Tr-ớc tình đó, Chính phủ với sự tham m-u của Ngân hàng Nhà n-ớc NHNN Việt nam, Bộ Tài chính cùng các bộ, ngành liên quan đ-a ra những giải pháp tích cực nh- khoanh nợ, xoá nợ cho những k
Trang 1đ ạ i h ọ c q u ố c g i a h à n ộ i
k h o a l u ậ t -
một số vấn đề pháp lý về
công ty quản lý nợ
chuyên ngành luật kinh Tế
mã số 5.0515
luận văn thạc sỹ khoa học luật
ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS Nguyễn Am hiểu
Hà nội, 2002
Trang 2Mục lục
Ch-ơng I Một số vấn đề chung về Công ty quản lý nợ 7
2 Một số mô hình của Công ty Quản lý nợ trên thế giới 12
Ch-ơng II. Thực trạng pháp luật về công ty quản lý nợ
ở việt nam
28
1 Bối cảnh ra đời Công ty quản lý nợ ở Việt nam 29
1.1 Tình hình nợ quá hạn tồn đọng tại Việt nam 29
1.2 Nguyên nhân của tình tình nợ quá hạn tồn đọng 33
2 Pháp luật về Công ty quản lý nợ ở Việt nam hiện nay 43
2.1 Đặc tr-ng của Công ty quản lý nợ ở Việt nam 46
2.2 Các thủ tục về thành lập, đăng ký kinh doanh, mở văn phòng
giao dịch, chi nhánh của công ty quản lý nợ
49
2.3 Nhiệm vụ của Công ty quản lý nợ 50
2.4 Quyền hạn của Công ty quản lý nợ 54
2.5Thủ tục giải thể công ty quản lý nợ 59 Ch-ơng III Đánh giá chung và một số kiến nghị 61
3.2. Về cơ chế chuyển giao nợ quá hạn tồn đọng 64
3.3 Vấn đề chia sẻ lợi nhuận và tổn thất đối với những khoản nợ quá hạn tồn đọng đ-ợc chuyển giao
67
Trang 33.4 Vấn đề tài trợ cho khách hàng để cơ cấu lại khoản vay 70
3.5 Các chính sách -u đãi về tài chính & thuế 72
3.7 Về quyền miễn trừ trách nhiệm đối với nhân viên của công ty
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống ngân hàng luôn đóng vai trò là “mạch máu” của nền kinh tế đối với bất kỳ quốc gia nào Mạch máu đ-ợc l-u thông nền kinh tế mới có điều kiện để phát triển thuận lợi
Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng Việt nam không phải lúc nào cũng vận hành
“thông suốt” Không dưới một lần, hệ thống ngân hàng Việt nam đã phải tiến hành những cuộc cải cách mang tính đột phá
Trong suốt những năm 80-90, hệ thống ngân hàng Việt nam đ-ợc phát triển trong một khuôn khổ pháp luật không đầy đủ và bộc lộ nhiều yếu kém Bởi vậy, đến cuối năm 1997, nợ quá hạn của hệ thống ngân hàng Việt nam bao gồm ngân hàng quốc doanh và ngân hàng cổ phần chiếm tới 14% tổng d- nợ ở một vài ngân hàng,
tỷ lệ này v-ợt mức 20% Theo tiêu chuẩn của các tổ chức tài chính quốc tế (Ngân hàng Thế Giới-WB, Ngân hàng Phát triển Châu á-ADB, Quỹ Tiền tệ Quốc tế-IMF), chất l-ợng tín dụng của hệ thống ngân hàng nói chung và từng ngân hàng nói riêng chỉ đạt yêu cầu nếu tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng d- nợ không v-ợt quá mức 5%
Trang 4Hàng chục nghìn tỷ đồng nợ quá hạn không thể quay vòng, hàng nghìn tài sản
bị “đóng băng” không thể chuyển nh-ợng, không có khả năng sinh lời, trong khi các ngân hàng vẫn phải tiếp tục trả nợ cho các ngân hàng n-ớc ngoài, trả lãi tiền gửi huy
động từ dân chúng khiến các ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn Sau những thành công giả tạo ban đầu, giờ đây dấu hiệu “mất khả năng thanh toán” đã xuất hiện
ở một vài ngân hàng, gây tâm lý hoang mang, bất ổn trong dân c-
