1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam

107 1,2K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, mặc dù pháp luật đã quy định khá đầy đủ về các căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng nhưng với thời gian và thực tế sinh động của xã hội, nhiều trường hợp vẫn chưa được

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐINH THỊ MAI PHƯƠNG

CĂN CỨ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU CHUNG CỦA VỢ CHỒNG THEO

PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng

1.1 Khái niệm, đặc điểm vai trò sở hữu chung của vợ chồng 12 1.2 Vấn đề xác định căn cứ xác lập quyền sở hữu chung 17 của vợ chồng

1.2.1 Các căn cứ xác lập quyền sở hữu theo quy định 17 chung của luật dân sự

1.2.2 Sự tồn tại của quan hệ hôn nhân hợp pháp 18 1.2.3 Các căn cứ xác định các tài sản chung của vợ chồng 22

1.3 Khái quát sự phát triển của pháp luật về căn cứ xác 25 lập quyền sở hữu chung của vợ chồng trong pháp

luật Việt Nam qua các thời kỳ

Trang 3

2.1.3 Các căn cứ xác định các tài sản chung của vợ chồng 52

3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện và nâng cao hiệu quả 79

áp dụng pháp luật về căn cứ xác lập quyền sở hữu

chung của vợ chồng

3.2 Phương hướng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao 81 hiệu quả áp dụng pháp luật về căn cứ xác lập quyền

sở hữu chung của vợ chồng

3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 82 3.2.2 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng 96

Trang 4

CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLDS : Bộ Luật Dân sự HNGĐ : Hôn nhân và gia đình

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:

Hôn nhân là một hiện tượng phổ biến trong xã hội Việc kết hôn giữa hai cá thể nam và nữ không chỉ là sự kết hợp thuần túy giữa hai bên mà còn tạo nên gia đình với các chức năng xã hội của nó Để thực hiện các chức năng này, gia đình buộc phải có những tài sản được sử dụng chung Từ đó khái niệm về quyền sở hữu chung của vợ chồng được hình thành và phát triển và được quyết định bởi chính quan điểm xã hội về các chức năng xã hội của gia đình Tuy nhiên, do sở hữu chung của vợ chồng về bản chất là

sở hữu của các thể nhân, vì vậy sở hữu chung của vợ chồng bên cạnh việc phản ánh và được quyết định bởi quan điểm xã hội về chức năng của gia đình còn phản ánh và được quyết định bởi quan điểm xã hội về quyền tự do

cá nhân, quyền tự do dân sự và quyền sở hữu của cá nhân Trong khi đó quyền tự do cá nhân và quan điểm về các chức năng xã hội của gia đình với mục tiêu phát triển và ổn định xã hội là hai vấn đề đang ngày càng thu hút

sự quan tâm của xã hội và ngày càng trở nên bức thiết Chính vì vậy, việc xác định các vấn đề liên quan đến sở hữu chung của vợ chồng cũng như các căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng là một vấn đề cần được chú ý và đang ngày càng trở nên quan trọng trong đời sống xã hội

Hiện nay, theo quy định của nước ta, các căn cứ cơ bản để xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng trước hết là các căn cứ xác lập quyền sở hữu nói chung theo quy định của pháp luật và sự tồn tại quan hệ vợ chồng Bên cạnh đó, theo Điều 27, 29 và 30 của Luật HNGĐ năm 2000, sở hữu chung của vợ chồng có thể được xác lập trên cơ sở quy định của pháp luật hoặc có thể do sự thỏa thuận của vợ chồng Tuy nhiên, mối quan hệ giữa các căn cứ này vẫn chưa được thể hiện rõ trong luật làm phát sinh nhiều trường hợp không thể xác định được như trường hợp vợ chồng thỏa thuận chia tài sản chung trog thời kỳ hôn nhân và sử dụng tài sản này để đầu tư

Trang 6

sản xuất, kinh doanh Khi đó lợi nhuận thu được từ hoạt động này nên được coi là thu nhập hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân và là tài sản chung của vợ chồng hay sẽ là lợi tức thu được từ tài sản riêng theo Điều 30 của Luật và là tài sản riêng của vợ, chồng vẫn đang là vấn đề chưa ngã ngũ

Bên cạnh đó, mặc dù pháp luật đã quy định khá đầy đủ về các căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng nhưng với thời gian và thực tế sinh động của xã hội, nhiều trường hợp vẫn chưa được pháp luật dự liệu hết hoặc

đã quy định nhưng chưa rõ ràng như việc xác định quan hệ vợ chồng trong trường hợp một bên bị toà án tuyên là đã chết mà trở về, vấn đề về việc thay đổi giới tính, việc mua bán, trao đổi tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân… dẫn đến những lúng túng khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng

Thêm vào đó, quan niệm phong kiến cổ xưa về việc người phụ nữ khi đi lấy chồng thì theo chồng, thuộc về người chồng “xuất giá tòng phu”

và quan niệm coi trọng vấn đề tình cảm, tinh thần của người Á đông nên thường không có sự rạch ròi trong quan hệ tài sản của vợ chồng Chính vì vậy, khi ly hôn, việc xác định, phân chia tài sản thường gặp nhiều khó khăn, dẫn đến các tranh chấp xảy ra

Để có luận cứ khoa học cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật, tăng cường hiệu quả pháp luật về xác định các căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng, đồng thời giúp các nhà lập pháp có cơ sở để giải quyết trong những trường hợp pháp luật chưa kịp dự liệu hoặc dự liệu chưa

cụ thể, em lựa chọn đề tài này làm luận văn cao học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào, nghiên cứu riêng

và sâu về vấn đề này Một số công trình nghiên cứu có nghiên cứu về một

số vấn đề liên quan như chế độ tài sản chung của vợ chồng… Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này, một số được thực hiện trên cơ sở hệ thống

pháp luật cũ như “Một số vấn đề về pháp luật dân sự việt Nam từ thế kỷ

Trang 7

XV đến thời kỳ Pháp thuộc” của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ

Tư pháp hay “Chế độ hôn sản và thừa kế trong Luật dân sự Việt nam” của

Nguyễn Mạnh Bách hoặc chỉ đưa ra những nhận định chung hoặc giải thích

các quy định của pháp luật Đề tài nghiên cứu “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành” của Nguyễn

Văn Cừ, tuy có đề cập đến vấn đề này nhưng dưới góc độ là một chế định liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng và chỉ dưới góc độ xem xét tính phù hợp của quy định này trên cơ sở tìm hiểu về chế độ tài sản của vợ chồng mà chưa đi vào tìm hiểu kỹ về bản chất, mục đích của quyền sở hữu chung của vợ chồng cũng như các căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của

vợ chồng Thêm vào đó, Luận án được phân tích trên cơ sở BLDS năm

1999 Sự ra đời của BLDS năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và những vấn đề mới phát sinh như thay đổi giới tính, hôn nhân đồng tính v.v đã làm nảy sinh nhiều vấn đề mới chưa được đề cập tại Luận án Căn cứ xác lập quyền sở hữu của vợ chồng cũng được nhắc đến trong các sách giáo khoa, giáo trình giảng dạy tại các trường đại học, tuy nhiên các tác phẩm này chỉ dừng lại ở việc giới thiệu sơ lược và giải thích các quy định của pháp luật, đặc biệt đi sâu vào phân tích các căn cứ xác lập tài sản chung của

vợ chồng chứ không phân tích tổng thể các căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng Hiện nay cũng chưa có một sách tham khảo nào đề cập cụ thể, nghiên cứu về bản chất của vấn đề này

Đề tài “Căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam hiện hành” mong muốn tìm hiểu, nghiên cứu các quy định

hiện hành về căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng trên cơ sở nghiên cứu bản chất của sở hữu của vợ chồng để từ đó đưa ra một số phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng

3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài

Mục đích của đề tài là dựa trên cơ sở lý luận để nghiên cứu các quy

Trang 8

định của luật thực định về các căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng, tìm hiểu thực tiễn áp dụng các quy định này; từ đó đưa ra một số phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng

Với mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu các đặc điểm, yếu tố quyết định đối với quyền sở hữu chung của vợ chồng để từ đó tìm hiểu việc xác định các căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng

- Nghiên cứu các căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng ở

hệ thống pháp luật của một số nước trên thế giới cũng như quá trình phát triển các quy định của pháp luật Việt Nam về các căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng

- Nghiên cứu các quy định hiện hành của Việt Nam về các căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng và thực tiễn áp dụng các quy định này để đưa ra đưa ra một số phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng

Do điều kiện hạn chế, đề tài chủ yếu được tập trung trong phạm vi luật thực định

4 Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu:

Đề tài lấy các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử theo quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác Lê nin làm trung tâm, cơ sở nền tảng Các nguyên lý này bao gồm: tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, đồng thời giữa chúng có mối liên hệ biện chứng; Pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, được hình thành

từ một cơ sở hạ tầng phù hợp; pháp luật được coi là tấm gương phản chiếu

xã hội còn về phần mình, xã hội được coi là cơ sở thực tiễn của pháp luật

Về lý thuyết và thực tiễn cho thấy, các quy định của pháp luật phù hợp với

Trang 9

sự phát triển của các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội thì mới có tính khả thi trong quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật; từ đó tạo cơ sở cho xã hội ổn định và phát triển

Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phương pháp sau:

- Phương pháp lịch sử được sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu về các căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng qua các thời kỳ

- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng khi phân tích về các căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng

- Phương pháp so sánh được thực hiện nhằm tìm hiểu quy định của pháp luật về căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng với hệ thống pháp luật trước đó cũng như hệ thống pháp luật của một số nước

- Phương pháp thống kê, khảo sát thực tiễn được áp dụng khi xem xét thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật trong lĩnh vực này

