1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam và vai trò, trách nhiệm của Viện Kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm vụ việc dân sự

117 858 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều quy định mâu thuẫn với các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự như không thừa nhận quyền kháng cáo của đương sự là căn cứ để mở thủ tục giám đốc thẩm, cho phép kháng nghị không ph

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHẠM HOÀNG DIỆU LINH

CĂN CỨ TIẾN HÀNH THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM VÀ VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG THỦ TỤC

GIÁM ĐỐC THẨM VỤ VIỆC DÂN SỰ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2009

Trang 2

Chương 1: một số vấn đề chung về căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc

thẩm trong tố tụng dân sự và vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm dân sự

8

1.1 Khái quát về thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự 8

1.2 Một số vấn đề chung về căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc

1.2.2 Căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm theo pháp luật tố

tụng dân sự của một số quốc gia trên thế giới

21

1.2.2.1 Căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm theo pháp luật tố

tụng dân sự của các nước theo truyền thống luật lục địa

(luật dân sự)

21

1.2.2.2 Căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm theo pháp luật tố

tụng dân sự của các nước theo truyền thống luật án lệ và

Nhật Bản

26

1.3 Một số vấn đề chung về vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm

sát trong thủ tục giám đốc thẩm dân sự

34

1.3.1 Cơ sở lý luận của việc xác định vị trí, vai trò Viện kiểm sát

trong thủ tục giám đốc thẩm dân sự

34

Trang 3

thủ tục giám đốc thẩm dân sự theo pháp luật của một số

quốc gia trên thế giới

1.3.2.1 Vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát (Viện công tố) trong

thủ tục giám đốc thẩm dân sự theo pháp luật của một số

quốc gia theo truyền thống luật lục địa

40

1.3.2.2 Vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát (Viện công tố) trong

thủ tục giám đốc thẩm dân sự theo pháp luật của một số

quốc gia theo truyền thống luật án lệ và Nhật Bản

47

Chương 2: thực trạng pháp luật về Căn cứ tiến hành thủ tục giám

đốc thẩm và vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm dân sự - một số kiến nghị hoàn thiện

50

2.1 Căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm và vai trò, trách

nhiệm của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm theo

Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam

50

2.1.1 Căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm theo Bộ luật Tố

tụng dân sự Việt Nam năm 2004

50

2.1.2 Vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong thủ tục giám

đốc thẩm theo Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2004

2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về căn cứ

tiến hành thủ tục giám đốc thẩm và thẩm quyền của Viện

kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm dân sự

65

2.2.1 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về căn cứ

tiến hành thủ tục giám đốc thẩm dân sự

65

2.2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về thẩm quyền

của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm dân sự

81

2.3 Hoàn thiện các quy định về căn cứ tiến hành thủ tục giám

đốc thẩm và vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong thủ

85

Trang 4

tục giám đốc thẩm trong Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam

2.3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về căn cứ tiến hành thủ tục

giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự và vai trò, trách nhiệm

của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm dân sự

85

2.3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm

trong tố tụng dân sự và vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát

trong thủ tục giám đốc thẩm dân sự phải phù hợp với những

chủ trương, đường lối cải cách tư pháp của Đảng và Nhà

nước ta về hoàn thiện chính sách pháp luật về thủ tục tố tụng tư

pháp và đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân

dân

85

2.3.1.2 Hoàn thiện pháp luật về căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc

thẩm trong tố tụng dân sự và vai trò, trách nhiệm của Viện

kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm dân sự bảo đảm phù

hợp với các nguyên tắc đặc thù của tố tụng dân sự

87

2.3.1.3 Hoàn thiện pháp luật về căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc

thẩm trong tố tụng dân sự và vai trò, trách nhiệm của Viện

kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm dân sự trên cơ sở

tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm nước ngoài, đáp ứng

yêu cầu hội nhập quốc tế

88

2.3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định về căn cứ tiến hành

thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự và vai trò, trách

nhiệm của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm dân sự

89

2.3.2.1 Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định về căn cứ tiến

hành thủ tục giám đốc thẩm vụ án dân sự

89

2.3.2.2 Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định về vai trò, trách

nhiệm của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm dân sự

95

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dân sự

PLTTGQCVADS : Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989

TAND : Tòa án nhân dân

TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao

UBND : ủy ban nhân dân

VKS : Viện kiểm sát

VKSND : Viện kiểm sát nhân dân

VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

2.2 Tình hình kháng nghị giám đốc thẩm của ngành Kiểm sát 83

2.3 TÌNH HÌNH THAM GIA PHIÊN TÒA GIÁM ĐỐC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo quy luật của sự tác động lẫn nhau giữa các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, pháp luật - một yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng - dù sớm hay muộn, về cơ bản cũng phải phù hợp với tính chất của nền kinh tế là cơ sở cho sự ra đời và tồn tại của nó, bởi sự lệch lạc thái quá tất yếu dẫn đến việc các yếu tố kìm hãm, hạn chế lẫn nhau Những nỗ lực không ngừng nghỉ của chúng ta trong việc cải tổ hệ thống pháp luật diễn ra trong vài năm gần đây, không gì khác, chính là hệ quả tất yếu của sự phát triển năng động của các mối quan hệ mang đặc trưng của nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải được điều chỉnh Đó cũng chính là một cách để Việt Nam thuyết phục thế giới rằng việc nền kinh tế mà mình đang theo đuổi có định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) không mâu thuẫn hay ngăn cản được một nền kinh tế thị trường với đầy đủ các mặt tốt, xấu của nó đang hiện hữu ngày một rõ ràng hơn ở Việt Nam mà biểu hiện nổi bật nhất của nó là đề cao quyền tự do của con người trong lĩnh vực dân sự, kinh tế, coi trọng hội nhập, hợp tác trên phạm vi toàn cầu ở mọi lĩnh vực Do đó, xây dựng và hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự phải tính đến các khía cạnh của quyền tự do tham gia tố tụng của

con người và có sự tương đồng nhất định với pháp luật, thông lệ quốc tế

Pháp luật tố tụng dân sự các nước trên thế giới đều được xây dựng dựa trên các nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, đương sự

có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh, bình đẳng về quyền và nghĩa

vụ giữa các bên trong tố tụng dân sự, bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự

Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) Việt Nam năm 2004 cũng đã ghi nhận những nguyên tắc này nhưng lại chưa thực sự coi nó là những nguyên tắc mang tính định hướng, chi phối toàn bộ hoạt động của các chủ thể tiến hành cũng như tham gia tố tụng, trong một số chế định, một số quy phạm của Bộ luật, người

Trang 8

ta còn nhận thấy sự vi phạm các nguyên tắc nêu trên và chế định thủ tục giám đốc thẩm cũng không tránh khỏi hạn chế này

Các quy định về căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm và vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát (VKS) trong thủ tục này đã được hoàn thiện một bước trong BLTTDS, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc tiến hành các hoạt động tố tụng giám đốc thẩm Tuy nhiên, các quy định còn thiếu cụ thể, rõ ràng và chưa đầy đủ Nhiều quy định mâu thuẫn với các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự như không thừa nhận quyền kháng cáo của đương sự là căn cứ để mở thủ tục giám đốc thẩm, cho phép kháng nghị không phụ thuộc vào việc có yêu cầu của đương sự hay không, phạm vi yêu cầu… Đối với quy định về vai trò, trách nhiệm của VKS trong thủ tục giám đốc thẩm cũng còn tồn tại những bất hợp lý về thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, phạm vi kháng nghị giám đốc thẩm, thủ tục tham gia phiên tòa giám đốc thẩm của VKS

Trên phương diện áp dụng pháp luật, những bất cập trong quy định của pháp luật về căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm đã tạo ra sức ép lớn đối với các cơ quan Tòa án và VKS trong việc giải quyết đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm; bản án, quyết định giám đốc thẩm không có giá trị khuôn mẫu, hướng dẫn hoạt động xét xử; việc kháng nghị còn dựa trên căn cứ mang tính chủ quan; vi phạm tính thống nhất của hoạt động xét xử Việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong thủ tục giám đốc thẩm thường gặp phải những trở ngại do Kiểm sát viên tham gia phiên tòa không có quyền thay đổi,

bổ sung, rút quyết định kháng nghị tại phiên tòa nên phải hoãn phiên tòa để xin ý kiến người đã kháng nghị giám đốc thẩm; Kiểm sát viên phải phát biểu

ý kiến về quyết định kháng nghị trong trường hợp VKS kháng nghị gây ra lãng phí thời gian , và những khó khăn, tồn tại khác nữa

Ngày 02 tháng 6 năm 2005, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 49-NQ/TW

về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó nêu rõ: "Từng bước

Trang 9

những căn cứ kháng nghị và quy định rõ trách nhiệm của người ra kháng nghị đối với bản án hoặc quyết định của tòa án đã có hiệu lực; khắc phục tình trạng kháng nghị tràn lan, thiếu căn cứ" [11] Trong hoạt động tố tụng tư

pháp, cần:

Phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp…theo hướng tăng quyền và trách nhiệm cho điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình [11]

Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc

thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam và vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm vụ việc dân sự " nhằm hoàn thiện pháp luật

về các vấn đề này có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự và vai trò, trách nhiệm của VKS trong thủ tục giám đốc thẩm dân sự là những vấn đề pháp lý tương đối hẹp nên trong khoa học luật tố tụng dân sự từ trước đến nay chưa có một công trình nghiên cứu khoa học riêng biệt và chuyên sâu về những vấn đề này

Vấn đề căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự

và vai trò, trách nhiệm của VKS trong thủ tục giám đốc thẩm dân sự cũng được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu chuyên khảo về luật tố

tụng dân sự gần đây Đó là: Đề tài khoa học cấp bộ: "Thủ tục giám đốc thẩm

trong tố tụng dân sự Việt Nam" của Viện Khoa học kiểm sát, Viện kiểm sát

nhân dân tối cao (VKSNDTC), 2003; Sách chuyên khảo: "Tiến tới xây dựng

Bộ luật Tố tụng dân sự của thời kỳ đổi mới", của TS Phan Hữu Thư, Nxb Tư

pháp, Hà Nội, 2004; Đề tài khoa học cấp bộ: "Căn cứ tiến hành thủ tục giám

đốc thẩm và vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc

Trang 10

thẩm", của Viện Khoa học kiểm sát, VKSNDTC, 2006; Sách chuyên khảo:

"Bình luận khoa học một số vấn đề của pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn áp

dụng", của TS Lê Thu Hà, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006; Sách chuyên khảo "Vị trí, vai trò Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự theo yêu cầu cải cách tư pháp",

do TS Khuất Văn Nga chủ biên, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2008… Tuy nhiên, bởi các công trình đều có phạm vi nghiên cứu rộng nên các vấn đề trên chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện

Trên một số tạp chí khoa học pháp lý chuyên ngành như Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Luật học, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Tạp chí Nhà nước và pháp luật cũng có những bài viết đề cập đến một số

khía cạnh của các vấn đề nêu trên như: "Thủ tục giám đốc thẩm trong Bộ luật

Tố tụng dân sự", của TS Khuất Văn Nga, Tạp chí Kiểm sát, số 12-2003;

"Trách nhiệm kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án kinh tế, dân sự", của Đào Xuân Tiến, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10-2004; "Viện kiểm sát

nhân dân đã và đang vững bước trên con đường cải cách tư pháp", của TS

Khuất Văn Nga, Tạp chí Kiểm sát, số 13-2005; "Cần một cách nhìn mới về

thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng hình sự", của TS Nguyễn Ngọc Khánh,

Tạp chí Kiểm sát, số 20-2007; "Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng

dân sự theo yêu cầu cải cách tư pháp", của TS Nguyễn Ngọc Khánh, Tạp chí

Kiểm sát, số 14+16-2008…

Với vấn đề nghiên cứu đặt ra có phạm vi tương đối hẹp là căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự và vai trò, trách nhiệm của VKS trong thủ tục giám đốc thẩm dân sự, người viết mong muốn luận văn này trở thành một tài liệu tham khảo tương đối đầy đủ và toàn diện, giải quyết được triệt để và thấu đáo các vấn đề này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích

Trang 11

Việc nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ một số vấn đề lý luận về căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự và vai trò, trách nhiệm của VKS trong thủ tục giám đốc thẩm dân sự; góp phần hoàn thiện các quy

định của pháp luật về những vấn đề này

tụng dân sự và vai trò, trách nhiệm của VKS trong thủ tục này ở Việt Nam

- Đánh giá quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam về căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự và vai trò, trách nhiệm của VKS trong thủ tục giám đốc thẩm dân sự

- Đưa ra một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về căn

cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự và vai trò, trách nhiệm của VKS trong thủ tục giám đốc thẩm dân sự trước yêu cầu cải cách tư

pháp ở Việt Nam hiện nay

4 Phạm vi nghiên cứu

- Luận văn không nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển của lý luận và pháp luật thực định về căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm trong

tố tụng dân sự và vai trò, trách nhiệm của VKS trong thủ tục này

- Luận văn chỉ nghiên cứu các căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự và vai trò, trách nhiệm của Viện công tố (Viện kiểm sát)

Trang 12

trong thủ tục này theo BLTTDS năm 2004 và ở một số quốc gia mà người viết cho là điển hình và có tư liệu thuộc hai truyền thống pháp luật chính trên thế giới là luật lục địa (Pháp, Nga, Trung Quốc), luật án lệ (Anh, Mỹ, Úc) và Nhật

Bản

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật, về mối quan hệ giữa pháp

luật và điều kiện kinh tế, xã hội, về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn là phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp lịch sử

- cụ thể, phương pháp luật học so sánh

6 Điểm mới của luận văn

- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu riêng biệt và chuyên sâu

về căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự và vai trò, trách nhiệm của VKS trong thủ tục giám đốc thẩm dân sự

- Luận văn chỉ ra được sự khác biệt trong quy định của pháp luật các nước trên thế giới thuộc các truyền thống pháp luật lục địa và án lệ về vấn đề nghiên cứu; những yếu tố tiến bộ và phù hợp mà Việt Nam có thể tham khảo trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật của mình về vấn đề này

- Luận văn lý giải được cơ sở khoa học của việc quy định căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm và vai trò, trách nhiệm của VKS trong thủ tục giám đốc thẩm trong pháp luật tố tụng dân sự hiện hành; làm rõ một số khái niệm: căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm, căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

- Luận văn đưa ra được những kiến nghị trực tiếp, cụ thể đối với những vấn đề nghiên cứu

7 Ý nghĩa của luận văn

Trang 13

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật về thủ tục giám đốc thẩm

và về vị trí, vai trò của VKS trong tố tụng dân sự

Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và học tập các môn Luật tố tụng dân sự, Cơ chế xét xử vụ án dân sự

và các môn học về luật tổ chức hệ thống tư pháp… tại các cơ sở đào tạo luật

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc

thẩm trong tố tụng dân sự và vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm dân sự

Chương 2: Thực trạng pháp luật về căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc

thẩm và vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm dân sự - Một số kiến nghị hoàn thiện

Trang 14

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CĂN CỨ TIẾN HÀNH

THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

VÀ VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM CỦA VIỆN KIỂM SÁT

TRONG THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM DÂN SỰ

1.1 KHÁI QUÁT VỀ THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

Thủ tục (trình tự, cách thức, thời hạn ) giải quyết một tranh chấp, một yêu cầu trong quan hệ dân sự tại Tòa án (từ khi Tòa án chấp nhận đơn kiện của người khởi kiện đến khi có được một phán quyết cuối cùng về tranh chấp, yêu cầu đó) hiện nay, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự một số nước trên thế giới, được thực hiện theo các mô hình chủ yếu sau:

Ở những nước thực hiện chế độ hai cấp xét xử (thường là các nước theo truyền thống luật dân sự và các nước theo truyền thống XHCN trước đây như Liên bang Nga, Trung Quốc, Việt Nam…), sau khi xét xử lần đầu (sơ thẩm), nếu không đồng ý với phán quyết của Tòa án, đương sự có quyền kháng cáo để Tòa án có thẩm quyền xét xử lại (phúc thẩm) Sau khi đã xét xử phúc thẩm hoặc sau khi xét xử sơ thẩm mà không có kháng cáo hoặc kháng nghị trong thời hạn pháp luật quy định thì phán quyết của Tòa án là chung thẩm, có hiệu lực thi hành Tuy nhiên, trong trường hợp phán quyết chung thẩm của Tòa án có sai lầm, pháp luật của các nước đều quy định cho phép kháng cáo, kháng nghị để mở thủ tục xét lại các bản án, quyết định của Tòa án

đã có hiệu lực pháp luật với các tên gọi khác nhau như thủ tục phá án, thủ tục giám đốc thẩm… nhằm hạn chế tối đa các phán quyết sai lầm của Tòa án, bảo

vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và các chủ thể khác Hệ thống Tòa án ở các nước này được tổ chức theo cấp xét xử, gồm

Trang 15

án tối cao) Các Tòa án này chỉ giải quyết vụ án theo một trình tự nhất định, Tòa sơ thẩm chỉ giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm, Tòa phúc thẩm làm nhiệm vụ phúc thẩm và Tòa án tối cao, Tòa phá án làm nhiệm vụ giám đốc thẩm hoặc phá án

Hệ thống Tòa án ở các nước theo truyền thống thông luật về cơ bản gồm Tòa sơ cấp xét xử những vụ việc tranh chấp có giá trị không lớn hoặc có giá trị lớn nhưng các bên đề nghị và đồng ý đưa ra cấp tòa này để xét xử, Tòa

án trung cấp xét xử những tranh chấp lớn và phức tạp, xét xử phúc thẩm những vụ án mà tòa sơ cấp đã xét xử, Tòa án tối cao xét xử sơ thẩm những vụ việc có quy mô quốc gia, những vụ việc liên quan đến Hiến pháp, là cấp ra phán quyết cuối cùng về các vấn đề tranh chấp, mâu thuẫn phát sinh từ các bản án của các tòa án cấp dưới Ngoại trừ cấp tòa thấp nhất không có thẩm quyền xét xử phúc thẩm, các tòa còn lại đều có thẩm quyền xét xử sơ thẩm và xét xử lại các bản án của tòa án cấp dưới Thủ tục tố tụng dân sự không áp dụng chế độ hai cấp xét xử, nếu không đồng ý với phán quyết của Tòa án, đương sự có quyền kháng cáo nhưng tại mỗi cấp Tòa án khác nhau, pháp luật lại quy định các căn cứ kháng cáo khác nhau Ở các quốc gia này, không có khái niệm bản án có hiệu lực pháp luật, bản án chung thẩm và vì vậy, không

có thủ tục xét lại bản án có hiệu lực pháp luật mà các nước theo truyền thống luật dân sự gọi là thủ tục phá án hoặc thủ tục giám đốc thẩm Các nước này thường quy định thủ tục tại Tòa sơ thẩm và thủ tục tại Tòa kháng cáo (Appeal Court) Tại mỗi Tòa kháng cáo cũng có những căn cứ, thủ tục khác nhau

Nhật Bản mặc dù không phải là quốc gia điển hình theo truyền thống thông luật song pháp luật tố tụng Tòa án của Nhật Bản có khá nhiều điểm tương đồng với pháp luật các nước này Theo các quy định của BLTTDS và Quy chế số 5 ngày 17 tháng 11 năm 1996 của Tòa án tối cao Nhật Bản về thủ tục tố tụng dân sự (sau đây gọi tắt là Quy chế), chế độ xét xử được thực hiện theo 3 cấp: cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm Koso, cấp phúc thẩm Jokoku, Kokoku hoặc tái thẩm Phụ thuộc vào căn cứ kháng cáo, Tòa án có phán quyết bị

Trang 16

kháng cáo, Tòa án xét xử lại… do pháp luật quy định mà bản án, quyết định

có thể bị kháng cáo theo từng thủ tục phúc thẩm nêu trên Trong các thủ tục này, phúc thẩm Jokoku có tính chất gần giống với tính chất của thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng Tòa án ở Việt Nam, Liên bang Nga, Trung Quốc hoặc thủ tục phá án theo pháp luật của Cộng hòa Pháp và một số nước khác trên thế giới Sở dĩ pháp luật tố tụng Tòa án ở Nhật Bản gọi thủ tục này là thủ tục phúc thẩm vì theo quan điểm lập pháp và theo pháp luật hiện hành thì không

có khái niệm "bản án có hiệu lực pháp luật" (hiệu lực thi hành) như các nước khác Sau khi phúc thẩm Koso (có tính chất tương tự như phúc thẩm ở nước ta), nếu thấy có căn cứ theo quy định của pháp luật thì đương sự có quyền kháng cáo Jokoku và bản án chưa được thi hành