Tr-ớc tình đó, Chính phủ với sự tham m-u của Ngân hàng Nhà n-ớc (NHNN) Việt nam, Bộ Tài chính cùng các bộ, ngành liên quan đ-a ra những giải pháp tích cực nh- khoanh nợ, xoá nợ cho những khoản vay chính sách; cấp vốn điều lệ bổ sung cho các ngân hàng quốc doanh; ban hành quy chế mua bán nợ của các tổ chức tín dụng … Các ngân hàng cũng rất cố gắng để tự xử lý vấn đề nợ quá hạn như phân loại khách hàng nợ; phân loại nợ quá hạn; quản lý chặt chẽ khi cho vay; thành lập các phòng, bộ phận chuyên theo dõi, đôn đốc thu hồi nợ quá hạn; cho vay để cơ cấu lại nợ; phát mại tài sản cầm cố, thế chấp; khởi kiện khách hàng ra toà để đòi nợ; yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản; yêu cầu toà án giải quyết việc phá sản doanh nghiệp … Tuy nhiên, cho đến nay, tình trạng nợ khó đòi vẫn chưa được cải thiện đáng kể Đây là một nguy cơ tiềm tàng gây ra khủng hoảng về tài chính tiền
tệ, gây bất ổn đối với nền kinh tế Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới cho thấy, họ th-ờng thiết lập một mô hình chuyên biệt để quản lý, sắp xếp và xử lý hiệu quả các khoản nợ quá hạn khó đòi, th-ờng đ-ợc gọi là công ty quản lý nợ, công ty mua bán nợ hay công ty quản lý tài sản (Asset Management Company-AMC)
Trên cơ sở lộ trình cải cách hệ thống các ngân hàng Việt nam, Chính phủ đã cho phép thành lập các công ty quản lý nợ và khai thác tài sản trực thuộc ngân hàng th-ơng mại, đồng thời tiếp tục nghiên cứu để cho ra đời công ty mua bán nợ của Nhà nước Sau đây, luận văn sẽ sử dụng thống nhất thuật ngữ “công ty quản lý nợ”
Mô hình công ty quản lý nợ xuất hiện trên thế giới, từ những năm 80, 90 của thế kỷ 20 Đối với Việt nam mô hình này còn rất mới mẻ cả về lý luận cũng nh- thực tiễn áp dụng Để có đ-ợc một mô hình công ty quản lý nợ phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt nam, tạo điều kiện thuận lợi cho mô hình này giải quyết nhanh chóng, hiệu quả vấn đề nợ quá hạn, ngoài việc chuẩn bị về mặt kinh tế, chúng cần phải đ-ợc nghiên cứu và chuẩn bị kỹ về mặt pháp lý Dẫu biết rằng, hình thành ngay một môi tr-ờng pháp lý phù hợp cho các công ty quản lý nợ của Việt nam là rất khó
Trang 5khăn và phức tạp, nh-ng đây là yêu cầu tất yếu khách quan của công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất n-ớc
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn chủ đề "Một số vấn đề
pháp lý về Công ty quản lý nợ" làm nội dung luận văn Thạc sỹ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu
ở Việt nam, mô hình công ty quản lý nợ vẫn còn rất mới Mô hình này đ-ợc Chính phủ chính thức quan tâm, đặt vấn đề nghiên cứu với việc NHNN Việt nam cho thành lập tổ công tác liên ngành để xây dựng đề án “thành lập Công ty mua bán tài sản tồn đọng của các tổ chức tín dụng” vào tháng 10/1999
Về mặt lý luận, các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này gồm:
Đề án xử lý nợ tồn đọng tại các ngân hàng th-ơng mại của Ngân hàng Nhà n-ớc Việt nam;
"Kinh nghiệm tổ chức hoạt động của công ty quản lý tài sản ở một số n-ớc trên thế giới" do tác giả Trần Thị Liên, Phòng Nghiên cứu và Quản lý Khoa học - Viện Nghiên Cứu Khoa Học Ngân hàng, thực hiện tháng 3/2001;