5 Cơ cấu, cấu trúc luận văn

Luận văn được chia thành 3 phần chính bao gồm:

Mở đầu

Kết quả nghiên cứu

Chương I Những vấn đề lý luận về căn cứ xác lập quyền sở hữu

chung của vợ chồng Chương II Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về căn

cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng và thực tiễn áp dụng

Chương III Những phương hướng, giải pháp hoàn thiện và nâng

cao hiệu quả áp dụng pháp luật về căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng

Kết luận

Trang 10

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CĂN CỨ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU CHUNG CỦA VỢ CHỒNG

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò sở hữu chung của vợ chồng

Quan hệ sở hữu chung của vợ chồng là quan hệ xã hội khách quan Khi có quan hệ hôn nhân, quan hệ vợ chồng thì cuộc sống chung của họ sẽ tạo ra những giá trị chung về vật chất và tinh thần và sở hữu tài sản chung khi đó là cơ sở vật chất cho đời sống chung của hai người, là điều kiện để

họ thực hiện các chức năng xã hội của gia đình như sinh đẻ, giáo dục nuôi dưỡng, thoả mãn những nhu cầu chung cũng như của cá nhân họ

Trong xã hội có nhà nước và pháp luật, khi sở hữu là đối tượng lập pháp thì sở hữu cá nhân, sở hữu gia đình, sở hữu vợ chồng cũng là một đối tượng lập pháp quan trọng Có thể nói, xã hội nào có hôn nhân, vợ chồng thì cũng đều tồn tại sở hữu chung của vợ chồng Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của mỗi giai đoạn phát triển, sự điều chỉnh pháp luật về sở hữu chung của vợ chồng có những đặc trưng riêng

Ví dụ: có thời kỳ luật pháp chỉ thừa nhận quyền sở hữu của vợ, chồng, không có sở hữu tài sản, có thời kỳ vợ chồng đều có quyền sở hữu tài sản,

và tài sản chung có thể xác lập theo pháp luật hoặc theo thỏa thuận…

Tuy nhiên, về bản chất, sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu của các thể nhân, chứ không phải là sở hữu của một pháp nhân Do đó, sở hữu chung của vợ chồng trước hết phản ánh tư tưởng, quan điểm của các nhà làm luật cũng như xã hội về quyền sở hữu của cá nhân cũng như quyền tự

do dân sự của các cá nhân thông qua việc ghi nhận và thể hiện sự tự thỏa thuận của các bên chủ thể Đây là một trong những quyền cơ bản của công dân hiện đã được cộng đồng quốc tế công nhận tại nhiều văn kiện quốc tế Điều 17, Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế đã khẳng định “Mọi người đều

Trang 11

người khác” Hiện nay, pháp luật các nước trên thế giới cũng đều công nhận và bảo hộ quyền sở hữu của cá nhân trong các văn bản pháp luật của nước mình Ở Việt Nam, Điều 58 Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định

“Công dân có quyền sở hữu… Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân” [6] Cụ thể hóa sự ghi nhận này, Điều 169 BLDS năm 2005 cũng khẳng định “Quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân

và chủ thể khác được pháp luật công nhận và bảo vệ Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái pháp luật quyền sở hữu đối với tài sản của mình Chủ sở hữu có quyền tự bảo vệ, ngăn cản bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình, truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật” [10]

Tùy từng thời điểm lịch sử và đặc điểm xã hội của từng nước, quan điểm về quyền tự do cá nhân trong sở hữu lại được ghi nhận rộng hay hẹp khác nhau và được phản ánh một cách rõ nét trong sở hữu chung của vợ chồng thông qua mức độ công nhận quyền tự do thỏa thuận của các chủ thể trong sở hữu chung của vợ chồng

Sự phản ánh này được thể hiện cơ bản qua ba khía cạnh lớn là sự ghi nhận của pháp luật về sự thoả thuận của các bên trong việc thiết lập, tạo dựng quan hệ sở hữu chung của vợ chồng cũng như trong việc xác định các tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng và thoả thuận của các bên trong việc thực hiện quyền sở hữu chung của vợ chồng

Trong việc thiết lập, tạo dựng quan hệ sở hữu chung của vợ chồng, nếu như trước kia, với quan điểm và sự ghi nhận rất hạn chế của xã hội về quyền tự do cá nhân trong sở hữu cũng như quyền tự do dân sự cuả cá nhân, sự thoả thuận, thống nhất ý chí của hai bên chủ thể đã được ghi nhận rất hạn chế trong sở hữu chung của vợ chồng Ví dụ dưới thời kỳ phong kiến, quyền tự do cá nhân ít khi được nhắc đến nên sự thỏa thuận của các bên trong việc tạo lập quan hệ hôn nhân mà trên đó sở hữu chung của vợ chồng được thiết lập cũng không hề được quan tâm, chú ý đến Mà yếu tố

Trang 12

tiên quyết lại chính là sự quyết định của hai bên dòng họ, gia đình Đến ngày nay, với sự ghi nhận và bảo đảm rất cao của quyền tự do cá nhân, sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên chủ thể trong việc tạo lập quan hệ hôn nhân hay quan hệ sở hữu chung của vợ chồng được coi là một yếu tố quyết định Chính hai bên chủ thể chứ không phải ai khác là người trước tiên tự quyết định có xác lập quan hệ hôn nhân với nhau hay không Không

ai có thể ép buộc hoặc dùng bất cứ một biện pháp nào, hình thức nào để bắt buộc hai bên xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp mà không có sự đồng ý của các chủ thể đó

Tương tự như vậy, quan điểm về quyền tự do cá nhân cũng được phản ánh rất rõ nét qua sự công nhận thỏa thuận của hai bên vợ chồng trong việc xác định tài sản nào là tài sản chung của vợ chồng cũng như việc thực hiện quyền sở hữu chung của vợ chồng Ngày nay, pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới cũng như Việt Nam đều cho phép các chủ thể về cơ bản có thể tự do thỏa thuận, bàn bạc và ủy quyền cho nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung hay nói cách khác là các bên

có thể thỏa thuận về việc thực hiện quyền sở hữu chung của vợ chồng Đồng thời, các bên cũng có thể thỏa thuận về tài sản chung của vợ chồng

Ví dụ Điều 1469 BLDS và Thương Mại Thái Lan quy định “Khi vợ chồng không có sự thỏa thuận đặc biệt của họ về tài sản trước khi kết hôn thì quan

hệ tài sản giữa họ sẽ được điều chỉnh bởi những quy định của chương này” [13] Như vậy, pháp luật sẽ chỉ can thiệp và chỉ quy định khi hai bên không

có thỏa thuận về tài sản trước khi kết hôn, nói cách khác sự tự thoả thuận của các bên về tài sản được coi là nền tảng, cơ sở đầu tiên trong việc xác định các tài sản chung của vợ chồng

Tóm lại, sở hữu chung của vợ chồng trước hết luôn phản ánh tư tưởng, quan điểm của xã hội về quyền tự do cá nhân trong sở hữu cũng như quyền tự do dân sự của cá nhân trong từng thời kỳ lịch sử và từng đặc điểm

xã hội khác nhau

Trang 13

Bên cạnh đó, sở hữu chung của vợ chồng còn luôn gắn liền với sự xuất hiện của hôn nhân và gia đình, phục vụ các chức năng của gia đình Trong khi đó chức năng của gia đình không chỉ bó gọn trong hai chủ thể thiết lập quan hệ vợ chồng đó mà còn có ảnh hưởng lớn đến toàn xã hội Gia đình với các chức năng xã hội của nó như thỏa mãn những lợi ích, nhu cầu của vợ chồng, chức năng sinh sản, nuôi dưỡng giáo dục trẻ em, chức năng kinh tế, văn hóa, xã hội … đã không còn là vấn đề của hai bên chủ thể xác lập quan hệ hôn nhân mà đã trở thành một vấn đề của cả xã hội, ảnh hưởng tới toàn xã hội từ đó, gia đình được coi là một tế bào của xã hội là nền tảng của xã hội Chính vì vậy, sở hữu chung của vợ chồng không chỉ phản ánh quan điểm, tư tưởng của xã hội về quyền tự do cá nhân, quyền tự

do dân sự mà còn phản ánh quan điểm xã hội trong việc bảo đảm và duy trì

sự ổn định, phát triển của xã hội thông qua quan điểm của xã hội về chức năng của gia đình

Điều này được thể hiện trước hết qua việc pháp luật quy định về các điều kiện để xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp mà trên đó sở hữu chung của

vợ chồng được tạo lập Kể cả trong trường hợp sự thỏa thuận, ý chí tạo dựng quan hệ hôn nhân hợp pháp của các bên được coi là yếu tố tiên quyết thì pháp luật vẫn có những quy định về các điều kiện để xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp mà các bên chủ thể phải tuân theo Các điều kiện này, tùy từng thời điểm lịch sử, đặc điểm xã hội của mỗi nước lại được quy định khác nhau và luôn phản ánh quan điểm của xã hội về chức năng của gia đình nhằm bảo vệ trật tự,

sự ổn định và phát triển của chính xã hội đó Ví dụ, ở thời kỳ phong kiến, việc kết hôn với việc tạo lập nên gia đình được coi là để duy trì nòi giống, phát triển giòng họ nên sự đồng ý, xác nhận của hai bên giòng họ được coi là những điều kiện tiên quyết để công nhận mối quan hệ hôn nhân hợp pháp giữa hai bên chủ thể Ngoài ra, pháp luật ở thời kỳ nào cũng yêu cầu việc xác lập quan hệ hôn nhân để từ đó xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng phải được tiến hành theo những hình thức nhất định và phải được pháp luật quy

Trang 14

định Như vậy, với các quy định về điều kiện kết hôn, điều kiện công nhận hôn nhân hợp pháp để từ đó tạo lập nên sở hữu chung của vợ chồng, pháp luật qua đó đã định hướng và góp phần để sở hữu chung của vợ chồng phản ánh quan điểm về ổn định và phát triển xã hội