Như vậy, khả năng xem xét lại một bản án, quyết định dân sự của Tòa

án đều được pháp luật các nước đặt ra nhằm hạn chế tối đa những phán quyết sai lầm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, của Nhà nước, của công chúng và của pháp luật Tuy nhiên, thủ tục giám đốc thẩm với tính chất

là thủ tục Tòa án có thẩm quyền xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án bị kháng cáo, kháng nghị theo những căn cứ do pháp luật quy định thì chỉ có trong pháp luật các nước theo truyền thống luật châu Âu lục địa và truyền thống luật XHCN, không có trong pháp luật các nước theo truyền thống thông luật và một số nước khác như Nhật Bản…

Ở Việt Nam, các quy định về xét lại bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được quy định từ Thông tư số 321/VHH-CT của Bộ Tư pháp ngày

12 tháng 02 năm 1958 về việc yêu cầu các Tòa án phải nghiên cứu giải quyết các đơn thư khiếu nại về các vụ án đã xử chung thẩm Thông tư quy định:

"Đối với những việc đã xử rồi… nếu thấy sai hoặc đúng không rõ ràng thì tùy từng trường hợp có kế hoạch giải quyết thích đáng (báo cáo cấp trên đề nghị kháng cáo hay xin xử lại hoặc đặt vấn đề điều tra, xác minh lại )" Trong

giai đoạn này, sở dĩ có các quy định trên là do đòi hỏi từ thực tiễn có nhiều

Trang 17

từ quá trình nghiên cứu lý luận và tham khảo kinh nghiệm nước ngoài Chính

vì vậy, đã không có một thủ tục cụ thể để giải quyết vấn đề này Sau đó, các quy định về xử lại những vụ án do Tòa án nhân dân (TAND) cấp dưới đã xử

mà bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSND) kháng nghị được quy định cụ thể hơn trong Luật Tổ chức TAND năm 1960 và Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của TANDTC và

tổ chức của các TAND địa phương năm 1961 Theo các quy định này, việc xử

lại thuộc thẩm quyền của TANDYC nhưng nếu thấy cần thiết, TANDTC có thể giao cho TAND cấp tỉnh thực hiện thẩm quyền xử lại đối với những vụ án

mà Tòa án cấp này hoặc cấp dưới đã xử mà bản án, quyết định đã có hiệu lực

pháp luật Tuy nhiên, cần lưu ý rằng đây chỉ là việc xử lại vụ án bị kháng nghị

bởi Tòa án có thẩm quyền (có thể là Tòa án cấp trên hoặc chính Tòa án đã ra bản án, quyết định bị kháng nghị nếu được Tòa án cấp trên giao) Quy định này khác với thủ tục giám đốc thẩm hoặc phá án hiện nay là sau khi có kháng cáo hoặc kháng nghị giám đốc thẩm, Tòa án giám đốc thẩm sẽ xem xét kháng cáo, kháng nghị đó và nếu có căn cứ thì hủy án và giao cho Tòa án đã ra bản

án đó xét xử lại Thủ tục để xem xét kháng cáo, kháng nghị mới là thủ tục giám đốc thẩm chứ không phải là thủ tục xét lại vụ án như quy định của giai đoạn này

Thuật ngữ "giám đốc thẩm" lần đầu tiên xuất hiện trong một văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam lại không phải là văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành về tố tụng dân sự, đó là Luật Tổ chức TAND năm 1981 (khoản 3 Điều 21, khoản 3 Điều 31) trong các quy định về thẩm quyền của

Tòa án chứ không phải dưới góc độ một thủ tục tố tụng Chỉ đến khi Pháp

lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS) năm 1989 có hiệu lực thi hành với chế định thủ tục giám đốc thẩm tại Chương XII, lần đầu tiên hoạt động giám đốc thẩm mới có được cơ sở pháp lý rõ ràng, tương đối

cụ thể Theo các quy định này, nếu phát hiện thấy bản án, quyết định đã có

Trang 18

hiệu lực pháp luật của Tòa án có sai lầm, những người có thẩm quyền (Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSNDTC, Chánh án, Phó Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh và Chánh án TAND cấp tỉnh) sẽ kháng nghị bản án, quyết định đó Trên cơ sở kháng nghị, Tòa án giám đốc thẩm sẽ xem xét lại vụ án và ra một trong những quyết định: bác kháng nghị, sửa bản án, quyết định bị kháng nghị hoặc hủy bản án quyết định bị kháng nghị và giao cho Tòa án cấp dưới xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm hoặc phúc thẩm Như vậy,

trong giai đoạn này, giám đốc thẩm được hiểu là việc Tòa án cấp giám đốc

thẩm xét xử lại vụ án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị Biểu hiện rõ

nhất của hoạt động "xét xử lại vụ án" là ở quy định Tòa án cấp giám đốc thẩm

có quyền sửa lại nội dung của bản án hoặc quyết định bị kháng nghị

Thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự được hoàn thiện một bước căn bản trong BLTTDS năm 2004 Theo các quy định này, Tòa án cấp giám đốc thẩm không có quyền sửa bản án, quyết định bị kháng nghị mà chỉ có quyền bác kháng nghị, giữ nguyên bản án, quyết định đó hoặc hủy bản án,

quyết định để giao cho Tòa án cấp dưới xét xử lại Như vậy, giám đốc thẩm

không còn được hiểu là việc "xét xử lại vụ án" như giai đoạn trước nữa mà chỉ là việc "xét lại bản án, quyết định" có hiệu lực pháp luật Đây thực sự là

sự thay đổi căn bản quan niệm về bản chất của giám đốc thẩm chứ không chỉ

là việc thay đổi câu chữ trong cách diễn đạt Như vậy, phải cần đến gần nửa thế kỷ, Việt Nam mới có được một quan niệm tương đối đúng đắn, tương đồng với pháp luật các nước về giám đốc thẩm trong khi chúng ta đều biết rằng, trước khi có quy định về giám đốc thẩm, thủ tục giám đốc thẩm, ở Việt Nam đã từng biết đến thuật ngữ "phá án", thủ tục phá án với bản chất tương

Trang 19

chất của một thủ tục "đặc biệt" đã được khắc họa rõ nét hơn, thể hiện qua những quy định cấu thành sau đây:

Một là, BLTTDS lần đầu tiên xây dựng một điều luật chính thức đưa

ra khái niệm về giám đốc thẩm, nội dung điều luật khẳng định tính chất của

giám đốc thẩm "là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp

luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án" Với quy định này, giám đốc thẩm không phải là thủ tục

thông thường và cũng không phải là cấp xét xử thứ ba (như cách mà người ta vẫn hiểu về thủ tục giám đốc thẩm theo quy định của PLTTGQCVADS) Giám đốc thẩm là thủ tục "xét lại" bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật chứ không phải là thủ tục "xét xử lại vụ án"; đối tượng của hoạt động "xét lại" không phải là "vụ án" mà là các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án (Điều 282 BLTTDS)

Hai là, căn cứ mở thủ tục giám đốc thẩm chỉ có thể là kháng nghị của

người có thẩm quyền do pháp luật quy định Thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm chỉ thuộc về một số ít người là người đứng đầu cơ quan Tòa án và VKS

ở cấp tỉnh và cấp tối cao Chánh án TAND cấp tỉnh, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TANDTC Thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm của Phó Chánh án TANDTC và Phó Viện trưởng VKSNDTC theo quy định của PLTTGQCVADS đã bị hủy bỏ nhằm nâng cao trách nhiệm của người ra kháng nghị, nâng cao chất lượng kháng nghị (Điều 285 BLTTDS)

Ba là, việc kháng nghị chỉ được tiến hành trong trường hợp có vi

phạm pháp luật đến mức nghiêm trọng được BLTTDS quy định Theo quy định tại Điều 283, những căn cứ sau đây được coi là vi phạm pháp luật đến mức

Trang 20

"nghiêm trọng" trong việc giải quyết vụ án: 1 Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; 2 Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; 3 Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật

Bốn là, có ba cấp giám đốc thẩm: Ủy ban thẩm phán TAND cấp tỉnh

giám đốc thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp huyện bị kháng nghị, nhằm hạn chế việc giám đốc thẩm bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới dồn lên TANDTC, nơi mà hiện nay đã thực sự quá tải

về án giám đốc thẩm; Những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh bị kháng nghị, theo từng loại vụ việc sẽ được giám đốc thẩm tại Tòa dân sự, Tòa lao động, Tòa kinh tế của TANDTC; Hội đồng Thẩm phán TANDTC chỉ giám đốc thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các tòa chuyên trách của TANDTC bị kháng nghị Trong trường hợp có "xung đột" về thẩm quyền giám đốc thẩm của các cấp khác nhau thì cấp có thẩm quyền cấp trên giám đốc thẩm toàn bộ vụ án (Điều 291 BLTTDS)

Năm là, phạm vi giám đốc thẩm bị giới hạn bởi phạm vi của kháng

nghị Chỉ có phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật

bị kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị mới được đưa ra xem xét Phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị hoặc không có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị chỉ bị xem xét lại nếu nó xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của người thứ ba không phải là đương sự trong vụ án (Điều 296 BLTTDS)

Sáu là, không đặt ra vấn đề giám đốc thẩm quyết định của Hội đồng

Thẩm phán TANDTC vì Hội đồng Thẩm phán TANDTC là cấp giám đốc thẩm cao nhất và quyết định của cơ quan này còn mang ý nghĩa là khuôn mẫu, hướng dẫn công tác xét xử nên phải được coi là quyết định cuối cùng, quyết

Trang 21

Bảy là, phiên tòa giám đốc thẩm không mở công khai Về thành phần

tham gia, chỉ đại diện VKS cùng cấp bắt buộc phải có mặt, những người tham gia tố tụng và những người khác có liên quan đến việc kháng nghị chỉ được tham gia phiên tòa giám đốc thẩm trong trường hợp Tòa án "xét thấy cần thiết" (Điều 292 BLTTDS)

