1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền

119 3,4K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 878,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lĩnh vực hoàn thiện thể chế bộ máy, Đảng ta nhận định: "Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nhà nước ta thực sự là của nhân

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Phạm Hồng Thái

HÀ NỘI - 2012

Trang 3

1.1.1 Khái quát chung về nhà nước pháp quyền 9 1.1.2 Mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền và pháp chế xã hội

chủ nghĩa

15

1.2 Kiểm tra, giám sát của đảng - phương thức bảo đảm pháp

chế và kỷ luật trong nhà nước pháp quyền

19

1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí

Minh và quan điểm của Đảng ta về công tác kiểm tra, giám

sát và kỷ luật của Đảng

21

1.2.2 Đặc điểm công tác kiểm tra, giám sát của Đảng 32 1.2.3 Yêu cầu của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng 37 1.2.4 Phạm vi trách nhiệm công tác kiểm tra, giám sát của các tổ

chức đảng

40

1.3 Vai trò công tác kiểm tra, giám sát của đảng trong nhà nước

pháp quyền Việt Nam

40

1.3.1 Kiểm tra, giám sát của Đảng là phương thức bảo đảm pháp

chế, ngăn ngừa, phát triển và xử lý những hành vi vi phạm

pháp luật trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền

40

Trang 4

1.3.2 Ảnh hưởng của sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa với công tác xây dựng Đảng nói chung và

công tác kiểm tra, giám sát của Đảng nói riêng

49

CỦA ĐẢNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

52

2.1 Thực trạng hoạt động kiểm tra, giám sát của đảng (số liệu

nhiệm kỳ Đại hội Đảng lần thứ X (2005 - 2010)

52

2.1.2 Công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy và tổ chức đảng 54 2.1.3 Kết quả công tác kiểm tra, giám sát của Ủy ban kiểm tra các

cấp theo quy định tại Điều 32 Điều lệ Đảng

60

2.1.4 Tình hình chấp hành kỷ luật và việc thi hành kỷ luật trong Đảng 64 2.1.5 Thực trạng bộ máy của cơ quan Ủy ban kiểm tra các cấp 68 2.2 Các giải pháp tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của

Đảng trong xây dựng nhà nước pháp quyền

76

2.2.1 Mục tiêu, quan điểm, định hướng và nhiệm vụ công tác kiểm

tra, giám sát của Đảng

76

2.2.2 Một số giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng công tác kiểm

tra, giám sát trong Đảng

81

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Pháp quyền là một khái niệm được hình thành và phát triển dọc theo chiều dài lịch sử của văn minh nhân loại Các nội dung, nguyên tắc cơ bản của pháp quyền đã không ngừng được giải thích, bổ sung và hoàn thiện theo từng giai đoạn và từng thời kỳ lịch sử Từ thời Hy Lạp cổ đại, tư tưởng pháp quyền xuất hiện nơi mà nền dân chủ sơ khai đã được hình thành.Đáng chú ý trong thời kỳ này là tư tưởng pháp quyền sơ khai của hai triết gia nổi tiếng Plato và Aristotle Plato khẳng định pháp luật phải là ông chủ của chính quyền để ngăn ngừa sự xuất hiện của những kẻ chuyên quyền Tương tự, Aristotle cho rằng pháp luật cần phải được xem như là sự kiềm chế đối với các pháp quan để hạn chế sự tùy tiện trong quá trình đưa ra các phán quyết

Tư tưởng và học thuyết pháp quyền được tiếp tục bổ sung và phát triển khi giai cấp tư sản ở các quốc gia phương Tây không ngừng lớn mạnh, đấu tranh chống lại giai cấp phong kiến và giáo hội, từ đó từng bước giành ảnh hưởng trên chính trường Trong thời kỳ này, tư tưởng pháp quyền được phát triển và hòa quện vào các học thuyết về phân quyền, chủ nghĩa lập hiến

và dân chủ Nhiều nhà nghiên cứu lớn đã xuất hiện với vai trò hết sức quan trọng trong việc bồi đắp và phát triển các học thuyết pháp quyền Các tên tuổi

và tác phẩm trứ danh trong thời kỳ này cần phải kể đến là Locke J với tác phẩm "Khảo luận thứ hai về chính quyền", J.J Rousseau với tác phẩm "Khế ước xã hội" và Ch.L Montesquieu với tác phẩm "Tinh thần pháp luật" Đặc điểm nổi bật nhất của tư tưởng pháp quyền trong giai đoạn này là đề cao các giá trị dân chủ, tự do và quyền con người J.J Rousseau đã bắt đầu tác phẩm của mình với câu nói bất hủ: "Con người được sinh ra một cách tự do, nhưng khắp nơi lại bị xiềng xích" Từ đó, các nhà tư tưởng trong giai đoạn này tập trung tìm kiếm một cơ chế chế ước quyền lực nhà nước, chống lại sự lạm

Trang 6

quyền và xây dựng một mô hình chính phủ hợp lý nhằm hạn chế việc vi phạm các quyền con người Ch.L Montesquieu với học thuyết tam quyền phân lập

đã được các học giả tư sản phương Tây coi là hòn đá tảng trong việc xây dựng

lý luận tổ chức quyền lực nhà nước tư sản Một nhà nghiên cứu đã nhận xét khái quát tư tưởng pháp quyền chủ đạo trong giai đoạn này bằng một khẩu

hiệu: Con người chỉ được tự do khi chính phủ không được tự do

Tư tưởng và học thuyết pháp quyền hiện đại của phương Tây được thể hiện đậm nét trong tư tưởng Hồ Chí Minh Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa dùng khái niệm "Nhà nước pháp quyền", nhưng tư tưởng của Người về nhà nước pháp quyền đã rất rõ; trong Yêu sách của nhân dân An Nam viết năm 1919, Người yêu cầu phải để cho nhân dân Việt Nam có các quyền tự do như tự do ngôn luận, tự do lập hội và hội họp, tự do giáo dục và đặc biệt là "thay chế độ

ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật" [28 tr 36] Trong "Việt Nam yêu cầu ca", Người đã thể hiện nội dung những yêu sách trên để phổ biến rộng rãi: "Bảy xin hiến pháp ban hành, Trăm đều phải có thần linh pháp quyền" [28 tr 438]

Từ năm 1986, thực hiện chính sách đổi mới của Đảng, nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp từng bước được xóa bỏ Yêu cầu xây dựng nền kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, dân chủ, văn minh đã yêu cầu nhà nước phải được tiếp tục hoàn thiện thể chế, tổ chức để thích ứng tốt hơn với yêu cầu phát triển kinh tế

xã hội của đất nước Sau 5 năm thực hiện chính sách đổi mới, tại Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII ngày 29 tháng 11 năm 1991, khái niệm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa lần đầu tiên được đề cập tới như một mục tiêu cần hướng tới của một xã hội văn minh Sau một thời gian dài của quá trình nhận thức, tìm tòi, thể nghiệm, đến năm 2001 sửa đổi Hiến pháp năm 1992, yêu cầu xây dựng "Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa" mới chính thức trở thành một nguyên tắc hiến định, định hướng cho quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước Việt Nam

Trang 7

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, trên cơ sở tổng kết sâu sắc thực tiễn và lý luận 25 năm đổi mới, Đảng đã nghiên cứu và đề ra các giải pháp nhằm tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Trong lĩnh vực hoàn thiện thể chế bộ máy, Đảng ta nhận định: "Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nhà nước ta thực sự là của nhân dân, do nhân dân,

vì nhân dân do Đảng lãnh đạo, thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế, quản

lý xã hội " [14, tr 246]

Thực tiễn cũng chứng minh, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam là điều kiện tiên quyết để xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền Việt Nam giai đoạn hiện nay Chính vì vậy, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng là nhiệm vụ then chốt không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân Đảng mà còn là điều kiện quan trọng đối với sự tồn tại hoạt động của Nhà nước pháp quyền Vấn đề là phải luôn luôn đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước để sao cho vừa bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, vừa phát huy vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước để tập trung mọi quyền lực vào tay nhân dân Đảng không được buông lỏng sự lãnh đạo đối với hệ thống chính trị, trong đó đặc biệt là đối với Nhà nước Để xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân phải tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay:

Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp, cùng với sự phân hóa giàu nghèo và sự yếu kém trong quản lý,

Trang 8

điều hành của nhiều cấp, nhiều ngành làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước [14, tr 173]

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những yếu kém, khuyết điểm đó là:

Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng chưa làm tốt công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng, chất lượng và hiệu quả kiểm tra, giám sát chưa cao; chưa coi trọng việc kiểm tra, giám sát thực hiện đường lối, chủ trương, chỉ thị, nghị quyết, thi hành Điều lệ Đảng, kiểm tra, giám sát phòng ngừa tiêu cực và phát huy nhân tố tích cực Nhiều khuyết điểm sai lầm của đảng viên và tổ chức đảng chậm được phát hiện Tình trạng thiếu trách nhiệm, cơ hội, suy thoái đạo đức, lối sống vẫn diễn ra khá phổ biến trong một bộ phận cán bộ, đảng viên Kỷ luật, kỷ cương ở nhiều tổ chức đảng không nghiêm

Sự đoàn kết, nhất trí ở không ít cấp ủy chưa tốt [14, tr 175]

Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

của dân, do dân và vì dân, Nghị quyết chỉ rõ: Đảng ta phải:

Quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán

bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng [17]

Để thực hiện được điều đó, bên cạnh việc phải giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng; nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất và năng lực cán bộ, đảng viên; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung, dân chủ; Đảng ta phải tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng Bởi vì, kiểm tra, giám sát là hoạt động không thể thiếu diễn ra trong tất cả các khâu của quy trình

Trang 9

lãnh đạo và quản lý; vì chức năng lãnh đạo của Ðảng không chỉ ở việc định ra đường lối, nghị quyết, tổ chức thực hiện mà còn phải tiến hành kiểm tra, giám sát Ðây là biện pháp không thể thiếu được để phát huy ưu điểm, phòng ngừa, khắc phục khuyết, nhược điểm, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Ðảng

V.I.Lênin đã khẳng định: Khi đường lối, chính sách đã được xác định, phương hướng đã được thông qua thì nhiệm vụ tổ chức thực hiện phải

đặt lên hàng đầu và sự lãnh đạo phải "chuyển trọng tâm từ việc soạn thảo

các sắc lệnh và mệnh lệnh sang việc chọn người và kiểm tra sự thực hiện"

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Người đời ai cũng có khuyết điểm, có làm

việc thì có sai lầm; tuy nhiên Người khẳng định: "Có thể nói rằng: chín

phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra" Ðây là một trong những cảnh báo quan trọng nhất về nguyên nhân của

những sai lầm khuyết điểm trước đây cũng như hiện nay không được thắng thắn chỉ ra Có thể nói, không có kiểm tra, giám sát thì không lãnh đạo và không thể có một Nhà nước pháp quyền theo đúng nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

Từ cơ sở lý luận và thực tiễn cho thấy công tác kiểm tra, giám sát của Đảng có mối quan hệ biện chứng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa; là phương thức đảm bảo pháp chế trong Nhà nước pháp quyền Với mong muốn góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác kiểm tra, giám sát trong quá trình xây dựng Nhà nước Pháp

quyền ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, tôi chọn đề tài "Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền" làm

luận văn thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cho đến nay có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu liên quan đến vấn đề nhà nước pháp quyền, như:

Trang 10

- Công trình khoa học của Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội với tên

gọi: Chính phủ trong nhà nước pháp quyền, do PGS.TS Nguyễn Đăng Dung

thực hiện năm 2008;

- Nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Nguyễn Văn

Thảo, Nhà xuất bản Tư pháp;

- Tính minh bạch của pháp luật - một thuộc tính của Nhà nước pháp

quyền, của Phạm Duy Nghĩa, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, 2002;

- Tư tưởng Đông - Tây về nhà nước và pháp luật, những nhân tố nhà

nước pháp quyền, của Hoàng Thị Kim Quế, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 2002;

- Học thuyết Nhà nước pháp quyền, một số vấn đề trong lịch sử hình

thành và phát triển, của Lê Cảm, năm 2002;

- Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, của

GS.TSKH Đào Trí Úc, Nxb Chính trị quốc gia, 2005;

- Quốc hội Việt Nam trong nhà nước pháp quyền, của GS.TS Nguyễn

Đăng Dung, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2007;

- Công trình khoa học của Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội với tên

gọi: Chính phủ trong nhà nước pháp quyền, do PGS.TS Nguyễn Đăng Dung

thực hiện năm 2008

Nội dung về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đã có nhiều bài viết, nghiên cứu trong những năm gần đây, như:

- Cao Văn Thống: Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát phục vụ

nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, 2009;

- Đề tài khoa học cấp bộ: Công tác giám sát trong Đảng giai đoạn

hiện nay, do TS Đặng Đình Phú, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia

Hồ Chí Minh làm chủ nhiệm, nghiệm thu 2007

- Tô Quang Thu: Làm tốt nhiệm vụ giám sát, góp phần phát hiện và

khắc phục khuyết điểm khi mới manh nha, Tạp chí Kiểm tra, tháng 11/2006;

Trang 11

- Lê Hồng Liêm: Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với phòng,

chống tham nhũng ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011;

- Cao Văn Thống: Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình

trong công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng, Tạp chí Kiểm tra, 02/2012

Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu nội dung mối quan hệ giữa công tác kiểm tra, giám sát trong xây dựng Nhà nước pháp quyền

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

Làm rõ mối quan hệ bản chất, tất yếu giữa công tác xây dựng Đảng nói chung và công tác kiểm tra, giám sát nói riêng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Giải quyết tốt mối quan hệ này phải xem xét tác động hai chiều, có nghĩa là nghiên cứu tác động, ảnh hưởng của công tác kiểm tra, giám sát trong xây dựng Đảng đối với công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và tác động, ảnh hưởng của xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đối với công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

Luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền;

Cơ sở lý luận về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Phân tích, đánh giá thực trạng công tác kiểm tra, giám sát và xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân trong giai đoạn hiện nay; mối quan hệ bản chất, tất yếu giữa công tác xây dựng Đảng nói chung và công tác kiểm tra, giám sát nói riêng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa

Đề xuất quan điểm và giải pháp về về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền

Trang 12

4 Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng gồm: Phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê, trên cơ sở kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, nhằm đánh giá, kết luận và đưa ra những giải pháp, phương hướng cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra của luận văn

5 Những đóng góp mới của luận văn

Làm rõ mối quan hệ bản chất, tất yếu giữa công tác xây dựng Đảng nói chung và công tác kiểm tra, giám sát nói riêng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm tra, giám sát của Đảng trong Nhà

nước pháp quyền

Chương 2: Thực trạng hoạt động công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

và các giải pháp nhằm tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG

TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

1.1 KHÁI QUÁT VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

1.1.1 Khái quát chung về nhà nước pháp quyền

"Xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân" là thuật ngữ được sử dụng chính thức trong Văn kiện hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII năm 1994, từ đó đến nay Đảng ta tiếp tục khẳng định: Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân là quy luật tất yếu khách quan Nó không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản, mà là tinh hoa, sản phẩm trí tuệ loài người, của nền văn minh nhân loại

Kế thừa những tư tưởng, giá trị tiến bộ về nhà nước pháp quyền trên thế giới và manh nha ở nước ta qua sự phát triển của các triều đại phong kiến

ở Việt Nam, căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành và điều kiện cụ thể của nước ta trong giai đoạn hiện nay có thể nêu ra một số đặc điểm của Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa như sau:

Thứ nhất, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân

Đặc điểm này thể hiện được bản chất của Nhà nước ta, đã được khẳng định tại Điều 2 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001):

Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ

trí thức [31]

Trang 14

Đối với Nhà nước ta, tính giai cấp gắn bó chặt chẽ với tính dân tộc và tính nhân dân Tư tưởng xây dựng một Nhà nước của dân, do dân và vì dân là bắt nguồn từ truyền thống đại đoàn kết dân tộc của các thế hệ người Việt Nam trong mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước Hơn 700 năm trước, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn trước khi mất đã để lại những lời tâm huyết khuyên vua Trần Anh Tông: "Nên khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước" Lời khuyên đó thể hiện tầm nhìn sâu rộng của một nhà chính trị lỗi lạc, vẫn còn nguyên giá trị cho đến tận hôm nay, bởi

"chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân" (Nguyễn Trãi) và "gốc có

vững, cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân" (Hồ Chí Minh)

Bài học lấy dân làm gốc với tư tưởng bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hành đều của dân nhất quán trong lịch sử xây dựng và phát triển của Nhà nước ta tuy không mới, nhưng ngày nay vẫn luôn nóng bỏng tính thời sự trong học và thực hành đối với mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, quản lý - phải lấy dân làm gốc.Vì khi dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, công bằng, không bức xúc vì tham nhũng, dân sẽ bảo vệ Đảng, Chính phủ Khi đó, không một thế lực bên ngoài nào dù mạnh và mưu mô quỷ quyệt đến đâu có thể can thiệp, gây rối, lật đổ