Quan điểm của xã hội về chức năng của gia đình, về bảo vệ trật tự và phát triển của xã hội cũng được thể hiện trong quy định của pháp luật về việc thực hiện quyền sở hữu chung của vợ chồng và quy định của pháp luật

về việc tài sản nào sẽ là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng Để đảm bảo lợi ích của các bên chủ thể, ổn định trật tự và phát triển xã hội, pháp luật mặc dù cho phép các bên chủ thể có thể cùng nhau thỏa thuận về việc thực hiện quyền sở hữu chung cũng như thỏa thuận xác định các tài sản chung của vợ chồng, nhưng sự thỏa thuận này luôn phải tuân theo những hình thức nhất định và phải được pháp luật công nhận Ví dụ, pháp luật của các nước tư bản cho phép hai bên có thể thuận thuận xác định các tài sản chung nhưng sự thỏa thuận này phải được tiến hành trước khi kết hôn và phải được lập thành văn bản với sự ghi nhận của các cơ quan có thẩm quyền, nếu không sự thỏa thuận này sẽ bị coi là vô hiệu Thậm chí, trong nhiều trường hợp, sở hữu chung của vợ chồng còn được quy định rõ ràng, không phụ thuộc vào ý chí, sự thỏa thuận của các bên như trường hợp quy định về chế độ cộng đồng toàn sản pháp định Tức là sau khi kết hôn, toàn

bộ tài sản của hai bên vợ chồng dù có trước hay sau hôn nhân đều thuộc tài sản chung của vợ chồng Quy định này phản ánh quan điểm của xã hội về hôn nhân là một sự kết hợp hoàn toàn của hai bên, mang tính lâu dài, bền vững, không thể dễ dàng bị phá hủy

Như vậy, có thể thấy sở hữu chung của vợ chồng luôn phản ánh quan điểm, sự ghi nhận của xã hội về quyền tự do cá nhân cũng như quyền tự do dân sự của cá nhân đồng thời luôn phản ánh quan điểm xã hội về chức năng của gia đình, về sự ổn định, phát triển xã hội Với đặc điểm này, sở hữu chung của vợ chồng đang ngày càng trở thành một vấn đề quan trọng trong đời sống

Trang 15

xã hội vì nó không chỉ liên quan tới việc bảo đảm quyền tự do cá nhân, bảo đảm quyền và lợi ích của chính các chủ thể mà còn liên quan tới sự ổn định gia đình, phát triển của xã hội – hai vấn đề đang ngày càng được xã hội quan tâm hơn Vì vậy, các quy định về sở hữu chung của vợ chồng đang ngày càng có vai trò, vị trí hết sức to lớn Do điều kiện có hạn, dưới đây chỉ đề cập đến vấn đề về căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng

1.2 Vấn đề xác định căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng

Sở hữu chung của vợ chồng phản ánh và được quyết định bởi quan điểm xã hội về quyền tự do cá nhân, quyền tự do dân sự của cá nhân và quan điểm xã hội về các chức năng, vai trò của gia đình Chính vì vậy, các căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng cũng phản ánh và được quyết định bởi các quan điểm này

Các quan điểm này, tùy theo từng thời kỳ lịch sử và đặc điểm của từng xã hội khác nhau lại khác nhau, do đó, các căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng tùy theo từng thời kỳ lịch sử và đặc điểm của từng

xã hội khác nhau cũng được quy định khác nhau Tuy nhiên, có thể thấy, thông thường bao gồm các nhóm căn cứ sau:

- Thứ nhất là các căn cứ xác lập quyền sở hữu nói chung theo quy định của pháp luật dân sự

- Thứ hai là sự tồn tại của quan hệ hôn nhân hợp pháp

- Thứ ba là các căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng bao gồm

sự thoả thuận của các bên chủ thể hoặc theo quy định của pháp luật

Thiếu một trong các căn cứ, điều kiện trên, sở hữu chung của vợ chồng không thể được xác lập Và tùy từng đặc điểm xã hội khác nhau mà các nhóm căn cứ này lại được quy định khác nhau trên cơ sở quan điểm của

xã hội về quyền tự do cá nhân, quyền tự do dân sự của cá nhân và quan điểm xã hội về các chức năng, vai trò của gia đình

Trang 16

1.2.1 Các căn cứ xác lập quyền sở hữu nói chung:

Vì sở hữu chung của vợ chồng là một hình thức sở hữu nên các căn

cứ trước tiên để xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng là các căn cứ để xác lập quyền sở hữu nói chung Đây là một căn cứ chung của các loại sở hữu vì vậy nó chỉ được quyết định bởi các quan điểm xã hội nói chung Do điều kiện có hạn và sự tập trung cho việc phân tích, làm rõ những căn cứ riêng biệt của việc xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng luận văn không đi sâu phân tích căn cứ này mà chỉ đưa ra những vấn đề cơ bản

Về vấn đề này, pháp luật của các nước thường có những quy định rất

cụ thể về căn cứ xác lập quyền sở hữu Các quy định này thường được quy định trên cơ sở nguồn gốc của tài sản Theo giáo trình Luật Dân sự Việt Nam của Đại học luật Hà Nội, có 3 nhóm căn cứ xác lập quyền sở hữu bao gồm:

- Theo hợp đồng hoặc theo giao dịch của một bên

- Theo quy định của pháp luật (như tài sản được hình thành do lao động, do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến, thừa kế… )

- Theo những căn cứ riêng: Bản án, quyết định của tòa án…

Ở Việt Nam, Điều 170, BLDS năm 2005 quy định quyền sở hữu được xác lập đối với tài sản trong các trường hợp sau đây:

1 Do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp

2 Được chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

3 Thu hoa lợi, lợi tức

4 Tạo thành vật mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến;

5 Được thừa kế tài sản;

6 Chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với vật

vô chủ, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, gia súc, gia cầm

Trang 17

bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên

7 Chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai phù hợp với thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều 247 BLDS năm 2005

8 Các trường hợp khác do pháp luật quy định”

1.2.2 Sự tồn tại của quan hệ hôn nhân hợp pháp:

Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu của hai chủ thể đặc biệt là vợ chồng, vì vậy không thể tồn tại bên ngoài quan hệ hôn nhân hợp pháp Nói cách khác sự tồn tại của quan hệ hôn nhân hợp pháp là một trong những căn cứ quan trọng để xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng

Tuy nhiên, việc xác định thế nào là quan hệ hôn nhân hợp pháp lại được quyết định bởi quan niệm xã hội về quyền tự do cá nhân cũng như quan điểm xã hội về các chức năng xã hội của gia đình

Ngày nay, với quan điểm công nhận và bảo đảm các quyền tự do cá nhân đồng thời quan tâm, chú ý, định hướng phát triển xã hội, gia đình, ý chí và sự thỏa thuận của các bên chủ thể được coi là cơ sở nền tảng, quyết định trong việc xác lập, duy trì sự tồn tại của quan hệ hôn nhân hợp pháp, bên cạnh đó có những điều kiện khác nhằm đảm bảo cho gia đình có thể thực hiện được các chức năng xã hội của mình

Theo đó, quan hệ hôn nhân hợp pháp được coi là bắt đầu bằng sự kiện kết hôn theo pháp luật và chấm dứt khi một bên chết, hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết, khi vợ và chồng ly hôn

Về nguyên tắc, kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật và đăng ký kết hôn Ở một số nước, kết hôn có thể được xác lập giữa một người đàn ông và nhiều người đàn bà mà không cần có sự chấm dứt của quan hệ hôn nhân trước (hôn nhân đa thê), mặt khác, một số nước cũng thừa nhận tính hợp pháp của hôn nhân đồng giới

Ở Việt nam, chỉ thừa nhận việc kết hôn giữa một bên là nam và một bên là

Trang 18

nữ và không công nhận hôn nhân đa thê, đa phu Để tiến hành việc kết hôn,

hệ thống pháp luật của các nước thường đặt ra các điều kiện nhất định Thiếu các điều kiện này, việc kết hôn của hai bên chủ thể sẽ không được công nhận và khi đó quan hệ vợ chồng sẽ không phát sinh Các điều kiện này thường bao gồm :

- Điều kiện về sự khác biệt giới tính: Trong thời gian gần đây, sự xuất hiện của quan hệ đồng giới đã làm nảy sinh nhiều cuộc tranh cãi gay gắt giữa các nhà lập pháp về việc thừa nhận hay không thừa nhận hôn nhân giữa những người đồng tính Như trên đã nói, một số nước đã có sự công nhận hôn nhân của những người đồng tính Pháp luật Việt Nam nhìn chung cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính Việc cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính được chính thức ghi nhận trong Luật hôn nhân

và gia đình năm 2000 của Việt Nam Trong thời gian trước, hôn nhân giữa những người cùng giới cũng không bao giờ được thừa nhận ở Việt Nam Việc xác định giới tính thường dựa vào giấy khai sinh của đương sự

- Điều kiện về tuổi kết hôn: Hệ thống pháp luật các nước thường quy định tuổi kết hôn tối thiểu, theo đó, hai bên đương sự chỉ có thể kết hôn khi

đã đủ tuổi kết hôn tối thiểu Ở các nước, tuổi kết hôn tối thiểu thường không giống nhau tuỳ theo từng nước, ví dụ tuổi kết hôn tối thiểu ở Đức là

