ở trung tâm công nghiệp và pháp lý thứ ba của Châu Âu thời kỳ đó là nước Anh, người ta không theo mô hình luật chung kết hợp với án lệ của Pháp, cũng không theo mô hình luật riêng về CTKLM của Đức CTKLM trong hệ thống Thông luật của Anh quốc chỉ gói gọn trong việc mô tả các hành vi gây
nhầm lẫn về nhãn hiệu (passing off), gắn liền với pháp luật về SHTT, và sau
Trang 28b Cơ chế điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Mặc dù pháp luật về CTKLM xuất phát từ nhiều nguồn và thể hiện quan điểm lập pháp khác nhau ở mỗi quốc gia, cơ chế điều chỉnh của lĩnh vực pháp luật này vẫn có những đặc trưng cơ bản thống nhất, và cũng là những đặc trưng của cơ chế điều chỉnh pháp luật cạnh tranh nói chung, đó là tính tiếp cận từ mặt trái và tính không triệt để trong nội dung điều chỉnh đối với các hoạt động cạnh tranh
- Tính chất tiếp cận từ mặt trái: Trong khi các văn bản pháp luật về kinh
tế khác tập trung quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ - những việc được làm và phải làm - của chủ thể tham gia kinh doanh, thì pháp luật cạnh tranh chỉ khoanh vùng các hành vi bị ngăn cấm trong hoạt động cạnh tranh, chứ không hướng dẫn các đối tượng điều chỉnh cần làm những gì hoặc phải làm những gì
- Tính chất không triệt để trong nội dung điều chỉnh: các quy định của pháp luật cạnh tranh, đặc biệt là về CTKLM, không bao giờ quy định đầy đủ
và triệt để toàn bộ các hành vi phản cạnh tranh tồn tại trong nền kinh tế xã hội Quy định của luật thường đặt ra điều khoản mở cho phép cơ quan công quyền có thể bổ sung các hành vi mới xuất hiện có ảnh hưởng xấu đến cạnh tranh và xét thấy cần điều chỉnh, ngăn chặn Mặt khác, đối với các hành vi đã
được quy định trong luật, bên cạnh một số hành vi bị cấm đoán tuyệt đối (per
Trang 29Những đặc trưng trong cơ chế điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh có nguyên nhân cả về lý luận và thực tiễn Về mặt lý luận, cho đến nay cho dù đã
có nhiều học thuyết tiếp cận nghiên cứu, nhưng các nhà làm luật không thể đưa ra kết luận cụ thể về nội hàm khái niệm cạnh tranh lành mạnh, vốn bao trùm lên nhiều lĩnh vực khác nhau Về mặt thực tiễn, hoạt động cạnh tranh cũng chính là hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, thương nhân trên thương trường, hết sức đa dạng và phong phú Do đó, không thể đưa vào luật một danh sách những hành vi được coi là cạnh tranh lành mạnh để hướng dẫn cho những doanh nghiệp, thương nhân tham gia thị trường Quy định đóng khung các hành vi cạnh tranh “được phép” sẽ kìm hãm, ngăn cản sự sáng tạo trong kinh doanh, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế Cách tiếp cận từ mặt trái của cạnh tranh phù hợp với nguyên tắc chung của tự do trong kinh doanh, theo đó cá nhân, tổ chức kinh doanh có thể tự do “làm những việc mà pháp luật không cấm”
Cũng chính vì hoạt động kinh doanh đa dạng, phong phú, có thể ở từng thời điểm, từng hoàn cảnh khác nhau mà một hành vi sẽ bị xác định là phản cạnh tranh khi đi ngược lại lợi ích của nhà nước và xã hội, nhưng ở một thời điểm, hoàn cảnh khác thì hành vi đó lại không xâm hại đến lợi ích công và không đáng bị ngăn cấm Vì vậy, pháp luật cạnh tranh đặt ra những điều khoản mở và những quy định miễn trừ cho phép áp dụng pháp luật một cách linh hoạt Cần thấy rằng, các lĩnh vực pháp luật khác cũng có sự mở rộng
Trang 3030