Nhà nước ta do dân lập nên, do dân bầu ra, dân kiểm tra, giám sát Đó phải là Nhà nước hoạt động vì dân, lấy việc phục vụ nhân dân làm mục tiêu cao nhất của mình Sức mạnh của Nhà nước bắt nguồn từ sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân; phải xây dựng Nhà nước trong sạch vững mạnh, gần dân, sát dân, thể hiện đúng ý chí, nguyện vọng của dân; bảo đảm trên thực tế quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân

Thứ hai, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, ra sức tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp

Trong Nhà nước pháp quyền, ý chí của nhân dân và sự lựa chọn chính trị được xác lập một cách tập trung nhất, đầy đủ nhất và cao nhất bằng hiến

Trang 15

pháp Chính vì lẽ đó mà Hiến pháp được coi là đạo luật cơ bản của Nhà nước,

có hiệu lực pháp lý cao nhất, quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước Sự hiện diện của Hiến pháp là điều quan trọng bậc nhất bảo đảm sự ổn định xã hội và sự an toàn của người dân Vì vậy chủ nghĩa lập hiến là điều kiện để bảo đảm sự chính đáng về mặt pháp lý (tính pháp quyền) của các thiết chế quyền lực nhà nước cũng như của các hành vi có tính quốc gia Hiến pháp có một vai trò quan trọng trong việc duy trì quyền lực của nhân dân, cho nên việc xây dựng

và thực hiện một cơ chế hữu hiệu cho việc phát hiện, đánh giá và phán quyết

về những quy định và hoạt động trái với Hiến pháp là rất cần thiết trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước ta hiện nay Tôn trọng Hiến pháp là tôn trọng ý chí phổ biến nhất và đầy đủ nhất của nhân dân Chính vì vậy chủ nghĩa lập hiến đồng nghĩa với sự thừa nhận tính tối cao của chủ quyền nhân dân Bảo vệ Hiến pháp là bảo vệ chủ quyền Nhà nước, bảo vệ ý chí của nhân

Trang 16

ta: Công bằng, dân chủ, bình đẳng - những tố chất cần thiết cho sự phát triển

tiến bộ và bền vững của Nhà nước và xã hội ta

Đề cao pháp luật, tăng cường pháp chế phải đi liền với các mối quan tâm làm sao để đưa pháp luật vào cuộc sống, tạo thói quen và nếp sống tôn trọng pháp luật trong cán bộ và mọi tầng lớp nhân dân Cho nên xây dựng pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống phải thực sự là hai mặt của một nhiệm vụ Đổi mới và hoàn thiện pháp luật phải đi liền với đổi mới và hoàn thiện thực tiễn áp dụng pháp luật Tăng cường hoạt động xây dựng pháp luật phải đi liền với việc hoàn thiện các thủ tục pháp lý, đổi mới và cải cách hành chính và hệ thống tư pháp Đồng thời, đề cao pháp luật và pháp chế còn đặt ra nhiệm vụ phải bằng mọi cách nâng cao hiểu biết pháp luật, giáo dục ý thức pháp luật, đấu tranh có hiệu quả với các vi phạm và tội phạm, kiên quyết chống quan liêu và tham nhũng trong bộ máy Đảng và Nhà nước

Thứ tư, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tôn trọng và bảo vệ quyền con người, các quyền và tự do của công dân, giữ vững mối liên

hệ dân chủ Nhà nước và công dân, giữa Nhà nước và xã hội

Điều 2 Hiến pháp 1992 (sửa đổi), khẳng định: "Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân" [31] Do đó Nhà nước có trách nhiệm pháp lý bảo vệ và phát triển quyền con người, quyền công dân, tức là tôn trọng và bảo

vệ quyền chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước Trong bản tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố với toán thế giới rằng:

"Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc" Vì vậy bảo đảm quyền con người, quyền công dân, mở rộng quyền dân chủ, nâng cao trách nhiệm pháp

lý giữa Nhà nước và công dân, giữ công dân với Nhà nước… luôn được Đảng

ta giành sự quan tâm đặc biệt

Trang 17

Thứ năm, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền: Lập pháp, hành pháp, tư pháp, có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện quyền lực nhà nước

Đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quyền lực được tập trung, thống nhất, có sự phân công và phối hợp trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp giữa các cơ quan,

trong đó:

Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp…thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước

Chính phủ là cơ quan chấp hành của quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của nhà nước

Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp

Mặc dù quyền lực nhà nước có sự phân công phân nhiệm rành mạch giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lực nhà nước, nhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước - tất cả quyền lực nhà nước là của dân, do dân, và vì dân

Thứ sáu, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là Nhà nước do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo

Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam Đảng

Trang 18

lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội

Bảo đảm nguyên tắc Đảng lãnh đạo Nhà nước, giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước, bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, đưa sự nghiệp đổi mới đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa Sự lãnh đạo của Đảng ta đối với Nhà nước pháp quyền thể hiện như sau:

Một là, Đảng lãnh đạo các cơ quan nhà nước thể chế hóa đường lối,

chủ trương, chính sách của Nhà nước và tổ chức thực hiện thông qua bộ máy nhà nước, bảo đảm cho đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng đi vào đời sống xã hội Trong giai đoạn hiện nay Đảng ta phải tập trung lãnh đạo vào một số vấn đề then chốt như thực hiện cho được quyền làm chủ của nhân dân đổi mới thể chế kinh tế nhằm phát huy mọi tiềm năng của lực lượng sản xuất, đồng thời trên cơ sở ấy, từng bước xây dựng quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, tăng cường quốc phóng và an ninh vững mạnh

Hai là, Đảng phải lãnh đạo chăm lo xây dựng đội ngũ và tăng cường

quản lý cán bộ, công chức, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Đảng lãnh đạo công tác quy hoạch và chiến lược cán bộ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công thức nhà nước cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển

Ba là, Đảng phải lãnh đạo công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt

động của cơ quan nhà nước, các tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên hoạt động trong cơ quan nhà nước

Bốn là, Đảng phải phát huy vai trò, trách nhiệm của mặt trận tổ quốc

và các thành viên của mặt trận trong việc xây dựng và bảo vệ chính quyền, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, thu hút sự tham gia rộng rãi cho nhân dân vào việc quản lý và giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước

Trang 19

Vì vậy Đảng lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là trực tiếp, toàn diện và bao quát toàn bộ những vấn đề then chốt trong

tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

1.1.2 Mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền và pháp chế xã hội chủ nghĩa

- Pháp chế xã hội chủ nghĩa

Khái niệm pháp chế xã hội chủ nghĩa có từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga V.I.Lênin là người đưa ra định nghĩa pháp chế và các nguyên tắc của nó đã làm giàu thêm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật

Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị - xã hội, trong đó tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, nhân viên nhà nước và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện Hiến pháp, pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để, chính xác Mọi hành động xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích của tập

thể, của công dân đều bị xử lý theo pháp luật [19, tr 54]

Do ý nghĩa, mục đích và tầm quan trọng của pháp chế xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhiều lần đề cập trong các nghị quyết, chỉ

rõ phương hướng và biện pháp cần thiết để tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Nghị quyết Đại hội VI của Đảng nhấn mạnh:

Phải dùng sức mạnh của pháp chế xã hội chủ nghĩa kết hợp với sức mạnh của dư luận quần chúng để đấu tranh chống những hành vi phạm pháp Các cấp ủy Đảng, từ trên xuống dưới phải thường xuyên lãnh đạo công tác pháp chế kiểm tra chặt chẽ hoạt động của các cơ quan pháp chế [5, tr 121]

Nghị quyết Đại hội VII của Đảng khẳng định: "Điều kiện quan trọng

để phát huy dân chủ là xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, tăng

Trang 20

cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao dân trí, trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức pháp luật của nhân dân [6, tr 121]

Tại Đại hội VIII của Đảng, quan điểm này được xác định: "Tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức " [7, tr 45]

- Nguyên tắc của pháp chế xã hội chủ nghĩa:

Một là, tính thống nhất

Nội dung cơ bản: nhận thức, hiểu và áp dụng pháp luật phải thống nhất trong phạm vi cả nước V.I.Lê-nin viết: "Pháp chế không thể là pháp chế của tỉnh Caluga hoặc tỉnh Ca-dan được mà phải là pháp chế duy nhất cho toàn nước Nga

và cho cả toàn thể Liên bang các nước cộng hòa Xô-viết nữa" [24, tr 232-233]

