Như vậy, tổng kết các quan điểm khác nhau về khái niệm các biện pháp tư pháp, đồng thời căn cứ vào quá trình lập pháp, xây dựng hệ thống các quy phạm pháp luật về các biện pháp tư pháp t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LƯU THỊ THU HƯƠNG
CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LƯU THỊ THU HƯƠNG
CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự
Mã số : 60 38 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Quốc Toản
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành luận văn thạc sỹ luật học này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiều từ người thầy mẫu mực và tận tâm – PGS.TS Trịnh Quốc Toản, các giảng viên của Khoa sau đại học, ĐHQG Hà Nội, cũng như
sự động viên khích lệ từ gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến gia đình, các thầy cô cùng các bạn bè, đồng nghiệp
đã giúp tôi trong suốt thời gian qua để hoàn thành luận văn thạc sỹ này
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Lưu Thị Thu Hương
Trang 6Chương 1: Một số vấn đề chung về các biện pháp tư pháp
trong pháp luật hình sự Việt Nam
Quan niệm chung về biện pháp tư pháp
1.1.1 Khái niệm và các đặc điểm của biện pháp tư pháp hình
sự 1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của biện pháp tư pháp hình sự
Phân biệt biện pháp tư pháp với hình phạt và các biện pháp
cưỡng chế hành chính
1.2.1 Phân biệt biện pháp tư pháp với hình phạt
1.2.2 Phân biệt biện pháp tư pháp với các biện pháp cưỡng chế
2.1.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự 1985 đến
trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
2.2 Các quy định về biện pháp tư pháp trong Bộ luật hình sự
Trang 72.3
năm 1999
2.2.1 Biện pháp tư pháp chung
2.2.2 Biện pháp tư pháp riêng
Thực tiễn áp dụng các biện pháp tư pháp; những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng và nguyên nhân của nó
2.3.1 Thực tiễn áp dụng các biện pháp tư pháp
2.3.2 Những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng các biện pháp tư pháp
2.3.2 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn
áp dụng các biện pháp tư pháp
Chương 3: Nhu cầu, quan điểm và các giải pháp hoàn thiện quy định về các biện pháp tư pháp trong Luật hình sự Việt Nam và nâng cao hiệu quả áp dụng
3.1 Nhu cầu, quan điểm hoàn thiện quy định về các biện pháp
tư pháp trong Luật hình sự Việt Nam và nâng cao hiệu quả
áp dụng
3.1.1 Nhu cầu hoàn thiện quy định về các biện pháp tư pháp
trong Luật hình sự Việt Nam và nâng cao hiệu quả áp dụng
3.1.2.Quan điểm hoàn thiện quy định về các biện pháp tư pháp trong Luật hình sự Việt Nam và nâng cao hiệu quả áp dụng
3.2 Các giải pháp hoàn thiện các quy định về biện pháp tư
pháp trong Luật hình sự Việt Nam
3.3 Các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các
quy định về biện pháp tư pháp trong Luật hình sự Việt
Nam
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Xã hội ngày càng phát triển, con người ngày càng có nhiều nhu cầu cấp thiết hơn việc ăn, ở, mặc… mà còn giải trí, giao lưu xã hội Sự mở rộng một cách đa dạng các mối quan hệ hiện nay không chỉ mang đến những thành tựu về khoa học xã hội, kinh tế - chính trị, đồng thời lại mang đến những mặt tiêu cực, lối sống cực đoan, và kết quả tất yếu là tình hình tội phạm ngày càng phức tạp Trước tình hình thực tế đó, Nhà nước đã áp dụng rất nhiều các chế tài trong pháp luật hình sự để kiểm soát và hạn chế tội phạm, trong đó không thể không kể đến các biện pháp tư pháp hình sự
Tại Việt Nam, việc áp dụng các biện pháp tư pháp hình sự vào thực tiễn đang đặt ra rất nhiều vấn đề cần được nghiên cứu và giải đáp để có thể hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng Thực tiễn cho thấy, việc áp dụng các chế tài hình sự còn chưa mang lại những hiệu quả thiết thực đối với phòng chống tội phạm Việc xem xét hành vi phạm tội và quyết định hình phạt hay biện pháp tư pháp đối với người phạm tội, nhất là người chưa thành niên phạm tội cần được quan tâm đến một cách sát sao hơn
Vì những lý do trên cũng như quan tâm đến xu hướng pháp luật hình
sự thế giới mà Đảng và Nhà nước ta có những quyết sách kịp thời trong cải cách hệ thống tư pháp và hiệu quả của việc áp dụng biện pháp tư pháp hình sự
là rất cần thiết Sự ra đời của Nghị quyết số 08-NQ/TW về cải cách tư pháp ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị; Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 49/2005/NQ-QH 11 về chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2006
Trang 9ngày 19/11/2005 của Quốc hội cũng như việc sửa đổi Bộ luật Hình sự năm
1999 (năm 2009) đã thể hiện rất rõ xu hướng này
Toàn bộ những phân tích và dẫn chứng trong việc áp dụng biện pháp
tư pháp hình sự đều trên cơ sở thực tiễn, nhằm tìm ra giải pháp hoàn thiện
pháp luật cũng như cải cách tư pháp làm cho việc nghiên cứu đề tài "Các biện
pháp tư pháp trong pháp luật hình sự Việt Nam" trong thời điểm hiện nay
đạt được hiệu quả cao
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Dưới góc độ pháp lý, trong thời gian qua các biện pháp tư pháp hình
sự đã được quan tâm rất nhiều và đề cập đến trong pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự cũng như pháp luật thi hành án hình sự
Nhưng trước đây, chưa có bất cứ công trình khoa học nào nghiên cứu sâu sắc về việc này, các nhà làm luật trước đó, chỉ đặt ra các quy định mang tính chất ước lệ Những đề tài nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung:
- Các biện pháp tư pháp trong Bộ luật Hình sự năm 1999 và vấn đề
hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp
đó, của TS Phạm Hồng Hải, Tạp chí luật học, số 5/2000.
- Thi hành các biện pháp tư pháp không phải là hình phạt, của Hồ Sĩ
Sơn, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 04/2004
- Vai trò của gia đình trong việc thi hành các hình phạt không tước tự
do và các biện pháp tư pháp, của TS Trần Quang Tiệp, Tạp chí Nhà nước và
pháp luật số 02/2004
- Tăng cường năng lực hệ thống tư pháp người chưa thành niên tại
Việt Nam, Thông tin khoa học chuyên đề, Viện khoa học pháp lý, 2000.
