Một số phương hướng cơ bản trong việc hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền chính trị, dân sự của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay .... Tính cấp thiết của đề tài Quyền của các d
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NÔNG THỊ KIỀU DIỄM
HOµN THIÖN PH¸P LUËT VÒ §¶M B¶O QUYÒN CñA C¸C D¢N TéC THIÓU Sè ë VIÖT NAM HIÖN NAY
Chuyên ngành: Pháp luật về Quyền con người
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN DUY SƠN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nông Thị Kiều Diễm
Trang 3MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt trong luận văn
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ 6
1.1 QUAN NIỆM VỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ 6
1.1.1 Khái niệm dân tộc 6
1.1.2 Quan niệm về dân tộc thiểu số của cộng đồng quốc tế 9
1.1.3 Đặc trưng cơ bản của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam 12
1.2 VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ 14
1.3 PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ 17
1.4 PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ 22
Chương 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI 32
2.1 MỘT SỐ THÀNH TỰU CƠ BẢN TRONG XÂY DỰNG VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI 32
2.1.1 Thành tựu trong đảm bảo một số quyền dân sự, chính trị 32
2.1.2 Thành tựu trong đảm bảo một số quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 41 2.2 HẠN CHẾ TRONG XÂY DỰNG VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT
VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở
Trang 42.2.1 Hạn chế trong việc xây dựng và thực thi pháp luật về một số
quyền chính trị, dân sự 60 2.2.2 Hạn chế trong việc xây dựng và thực thi pháp luật về một số
quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 66 2.3 NGUYÊN NHÂN CỦA HẠN CHẾ TRONG VIỆC XÂY
DỰNG VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ THỜI KỲ ĐỔI MỚI 77 2.3.1 Nguyên nhân khách quan 77 2.3.2 Nguyên nhân chủ quan 77
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 83
3.1 DỰ BÁO MỘT SỐ XU HƯỚNG TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 83 3.1.1 Nghĩa vụ thực hiện các điều ước quốc tế về nhân quyền của Việt
Nam, trong đó có Công ước quốc tế về loại trừ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (1965) ngày càng minh bạch, cụ thể hơn 83 3.1.2 Yêu cầu cao hơn đối với quốc gia đang phát triển có mức thu
nhập trung bình trong việc bảo đảm quyền cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là quyền của các nhóm thiểu số về dân tộc, ngôn ngữ hay tôn giáo 84 3.1.3 Khoảng cách giàu, nghèo, tình trạng bất bình đẳng giữa các
nhóm xã hội, giữa vùng đồng bằng, đô thị với vùng sâu, vùng xa đang đặt ra nhiều thách thức cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo đảm quyền của đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay 85 3.2 MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG CƠ BẢN TRONG VIỆC XÂY
DỰNG VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN
Trang 53.2.1 Một số phương hướng cơ bản trong việc hoàn thiện pháp luật
về đảm bảo quyền chính trị, dân sự của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay 87 3.2.2 Một số phương hướng cơ bản hoàn thiện pháp luật về đảm bảo
quyền kinh tế, văn hóa, xã hội của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay 92 3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM 100 3.3.1 Đổi mới công tác xây dựng và thi hành các văn bản pháp luật về
đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số trong tình hình mới 100 3.3.2 Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, cán bộ, công chức nhà
nước từ trung ương đến địa phương trong việc xây dựng và thực thi các văn bản pháp luật đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số 103 3.3.3 Tập trung phát triển nguồn nhân lực phục vụ quá trình xây dựng
và thực thi pháp luật về đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số 104 3.3.4 Phân bổ nguồn kinh phí hợp lý cho quá trình xây dựng và thực
thi pháp luật đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số 105
KẾT LUẬN 107 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNXH: Chủ nghĩa xã hội DTTS : Dân tộc thiểu số HĐND: Hội đồng nhân dân UBND: Ủy ban nhân dân XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền của các dân tộc thiểu số thuộc quyền của nhóm xã hội dễ bị tổn thương được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế quan trọng, như: Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (1948); Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (1966); Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội
và văn hóa (1966); Tuyên ngôn về bảo vệ quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ (1992)
Theo Hiến pháp Việt Nam, tất cả các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đều có các quyền bình đẳng về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội và văn hóa, như: quyền bầu cử, ứng cử, quyền tham gia công việc quản lý nhà nước; quyền được tiếp cận với giáo dục; quyền được chăm sóc sức khỏe; quyền có mức sống thích đáng; quyền có việc làm, quyền được tham gia vào đời sống văn hóa v.v các quyền này là phù hợp và tương thích với Luật Nhân quyền quốc tế
Là một quốc gia đa dân tộc, Việt Nam có 54 dân tộc cùng nhau chung sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số với tỷ lệ 85,7%, còn lại 53 dân tộc thiểu số với tỷ lệ 14,3% (hơn 12 triệu người) Có một số dân tộc thiểu số trên
1 triệu người, như: Tay, Thái Song cũng có những dân tộc thiểu số rất ít người, như: Pu Péo, Ơ Đu, Si La, Rơmăm, Cống, Bố Y, Mảng, Cờ Lao, La
Hù, Chứt, Lô Lô Các DTTS Việt Nam sống tập trung chủ yếu tại vùng cao, miền núi, biên giới là những nơi đi lại khó khăn, bị chia cắt, kinh tế - xã hội còn chậm phát triển, đời sống vật chất và tinh thần còn thiếu thốn Mặt khác, địa hình sinh sống của đồng bào DTTS lại là những nơi cơ yếu về mặt chủ quyền quốc gia, nên trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng xây dựng hệ thống các văn bản pháp luật nhằm tạo cơ sở pháp lý bền vững, nhằm đảm bảo
Trang 8ổn định chính trị, xã hội vùng đồng bào DTTS Trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ về bảo đảm quyền con người của các DTTS trên cả lĩnh vực chính trị, dân sự cũng như lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa Tuy nhiên, việc đảm bảo quyền của các DTTS ở Việt Nam hiện nay vẫn nổi lên những thách thức như: hệ thống pháp luật còn chồng chéo, chưa thống nhất; năng lực thực thi pháp luật của đội ngũ cán bộ, nhất là
ở vùng DTTS còn bất cập; trình độ dân trí, ý thức pháp luật của người DTTS còn hạn chế Bên cạnh đó, một số thế lực thù địch lợi dụng tình hình khó khăn, sự chưa hoàn thiện của hệ thống pháp luật để tuyên truyền, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định chính trị xã hội ở vùng đồng bào DTTS
Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài "Hoàn thiện pháp luật về đảm bảo
quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay" làm luận văn thạc sĩ
Thông qua nghiên cứu lý luận, đánh giá thực tiễn quá trình xây dựng và thực thi pháp luật về đảm bảo quyền của các DTTS ở Việt Nam hiện nay, luận văn
đề xuất phương hướng và giải pháp sửa đổi, bổ sung hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo tốt hơn quyền của các DTTS ở Việt Nam hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ lâu vấn đề DTTS luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, thể hiện ở việc được ghi nhận ở nhiều văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước
Sự quan tâm không chỉ dừng lại ở những quy định mà còn cụ thể hóa ở hầu khắp các lĩnh vực của đời sống đồng bào DTTS Chính vì vậy đề tài nghiên cứu chủ yếu dựa vào hệ thống văn bản pháp luật và những chương trình, chính sách bảo đảm quyền của các DTTS, những báo cáo về thực thi pháp luật, cũng như kết quả của công tác điều tra thực tiễn, tổng hợp, thống kê về việc thực hiện những văn bản, để từ đó đưa ra những đánh giá về tính hiệu quả cũng như những bất cập cần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện của những văn bản pháp luật, chính sách đó