Nguyên tắc pháp chế nhằm xóa bỏ tư tưởng cục bộ, địa phương, làm cho các địa phương liên hệ, phát triển, hồi sinh, hợp tác Tính thống nhất đòi hỏi sự

sáng tạo, song trong khuôn khổ pháp luật

Trang 21

Bốn là, pháp chế xã hội chủ nghĩa gắn liền với dân chủ

Dưới chế độ dân chủ, pháp luật thừa nhận mọi công dân đều có quyền bình đẳng trong việc tham gia quản lý và tham gia công việc nhà nước Chủ nghĩa xã hội và dân chủ gắn bó với nhau Bản chất của chủ nghĩa xã hội là dân chủ, tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội là ở đó Chủ nghĩa xã hội không thể tồn tại và phát triển được nếu thiếu dân chủ và dân chủ không thể thực hiện được đầy đủ, mở rộng nếu không thể hiện bằng hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Dân chủ là chế độ chính trị của nhà nước xã hội chủ nghĩa với sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân lao động vào công việc nhà nước Dân chủ có mối quan hệ không tách rời với pháp chế xã hội chủ nghĩa Không thể

có dân chủ chân chính bên ngoài pháp chế xã hội chủ nghĩa Ngược lại, trạng thái pháp chế lại phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện dân chủ xã hội chủ nghĩa trong đời sống nhà nước và xã hội Dân chủ là một trong những tiền đề bảo đảm của pháp chế xã hội chủ nghĩa

Năm là, mối quan hệ giữa pháp chế và văn hóa

Trình độ văn hóa của nhân dân lao động và những cá nhân có trách nhiệm càng cao thì việc thực hiện pháp luật càng tự giác và thống nhất, ngược lại, sự tăng cường pháp chế lại mở ra khả năng lớn để phát triển văn hóa xã hội chủ nghĩa V.I Lê-nin coi đây là điều kiện quan trọng để thực hiện pháp chế xã hội chủ nghĩa Người viết: "Nếu chúng ta không áp dụng cho bằng được điều kiện cơ bản ấy để thiết lập pháp chế thống nhất trong toàn Liên bang, thì không thể nào nói đến vấn đề bảo vệ và xây dựng bất cứ một nền văn hóa nào được" [23, tr 232-233]

Như vậy, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa là một đòi hỏi khách quan của quá trình quản lý và lãnh đạo Nó trở thành nguyên tắc hiến định của

xã hội ta được quy định tại Điều 12, Hiến pháp 1992:

Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Các cơ quan nhà nước, tổ chức xã

Trang 22

hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật [30]

Do đó, pháp chế xã hội chủ nghĩa là một khái niệm rất quan trọng trong

tổ chức của bộ máy nhà nước, trong hoạt động của mỗi chủ thể, công dân kể từ Đại hội VI của Đảng đến nay, các nghị quyết của Đảng thường xuyên, liên tục

đề cập đến vấn đề này Hiến pháp với tính chất là đạo luật cao nhất của nhà nước đã thể chế hóa quan điểm nêu trên của Đảng, càng chứng tỏ pháp chế xã hội chủ nghĩa rất cần thiết, không thể thiếu trong đời sống xã hội nước ta

- Pháp chế trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền có mối liên

hệ với pháp chế Nhà nước pháp quyền khẳng định tính tối cao của pháp luật, trong đó Hiến pháp là đạo luật cơ bản, pháp luật chi phối và điều chỉnh các quan hệ xã hội Nhà nước định ra pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật, theo pháp luật Đây là đặc trưng cơ bản nhất của Nhà nước pháp quyền nói chung cũng như Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam nói riêng Vì thế, nhất thiết phải tăng cường pháp chế nhằm tạo ra những văn bản pháp luật có chất lượng để tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, phòng tránh sự lạm quyền của cán bộ, cơ quan nhà nước

Nhà nước pháp quyền đòi hỏi các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội hay cá nhân đều phải tuân theo pháp luật, bình đẳng trước pháp luật Nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải bảo đảm tôn trọng pháp luật - thước đo đầu tiên đối với tất cả các chủ thể trong xã hội Bởi vì, pháp luật được coi là giá trị chung, là đại lượng mang tính phổ biến, bảo đảm mọi người được bình đẳng

và công bằng xã hội Nhà nước muốn trở thành Nhà nước pháp quyền phải được tổ chức trên cơ sở pháp luật Mọi tổ chức và hoạt động của nhà nước được pháp luật quy định và bảo đảm cho các quy định đó có hiệu lực pháp lý

Tổ chức nhà nước từ cơ quan quyền lực, hành chính, tư pháp từ Trung ương

Trang 23

cho đến địa phương, cơ sở đều do pháp luật quy định Pháp luật quy định thẩm quyền cho từng loại cơ quan, quan hệ giữa các cơ quan nhà nước, hoạt động của các cơ quan nhà nước Tất cả những lĩnh vực ấy đều được các chế tài của pháp luật bảo đảm thực hiện Lý luận Mác - Lênin và thực tiễn chỉ ra rằng quản lý xã hội bằng pháp luật là có hiệu quả nhất, văn minh nhất

Nhà nước pháp quyền đối lập với những tư tưởng coi thường pháp luật Hiện tượng coi thường pháp luật của một số cán bộ và nhân dân thực chất là đối lập pháp quyền Trong Nhà nước pháp quyền, quyền con người được mở rộng theo nguyên tắc công dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm, cán bộ nhà nước, cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì pháp luật cho phép Nguyên tắc này thể hiện sự ràng buộc của pháp luật đối với tất

cả mọi người, không phân biệt địa vị xã hội, chức vụ, chống lại sự tùy tiện, chuyên quyền, độc đoán của cán bộ nhà nước, cơ quan nhà nước và nhà nước

Để thực hiện được những nội dung trên, Nhà nước pháp quyền Việt Nam không chỉ cần có đủ luật, mà còn yêu cầu cao về chất lượng các đạo luật, phải có hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, ổn định lâu dài Để đưa pháp luật vào đời sống nhà nước và xã hội đòi hỏi phải tăng cường pháp chế trong tất cả các lĩnh vực như: xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật, tổ chức bộ máy, phát huy dân chủ

Như vậy, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa một trong những nhiệm vụ quan trọng, để đưa pháp luật vào cuộc sống nhằm xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện hiện nay và lâu dài Để tăng cường pháp chế đòi hỏi tiến hành các hoạt động kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật

1.2 KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG - PHƯƠNG THỨC BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ VÀ KỶ LUẬT TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

Như đã nêu ở phần trên, trong nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải có sự kiểm soát đối với quyền lực nhà nước, đồng thời có sự kiểm tra, giám sát việc

Trang 24

thực hiện Hiến pháp và pháp luật đối với mọi cơ quan nhà nước, các tổ chức

và mọi công dân

Để đảm bảo thực hiện quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền thì dù ở chế độ xã hội nào việc thực hiện cơ chế kiểm tra, giám sát luôn được đặt ra một cách tất yếu; bởi vì, nhà nước pháp quyền về thực chất là để công khai hóa quyền lực và chống lạm dụng quyền lực, đảm bảo cho Hiến pháp và pháp luật được thực hiện một cách nghiêm minh

Trong chế độ ta, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Với quyền lực nhân dân giao cho, Nhà nước quản lý xã hội để phục vụ nhân dân Nội dung cơ bản của quản lý nhà nước bao gồm ba mặt thống nhất chặt chẽ với nhau như sau: Ban hành quyết định quản lý; Tổ chức, phân công, chỉ đạo việc thực hiện các quyết định quản lý; Kiểm tra việc thực hiện các quyết định quản lý

Nhà nước ban hành pháp luật là để quản lý, nhưng chỉ ban hành pháp luật thôi thì chưa quản lý được xã hội Do đó, bước tất yếu tiếp theo là phải tổ chức, điều hành để biến các quy định của pháp luật trở thành hành vi xử sự của mỗi cơ quan, tổ chức, cá nhân Cuối cùng là kiểm tra, đánh giá chất lượng của pháp luật để đề ra các biện pháp thích hợp hoặc điều chỉnh lại các quy định của pháp luật Rõ ràng thanh tra, kiểm tra, giám sát là một trong 3 mặt thống nhất của quản lý (hiểu theo nghĩa rộng), là một khâu không thể thiếu của hoạt động quản lý nhà nước.Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước luôn luôn coi thanh tra, kiểm tra, giám sát là công tác cực kỳ quan trọng có ý nghĩa quyết định đến việc nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta: ở đâu có Nhà nước thì ở đó có thanh tra, kiểm tra, giám sát; quản lý đồng thời phải có thanh tra, kiểm tra, giám sát; quản lý thanh tra, kiểm tra, giám sát là một chứ không phải là hai Ở bên trong từng bộ phận hợp thành hệ thống chính trị của nhà nước ta đều có những cơ chế hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát -

Trang 25

thanh tra, kiểm tra hành chính, thanh tra chuyên ngành, mọi cơ quan nhà nước đều có chức năng kiểm tra, giám sát trong nội bộ cơ quan; các cơ quan quyền lực nhà nước có chức năng giám sát việc thực hiện pháp luật Bên cạnh đó còn có các tổ chức xã hội - là những thiết chế cộng đồng thực hiện sự giám sát đối với các cơ quan nhà nước, đặc biệt là hoạt động kiểm tra, giám sát của đảng đối với các cơ quan nhà nước

Như vậy, các phương thức kiểm tra, giám sát trong nhà nước pháp quyền bao gồm: Hoạt động kiểm tra; Thanh tra; Giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước; Giám sát của các tổ chức xã hội và kiểm tra, giám sát của Đảng…

1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

và quan điểm của Đảng ta về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng

1.2.1.1 Kiểm tra, giám sát là một tất yếu khách quan, là một biểu hiện nghiêm túc của hoạt động có ý thức của mọi tổ chức và con người trong xã hội

Hoạt động của tổ chức và con người trong xã hội là hoạt động có ý thức; trước khi hành động, các tổ chức và cá nhân đều phải suy nghĩ, xác định

rõ ý định, chủ trương, kế hoạch tiến hành và tổ chức thực hiện thắng lợi ý định, chủ trương, kế hoạch ấy trong thực tiễn Song, thực tiễn luôn luôn vận động, biến đổi, phát triển không ngừng theo quy luật khách quan, nên ý định, chủ trương, kế hoạch đã xác định dù được nghiên cứu, tính toán, cân nhắc kỹ vẫn có thể có những thiếu sót, sơ hở, thậm chí không có khả năng thực thi hoặc sai lầm nghiêm trọng Vì vậy, muốn đạt được kết quả trong thực tiễn, phải xem xét tình hình thực tế để nhận xét, đánh giá; có nghĩa là phải kiểm tra, giám sát; phải kiểm tra, giám sát toàn bộ từ ý định, chủ trương, kế hoạch đến tổ chức thực hiện và kết quả đạt được để giúp cho tổ chức và cá nhân đánh giá đúng ưu điểm, khuyết điểm của chủ trương, kế hoạch, hành động; kịp thời rút kinh nghiệm, bổ sung, sửa đổi những thiếu sót, chưa đồng bộ, chưa phù hợp hoặc sai lầm, lệch lạc; bảo đảm ý định, chủ trương, kế hoạch,

Trang 26

hành động được đúng đắn, chuẩn xác hơn, chất lượng, hiệu quả đạt được tốt đẹp hơn Do đó, hoạt động có ý thức là hoạt động có kiểm tra, giám sát; ý thức càng cao, tổ chức càng quan trọng, con người ở cương vị càng cao, nhiệm vụ càng khó khăn, phức tạp, thì càng đòi hỏi phải coi trọng và tiến hành tốt công tác kiểm tra, giám sát

Trong các tác phẩm của mình, C.Mác chưa đề cập sâu đến công tác kiểm tra, giám sát của một đảng cầm quyền, nhưng đã thể hiện rõ quan điểm

về kiểm tra, giám sát trong quản lý kinh tế - xã hội Theo C.Mác, để đạt kế hoạch, mục tiêu đã đề ra phải tiến hành kiểm tra, giám sát kiểm tra, giám sát

là phương thức hành động quan trọng để thực hiện mục tiêu

Lênin luôn coi công tác kiểm tra, kiểm soát (giám sát) là một công cụ hữu hiệu và là một trong những nội dung lãnh đạo quan trọng đối với tổ chức đảng, cơ quan nhà nước Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị đã đề ra thì những người cộng sản phải nắm chắc công cụ kiểm tra, kiểm soát coi đó như

là: "những nhiệm vụ đã trở thành tự nhiên đối với những người xã hội chủ

nghĩa sau khi giành được chính quyền" [22, tr 298] Theo Lênin: Khi đường

lối, chính sách đã được xác định, phương hướng đã được thông qua thì nhiệm

vụ tổ chức thực hiện phải đặt lên hàng đầu và trọng tâm của sự lãnh đạo phải

chuyển "từ việc soạn thảo các sắc lệnh và mệnh lệnh sang việc chọn người và

kiểm tra sự thực hiện" Người đã nhấn mạnh:

Lựa chọn người, thiết lập chế độ trách nhiệm cá nhân đối với công việc đang làm, kiểm tra công việc thực tế, mấu chốt của toàn bộ công tác, của toàn bộ chính sách hiện nay là ở đấy, vẫn ở đấy và chỉ có ở đấy Nếu như các cán bộ lãnh đạo và các cơ quan của Đảng và Nhà nước chỉ "bù đầu, bù tai" vào những công việc vụn vặt, chìm đắm trong "cái biển" giấy tờ và cái vũng lầy chủ nghĩa quan liêu mà quên mất nhiệm vụ trọng tâm: lựa chọn cán bộ, kiểm tra, kiểm soát, phát triển kinh tế, thì tất cả mệnh lệnh và quyết định chỉ là mớ giấy lộn [22, tr 451]

Trang 27

Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm đến công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật và giữ gìn kỷ luật của Đảng Người đã vận dụng sáng tạo và phát triển lý luận của Lênin về công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng và trong quản lý Nhà nước Người cho rằng, mọi hành vi của con người đều vận động theo quy luật khách quan vốn có, Người nói: Người đời không phải là thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm Nghĩa là dù có là vĩ nhân hay là người bình thường trong xã hội khi đã làm việc thì không tránh khỏi có những lúc bản thân đưa ra phán quyết, ứng xử sai sót, thậm chí sai lầm để lại hậu quả; Người nói: Người đời ai cũng có khuyết điểm, có làm việc thì có sai lầm; Tuy nhiên

ở góc độ công tác kiểm tra, giám sát, Người khẳng định: "Có thể nói rằng: chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra"

[25, tr 1950] Người đã khẳng định: " Khi có chính sách đúng, thì thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích" [25, tr 1954] Người đã nhắc nhở: "Có kiểm tra mới huy động được tinh thần tích cực và lực lượng to tát của nhân dân, mới biết

rõ năng lực và khuyết điểm của mỗi cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời" [25, tr 1956]

Mục đích công tác kiểm tra, giám sát là nhằm hoàn thiện quy trình lãnh đạo của Đảng (bao gồm các khâu: ra quyết định, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát); phát hiện người tốt, việc tốt; ngăn ngừa vi phạm, giữ gìn kỷ luật của Đảng; góp phần thực hiện có kết quả cao nhất các nghị quyết đã đề ra; xây dựng, củng cố tổ chức đảng, bộ máy nhà nước, các đoàn thể chính trị -

xã hội ngày càng trong sạch, vững mạnh Có kiểm tra, giám sát mới biết rõ cán bộ, nhân viên tốt hay xấu; mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các cơ quan; mới biết rõ tính đúng đắn, khả thi hay chưa phù hợp của các nghị quyết, chỉ thị Như vậy, kiểm tra, giám sát không chỉ giúp cho lãnh đạo nắm chắc chất lượng đội ngũ cán bộ, ngăn ngừa khuyết điểm, sai lầm , mà còn khơi dậy được tính tích cực, sức mạnh to lớn của nhân dân, củng cố uy tín của

Trang 28

Đảng trước quần chúng Kiểm tra, giám sát là phương tiện, là liều thuốc đặc

hiệu chống lại căn bệnh: "Nghị quyết một đằng, thi hành một nẻo" và bệnh

tham nhũng, quan liêu, giấy tờ

Tại Hội nghị tổng kết công tác kiểm tra của Đảng, ngày 29/7/1964, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh:

Công việc của Đảng và Nhà nước ngày càng nhiều Muốn hoàn thành tốt mọi việc, thì toàn thể đảng viên và cán bộ phải chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và chính sách của Đảng Và muốn như vậy thì các cấp ủy đảng phải tăng cường công tác kiểm tra Vì kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên và cán bộ làm trọn trách nhiệm đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốt đối với nhân dân [27, tr 300]