- Những vấn đề lý luận và thực tiễn về tư pháp hình sự với người chưa
thành niên phạm tội, của Đỗ Thị Phượng, Bùi Đức Lợi, Đề tài nghiên cứu cấp
trường, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2005
Trang 10- Tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội những khía
cạnh tội phạm học, của TSKH.PGS Lê Cảm - ThS Đỗ Thị Phượng, Tạp chí
tòa án nhân dân, số 22/2004
Đến Luật Thi hành án hình sự năm 2010, việc thi hành đã được quy định một cách cụ thể, rõ ràng nhưng chưa được áp dụng một cách triệt để và hiệu quả
Vì thế, ở luận văn này, đề tài tập trung nghiên cứu các khía cạnh của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật thi hành án hình sự đối với các biện pháp tư pháp hình sự; cũng như thực tiễn áp dụng các biện pháp tư pháp này Thông qua đó, việc nghiên cứu các vấn đề này sẽ giúp chúng ta có cách tiếp cận toàn diện hơn trong việc áp dụng các biện pháp tư pháp, giúp chúng ta hiểu rõ và thực thi chúng một cách có hiệu quả hơn
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích
Trên cơ sở làm rõ các vấn đề lý luận, cùng với việc áp dụng biện pháp tư pháp trong thực tiễn, luận văn đi sâu phân tích từ nhiều khía cạnh khác nhau về biện pháp tư pháp hình sự: quy định pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình
sự, pháp luật thi hành án hình sự, xu hướng, cũng như nguyên nhân và điều kiện áp dụng, việc áp dụng trên thực tiễn Từ sự phân tích này, tác giả luận văn
đã đề xuất một số giải pháp cho việc áp dụng các biện pháp tư pháp phù hợp pháp luật, thực tiễn, cũng như xu hướng quốc tế và thực trạng tại Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được những mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ chủ yếu là:
- Phân tích làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về các biện pháp tư pháp trong pháp luật hình sự như: Khái niệm, đặc điểm, mục đích, bản chất và điều kiện áp dụng của các biện pháp tư pháp
Trang 11- Phân tích các quy định pháp luật về các biện pháp tư pháp trong pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật về thi hành án hình sự cũng như thực tiễn
áp dụng chúng
- Rút ra các điểm hạn chế của việc áp dụng, thi hành chúng trong thực tiễn cũng như các nguyên nhân của các hạn chế đó
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn là vấn đề về lý luận và thực tiễn của việc áp dụng các biện pháp tư pháp hình sự Những vấn đề này được nghiên cứu trên cơ sở các quy định pháp luật hình sự, quy định pháp luật về tố tụng hình sự, quy định pháp luật về thi hành án hình sự, cũng như các quan điểm về chính sách của Đảng và Nhà nước, cũng như xu hướng áp dụng tại Việt Nam trong thời gian tới và trên thế giới
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là lý luận về các biện pháp tư pháp hình sự trong pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật
về thi hành án hình sự Đồng thời, luận văn còn nghiên cứu trên cơ sở của việc áp dụng thực tiễn các quy định pháp luật hình sự và thi hành biện pháp tư pháp hình sự
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Do tính phức tạp và rộng lớn của vấn đề nên luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu các vấn đề lý luận, cũng như hoạt động áp dụng và thi hành các biện pháp tư pháp hình sự trong thực tiễn Các hoạt động khác đều không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn này
Về thực tiễn, luận văn giới hạn nghiên cứu các nội dung nêu trên trong pháp luật hình sự hiện hành để tìm ra những điểm cơ bản trong thực tiễn đó Tuy nhiên do nguồn tài liệu còn hạn chế, nên nhiều dữ liệu còn chưa được cập
Trang 12nhật một cách hoàn chỉnh Những số liệu được thống kê trong luận văn này là
từ các bản án từ trong 05 năm trở lại đây
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở lý luận của việc nghiên cứu và quán triệt chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách hình sự, so sánh đối chiếu với pháp luật thực định, luận văn đã sử dụng, kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau
Đó là các phương pháp: tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê về việc
áp dụng biện pháp tư pháp hình sự trong thực tiễn trên cả tư tưởng, quy định vật chất, cũng như quy định hình thức và việc áp dụng trên thực tiễn (thi hành
Kết quả nghiên cứu đề tài có thể làm rõ thêm các quan điểm lý luận khoa học về định hướng áp dụng biện pháp tư pháp này Ngoài ra kết quả nghiên cứu đề tài còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập khoa học luật hình sự, luật tố tụng hình sự, luật thi hành
án hình sự
6.2 Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là ý kiến hữu ích trong hoạt động lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật thi hành án hình sự trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm cũng như giáo dục, cải tạo người phạm tội nói chung và người chưa
Trang 13thành phạm tội chưa thành niên nói riêng ở nước ta Đồng thời, đây cũng là tài liệu có thể làm căn cứ sửa đổi pháp luật hiện hành và tiến đến hoàn thiện hệ thống tư pháp hình sự trong tương lai
Tóm lại, đây là công trình nghiên cứu về cả lý luận và thực tiễn của biện pháp tư pháp hình sự Luận văn phân tích một cách cụ thể và toàn diện các quy định của pháp luật hình sự về biện pháp tư pháp hình sự Phân tích, đánh giá chi tiết từng điều kiện, đặc điểm của các biện pháp tư pháp hình sự đồng thời có sự so sánh, đối chiếu với pháp luật quốc tế, nghiên cứu nhằm đưa ra các giải pháp kiến nghị, hoàn thiện các quy định với việc xử lý người phạm tội bằng biện pháp tư pháp, từ đó nâng cao và tăng cường hiệu quả áp dụng của pháp luật góp phần đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về các biện pháp tư pháp trong pháp
luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Các biện pháp tư pháp theo luật hình sự Việt Nam và thực
tiễn áp dụng
Chương 3: Nhu cầu, quan điểm và các giải pháp hoàn thiện quy định về
các biện pháp tư pháp trong luật hình sự Việt Nam và nâng cao hiệu quả áp dụng
Trang 14Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC BIỆN PHÁP TƢ PHÁP
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 QUAN NIỆM CHUNG VỀ BIỆN PHÁP TƢ PHÁP
1.1.1 Khái niệm và các đặc điểm của biện pháp tƣ pháp
Khi nghiên cứu lý luận về các biện pháp tư pháp hình sự, việc xem xét khái niệm của nó là hết sức quan trọng, song nếu chỉ nghiên cứu trên khía cạnh lý luận thì chưa đủ, mà cần phải xem xét trên cả khía cạnh pháp luật hình sự thực định cũng như thực tiễn áp dụng Chúng ta cùng điểm qua một
số khía cạnh để xem xét khái niệm cơ bản của các biện pháp tư pháp:
* Pháp luật hình sự thực định:
Pháp luật hình sự thực định Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến năm 1986 (pháp điển hóa lần 1) thì chưa xây dựng định nghĩa pháp lý của khái niệm các biện pháp tư pháp hình sự, cũng như chưa từng được ghi nhận về mặt lập pháp
Pháp điển hóa lần thứ 2 (năm 1999), khái niệm pháp lý của "biện pháp
tư pháp" cũng chưa được chính thức ghi nhận trong pháp luật thực định
Như vậy, có thể nói mặc dù các biện pháp tư pháp hình sự là một chế định hết sức quan trọng, song hành cùng hình phạt để hoàn thiện hệ thống chế tài hình sự, nhưng lại chưa được ghi nhận một cách chính thống Việc chưa đề cập đến nó trên cơ sở pháp luật thực định là một điểm thiếu sót cần được xem xét