Ngoài ra tác giả còn sử dụng một số nghiên cứu như: Một số vấn đề về
người thiểu số trong Luật Quốc tế, Vũ Công Giao, Hà Nội, 2001; Luật Quốc
Trang 9tế về quyền của nhóm xã hội dễ bị tổn thương, Nxb Lao động - Xã hội, Hà
Nội, 2010; Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con
người (Phần Các dân tộc thiểu số) tại http://www.mofa.gov.vn/vi/.; Bình đẳng dân tộc ở nước ta hiện nay, Trịnh Quốc Tuấn (Chủ biên), Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1996; Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân
tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, Hoàng Chí Bảo (Chủ
biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009; Thực hiện chính sách dân tộc
của Đảng ở miền Trung, Tây Nguyên trong thời kỳ đổi mới, Trương Minh
Dục, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009; Phát triển nguồn cán bộ dân tộc
thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Lô Quốc Toản, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010
Kết quả những công trình nghiên cứu nói trên được sử dụng làm tài liệu tham khảo bổ ích của luận văn này Tuy nhiên, các công trình nêu trên chưa thực sự nghiên cứu toàn diện pháp luật về đảm bảo quyền của các DTTS ở Việt Nam trên cả lĩnh vực chính trị, dân sự cũng như lĩnh vực kinh tế, xã hội
và văn hóa Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Hoàn thiện pháp luật về đảm
bảo quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay" là sự cần thiết
trong bối cảnh hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Nghiên cứu tổng quát về quan điểm của Nhà nước, pháp luật Việt Nam
về vấn đề DTTS Đánh giá tình hình ban hành, thực hiện, thi hành, giám sát các văn bản pháp luật và chính sách về việc bảo vệ, thúc đẩy các quyền cơ bản của các DTTS, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới Đánh giá tính phù hợp và những hạn chế những văn bản pháp luật, chính sách để từ đó đưa ra giải pháp
để sửa đổi, bổ sung luật pháp nhằm đảm bảo tốt hơn các quyền của nhóm người này ở Việt Nam, góp phần cho việc xây dựng khối đại đoàn kết các dân
Trang 10- Đánh giá thực trạng những quy định pháp luật ở Việt Nam hiện hành
về các vấn đề DTTS Từ đó đưa ra những điểm phù hợp và chưa phù hợp, trên
cơ sở đó rút ra nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm của những bất cập trong việc ghi nhận, đảm bảo và thúc đẩy quyền của các DTTS ở Việt Nam
- Dự báo một số xu hướng tác động đến việc đảm quyền của các DTTS trong thời gian tới, kiến nghị, đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của các DTTS ở Việt Nam trong thời gian tới
4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của luận văn là Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam và quan điểm của Liên hợp quốc về đảm bảo quyền của các DTTS
- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phân tích - tổng hợp,
xã hội học, so sánh, đánh giá, logic và lịch sử để làm sáng tỏ những vấn đề liên quan Luận văn cũng khai thác thông tin tư liệu của các công trình nghiên cứu đã công bố để chứng minh cho các luận điểm
5 Những nét mới của luận văn
- Đánh giá, phân tích các quyền cơ bản mà các DTTS ở Việt Nam được hưởng, như: quyền bầu cử, ứng cử, quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý
xã hội, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền bình đẳng trước pháp luật;
Trang 11quyền được chăm sóc sức khỏe , từ đó đưa ra những nhận định, góp phần làm rõ về tính tích cực, hiệu quả, phù hợp và những tồn tại, thiếu sót, khó khăn trong việc xây dựng, thực thi pháp luật Việt Nam trong việc đảm bảo quyền của các DTTS hiện nay
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và chính sách
về đảm bảo một số quyền cơ bản của các DTTS ở Việt Nam hiện nay, luận văn lý giải nguyên nhân chủ quan và khách quan của những yếu kém, tồn tại, qua đó mạnh dạn kiến nghị về phương hướng và giải pháp để khắc phục, nhằm hoàn thiện pháp luật, chính sách về đảm bảo bảo các quyền cơ bản của các DTTS ở Việt Nam thời gian tới
6 Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần cung cấp những tri thức khoa học cơ bản mang tính lý luận và thực tiễn về quyền của các DTTS Giúp nâng cao nhận thức toàn diện về pháp luật Quốc tế và quá trình xây dựng và thực thi pháp luật Việt Nam đảm bảo quyền của các DTTS
Kết quả của Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy Đồng thời góp phần nâng cao nhận thức, xây dựng cơ
sở lý luận, pháp lý cho các nhà hoạch định luật pháp, chính sách về quyền của các DTTS ở Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở pháp lý về quyền của các dân tộc thiểu số
Chương 2: Thực trạng xây dựng và thực thi pháp luật về đảm bảo
quyền của các DTTS ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Phương hướng và giải pháp cơ bản hoàn thiện pháp luật về
đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1 QUAN NIỆM VỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1.1 Khái niệm dân tộc
Dân tộc là một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người Trước khi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua trải qua các hình thái cộng đồng đồng từ thấp đến cao như bộ lạc, bộ tộc Dân tộc là loại hình của cộng đồng người xã hội hiện đại (xã hội tư bản, XHCN) Theo các nhà Mác - xít, Dân tộc
là một cộng đồng người hình thành từ các bộ lạc, mà liên minh bộ lạc là bước khởi đầu Dân tộc ra đời cùng với sự xuất hiện của nhà nước Theo đó, rõ ràng
có nhiều loại dân tộc: dân tộc Chiếm nô, dân tộc Phong kiến, dân tộc Tư bản, dân tộc Xã hội chủ nghĩa Theo cách hiểu về Dân tộc tư bản chủ nghĩa của J.V Stalin: Dân tộc là khối cộng đồng người ổn định, hình thành trong lịch
sử, dựa trên cơ sở cộng đồng về tiếng nói, về lãnh thổ, về sinh hoạt kinh tế và
về hình thành tâm lý, biểu hiện trong cộng đồng về văn hóa [14]
Cho đến nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất và cũng thường xuyên có sự lẫn lộn, đó là dân tộc (Nation/Quốc gia) và dân tộc (Ethnie/Tộc người) Tuy nhiên, có thể lý giải hai khái niệm này như sau:
Nghĩa thứ nhất: Dân tộc (Nation/Quốc gia) là một cộng đồng chính trị -
xã hội, được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định,
có một tên gọi, một ngôn ngữ hành chính (trừ trường hợp cá biệt), một sinh hoạt kinh tế chung, với những biểu tượng văn hóa chung, tạo nên một tính cách dân tộc
Nghĩa thứ hai: Dân tộc (Ethnie/Tộc người) là một cộng đồng mang tính
tộc người, có chung một tên gọi, một ngôn ngữ, được liên kết với nhau bằng
Trang 13những giá trị sinh hoạt văn hóa tạo thành một tính cách tộc người, có chung một ý thức tự giác tộc người, tức là chung một khát vọng cùng chung sống, có chung một số phận thể hiện ở những ký ức lịch sử Một tộc người không nhất thiết phải có cùng một lãnh thổ, một cộng đồng sinh hoạt kinh tế, có thể ở các quốc gia dân tộc khác nhau [14]
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, Khái niệm dân tộc (Nation- Ethnie) [41] được định nghĩa như sau:
+ Dân tộc (nation) hay quốc gia dân tộc là cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu do do sự tập hợp của nhiều bộ lạc liên minh, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc người (ethnie) của bộ phận tộc người Tính chất của dân tộc phụ thuộc vào những phương thức sản xuất khác nhau Bước vào giai đoạn công nghiệp rõ rệt nhất là ở các nước phương Tây, do yêu cầu xóa bỏ tính cát cứ của các lãnh địa trong một dân tộc nhằm tạo ra một thị trường thống nhất, nên cộng đồng dân tộc được kết cấu chặt chẽ hơn Kết cấu của cộng đồng dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, văn hóa trong khu vực và bản thân
+ Dân tộc (Ethnie) còn đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc người,