1.2.1.2 Kỷ luật của Đảng

Thực tiễn đã chứng minh và khẳng định rằng, Đảng ta không thể nào tồn tại, lãnh đạo nhân dân giành lấy chính quyền và giữ vững chính quyền nếu không có kỷ luật nghiêm minh của Đảng Cho nên từ khi thành lập cho đến nay, Đảng ta luôn luôn coi trọng vấn đề kỷ luật Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến hành thì chỉ như một người Đó là nhờ có kỷ luật" [26, tr 553] Chính vì có kỷ luật nghiêm minh

mà hơn 80 năm qua, Đảng ta đã đứng vững trước mọi thử thách hiểm nghèo của cách mạng và lãnh đạo giành nhiều thắng lợi vẻ vang qua các thời kỳ Ngày nay, cách mạng nước ta đã chuyển sang thời kỳ phát triển mới, vừa có nhiều cơ hội thuận lợi lớn, vừa có những thách thức, nguy cơ lớn Sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới đòi hỏi Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao hơn nữa sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo, tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiền phong của Đảng Trước yêu cầu đó, vấn đề kỷ luật của Đảng càng cực kỳ quan trọng, vừa có ý nghĩa cơ bản, lâu dài, vừa mang tính thời sự, cấp bách Kỷ luật nghiêm minh mới bảo đảm cho đường

Trang 29

lối, chính sách, nghị quyết, chỉ thị của Đảng được chấp hành triệt để, không bị lệch hướng; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng mới được tăng cường

Bắt nguồn từ bản chất giai cấp của Đảng, nên "Kỷ luật của Đảng là kỷ luật sắt, nghĩa là nghiêm túc và tự giác" [26, tr 553]

Nghiêm túc, là tất cả các tổ chức đảng và đảng viên đều phải phục

tùng kỷ luật của Đảng, phải chấp hành các nguyên tắc tổ chức của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ; tổ chức đảng và đảng viên vi phạm đều phải được xem xét, nếu cần thiết phải bị thi hành kỷ luật Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu: Khi chưa quyết định thì tha hồ bàn cãi, nhưng khi đã quyết định rồi thì không được bàn cãi nữa, có bàn cãi cũng chỉ là bàn cách thi hành cho được, cho nhanh; không phải để đề nghị không thực hiện Đảng yêu cầu mọi tổ chức và đảng viên phải chấp hành kỷ luật đảng vô điều kiện Đảng không giảm bớt yêu cầu đối với ai, không ai được coi là ngoại lệ "Đảng viên, cán bộ phải rèn luyện tính tổ chức, tính kỷ luật, tự giác đặt mình trong sự quản lý của chi bộ, tham gia đầy đủ sinh hoạt chi bộ, tuân thủ kỷ luật của Đảng Không để một đảng viên nào đứng ngoài sự quản lý của tổ chức" [7, tr 143]

Tự giác, là đặc trưng cơ bản của kỷ luật đảng Vì Đảng ta bao gồm

những người thừa nhận và tự nguyện phấn đấu thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, lấy việc phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, lợi ích của

Tổ quốc, của nhân dân làm lẽ sống của mình Mọi đảng viên đều ý thức sâu sắc rằng, giữ gìn kỷ luật của Đảng, giữ gìn sự thống nhất ý chí và hành động của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình, nên dù trong lĩnh vực hoạt động nào, trong điều kiện, hoàn cảnh nào, càng khó khăn, phức tạp, càng phải

đề cao tinh thần tự giác chấp hành kỷ luật của Đảng

Phương châm thi hành kỷ luật của Đảng thể hiện rõ quan điểm, chính sách xử lý của Đảng đối với tổ chức đảng và đảng viên vi phạm Điều 35, Điều lệ Đảng quy định: "Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm kỷ luật phải xử

lý công minh, chính xác, kịp thời" [15, tr 54]

Trang 30

Tóm lại, kỷ luật của Đảng có tầm quan trong đặc biệt trong thực hiện nhiệm vụ chính trị và xây dựng Đảng, bảo đảm cho sự tồn tại, hoạt động và phát triển của Đảng Mọi biểu hiện coi thường kỷ luật của Đảng, tự đặt mình lên trên tổ chức, ra ngoài tổ chức và những hành động vi phạm kỷ luật của Đảng, dù nhỏ đều làm suy yếu sức chiến đấu của Đảng Trong tình hình hiện nay, Đảng ta cần có kỷ luật nghiêm minh

Như vậy, kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng là một tất yếu khách quan, là một biểu hiện nghiêm túc của hoạt động có ý thức của mọi tổ chức và con người trong xã hội

1.1.2.3 Quan điểm của Đảng ta về công tác kiểm tra, giám sát qua các thời kỳ

- Quan điểm trước thời kỳ đổi mới

Điều lệ Đảng chính thức được thông qua vào tháng 10/1930 đã quy định: Trách nhiệm của đảng viên và cán bộ là giữ gìn kỷ luật đảng một cách nghiêm khắc Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ I (10/1935) đã khẳng định: "Cần giữ kỷ luật sắt cho Đảng, những phần tử trái đường chính trị chung của Đảng, của Quốc tế Cộng sản mà không chịu sửa lỗi, những kẻ không phục tùng nghị quyết, Điều lệ, phá hoại kỷ luật của Đảng thì nhất thiết phải khai trừ" [8, tr 25]

Tạị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (2/1951), Đảng ta đã khẳng định: "Đảng Lao động Việt Nam phải có kỷ luật rất nghiêm, kỷ luật sắt Kỷ luật ấy là một đặc điểm của Đảng "; Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960) đã nêu rõ: "Phải tăng cường kiểm tra và giám sát của Đảng đối với cán bộ và cơ quan nhà nước, giữ gìn kỷ luật nghiêm minh, xử lý thích đáng với những phần tử quan liêu gây tác hại nghiêm trọng cho Đảng và Nhà nước" [18, tr 50] và nhấn mạnh: "Lãnh đạo mà không có kiểm tra thì lãnh đạo sẽ trở thành quan liêu" [18, tr 87]; Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (12/1976) đã yêu cầu phải: "Tổ chức chu đáo, thường xuyên và có

Trang 31

hệ thống cống tác kiểm tra việc thực hiện đường lối, chính sách, ngăn ngừa xảy ra sai lầm, ngăn ngừa các vụ vi phạm nguyên tắc Không kiểm tra coi như không lãnh đạo" [3, tr 192-193]; Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (3/1982) đã nêu rõ:

Công tác kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo chủ yếu của Đảng, một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng, nhất là trong hoàn cảnh Đảng lãnh đạo chính quyền Hiệu lực tổ chức, chỉ đạo thực hiện đòi hỏi phải hết sức coi trọng và tăng cường công tác giám sát và kiểm tra việc thực hiện các quyết định Phải có chương trình và kế hoạch tổ chức công tác kiểm tra một cách chu đáo Trong chương trình công tác của Ban Bí thư Trung ương Đảng và ban thường vụ các cấp ủy phải có chương trình kiểm tra

Cần tăng cường công tác kiểm tra của Đảng, công tác này phải được nâng lên trình độ khoa học bảo đảm kịp thời, chính xác

và có hiệu quả Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo [4 tr 122-123]

- Quan điểm của Đảng ta thời kỳ đổi mới

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) là đại hội đổi mới, Đại hội tiếp tục khẳng định các quan điểm về kiểm tra, giám sát và

kỷ luật đảng mà Đại hội V đã chỉ ra, đồng thời nhấn mạnh:

Kiểm tra là một chức năng lãnh đạo chủ yếu của đảng, là một khâu quan trọng của tổ chức thực hiện Đó cũng là biện pháp hiệu nghiệm để khắc phục bệnh quan liêu Mọi tổ chức từ cơ quan đảng, nhà nước đến đoàn thể quần chúng, mọi lĩnh vực hoạt động từ kinh tế, xã hội đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại, không có ngoại

lệ, đều phải đặt dưới sự kiểm tra của tổ chức đảng có thẩm quyền Trung ương đảng và các cấp ủy đảng phải nắm chắc công tác kiểm

Trang 32

tra, sử dụng kết quả kiểm tra vào việc chỉ đạo thực hiện các nghị quyết Mỗi cấp ủy trong từng thời gian đều phải có chương trình kiểm tra, tập trung vào những công tác chủ yếu, những đơn vị trọng điểm, sử dụng và phát huy vai trò của Ủy ban kiểm tra và các ban của Đảng, kết hợp chặt chẽ kiểm tra của Đảng với thanh tra Nhà nước và kiểm tra của quần chúng; kiểm tra phải đi tới kết luận rõ ràng và xử lý đúng đắn [4, tr 137-138]