* Trong lý luận luật hình sự:
Từ trước đến nay trong khoa học luật hình sự của thế giới nói chung
và Việt Nam nói riêng, khái niệm về các biện pháp tư pháp có rất nhiều tranh
Trang 15cãi, ý kiến khác nhau; song vẫn chưa có một quan điểm thống nhất nào, cụ thể là:
- Khoa học luật hình sự Việt Nam có một số quan điểm coi các biện pháp tư pháp là: Biện pháp tư pháp hình sự không phải là hình phạt, chỉ có tính chất hành chính, dân sự nhưng được quyết định ngay trong vụ án hình sự Ngoài
ra các biện pháp được áp dụng chung đối với bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự
"Biện pháp tư pháp hình sự là các biện pháp hình sự được Bộ luật Hình
sự quy định, do các cơ quan tư pháp áp dụng đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, có tác dụng hỗ trợ hoặc thay thế hình phạt" [30, tr 194]
Như vậy, tổng kết các quan điểm khác nhau về khái niệm các biện pháp tư pháp, đồng thời căn cứ vào quá trình lập pháp, xây dựng hệ thống các quy phạm pháp luật về các biện pháp tư pháp trong pháp luật hình sự Việt Nam, chúng ta có thể đưa ra khái niệm khoa học về các biện pháp tư pháp
hình sự: Biện pháp tư pháp là biện pháp cưỡng chế về hình sự của Nhà nước
ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt, do pháp luật hình sự quy định và được
cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể áp dụng đối với người phạm tội nhằm hạn chế quyền, tự do của người đó, hoặc hỗ trợ hay thay thế cho hình phạt
Từ những quan điểm về khái niệm "Biện pháp tư pháp" và khái niệm khoa học nêu trên, có thể thấy biện pháp tư pháp với tính chất là biện pháp cưỡng chế về hình sự ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt, có những đặc điểm
cơ bản (dấu hiệu) sau:
Đặc điểm thứ nhất: Biện pháp tư pháp là biện pháp cưỡng chế về hình
sự ít nghiêm khắc hơn so với hình phạt mà hậu quả pháp lý của việc áp dụng
nó là người phạm tội không bị coi là có án tích nếu như biện pháp tư pháp được áp dụng độc lập đối với người đó mà không kèm hình phạt
Trang 16Thực chất, hình phạt là biện pháp cưỡng chế về hình sự nghiêm khắc nhất của Nhà nước so với tất cả các biện pháp cưỡng chế khác; mà khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, thì hậu quả pháp lý là người phạm tội
sẽ có án tích Do đó, với tính chất là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, các biện pháp tư pháp hình sự được áp dụng đồng thời với hình phạt, thì người phạm tội sẽ có hậu quả pháp lý là có án tích; còn nếu như áp dụng độc lập mà không kèm hình phạt (ví dụ như khi người đó được miễn hình phạt, mà chỉ áp dụng biện pháp tư pháp) thì người đó không bị coi là có án tích
Đặc điểm thứ hai: Với tính chất là một dạng của trách nhiệm hình sự
và là một hình thức để thực hiện trách nhiệm hình sự trong văn bản của Cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền, biện pháp tư pháp cũng chỉ có thể xuất hiện khi có sự việc phạm tội
Chỉ khi có tội phạm cùng đầy đủ các dấu hiệu của nó, thì mới có thể xác định được trách nhiệm hình sự và mới có thể có biện pháp tư pháp hình
sự với tư cách là biện pháp ít nghiêm khắc hơn hình phạt
Khi xảy ra sự kiện phạm tội, theo quy định pháp luật hình sự, Cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tùy theo giai đoạn tố tụng nhất định (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án) xác định trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật hình sự, có lỗi (vô ý hoặc cố ý), đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự Trên cơ sở đó, cơ quan tiến hành tố tụng buộc người phạm tội chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình, đồng thời quyết định hình phạt; kèm theo hoặc áp dụng độc lập các biện pháp tư pháp
Nếu không có hành vi phạm tội xảy ra, thì người bị áp dụng biện pháp cưỡng chế khác không phải là biện pháp tư pháp hình sự mà có thể là các biện pháp tư pháp hành chính, dân sự…
Đặc điểm thứ ba: Khác với hình phạt, căn cứ vào giai đoạn tố tụng
hình sự tương ứng cụ thể, biện pháp tư pháp hỗ trợ hình phạt (từ điều 41-43
Trang 17Bộ luật Hình sự năm 1999) có thể do cơ quan tư pháp hình sự khác có thẩm quyền như là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án… áp dụng đối với người phạm tội nói chung (kể cả người bị kết án); còn với các biện pháp tư pháp thay thế hình phạt (Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 1999), thì chỉ có thể do Tòa án áp dụng với người bị kết án nói riêng
Việc áp dụng các biện pháp tư pháp hình sự đối với người phạm tội được xác định ở phạm vi rất rộng lớn Không như hình phạt, chỉ có thể áp dụng sau khi bị kết án, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có thể
bị áp dụng biện pháp tư pháp hình sự ngay từ giai đoạn điều tra khi có dấu hiệu phạm tội; nhưng thực tế, để quyết định việc áp dụng các biện pháp tư pháp hình sự hay không, để xử lý với tài sản bị xâm phạm, hoặc đối với việc bồi thường, xin lỗi công khai, bắt buộc chữa bệnh, thì chỉ có Tòa án là có thẩm quyền Còn trước đó, những biện pháp này chỉ được áp dụng tạm thời,
có thể bị thay đổi sau khi Hội đồng xét xử đưa ra phán quyết cuối cùng
Đặc điểm thứ tư: Biện pháp tư pháp chỉ nhằm hạn chế, chứ không
tước đoạt quyền, tự do của người phạm tội; hoặc để hỗ trợ hay thay thế cho hình phạt
Với những trường hợp buộc áp dụng biện pháp tư pháp, thì dù mang tính cưỡng chế, nhưng chỉ hạn chế phần nào quyền lợi của người bị kết án mà không nhằm tước đi quyền, tự do của người phạm tội Điều đó được thể hiện
rõ ràng nhất ở quy định của từng biện pháp tư pháp hình sự
Ví như biện pháp tư pháp "Giáo dục tại xã, phường thị trấn" người bị
áp dụng mặc dù bị hạn chế về quyền lợi (không được ra khỏi nơi cư trú nếu không được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền) nhưng cũng không hoàn toàn mất đi sự tự do của mình, họ vẫn có quyền đi lại, tham gia các phong trào, hoạt động của tổ chức, xã hội tại nơi cư trú; thậm chí làm ăn, sinh hoạt không khác nhiều so với những người bình thường
Trang 18Hoặc việc bắt buộc chữa bệnh đối với những người có bệnh lý bị hạn chế về nhận thức hoặc điều khiển hành vi, khiến việc phạm tội của họ không phải là cố ý; mà do bệnh lý khiến họ hành động trái quy định pháp luật Do
đó, việc bắt buộc chữa bệnh, tuy là một trong số những biện pháp tư pháp nhưng lại mang tính chất giúp đỡ người phạm tội có bệnh hơn là trừng phạt; bản thân người bị áp dụng biện pháp này vẫn được sinh hoạt như những người bệnh không phạm tội khác, vẫn có những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việc có áp dụng hình phạt hay biện pháp tư pháp hình sự khác sau khi hoàn tất việc chữa bệnh, sẽ do Hội đồng xét xử xem xét tùy tình huống cụ thể
Đặc điểm thứ năm: Cũng như các biện pháp cưỡng chế khác về hình
sự, các biện pháp tư pháp cũng được quy định trong pháp luật hình sự và phải
do cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền áp dụng theo một trình tự đặc biệt
do luật tố tụng hình sự quy định Không phải bất cứ Cơ quan nhà nước nào cũng được phép áp dụng các biện pháp tư pháp hình sự; mặc dù một số biện pháp tư pháp hình sự có vẻ giống như biện pháp cưỡng chế hành chính, dân