Tám là, Hội đồng giám đốc thẩm không được quyền "sửa bản án, quyết

định đã có hiệu lực pháp luật" theo như quy định tại Điều 77

PLTTGQCVADS mà chỉ còn hai loại thẩm quyền: Thứ nhất, không chấp

nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật

(Điều 297 điểm 1 BLTTDS); thứ hai, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực

pháp luật hoặc để giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy, bị sửa hoặc để xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm lại hoặc đình chỉ việc giải quyết vụ án (Điều 297 điểm 2, 3, 4 BLTTDS)

Đặc điểm thứ hai, thủ tục giám đốc thẩm theo quy định của BLTTDS

được đổi mới một cách nửa vời, thiếu triệt để Thực tiễn đã cho thấy việc tiến hành thủ tục giám đốc thẩm ở Việt Nam là một sự biểu hiện đầy mâu thuẫn và bất hợp lý

Một là, khác với pháp luật tố tụng dân sự các nước, BLTTDS Việt

Nam không quy định quyền kháng cáo giám đốc thẩm của đương sự với quan niệm sai lầm cho rằng việc ghi nhận quyền kháng cáo giám đốc thẩm của đương sự làm mất đi tính chất đặc biệt của thủ tục giám đốc thẩm và sâu xa hơn là tư tưởng về vai trò kiểm soát từ phía Nhà nước đối với việc giải quyết

vụ việc dân sự vẫn còn rất lớn Thực chất, điều tạo nên tính chất đặc biệt của thủ tục giám đốc thẩm là khác với kháng cáo phúc thẩm thông thường, kháng cáo giám đốc thẩm không đương nhiên dẫn tới việc mở phiên tòa giám đốc thẩm mà cần có thủ tục tố tụng "riêng và đặc biệt" nhằm kiểm tra, xem xét việc kháng cáo giám đốc thẩm đó có cơ sở hay không rồi mới quyết định việc

mở phiên tòa giám đốc thẩm Việc BLTTDS không ghi nhận quyền kháng cáo

Trang 22

giám đốc thẩm của đương sự đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, nguyên tắc cơ bản hàng đầu trong tố tụng dân sự ở các nước trên thế giới

Hai là, BLTTDS không hạn chế quyền phát hiện, quyền thông báo của

mọi công dân, tổ chức đối với vi phạm pháp luật trong các bản án, quyết định

đã có hiệu lực pháp luật (Điều 284 BLTTDS) nhưng lại không quy định một

cơ chế "riêng và đặc biệt" để xem xét các văn bản thông báo của những chủ thể này nên trên thực tế, các phát hiện, thông báo (trong đó có khiếu nại hoặc

đề nghị xem xét giám đốc thẩm) gửi tới người có quyền kháng nghị phải được giải quyết theo trình tự giải quyết đơn khiếu nại thông thường Điều này có nghĩa là người có quyền kháng nghị phải giải quyết tất cả các đơn nhận được

và có trách nhiệm trả lời cho tất cả những người thông báo biết lý do trong trường hợp không kháng nghị Tình trạng "quá tải" trong việc giải quyết đơn khiếu nại giám đốc thẩm của các cơ quan TANDTC và VKSNDTC bắt nguồn

từ chính nguyên nhân này và ngày càng trầm trọng hơn khi số lượng đơn khiếu nại tăng dần qua từng năm Kháng nghị giám đốc thẩm và hoãn thi hành

án ngày càng nhiều thì càng tỏ ra "thiếu" và "không đầy đủ" so với lượng đơn

đã nhận được

Ba là, thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm được quy định là 3 năm

như hiện nay (Điều 288 BLTTDS) là quá dài, không bảo đảm được tính ổn định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật dẫn đến tình trạng thi hành án bị dây dưa, kéo dài

Bốn là, quy định về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm bao gồm cả vấn

đề đánh giá chứng cứ của vụ án như quy định tại Điều 283 Khoản 1 BLTTDS khiến cho thủ tục giám đốc thẩm không còn nguyên nghĩa là thủ tục đặc biệt nữa mà gần giống với thủ tục thông thường - một cấp xét xử phúc thẩm lần thứ hai hay một cấp xét xử thứ ba

Trang 23

Năm là, việc BLTTDS bỏ hoàn toàn thẩm quyền "sửa bản án, quyết

định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án" của Hội đồng giám đốc thẩm là chưa thực sự hợp lý Do chất lượng xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm ở nước ta còn nhiều hạn chế, nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật chỉ có một phần bị vi phạm và Hội đồng giám đốc thẩm có thể sửa ngay được Thực trạng mọi trường hợp đều phải hủy án để xét xử lại làm cho quá trình giải quyết vụ án bị kéo dài, gây lãng phí lớn, gây bất ổn cho những người có liên quan đến việc kháng nghị

Sáu là, BLTTDS không ghi nhận quyền tham gia phiên tòa giám đốc

thẩm của đương sự là chưa bảo đảm quyền tự định đoạt của họ Phiên tòa giám đốc thẩm vừa giống một phiên tòa xét xử thông thường vừa giống một phiên tòa xét xử rút gọn, là nơi diễn ra tranh luận và quyết định hướng giải quyết

vụ án Do đó, với tư cách là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến

vụ án, đương sự cần được tham gia phiên tòa giám đốc thẩm để đưa ra ý kiến từ phía họ

Đặc điểm thứ ba, quy định về thủ tục giám đốc thẩm trong BLTTDS

còn thiếu tính cụ thể Đặc điểm này thể hiện rõ nhất ở quy định về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm còn rộng, không rõ ràng, dễ bị lạm dụng hoặc vận dụng sai Thêm vào đó, quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi tham gia tố tụng tại phiên tòa giám đốc thẩm hiện còn rất chung, chưa phân biệt các trường hợp VKS tham gia phiên tòa để xây dựng các quy định về thủ tục phiên tòa cho phù hợp (Điều 295 BLTTDS)

1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CĂN CỨ TIẾN HÀNH THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.2.1 Khái niệm căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự

Trang 24

Như trên đã phân tích, thủ tục giám đốc thẩm, bởi tính chất đặc biệt của nó, không được mở một cách đương nhiên và dễ dàng Dù theo truyền thống pháp luật nào, thông luật, châu Âu lục địa hay XHCN, dù có áp dụng chế độ xét xử hai cấp hay không thì pháp luật các nước đều đặt ra các điều kiện hạn chế đến mức tối đa việc xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc bản án, quyết định đã được xét xử phúc thẩm lần thứ nhất Trong đó, "rào cản" đầu tiên và cơ bản chính là căn cứ tiến hành (mở) thủ tục giám đốc thẩm, điều kiện này luôn được pháp luật các nước chú trọng quy định chặt chẽ và thể hiện rõ ràng trong Bộ luật (Luật) tố tụng dân sự của mình

để không có một phiên tòa giám đốc thẩm nào được mở mà không phục vụ cho mục đích tối cao là tính đúng đắn của pháp luật, công lý và sự công bằng

Khái niệm "căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm" cho đến hiện nay chưa được giải thích trong cả từ điển cũng như là các giáo trình luật học của các cơ sở đào tạo luật học Theo Từ điển Tiếng Việt, "căn cứ" được hiểu là

"cái làm chỗ dựa, làm cơ sở để lập luận hoặc hành động" Như vậy, căn cứ

tiến hành thủ tục giám đốc thẩm có thể hiểu là cơ sở để tiến hành thủ tục giám đốc thẩm Nếu hiểu theo cách này thì căn cứ để tiến hành thủ tục giám đốc thẩm tức là căn cứ để Tòa án có thẩm quyền mở thủ tục xét lại bản án có hiệu

lực pháp luật chính là kháng cáo hoặc kháng nghị của người có quyền do

pháp luật quy định "Kháng cáo", "kháng nghị" giám đốc thẩm là quyền phản đối một cách có căn cứ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của một số chủ thể trong quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, là hình thức thể hiện tư tưởng phản đối, cũng đồng thời là thủ tục thực hiện sự phản đối đó Nếu không có kháng cáo, kháng nghị thì một bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không bao giờ được đưa ra xem xét lại mà phải được thi hành Các Tòa án đều có chức năng xét xử, đều nhân danh công lý để ra phán quyết nên không một Tòa án nào được tự tiện phán xét phán quyết của Tòa án khác khi phán quyết đó đã được chấp nhận

Trang 25

Tuy nhiên, không phải mọi kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm đều

có khả năng tất yếu dẫn đến việc mở thủ tục này Qua nghiên cứu pháp luật thực định một số nước trên thế giới thuộc các truyền thống pháp luật châu Âu lục địa, thông luật và luật XHCN, ta thấy có điểm chung là ở các nước này kháng cáo (ở một số nước thì bao gồm cả kháng nghị) không đương nhiên dẫn đến việc mở thủ tục giám đốc thẩm (hay thủ tục phúc thẩm ở các nước có truyền thống luật án lệ) và việc có tiến hành thủ tục giám đốc thẩm hay không

là do Tòa án quyết định trên cơ sở xem xét tính có căn cứ của kháng cáo, kháng nghị theo một thủ tục riêng, chặt chẽ, cùng với một số quy định mang tính chất thủ tục khác như thời hạn kháng cáo, kháng nghị, nơi nộp đơn kháng cáo, kháng nghị, sự cho phép kháng cáo, kháng nghị của cấp tòa cao hơn, án

phí kháng cáo… Như vậy, ở các nước này chỉ có kháng cáo, kháng nghị có

căn cứ theo luật định được Tòa án chấp nhận mới là cơ sở trực tiếp dẫn đến

việc mở thủ tục giám đốc thẩm và phiên tòa giám đốc thẩm không xem xét kháng cáo, kháng nghị có căn cứ hay không mà xem xét ngay bản án, quyết định bị kháng nghị có những sai lầm, vi phạm mà kháng cáo, kháng nghị nêu