hoặc thu hẹp phạm vi các hành vi, quan hệ xã hội được điều chỉnh, ngay cả lĩnh vực có chế tài nghiêm khắc nhất là hình sự cũng có quá trình tội phạm hoá và phi tội phạm hoá các hành vi bị coi là nguy hiểm cho xã hội Tuy nhiên, do tính linh hoạt trong hoạt động cạnh tranh, trong quan hệ kinh doanh mạnh hơn trong các quan hệ xã hội khác rất nhiều, cơ chế điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh cũng trở nên tuỳ nghi và khả biến hơn rất nhiều so với cơ chế điều chỉnh của những ngành luật khác Chính vì vậy, do dù nằm trong hệ thống Thông luật hay Dân luật, hầu hết các quốc gia có xây dựng pháp luật cạnh tranh đều cho phép cơ quan cạnh tranh có một thẩm quyền rộng rãi trong việc vận dụng và áp dụng pháp luật, cũng như thừa nhận sự tồn tại của hệ thống án lệ trong quá trình xử lý các vụ việc cạnh tranh
c Các nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị điều chỉnh
Do tính chất không rõ ràng trong khái niệm cũng như phạm vi điều chỉnh đối với hành vi CTKLM, các nhà làm luật sử dụng cách tiếp cận từ mặt trái trong việc xây dựng quy định điều chỉnh trong lĩnh vực pháp luật này và luôn
cố gắng xây dựng một danh sách các hành vi CTKLM bị cấm Nhìn chung, thông qua thực tiễn thương mại, người ta xác định được một số hành vi luôn luôn bị coi là tạo ra sự CTKLM Điều 10 bis Công ước Paris đã đưa ra một danh sách không đầy đủ bao gồm ba hình thức CTKLM đặc biệt bị cấm như sau:
- Mọi hành vi nhằm gây ra sự nhầm lẫn, bằng bất kỳ phương tiện nào, với cơ
sở, hàng hoá hay hoạt động kinh doanh, thương mại của đối thủ cạnh tranh
- Những tuyên bố sai trái trong công việc kinh doanh nhằm làm mất uy tín của cơ sở, hàng hoá hay hoạt động kinh doanh, thương mại của đối thủ cạnh tranh
- Những chỉ dẫn hoặc tuyên bố sử dụng trong quá trình kinh doanh nhằm lừa dối công chúng về bản chất, quy trình sản xuất, đặc điểm, sự phù hợp về mục đích, hoặc số lượng của hàng hoá
Trang 3131
Nội dung Điều 10 bis cho thấy đây là một danh sách chưa đầy đủ, có thể coi chỉ là những ví dụ điển hình về CTKLM, và khuyến nghị các quốc gia thành viên bổ sung các biện pháp bảo hộ hiệu quả chống CTKLM Trên thực
tế, đã có nhiều hành vi không được Điều 10 bis nhắc tới nhưng được pháp luật hoặc toà án các nước công nhận là CTKLM, chẳng hạn như các quy định
về gây rối và cản trở kinh doanh, xâm phạm bí mật kinh doanh hoặc lợi dụng thành quả đầu tư của doanh nghiệp, thương nhân khác Xét một cách khái quát, các hành vi CTKLM được mô tả trên đây có cùng một bản chất là việc tạo ra những lợi thế không chính đáng trong tương quan cạnh tranh trên thị trường, và có thể được chia thành ba nhóm: (1) Các hành vi mang tính chất lợi dụng; (2) Các hành vi mang tính chất công kích; và (3) Các hành vi lừa dối, lôi kéo khách hàng
- Các hành vi mang tính chất lợi dụng: Đây là nhóm hành vi CTKLM
điển hình, được biết đến dưới nhiều dạng thức khác nhau như gây nhầm lẫn
về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ (misleading), lợi dụng thành quả đầu tư của người khác (free reading), xâm phạm bí mật kinh doanh… Bản chất của hành
vi này là việc chiếm đoạt hay sử dụng trái phép lợi thế cạnh tranh của doanh
nghiệp khác Đây cũng là dạng hành vi gần với các hành vi xâm phạm quyền
SHTT, sự khác biệt chỉ nằm ở đối tượng bị xâm phạm Trong trường hợp hành vi xâm phạm quyền SHTT, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện
ở số đối tượng nhất định được coi là tài sản trí tuệ sau khi chủ sở hữu xác lập quyền thông qua việc đăng ký và được cấp văn bằng bảo hộ Còn trong trường hợp CTKLM, phạm vi lợi thế cạnh tranh bị xâm phạm có thể rộng hơn rất nhiều, bao gồm tất cả các giá trị, thành quả mà doanh nghiệp cạnh tranh đạt được một cách hợp pháp thông qua quá trình kinh doanh, bao gồm cả những yếu tố công khai như uy tín tên tuổi, chỉ dẫn thương mại hay không công khai như bí quyết kinh doanh
Trang 3232
- Các hành vi mang tính chất công kích: Đây là nhóm hành vi có chung
bản chất là tấn công vào đối thủ cạnh tranh, triệt tiêu hoặc làm suy giảm các lợi thế cạnh tranh của đối thủ cạnh tranh Các hành vi cụ thể rất đa dạng, phụ thuộc vào cách thức, mục tiêu công kích, có thể là những thông tin sai trái làm mất uy tín đối thủ cạnh tranh, hoặc các hành vi trực tiếp gây cản trở hoạt động kinh doanh của đối thủ, hoặc lôi kéo, mua chuộc nhân viên hoặc đối tác của đối thủ cạnh tranh Một số quốc gia còn xếp những hành vi hạn chế cạnh tranh thuộc dạng nhẹ, như ấn định giá bán lại, phân biệt đối xử, lạm dụng ưu thế trong giao dịch (bargaining power) thuộc phạm vi CTKLM do xem xét yếu tố cản trở hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác
Mặc dù dạng hành vi công kích nói trên cũng tác động thẳng đến các đối thủ cạnh tranh của bên vi phạm, nhưng do tính chất trực diện của hành vi, các bên liên quan thường có khuynh hướng sử dụng các quy định trực tiếp về gây thiệt hại và bồi thường thường thiệt hại của pháp luật dân sự, hoặc thậm chí
cả hình sự, để giải quyết tranh chấp một cách triệt để, thay vì áp dụng các quy định riêng của pháp luật về CTKLM Do đó, tính điển hình của nhóm hành vi này không cao bằng nhóm hành vi thứ nhất
- Các hành vi lôi kéo bất chính khách hàng: Việc đặt các hành vi thuộc
nhóm này, đặc biệt là các hành vi kinh doanh bất chính đã trở nên phổ biến trên thị trường như quảng cáo lừa dối, khuyến mại nhử mồi, chào hàng quấy rối hay ép buộc… vào phạm vi điều chỉnh của pháp luật về CTKLM còn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi Bản chất của hành vi này là tạo ra một lợi thế cạnh tranh gian dối để lôi kéo khách hàng, người tiêu dùng Đối tượng chịu tác động trực tiếp của các hành vi này là khách hàng/người tiêu dùng, còn các doanh nghiệp cạnh tranh chỉ chịu ảnh hưởng gián tiếp từ hành vi vi phạm thông qua việc mất khách hàng Trong nhiều trường hợp, việc lôi kéo khách hàng tham gia giao dịch bằng các biện pháp bất chính động chạm đến nguyên tắc căn bản của giao dịch dân sự là tự do ý chí Do đó, ở một số quốc gia,
Trang 3333
nhóm hành vi này có thể không nằm trong khuôn khổ pháp luật về CTKLM,
mà chịu sự điều chỉnh của các quy định chung trong pháp luật về dân sự, thương mại, của pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng, và trong nhiều các quy định điều chỉnh ngành, lĩnh vực kinh tế cụ thể Lấy ví dụ tại Việt Nam, quy định về hành vi quảng cáo, thông tin gian dối không chỉ có trong Luật Cạnh tranh mà còn cả ở nhiều văn bản khác như Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Dược, Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng… Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng tác động của dạng hành vi nói trên không giới hạn tại một số khách hàng bị lôi kéo và các đối thủ cạnh tranh bị mất khách hàng Quan trọng hơn, dạng hành vi này còn khiến thị trường trở nên không minh bạch, làm sai lệch giao dịch giữa các chủ thể tham gia thị trường,