ví dụ dân tộc Tày, dân tộc Bana, Mường, Thái, H'Mông… Các cộng đồng này
có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc (nation) sinh sống ở nhiều quốc gia dân tộc khác nhau được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa và nhất là ý thức tự giác tộc người
Theo định nghĩa này, Việt Nam vừa là dân tộc mang hàm nghĩa quốc gia - dân tộc vừa là một quốc gia kết hợp của nhiều tộc người Hay nói cách khác Dân tộc Việt Nam là quốc gia bao gồm nhiều dân tôc/tộc người hợp lại
Để hiểu rõ hơn về dân tộc - tộc người, cộng đồng quốc tế đã thừa nhận rộng rãi 5 tiêu chí sau để xác định thế nào là dân tộc (ethnic) [11]:
Trang 14- Có cùng tiếng mẹ đẻ (có ngôn ngữ tộc người thống nhất);
- Có chung các đặc điểm văn hóa,
- Có cùng ý thức dân tộc hay là tự giác dân tộc
Ở Việt Nam, tiêu chí xác định dân tộc bắt đầu được đề cập từ 1960 Năm 1973 tại Hà Nội đã tiến hành hai cuộc Hội thảo khoa học (vào tháng 6
và tháng 11) Các hội thảo đã thống nhất lấy dân tộc (tộc người) làm đơn vị
cơ bản trong xác định thành phần dân tộc ở Việt Nam Ba tiêu chí để xác định dân tộc/tộc người, được thống nhất sử dụng:
- Có tiếng nói chung (ngôn ngữ mẹ đẻ),
- Có chung những đặc điểm sinh hoạt văn hóa (đặc trưng văn hóa),
- Có ý thức tự giác nhận mình cùng một dân tộc
Xét theo các tiêu chí này, Việt Nam có 54 dân tộc khác nhau
Trên thế giới, dân tộc (tộc người) được dùng với nhiều thuật ngữ như: Dân tộc bản địa (Thổ dân, dân bản xứ), dân tộc thiểu số, dân tộc đa số Ở Việt Nam hiện nay, nhiều thuật ngữ đã và đang được dùng để nói về dân tộc ở Việt Nam như: "dân tộc Việt Nam", "các thành phần dân tộc Việt Nam",
"cộng đồng các dân tộc Việt Nam", "dân tộc đa số" và “dân tộc thiểu số" Ngay cả ở nhiều bài viết của chủ tịch Hồ Chí Minh trong rất nhiều bài viết và nói cũng đã dùng các thuật ngữ này nhằm bao quát cả hai nghĩa dân tộc -
Trang 15quốc gia (Dân tộc Việt Nam) và dân tộc - tộc người (dân tộc Kinh, Tày, Nùng ) Tùy vào từng hoàn cảnh mà dân tộc Việt Nam được hiểu theo mỗi nghĩa khác nhau, nhưng phổ biến nhất vẫn dùng để nói đến các thành phần dân tộc trên đất nước Việt Nam
Tuy còn nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề dân tộc - quốc gia, dân tộc - tộc người Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn này, tác giả không
đi sâu vào phân tích khái niệm dân tộc theo nghĩa dân tộc - quốc gia, mà nhìn nhận phạm trù dân tộc theo nghĩa dân tộc - tộc người
1.1.2 Quan niệm về dân tộc thiểu số của cộng đồng quốc tế
"Dân tộc thiểu số" là một trong những nội hàm của "người thiểu số" nói chung được quốc tế ghi nhận Không có khái niệm DTTS nói riêng mà nó được nhìn nhận là một trong những hình thái cộng đồng người thiểu số, bên cạnh những người thiểu số về chủng tộc, tôn giáo hay ngôn ngữ
Không có khái niệm chính thức nào về "Dân tộc thiểu số" nói riêng cũng như "người thiểu số" nói chung được quốc tế công nhận Các quan điểm về vấn
đề người thiểu số, trong đó bao hàm cả người thiểu số về dân tộc là chủ đề của những cuộc tranh luận trong nhiều diễn đàn về bảo vệ Người thiểu số
Vào năm 1977 báo cáo viên đặc biệt của Tiểu ban chống phân biệt đối
xử và bảo vệ người thiểu số là ông Francesco Capotorti đã đưa ra định nghĩa
về người thiểu số trong báo cáo nghiên cứu của mình như sau: " là một nhóm người, xét về mặt số lượng, ít hơn phần dân cư còn lại của quốc gia, có vị thế yếu trong xã hội, những thành viên của nhóm- mà đang là kiều dân của một nước- có những đặc trưng về chủng tộc, tín ngưỡng hoặc ngôn ngữ khác so với phần dân cư còn lại và chứng tỏ rõ ràng là có một ý thức thống nhất trong việc bảo tồn nền văn hóa, truyền thống, tôn giáo và ngôn ngữ của họ Tuy nhiên nỗ lực của Tiểu ban trong việc bảo vệ người thiểu số đã bị một số quốc gia có tư tưởng ủng hộ quá trình hợp nhất, và một số quốc gia đang thúc đẩy
Trang 16sự đồng hóa phản đối, vì thế Tiểu ban này vẫn chưa thể đi đến một định nghĩa chính thức về người thiểu số
Sau khoảng thời gian dài các quan niệm về người thiểu số tiếp tục được tranh luận gay gắt Các quốc gia Bắc Mỹ và Nam Mỹ là các quốc gia ủng hộ việc hợp nhất giữa người thiểu số vào cộng đồng chung, các quốc gia Châu
Âu có tư tưởng đồng hóa người thiểu số, các nước Đông Âu lại thể hiện sự quan tâm đến việc bảo vệ người thiểu số, nên tất cả các luồng ý kiến không thể đi đến thống nhất, cho đến vào năm 1984, Ủy ban nhân quyền đã yêu cầu Tiểu ban về vấn đề người thiểu số định nghĩa thuật ngữ người thiểu số, để định nghĩa thuật ngữ này với mục đích giới hạn, thu hẹp phạm vi đối tượng là người thiểu số, nhằm mục đích tạo sự đồng thuận của nhiều quốc gia, một thành viên của Tiểu ban này là ông Julet Deschenes người Canada đã đưa ra một định nghĩa về người thiểu số như sau:
"Một nhóm các công dân của một quốc gia, tạo thành thiểu số về số lượng và có vị thế không chiếm ưu thế trong quốc gia đó, mang những đặc trưng về chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ phân biệt với nhóm thuộc đa số dân
cư, có một ý thức thống nhất giữa các thành viên, một động cơ rõ rệt cho dù là mặc định bởi một ý nguyện tập thể nhằm tồn tại với mục tiêu là đạt đến sự bình đẳng với đa số dân cư, cả trên phương diện pháp luật và thực tiễn"
Ngoài ra định nghĩa này không bao gồm (i) cư dân bản địa; (ii) Người không phải công dân nước sở tại và (iii) người thuộc thành phần đa số nhưng
bị áp bức Tuy nhiên định nghĩa này cũng đã gặp những quan điểm bất đồng sau đó, ngay cả Liên Hợp quốc cũng chỉ trích và phản đối thông qua vì định nghĩa này đã giới hạn về phạm vi những đối tượng về người thiểu số, vì vậy định nghĩa về người thiểu số đến nay vẫn chưa được đưa ra một cách chính thức bởi bất kỳ một cơ quan của Liên Hợp quốc Mặc dù có những khó khăn trong việc đưa ra một định nghĩa chung về người thiểu số, nhưng những đặc
Trang 17trưng khác nhau của người thiểu số cũng đã được xác định mà từ định nghĩa trên cũng như một số văn kiện quốc tế về người thiểu số Sự mô tả những đặc trưng về người thiểu số có thể khái quát lại ở những dấu hiệu như:
- Về số lượng: Có số lượng ít (thiểu số), nếu so sánh với nhóm đa số sống trên cùng lãnh thổ
- Về vị thế xã hội: Là nhóm yếu thế trong xã hội (thể hiện ở tiềm lực, vai trò và ảnh hưởng của nhóm tới đời sống kinh tế, chính trị, xã hội ở lãnh thổ nơi mà họ sinh sống)
- Về bản sắc: Có những đặc điểm riêng về mặt chủng tộc, dân tộc, ngôn ngữ, phong tục tập quán mà vì thế có thể phân biệt họ với nhóm đa số
- Về địa vị pháp lý: có thể là công dân hoặc kiều dân của quốc gia nơi
mà họ đang sinh sống
- Về ý chí chủ quan: Một phần trong các thành viên của cộng đồng ấy phải có ý chí bảo tồn những đặc trưng văn hóa của riêng họ - Tuy nhiên yếu
tố này cũng còn gây nhiều tranh cãi về tính bắt buộc
Trên thực tế Liên Hợp quốc thừa nhận cộng động Người thiểu số (trong
đó bao gồm cả dân tộc thiểu số) là vẫn đề nhạy cảm và phức tạp (Lời nói đầu cuả Nghị quyết 217C (III) của Đại Hội Đồng) Thừa nhận người thiểu số là một trong các nhóm dễ bị tổn thương và yêu cầu cần phải có những cơ chế riêng biệt để bảo vệ người thiểu số Ngoài quy định quyền bình đẳng trong việc hưởng các quyền con người được quy định tại Công ước quốc tế về quyền con người, Đại hội đồng Liên Hợp quốc cũng yêu cầu Hội đồng Kinh tế xã hội (ECOSOC) nghiên cứu, xem xét một cách kỹ lưỡng về vấn đề người thiểu số,
và sau đó dưới tác động tích cực của Tiểu ban về Ngăn ngừa phân biệt đối xử
và bảo vệ người thiểu số, quyền của người thiểu số được ghi nhận một cách trực tiếp tại Điều 27 Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 Đến năm 1992 một văn kiện quốc tế quan trọng về người thiểu số là Tuyên
Trang 18ngôn về các quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, ngôn ngữ và tôn giáo được thông qua đã góp phần ghi nhận, bảo vệ và thúc đẩy quyền của người thiểu số Đây là những văn kiện mà hiện đang đóng vai trò nền tảng bảo vệ quyền của người thiểu số trên thế giới