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991) diễn ra trong bối cảnh tình hình trong nước và thế giới có nhiều biến động, phức tạp, những thời cơ

và thách thức đan xen lẫn nhau Trong bối cảnh đó Đảng ta tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; khẳng định

sự kiên định, trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; trong xây dựng đảng, Đảng ta tiếp tục khẳng định: Phát huy đến mức cao nhất hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và giữ gìn kỷ luật, kỷ cương của Đảng

Đến Đại hội VIII của Đảng (7/1996) nêu rõ: "Một vấn đề được nhấn mạnh trong các văn kiện kỳ này là tăng cường và đổi mới công tác kiểm tra của Đảng các cấp ủy và tổ chức đảng phải trực tiếp kiểm tra và sử dụng các ban để kiểm tra " [7] Đồng thời khẳng định: "Công tác kiểm tra có vị trí cực kỳ quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng Kiểm tra và giữ gìn kỷ luật của Đảng là nhiệm vụ của toàn Đảng Tổ chức đảng phải tiến hành công tác kiểm tra Tổ chức đảng và đảng viên chịu sự kiểm tra của Đảng" [7]

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001) đã thẳng thắn nhận định:

Trong công tác xây dựng Đảng, bên cạnh những ưu điểm, đang nổi lên một số mặt yếu kém và khuyết điểm, nhất là khuyết điểm về công tác giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, chưa ngăn chặn và đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống Một số tổ chức đảng chưa được chỉnh đốn; dân chủ bị

Trang 33

vi phạm, kỷ luật, kỷ cương lỏng lẻo, nội bộ không đoàn kết; chất lượng sinh hoạt giảm sút Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng còn lúng túng, chưa đi sâu làm rõ đặc điểm và yêu cầu về sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện đảng cầm quyền Tổ chức chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước còn yếu [9, tr 138]

Tăng cường công tác kiểm tra của các cấp ủy, của Ủy ban kiểm tra các cấp, tập trung vào các nội dung chủ yếu: thực hiện các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; củng cố đoàn kết nội bộ, giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên [9, tr 138]

SSồng thời tiếp tục khẳng định: "Kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng Tổ chức đảng phải tiến hành công tác kiểm tra Tổ chức đảng và đảng viên chịu sự kiểm tra của đảng" [9, tr 138]

Trên cơ sở tổng kết 20 năm thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã rút ra sáu bài học kinh nghiệm chủ yếu, trong đó có bài học kinh nghiệm về công tác kiểm tra, giám sát, đó là:

Đảng phải tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết, quyết định của Đảng để phát huy ưu điểm, phòng ngừa và khắc phục kịp thời sai lầm, khuyết điểm; kiểm tra, giám sát công tác, năng lực và phẩm chất của cán bộ, đảng viên, xây dựng tổ chức đảng, cơ quan nhà nước và cán bộ, đảng viên ngày càng trong sạch, vững mạnh [11, tr 278]

Từ tổng kết của lý luận và thực tiễn, lần đầu tiên Đảng ta đã ban hành Nghị quyết Trung ương 5 khóa X về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát

của Đảng, đầy là Nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng khẳng định:

Trang 34

Kiểm tra, giám sát là nội dung rất quan trọng trong quá trình lãnh đạo của Đảng, là chức năng lãnh đạo Công tác kiểm tra, giám sát phải được tiến hành công khai, dân chủ, khách quan, thận trọng và chặt chẽ theo đúng nguyên tắc, phương pháp công tác đảng Tổ chức đảng và đảng viên chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng và chịu sự giám sát của nhân dân [12]

Báo cáo Chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, nêu rõ:

Giữ vững bản chất và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tố chức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và

sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta hiện nay [14, tr 169]

Đồng thời Đảng ta yêu cầu:

Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát Các cấp ủy, tổ chức đảng phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo Điều lệ Đảng Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và hoạt động của hệ thống Ủy ban kiểm tra các cấp Hoàn thiện quy chế phối hợp giữa Ủy ban kiểm tra đảng với các tổ chức đảng và các cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc xem xét khiếu nại, tố cáo và xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên [14, tr 169] Ngày 16/1/2012, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW - Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI): Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay, đã chỉ rõ:

Công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí

có những yếu kém khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa

Trang 35

chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ Nổi lên một số vấn đề cấp bách sau đây:

Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa

vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…

Đội ngũ cán bộ cấp Trung ương, cấp chiến lược rất quan trọng nhưng chưa được xây dựng một cách cơ bản Công tác quy hoạch cán bộ mới tập trung thực hiện ở địa phương, chưa thực hiện được ở cấp trung ương, dẫn đến sự hẫng hụt, chắp vá, không đồng

bộ và thiếu chủ động trong công tác bố trí, phân công cán bộ Một

số trường hợp đánh giá, bố trí cán bộ chưa thật công tâm, khách quan, không vì yêu cầu công việc, bố trí không đúng sở trường, năng lực, ảnh hưởng đến uy tín cơ quan lãnh đạo, sự phát triển của ngành, địa phương và cả nước

Nguyên tắc "tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách" trên thực

tế ở nhiều nơi rơi vào hình thức, do không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân, khi sai sót, khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm Do vậy, vừa có hiện tượng dựa dẫm vào tập thể, không rõ trách nhiệm cá nhân, vừa không khuyến khích người đứng đầu có nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm, tạo kẽ hở cho cách làm việc tắc trách, trì trệ, hoặc lạm dụng quyền lực một cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá nhân [17]

Tình hình trên đây do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, và nguyên nhân chủ quan rất quan trọng mà Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban

Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI), chỉ ra đó là:

Trang 36

Các nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi vừa bị buông lỏng trong thực hiện, vừa chưa được quy định cụ thể để làm cơ sở cho công tác kiểm tra, giám sát ; Công tác kiểm tra, giám sát, giữ gìn kỷ cương, kỷ luật ở nhiều nơi, nhiều cấp chưa thường xuyên, ráo riết; đấu tranh với những vi phạm còn

nể nang, không nghiêm túc [17]

Có thể nói rằng, quan điểm nhất quán của Đảng ta trong hơn 80 năm xây dựng và trưởng thành luôn khẳng định công tác kiểm tra, giám sát là một nhu cầu không thể thiếu trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, là bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng; không kiểm tra, giám sát thì coi như không lãnh đạo

1.2.2 Đặc điểm công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

Kiểm tra của Đảng là xem xét tình hình chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn nói chung hay một công việc cụ thể được giao để đánh giá, nhận xét về mỗi cá nhân hay một cơ quan, tổ chức Đảng Kiểm tra

là để làm rõ đúng, sai, được thực hiện theo đúng quy trình, sau kiểm tra phải kết luận, nếu có vi phạm đến mức phải xử lý thì báo cáo tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, quyết định

Giám sát của Đảng là hoạt động chủ yếu để quan sát, theo dõi trực tiếp, thường xuyên, liên tục đối với tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên thuộc phạm vi quản lý nhằm hướng hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên theo đúng Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; đoàn kết nội bộ, phẩm chất đạo đức; chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Qua giám sát, nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm thì báo cáo, đề xuất tổ chức đảng

có thẩm quyền tiến hành kiểm tra

Trang 37

Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng có những đặc điểm (nét riêng biệt) khác với công tác kiểm tra, giám sát nói chung khác, với công tác kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, đoàn thể chính trị - xã hội Công tác kiểm tra, giám sát của đảng là công tác đảng, do các tổ chức đảng và đảng viên tiến hành theo quy định của Đảng Các tổ chức đảng vừa là chủ thể kiểm tra vừa là đối tượng kiểm tra, giám sát Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng có các đặc điểm sau đây:

- Là công tác đảng, một bộ phận của công tác xây dựng Đảng, được tiến hành trong nội bộ Đảng

Công tác xây dựng Đảng có nhiều lĩnh vực công tác khác nhau, bao gồm: Công tác văn phòng; công tác chính trị tư tưởng; công tác tổ chức, cán bộ; công tác dân vận; công tác tài chính đảng và công tác kiểm tra, giám sát của Đảng Tương ứng với mỗi nhiệm vụ công tác đó, có một cơ quan (tổ chức) đảm nhiệm, hoặc một cơ quan đảm nhiệm một số nhiệm vụ công tác Tùy theo yêu cầu của nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng mỗi thời kỳ mà Đảng ta lập các tổ chức tham mưu, giúp việc tương ứng để thực hiện các nhiệm vụ công tác đó Vì vậy, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là công tác đảng, một bộ phận của công tác xây dựng Đảng Công tác kiểm tra, giám sát của đảng là nhiệm vụ của toàn Đảng, nhưng trước hết là của các cấp ủy đảng, của chi bộ Khi Đảng ta mới thành lập và