và qua đó ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh doanh chung Do đó, các quy định điều chỉnh dạng hành vi này vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong pháp luật cạnh tranh nói chung cũng như chế định về CTKLM nói riêng của nhiều quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển
Cuối cùng, việc phân nhóm các hành vi CTKLM như trên mang tính khái quát phục vụ công tác nghiên cứu Trên thực tế, giữa các nhóm hành vi nói trên có sự giao thoa và một số hành vi CTKLM có thể xếp vào hơn một nhóm nếu xem xét mục đích vi phạm cũng như đối tượng tác động của chúng Nhìn chung, việc đánh giá hành vi CTKLM phụ thuộc nhiều vào thực tiễn xử
lý, dựa trên quan điểm của cơ quan cạnh tranh, mức độ ảnh hưởng của hành
vi cũng như sự cân bằng giữa lợi ích của doanh nghiệp và của người tiêu dùng, giữa yêu cầu bảo hộ các quyền chính đáng của doanh nghiệp và khuyến khích cạnh tranh tự do, phát triển kinh tế xã hội
1.2 Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
1.2.1 Vị trí cuả pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong
hệ thống pháp luật kinh tế
Do phạm vi điều chỉnh rộng và các tiêu chí đánh giá mở đối với CTKLM, các quy định về CTKLM trong nhiều trường hợp được sử dụng với
Trang 3434
tính chất “quét”, bổ trợ cho các lĩnh vực khác trong hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động của nền kinh tế thị trường Do đó, pháp luật về CTKLM có quan hệ chặt chẽ với nhiều lĩnh vực pháp luật khác, và các quan hệ này làm tăng thêm tính chất chồng lấn trong các quy định về CTKLM Xuất phát từ
đặc điểm này, đã hình thành cái gọi là Nguyên tắc ưu tiên (Pre-emption
principle) trong thực tiễn áp dụng pháp luật về CTKLM của nhiều quốc gia,
đặc biệt là tại Châu Âu Theo nguyên tắc này, pháp luật CTKLM chỉ được áp dụng trong trường hợp hành vi vi phạm chưa chịu sự điều chỉnh theo quy định của các văn bản pháp luật khác [1] Mức độ áp dụng nguyên tắc này tại mỗi quốc gia khác nhau, phụ thuộc vào cách tiếp cận của mỗi hệ thống pháp luật trong việc điều chỉnh CTKLM
- Quan hệ với pháp luật dân sự: Pháp luật về dân sự là luật chung điều
chỉnh về các quan hệ giao dịch cũng như giải quyết các tranh chấp trên thị trường Như đã phân tích ở trên, một trong những nguồn của pháp luật về CTKLM là chế định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (tort), theo đó các doanh nghiệp bị thiệt hại từ hành vi CTKLM có thể sử dụng các quy định của
tố tụng dân sự để yêu cầu bồi thường thiệt hại Mặt khác các nguyên tắc chung của pháp luật dân sự về tự do, tự nguyện, trung thực trong giao dịch… cũng được sử dụng để làm tiêu chí đánh giá tính chất không lành mạnh của một hành vi vi phạm Pháp luật dân sự là luật gốc để phát triển các quy định
về CTKLM, cho dù các quy định này trong khuôn khổ một đạo luật riêng, hay nằm trong các bộ phận khác nhau của pháp luật dân sự như pháp luật thương mại, pháp luật về SHTT hay pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng Bên cạnh
đó, một số nước vẫn sử dụng các quy định của pháp luật dân sự để điều chỉnh trực tiếp về CTKLM và toà án đóng vai trò xử lý các hành vi vi phạm