sự (tịch thu tiền, vật trực tiếp liên quan đến tội phạm và tịch thu sung công quỹ; hoặc phạt tiền) nhưng xét về bản chất thì hoàn toàn khác nhau; do đó chỉ
có cơ quan tư pháp hình sự mới có quyền xem xét và áp dụng Đặc biệt, việc
xử lý đối với người bị kết án cũng như áp dụng hình phạt và các biện pháp tư pháp hình sự phải do Tòa án xác định trên cơ sở áp dụng pháp luật hình sự; còn các cơ quan tố tụng khác cũng phải tuân thủ đúng trình tự và thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật thi hành án hình sự quy định
Đặc điểm thứ sáu: Biện pháp tư pháp chỉ mang tính chất cá nhân vì
theo pháp luật hình sự Việt Nam chỉ được áp dụng riêng với bản thân người phạm tội hoặc người bị kết án
Việc áp dụng chế tài đối với người phạm tội chỉ được thực hiện khi có việc thực hiện phạm tội xảy ra, và chỉ đối với người đó; những người thân của
họ không có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm về những hành động đó trước
Trang 19pháp luật hình sự Gia đình hoặc người giám hộ (với người chưa thành niên) chỉ có nghĩa vụ tài chính với người phạm tội
Các biện pháp tư pháp áp dụng với đối tượng phạm tội là tổ chức còn chưa được xác định, việc áp dụng các biện pháp tư pháp hình sự này, chỉ có thể
áp dụng với từng người phạm tội, và liên đới chịu trách nhiệm về tài chính
1.1.2 Vai trò và mục đích của của biện pháp tƣ pháp hình sự
Các biện pháp tư pháp hình sự xét về bản chất là những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền (Viện kiểm sát và Tòa án) áp dụng đối với người phạm tội và những người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự do bị bệnh tâm thần hoặc bị một bệnh lý khác đã mất đi khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình
Với hệ thống hình phạt và các biện pháp tư pháp hình sự đa dạng, có tính chất nghiêm khắc khác nhau, công dụng khác nhau thì việc xử lý hình
sự càng chính xác các chi tiết, hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội
và nạn nhân càng được xem xét một cách kỹ càng trước khi quyết định hình phạt và do đó, hiệu quả của việc áp dụng biện pháp tư pháp sẽ phần nào được nâng cao
Có thể nói, việc tồn tại hệ thống các biện pháp tư pháp song hành với
hệ thống hình phạt (chính và bổ sung) làm cho hệ thống chế tài cân đối hơn, hoàn thiện và hiệu quả hơn, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh và phòng chống tội phạm phù hợp xu hướng phát triển của đất nước cũng như hội nhập quốc tế
Thêm vào đó, các biện pháp tư pháp hình sự được áp dụng với người
bị kết án sẽ củng cố, hỗ trợ và tăng cường hiệu quả việc áp dụng hình phạt; khiến cho việc tái hòa nhập cộng đồng của người bị kết án trở nên dễ dàng hơn, tránh được nguy cơ tái phạm, tái phạm nguy hiểm và góp phần giúp hoạt động tư pháp trơn tru hiện quả hơn
Trang 20Mặt khác, với những trường hợp chưa đủ tính chất nghiêm trọng để có thể áp dụng hệ thống hình phạt, thì các biện pháp tư pháp hình sự chính là cứu cánh để giải quyết tình hình tội phạm, không bỏ sót người phạm tội, vẫn có chế tài áp dụng với họ, nhưng tương xứng về cả nội dung và tính chất nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội mà họ đã gây ra
Như vậy, có thể thấy rằng các biện pháp tư pháp hình sự đã góp phần làm phong phú hệ thống chế tài hình sự, thúc đẩy chức năng bảo vệ, phòng ngừa và giáo dục của pháp luật hình sự, tạo cơ sở pháp lý để đấu tranh và phòng chống tội phạm một cách hiệu quả Chính vì vậy, vai trò của các biện pháp tư pháp hình sự trong luật hình sự nói riêng và trong pháp luật nói chung
là hết sức quan trọng và cần thiết
Từ trước đến nay khi nghiên cứu những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự, hình phạt và các biện pháp tư pháp; có rất nhiều quan điểm, tranh luận về mục đích của hình phạt mà chưa có nghiên cứu nào cụ thể về các Biện pháp tư pháp Tuy nhiên, vì các biện pháp tư pháp cũng là một biện pháp cưỡng chế hình sự nhằm thực hiện trách nhiệm hình sự của người phạm tội nên có những điểm tương đồng với hình phạt Đi sâu vào phân tích mục đích của biện pháp tư pháp có thể thấy trên các khía cạnh:
Về mặt hình thức, biện pháp tư pháp chỉ ra mục đích mà thông qua
việc áp dụng với người phạm tội Nhà nước mong muốn đạt được Như vậy,
có thể hiểu mục đích của biện pháp tư pháp là kết quả cuối cùng mà Nhà nước mong muốn đạt được bằng cách áp dụng các biện pháp tư pháp do nhà làm luật quy định trong pháp luật hình sự theo đúng trình tự, thủ tục được quy định 5 hạn chế tội phạm mới, thúc đẩy việc tái hòa nhập cộng đồng; thể hiện được tính nhân đạo trong pháp luật cũng như chính sách của Đảng và Nhà nước
Về mặt nội dung, cốt lõi của kết quả cuối cùng mà Nhà nước mong
muốn đạt được bằng việc áp dụng biện pháp tư pháp đối với người phạm tội
Trang 21Có thể thấy, việc áp dụng biện pháp tư pháp độc lập hoặc kèm theo với việc quyết định hình phạt, nhằm: Ngăn ngừa tội phạm; giáo dục và cải tạo; ngăn ngừa, trừng trị, giáo dục và cải tạo
Tuy nhiên, nếu xét đến bản chất sâu xa của việc áp dụng biện pháp tư pháp hình sự, có thể thấy, mục đích chính của việc áp dụng các biện pháp tư pháp hình sự là: Góp phần phục hồi lại công lý; cải tạo và giáo dục những người phạm tội; góp phần cảnh cáo, giáo dục các thành viên khác trong xã hội
có ý thức tôn trọng, tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật - ngăn ngừa chung; hỗ trợ cho cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm
Việc Nhà nước quy định cho các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền áp dụng các biện pháp tư pháp hình sự (mà không phải là hình phạt) đối với những người nêu trên nhằm hỗ trợ để đạt được mục đích phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng
Với tư cách là các biện pháp cưỡng chế về hình sự, Biện pháp tư pháp hình sự là cách thức tác động đến người phạm tội Trong một số trường hợp thì Biện pháp tư pháp hình sự là hậu quả của việc phạm tội; nên trong một số trường hợp thì ngoài việc phải chịu hình phạt, người phạm tội còn phải bị áp dụng các biện pháp tư pháp (kèm theo hình phạt hoặc áp dụng độc lập) Trong những trường hợp này, việc áp dụng các biện pháp tư pháp hình sự có tác dụng cải tạo người phạm tội, phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng
Bên cạnh việc áp dụng hình phạt, áp dụng biện pháp tư pháp còn giúp cho việc xử lý tội phạm và người phạm tội được triệt để và toàn diện hơn Trong Bộ luật Hình sự có quy định các biện pháp tư pháp chung và riêng góp phần giúp các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền có thể vận dụng một cách mềm dẻo, linh hoạt và đúng đắn theo chính sách hình sự, chính sách tố tụng hình sự và chính sách phòng ngừa tội phạm của Nhà nước ta Ngoài ra, việc áp dụng biện pháp tư pháp hình sự còn phản ánh việc áp dụng hình phạt - biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước do luật hình sự quy
Trang 22định không phải là phương tiện duy nhất trong công cuộc đấu tranh, phòng và chống tội phạm Để nâng cao hiệu quả của việc đấu tranh, phòng và chống tội phạm; đòi hỏi Nhà nước và xã hội áp dụng một cách đồng bộ, có hệ thống, toàn diện các biện pháp khác nhau với mức độ cưỡng chế phù hợp và linh hoạt nhằm ngăn chặn và đẩy lùi tội phạm