1.1.3 Đặc trưng cơ bản của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Việt Nam ghi nhận 54 thành phần dân tộc cùng chung sống trên một lãnh thổ thống nhất Trong đó dân tộc Kinh là dân tộc đa số (có số dân chiếm
số đa) với 73.594 triệu người (85.7%) và 53 DTTS (có số dân ít hơn dân tộc
đa số) chiếm 12.253 triệu người (14,3%) trên tổng số dân [10] DTTS ở Việt Nam có số dân không đồng đều, có dân tộc có trên 1 triệu người như dân tộc Tày, Thái, Mường, Mông, Khơme, nhưng lại có dân tộc rất ít người như dân tộc Mảng, Chứt, Lô Lô, Bố Y, La Hủ tuy vậy, với quan điểm tất cả mọi dân tộc, dù ít, dù nhiều, lịch sử hình thành sớm hay muộn hay di cư từ nhiều vùng, nhiều quốc gia khác nhau đều được thừa nhận là chủ nhân của nước Việt Nam, không có dân tộc nào, dù đứng trên bất kỳ danh nghĩa nào cũng không được phép cho mình là dân tộc đứng trên dân tộc khác, là chủ nhân duy nhất của nước Việt Nam
Các DTTS ở Việt Nam có những đặc trưng cơ bản, cụ thể:
Thứ nhất, về đoàn kết dân tộc: Các DTTS ở Việt Nam đã cùng nhau
trải qua quá trình lịch sử từ thủa đầu sơ khai dựng nước và quá trình đấu tranh
để bảo vệ bờ cõi, xây dựng một đất nước Việt Nam thống nhất Mặc dù trải qua nhiều biến cố, thăng trầm, mặc dù có nhiều dân tộc và chênh lệch về số lượng sống trên cùng một lãnh thổ quốc gia, các dân tộc có điều kiện sống, phong tục tập quán riêng biệt nhưng các dân tộc Việt Nam đều có chung truyền thống đoàn kết, gắn bó, tương trợ lẫn nhau không có hiện tượng đồng hóa, xâm chiếm lãnh thổ của dân tộc nhiều người hơn với dân tộc ít người hơn, vì vậy cũng không xuất hiện sự mâu thuẫn đối kháng giữa dân tộc thiểu
Trang 19số với dân tộc đa số Truyền thống đoàn kết này chính là một đặc trưng nổi bật, làm tăng cường sức mạnh các dân tộc Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là điều kiện cơ bản để Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện tốt các chính sách và pháp luật trên phạm vi toàn lãnh thổ
Thứ hai, về địa bàn cư trú: Dân cư các DTTS ở nước ta phân bố không
đồng đều, tập trung ở một số vùng, nhưng không cư trú thành những khu vực riêng biệt mà xen kẽ với các DTTS khác, thậm trí xen kẽ với các dân tộc đa
số Khu vực cư trú bao gồm cả miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển, thậm chí ở đô thị thành phố, tuy nhiên tập trung nhiều nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo là địa bàn chiếm tới 3/4 lãnh thổ quốc gia và có
vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng Đặc điểm xen kẽ giữa các dân tộc một mặt đã tạo điều kiện để các dân tộc này có cơ hội để tăng cường sự hiểu biết, hòa hợp, gắn bó với nhau, nhờ đó các dân tộc có điều kiện học hỏi những tri thức mới, từng bước thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các dân tộc Nhưng mặt khác, đặc điểm sống xen kẽ này làm cho các dân tộc kém phát triển hơn dễ bị đồng hóa, mất đi nguồn gốc, bản sắc của dân tộc mình
Thứ ba, về trình độ phát triển kinh tế - xã hội: Các DTTS ở Việt Nam
có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau Một số DTTS như dân tộc Khơme, Chăm, Hoa là những dân tộc thiểu số phân bố ở những vùng đồng bằng, đô thị là nơi có nền kinh tế- xã hội phát triển như: Thành phố Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cần Thơ, Đồng Nai, Tây Ninh… lại sinh sống xen kẽ với đa số người dân tộc Kinh nên có nhiều cơ hội để phát triển kinh tế - xã hội, Một số dân tộc khác như dân tộc Tày, Nùng, Thái, Mường tuy có cuộc sống khó khăn, thiếu thốn hơn nhưng phần lớn đã thoát khỏi cuộc sống lạc hậu và đói nghèo Một số DTTS rất ít người như dân tộc Brâu, Pupéo, Chứt, Mảng… cư trú chủ yếu ở Kom Tum, Hà Giang, Quảng
Trang 20Bình, Lai Châu… lại có đời sống vật chất rất khó khăn, thiếu thốn, lạc hậu, thậm trí vẫn còn lối sống di canh, di cư và mới đang dần chuyển sang lối sống định canh, định cư tự cung, tự cấp.Trình độ phát triển của các DTTS không đồng đều bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, cả chủ quan và khách quan, chủ yếu do tập quán văn hóa lâu đời và tư duy cố hữu, chậm thay đổi, cộng thêm vào đó là địa bàn đi lại xa xôi, khó khăn, tài nguyên tuy phong phú nhưng lại khó khai thác, đất đai sản xuất vừa thiếu vừa khô cằn, năng lực quản lý nhà nước và năng lực chuyên môn của cán bộ công tác tại vùng dân tộc phần lớn vừa thiếu vừa yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý, tổ chức, thi hành pháp luật, chính sách của Nhà nước vào thực tiễn, nhất là tại cấp cơ sở những nguyên nhân nhân này nếu không được nhìn nhận đúng đắn, giải quyết phù hợp, kịp thời sẽ làm cho đời sống của các DTTS ngày càng tụt hậu, làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo giữa miền xuôi với miền ngược, giữa DTTS với dân tộc đa số, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến định hướng phát triển bền vững của Nhà nước Việt Nam
Thứ tư, về bản sắc văn hóa: Các DTTS ở Việt Nam đều có những nét
riêng biệt về văn hóa, tạo nên một Việt Nam với nhiều mầu sắc phong phú, đa dạng về văn hóa, các DTTS ở nước đều có ngôn ngữ riêng của dân tộc mình, một số ít DTTS có chữ viết riêng, có nền văn hóa mang bản sắc riêng, thể hiện trong nếp sinh hoạt hàng ngày, thông qua lễ hội, Tết, thông qua trang phục từng dân tộc, phong tục tập quán trong cưới hỏi, ma chay, dỗ, thông qua tín ngưỡng thờ cúng, tâm linh
1.2 VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC ĐẢM BẢO QUYỀN
CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
Quyền con người không chỉ là những giá trị nhân văn về một cuộc sống
có phẩm giá, mà cần phải được đảm bảo bằng luật và thể chế thích hợp Đối với các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, đặc biệt là các DTTS, pháp luật có
Trang 21vai trò nổi bật trong việc xác lập địa vị bình đẳng và nguyên tắc không phân biệt đối xử với người DTTS trong việc hưởng thụ các quyền con người trên các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội Ngoài ra, pháp luật còn có vai trò tích cực tạo ra một môi trường thuận lợi, khắc phục những hạn chế, khó khăn, tạo cơ hội cho những người DTTS phát huy các giá trị con người vốn có
Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 đã khẳng định: Mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về ngôn ngữ và các quyền họ được phú cho lý trí và lương tri và cần đối xử với nhau trong tình anh em (Điều 1) hoặc
“Không một ai có thể bị tước bỏ các quyền đã ghi nhận trong Công ước này…” Từ đó có thể rút ra một nguyên tắc nền tảng của luật quốc tế về nhân
quyền là bình đẳng Tất cả các cá nhân trong cộng đồng nhân loại đều bình
đẳng về phẩm giá và các quyền, không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về dân tộc, ngôn ngữ, giới tính, tôn giáo… Nhận thức trên xuất phát từ một thực
tế không thể phủ nhận đó là người thiểu số hay người đa số cũng đều là những con người, những thành viên của cộng đồng xã hội, suy rộng ra DTTS cũng như dân tộc đa số đều được hưởng những quyền con người như nhau và không phải chịu bất kỳ hạn chế vô lý nào trên phương diện là người DTTS
Nhận thức về quyền bình đẳng đó đã chi phối rất nhiều đến quá trình xây dựng hệ thống pháp luật quốc tế về nhân quyền, nhiều quan điểm cho rằng đã là bình đẳng về quyền đồng nghĩa với việc “cào bằng” quyền cho mọi chủ thể, cho dù chủ thể đó thuộc nhóm thiểu số, có như vậy mới phù hợp với tính chất phổ quát áp dụng chung cho toàn nhân loại Tuy nhiên cần phân tích chủ thể là người thiểu số về dân tộc hay DTTS, trên thực tế đây là nhóm người dễ bị tổn thương hơn với dân tộc đa số, phần lớn các nhóm DTTS không chiếm ưu thế về số lượng người nên thường có vị thế thấp hơn, không chiếm ưu thế về chính trị, kinh tế, thậm trí DTTS ở nhiều nơi còn bị thôn tính,
Trang 22đồng hóa, diệt vong… vì vậy nếu nhận thức việc cào bằng các quyền cho mọi chủ thể (bình đẳng - hình thức), đồng nghĩa với việc bất bình đẳng (thực tế)