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, pháp luật về CTKLM dần tách khỏi khuôn khổ của pháp luật dân sự và mang nhiều yếu tố hành chính CTKLM không còn là vấn đề của luật tư liên quan đến tranh chấp giữa hai
Trang 35- Quan hệ với pháp luật về SHTT: mối quan hệ giữa pháp luật chống
CTKLM và pháp luật về SHTT có từ rất lâu Như đã giới thiệu, các quy định mang tính quốc tế đầu tiên về CTKLM xuất phát từ một công ước về SHTT (Công ước Paris về Bảo hộ sở hữu công nghiệp), và cho tới nay nhiều nhà nghiên cứu về pháp luật SHTT vẫn khẳng định quyền chống CTKLM là một trong những quyền cơ bản của chủ sở hữu tài sản trí tuệ Bảo vệ quyền SHTT chính là một trong những xuất phát điểm cơ bản của các quy định CTKLM, vì
về bản chất, các hành vi xâm phạm quyền SHTT đều được tiến hành với động
cơ CTKLM Một hành vi chỉ bị coi là xâm phạm quyền SHTT khi chủ thể thực hiện nó có ý định hoặc đã đưa tài sản trí tuệ của người khác vào khai thác thương mại, đồng nghĩa với việc trở thành một đối thủ cạnh tranh của chính chủ sở hữu tài sản trí tuệ đó
Hiện nay, sự phân biệt giữa pháp luật về CTKLM và pháp luật về SHTT tập trung ở đối tượng được bảo vệ Pháp luật về SHTT hướng tới việc bảo hộ các đối tượng tài sản trí tuệ mà quyền sở hữu được xác lập một cách rõ ràng, đầy đủ thông qua các thủ tục đăng ký, cấp văn bằng bảo hộ hoặc các tiến trình pháp lý khác do nhà nước quy định Sự bảo vệ pháp luật dành cho các đối tượng này do đó cũng là đầy đủ và vững chắc nhất Trong khi đó, pháp luật về CTKLM bảo vệ các lợi thế cạnh tranh không được bảo hộ thông qua văn bằng, chẳng hạn như nhãn hiệu chưa đăng ký hoặc bí mật kinh doanh Do
Trang 3636
việc xác lập quyền đối với các đối tượng này không trải qua thủ tục chặt chẽ như đăng ký quyền SHTT, nên sự bảo hộ mà pháp luật về CTKLM dành cho chủ sở hữu không thể mạnh mẽ bằng các biện pháp bảo hộ SHTT Trong các
vụ việc CTKLM liên quan đến quyền SHTT, bên khiếu nại thường phải chứng minh quyền hợp pháp đối với đối tượng bị vi phạm, bao gồm việc tạo lập, duy trì, sử dụng phổ biến, lâu dài và không có tranh chấp Hay xét trên một khía cạnh khác, nếu như pháp luật về SHTT bảo vệ vị thế chung của chủ
sở hữu tài sản trí tuệ, thì pháp luật về CTKLM bảo vệ chủ sở hữu chống lại một số dạng hành vi nhất định xâm phạm đến tài sản trí tuệ Do đó, sự bảo hộ của pháp luật về CTKLM không mang tính liên tục, mà chỉ phát sinh khi xuất hiện tranh chấp Vì vậy, pháp luật về CTKLM trong nhiều trường hợp được coi là là công cụ bổ trợ cho việc thực thi pháp luật về SHTT
- Quan hệ với pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng: Pháp luật về
CTKLM ngày càng có xu hướng tiếp cận gần hơn với pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng khi đặt trọng tâm bảo vệ người tiêu dùng bên cạnh trọng tâm bảo vệ các đối thủ cạnh tranh và môi trường cạnh tranh nói chung Các hành
vi CTKLM thuộc nhóm thứ 3 trên đây, đặc biệt là các dạng hành vi mang tính chất lừa dối, cưỡng ép… có mặt trong nhiều đạo luật về bảo vệ người tiêu dùng Đặc biệt, Cộng đồng Châu Âu đã có một văn bản riêng quy định về các hành vi thương mại không lành mạnh (unfair trade practice) là Chỉ thị số 2005/29/EC ngày 11/5/2005 trên cơ sở sửa đổi, bổ sung các Chỉ thị số 84/450/EEC, 97/7/EC, 98/27/EC và 2002/65/EC quy định riêng về quảng cáo gây nhầm lẫn