ra hay không

Riêng pháp luật Việt Nam quy định theo hướng khác: mọi kháng nghị giám đốc thẩm đều dẫn đến việc mở thủ tục giám đốc thẩm (BLTTDS không cho phép đương sự kháng cáo giám đốc thẩm mà chỉ thừa nhận quyền kháng nghị giám đốc thẩm của người đứng đầu các cơ quan Tòa án và VKS từ cấp tỉnh trở lên) Tính có căn cứ của kháng nghị chỉ là cơ sở để Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm chứ không phải là căn cứ để mở thủ tục này Trên thực tế, cứ có kháng nghị giám đốc thẩm là Tòa án phải mở phiên tòa giám đốc thẩm trong thời hạn pháp luật quy định mà không có thủ tục xem xét kháng nghị đó có căn cứ hay không Quy định này có nguyên nhân sâu xa từ quan niệm về nguyên tắc bảo đảm pháp chế XHCN trong tố tụng dân sự, được thể hiện trước hết ngay trong bản chất, nhiệm vụ của tố tụng dân sự là bảo đảm cho Tòa án giải quyết vụ án dân

sự một cách công bằng, đúng đắn, khách quan, cũng như để bảo đảm Tòa án

Trang 26

ra những bản án, quyết định dân sự không gây nên bất cứ sự nghi ngờ gì về tính có căn cứ và tính hợp pháp của những bản án, quyết định ấy Nếu không

có cơ chế đặc biệt để kiểm tra, phát hiện và khắc phục những sai lầm hoặc vi phạm pháp luật trong việc xét xử của Tòa án các cấp, rất có thể các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật mắc sai lầm vẫn bị đưa ra thi hành Việc làm đó sẽ làm cho niềm tin vào công lý XHCN bị giảm sút, làm cho hoạt động xét xử không đạt được mục đích bảo đảm pháp chế XHCN, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân Như thế, nguyên tắc bảo đảm tính bắt buộc chung của bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật sẽ chỉ là một yêu cầu mang tính hình thức, không còn ý nghĩa giáo dục đạo đức và chính trị cho toàn xã hội Mặt khác, không nên đặt

ra khả năng cho đương sự có quyền kháng cáo, khiếu nại vô tận, hạ thấp tính

ổn định của các bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật, gây nên những thắc mắc, xáo trộn không đáng có trong nhân dân Hơn nữa, thủ tục giám đốc thẩm dân sự nói riêng cũng như hoạt động xét xử dân sự nói chung không được tách rời với chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước XHCN trong lĩnh vực điều chỉnh pháp luật là phải chủ động can thiệp vào các quan hệ pháp lý

tư, nếu xét thấy cần thiết Xuất phát từ những lý do đó, trong tố tụng dân sự Việt Nam, phương thức kháng án những bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật không được trao cho bản thân những người trực tiếp tham gia tố tụng mà chỉ có người đứng đầu hệ thống Tòa án và VKS ở trung ương (tối cao) và cấp tỉnh mới có thẩm quyền này Việc quy định giới hạn phạm vi thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm cho một số người có chức vụ trong cơ quan Tòa án và VKS không làm giảm đi cơ sở dân chủ của chế độ XHCN cũng như không làm lu mờ nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự Tuy các bên đương sự hoặc các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội không có quyền trực tiếp kháng cáo, khiếu nại giám đốc thẩm dân sự, nhưng họ có thể yêu cầu hoặc đề nghị một cách không hề có trở ngại tới bất kỳ người nào có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm Chính vì vậy, việc đặt ra trách nhiệm

Trang 27

sát theo quyết định của chính bản thân họ hoặc theo đơn yêu cầu của đương

sự, của cá nhân, tổ chức có liên quan có vai trò kép: một mặt, khả năng đạt

được kháng nghị đối với bản án, quyết định dân sự không đúng, mắc sai lầm

là tương đối rộng rãi; mặt khác, sự thành công của thủ tục giám đốc thẩm dựa

trên cơ sở kháng nghị thận trọng, chính xác và vô tư của những người có thẩm quyền không có lợi ích liên quan tới vụ án không chỉ có ý nghĩa khôi phục lại nguyên tắc pháp chế XHCN trong tố tụng dân sự bị xâm phạm, mà còn tính tới quyền, lợi ích hợp pháp của các bên

Như vậy, việc tiến hành thủ tục giám đốc thẩm phụ thuộc vào kháng cáo, kháng nghị (có thể phải qua thủ tục xem xét, cũng có thể chỉ qua thủ tục công bố) Tuy nhiên, mọi kháng cáo, kháng nghị đều phải dựa trên những căn

cứ nhất định, do pháp luật quy định Căn cứ kháng cáo, kháng nghị không thể chung chung, mơ hồ mà phải được thể hiện hết sức cụ thể, rõ ràng và phải được chứng minh một cách thuyết phục trong kháng cáo, kháng nghị Trong một kháng cáo, kháng nghị có nhiều nội dung bắt buộc nhưng căn cứ kháng cáo, kháng nghị luôn là nội dung quan trọng nhất, là yếu tố quyết định việc kháng nghị có được chấp nhận hay không, thủ tục giám đốc thẩm có được mở hay không Cũng không sai khi nói rằng, về hình thức thì kháng cáo, kháng nghị là cơ sở để mở thủ tục giám đốc thẩm nhưng về bản chất thì chính căn cứ kháng cáo, kháng nghị mới thực sự là cơ sở để tiến hành thủ tục này Trong pháp luật thực định của một số quốc gia, căn cứ kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm còn được quy định dưới dạng căn cứ (hoặc điều kiện) để Tòa án giám đốc thẩm sửa hoặc hủy bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị Do vậy, trong luận văn, căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm, tùy theo quy định của mỗi nước sẽ được hiểu là căn cứ kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm hoặc căn cứ để Tòa án chấp nhận kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm

1.2.2 Căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm theo pháp luật tố tụng dân sự của một số quốc gia trên thế giới

Trang 28

1.2.2.1 Căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm theo pháp luật tố tụng dân sự của các nước theo truyền thống luật lục địa (luật dân sự)

Các nước theo truyền thống luật lục địa đều quy định căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm trên cơ sở quan niệm rằng tính chất của giám đốc thẩm là xem xét vấn đề áp dụng pháp luật chứ không xem xét việc đánh giá chứng cứ

Theo BLTTDS của Cộng hòa Pháp, căn cứ tiến hành thủ tục phá án là

kháng cáo, kháng nghị phá án của các bên đương sự và Viện công tố Về căn

cứ kháng cáo, kháng nghị, BLTTDS Pháp không đưa ra một giới hạn chặt chẽ

mà chỉ quy định một cách chung chung là "Tòa Phá án có thể giám đốc bản án chung thẩm bị kháng cáo, kháng nghị vì đã xét xử không đúng pháp luật" (Điều 604 Bộ luật) Do đó, quyền tùy nghi của Tòa Phá án trong việc chấp nhận hoặc bác kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phá án là rất lớn: Tòa Phá

án có thể bác kháng cáo, kháng nghị vì đơn không có đầy đủ căn cứ pháp luật,

có thể bác kháng cáo, kháng nghị vì căn cứ trong đơn đưa ra không thỏa đáng, hoặc thậm chí cũng có thể chấp nhận kháng cáo, kháng nghị căn cứ vào một

lý lẽ pháp lý thuần túy do Tòa Phá án tự nêu ra (Điều 620 Bộ luật) Mặc dù không có quy định chặt chẽ về căn cứ kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phá

án nhưng trong tố tụng dân sự Pháp lại có những cơ chế khác để hạn chế kháng cáo, kháng nghị phá án tràn lan, thiếu căn cứ, ví dụ như cơ chế chỉ tiến hành xem xét kháng cáo phá án nếu vụ án bị kháng cáo có giá ngạch cao, hoặc cơ chế phạt tiền đối với những trường hợp lạm dụng kháng cáo phá án không có căn cứ nhằm mục đích kéo dài vụ án…

BLTTDS Liên bang Nga ghi nhận quyền kháng cáo giám đốc thẩm

của những người tham gia tố tụng và những người khác khi quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án xâm phạm, đồng thời, quyền kháng nghị giám đốc thẩm được trao cho một số Kiểm sát viên có chức vụ của VKS Kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm phải trải qua thủ tục xem xét trước khi Thẩm phán quyết định có chuyển vụ

Trang 29

Nga không quy định căn cứ kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm mà chỉ quy định căn cứ để hủy bỏ hoặc thay đổi bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm (Điều 387) Theo quy định này, căn cứ để hủy bỏ hoặc thay đổi bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm là:

- Bản án, quyết định có vi phạm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật nội dung;

- Có vi phạm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật tố tụng

Ngoài ra, theo Điều 378 và Điều 389 Bộ luật này thì sự vi phạm tính thống nhất của thực tiễn xét xử trong các bản án, quyết định của Tòa án cũng

là căn cứ để hủy bỏ hoặc thay đổi bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm

Khác với phần lớn các nước, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa lại có

quan niệm rất khác về thủ tục giám đốc thẩm Giám đốc thẩm không phải là thủ tục để Tòa án cấp trên xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án cấp dưới có vi phạm pháp luật mà là thủ tục mà Tòa án cấp trên hoặc chính Tòa

án đã ra bản án có vi phạm đó xét xử lại vụ án Quan niệm này của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về thủ tục giám đốc thẩm tương tự như quy định của nước

ta tại Nghị định số 381-TTg ngày 20 tháng 10 năm 1959 của Thủ tướng Chính phủ về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân tối cao: Tòa án nhân dân tối cao có quyền "xử lại hoặc chỉ thị cho Tòa án cấp dưới xử lại những vụ án đã có hiệu lực pháp luật nếu phát hiện có sai lầm" Thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự Trung Quốc còn được hiểu bao gồm cả thủ tục tái thẩm Điều này thể hiện ở chỗ thủ tục giám đốc thẩm không chỉ áp dụng trong trường hợp phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án mà còn được áp dụng cả trong trường hợp có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung phán quyết của Tòa án mà Tòa án không biết được khi ra phán quyết đó Xuất phát từ lý do đó, Luật tố tụng dân sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã không có sự phân biệt giữa căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm Theo Điều 179 Luật tố tụng

Trang 30

dân sự, kháng cáo của đương sự có một trong những căn cứ sau đây thì TAND phải giám đốc thẩm:

- Có chứng cứ mới đủ để lật lại bản án, quyết định cũ;

- Những chứng cứ chủ yếu mà bản án, quyết định cũ dùng để nhận định sự thực của vụ án không đầy đủ hoặc không đúng;

- Bản án, quyết định cũ áp dụng luật thực sự có sai lầm;