Để đạt được sự bình đẳng thực chất, bù đắp cho những thiệt thòi các DTTS xứng đáng và cần thiết được hưởng các quyền con người riêng biệt, đặc thù Qua nhiều tranh luận, cộng đồng quốc tế đã đi tới một thống nhất về quan điểm đó là: mặc dù đã được đề cập với ý nghĩa là chủ thể của các quyền con người nói chung, song do có những đặc trưng riêng, người thiểu số (bao gồm người DTTS) được coi là một trong những nhóm xã hội rất dễ bị tổn thương, cần phải được bảo vệ đặc biệt bằng những cơ chế và văn kiện pháp lý quốc tế đặc biệt [39] Mặc dù vấp phải khó khăn trong việc ghi nhận và pháp điển hóa quyền của các DTTS nhưng cuối cùng quyền của nhóm người này cũng đã được ghi nhận một cách trực tiếp và gián tiếp ở nhiều văn kiện quốc tế về nhân quyền quan trọng, mà nổi bật là việc đưa vào Công ước quốc tế về dân
sự, chính trị (1966) một số điều khoản riêng biệt về quyền của người thiểu số, cũng như thông qua Tuyên bố về quyền của những người thuộc nhóm thiểu số
về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ năm 1992- Những văn kiện mà hiện đang đóng vai trò nền tảng cho cho việc bảo vệ quyền của người thiểu số (bao gồm DTTS), phù hợp với nguyên tắc pháp quyền
Mặt khác, pháp luật còn đóng vai trò quan trọng trong việc xác lập nghĩa vụ của các thể chế nhà nước trong việc bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số Tuyên bố và Chương trình hành động viên (1993) đã khẳng định: Nghĩa vụ của các quốc gia cần bảo đảm cho những người thiểu số có thể thực hiện đầy đủ và có hiệu quả tất cả các quyền con người và cả tự do cơ bản mà không có sự phân biệt đối xử nào Họ được hoàn toàn bình đẳng trước pháp luật, phù hợp với Tuyên bố của Liên Hợp quốc về quyền của những cá nhân thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, sắc tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ (Đoạn 19)
Trang 231.3 PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ
Người DTTS (hay người thiểu số về dân tộc) là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trên thế giới Trong quá trình lịch sử lâu dài, người DTTS được cộng đồng thế giới ghi nhận là nhóm người yếu thế, dễ bị tổn thương so với các dân tộc đa số khác Người DTTS có đặc thù là những dân tộc có ít người, sống manh mún, không có thế mạnh về kinh tế, chính trị, duy trì lối sống ảnh hưởng nhiều bởi tập quán lạc hậu, chậm thay đổi, lại bị bó hẹp trong những không gian riêng, ngôn ngữ riêng vì vậy những người này thường không nắm trong tay quyền lực, dễ bị đàn áp, chia rẽ, đồng hóa, thậm trí bị diệt vong bởi các dân tộc đa số khác Trên thực tế đã xảy ra những tội ác gây nên tình trạng căng thẳng, xung đột, chia rẽ, phân biệt giữa những người thuộc nhóm thiểu
số và những người thuộc nhóm đa số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, sắc tộc điển hình như tội ác A-pác-thai, làm cho Liên Hợp quốc và nhiều tổ chức khác trên toàn thế giới quan tâm và đã đưa ra nhiều biện pháp nhằm bảo vệ nhóm thiểu số trong đó có cả nhóm thiểu số về dân tộc,
Một số văn kiện quốc tế quan trọng trong việc ghi nhận về quyền của người thiểu số như sau:
Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người (1948), được Đại hội đồng
Liên Hợp quốc thông qua theo nghị quyết số 217A(III) ngày 10/12/1948 Tuy không phải là một văn kiện có tính ràng buộc về mặt pháp lý, nhưng bản Tuyên ngôn này có một sức mạnh đạo đức, chính trị đáng kể Nó là cơ sở để xây dựng các văn kiện quốc tế khác về nhân quyền và thường được viện dẫn
để chứng minh cho các hành động của Liên Hợp quốc trên lĩnh vực này, ngoài
ra nó còn ảnh hưởng đến pháp luật của nhiều quốc gia trên Thế giới
Điều 2 của Tuyên ngôn khẳng định: “Mọi người sinh ra đều được hưởng tất cả các quyền và tự do nêu trong bản Tuyên ngôn này, không có bất
kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn
Trang 24giáo, chính kiến hoặc quan điểm khác, về nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, nòi giống hay các tình trạng khác” [42]
Quy định tại Điều này đã chi tiết hóa nguyên tắc bình đẳng về quyền con người bằng cách liệt kê các yếu tố có thể dẫn đến việc phân biệt đối xử, trong đó bao gồm cả yếu tố về dân tộc Điều này đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong việc bảo vệ người thiểu số trước nguy cơ bị hạn chế hoặc tước bỏ các quyền cơ bản của con người
Ngoài ra Tuyên ngôn này còn đề cập đến nhiều quyền liên quan đến việc thực hiện các quyền con người cơ bản: quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến (điều 19); quyền tự do hội họp và lập hội (điều 20); quyền được tham gia bình đẳng vào các hoạt động chính trị, công cộng của đất nước (điều 21)… những quyền này đều liên quan mật thiết đến người thiểu số về dân tộc, sau
đó đã được cụ thể hóa trong Tuyên ngôn về quyền của những người thuộc nhóm thiểu số về chủng tộc hoặc dân tộc, ngôn ngữ, tôn giáo năm 1992
Mặc dù trong bản Tuyên ngôn này không có một quy định riêng rẽ, cụ thể nào về quyền của người thiểu số bao gồm cả thiểu số về dân tộc, nhưng do được xây dựng trên một nguyên tắc nền tảng là bình đẳng trong việc hưởng thụ các quyền con người nên Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 vẫn được coi là văn kiện quan trọng trong việc bảo vệ quyền của người thiểu số
Công ước quốc tế về dân sự và chính trị năm 1966, Công ước này được
Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua theo Nghị quyết 2200A(XXI) ngày 16/12/1966 và có hiệu lực từ ngày 23/3/1976 Điểm đặc biệt là công ước này
là có một điều khoản riêng (Điều 27) về quyền của người thiểu số về dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ Theo đó quy định về việc các nhóm thiểu số không bị tước bỏ quyền hưởng thụ nền văn hóa, thể hiện tín ngưỡng và thực hành tôn giáo, hoặc sử dụng ngôn ngữ riêng của mình Điều này đã tạo cơ sở pháp lý
để bảo vệ những người thuộc các nhóm thiểu số có quyền được giữ gìn bản
Trang 25sắc về dân tộc, chủng tộc, ngôn ngữ và tôn giáo theo cách thức riêng của họ hoặc cùng cộng đồng, bảo vệ quyền được bảo tồn những đặc trưng mà họ muốn duy trì và phát triển Công ước này cũng đòi hỏi các quốc gia tham gia phê chuẩn Công ước (trong đó có Việt Nam) có nghĩa vụ bảo đảm rằng tất cả các cá nhân thuộc quyền tài phán của quốc gia phải được hưởng thụ các quyền trong Điều 27 Và theo Khuyến nghị chung số 18 của Ủy ban quyền con người về không phân biệt đối xử theo Công ước về các quyền dân sự và chính trị (1966) yêu cầu các quốc gia tham gia công ước phải có những biện pháp cụ thể để điều chỉnh những bất bình đẳng mà các nhóm thiểu số ở nước mình phải gánh chịu
Mặc dù Công ước này chỉ có duy nhất một điều trực tiếp quy định
về quyền của người thiểu số, nhưng nó vẫn được coi là một mốc phát triển quan trọng, vượt bậc về bảo vệ người thiểu số về dân tộc, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo
Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966,
Công ước này được Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua theo Nghị quyết
số 2200 A (XXI) ngày 16/12/1966, có hiệu lực từ ngày 3/1/1976 Mặc dù là một trong hai Công ước quan trọng nhất về nhân quyền, nhưng khác với Công ước quốc tế về dân sự và Chính trị năm 1966, thì Công ước này đã không ban hành được bất kỳ điều khoản trực tiếp nào đề cập trực tiếp đến bảo vệ quyền của người thiểu số, mà chỉ quy định quyền bình đẳng cho tất cả các thành viên của nhân loại trong việc thực hiện các quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội
Tuyên ngôn về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về chủng tộc hoặc dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ năm 1992, Được Đại hội đồng
Liên Hợp quốc thông qua theo Nghị quyết 47/135, ngày 18/12/1992 Đây là văn kiện riêng biệt của Liên Hợp quốc đã cụ thể hóa quyền của các nhóm thiểu
số về dân tộc, ngôn ngữ, tôn giáo Tuyên ngôn có những nội dung cơ bản sau:
Trang 26Điều 1 quy định các nhóm thiểu số có quyền được các quốc gia bảo vệ