Trước đây, có một số quan điểm cho rằng sự phân biệt giữa pháp luật về CTKLM và pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng nằm đối tượng được bảo vệ, pháp luật về CTKLM chỉ bảo vệ các doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường cũng như môi trường cạnh tranh chung, trong khi vai trò bảo vệ người tiêu
Trang 37khách hàng trong kinh doanh, thì giữa ba bên doanh nghiệp - khách
hàng/người tiêu dùng - các đối thủ cạnh tranh có quan hệ gắn bó khó có thể
tách rời Việc lôi kéo, thu hút khách hàng bằng các thủ đoạn bất chính chắc chắn sẽ làm thiệt hại cho các doanh nghiệp cạnh tranh kinh doanh trung thực, lành mạnh, mặt khác, những thủ đoạn lợi dụng hoặc làm mất uy tín của đối thủ cạnh tranh cũng ảnh hưởng tiêu cực đến người tiêu dùng, khiến họ nhầm lẫn và trả tiền cho các hàng hoá, dịch vụ không đúng như mong muốn của mình Môi trường cạnh tranh lành mạnh chính là môi trường ở đó quyền lợi của người tiêu dùng được đảm bảo ở mức cao nhất
Một yếu tố khác có thể sử dụng để phân biệt phạm vi áp dụng của pháp luật về CTKLM là thời điểm tác động Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng, đặc biệt thể hiện tại các quy định về giải quyết tranh chấp và bồi thường thiệt hại, có khuynh hướng quan tâm tới việc bảo vệ người tiêu dùng trong và sau khi xảy ra giao dịch, trong đó xác định được cụ thể một hay một nhóm người tiêu dùng chịu tác động từ hành vi vi phạm Trong khi đó, pháp luật về CTKLM bảo vệ hướng tới việc bảo vệ đối tượng người tiêu dùng nói chung, hay có thể gọi một cách khác là một số đông những người tiêu dùng tiềm năng, trước khi họ tham gia giao dịch Thông qua việc ngăn chặn những hành
vi lừa dối, gây nhầm lẫn, lôi kéo bất chính… pháp luật về CTKLM góp phần loại bỏ khả năng phát sinh các vi phạm gây thiệt hại cho người tiêu dùng Mặt khác, trong trường hợp xác định một hoặc một số người tiêu dùng cụ thể do chịu tác động của hành vi CTKLM đã tham gia giao dịch và chịu thiệt hại, vụ việc nên được điều chỉnh theo các quy định về bảo vệ người tiêu dùng, và
Trang 3838
hành vi lừa dối hay gây nhầm lẫn của thương nhân sẽ được coi là căn cứ để xác định sự vô hiệu của giao dịch
- Quan hệ với pháp luật về hạn chế cạnh tranh:
Cuối cùng, pháp luật về CTKLM cũng có sự gắn bó với bộ phận thứ hai của pháp luật cạnh tranh nói chung, đó là pháp luật về hạn chế cạnh tranh Có thể hình dung nếu như hành vi hạn chế cạnh tranh là những hành vi đẩy lùi cạnh tranh, làm cạnh tranh vận hành dưới mức bình thường, dẫn đến triệt tiêu cạnh tranh, thì CTKLM là những hành vi đẩy cạnh tranh lên quá mức, khiến
nó vận hành quá nóng, vượt khỏi các giới hạn có thể chấp nhận được của thị trường và xã hội
Dù có sự phân chia thành hai lĩnh vực, song cả pháp luật chống CTKLM
và pháp luật chống hạn chế cạnh tranh đều hướng tới mục đích bảo vệ cơ chế cạnh tranh, bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh và thông qua đó bảo vệ lợi ích của toàn thể người tiêu dùng xã hội Pháp luật chống CTKLM ra đời trước, từ khi cơ chế thị trường mới hình thành với các hoạt động cạnh tranh
sơ khai đã có những hành vi vượt ra ngoài khuôn khổ, cần phải điều chỉnh Pháp luật chống hạn chế cạnh tranh ra đời sau, khi thị trường đã phát triển và tập trung hoá đến một mức độ nhất định để có thể phát sinh những trung tâm quyền lực thị trường Tuy nhiên, điều chỉnh hạn chế cạnh tranh lại được xem