21 đối với nam và 16 đối với nữ, ở Thuỵ Sĩ là 20 và 18, ở ý là 16 và 14, ở Pháp là 18 và 15 ở Việt nam, tuổi kết hôn tối thiểu được quy định hiện nay

là nam từ 20 tuổi trở lên và nữ từ 18 tuổi trở lên

- Điều kiện về sự ưng thuận: Điều kiện này nhằm đảm bảo nguyên tắc của hôn nhân là nguyên tắc tự nguyện Pháp luật ở bất kỳ một nước nào đều không thừa nhận việc kết hôn nếu không có sự ưng thuận của cả hai bên Tuy nhiên, pháp luật các nước lại có những quy định khác nhau về các trường hợp được coi là không có sự ưng thuận của cả hai bên Nhưng nhìn chung không có sự ưng thuận của cả hai bên có thể xảy ra khi một hoặc cả hai bên bị cưỡng ép, bị lừa dối, bị mất năng lực hành vi, bị hạn chế năng

Trang 19

lực hành vi hay không nhận thức được hành vi của mình

- Điều kiện về mối quan hệ thân thích: Theo đó, những người có cùng dòng máu về trực hệ, những người có quan hệ họ hàng, anh chị em thường không được kết hôn với nhau Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành của Việt Nam quy định cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời, giữa cha mẹ nuôi với con nuôi, giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng [19]

- Điều kiện về việc không tồn tại hôn nhân với người khác: Mặc dù như trên đã nói, pháp luật một số nước thừa nhận hôn nhân đa thê nhưng nhìn chung các nước đều cấm người đang có vợ, có chồng không được kết hôn với người khác

Thiếu một trong các điều kiện trên, việc kết hôn giữa hai đương sự không được công nhận, khi đó quan hệ vợ chồng không tồn tại và theo đó, quan hệ sở hữu chung của vợ chồng cũng không tồn tại

Hôn nhân có thể bị chấm dứt trong các trường hợp: Vợ hoặc chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết hoặc vợ và chồng ly hôn

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân (về mặt pháp lý) ngay trong lúc cả vợ và chồng đều còn sống Đây là biện pháp cuối cùng mà pháp luật cho phép thực hiện trong trường hợp cuộc sống vợ chồng lâm vào tình trạng khủng hoảng mà không thể được khắc phục bằng bất kỳ biện pháp nào khác Về vấn đề này, luật các nước, ở các thời kỳ khác nhau cũng

có sự nhìn nhận khác nhau: ở một số nước thời kỳ nguyên sơ, hôn nhân được xác lập và được duy trì chỉ nhờ vào sự ưng thuận lúc đầu (lúc kết hôn), cũng giống như sự ưng thuận khi giao kết hợp đồng, một khi đã ưng thuận kết hôn, người kết hôn không thể thay đổi ý nghĩa, nghĩa là phải chấp nhận cuộc sống chung cho đên cuối đời Quan niệm này được duy trì khá

Trang 20

lâu ở nhiều nước Không ít nước Châu âu chỉ mới từ bỏ quan niệm này cách đây không lâu như ở ý là từ năm 1975, ở Tây Ban Nha từ năm 1982… Trái ngược với quan niệm trên là quan niệm cho rằng hôn nhân không thể được duy trì một khi vợ hoặc chồng hoặc cả hai không còn cảm thấy được thôi thúc bởi ý muốn chung sống Mỗi người phải có quyền tự do chấm dứt quan hệ hôn nhân, như đã có quyền tự do xác lập quan hệ đó Nếu cả vợ và chồng đều đồng ý ly hôn, thì càng tốt, nếu không, mỗi người có quyền ly hôn chỉ bằng quyết định đơn phương của mình Quyền tự do ly hôn được thiết lập trong luật La Mã thời kỳ cuối Trong luật đương đại của niều nước theo Common law hoặc của các nước Bắc Âu Một số nước, mặc dù công nhận quyền ly hôn như một quyền dân sự của cá nhân nhưng yêu cầu ly hôn chỉ được Tòa án tiếp nhận trong những trường hợp được luật dự kiến Yêu cầu ly hôn có thể do vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng đưa ra Thẩm phán, về phần mình, có quyền quyết định cho phép hay không cho phép ly hôn trên cơ sở đánh giá mức độ chính đáng, hợp lý, hợp tình của yêu cầu ly hôn

1.2.3 Các căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng:

Ngoài việc đáp ứng đủ hai căn cứ chung nói trên, sở hữu chung của

vợ chồng có thể được xác lập trên cơ sở sự thỏa thuận của hai vợ chồng hoặc trên cơ sở quy định của pháp luật Đây cũng là một căn cứ thể hiện rất

rõ quan điểm của xã hội về quyền tự do cá nhân, chức năng xã hội của gia đình cũng như vị trí, vai trò và mối quan hệ của hai vấn đề này trong xã hội

- Sự thỏa thuận của vợ chồng

Ở những xã hội quyền tự do cá nhân được đặt lên hàng đầu, được coi

là vấn đề then chốt thì sự thỏa thuận của vợ chồng về tài sản chung của vợ chồng được coi là cơ sở quyết định của việc xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng Quan điểm này đang ngày càng được nhiều nước công nhận, đặc biệt là ở các nước tư bản chủ nghĩa Theo đó, pháp luật cho phép hai vợ

Trang 21

chồng có quyền tự do thỏa thuận xác định các tài sản nào trong khối tài sản của vợ chồng sẽ thuộc quyền sở hữu chung, được chiếm hữu, sử dụng, định đoạt chung Sự thoả thuận này do chính hai vợ chồng cùng nhau quyết định, đi đến thống nhất và chỉ phụ thuộc vào ý chí của hai bên mà thôi Quy định của pháp luật chỉ can thiệp và là căn cứ để xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng trong trường hợp hai vợ chồng không có sự thỏa thuận

về tài sản chung

Tuy nhiên, dù coi trọng quyền tự do cá nhân đến đâu thì gia đình vẫn luôn luôn có những chức năng xã hội của nó, vì vậy, bên cạnh việc bảo đảm quyền tự do cá nhân để bảo đảm sự ổn định, phát triển của xã hội, gia đình, pháp luật các nước này đều có sự quy định rất cụ thể về sự thoả thuận này Thỏa thuận của vợ chồng về tài sản chung phải được lập thành văn bản, thường gọi là khế ước hay hôn ước và không được trái với các quy định của pháp luật cũng như đạo đức xã hội (trật tự công cộng) đồng thời phải được các cơ quan có thẩm quyền xác nhận, nếu không sẽ bị coi là vô hiệu Thậm chí, để đảm bảo ổn định xã hội, pháp luật nhiều nước trước đây còn yêu cầu thoả thuận này phải được thực hiện trước khi kết hôn và không được thay đổi sau khi đã kết hôn

Đến nay, cùng với sự phát triển của xã hội, do tính chất khó có thể

dự liệu trước của các nghĩa vụ chung cũng như khả năng tạo lập tài sản của hai bên và để mở rộng hơn quyền tự do của các cá nhân, pháp luật của một

số nước đã bắt đầu cho phép hai bên được sửa đổi thỏa thuận về tài sản chung trước khi kết hôn sau một thời gian hoặc có thể có những thỏa thuận

về tài sản trong thời kỳ hôn nhân Tuy nhiên, các thỏa thuận này cũng phải tuân theo những hình thức và điều kiện nhất định Ví dụ Điều 1397 BLDS Pháp (Luật số 65-570 ngày 13/7/1965 và Luật số 89-18 ngày 13/1/1989) có quy định “Sau hai năm áp dụng chế độ tài sản trong hôn nhân theo thỏa thuận hoặc theo luật định, hai vợ chồng có thể vì lợi ích của gia đình, xin sửa đổi hoặc thay đổi hoàn toàn chế độ tài sản trong hôn nhân bằng một

Trang 22

chứng thư có chứng thực của Công chứng viên và được Toà án nơi cứ trú phê chuẩn” [15] hay Điều758, 759 BLDS Nhật Bản cũng quy định căn cứ xác lập tài sản của vợ chồng được quy định trong hôn ước cũng có thể được thay đổi cho phù hợp với thực tế tạo lập, chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của vợ chồng [9]

- Theo quy định của pháp luật

Căn cứ này tồn tại ở những xã hội chức năng xã hội của gia đình được coi là yếu tố quan trọng Khi xã hội coi chức năng xã hội của gia đình

là yếu tố quan trọng hơn thì quy định của pháp luật sẽ là căn cứ đầu tiên để xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng, theo đó pháp luật dự liệu trước

về căn cứ, nguồn gốc, thành phần các loại tài sản chung và tài sản riêng của

vợ chồng

Theo quan điểm này, pháp luật của các nước đã dự liệu 4 mô hình cơ bản của chế độ tài sản giữa vợ và chồng là chế độ cộng đồng toàn sản, chế

độ cộng đồng động sản và tạo sản; chế độ cộng đồng tạo sản; chế độ cộng đồng phân sản

ở chế độ cộng đồng toàn sản: toàn bộ tài sản của vợ và chồng dù có được trước hôn nhân hay sau hôn nhân đều thuộc quyền sở hữu chung của

vợ chồng Chế độ này được áp dụng ở một số nước như Đan Mạch, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Braxin

ở chế độ cộng đồng động sản và tạo sản: khối tài sản chung của vợ chồng bị hạn chế hơn, chỉ bao gồm tất cả các động sản mà vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng có được trước hoặc sau khi kết hôn và các bất động sản có được sau thời kỳ hôn nhân Các bất động sản mà mỗi bên vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn vẫn thuộc quyền sở hữu riêng của mỗi bên

vợ, chồng Chế độ này được áp dụng ở Pháp với BLDS năm 1804 và ở miền Nam nước ta trước ngày giải phóng với Sắc luật 15/64 ngày 23/7/1964

Trang 23

ở chế độ cộng đồng tạo sản: khối tài sản chung của vợ chồng lại bị hạn chế hơn nữa, chỉ bao gồm tất cả các tài sản mà hai vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân và các hoa lợi, lợi tức có được từ tài sản riêng của mỗi bên Các tài sản mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn dù là động sản hay bất động sản đều thuộc quyền sở hữu riêng của mỗi bên vợ, chồng Chế độ này được chọn làm chế độ tài sản pháp định ở BLDS Nhật Bản (Điều 762), Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan (Điều 1471 và 1474), Luật GĐ của Bungari (Điều 13)