cuộc sống và những đặc trưng về dân tộc, chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của họ
Điều 2 của Tuyên ngôn nhắc lại tinh thần của điều 27 của Công ước
quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 Tuy nhiên, nó cũng chứa đựng nhiều điểm mới liên quan đến nhận thức trong vấn đề bảo vệ người thiểu số, bao gồm:
- Có quyền hưởng thụ đời sống văn hóa, thể hiện và thực hành tín ngưỡng riêng của họ cũng như sử dụng ngôn ngữ của riêng họ trong đời sống
- Có quyền thiết lập và duy trì những tổ chức riêng của họ (khoản 4)
- Có quyền thiết lập và duy trì các mối quan hệ hòa bình với các thành viên khác của nhóm họ và với những người thuộc các nhóm thiểu số khác, cả trong phạm vi quốc gia và ngoài biên giới quốc gia (khoản 5)
Điều 3 quy định về việc cá nhân hay thành viên của cộng đồng được tự
do thực hiện quyền mà không bị phân biệt đối xử
Điều 4 của Tuyên ngôn xác lập nghĩa vụ của các quốc gia trong việc
tôn trọng và đảm bảo các quyền của người thiểu số, theo đó các quốc gia phải phải tiến hành các biện pháp về chính trị, pháp luật, kinh tế, hành chính nhằm:
- Đảm bảo người thuộc các nhóm thiểu số có thể thực hiện đầy đủ và có hiệu quả tất cả các quyền và tự do cơ bản của con người một cách bình đẳng trước pháp luật, không có sự phân biệt đối xử nào (khoản 1)
- Tạo những điệu kiện thuận lợi để giúp họ có thể biểu hiện những đặc
Trang 27trưng và phát triển nền văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo, phong tục tập quán và truyền thống của họ (khoản 2)
- Cho phép họ có những cơ hội bình đẳng để học tiếng mẹ đẻ hoặc có những thiết chế để học tiếng mẹ đẻ (khoản 3)
- Khuyến khích những tri thức về lịch sử, truyền thống, ngôn ngữ và văn hóa của người thiểu số hiện vẫn duy trì ở các vùng họ sinh sống và bảo đảm rằng các thành viên của các nhóm thiểu số đó có các cơ hội bình đẳng trong việc tiếp nhận những tri thức chung của xã hội (khoản 4)
- Cho phép họ tham gia vào tiến trình kinh tế và phát triển (khoản 5)
Điều 5 của Tuyên ngôn tiếp tục phát triển nội dung của điều 4 về trách
nhiệm của các quốc gia khi quy định: Xem xét những nhu cầu chính đáng của người thiểu số trong các chính sách và chương trình phát triển của quốc gia cũng như trong việc hoạch định và thực hiện các chương trình hợp tác và trợ giúp
Điều 6 và 7 cụ thể hóa và nhấn mạnh giá trị của sự hợp tác đa phương
giữa các quốc gia trong việc bảo vệ người thiểu số: điều 6 quy định: Hợp tác với các quốc gia khác trong các vấn đề liên quan đến người thiểu số, bao gồm việc trao đổi thông tin và kinh nghiệm, nhằm thúc đẩy sự hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau Điều 7 nêu một số quy định mang tính khái quát, đó là: các quốc gia cần hợp tác để thúc đẩy sự tôn trọng các quyền được ghi nhận trong tuyên ngôn này
Điều 8 đề cập đến một số điểm liên quan đến việc thực hiện Tuyên
ngôn, như sự tôn trọng việc thực hiện Tuyên ngôn của các quốc gia, cũng như
đề cập đến nguyên tắc bình đẳng trong việc hưởng thụ các quyền con người
Điều cuối cùng của Tuyên ngôn (Điều 9) nêu một số quy định khái quát
về trách nhiệm của các cơ quan trong hệ thống Liên Hợp quốc, trong đó quy định việc trợ giúp các quốc gia trong việc thực hiện hóa đầy đủ các nguyên tắc và quyền của người thiểu số mà đã ghi nhận trong Tuyên ngôn
Trang 28Tuyên ngôn này là văn kiện không ràng buộc về mặt pháp lý đối với các quốc gia thành viên, mà chủ yếu dựa vào sự tự giác tuân thủ của các quốc gia Ngay khi thông qua Tuyên ngôn, Liên Hợp quốc đã không ngừng tăng cường phổ biến những quy định trong Tuyên ngôn Các tổ chức chuyên môn
và các cơ quan khác trong hệ thống Liên Hợp quốc được khuyến khích trợ giúp việc thực hiện các quyền đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn này Liên Hợp quốc đã tích cực trong việc thiết lập những cơ chế phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức và cơ quan trong hệ thống Liên Hợp quốc nhằm tăng cường các biện pháp để bảo vệ người thiểu số như: thành lập một
số Ủy ban giám sát tiến bộ của các quốc gia thành viên trong việc thực hiện các nghĩa vụ của họ trong việc đảm bảo quyền cho người thiểu số, cũng như giám sát việc nội luật hóa các quy định của các văn kiện quốc tế về người thiểu số của các quốc gia thành viên Các quốc gia thành viên phải có nghĩa
vụ báo cáo định kỳ, qua đó Ủy ban này sẽ đưa ra những nhận xét, khuyến nghị về tình hình thực thi việc bảo đảm các quyền của người thiểu số của quốc gia thành viên Ngoài ra Liên Hợp quốc cũng thiết lập Nhóm công tác về người thiểu số (1995) và tiến hành các hoạt động nghiên cứu về bảo vệ người thiểu số Các biện pháp kể trên của Liên Hợp quốc và các cơ quan của Liên Hợp quốc tiến hành nhằm thực hiện các nguyên tắc được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế và tích cực bảo vệ và thúc đẩy các quyền của người thiểu số một cách hiệu quả nhất
Dựa trên Tuyên bố này những năm qua, nhiều quốc gia trên thế giới đã tham chiếu để xây dựng các quy định pháp luật và chính sách quốc gia về người thiểu số, trong đó có Việt Nam
1.4 PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ
Trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc nói chung và DTTS nói riêng,
Trang 29cũng như nội luật hóa pháp luật quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là quốc gia thành viên, Nhà nước Việt Nam đã ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật, bao gồm Hiến pháp, Luật và các văn bản dưới luật nhằm bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
- Các luật và Bộ luật:
+ Luật Bầu cử Quốc hội năm 1997 và Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 quy định quyền ứng cử, bầu cử đại biểu Quốc hội của người DTTS; quy định quyền ứng cử, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân của người DTTS
+ Luật Quốc tịch năm 2008 quy định các dân tộc cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, mọi thành viên của các dân tộc đều bình đẳng về quyền có quốc tịch Việt Nam
+ Luật Khuyến khích Đầu tư trong nước (sửa đổi) năm 1998 quy định
về việc ưu đãi cho các dự án đầu tư các công trình phát triển cơ sở hạ tầng cho vùng DTTS
+ Luật Công nghệ Thông tin năm 2006 quy định chính sách ưu đãi để
tổ chức, cá nhân có hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin đối với vùng DTTS
+ Luật Giáo dục năm 2006 quy định về quyền được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc
Trang 30+ Luật Xuất bản năm 2012 quy định về việc Nhà nước hỗ trợ để có bản thảo và xuất bản với những tác phẩm, tài liệu để phục vụ đồng bào DTTS; hỗ trợ kinh phí đầu tư xây dựng, hiện đại hóa, hỗ trợ tiền thuê đất, lãi xuất vay vốn các cơ sở in ở vùng sâu, vùng xa, miền núi
+ Luật Thanh niên năm 2005 quy định về quyền được hưởng chính sách hỗ trợ về giáo dục đào tạo, chế độ cử tuyển, miễn giảm học phí và một
số chính sách khác cho cho thanh niên dân tộc thiểu số ở những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn có cơ hội học tập, tiếp cận thông tin; Quy định về hỗ trợ thanh niên DTTS giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; ưu tiên dạy nghề, giải quyết việc làm và cho vay vốn phát triển sản xuất, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống; quy định về đào tạo, bồi dưỡng thanh niên ưu tú người DTTS để tạo nguồn cán bộ quản lý, lãnh đạo
+ Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004 quy định về việc không phân biệt đối xử với trẻ em dân tộc trong việc chăm sóc, bảo vệ, giáo dục và được hưởng đầy đủ các quyền của trẻ em
+ Luật Bảo vệ Chăm sóc Sức khoẻ Nhân dân năm 1987 quy định quyền được Nhà nước dành ngân sách thích đáng để củng cố mở rộng mạng lưới y tế khám bệnh, chữa bệnh cho đồng bào các DTTS, đặc biệt là y tế cơ sở vùng cao, vùng xa xôi hẻo lánh
+ Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định quyền được Nhà nước có chính sách, biện pháp để phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc mỗi dân tộc; hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc được pháp luật tôn trọng và bảo vệ;
+ Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định về việc hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
+ Luật Dạy nghề năm 2006 quy định về quyền được Nhà nước hỗ trợ
Trang 31tạo cơ hội được học nghề cho người DTTS để tìm việc làm, tự tạo việc làm, lập thân, lập nghiệp và có chính sách đầu tư bảo đảm các điều kiện cho cơ sở dạy nghề tiếp nhận học sinh phổ thông dân tộc nội trú khi ra trường được vào học nghề
+ Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định, trong quan hệ dân sự, các bên đều bình đẳng, không được lấy lý do khác biệt về dân tộc để đối xử không bình đẳng với nhau; việc xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự phải bảo đảm giữ gìn bản sắc dân tộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp các giá trị đạo đức cao đẹp của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam
+ Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 quy định, người DTTS thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí theo quy định của pháp luật
+ Luật Bảo hiểm y tế năm 2005 quy định về việc Nhà nước hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế đối với người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn từ nguồn ngân sách nhà nước tối đa là 6% mức lương tối thiểu
+ Luật Giáo dục Đại học năm 2012 quy định việc Nhà nước thực hiện chính sách ưu tiên đối với đối tượng ở vùng đồng bàoDTTS, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
- Các văn bản dưới luật:
Phù hợp với Hiến pháp và Luật, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật dưới Luật để đảm bảo quyền của các DTTS, bao gồm Nghị định, Nghị quyết của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư của Bộ, Thông tư liên tịch giữa các Bộ, ngành
và các văn bản quy phạm pháp luật của địa phương về vấn đề dân tộc
Nhiều văn bản dưới Luật quy định, hướng dẫn về công tác dân tộc, với
Trang 32quy mô triển khai rộng, phạm vi áp dụng hướng đến nhiều đối tượng, nhiều vùng, kéo dài nhiều năm, nhiều giai đoạn, có kế hoạch,mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng, có các biện pháp đảm bảo quyết liệt… Vì vậy, trên thực tế các văn bản này thường được hiểu là các chương trình, chính sách lớn về phát triển toàn diện vùng dân tộc Mục tiêu tổng thể của Nhà nước Việt Nam khi ban hành và thực thi hệ thống các văn bản dưới Luật này, nhằm tạo điều kiện
để các xã đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng sa, vùng dân tộc phát triển về mọi mặt, hạn chế những khó khăn và yếu kém, góp phần đảm bảo và thúc đẩy các quyền của các DTTS ở Việt Nam Có thể kể ra một số văn bản quy phạm pháp luật quan trọng, có tác dụng tích cực trong một số lĩnh vực ảnh hưởng trực tiếp đến việc hưởng thụ các quyền của đồng bào DTTS đã và đang được Nhà nước Việt Nam ban hành và triển khai trên thực tế, ví dụ:
Một số văn bản quy phạm pháp luật quan trọng quy định về xóa, đói giảm nghèo, đảm bảo quyền có mức sống hợp lý, thích đáng
+ Quyết định 134/2001/QĐ-TTg ngày 27/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói, giảm nghèo (giai đoạn 2001-2005)
+ Quyết định số 20/2007/ QĐ-TTg ngày 05/02/2007 phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo (giai đoạn 2006-2010)
+ Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh, bền vững đối với 62 huyện nghèo (gọi tắt là Chương trình 30a)
+ Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020
+ Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 08/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững (giai đoạn 2012 - 2015)
Trang 33Một số văn bản quy phạm pháp luật quan trọng quy định về chương trình phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quyền được cải thiện đời sống, được tiếp cận với nguồn lực sản xuất:
+ Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình phát triển kinh tế - xa hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng sa (gọi tắt là Chương trình 135)
+ Quyết định 184/1998/QĐ-TTg ngày 24/9/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên đến năm 2010
+ Quyết định 173/2001/QĐ-TTg ngày 6/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế xã hội Vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2001-2005
+ Quyết định số 07/2006/QD-TTg ngày 10/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006 - 2010.(Chương trình 135 giai đoạn II)
+ Quyết định 1672/QĐ-TTg ngày 26/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ
về hỗ trợ phát triển kinh tế, xã hội các dân tộc Cống, Mảng, La Hủ, Cờ Lao
+ Quyết định số 551/QĐ-TTg ngày 04/04/2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình 135 về hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ sản xuất cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn (Chương trình 135 giai đoạn III)
Một số văn bản quy phạm pháp luật quan trọng nhằm đảm bảo quyền
về nhà ở, đất ở, được tiếp cận với đất sản xuất, nước sạch, hỗ trợ định canh, định cư, bao gồm:
+ Quyết định 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/7/2004; Quyết định 1592/QĐ-TTg ngày 12/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính
Trang 34sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở và nước sinh hoạt cho đồng bào DTTS nghèo, đời sống khó khăn (Gọi tắt là Chương trình 134)
+ Quyết định 167/2008/QĐ- TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở (Gọi tắt là Quyết định 167)
+ Quyết định 74/2008/QĐ-TTg ngày 09/6/2008; Quyết định 29/2013/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở cho hộ đồng bào DTTS nghèo, đời sống khó khăn vùng Đồng bằng Sông Cửu Long
+ Quyết định 1592/QĐ-TTg ngày 12/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà
ở và nước sinh hoạt đến năm 2010 cho hộ đồng bào DTTS nghèo, đời sống khó khăn (Gọi tắt là Quyết định 1592)
+ Quyết định 33/2007/QĐ-TTg; Quyết định 1342/QĐ-TTg ngày 25/8/2009; Quyết định 33/2013/QĐ-TTg ngày 04/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ di dân định canh, định cư
+ Quyết định 32/2007/QĐ-TTg ngày 05/3/2007; Quyết định 54/2012/QĐ-TTg ngày 04/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc cho vay vốn đối với hộ đồng bào DTTS đặc biệt khó khăn
Một số văn bản quy phạm pháp luật quan trọng nhằm thúc đẩy quyền tiếp cận với giáo dục và đào tạo, dạy nghề, bồi dưỡng cán bộ là người DTTS, bao gồm:
+ Nghị định số 82/2010/NĐ-CP ngày 15/7/2010 Nghị định của Chính phủ quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của người DTTS trong các
cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên
+ Quyết định số 2123/QĐ-TTg ngày 22/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phát triển giáo dục đối với các dân tộc rất ít người giai đoạn 2010 - 2015
Trang 35+ Quyết định số 267/2005/QĐ - TTg về chính sách dạy nghề đối với học sinh DTTS nội trú
+ Quyết định 34/2006/QĐ-TTg ngày 02/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn người DTTS (2006-2010)
+ Quyết định 03/2006/QĐ-BGD&Đt ngày 24/1/2006 của Bộ Giáo dục
và Đào tạo về việc ban hành khung dạy tiếng DTTS (có chữ viết) cho cán bộ, công chức công tác ở vùng DTTS
+ Quyết định số 28/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn các tỉnh khu vực miền núi phía Bắc giai đoạn 2007-2010
Một số văn bản quy phạm pháp luật quan trọng nhằm thúc đẩy quyền được chăm sóc sức khỏe, khám, chữa bệnh cho người DTTS như:
+ Quyết định 950/QĐ-TTg ngày 27/7/2007 về đầu tư xây trạm y tế xã thuộc vùng khó khăn (giai đoạn 2008-2010)
+ Quyết định 1544/QĐ-TTg ngày 14/11/2007 về Đề án đào tạo nhân lực y tế cho vùng khó khăn, vùng núi của các tỉnh miền Bắc, miền Trung, Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên
+ Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ngày 14/8/2009 Nghị định của Chính phủ về Hướng dẫn thực hiện Bảo hiểm y tế
+ Thông tư số 07/2013/TT-BYT Quy định tiêu chuẩn, chức năng, nhiệm vụ của nhân viên y tế thôn, bản