1.2 PHÂN BIỆT BIỆN PHÁP TƢ PHÁP HÌNH SỰ VỚI HÌNH PHẠT VÀ CÁC BIỆN PHÁP CƢỠNG CHẾ HÀNH CHÍNH
1.2.1 Phân biệt biện pháp tƣ pháp hình sự với hình phạt
* Sự giống nhau
- Điểm thứ nhất, cả hình phạt và biện pháp tư pháp hình sự đều là hai
chế định quan trọng của luật hình sự Việt Nam và chỉ xuất hiện khi có cơ sở nhất định do pháp luật hình sự quy định là: Việc phạm tội của thể nhân (là con người cụ thể, có năng lực trách nhiệm hình sự, đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị luật hình sự cấm) Chỉ khi nào có tội phạm và xác định được trách nhiệm hình
sự thì mới có thể áp dụng hình phạt hoặc các biện pháp tư pháp hình sự tương ứng cụ thể nhằm thực hiện trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nói chung và người bị kết án nói riêng
- Điểm thứ hai, hình phạt và biện pháp tư pháp hình sự đều là các biện
pháp cưỡng chế về hình sự của Nhà nước, đồng thời là các dạng và là các hình thức thực hiện trách nhiệm hình sự, do cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền áp dụng theo một trình tự, thủ tục đặc biệt được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự Những chế định này được quy định trong pháp luật hình
sự và cách thức thực hiện được quy định trong tố tụng hình sự; các quy định pháp luật này được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước, theo đúng thủ tục pháp lý và đảm bảo thực hiện một cách có hiệu quả
và đạt được mục đích đã đề ra
Trang 23- Điểm thứ ba, việc áp dụng hình phạt và biện pháp tư pháp hình sự
đều dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi nhất định đối với người phạm tội ở các mức độ khác nhau, tùy thuộc vào tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, nhân thân của người phạm tội, nhân thân người bị hại, và các tình tiết cụ thể của vụ án hình sự tương ứng
- Điểm thứ tư, theo pháp luật hình sự Việt Nam, cả hình phạt và biện
pháp tư pháp hình sự đều chỉ mang tính chất cá nhân và chỉ được áp dụng với thể nhân phạm tội Người phạm tội hoặc người bị kết án phải thi hành Hình phạt hoặc áp dụng Biện pháp tư pháp hình sự tương xứng với hành vi phạm tội, còn những người thân đều không phải chịu trách nhiệm hình sự về lỗi mà người đó đã gây ra mà chỉ có thể bị liên đới hoặc hỗ trợ về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có lỗi gây ra
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quyết định trong Bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa
án để tước bỏ quyền, tự do của người bị kết án theo các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam
Về mức
độ nghiêm
khắc
Các biện pháp tư pháp hình sự chỉ là một trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế về hình sự áp dụng với người phạm tội, mang tính răn đe, trừng phạt nhưng
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước
Trang 24không nghiêm khắc bằng hình phạt
Việc áp dụng các biện pháp hình sự đôi khi chỉ mang tính chất phòng ngừa hoặc răn đe, hơn là trừng phạt người phạm tội (ví dụ: Bắt buộc chữa bệnh)
tư pháp hình sự tương ứng giai đoạn tố tụng hình sự áp dụng để hỗ trợ hình phạt (áp dụng các Điều 41, Điều 42, Điều 43,
Bộ luật Hình sự năm 1999 với tất cả những người phạm tội nói chung và Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 1999 với người phạm tội chưa thành niên)
Chỉ có Tòa án xét xử vụ án hình sự là cơ quan tiến hành tố tụng duy nhất có thẩm quyền áp dụng hình phạt với người bị kết án trên cơ sở bản án kết tội
bị hạn chế, chứ không phải tước bỏ hoàn toàn quyền lợi, cũng như tự do của mình Người phạm tội vẫn có quyền được sinh hoạt, sống và làm việc trong cộng đồng, cũng là một hình thức tái hòa nhập với cộng đồng
Việc áp dụng hình phạt với người phạm tội sẽ đưa đến
án tích của người bị kết án
và phải áp dụng hình phạt; ngoài việc bị hạn chế quyền, tự do thì người bị
áp dụng hình phạt còn có thể bị tước bỏ quyền và tự
do đó
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ Giáo trình luật hình sự; Bộ luật Hình
sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) và một số tài liệu tham khảo khác
Trang 251.2.2 Phân biệt biện pháp tƣ pháp hình sự với biện pháp cƣỡng chế hành chính
* Sự giống nhau:
- Điểm thứ nhất, biện pháp tư pháp hình sự và biện pháp cưỡng chế
hành chính đều là hai chế định quan trọng hệ thống pháp luật Việt Nam nhằm quản lý xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền, dân chủ, công bằng, văn minh Hai chế định này tuy có tính chất, vai trò khác nhau, nhưng đều có tác dụng nhất định, hỗ trợ lẫn nhau trong việc hoàn thiện pháp luật hình sự nói riêng, và góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung
- Điểm thứ hai, biện pháp tư pháp hình sự và biện pháp cưỡng chế
hành chính đều là các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, do Cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng theo một trình tự, thủ tục đặc biệt được pháp luật quy định, được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước, theo đúng thủ tục pháp lý và đảm bảo thực hiện một cách có hiệu quả
và đạt được mục đích đã đề ra Những trình tự này nhằm đảm bảo việc thực hiện các chế định nêu trên không bị rườm rà, cũng có thể giám sát thường trực và hạn chế tiêu cực không đáng có, góp phần tối giản hóa các trình tự, thủ tục của pháp luật tố tụng hình sự, thúc đẩy việc giải quyết vụ án hình sự hiệu quả
- Điểm thứ ba, việc áp dụng biện pháp tư pháp hình sự và các biện
pháp cưỡng chế hành chính đều dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi nhất định đối với người bị áp dụng ở các mức độ khác nhau Bản thân người phạm tội phải chịu sự trừng phạt của pháp luật bằng các chế tài pháp lý (hình phạt và các biện pháp cưỡng chế khác - hình sự, hành chính, dân sự…) đồng thời nhằm răn đe cộng đồng tránh việc phạm tội hoặc tái phạm tội của người đã từng bị kết án
Trang 26cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể áp dụng đối với người phạm tội nhằm hạn chế quyền, tự do của người đó hoặc hỗ trợ hay thay tế cho hình phạt
Còn các biện pháp cưỡng chế hành chính là một dạng cưỡng chế nhà nước, tổng hợp các biện pháp mà Nhà nước (thông qua Cơ quan nhà nước,
cá nhân có thẩm quyền) áp dụng để tác động lên tâm lý, tư tưởng, tình cảm
và hành vi của công dân, nhân viên nhà nước, người có chức vụ, tác động tới hoạt động, hành vi của cơ quan, tổ chức nhà nước, xã hội, tổ chức kinh tế
để buộc họ thực hiện các nghĩa vụ pháp
lý nhằm mục đích ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật, đảm bảo pháp chế, trật tự trong quản lý hành chính nhà nước và xử lý trách nhiệm
sự áp dụng với người phạm tội, mang tính răn đe, trừng phạt nhưng không nghiêm khắc bằng hình phạt
Cưỡng chế hành chính là sự cưỡng bức, bắt buộc công dân, hay tổ chức nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh
tế phải thực hiện các nghĩa vụ pháp lý được quy định bởi pháp luật hành chính và nằm ngoài phạm vi nội bộ của cơ quan, ngành
Cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính và cá nhân hay tổ chức
Trang 27để hỗ trợ hình phạt (áp dụng các Điều 41, Điều 42, Điều 43,
Bộ luật Hình sự năm 1999 với tất cả những người phạm tội nói chung và Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 1999 với người phạm tội chưa thành niên)