- Tòa án nhân dân vi phạm trình tự luật định có thể ảnh hưởng đến sự đúng đắn của bản án, quyết định về vụ án;

- Khi giải quyết vụ án đó, thẩm phán có hành vi tham ô, nhận hối lộ hoặc do động cơ cá nhân mà gian lận, ra bản án, quyết định trái pháp luật

Điều 180 còn quy định thêm trường hợp đương sự có thể kháng cáo giám đốc thẩm biên bản hòa giải đã có hiệu lực nếu có chứng cứ chứng minh việc hòa giải đó trái với nguyên tắc tự nguyện hoặc nội dung của bản thỏa thuận hòa giải trái với pháp luật

VKSND có quyền kháng nghị VKSNDTC kháng nghị bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của TAND các cấp, VKSND cấp trên kháng nghị bản án, quyết định có hiệu lực của TAND cấp dưới Do tính chất của quan hệ dân sự chi phối, thẩm quyền kháng nghị của VKS có phần bị hạn chế VKS chỉ được kháng nghị khi có một trong những căn cứ quy định tại Điều 185,

cụ thể là:

- Những chứng cứ chủ yếu mà bản án, quyết định cũ dùng để nhận định sự thực của vụ án không đầy đủ hoặc không đúng;

- Bản án, quyết định cũ áp dụng luật thực sự có sai lầm;

- Tòa án nhân dân vi phạm trình tự luật định có thể ảnh hưởng đến sự đúng đắn của bản án, quyết định về vụ án;

Trang 31

- Khi giải quyết vụ án đó, thẩm phán có hành vi tham ô, nhận hối lộ hoặc do động cơ cá nhân mà gian lận, ra bản án, quyết định trái pháp luật

Theo Điều 177 Luật tố tụng dân sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, thủ tục giám đốc thẩm có thể được tiến hành trên cơ sở sai lầm của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật do Chánh án Tòa án đã ra bản án, quyết định đó hoặc TANDTC, TAND cấp trên phát hiện Tuy nhiên, trong trường hợp này, pháp luật không quy định thủ tục kháng nghị mà Tòa án tự quyết định việc giám đốc thẩm Căn cứ mở thủ tục giám đốc thẩm được quy định rất

chung là bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật "thực sự có sai lầm"

Qua nghiên cứu các quy định về căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm của một số quốc gia theo truyền thống luật Châu Âu lục địa, có thể rút ra

một số nhận xét chung như sau:

Thứ nhất, pháp luật các nước này đều ghi nhận cả kháng cáo giám đốc

thẩm của đương sự trong vụ án dân sự và kháng nghị của Viện công tố (VKS)

là cơ sở để xem xét mở thủ tục giám đốc thẩm Tuy nhiên, do sự chi phối của nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự, nguyên tắc đặc thù của hệ tố tụng dân sự các nước này thì thẩm quyền kháng nghị của Viện công tố (VKS) không được quy định một cách rộng rãi như quyền kháng cáo của các bên đương sự trong vụ án Ở Pháp, Viện trưởng Viện Công tố bên cạnh Tòa phá

án chỉ có quyền kháng nghị giám đốc thẩm trước Tòa phá án vì lợi ích của pháp luật (Điều 618-1 BLTTDS); VKS Nga chỉ có quyền đề nghị giám đốc thẩm trong những trường hợp có sự tham gia của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án (Điều 376 khoản 3 BLTTDS); Quyền kháng nghị của VKSND Cộng hòa nhân dân Trung Hoa bị giới hạn bởi phạm vi căn cứ kháng nghị hẹp hơn so với căn cứ kháng cáo (Điều 185) Chỉ có ở Liên bang Nga,

Chánh án, Phó Chánh án Tòa án tối cao có quyền đề nghị Hội đồng thẩm

phán Tòa án tối cao xét lại bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm nhưng chỉ trong trường hợp nhằm mục đích bảo đảm tính thống nhất của thực tiễn xét xử và bảo vệ pháp chế (Điều 389 BLTTDS)

Trang 32

Thứ hai, các quốc gia này đều áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử nên

khác với kháng cáo phúc thẩm, kháng cáo giám đốc thẩm không đương nhiên dẫn đến việc mở thủ tục giám đốc thẩm (ở Pháp và Trung Quốc, kháng nghị giám đốc thẩm thường dẫn đến việc mở thủ tục giám đốc thẩm ngay) Để có thể tiến hành thủ tục giám đốc thẩm, kháng cáo giám đốc thẩm phải chỉ ra được những căn cứ do luật định để chứng minh phán quyết của Tòa án có hiệu lực pháp luật là sai lầm, cần phải được sửa đổi hoặc hủy bỏ để xét xử lại

Thứ ba, căn cứ kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm có thể được quy

định dưới dạng căn cứ để Tòa án giám đốc thẩm hủy hoặc sửa bản án Các căn cứ này thường liên quan đến vấn đề áp dụng pháp luật, giải thích pháp luật, hầu như không xem xét đến việc đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án

đã khiến cho việc quyết định mở thủ tục giám đốc thẩm, việc xem xét bản án, quyết định bị kháng nghị dễ dàng và nhanh chóng Cùng với các quy định về việc phải nộp lệ phí (án phí) kháng cáo giám đốc thẩm cũng như quy trình thủ tục chấp nhận kháng cáo để tiến hành thủ tục giám đốc thẩm chặt chẽ, các căn

cứ kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm đã hạn chế đáng kể việc mở thủ tục giám đốc thẩm ở các quốc gia này

1.2.2.2 Căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm theo pháp luật tố tụng dân sự của các nước theo truyền thống luật án lệ và Nhật Bản

Giám đốc thẩm với nghĩa là thủ tục Tòa án có thẩm quyền xét lại bản

án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án bị kháng cáo hoặc kháng nghị theo những căn cứ do pháp luật quy định dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến sai lầm hoặc vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án không có trong pháp luật các nước theo truyền thống thông luật và một số nước khác như Nhật Bản, bởi những đặc điểm của hệ thống Tòa án và thủ tục tố tụng Tòa án ở những nước này có sự khác biệt lớn với các nước theo truyền thống luật châu Âu lục địa và truyền thống luật XHCN

Trang 33

Theo pháp luật của một số nước thuộc hệ thống pháp luật án lệ, bản án hay quyết định của Tòa án khi được ban hành thì có hiệu lực pháp luật (hiệu lực thi hành) ngay (kể cả bản án, quyết định sơ thẩm) Chỉ khi bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị mới đặt ra vấn đề xem xét tạm hoãn thi hành

án chờ xem xét lại trên cơ sở kháng cáo, kháng nghị Thủ tục xét lại bản án ở các nước này không có sự phân định rạch ròi giữa phúc thẩm và giám đốc thẩm Với các nước sử dụng tiếng Anh (Anh, Hoa Kỳ, Australia…) thì thuật ngữ "appeal" (phúc thẩm) được dùng để chỉ tất cả các hoạt động xem xét lại một bản án, quyết định đã được xét xử Có rất nhiều hình thức xét lại vụ án khác nhau theo từng loại tố tụng, từng loại án, từng cấp tòa xét xử trong mỗi

hệ thống pháp luật của từng nước, điển hình là:

- Xem xét về thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp dưới: chỉ xem xét vấn

đề thẩm quyền của Tòa án đã xét xử;

- Xem xét các vấn đề về áp dụng pháp luật từ các bản án trước đó;

- Xem xét về việc xét xử tại các phiên tòa có bồi thẩm đoàn: chỉ xem xét lỗi của thẩm phán đối với các vấn đề về pháp luật và lỗi, sai sót của bồi thẩm đoàn về các tình tiết thực tế Việc xem xét các vấn đề về tình tiết thực tế thường dẫn đến việc xét xử lại vụ án hoàn toàn mới;

- Xem xét bản án sơ thẩm dựa trên toàn bộ pháp luật và tình tiết vào thời điểm đã ra phán quyết sơ thẩm (strict sense);

- Xem xét lại bản án sơ thẩm với các chứng cứ cũ và mới;

- Xem xét lại toàn bộ vụ án mới trên cơ sở các chứng cứ mới, mọi vấn

đề đều được xét xử lại (rehearing de novo)

Do vậy, nếu so sánh với pháp luật Việt Nam, chỉ có thể hiểu được thủ tục giám đốc thẩm của các nước này cũng như là căn cứ kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm trên cơ sở nắm được trình tự xét lại các bản án, quyết định Trong phần trình bày dưới đây, trung thành với nguyên bản luật, thuật

Trang 34

ngữ "phúc thẩm" sẽ được sử dụng chung cho tất cả các hình thức xem xét, xét

xử lại vụ án và có thể được hiểu theo các bối cảnh khác nhau là "phúc thẩm" hay "giám đốc thẩm" theo cách hiểu của từng hệ thống tố tụng

Tại Anh, các tòa dân sự tồn tại thành một hệ thống độc lập Thông

thường, các vụ việc tranh chấp có giá ngạch thấp (dưới 25.000 bảng) được giải quyết ở hơn 250 tòa cấp thấp (County Courts), các vụ việc có giá ngạch trên 25.000 bảng được giải quyết ở Tòa cấp cao (High Court) với các chi nhánh thường đặt chung với các chi nhánh của Tòa Hoàng gia Đa số các vụ

án thường được giải quyết với một thẩm phán tuy rằng quyền được xét xử với bồi thẩm đoàn vẫn được chấp nhận nếu các bên không tự từ bỏ quyền này Tuy nhiên, trong tố tụng dân sự, một thực tế phổ biến là các bên tranh chấp thường đi đến thống nhất giải quyết vụ án thông qua rất nhiều các thủ tục khác mang tính chất hòa giải, không qua Tòa án

Các bản án của tòa cấp thấp có thể được kháng cáo phúc thẩm trực tiếp tới Tòa phúc thẩm (Court of Appeal) về vấn đề áp dụng luật (legal matters) và không được kháng cáo về các tình tiết thực tế của vụ án Các bản

án của tòa cấp cao cũng có thể bị kháng cáo và được xét xử phúc thẩm ở tòa phúc thẩm nhưng chỉ về các vấn đề về luật