là nền tảng của pháp luật cạnh tranh, vì đó là bảo vệ toàn bộ cơ chế cạnh tranh Nếu cạnh tranh bị thủ tiêu, toàn bộ các hoạt động cạnh tranh trên thị trường, dù là lành mạnh hay không lành mạnh, sẽ không còn nữa Do đó, thái
độ của Nhà nước đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh thường quyết liệt và nghiêm khắc hơn rất nhiều Tuy nhiên, ở chiều ngược lại chống CTKLM cũng chính là chống các động thái có thể đưa đến tình trạng hạn chế cạnh tranh, và các hành vi hạn chế cạnh tranh có thể nhìn nhận một cách khái quát cũng mang bản chất không lành mạnh Như đã trình bày ở phần trên, pháp
Trang 391.2.2 Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
Hiện nay, theo Điều 130 Luật SHTT, hành vi CTKLM trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ bao gồm:
- Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ; xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ Chúng ta có thể xem thí dụ sau đây:
Công ty Cà phê Trung Nguyên phát hiện công ty Cà phê Mê Hy Cô đã thực hiện một số hành vi như sau: (1) sơn bảng hiệu có các dấu hiệu như
“cafe hàng đầu Ban Mê Thuột”, “đem lại nguồn cảm hứng sáng tạo mới” trên nền nâu, đồng thời sử dụng cả mũi tên hướng lên trên, giống của công ty Trung Nguyên Công ty Trung Nguyên yêu cầu Cục SHTT xác định hành vi của Mê Hy Cô là xâm phạm nhãn hiệu nhưng Cục từ chối, vì Trung Nguyên không đăng ký bảo hộ các yếu tố như vừa kể trên Tuy nhiên, Cục đã xác nhận rằng hành vi của Mê Hy Cô sử dụng các dấu hiệu đặc trưng của Trung Nguyên là hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại, lợi dụng uy tín của Trung Nguyên và là hành vi CTKLM
- Sử dụng nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế mà Việt Nam cũng là thành viên, mà ở đó cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng nhãn hiệu đó mà không được
sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu và không có lý do chính đáng
Trang 4040
Thí dụ, công ty Lion được bổ nhiệm là đại lý độc quyền của hãng mỹphẩm LANCÔME của Pháp Giả sử LANCÔME do sơ suất đã không kịp đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam Nếu Lion đi đăng ký nhãn hiệu LANCÔME nhân danh mình, và theo luật của Pháp thì hành vi đó bị cấm, thì hành vi của Lion là hành vi CTKLM
Tương tự, nếu đại lý độc quyền của hãng Cà phê TRUNG NGUYÊN tại Nhật Bản đăng ký bảo hộ cho nhãn hiệu TRUNG NGUYÊN trước khi công ty Trung nguyên kịp đăng ký bảo hộ tại Nhật Bản, thì việc đăng ký của đại diện cũng bị coi là CTKLM
- Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng
Cũng theo Điều 130, chỉ dẫn thương mại là các “dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hoá, dịch vụ, bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hoá, nhãn hàng hoá” Cần lưu ý là nhãn hàng hoá khác nhãn hiệu hàng hoá, và không cần phải được đăng ký mới được coi là chỉ dẫn thương mại
Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại quy định tại Điều 130 bao gồm các hành vi: gắn chỉ dẫn thương mại đó lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ; giấy tờ giao dịch kinh doanh, phương tiện quảng cáo; bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu hàng hoá có gắn chỉ dẫn thương mại đó Như vậy có sự khác biệt giữa hành vi CTKLM theo Luật Thương mại và theo Luật SHTT Thí dụ vụ một số cơ sở sản xuất nệm mút và nệm lò xo kiện công ty Kymdan do đã đưa tin quảng cáo sai lệch về tính chất hàng hoá của