+ Thông tư số 07/2013/TT-BYT ngày 8/3/2013 của Bộ Y tế Quy định tiêu chuẩn, chức năng, nhiệm vụ của nhân viên y tế thôn, bản
Nhóm văn bản quy phạm pháp luật nhằm đảm bảo quyền tiếp cận với trợ giúp pháp lý, thông tin, tuyên truyền giáo dục pháp luật:
+ Quyết định số 59/2012/QĐ-TTg ngày 24/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đồng bào DTTS
Trang 36+ Quyết định số 554/TTg ngày 04/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người dân nông thôn
và đồng bào DTTS
+ Quyết định 1637/QĐ-TTg (năm 2001); Quyết định 975/QĐ-TTg (năm 2006); Quyết định số 2472/QĐ-TTg (năm 2011) của Thủ tướng Chính phủ về việc cấp một số ấn phẩm báo, tạp chí cho vùng DTTS và miền núi vùng đặc biệt khó khăn giai đoạn 2012-2015
+ Quyết định 1212/QĐ-TTg ngày 05/9/2012 cua Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt mục tiêu quốc gia đưa thông tin về cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng
xa, biên giới, hải đảo (2012-20150)
Ngoài những văn bản pháp luật quan trọng trên, các cơ quan nhà nước trung ương và địa phương đã ban hành rất nhiều các văn bản pháp luật khác theo từng lĩnh vực, từng ngành, từng vùng, từng địa phương liên quan đến về công tác dân tộc, mang nhiều ý nghĩa trong sự nghiệp phát triển toàn diện vùng dân tộc, góp phần đảm bảo quyền của các DTTS
Nhìn chung Hiến pháp và pháp luật Việt Nam quy định về lĩnh vực dân tộc, đã thể hiện và tuân thủ khá đầy đủ các nguyên tắc về quyền của người thiểu số được nêu trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948; các Công ước quốc tế về dân sự, chính trị năm 1966, Công ước quốc tế về kinh tế, văn hóa, xã hội năm 1966; Tuyên ngôn về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về chủng tộc hoặc dân tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ năm 1992 mà Việt Nam là thành viên Điều này chứng minh cho những nỗ lực, cố gắng to lớn của Nhà nước Việt Nam trong việc đảm bảo quyền của các DTTS trong bối cảnh đất nước vẫn đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức Những nỗ lực của Nhà nước đang ngày càng được Quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, được toàn thể nhân dân Việt Nam, nhất là đồng bào các DTTS đồng tình, ủng hộ Góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu,
Trang 37Trên cơ sở hệ thống hóa các văn bản pháp luật, tác giả đã sắp xếp theo cấu trúc pháp luật từ Hiến pháp, Luật, pháp lệnh… và các văn bản quy phạm pháp pháp luật khác, để đƣa ra những nhận định về tính đồng bộ, thống nhất, chƣa thống nhất còn chông chéo cần chỉnh sửa, bổ sung thậm chí thay thế hoặc bãi bỏ
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT
VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI
2.1 MỘT SỐ THÀNH TỰU CƠ BẢN TRONG XÂY DỰNG VÀ
THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI
2.1.1 Thành tựu trong đảm bảo một số quyền dân sự, chính trị
2.1.1.1 Quyền bầu cử, ứng cử, tham gia quản lý nhà nước và xã hội
Quyền bầu cử và ứng cử, được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 Theo đó, mọi công dân không phân biệt về dân tộc, đều có quyền bầu cử và ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng nhất trên phương diện chính trị để người DTTS được bảo đảm sự bình đẳng trước dân tộc đa số về quyền được bầu cử và ứng cử, qua đó đồng bào DTTS thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua các cơ quan đại diện là Quốc hội và HĐND các cấp từ trung ương đến địa phương
Ngoài việc quy định chung về quyền bình đẳng trong việc bầu cử, ứng
cử, Luật sửa đổi, bổ sung Luật Bầu cử Quốc hội năm 2001 còn bổ sung quy định về tỷ lệ đại biểu Quốc hội là người DTTS nhằm đảm bảo tỷ lệ thích đáng các đại biểu là người dân tộc thiểu số trong Quốc hội, tạo thuận lợi để phản ánh tiếng nói của người dân tộc thiểu số trong cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (Điều 10)
Trên thực tiễn số lượng cử tri cả nước đi bỏ phiếu từ Quốc hội khóa XI đến Quốc hội khóa XIII (từ năm 2002 đến năm 2016) luôn đạt ở tỷ lệ cao trên 99,5% [47] Tỷ lệ người dân tộc thiểu số trong Quốc hội và HĐND các cấp
Trang 39những nhiệm kỳ gần đây luôn đảm bảo tỷ lệ thích đáng Quốc hội khoá XII (2007-2011), có 86 đại biểu DTTS đại diện cho 30 thành phần DTTS, chiếm 17,27% tổng số đại biểu Quốc hội; Quốc hội khóa XIII (2011 - 2016), có 78 đại biểu, chiếm 15,6% tổng số đại biểu Quốc hội) Đến nay đã có 48 dân tộc từng có người là đại biểu Quốc hội Ngày càng có nhiều người DTTS giữ chức vụ cao trong các cơ quan nhà nước từ trung ương cho đến địa phương
Luật Bầu cử Hội đồng nhân dân năm 2003 quy định về nhiệm vụ của Thường trực Hội đồng nhân dân các cấp khi dự kiến, cơ cấu thành phần, số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu cần đảm bảo số lượng thích đáng đại biểu là người DTTS (Điều 14) Trên thực tế việc thực hiện quy định này trong các năm qua, tỷ lệ đại biểu Hội đồng nhân dân là người DTTS luôn chiếm tỷ lệ khá thích đáng Chỉ tính riêng trong nhiệm kỳ 2011-2016, đại biểu Hội đồng nhân dân là người dân tộc thiểu số cấp tỉnh chiếm 688 người (chiếm
tỷ lệ 18%), cấp huyện có 4.237 người, đạt tỉ lệ 20,10%, cấp xã có 62.383 người, đạt tỉ lệ 22,46% [16]
Thông qua việc thực hiện quyền bình đẳng trong bầu cử và ứng cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, cũng như việc đảm bảo tỷ lệ thích đáng đại biểu là người DTTS trong mỗi nhiệm kỳ đã góp phần tích cực đảm bảo quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của các DTTS ở Việt Nam
Quyền quản lý nhà nước, quản lý xã hội của các DTTS còn được đảm bảo bằng việc thành lập cơ quan chuyên trách về dân tộc, cả ở trung ương và địa phương Hội đồng dân tộc là cơ quan phụ trách vấn đề dân tộc của Quốc hội; Ủy ban dân tộc là cơ quan chuyên trách về dân tộc thuộc Chính phủ, đây
là hai cơ quan cao nhất phụ trách công tác dân tộc, có chức năng giám sát việc thực hiện pháp luật thuộc lĩnh vực dân tộc, giám sát việc thực hiện các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội miền núi, vùng có đồng bào DTTS của Chính phủ và các cơ quan thuộc Chính phủ, tham gia đóng góp ý
Trang 40kiến về các dự thảo các văn bản luật liên quan đến vấn đề dân tộc Hệ thống
cơ quan quản lý công tác dân tộc ở địa phương, bao gồm, cấp tỉnh có Ban Dân tộc, ở cấp huyện có Phòng Dân tộc, đây là các cơ quan có chức năng nhiệm
vụ quản lý nhà nước trực tiếp về vấn đề dân tộc ở địa phương
Để phát huy vai trò quản lý Nhà nước của đồng bào DTTS, Nhà nước
đã ban hành một số văn bản quy định về việc chính sách đào tạo, tuyển dụng cán bộ là người DTTS vào làm việc tại các cơ quan nhà nước, như: Nghị định 134/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ quy định chế độ cử tuyển vào các cơ sở giáo dục trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, theo đó, chính quyền địa phương, nơi có con em DTTS thi đỗ vào đại học, cao đẳng và sinh viên được cử đi học hệ cử tuyển, có trách nhiệm tiếp nhận và phân công công tác phù hợp với ngành nghề đào tạo sau khi tốt nghiệp Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, đã quy định người dự tuyển là người DTTS được ưu tiên cộng điểm vào tổng điểm thi tuyển hoặc xét tuyển khi tuyển dụng vào cơ quan của Đảng và Nhà nước Mặt khác, để đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý nhà nước cho cán bộ là người DTTS, Nhà nước cũng đã ban hành nhiều chính sách như: Quyết định số 34/2006/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, phường, Thị trấn người DTTS (giai đoạn 2006-2010) Đề án này đã triển khai và đạt những kết quả tích cực
2.1.1.2 Quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận và quyền được thông tin, quyền được hội họp, biểu tình
Hiến pháp quy định rõ “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình Theo đó, các DTTS được thực hiện các quyền này bình đẳng như mọi công dân khác, nhà nước nghiêm cấm các hành vi ngăn cản, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc các DTTS