Các bản án của Tòa phúc thẩm có thể bị kháng cáo tiếp lên Thượng viện Anh về cả vấn đề thực tế và các vấn đề về luật (on fact and law) nhưng chỉ khi các vụ án đó có tầm quan trọng đặc biệt đối với luật pháp Các kháng cáo đến Thượng viện Anh phải trải qua thủ tục kiểm tra hết sức chặt chẽ, nghiêm ngặt trước khi được quyết định có chấp nhận hay không Mỗi năm chỉ

có vài chục kháng cáo theo thủ tục này được chấp nhận

Cuối cùng, bất kỳ Tòa án nào cũng có thể kiến nghị một vấn đề về luật liên quan đến luật của Liên minh châu Âu cần phải được đưa ra xem xét trước tại Tòa án tư pháp châu Âu

Ở Hoa Kỳ, hệ thống pháp luật được chia thành hai cấp độ: liên bang

Trang 35

trong đó có sự phân định các lĩnh vực thuộc thẩm quyền của bang hay liên bang Mỗi bang được coi là một chính quyền độc lập, cơ quan lập pháp riêng,

hệ thống Tòa án riêng Hệ thống Tòa án của các bang và liên bang có chung một cơ chế xét xử cao nhất là Tòa án tối cao liên bang có quyền xem xét lại

và đưa ra phán quyết cuối cùng đối với các bản án đã được xét xử ở Tòa án tối cao của các tiểu bang Hệ thống Tòa án liên bang có 3 cấp: cấp quận (US federal district Courts), cấp phúc thẩm (US Court of appeal) và Tòa án tối cao liên bang (US Supreme Court)

Tòa án cấp quận (95 tòa) thực hiện việc xét xử sơ thẩm dân sự theo thẩm quyền liên bang trên toàn nước Mỹ Quyền được xét xử có bồi thẩm đoàn được thực hiện ở cấp tòa này Trong một phiên tòa dân sự có 6 vị bồi thẩm

Cấp xét xử tiếp theo của hệ thống Tòa án liên bang là các tòa phúc thẩm ở các hạt Có 13 Tòa phúc thẩm trên phạm vi toàn quốc Mỗi một Tòa

án phúc thẩm này phụ trách việc xét xử phúc thẩm các vụ án dân sự trong một khu vực lãnh thổ nhất định có các Tòa án quận thuộc địa phận đó Không phải

vụ án nào cũng đương nhiên được quyền kháng cáo phúc thẩm mà còn tùy theo loại việc luật quy định có được kháng cáo hay không Tòa phúc thẩm không xem xét các tình tiết thực tế của vụ án mà chỉ xem xét các sai sót về tố tụng hay áp dụng pháp luật của Tòa án cấp dưới trong vụ án đó Tùy từng trường hợp, Tòa án có thể sửa bản án (thường chỉ khi có sai sót nhỏ và rõ ràng), giữ nguyên hoặc hủy bản án cũ Khi bản án cũ bị hủy, việc có tiếp tục kiện tiếp hay không tùy thuộc vào các bên, tuy nhiên, pháp luật luôn có một

số quy định hạn chế việc khởi kiện lại

Tòa án tối cao liên bang có 9 Thẩm phán Trừ trường hợp đặc biệt có thể xét xử sơ thẩm, Tòa án tối cao liên bang thông thường chỉ xét lại các bản

án của các Tòa phúc thẩm liên bang và các bản án của các Tòa án tối cao các tiểu bang đưa lên Quyết định của Tòa án tối cao liên bang là quyết định cuối cùng Thông thường các bên không có quyền đề nghị Tòa án tối cao liên bang xem xét lại bản án Thay vào đó, các bên có thể "trông chờ" Tòa án tối cao

Trang 36

xem xét lại bản án thông qua việc nộp đơn kiến nghị gửi lên Tòa này giải thích lý do tại sao các vấn đề về luật trong vụ án của họ có ý nghĩa quan trọng cần được xem xét tại Tòa án tối cao liên bang Việc có xem xét chấp nhận đơn kháng cáo để xem xét lại vụ án hay không là đặc quyền tùy nghi của Tòa án tối cao Bộ phận thư ký của Tòa án tối cao (hầu hết là các chuyên gia cao cấp

về luật hoặc luật sư) sẽ xem xét tất cả các đơn, tổng hợp và kiến nghị với các thẩm phán Nếu bốn trong chín Thẩm phán chấp thuận xét xử lại, Tòa án tối cao sẽ ra một quyết định yêu cầu Tòa án cấp dưới chuyển toàn bộ hồ sơ tới Tòa án tối cao để xét xử Chỉ một số lượng rất ít các đơn này được Tòa án tối cao chấp nhận (3 - 5% tổng số đơn trong một năm) Tiêu chí thông thường để Tòa án tối cao chấp nhận đơn là vụ án "quan trọng đặc biệt có ý nghĩa tới lợi ích của công chúng và Nhà nước" Tòa án tối cao sẽ không xét đến các tình tiết thực tế của vụ án mà ra phán quyết cuối cùng về việc áp dụng pháp luật nói chung hay là giải thích Hiến pháp, giải thích luật Thực tế, Tòa án tối cao

là cấp xét xử mới và là cấp xét xử cuối cùng đối với vụ án

Hệ thống tòa án Bang Victoria của Liên bang Australia gồm 3 cấp:

Tòa sơ cấp (Magistrate Court), Tòa án cấp quận (District Court) - Tòa trung cấp, Tòa án tối cao bang Trong tố tụng dân sự, thẩm quyền của các Tòa án như sau: Tòa sơ cấp xét xử những yêu cầu đòi bồi thường thương tích và tranh chấp về dân sự có giá trị đến 40.000 đô la, những tranh chấp về dân sự không hạn chế về giá ngạch mà cả hai bên đều nhất trí đưa ra xét xử ở cấp tòa này Tòa trung cấp (Tòa khu vực) xét xử những yêu cầu đòi bồi thường thương tích (không hạn chế giá trị tranh chấp), những tranh chấp về dân sự có giá ngạch đến 200.000 đô la Ngoài ra, cấp tòa này cũng xét xử phúc thẩm những vụ án đã được xét xử bởi Tòa án vị thành niên (Children’s Court)

Tòa án tối cao của bang là Tòa án cao nhất theo Hiến pháp bang Cấp tòa này có hai phân tòa: Phân tòa xét xử (Trial division) xét xử sơ thẩm những

vụ án dân sự không thuộc thẩm quyền của các tòa cấp dưới; Phân tòa phúc

Trang 37

xử bởi tòa trung cấp và những vụ án đã được chính Tòa án tối cao xét xử (phân tòa xét xử) Tòa án tối cao liên bang là cấp xét xử cuối cùng đối với các bản án đã được xét xử của Tòa án tối cao bang (phân tòa phúc thẩm) Tuy nhiên, việc xét xử lại của Tòa án tối cao liên bang chỉ xảy ra nếu có thủ tục cho phép đặc biệt Các đương sự phải đệ đơn để có thủ tục cho phép này và một Thẩm phán hay toàn bộ Thẩm phán của Tòa án tối cao liên bang có thể xét xử vụ án Việc kháng cáo chỉ được chấp nhận nếu vấn đề đưa ra tạo ra tranh cãi lớn về luật, có ý nghĩa lớn đối với công chúng hoặc có những ý kiến rất khác nhau và đòi hỏi có quyết định cuối cùng hoặc chính Tòa án tối cao liên bang xét cần phải đưa vụ việc ra xét xử để đảm bảo công lý Cấp xét xử cuối cùng là toàn bộ các Thẩm phán của Tòa án tối cao liên bang, xét xử các phán quyết của các Thẩm phán tối cao liên bang (1 hoặc nhiều hơn 1 thẩm phán) hoặc xét xử những vụ án đã được xét xử bởi các Tòa án tối cao của tiểu bang

Qua nghiên cứu, có thể rút ra một số nhận xét chung về thủ tục phúc

thẩm và các căn cứ kháng cáo phúc thẩm trong tố tụng dân sự ở những nước theo truyền thống pháp luật án lệ như sau:

Thứ nhất, các nước theo truyền thống pháp luật án lệ không áp dụng

nguyên tắc xét xử hai cấp nên về nguyên tắc mọi bản án, quyết định đều có thể được xem xét lại Tuy nhiên, quy định của pháp luật và thực tiễn xét xử ở các nước này cho thấy khả năng một vụ án, bản án được xét xử lại là rất ít Cơ chế xét xử theo án lệ kết hợp với nguyên tắc không xem xét lại bản án (trừ khi luật có quy định rõ trong từng trường hợp, từng loại tội) đã hạn chế tối đa việc kháng cáo, kiến nghị xem xét lại

Thứ hai, các nước theo truyền thống pháp luật án lệ không phân biệt

kháng cáo của đương sự và kháng nghị của Viện công tố Ở các nước này, Cơ quan công tố tham gia vào tố tụng dân sự chỉ với tư cách là một bên đương

sự Trong thủ tục phúc thẩm, Cơ quan công tố chỉ tham gia phiên tòa với tư

Trang 38

cách người đã kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án như các đương sự khác

Thứ ba, về quyền được kháng cáo, về nguyên tắc, trong truyền thống

án lệ, theo pháp luật án lệ (do các Tòa án xây dựng) quyền được xét xử lại không được thừa nhận mà quyền này chỉ được ghi nhận ở các văn bản pháp luật chính thức Nếu pháp luật có quy định rõ các bên có quyền kháng cáo bản

án đã tuyên thì đó là một quyền đương nhiên và việc xét xử lại được thực hiện giống như việc xét xử phúc thẩm ở các nước trong hệ thống pháp luật lục địa Nếu pháp luật không quy định thì việc kháng cáo chỉ xảy ra khi được phép của chính cấp tòa đó hoặc cấp tòa cao hơn (thường do một Thẩm phán của tòa

án cao hơn xem xét và chấp nhận đơn, đồng ý cho kháng cáo) Rất nhiều các điều kiện đặt ra để đơn này được chấp nhận Nơi nhận đơn tùy từng nước có thể là Tòa án đã xét xử có phán quyết bị kháng cáo giám đốc hoặc tòa án có thẩm quyền Quyết định từ chối không chấp nhận đơn kháng cáo có thể là đối tượng để Tòa án cấp cao hơn xét xử phúc thẩm lại quyết định đó