đi vào hoạt động, công tác kiểm tra, giám sát của đảng chủ yếu do chi bộ, cấp ủy các cấp đảm nhiệm Từ năm 1948 đến nay, việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng do cấp ủy, tổ chức đảng và ban kiểm tra (nay là Ủy ban kiểm tra - cơ quan kiểm tra chuyên trách của Đảng) thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi tổ chức và được Điều lệ Đảng quy định

Công tác kiểm tra, giám sát của đảng là công tác đảng, được quy định trong Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định của Đảng;

Trang 38

do các tổ chức đảng và đảng viên được phân công tiến hành tùy theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và thẩm quyền của mỗi tổ chức được Điều lệ Đảng quy định Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là công tác đảng, nên phải tuân theo các nguyên tắc, phương pháp cơ bản của công tác đảng

Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là một bộ phận của công tác xây dựng Đảng, nhằm góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng phải phối hợp chặt chẽ với công tác tổ chức và cán bộ, công tác tư tưởng văn hóa và các mặt công tác khác của Đảng để thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng

- Mọi tổ chức đảng và đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng và đều phải chịu sự kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng, không có ngoại lệ

Về mặt nguyên tắc, bất kỳ tổ chức và thành viên nào trong tổ chức đều bình đẳng trước kỷ luật của tổ chức đó Theo quy định của Điều lệ Đảng, mọi

tổ chức đảng và đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng Sự bình đẳng trước kỷ luật đảng bắt nguồn từ sự bình đẳng về chính trị trong Đảng, không phân biệt đảng viên có chức vụ cao hay thấp, tuổi đảng nhiều hay ít

Có như vậy mới tạo được sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật của Đảng Nếu không có sự bình đẳng trước kỷ luật đảng thì sẽ

có sự phân biệt đối xử, "ghét thì xử nặng, ưa thì xử nhẹ"; ghét thì kiểm tra xem xét trách nhiệm; ưa thì bỏ qua không kiểm tra, giám sát, hoặc kiểm tra, giám sát qua loa, hình thức Buông lỏng kỷ luật sẽ mở đường cho bọn phá hoại chui vào Đảng để phát hoại Đảng Có bình đẳng trước kỷ luật thì tất cả tổ các tổ chức đảng và đảng viên đều phải tuân thủ, phục tùng và chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh khi được kiểm tra, giám sát, bị thi hành kỷ luật khi có vi phạm Mỗi đảng viên phải thấy được chức vụ là do Đảng, do tổ chức phân công, không phải đó là "đặc quyền, đặc lợi" riêng của mình

Trang 39

- Các tổ chức đảng và đảng viên vừa là chủ thể kiểm tra vừa là đối tượng kiểm tra, giám sát

Để mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng được thi hành triệt

để, đúng đắn trong thực tế, mọi đảng viên, tổ chức đảng đều phải tự kiểm tra và phải chịu sự kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng Đây là vấn đề có tính nguyên tắc bắt buộc của Đảng Tổ chức đảng và đảng viên phải thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng trên ba phương diện:

Thứ nhất, tổ chức đảng và đảng viên phải tự mình kiểm tra đối với chính bản

thân mình Thứ hai, tổ chức đảng và đảng viên phải chịu sự kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng và đảng viên có thẩm quyền cấp trên Thứ ba, tổ chức đảng

phải tiến hành kiểm tra, giám sát đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới thuộc phạm vi được phân công lãnh đạo, quản lý Việc tổ chức đảng và đảng viên phải chịu sự kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng xuất phát từ đặc điểm tổ chức đảng và đảng viên vừa là chủ thể kiểm tra, vừa là đối tượng kiểm tra, giám sát Có như vậy mới đảm bảo sự kiểm tra, giám sát, thi hành

kỷ luật đảng được thực hiện toàn diện, đầy đủ, nghiêm minh và triệt để trong toàn Đảng, không có ngoại lệ đối với bất cứ tổ chức đảng và đảng viên nào

- Công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng là nhiệm vụ của toàn Đảng, của mọi tổ chức đảng và đảng viên theo quy định của Điều lệ Đảng

Mỗi tổ chức đảng (các cấp ủy, chi bộ, các ban của cấp ủy, Ủy ban kiểm tra các cấp) có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và thẩm quyền khác nhau, nên nội dung, đối tượng kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng cũng khác nhau Vì thế, mỗi tổ chức đảng và đảng viên phải thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật, nhưng tùy thuộc vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà mỗi

tổ chức chức đảng có phạm vi kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật khác nhau Mỗi tổ chức đảng và đảng viên, phải theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và thẩm quyền của mình để tiến hành công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng Vì vậy, Điều lệ Đảng vừa quy định tổ chức đảng phải tiến hành công tác kiểm tra, giám sát, tổ chức đảng và đảng viên phải chịu sự kiểm tra, giám sát

Trang 40

của Đảng, vừa quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm quyền của các

tổ chức đảng trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng

- Quá trình kiểm tra phải vận dụng đúng đắn mối quan hệ giữa tự giác

và bắt buộc; lấy tự giác, tự phê bình và phê bình làm chính, coi trọng công tác giáo dục tư tưởng trong công tác kiểm tra, giám sát; lấy hiệu quả kiểm tra, giám sát làm thước đo cho kết quả hoạt động

Để việc kiểm tra, giám sát có chất lượng và hiệu quả, đòi hỏi tổ chức đảng và đảng viên phải vận dụng đúng đắn mối quan hệ giữa tự giác và bắt buộc, nhưng phải nêu cao tinh thần tự giác, tự phê bình và phê bình là chính Bởi lẽ, tự giác không chỉ là phương tiện mà là mục đích của công tác xây dựng Đảng - Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân Vì chỉ có chính bản thân đảng viên được kiểm tra mới thấy được rõ thiếu sót, khuyết điểm, thậm chí là

vi phạm của bản thân, nếu tự phê bình tốt thì giúp cho bản thân thấy rõ ưu điểm để phát huy, nhận thức rõ lỗi lầm của mình để sửa chữa, khắc phục

Để giữ vững và chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật đảng, đòi hỏi tổ chức đảng và đảng viên vừa phải tự kiểm tra, vừa phải chịu sự kiểm tra, giám sát (bắt buộc) Tính bắt buộc trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng đối với tổ chức đảng và đảng viên còn ở chỗ, khi được tổ chức đảng hoặc đảng viên có thẩm quyền kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật thì phải cộng tác, không được thoái thác, chống đối hoặc đối phó trong quá trình kiểm tra, tự phê bình và phê bình, đấu tranh làm rõ đúng sai và phải chấp hành nghiêm chỉnh cuộc kiểm tra

Quá trình kiểm tra, thi hành kỷ luật đảng là sự kết hợp chặt chẽ giữa hai hình thức tự kiểm tra và kiểm tra Nó vừa mang tính tự giác vừa mang tính bắt buộc đối với đảng viên và tổ chức đảng Mục đích của kiểm tra, giám sát

và thi hành kỷ luật đảng nhằm để giáo dục, tự hoàn thiện là chính Do đó, tổ chức đảng và đảng viên phải thường xuyên tự giác tự kiểm tra và kiểm tra và chịu sự giám sát, thấy được ưu điểm để phát huy, thiếu sót, khuyết điểm để sửa chữa, khắc phục, điều chỉnh hành vi, việc làm cho phù hợp

Ngày đăng: 25/03/2015, 13:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đăng Dung (2007), Quốc hội Việt Nam trong Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội Việt Nam trong Nhà nước pháp quyền
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
2. Nguyễn Đăng Dung (Chủ nhiệm đề tài) (2008), Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền, Đề tài nghiên cứu khoa học, Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung (Chủ nhiệm đề tài)
Năm: 2008
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1977
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1982
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Kết luận số 72-KL/TW, ngày 17/5 của Bộ Chính trị về chiến lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 72-KL/TW, ngày 17/5 của Bộ Chính trị về chiến lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2010
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2012
18. Đảng Lao động Việt Nam (1960), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, Nxb sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III
Tác giả: Đảng Lao động Việt Nam
Nhà XB: Nxb sự thật
Năm: 1960
19. Đỗ Ngọc Hải (2007), Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp ở nước ta hiện nay
Tác giả: Đỗ Ngọc Hải
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
20. V.I. Lênin (1976), Toàn tập, tập 33, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1976
21. V.I. Lênin (1976), Toàn tập, tập 35, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1976

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w