Ở chế độ phân sản: khối tài sản chung của vợ chồng đã bị thu hẹp tối

đa, không còn tài sản chung của vợ, chồng nữa Các tài sản mà hai bên vợ, chồng có được trước hay sau khi kết hôn đều thuộc quyền sở hữu riêng của mỗi bên vợ, chồng, người vợ hay chồng có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt các tài sản của mình Các nghĩa vụ chung nhằm đảm bảo lợi ích chung của gia đình được thực hiện qua việc đóng góp tuỳ theo khả năng của mỗi bên vợ, chồng Chế độ tài sản này đã từng được áp dụng ở Italia, ở Anh

Ngày nay, với sự phát triển của xã hội, ở nhiều nước trên thế giới có sự đan xen, coi trọng cả hai vấn đề về quyền tự do cá nhân, quyền tự do trong sở hữu và vấn đề bảo vệ chức năng xã hội của gia đình Vì vậy, bên cạnh việc xác định sở hữu chung của vợ chồng hoàn toàn trên cơ sở các dự liệu, quy định của pháp luật hoặc hoàn toàn trên cơ sở thỏa thuận của vợ, chồng pháp luật của nhiều nước còn cho phép các bên chủ thể có quyền thỏa thuận xác định các tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng cùng với việc áp dụng quy định của pháp luật để xác định tài sản chung của vợ chồng Ở những nước này, đối với cùng một quan hệ vợ chồng, cùng một quan hệ sở hữu chung của

vợ chồng, căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng có thể bao hàm cả hai căn cứ là sự thỏa thuận của vợ chồng và quy định của pháp luật Quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay đang được thực hiện theo quan điểm này

1.3 Khái quát sự phát triển của pháp luật về căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam qua các

Trang 24

thời kỳ:

1.3.1 Trong cổ luật Việt Nam:

Cổ luật Việt Nam, theo nhiều nhà nghiên cứu, được giới hạn từ cuộc khởi nghĩa của vua Hàm Nghi chống Pháp (1885) trở về trước

Ở thời kỳ này, quyền tự do cá nhân cũng như quyền tự do dân sự của

cá nhân rất ít khi được nhắc đến Chính vì vậy, căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng chủ yếu chỉ thể hiện quan điểm của xã hội về chức năng của gia đình Sự thỏa thuận và tự do ý chí của hai bên chủ thể không được coi là một cơ sở để tạo lập, duy trì quan hệ hôn nhân cũng như xác định các tài sản chung của vợ chồng

Hôn nhân ở thời kỳ này được coi là để “sinh con, đẻ cái”, nối dõi duy trì dòng họ với quan điểm về gia đình theo chế độ phụ hệ nên mọi quy định của pháp luật về các căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng đều hướng theo mục đích chính này Theo đó, pháp luật cho phép một người đàn ông có thể xác lập quan hệ vợ chồng, quan hệ sở hữu chung của

vợ chồng với nhiều người phụ nữ nhằm duy trì nòi giống, dòng họ của mình nhưng ngược lại, một người phụ nữ trong cùng thời điểm chỉ có thể được lấy một chồng: “trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng”

và phải có nghĩa vụ chung thủy với duy nhất người chồng ấy Đặc biệt, với quan điểm về việc duy trì nòi giống, dòng họ, pháp luật thời kỳ này chỉ công nhận hôn nhân là hợp pháp nếu được hai bên gia đình với sự đại diện của người đứng đầu dòng họ đồng ý Sự kiện đánh dấu việc kết hôn, hình thành quan hệ vợ chồng của hai bên về cơ bản cũng được coi là từ khi viên chức hộ lại xác nhận và ghi vào sổ về việc kết hôn của hai bên Tuy nhiên, theo tục lệ, và nhằm đảm bảo quyền lợi của hai bên dòng họ, ngay từ sau khi đính hôn, hai bên đã có những ràng buộc nhất định

Cũng với quan niệm về việc duy trì dòng họ, nòi giống, việc chấm dứt quan hệ hôn nhân ở thời kỳ này được coi là một vấn đề rất nghiêm

Trang 25

trọng và phải đáp ứng những điều kiện ngặt nghèo trong đó chỉ có người chồng mới có quyền bỏ vợ và chỉ có thể bỏ vợ khi vợ phạm vào tội thất xuất (bảy lỗi của người vợ) như: không có con, dâm đãng, ghen tuông, trộm cắp, bất hòa, ác tật, không kính trọng bố mẹ chồng v.v…

Về tài sản chung của vợ chồng, pháp luật thời kỳ này không cho phép các bên chủ thể thỏa thuận về tài sản chung nhưng cũng không có quy định cụ thể, riêng rẽ về vấn đề này do hôn nhân được coi là để duy trì dòng

họ, nòi giống, người vợ sau khi kết hôn được coi là đã đi theo gia đình nhà chồng, kể cả khi chết, người vợ này cũng vẫn được coi là thuộc về dòng họ nhà chồng Chính vì vậy, tài sản chung của hai vợ chồng hầu như không được đề cập tới mà chủ yếu chỉ là tài sản của cả gia đình, dòng họ

1.3.2 Thời kỳ Pháp thuộc:

Thời kỳ này, thực dân Pháp chia cắt đất nước ta làm ba miền, mỗi miền áp dụng một bộ dân luật để điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình

Ở Bắc kỳ là Bộ dân luật 1931 (được gọi là Bộ Dân luật Bắc kỳ), ở Trung

Kỳ là Bộ dân luật 1936 (được gọi là Bộ Dân luật Trung kỳ) và ở Nam Kỳ

là Dân luật giản yếu 1883 (được gọi là Bộ Dân luật giản yếu)

Tuy nhiên, nhìn chung quan điểm của xã hội về chức năng xã hội của gia đình vẫn không thay đổi chính vì vậy cả ba bộ dân luật vẫn duy trì chế độ đa thê (nhiều vợ) và việc kết hôn của nam và nữ, dù đã thành niên hay chưa thành niên vẫn phải được sự đồng ý của cha mẹ hay thân trưởng trong gia đình “Phàm con cái đã thành niên cũng như chưa thành niên, không khi nào không có cha mẹ bằng lòng mà kết hôn được” [7]

Tuy nhiên, do học tập một phần luật phương Tây, pháp luật thời kỳ này đã có những quy định cụ thể về tài sản chung của vợ chồng, trong đó thể hiện và phản ánh quan điểm của xã hội phương tây về quyền tự do tối cao của cá nhân Theo đó, Bộ Dân luật Bắc kỳ và Trung kỳ đã cho phép vợ, chồng khi kết hôn được thỏa thuận về nội dung của các quan hệ tài sản giữa

Trang 26

họ trong thời kỳ hôn nhân và áp dụng nguyên tắc bất di, bất dịch của chế

độ tài sản của vợ chồng theo hôn khế Mặc dù vậy, đây chỉ là sự học tập trên lý thuyết chứ không phải là sự thay đổi xuất phát từ sự thay đổi của xã hội Vì vậy, mặc dù pháp luật cho phép vợ, chồng được thỏa thuận về tài sản chung của vợ chồng trước khi kết hôn nhưng cũng quy định trong mọi trường hợp, các thỏa thuận đó không được đi ngược lại nguyên tắc chồng là người đứng đầu gia đình, là chủ khối tài sản của gia đình (Điều 104 Bộ Dân luật Bắc kỳ và Điều 102 Bộ Dân luật Trung Kỳ) Và hầu như quy định này cũng rất ít khi được áp dụng trong thực tế đời sống thời bấy giờ

Sự song hành cùng tồn tại hai quan điểm về hôn nhân và quyền tự do

cá nhân trong xã hội và trong tư tưởng các nhà làm luật, một lần nữa lại tiếp tục được khẳng định trong việc xác định tài sản chung của vợ chồng khi hai vợ chồng không thỏa thuận lập hôn khế, khi kết lập giá thú Trong trường hợp này, Bộ Dân luật Bắc kỳ và Bộ Dân luật Trung kỳ, thể hiện quan điểm của xã hội nước ta thời bấy giờ đều dự liệu một chế độ tài sản pháp định, đó là chế độ cộng đồng toàn sản Theo đó, mọi tài sản trong gia đình đều là tài sản chung và đều để dành cho các con cháu “Nếu hai vợ chồng không có tư ước với nhau thì cứ theo lệ hợp nhất tài sản, nghĩa là bao nhiêu lợi tức tài sản của chồng và của vợ hợp làm một mà chung nhau” (Điều 106, 107 Bộ Dân luật Bắc kỳ và Điều 105 Bộ Dân luật Trung kỳ) Tuy nhiên, ly hôn, với quan niệm mới được du nhập từ phương tây lại xác định: Khi hôn nhân chấm dứt thì các tài sản riêng của vợ, chồng đã được hợp nhất tạm thời vào khối tài sản chung của vợ chồng lại được tách ra để chia theo nguyên tắc tài sản riêng của bên nào thì bên đó có quyền lấy lại, còn đối với tài sản chung sẽ được chia đôi cho vợ và chồng (Điều 360 Bộ Dân luật Bắc Kỳ, Điều 369 Bộ dân luật Trung Kỳ) Các tài sản tạo ra trong thời kỳ hôn nhân được xác định bao gồm: Các tài sản do vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân; tài sản do vợ chồng làm việc mà kiếm ra; lợi tức của toàn bộ tài sản trong gia đình, không phân biệt lợi tức đó thu được từ

Trang 27

tài sản riêng hay tài sản chung của vợ chồng (Điều 106, 107 Bộ Dân luật Bắc kỳ và Điều 104, 105 Bộ Dân luật Trung kỳ)