bị áp dụng cưỡng chế không nằm trong quan hệ trực thuộc trên dưới về
tổ chức mà chỉ có quan hệ kiểm tra, giám sát
Những người, cơ quan có thẩm quyền được áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính được quy định cụ thể tại Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (2002)
Về hậu quả
pháp lý
Việc áp dụng các biện pháp tư pháp hình sự, người bị áp dụng nếu như chỉ áp dụng biện pháp
tư pháp hình sự riêng rẽ (áp dụng độc lập không kèm theo hình phạt) thì người phạm tội không bị coi là có án tích;
ngoài ra, người đó chỉ bị hạn chế, chứ không phải tước bỏ hoàn toàn quyền lợi, cũng như
tự do của mình
Cưỡng chế hành chính nhằm phòng ngừa, ngăn chặn những vi phạm pháp luật, trừng phạt người vi phạm theo trình tự xử lý hành chính nhằm đảm bảo trật tự trong các trường hợp khẩn cấp khi chưa xảy ra vi phạm pháp luật,
vì thế mà hậu quả không nặng nề như việc áp dụng các biện pháp hình sự
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ Giáo trình luật hình sự; Bộ luật Hình
sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) và một số tài liệu tham khảo khác
1.3 QUY ĐỊNH VỀ CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP TRONG LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC
Nghiên cứu luật hình sự nước ngoài cho thấy ít có nước nào chỉ thiết lập riêng hoặc là hệ thống các hình phạt hoặc là hệ thống các biện pháp cưỡng chế khác trong Luật hình sự, mà phần lớn các nước chấp nhận sự song song tồn tại hai hệ thống các biện pháp cưỡng chế hình sự: Hình phạt và biện pháp cưỡng chế hình sự khác
Trang 28Việc quy định đồng thời hai hệ thống các biện pháp cưỡng chế hình sự trong pháp luật hình sự là do chính sách hình sự của mỗi nước quyết định Tuy nhiên, Luật hình sự ở những ngước có quy định biện pháp cưỡng chế hình sự khác không phải là hình phạt thì tên gọi của nó cũng rất khác nhau Chẳng hạn như, Bộ luật Hình sự của Cộng hòa Liên bang Đức quy định từ Điều 61 đến Điều 72 về các "biện pháp cải tạo và an ninh", Bộ luật Hình sự
1995 của Tây Ban Nha quy định các biện pháp này với tên gọi "Các biện pháp
an ninh" trong phần IV quyển I; Luật hình sự của Pháp cũng quy định các biện pháp này với tên gọi là "biện pháp an ninh" Chính quyền Sài Gòn cũ đưa các biện pháp này vào Chương II, Bộ luật Hình sự năm 1972 với tên gọi
"các biện pháp phòng vệ" Trong khi đó, tại Bộ luật Hình sự năm 1999 của Việt Nam lại đặt tên các biện pháp cưỡng chế hình sự khác là "Các biện pháp
tư pháp"
Trong luật hình sự Việt Nam, việc song song hai hệ thống biện pháp cưỡng chế hình sự (hình phạt và các biện pháp tư pháp) là sự biểu hiện tổng hợp sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm Sự hiện diện của các biện pháp cưỡng chế hình sự khác trong Luật hình
sự có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách hình sự của nhà nước
về tội phạm và trách nhiệm hình sự Đồng thời, sự có mặt của các biện pháp
tư pháp trong luật hình sự cũng chỉ rõ một thực tế là hình phạt không phải là phương tiện duy nhất trong cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm Các cơ quan chức năng phải áp dụng đồng bộ các biện pháp khác nhau thì mới có khả năng ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng phạm tội ra khỏi đời sống xã hội
Trong khoa học luật hình sự nước ngài, biện pháp cưỡng chế hình sự khác được hiểu là "biện pháp tước hoặc hạn chế tự do, quyền hoặc là biện pháp về tài sản, chủ yếu có mục đích ngăn ngừa việc thực hiện tội phạm mới" hoặc là "những biện pháp cưỡng chế, không có màu sắc luân lý, áp dụng với các cá nhân nguy hiểm cho trật tự xã hội để phòng ngừa các tội phạm và tình
Trang 29trạng của họ có thể gây ra Trong các định nghĩa khoa học về các biện pháp cưỡng chế hình sự khác được quy định theo luật hình sự nêu trên, các học giả
đã dựa trên bản chất, đặc điểm và chức năng của các biện pháp này Tuy nhiên, tôi cho rằng nó vẫn chưa đầy đủ, chưa khái quát hết được các đặc điểm chủ yếu của loại biện pháp này, ví dụ như về chủ thể áp dụng, hiệu lực pháp luật và hiệu lực thi hành của nó
Nghiên cứu luật hình sự một số nước, tôi thấy các biện pháp cưỡng chế hình sự không phải là hình phạt được quy định rất đa dạng, có thể được phân chia thành ba nhóm lớn:
(1) Các biện pháp được áp dụng với những người có hành vi nguy
hiểm cho xã hội nhưng không cấu thành tội phạm: Ví dụ như biện pháp điều trị người bị nghiện rượu, nghiện ma túy; Trục xuất người nước ngoài, hoặc
bắt buộc chữa bệnh
(2) Các biện pháp áp dụng với người phạm tội, nhưng họ không phải
chịu hình phạt Ví dụ như những biện pháp giáo dục đối với người chưa thành niên phạm tội, đưa vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh đối với những người bị tâm
thần sau khi phạm tội
(3) Bao gồm rất nhiều các biện pháp cưỡng chế hình sự khác áp dụng
với những người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự như: Tước giấy phép lái xe, đóng cửa cơ sở sản xuất, kinh doanh; tịch thu tài sản; cấm cư trú; cấm
hành nghề hoặc làm công việc nhất định
Các biện pháp cưỡng chế hình sự không phải là hình phạt trong luật hình sự một số nước có mục đích là nhằm phòng ngừa tội phạm Biện pháp này dựa trên tình trạng nguy hiểm của cá nhân người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thể hiện, có nghĩa là người trong tình trạng đó có khả năng rất lớn thực hiện tội phạm trong tương lai Chính vì thế khi áp dụng biện pháp cưỡng chế hình sự khá, Tòa án không quan tâm đến quá khứ, đến lỗi của
Trang 30người bị áp dụng Các biện pháp cưỡng chế hình sự không phải là hình phạt được áp dụng nhằm biện pháp phòng ngừa bằng cách giáo dục, chữa trị những nguyên nhân làm lệch lạc về thể chất, tâm lý, xã hội làm cho người bị áp dụng không thể tái hòa nhập xã hội được Trong một số trường hợp, các biện pháp cưỡng chế khác được biểu hiện dưới dạng các biện pháp tước tự do hoặc hạn chế tự do, chẳng hạn như đưa vào cơ sở chữa bệnh, các biện pháp đưa người chưa thành niên vào cơ sở giáo dục Nhưng ở đây cần phải hiểu là đối lập với hình phạt, các biện pháp nêu trên được áp dụng với các cá nhân nguy hiểm không phải là trừng trị và cũng không phải là cái giá mà người bị áp dụng phải trả với xã hội, không phải là sự lên án của xã hội đối với hành vi và đối với người bị áp dụng biện pháp đó mà là nhằm tới mục đích phòng ngừa, bảo vệ xã hội thông qua việc tái hòa nhập xã hội của người bị áp dụng Tuy nhiên, vì nhiều biện pháp cưỡng chế hình sự khác có tính chất tước đoạt hoặc hạn chế tự do hoặc về tài sản, tức là có động chạm đến quyền, lợi ích thiết thân của người bị áp dụng, nên khi áp dụng các biện pháp này cần tuân thù những quy định về trình tự, thủ tục tố tụng nghiêm ngặt, nhằm tránh tối đa sự khó chịu, gây tổn hại cho quyền và lợi ích của người bị áp dụng dẫn đến nguy cơ cản trở quá trình tái hòa nhập cộng đồng của họ Đặc biệt đối với người phạm tội
mà biện pháp cưỡng chế khác được áp dụng bên cạnh hình phạt thì theo chế
độ thi hành biện pháp cưỡng chế hình sự này cần được tổ chức theo cách mà cá nhân đó không có cảm giác là bị trừng phạt vì tội phạm mà họ đã thực hiện