Việc một bản án không đương nhiên được xét xử lại ở cấp tòa cao hơn nếu không có luật thành văn quy định đã dẫn đến hệ quả là có rất nhiều các hình thức xét lại một bản án, quyết định của Tòa án do có rất nhiều các đạo luật khác nhau quy định đối với từng loại án, trong khi đó có một số loại án thì không thể bị kháng cáo Các văn bản pháp luật khi đề cập đến vấn đề này thường quy định những nội dung sau:

- Quyết định (phán quyết) loại nào có thể được kháng cáo;

- Thời hạn kháng cáo, thời hạn thông báo cho bên tranh chấp hoặc bên buộc tội hay gỡ tội, thời hạn bên được thông báo trình bày phản đơn, xét kháng cáo quá hạn, lệ phí nộp đơn…;

- Nội dung thẩm quyền của Tòa án sẽ xét lại bản án (xem xét các tình tiết về luật hay thực tế, xem xét chứng cứ, tình tiết mới…);

Trang 39

- Sự cho phép của Tòa án cùng cấp hoặc Tòa án cấp trên đối với đơn

đề nghị kháng cáo bản án, điều kiện cho phép…

Thứ tư, căn cứ kháng cáo phúc thẩm thường chỉ được chấp nhận nếu

là các vấn đề về áp dụng pháp luật, giải thích pháp luật của các cấp tòa dưới Thẩm phán sẽ xem xét các vấn đề pháp luật nảy sinh từ kháng cáo có cần thiết xem xét lại nữa không, tính chất tương xứng của vấn đề nêu ra với việc áp dụng những thủ tục tố tụng tiếp theo của Tòa án Thẩm phán (Tòa án) không được tạo ra các hạn chế nếu luật không hạn chế điều kiện để xem lại vấn đề

đó Việc chấp thuận phải thể hiện rõ là tại sao phải đưa vấn đề đó ra, giá trị đối với công lý có cần thiết phải xét lại bản án, có những căn cứ rõ ràng cho thấy bản án cũ là sai lầm Tại phiên tòa xét xử lại, các Thẩm phán thường hạn chế hoặc không xem xét chứng cứ mới (trừ những loại án luật quy định khác)

Thứ năm, cơ chế tố tụng ở các nước này đã tạo ra khả năng đề nghị

kháng cáo rất thấp Trong tố tụng dân sự, có rất nhiều biện pháp mang tính chất hòa giải để hạn chế số lượng vụ việc tranh chấp có thể dẫn đến Tòa án, giúp các bên đi đến thương lượng giải quyết vụ việc ngoài Tòa án Việc đưa

ra xét xử chỉ là giải pháp cuối cùng khi tất cả các nỗ lực giải quyết vụ việc bằng các cách thức không mang tính "tranh chấp" đã được áp dụng Thêm vào

đó, chi phí tố tụng rất tốn kém, thủ tục tố tụng kéo dài… cũng làm "nản lòng" những người muốn tiếp tục theo đuổi vụ kiện Một vụ án dân sự nếu trải qua đầy đủ các thủ tục tố tụng tranh tụng thường kéo dài rất lâu (thông thường từ vài tháng đến vài năm), các quy tắc về tố tụng và chứng cứ phức tạp phải được áp dụng đầy đủ, không được đơn giản hóa nên các vụ việc ngay từ giai đoạn xét xử sơ thẩm đã kéo dài, tốn nhiều thời gian Đối với các vụ án dân sự được đưa ra tòa, ngoài chi phí tố tụng đối với Tòa án, các chi phí cho luật sư, nhân chứng, giám định, thu thập tài liệu, chứng cứ… rất lớn được hạch toán

rõ ràng, bên thua kiện sau này ngoài tiền bồi thường cho việc thua kiện còn phải trả toàn bộ các chi phí tố tụng phát sinh (chi phí tố tụng của bên thắng kiện)

Trang 40

Nhật Bản không phải là quốc gia theo truyền thống luật án lệ nhưng tổ

chức Tòa án và mô hình tố tụng có nhiều nét tương đồng với các nước theo truyền thống này Hệ thống tòa án không chia theo cấp xét xử, gồm Tòa án tối cao, Tòa án cấp cao, Tòa án cấp quận, Tòa giản lược Ngoài Tòa giản lược không có thẩm quyền xét xử lại vụ án, các Tòa án khác đều có thẩm quyền này Trong tố tụng dân sự, Nhật Bản không áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử nên không có khái niệm "xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật" Tất cả các bản án, quyết định đều có "nguy cơ" bị kháng cáo để xét xử lại và cũng có nhiều loại thủ tục để xét xử lại vụ án Tuy nhiên, căn cứ để kháng cáo theo từng thủ tục là khác nhau và rất chặt chẽ nên trên thực tế, việc phải xét xử lại vụ án là không nhiều Phụ thuộc vào căn cứ kháng cáo, Tòa án có phán quyết bị kháng cáo, Tòa án xét xử lại… mà chia ra thành phúc thẩm Koso, phúc thẩm Jokoku

và phúc thẩm Kokoku… Trong đó, phúc thẩm Jokoku có tính chất gần giống với tính chất của giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam Căn cứ kháng cáo phúc thẩm Jokoku được quy định rất cụ thể tại Điều 312 BLTTDS Nhật Bản:

- Giải thích sai Hiến pháp hoặc có điểm trái với Hiến pháp trong phán quyết của Tòa án;

- Phiên tòa không được mở theo đúng quy định của pháp luật;

- Thẩm phán tham gia vào việc ra phán quyết đã từng tham gia vào việc ra phán quyết giải quyết vụ việc này trước đó;

- Có vi phạm về thẩm quyền xét xử đặc biệt;

- Người đại diện, luật sư không đảm bảo điều kiện tham gia tố tụng với tư cách này, việc trao quyền cho người đại diện tham gia tố tụng không theo quy định của pháp luật;

- Vi phạm các quy định về thủ tục công khai, bằng lời;

- Phán quyết không bao hàm các lý lẽ hoặc có sự mâu thuẫn giữa các

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Bình (2004), "Chế định giám đốc thẩm dân sự", Luật học (4), tr. 12-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định giám đốc thẩm dân sự
Tác giả: Nguyễn Bình
Năm: 2004
2. Chính phủ (1959), Nghị định số 256-Ttg ngày 01/7/1959 quy định nhiệm vụ và tổ chức của Viện Công tố, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 256-Ttg ngày 01/7/1959 quy định nhiệm vụ và tổ chức của Viện Công tố
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1959
3. Lê Nam Chung (2003), "Mấy ý kiến về công tác báo cáo thỉnh thị án dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm", Kiểm sát (5), tr. 38-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy ý kiến về công tác báo cáo thỉnh thị án dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm
Tác giả: Lê Nam Chung
Năm: 2003
5. Tống Công Cường (2004), "Một số ý kiến về dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam", Nhà nước và pháp luật, (4), tr. 25-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Tống Công Cường
Năm: 2004
6. Đặng Văn Doãn (1997), "Một số kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao một bước hiệu quả công tác giám đốc thẩm và tái thẩm", Tòa án nhân dân, (7), tr. 10-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao một bước hiệu quả công tác giám đốc thẩm và tái thẩm
Tác giả: Đặng Văn Doãn
Năm: 1997
7. Nguyễn Đăng Dung (2004), Thể chế tư pháp trong Nhà nước pháp quyền, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể chế tư pháp trong Nhà nước pháp quyền
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2004
8. Mai Ngọc Dương (2005), "Bàn thêm về giám đốc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự", Nhà nước và pháp luật (6), tr. 48-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về giám đốc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
Tác giả: Mai Ngọc Dương
Năm: 2005
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
13. Lê Thu Hà (2006), Bình luận khoa học một số vấn đề của pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học một số vấn đề của pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng
Tác giả: Lê Thu Hà
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2006
14. Học viện Tư pháp (2007), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Học viện Tư pháp
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2007
15. Học viện Tư pháp (2007), Giáo trình kỹ năng giải quyết vụ việc dân sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kỹ năng giải quyết vụ việc dân sự
Tác giả: Học viện Tư pháp
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2007
16. JICA (2000), Luật Nhật Bản, tập 2 (1997 - 1998), tập 3 (1998), Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Nhật Bản, tập 2 (1997 - 1998), tập 3 (1998)
Tác giả: JICA (2000), Luật Nhật Bản, tập 2 (1997 - 1998), tập 3
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1998
17. John Henry Marryman (1998), "Truyền thống luật dân sự: giới thiệu về các hệ thống luật Tây Âu và Mỹ Latinh", Kỷ yếu Hội thảo về tố tụng dân sự 1998, Tòa án nhân dân tối cao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống luật dân sự: giới thiệu về các hệ thống luật Tây Âu và Mỹ Latinh
Tác giả: John Henry Marryman
Năm: 1998
18. Nguyễn Ngọc Khánh (2005), "Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam", Nhà nước và pháp luật (5), tr. 64-68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Khánh
Năm: 2005
19. Nguyễn Ngọc Khánh (2006), "Viện kiểm sát Liên bang Nga", Thông tin Khoa học kiểm sát, (4+5), tr. 18-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện kiểm sát Liên bang Nga
Tác giả: Nguyễn Ngọc Khánh
Năm: 2006
20. Nguyễn Ngọc Khánh (chủ biên), Trần Văn Trung (hiệu đính) (2005), Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga
Tác giả: Nguyễn Ngọc Khánh (chủ biên), Trần Văn Trung (hiệu đính)
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2005
21. Nguyễn Huy Miện (2001), "Về nhiệm vụ của Kiểm sát viên khi tham gia xét xử giám đốc thẩm các vụ án hành chính - kinh tế - lao động", Kiểm sát, (2), tr. 40-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nhiệm vụ của Kiểm sát viên khi tham gia xét xử giám đốc thẩm các vụ án hành chính - kinh tế - lao động
Tác giả: Nguyễn Huy Miện
Năm: 2001
22. Hoàng Văn Minh (2004), "Thủ tục giám đốc thẩm trong Dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự", Nghiên cứu lập pháp, (3), tr. 44-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục giám đốc thẩm trong Dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự
Tác giả: Hoàng Văn Minh
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3. Tình hình tham gia phiên tòa giám đốc thẩm của VKSND - Căn cứ tiến hành thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam và vai trò, trách nhiệm của Viện Kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm vụ việc dân sự
Bảng 2.3. Tình hình tham gia phiên tòa giám đốc thẩm của VKSND (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w