Như vậy, có thể thấy ở thời kỳ này, các căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng phản ánh đúng thực chất xã hội nước ta lúc bấy giờ là

sự đan xen giữa quan điểm truyền thống của xã hội về hôn nhân và quyền

tự do cá nhân và quan điểm của phương Tây về các vấn đề này

1.3.3 Thời kỳ 1945 đến nay:

Ngay sau Cách mạng tháng Tám (1945) thành công, do điều kiện lịch sử xã hội, Nhà nước ta chưa thể ban hành ngay một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh Vì vậy, Sắc lệnh số 90-SL của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã được ban hành vào ngày 10/10/1945 đã cho phép vận dụng những quy định trong pháp luật cũ một cách có chọn lọc, theo nguyên tắc không được đi ngược lại với lợi ích của nhân dân, của Nhà nước Với quy định này, về đại thể, các quan hệ dân luật và HNGĐ từ năm 1945 – 1950 vẫn được điều chỉnh bởi ba văn bản luật (Bộ Dân luật Bắc kỳ, Bộ Dân luật Trung

kỳ và Tập Dân luật giản yếu) Đến năm 1950, đáp ứng nhu cầu của đời sống,

xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành các sắc lệnh đầu tiên về dân luật

và hôn nhân gia đình Đó là Sắc lệnh số 97-SL ngày 22/5/1950 sửa đổi một

số quy lệ và chế định trong dân luật (Sắc lệnh số 97-SL) và Sắc lệnh số 159-SL ngày 17/1/1950 quy định về vấn đề ly hôn (Sắc lệnh số 159-SL)

Các văn bản này đã thể hiện sự thay đổi lớn trong quan điểm của xã hội về hôn nhân và quyền tự do cá nhân Theo đó, quyền tự do cá nhân đã bắt đầu được xã hội thừa nhận, chú ý và được pháp luật công nhận, các chức năng xã hội của gia đình cũng bước đầu được ghi nhận Chính vì vậy, các văn bản pháp luật trên đã có những quy định mới về căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng như sau:

- Thứ nhất, công nhận quyền tự do cá nhân qua thừa nhận nguyên tắc

tự do hôn nhân, tự do giá thú: Con đã thành niên lấy vợ, lấy chồng không

Trang 28

cần phải có sự đồng ý của cha mẹ hoặc các bậc tôn trưởng trong gia đình (Điều 2, Sắc lệnh số 97-SL);

- Thứ hai, công nhận quyền tự do cá nhân của người phụ nữ bình đẳng với nam giới qua việc thừa nhận quyền ly hôn của người vợ bình đẳng như người chồng Theo đó cả vợ và chồng đều có quyền ly hôn nếu một bên ngoại tình hoặc can án phạt giam, mắc bệnh điên hoặc một bệnh khó chữa khỏi, một bên bỏ nhà đi quá hai năm không có duyên cớ chính đáng,

vợ chồng tính tình không hợp hoặc đối xử với nhau đến nỗi không thể sống chung được nữa (Điều 2, Sắc lệnh số 159-SL)

- Thứ ba, bảo vệ chức năng sinh sản, nuôi dưỡng con cái của gia đình với quy định: khi xin ly hôn, nếu người vợ đang có thai thì vợ hoặc chồng có thể xin tòa án hoãn đến sau kỳ sinh nở mới xử việc ly hôn (Điều

Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 đã thể hiện sự tiến bộ mới, bước ngoặt thay đổi trong quan điểm xã hội về quyền tự do cá nhân và hôn nhân Từ đó, các căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng đã có những thay đổi nhất định theo hai hướng cơ bản là:

- Tiếp tục khẳng định và bảo vệ hơn nữa quyền tự do cá nhân của con người với các quy định:

+ Xóa bỏ hoàn toàn chế độ đa thê và hôn nhân cưỡng ép, hai đặc

Trang 29

trưng cơ bản nhất của chế độ hôn nhân lạc hậu Khẳng định nguyên tắc hôn nhân tự do tiến bộ, hai bên tự quyết định việc xác lập quan hệ hôn nhân

“Con trai và con gái đến tuổi được hoàn toàn tự nguyện quyết định việc kết hôn của mình; không bên nào được ép buộc bên nào, không ai được cưỡng

ép hay cản trở” (Điều 4, Luật HNGĐ năm 1959)

+ Công nhận quyền tự do ly hôn của cả hai bên vợ và chồng, theo

đó, ly hôn có thể do trường hợp cả hai bên cùng thuận tình xin ly hôn hoặc

do một bên xin ly hôn

- Thừa nhận và bảo vệ các chức năng xã hội của gia đình, với các quy định:

+ Quy định cụ thể các điều kiện kết hôn bao gồm: Độ tuổi kết hôn được quy định chính thức là nữ từ 18 tuổi trở lên, nam từ 20 tuổi trở lên mới được kết hôn; Cấm người có vợ, có chồng kết hôn với người khác; Cấm kết hôn giữa những người có cùng dòng máu trực hệ, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi; Cấm kết hôn giữa anh chị em ruột, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha Đối với những người khác có họ trong phạm vi năm đời hoặc có quan hệ thích thuộc về trực hệ thì việc kết hôn sẽ giải quyết theo phong tục tập quán; những người bất lực hoàn toàn về sinh

lý, mắc một trong các bệnh hủi, hoa liễu, loạn óc mà chưa chữa khỏi cũng không được kết hôn

+ Tiếp tục hạn chế và mở rộng sự hạn chế quyền ly hôn của người chồng khi khi người vợ đang mang thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi

+ Quy định rõ chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ cộng đồng toàn sản: toàn bộ tài sản của vợ, chồng có được trước hay sau hôn nhân đều thuộc tài sản chung của vợ chồng “vợ chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới” (Điều

15, Luật HNGĐ năm 1959)

Ở miền Nam, từ năm 1954 đến 1975, đế quốc Mỹ và chế độ nguỵ

Trang 30

quyền Sài Gòn đã ban hành một số văn bản pháp luật áp dụng trong các quan hệ hôn nhân và gia đình, đó là:

- Bộ Luật gia đình ngày 2/1/1959

- Sắc luật 15/64 ngày 23/7/1964 về giá thú, tử hệ và tài sản cộng đồng

- Bộ dân luật ngày 20/12/1972 của chính quyền nguỵ Sài Gòn

Ở các văn bản này, do xã hội vẫn chưa thực sự có bước chuyển mình hoàn toàn, vẫn duy trì sự đan xen và trộn lẫn giữa quan niệm truyền thống

về quyền tự do cá nhân và hôn nhân với các quan niệm mới du nhập từ phương Tây Tuy nhiên, khác với thời kỳ trước đây, các quy định về căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng đã thể đúng bản chất của xã hội lúc bấy giờ là sự đan xen, trộn lẫn và mang tính chuyển đổi của các quan niệm chứ không chỉ còn là sự học tập một cách lý thuyết trên các quy định của pháp luật

Theo đó, pháp luật thời kỳ này, bên cạnh việc thừa nhận ý chí xác lập quan hệ hôn nhân, quan hệ sở hữu chung của vợ chồng của các bên chủ thể vẫn yêu cầu cần phải có sự đồng ý của hai bên gia đình Điều 2, Bộ Luật gia đình khẳng định “Sự đính hôn chỉ có giá trị khi được làm một cách trọng thể với sự ưng thuận của hai bên đính hôn và sau khi nhà gái đã nhận

lễ vật của nhà trai” Điều 8 và 9 Bộ Luật Gia đình cũng thể hiện quan điểm tương tự với quy định “Sự ưng thuận của hai bên nam nữ là một điều kiện cốt yếu cho việc lập hôn thú” tuy nhiên “Con trai, con gái chưa đủ 21 tuổi không thể kết hôn nếu không có sự ưng thuận của cha mẹ” [15]

Pháp luật cũng tiếp tục thừa nhận quyền tự do cá nhân một cách máy móc với quy định về việc cho phép vợ chồng ký kết với nhau một hôn ước thỏa thuận về vấn đề tài sản từ trước khi kết hôn, miễn là sự thỏa thuận bằng hôn ước đó không trái với trật tự công cộng, thuần phong mỹ tục và quyền lợi của các con (Điều 45, Luật Gia đình, Điều 49 Sắc luật số 15/64

và Điều 144 Bộ Dân luật) đồng thời ghi nhận quyền có tài sản riêng của vợ, chồng Trong trường hợp vợ chồng không lập hôn ước với nhau về tài sản

Trang 31

thì áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo các căn cứ quy định của pháp luật Tuy nhiên, việc xác định các tài sản chung của vợ chồng lại được quy định khác nhau ở các văn bản ở Luật Gia đình, các tài sản chung của vợ chồng bao gồm:

- Tất cả của cải, động sản và bất động sản thuộc quyền sở hữu của vợ hay chồng khi lập hôn thú

- Các động sản và bất động sản của mỗi bên được hưởng do được thừa

kế hoặc tặng cho (các tài sản này thuộc kỷ phần của vợ hay của chồng trong thời kỳ hôn nhân được nhập chung với tài sản của vợ chồng, trừ những tài sản do vợ hoặc chồng được thừa kế hay tặng cho mà người lập di chúc hay người tặng cho định khác)

- Các tài sản do hai vợ chồng có được hoặc do một bên vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân

- Các hoa lợi thu được từ tài sản chung của vợ chồng hoặc thu được từ tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng

Theo Sắc luật số 15/64 là chế độ cộng đồng động sản và tạo sản Theo Điều 54 Sắc luật số 15/64 và Điều 151 Bộ Dân luật 1972 thì khối tài sản chung của vợ chồng gồm có:

- Các động sản thuộc quyền sở hữu của mỗi bên vợ, chồng khi kết hôn

- Các động sản của vợ hay chồng được hưởng trong thời kỳ hôn nhân

do được tặng cho, thừa kế

- Các động sản và bất động sản của vợ hay chồng có được trong thời

kỳ hôn nhân

- Hoa lợi thu được của tất cả các loại tài sản mà vợ, chồng có được

từ trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân

Điều này thể hiện sự biến đổi và lộn xộn của xã hội lúc bấy giờ Sau năm 1975, đất nước ta hoàn toàn thống nhất, đòi hỏi phải có hệ thống pháp luật áp dụng thống nhất trên toàn quốc Xuất phát từ yêu cầu

Trang 32

đó, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 76/CP ngày 25/3/1977 quy định việc thi hành thống nhất Luật hôn nhân và gia đình trong phạm vi

cả nước Kể từ đó, Luật HNGĐ năm 1959 chính thức thay thế các văn bản pháp luật về hôn nhân và gia đình của chế độ Sài gòn và được áp dụng tại miền Nam cho đến thời điểm đó

Tuy nhiên, trước những thay đổi lớn lao của đất nước: quyền tự do

cá nhân đã được khẳng định và được ghi nhận mở rộng hơn, quan niệm về một gia đình với sự kết hợp hoàn toàn của hai bên đã được thay đổi, cùng với nó là sự tích lũy, tạo lập nhiều tài sản lớn của hai bên vợ, chồng trước

và sau hôn nhân, Luật HNGĐ năm 1959 đã bộc lộ những hạn chế nhất định, để khắc phục các điểm còn bất cập này, năm 1986, Nhà nước ta đã ban hành Luật hôn nhân và gia đình mới với quy định mới về việc xác định tài sản chung của vợ chồng Nếu như trước đây Luật HNGĐ năm 1959 xác định tất cả các tài sản của vợ chồng có được trước hay sau hôn nhân đều thuộc quyền sở hữu chung của vợ chồng nhằm đảm bảo và khẳng định vai trò quan trọng của chức năng xã hội của gia đình thì đến nay mở rộng quyền tự do cá nhân và khẳng định hôn nhân không phải là sự kết hợp hoàn toàn của hai bên

vợ chồng, đặt vai trò và chức năng xã hội của gia đình ngang hàng cùng với quyền tự do cá nhân, Luật HNGĐ năm 1986 đã thừa nhận quyền có tài sản riêng của vợ, chồng và xác định chỉ các tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được cho chung mới là tài sản chung của vợ chồng Tuy nhiên, pháp luật vẫn chưa có các quy định về tài sản riêng của vợ, chồng mà chỉ khẳng định “Đối với những tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì người có tài sản đó có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng” [20]

Đến năm 2000, nhằm phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội mới của đất nước thời kỳ đổi mới với sự ghi nhận và bảo đảm mở rộng hơn của

Trang 33

pháp luật đối với quyền tự do cá nhân và yêu cầu của sự phát triển kinh tế buộc hai bên vợ chồng cần có những tài sản riêng lớn để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh mà không làm ảnh hưởng tới sự phát triển của gia đình, Luật HNGĐ năm 2000 đã ra đời Luật HNGĐ năm 2000 tiếp tục

kế thừa và phát huy các quy định tiến bộ của Luật HNGĐ năm 1986 về căn

cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng đồng thời mở rộng quyền tự

do cá nhân qua việc khẳng định rõ ràng quyền có tài sản riêng của vợ chồng với các quy định cụ thể hơn và lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật Việt Nam, thỏa thuận của vợ chồng được coi là một trong những căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng Điều này được ghi nhận tại Điều 27 với quy định “Tài sản chung của vợ chồng gồm và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung” và quy định về việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân tại Điều 29, 30 Luật HNGĐ năm 2000.[21]

Bên cạnh đó, nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, Luật HNGĐ năm

2000 cũng có những quy định cụ thể hơn về các điều kiện kết hôn và bổ sung thêm các quy định mới nhằm khắc phục những điểm còn bất cập của Luật HNGĐ năm 1986 như bổ sung thêm các trường hợp cấm kết hôn giữa những người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu,

mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng; giữa những người cùng giới tính; Bổ sung thêm quy định về quan

hệ hôn nhân khi một bên bị tuyên bố là đã chết mà trở về;

Đến nay, Luật HNGĐ năm 2000 cùng các văn bản pháp luật khác về hôn nhân và gia đình đã và đang tiếp tục phát huy những tác dụng tích cực, điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình trong xã hội Tuy nhiên, quá trình áp dụng cũng bộc lộ những điểm còn bất cập hạn chế nhất định Để tìm hiểu rõ hơn về những ưu điểm và hạn chế này, luận văn xin đi sâu vào phân tích các căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng trong hệ thống pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng tại chương 2

Trang 34

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CĂN

CỨ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU CHUNG CỦA VỢ CHỒNG VÀ

THỰC TIỄN ÁP DỤNG

2.1 Quy định hiện hành:

Ở nước ta hiện nay, quyền tự do cá nhân, quyền tự do dân sự, quyền

sở hữu của cá nhân đã được khẳng định và ghi nhận trong các văn kiện của Đảng cũng như văn bản pháp luật như Hiến pháp 1992 tại Điều 58 “Công dân có quyền sở hữu… Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân” [6] và BLDS năm 2005 tại Điều 169 “Quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác được pháp luật công nhận và bảo

vệ Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái pháp luật quyền sở hữu đối với tài sản của mình Chủ sở hữu có quyền tự bảo vệ, ngăn cản bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình, truy tìm, đòi lại tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật” [10] Còn gia đình với các chức năng xã hội của mình cũng đã được nhìn nhận trong các văn bản pháp luật khác nhau và được coi là “tế bào của

xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp hần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Lời nói đầu của Luật HNGĐ năm 2000) Phản ánh các quan điểm này, các căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng hiện nay cũng bao gồm ba nhóm căn cứ cơ bản là

- Các căn cứ xác lập quyền sở hữu nói chung theo quy định của pháp luật dân sự

- Sự tồn tại của quan hệ hôn nhân hợp pháp

- Các căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng bao gồm: sự thoả thuận của các bên chủ thể hoặc theo quy định của pháp luật

Trang 35

2.1.1 Các căn cứ xác lập quyền sở hữu theo quy định chung của luật dân sự

Đây là một căn cứ chung để xác lập quyền sở hữu nói chung Do điều kiện có hạn và để tập trung làm rõ những điểm khác biệt trong căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng, luận văn sẽ không đi sâu phân tích về các căn cứ này mà chỉ nêu ra những vấn đề cơ bản để người đọc có được cái nhìn tổng quát về các căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng

BLDS năm 2005 quy định quyền sở hữu được xác lập đối với tài sản trong các trường hợp sau đây:

Thứ nhất là do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp: theo đó người lao động, người tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp có quyền sở hữu đối với tài sản do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, kể từ thời điểm có được tài sản đó

Thứ hai là được chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận: theo đó người được giao tài sản thông qua hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, cho vay

có quyền sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm chuyển giao tài sản, nếu các bên không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác

Thứ ba là do thu hoa lợi, lợi tức: theo đó, chủ sở hữu, người sử dụng tài sản có quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật, kể từ thời điểm thu được hoa lợi, lợi tức đó

Thứ tư là đối với các vật mới tạo thành do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến: Theo đó, trong trường hợp tài sản của nhiều chủ sở hữu khác nhau được sáp nhập với nhau tạo thành vật không chia được và không thể xác định tài sản đem sáp nhập là vật chính hoặc vật phụ thì vật mới được tạo thành là tài sản thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu đó; nếu tài sản đem sáp nhập là vật chính và vật phụ thì vật mới được tạo thành thuộc chủ sở hữu vật chính, kể từ thời điểm vật mới được tạo thành; chủ sở hữu tài sản

Trang 36

mới phải thanh toán cho chủ sở hữu vật phụ phần giá trị của vật phụ đó, nếu không có thỏa thuận khác Còn trong trường hợp tài sản của nhiều chủ

sở hữu khác nhau được trộn lẫn với nhau tạo thành vật mới không chia được thì vật mới là tài sản thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu đó, kể từ thời điểm trộn lẫn Chủ sở hữu của nguyên vật liệu được đem chế biến tạo thành vật mới cũng là chủ sở hữu của vật mới được tạo thành Người dùng nguyên vật liệu thuộc sở hữu của người khác để chế biến mà ngay tình thì trở thành chủ sở hữu của tài sản mới nhưng phải thanh toán giá trị nguyên vật liệu đó, bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu nguyên vật liệu đó

Thứ năm là do được thừa kế tài sản: theo đó, người thừa kế có quyền

sở hữu đối với tài sản thừa kế theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật kể từ thời điểm mở thừa kế

Thứ sáu là do chiếm hữu trong các điều kiện pháp luật quy định đối với vật vô chủ, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên

Thứ bảy là do chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai phù hợp với thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều 247 BLDS năm 2005

Thứ tám là theo các bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các trường hợp khác do pháp luật quy định

2.1.2 Sự tồn tại của quan hệ hôn nhân hợp pháp:

Thời gian tồn tại của quan hệ vợ chồng, theo khoản 7, điều 8, Luật HNGĐ năm 2000 được gọi là thời kỳ hôn nhân và được tính từ ngày đăng

ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân

Ngoài ra, do đặc điểm tồn tại của phong tục, tập quán từ thời phong kiến để lại, nhằm đảm bảo quyền, lợi ích của các bên, pháp luật Việt Nam cũng thừa nhận sự tồn tại của quan hệ vợ chồng mà không có đăng ký kết

Trang 37

hôn trong một số trường hợp gọi là “hôn nhân thực tế”

- Ngày phát sinh quan hệ hôn nhân - ngày đăng ký kết hôn:

Ngày phát sinh quan hệ hôn nhân hay quan hệ vợ chồng là ngày đăng ký kết hôn của hai bên nam, nữ Ngày đăng ký kết hôn là ngày hai bên tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chứng nhận bằng Giấy chứng nhận kết hôn

Cũng theo quy định của Luật HNGĐ năm 2000, để được cấp giấy chứng nhận kết hôn, hai bên nam, nữ phải có đủ các điều kiện sau:

Thứ nhất, là sự khác biệt về giới tính: Việc cấm kết hôn giữa những

người cùng giới tính chỉ được chính thức ghi nhận trong luật viết từ khi có Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 10, khoản 5) Trước đây, pháp luật mặc dù không có dự liệu về việc này, nhưng tục lệ thường xuyên can thiệp thông qua dư luận để ngăn chặn các quan hệ như vợ chồng giữa những người cùng giới tính hoặc để tạo sức ép đối với những người cùng giới tính nhằm chấm dứt việc duy trì quan hệ như vợ chồng giữa họ Cụ thể hóa điều này điểm a, khoản 1, điều 8, Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21/11/2001 có quy định xử phạt hành chính đối với các trường hợp kết hôn giữa những người cùng giới tính, dưới hình thức phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng Thế nhưng hành vi bị chế tài ở đây chỉ là hành vi kết hôn (nghĩa là có đăng ký kết hôn) trái pháp luật Nếu các đương sự không kết hôn mà chỉ chung sống thì luật không thể làm gì Cơ quan hộ tịch, về phần mình thì luôn từ chối việc đăng ký kết hôn giữa những người cùng giới tính

Thứ hai là điều kiện về tuổi kết hôn, theo Luật HNGĐ năm 2000,

nam từ 20 tuổi trở lên và nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn (khoản 1, Điều 9) Cách tính tuổi của một người được căn cứ vào ngày sinh ghi trên giấy khai sinh Theo đó, nam được tính là 20 tuổi bắt đầu từ ngày đầu tiên

Trang 38

sau khi tròn 19 tuổi và tương tự như vậy, nữ được coi là đạt tuổi 18 bắt đầu

từ ngày đầu tiên sau khi tròn 17 tuổi Giải pháp này đã được chấp nhận ngay từ văn bản luật đầu tiên về hôn nhân và gia đình dưới chế độ xã hội chủ nghĩa và được giữ nguyên cho đến nay Các lý lẽ của giải pháp này chủ yếu mang tính y học là đối với người Việt Nam, sự phát triển thể chất đủ chín mùi cho việc thiết lập quan hệ hôn nhân thường được ghi nhận khi con người đạt độ tuổi đó Người làm luật quan tâm đến sự chín mùi về thể chất chứ không quan tâm đến khả năng sinh sản Điều đó giải thích tại sao luật chỉ quy định giới hạn tối thiểu mà không có quy định giới hạn tối đa về tuổi kết hôn; người đã quá tuổi sinh sản tự nhiên vẫn có quyền kết hôn

Quy định này, nhìn qua có vẻ rất bình thường Tuy nhiên, khi đặt nó trong mối quan hệ với hệ thống pháp luật của Việt Nam, đã có một số vấn

đề đặt ra Khoản 1, Điều 20, BLDS năm 2005 của nước ta quy định “Người

từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật

có quy định khác” Như vậy, đặt trong mối quan hệ với quy định về tuổi kết hôn của Luật HNGĐ năm 2000, ta thấy có sự mâu thuẫn nảy sinh trong trường hợp nữ tròn 17 tuổi cho đến khi tròn 18 tuổi Trong trường hợp này, BLDS năm 2005 thì quy định phải người có đại diện theo pháp luật đồng ý khi thực hiện các giao dịch, trừ các giao dịch phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, trong khi đó Luật HNGĐ năm 2000 lại cho phép nữ được quyết định xác lập quan hệ vợ chồng Mặc dù trong quá trình áp dụng pháp luật, các cơ quan đều vận dụng nguyên tắc, quy định tại luật chuyên ngành có giá trị cao hơn nên thường áp dụng Luật HNGĐ đối với việc kết hôn của hai bên nam và nữ Tuy nhiên, để đảm bảo sự thống nhất pháp luật, thiết nghĩ hệ thống pháp luật Việt Nam nên có sự sửa đổi cho phù hợp

Thứ ba là điều kiện về sự tự quyết định của hai bên: Khoản 2, Điều

9, Luật HNGĐ năm 2000 quy định “việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện

Trang 39

quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở” Đây là một trong những quy định nhằm đảm bảo nguyên tắc tự nguyện trong hôn nhân – một nguyên tắc được ghi nhận trong rất nhiều văn bản pháp luật của nước ta Kết hôn trước hết là một quyền chứ không phải là một nghĩa vụ; không thể có hôn nhân ngoài ý muốn của người kết hôn Như vậy, sự tự quyết định của hai bên là một trong những điều kiện quan trọng để hai bên xác lập quan hệ vợ chồng

Sự tự quyết định được thể hiện qua việc hai bên cùng đến làm thủ tục đăng ký kết hôn, cùng ký vào giấy chứng nhận đăng ký kết hôn Sự tự quyết định của hai bên cũng được thể hiện ở chỗ hai bên không bên nào bị lừa dối, cưỡng ép

Tuy nhiên, pháp luật về hôn nhân gia đình không có quy định cụ thể

về “lừa dối” mà chỉ có định nghĩa chung về sự lừa dối, ghi nhận tại khoản

1, Điều 132, BLDS 2005 quy định “Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó” Đây là một định nghĩa rất chung và khó áp dụng Ví

dụ A muốn két hôn với B; C cố ý làm cho A nhầm tưởng rằng mình là B; cuối cùng, A kết hôn với C mà cứ ngỡ rằng đã kết hôn với B Trong giải thuyết vừa nêu, A có thể yêu cầu huỷ hôn nhân do có sự lừa dối Tuy nhiên, nếu A muốn kết hôn với B vì tin rằng B giàu có và B cũng cố ý làm ra vẻ giàu có (dù thực ra rất nghèo) để A chấp nhận kết hôn với mình, thì khó có thể nói rằng A có quyền yêu cầu hủy hôn nhân do có sự lừa dối Càng không thể xin hủy hôn nhân do có sự lừa dối, nếu A tin rằng B là một chàng trai tơ và B cũng cố tình làm ra vẻ như vậy, dù trên thực tế, b đã có một (thậm chí nhiều) đời vợ Tòa án nhân dân tối cao, về phần mình, cũng không xây dựng khái niệm lừa dối trong hôn nhân mà chỉ cho một số ví dụ

về lừa dối như nếu kết hôn sẽ xin việc làm phù hợp, sẽ bảo lãnh ra nước ngoài; không có khả năng sinh lý nhưng cố tình giấu; biết mình bị HIV

Trang 40

nhưng cố tình giấy v.v tại Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của TANDTC Thực tế này, đòi hỏi hệ thống pháp luật về hôn nhân gia đình cần có những quy định cụ thể, chính xác hơn về các tiêu chí đánh giá thế nào là lừa dối nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên

Có sự cưỡng ép cũng được coi là một trong những biểu hiện của sự không tự quyết định của hai bên Cưỡng ép kết hôn là hành vi buộc người khác phải kết hôn trái với nguyện vọng của họ (Luật HNGĐ năm 2000, khoản 5, Điều 8) Như vậy, Luật HNGĐ năm 2000 đã không quy định cụ thể về chủ thể thực hiện hành vi cưỡng ép kết hôn Điều này đã dẫn đến hai cách hiểu khác nhau về cưỡng ép kết hôn Theo cách hiểu thứ nhất, cưỡng

ép kết hôn là hành vi của một người thứ ba chứ không phải của một trong hai bên kết hôn nhằm buộc một bên phải kết hôn với một người nào đó Trường hợp một bên chấp nhận kết hôn do chịu sức ép của bên kia được coi là ép buộc kết hôn chứ không phải là cưỡng ép kết hôn (Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao Theo cách hiểu thứ hai, cưỡng ép được hiểu theo nghĩa rộng là hành vi của một bên kết hôn hoặc của một người thứ ba nhằm ép buộc một bên phải kết hôn với người đó hoặc người khác, tức là bao hàm cả khái niệm cưỡng ép kết hôn và ép buộc kết hôn Trên cơ sở quan điểm này, Điều 146, Bộ LHS năm

1999 đã ghi nhận tội cưỡng ép kết hôn là bất cứ ai “cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ”

Thứ tư là điều kiện về năng lực hành vi: Khoản 2, Điều 10 Luật

HNGĐ năm 2000 cấm người mất năng lực hành vi không được kết hôn Người đại diện của người mất năng lực hành vi cũng không có quyền cho phép người được đại diện kết hôn Đây là một giải pháp khá riêng của luật Việt Nam, bởi trong luật của nhiều nước, người mất năng lực hành vi không mất năng lực pháp luật kết hôn Ví dụ luật của Pháp thừa nhận rằng người mất năng lực hành vi vẫn có thể kết hôn một khi có ý kiến thuận lợi

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội* Hiến pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
3. Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (được Quốc hội thông qua ngày 09 tháng 11 năm 1946) Khác
4. Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (được Quốc hội thông qua ngày 31 tháng 12 năm 1959) Khác
5. HIến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (được Quốc hội thông qua ngày 18 tháng 12 năm 1980) Khác
6. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (được Quốc hội thông qua ngày 15 tháng 4 năm 1992)* Văn bản quy phạm pháp luật 7. Bộ Luật Dân sự Bắc Kỳ, 1931 Khác
8. Bộ Luật Dân sự của Cộng hoà Pháp (1998), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
10. Bộ Luật Dân sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
11. Bộ Luật Dân sự Sài Gòn (1972) 12. Bộ Luật dân sự Trung kỳ (1936) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w