Về thời hạn chấp hình biện pháp cưỡng chế hình sự không phải là hình phạt có thể là rất ngặt nghèo và không có thời hạn nhất định Tuy nhiên các biện pháp này có thể được xem xét lại, tùy thuộc vào sự tiến triển của tình trạng thể và tâm lý, tâm thần của người bị áp dụng, ví dụ đối với biện pháp bắt buộc chữa bệnh áp dụng với người không có năng lực trách nhiệm hình sự
do mắc bệnh tâm thần hoặc các biện pháp áp dụng với người chưa thành niên phạm tội
Trang 31Mặc dù biện pháp tư pháp hình sự chưa phải là biện pháp cưỡng chế hình sự nghiêm khắc nhất, nhưng lại có tác động rất lớn trong việc ngăn ngừa tội phạm, xử lý các trường hợp phạm tội đặc biệt: chưa thành niên, hành vi phạm tội nhưng chưa đến mức phải chịu hình phạt
Việc nghiên cứu các biện pháp tư pháp hình sự trên khía cạnh lý luận giúp cho chúng ta có thể hiểu rõ hơn nguồn gốc, đặc điểm cũng như vai trò quan trọng của các biện pháp này
Mặc dù vậy, những hạn chế về mặt lý luận hiện nay, cũng là những trở ngại trong việc áp dụng và thi hành các biện pháp tư pháp hình sự, khiến cho việc đấu tranh, phòng và chống tội phạm còn chưa đạt hiệu quả cao Thế nên,
để hoàn thiện các biện pháp tư pháp hình sự, chúng ta cần xem xét trên khía cạnh áp dụng và thi hành các biện pháp nêu trên
Trang 32án nhân dân tối cao gửi Tòa án các địa phương hướng dẫn:
Cần phân biệt những đồ vật là tài sản của người can án là Tòa án xét xử tịch thu theo yêu cầu của pháp luật với những đồ vật
là tài sản của người can án mà Tòa án tịch biên để đảm bảo việc chấp hành khoản bồi thường những thiệt hại mà người can án gây nên trong khi phạm tội Việc tịch thu các phương tiện dùng để phạm tội là một biện pháp tư pháp bắt buộc, và việc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản của người can án (về tội phản cách mạng
và một số tội phạm về kinh tế) là một hình phạt phụ Việc tịch biên một số đồ vật của người bị kết án để bồi thường thiệt hại là một biện pháp bảo đảm việc chấp hành quyết định về dân sự trong bản
Trang 33đọa trụy lạc đã được gia đình, đoàn thể, nhà trường và chính quyền tận tình giúp đỡ nhiều lần, nhưng không chịu sửa chữa sẽ bị đưa vào trường phổ thông công nông nghiệp trong thời gian 02 năm Đây là những trường giáo dục thanh thiếu niên hư
Những quy định ban đầu này chỉ mang tính chất rời rạc, hướng dẫn khá sơ sài, chưa xác định được loại tài sản trực tiếp liên quan đến tội phạm là
gì, và cách xử lý cụ thể với từng loại ra sao; cũng như việc các định thế nào là người phạm tội vị thành niên Việc áp dụng những hướng dẫn này đương nhiên cũng không thể chi tiết cụ thể được Do đó, ban đầu, việc quy định các biện pháp tư pháp hình sự trong luật hình sự nêu trên, đã có sự ghi nhận, nhưng chưa đầy đủ, rõ ràng
2.1.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999
Bộ luật Hình sự 1985 ghi nhận cả biện pháp tư pháp hình sự chung và biện pháp tư pháp hình sự riêng, trong đó biện pháp tư pháp hình sự chung bao gồm: "Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm"; "Buộc trả lại tài sản và công khai xin lỗi"; "Bắt buộc chữa bệnh" được ghi nhận trước hết
Thêm vào đó, còn có những quy định về "cải tạo không giam giữ và cải tạo tại đơn vị" áp dụng đối với quân nhân phạm tội (Nghị quyết 95/HĐBT ngày 25/7/1989)
Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế với người chưa thành niên cũng được ghi nhận trong Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định là biện pháp "buộc phải chịu thử thách", song chưa thể hiện được đầy đủ bản chất và chính xác, phù hợp nhất với các văn bản pháp luật và thực tiễn áp dụng Theo đó, các biện pháp
tư pháp hình sự đối với người chưa thành niên tại Bộ luật Hình sự 1985 gồm:
- Biện pháp buộc phải chịu thử thách;
- Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
Trang 342.2 CÁC BIỆN PHÁP TƢ PHÁP TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 2.2.1 Các biện pháp tƣ pháp chung
* Khái niệm và phân loại các biện pháp tư pháp chung
- Khái niệm: Các biện pháp tư pháp hình sự (chung) áp dụng với người phạm tội là những biện pháp cưỡng chế về hình sự của Nhà nước ít nghiêm khắc hơn hình phạt, do Bộ luật Hình sự quy định và được Tòa án áp dụng khi xét xử nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân
người phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm
- Phân loại: Các biện pháp tư pháp hình sự chung được áp dụng với những người phạm tội (cả người đã thành niên và người chưa thành niên phạm tội) với mục đích trừng phạt, cải tạo và ngăn ngừa
Biện pháp tư pháp hình sự chung gồm có 4 biện pháp tư pháp hình sự
được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009):
(1) Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm;
(2) Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại;
(3) Buộc công khai xin lỗi;
(4) Bắt buộc chữa bệnh
* Điều kiện áp dụng các biện pháp tư pháp trong Bộ luật Hình sự năm
1999
Biện pháp tư pháp "Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm"
Vật và tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm là vật hoặc tiền là công cụ, phương tiện dùng và việc thực hiện tội phạm hoặc thông qua việc thực hiện tội phạm mà có, hoặc do mua bán đổi chác những thứ ấy mà có hoặc là vật Nhà nước cấm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán [30, tr 195]
Trang 35Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định:
Điều 41 Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm
1 Việc tịch thu, sung quỹ nhà nước được áp dụng đối với: a) Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội;
b) Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có;
c) Vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành
2 Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp
3 Vật, tiền thuộc tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, thì có thể bị tịch thu, sung quỹ nhà nước [22]
Biện pháp tư pháp hình sự "Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến
tội phạm" được áp dụng trong suốt quá trình xử lý vụ án từ giai đoạn điều tra,
truy tố, xét xử và thi hành án
Trong pháp luật thực định, việc áp dụng biện pháp này được quy định trong Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999: Giai đoạn đầu, những vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm được các cơ quan tiến hành tố tụng xác định sẽ bị tịch thu, kê biên; đến khi đưa ra xét xử vụ án, việc xử lý với các vật, tiền này mới thực sự được quyết định
Về thẩm quyền áp dụng: Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền áp dụng biện pháp "Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm" là Tòa án xét xử vụ việc đó Khi đưa vụ án ra xét xử, ngoài việc quyết định hình phạt với người phạm tội, Tòa án còn phải xử lý vật chứng, tài sản, tiền bạc mà cơ quan tiến hành tố tụng trước đó đã thu giữ, kê biên
Trang 36Trong đó:
Việc tịch thu sung quỹ Nhà nước được thực hiện với:
- Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội: Để xác định rằng đâu
là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, trong quá trình xét xử, Tòa
án phải xem xét các chứng cứ có liên quan đến vật, tiền này một cách thận trọng, kỹ lưỡng và hoàn toàn khách quan Ví dụ: Khi một người sử dụng xe máy để vận chuyển hàng quốc cấm, thì chiếc xe máy là phương tiện dùng để phạm tội Nhưng đối với những phương tiện, công cụ mà không xác định được là có được dùng vào việc phạm tội hay không, thì không được áp dụng biện pháp này
- Vật hoặc tiền do tội phạm, hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy
mà có: Việc xác định vật, tiền trong khi áp dụng "Tịch thu sung công quỹ" có
ý nghĩa hết sức quan trọng, cụ thể là: Đối với vật, tiền mà người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng không trái phép thì mới được phép sung công quỹ
Ví dụ: A ăn trộm tiền bạc của rất nhiều nhà trong làng, sau khi cơ quan tiến hành tố tụng xử lý vụ án, còn dư một số tiền 500.000 VNĐ không xác định được của ai, số tiền này sẽ được tịch thu, sung công quỹ Đối với vật, tiền mà người phạm tội có do sử dụng hợp pháp thì tùy vào từng trường hợp mà xem xét để tịch thu sung công quỹ hoặc trả lại cho chủ sở hữu của vật, tiền Trong trường hợp người chủ sở hữu, hoặc người đang quản lý tài sản mà có lỗi trong việc để người phạm tội sử dụng vào việc phạm tội thì có thể bị tịch thu tài sản
đó Ví dụ: A mượn xe của B để chở hàng cấm đi bán, chiếc xe máy này B vẫn thường dùng để đi làm, B cho A mượn nhưng không hề biết A để vận chuyển hàng cấm thì chiếc xe máy sẽ được xem xét trả lại cho B; nhưng nếu B biết
mà vẫn cho A mượn thì chiếc xe sẽ bị tịch thu; B có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự (trong vai trò người giúp sức)
Trang 37- Vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành: Người phạm tội khi kinh
doanh, vận chuyển các loại hàng cấm (được quy định trong Nghị định số 11/1999/NĐ-CP của Chính phủ về danh mục hàng hóa cấm lưu thông, dịch vụ thương mại cấm thực hiện; hàng hóa thương mại dịch vụ hạn chế kinh doanh, kinh doanh có điều kiện) thì những vật đó sẽ bị tịch thu sung công quỹ Ví dụ:
A mang pháo từ Trung Quốc về Việt Nam để bán trong những ngày tết Nguyên đán, trên đường vận chuyển bị phát hiện; số pháo nêu trên thuộc danh mục hàng hóa bị cấm lưu hành, kinh doanh nên sẽ bị tịch thu sung công quỹ
- Trong một số trường hợp thì tài sản được trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, cụ thể là, đối với: vật hoặc tiền bị người chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép vào việc phạm tội Ví dụ: A ăn trộm chiếc xe đạp của B
và dùng để đánh bạc; trong khi đang đánh bạc thì bị bắt, chiếc xe đạp bị cơ quan công an tạm giữ Khi xử lý vụ án, chiếc xe đạp của A sẽ được xem xét
họ đã gây ra thiệt hại vật chất hoặc tinh thần cho người bị hại [30, tr 196]
Buộc công khai xin lỗi là biện pháp tư pháp được quy định trong Bộ luật Hình sự, do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội gây thiệt hại về tinh thần nhằm khôi phục những giá trị tinh thần cho người bị hại và giáo dục, cải tạo người phạm tội [30, tr 197]
Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định:
Điều 42 Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi
Trang 381 Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra
2 Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa
án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại [22]
Biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi" được áp dụng trong quá trình xử lý vụ án, cụ thể là giai đoạn xét xử vụ án; và thẩm quyền là Tòa án đang xét xử vụ việc
Việc quy định biện pháp này trong Bộ luật Hình sự, được hiểu là: Người phạm tội bị áp dụng biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi" có nghĩa vụ thực hiện:
- Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại: Theo quy định tại Điều 42 Bộ luật Hình sự 1999 thì người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu, hoặc người đang quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất do hành vi phạm tội gây ra Các thiệt hại về mặt vật chất có thể tính ra bằng tiền, cụ thể là đối với tài sản là vật, tiền có giá trị
và giá trị sử dụng cụ thể Tòa án chỉ có thể buộc người phạm tội thực hiện việc này trên cơ sở xác định về tài sản, lỗi của người chiếm đoạt và phần trăm thiệt hại (nếu có) của tài sản Nếu tài sản còn nguyên giá trị như khi bị chiếm đoạt, thì người phạm tội phải trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp; trong trường hợp tài sản đã bị thiệt hại, hư hại thì người đó phải sửa chữa hoặc bồi thường bằng vật, tiền có giá trị tương xứng
Trong trường hợp người phạm tội có xâm hại về tinh thần (không phải những yếu tố kể trên) mà về tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm của người khác, thì việc áp dụng bồi thường được thực hiện nhưng trên cơ sở bồi
Trang 39thường tình thần Cụ thể được quy định trong Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn
áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Thực chất, việc bồi thường này không nhằm vào khắc phục các tổn thất về mặt tinh thần, thể chất mà để nhằm bù đắp các tổn thất vật chất kèm theo như tiền mai tang, tiền chữa trị vết thương, các khoản thu nhập bị mất trong quá trình bị thương; chi phí cho mai tang, chạy chữa… thì người phạm tội sẽ bồi thường cho người bị hại hoặc đại diện của người bị hại
- Buộc công khai xin lỗi: Đối với trường hợp người bị hại bị xâm hại
về mặt tinh thần, thì ngoài việc áp dụng "Bồi thường thiệt hại về mặt tinh thần" như đã phân tích ở trên, Bộ luật Hình sự cho phép Tòa án áp dụng cả hai biện pháp tư pháp bồi thường thiệt hại và buộc công khai xin lỗi người bị hại Người bị thiệt hại về tinh thần được khôi phục lại những giá trị tinh thần thông qua việc Tòa án nhân dân Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam buộc người phạm tội công khai xin lỗi họ Biện pháp tư pháp này không chỉ có tác dụng giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành công dân có ích mà còn giúp xã hội biết tôn trọng giá trị đời sống tinh thần Việc áp dụng công khai xin lỗi thường được đi kèm với bồi thường thiệt hại để đạt được kết quả cao nhất
Biện pháp tư pháp "Bắt buộc chữa bệnh":
Bắt buộc chữa bệnh là biện pháp tư pháp được Bộ luật Hình sự quy định, do tòa án hoặc viện kiểm soát áp dụng đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm cho mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình
Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh như sau:
Điều 43: Bắt buộc chữa bệnh:
Trang 40Đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh quy định tại khoản 1 Điều 13 của Bộ luật này, thì tùy theo giai đoạn tố tụng, Viện kiểm sát hoặc Tòa án căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh; nếu thấy không cần thiết phải đưa vào một cơ sở điều trị chuyên khoa, thì có thể giao cho gia đình hoặc người giám hộ trông nom dưới sự giám sát của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền
2 Đối với người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn
cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự
3 Đối với người đang chấp hành hình phạt mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, Tòa
án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh Sau khi khỏi bệnh, người đó phải tiếp tục chấp hành hình phạt, nếu không có lý do khác để miễn chấp hành hình phạt
Điều 44 Thời gian bắt buộc chữa bệnh Căn cứ vào kết luận của cơ sở điều trị, nếu người bị bắt buộc chữa bệnh quy định tại Điều 43 của Bộ luật này đã khỏi bệnh, thì tùy theo giai đoạn tố tụng, Viện kiểm sát hoặc Tòa án xét và quyết định đình chỉ việc thi hành biện pháp này