Hội thảo khoa học do Ngân hàng Nhà n-ớc Việt nam, Ngân hàng Thế giới và Công ty Kiểm toán PriceWaterhouseCooper phối hợp tổ chức
Nội dung các công trình chủ yếu đề cập hoặc tập trung nghiên cứu mô hình công ty quản lý nợ d-ới góc độ kinh tế hoặc công ty quản lý nợ với t- cách là một trong số nhiều giải pháp đ-ợc áp dụng để xử lý nợ tồn đọng của ngân hàng Chính vì vậy, nhiều vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của công ty quản lý nợ, đặc biệt d-ới góc độ pháp lý ch-a đ-ợc đề cập, xem xét đầy đủ, toàn diện đòi hỏi đ-ợc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đ-ợc thực hiện nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về mô hình công ty Quản lý nợ, góp phần hoàn thiện pháp luật Việt nam về ngân hàng,
đồng thời làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho những đối t-ợng quan tâm
Tuy nhiên, chúng tôi không đặt vấn đề nghiên cứu tất cả các vấn đề liên quan
đến tổ chức và hoạt động của công ty quản lý nợ nh- cơ cấu tổ chức, cách thức quản
Trang 6trị, thủ tục thành lập và giải thể, số l-ợng công ty quản lý nợ, việc phát hành trái phiếu huy động vốn, quy trình xử lý tài sản cầm cố, thế chấp … Với phạm vi của một luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật học, chúng tôi chỉ tập trung, làm rõ một số nội dung cơ bản, mang tính chung nhất nh- sau:
Thứ nhất, khẳng định sự ra đời của công ty quản lý nợ tại Việt nam là một giải pháp
tình thế quan trọng và tất yếu;
Thứ hai, phân tích các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến tổ chức và hoạt
động của công ty quản lý nợ;
Thứ ba, đ-a ra các nhận xét ban đầu về các quy định của pháp luật Việt nam đối với
mô hình công ty quản lý nợ và đề xuất một số khuyến nghị cụ thể xuất phát từ thực tiễn thu hồi nợ nhằm góp phần xây dựng một “hành lang” pháp lý phù hợp giúp cho công ty quản lý nợ hoạt động hiệu quả
4 Ph-ơng pháp nghiên cứu đ-ợc sử dụng
Luận văn sử dụng phép biện chứng duy vật và các quy luật của triết học
Mác-Lê nin làm cơ sở ph-ơng pháp luận cho việc nghiên cứu Ngoài ra, luận văn sử dụng một số ph-ơng pháp nghiên cứu sau:
-Ph-ơng pháp phân tích và tổng hợp: phân tích các sự kiện, hiện t-ợng pháp lý đơn
lẻ phát sinh trong cuộc sống và tổng hợp những kinh nghiệm của những mô hình công ty quản lý nợ thành công trên thế giới
-Ph-ơng pháp phân tích quy phạm: Phân tích các quy phạm pháp luật thực định làm
sáng tỏ những điểm hợp lý, hạn chế cũng nh- mối quan hệ với các quy định khác trong hệ thống pháp luật Việt nam
-Ph-ơng pháp so sánh pháp luật: so sánh pháp luật của pháp luật Việt nam với một
số n-ớc có đặc điểm t-ơng đồng
5 Bố cục của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đ-ợc
chia làm ba ch-ơng: ch-ơng thứ nhất, là một số vấn đề chung về công ty quản lý nợ nh- sự ra đời, đặc tr-ng và vai trò của công ty quản lý nợ, ch-ơng thứ hai trình bày thực trạng pháp luật về công ty quản lý nợ ở việt nam, ch-ơng thứ ba đ-a ra những
Trang 7đánh giá và một số khuyến nghị nhằm hình thành môi tr-ờng pháp lý phù hợp giúp công ty quản lý nợ hoạt động hiệu quả
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và bạn bè, đồng nghiệp đã đóng góp
ý kiến, nhiệt tình giúp đỡ để tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình
Cho dù đã rất cố gắng, dành tâm huyết, song nh- đã trình bày, mô hình công
ty quản lý nợ còn rất mới mẻ đối với Việt nam và do thời gian có hạn nên luận văn sẽ không tránh khỏi những những khiếm khuyết nhất định Rất mong nhận đ-ợc sự
đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp và những ng-ời quan tâm
đến vấn đề này
Ch-ơng I Một số vấn đề chung
về Công ty quản lý nợ
1 Sự ra đời của Công ty Quản lý nợ
Trong thập kỷ 80, 90 của thế kỷ 20, nhiều quốc gia trên thế giới lâm vào khủng hoảng tài chính nghiêm trọng mà nguyên nhân chủ yếu là do tình trạng nợ khó đòi trong hệ thống ngân hàng tăng cao hoặc kinh tế khủng hoảng Trong tình hình đó, các quốc gia này đã lựa chọn giải pháp thành lập công ty quản lý nợ để xử
lý, khắc phục và ngăn ngừa
Tại Thuỵ Điển, Na Uy, Phần Lan, từ năm 1980, hệ thống ngân hàng gặp cơn khủng hoảng Các n-ớc này đã thành lập công ty quản lý nợ để tiếp nhận những khoản nợ quá hạn có vấn đề, quản lý và thu hồi nợ bằng các kỹ năng đặc biệt Kết quả là đã phục hồi lại hoạt động bình th-ờng của hệ thống ngân hàng và của nền kinh tế
Tại Mỹ, những năm 1989-1995 do nguyên nhân từ khách hàng vay và quản lý tín dụng yếu kém, các ngân hàng và tổ chức tiết kiệm lâm vào tình trạng khủng hoảng Quốc hội Mỹ phải ban hành một đạo luật riêng cho ra đời Công ty tín thác
xử lý các đổ vỡ ngân hàng (Resolution Trust Corporation) để xử lý những khó khăn của các ngân hàng và tổ chức tiết kiệm Công ty tín thác tiếp quản các khoản nợ khó
đòi, quản lý các tài sản cầm cố thế chấp (gọi chung là tài sản đảm bảo), làm tăng tối
đa giá trị để bán, thu hồi vốn Thành lập năm 1989, Công ty tín thác có lúc đã tiếp
Trang 8quản tài sản lên tới 100 tỷ USD Kết quả đã xử lý thành công và kết thúc hoạt động sau 7 năm
Các quốc gia vùng Ban tích vào những năm 1992-1994, hệ thống ngân hàng lâm vào tình trạng nợ quá hạn khó đòi tăng cao và họ phải áp dụng giải pháp thành lập mô hình công ty quản lý nợ để cải thiện tình hình Điển hình trong số các quốc gia đó là Ban Lan Tỷ lệ nợ quá hạn của 12 ngân hàng lớn nhất của Ban Lan lên tới 68% tổng d- nợ vào thời điểm 31/12/1991 1/3 số doanh nghiệp nhà n-ớc của Ba Lan làm ăn thua lỗ, một số khác lâm vào tình trạng phá sản Để tháo gỡ khó khăn, Chính phủ Ba Lan đã quyết định cho triển khai đồng thời nhiều giải pháp khắc phục nh- tái cấp vốn cho các ngân hàng th-ơng mại, thúc đẩy quá trình t- nhân hoá, giải thể các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, xoá nợ quá hạn tồn đọng cho những khoản đ-ợc xác định là không còn khả năng thu hồi, cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệp nhà n-ớc thông qua mô hình công ty quản lý nợ của từng ngân hàng riêng lẻ
và tạo nhiều cơ hội khác cho các doanh nghiệp phát triển trong nền kinh tế thị tr-ờng Các công ty quản lý nợ đ-ợc giao cho các quyền hạn đặc biệt nh- quyền bán tài sản mà không cần sự đồng ý của bên vay, các nhân viên công ty quản lý nợ không phải chịu trách nhiệm pháp lý trong công tác xử lý nợ Kết quả là chỉ sau 03 năm, hoạt động của hệ thống ngân hàng đ-ợc cải thiện rõ rệt, tiến trình tái cấp vốn đ-ợc
đẩy nhanh, uy tín quốc gia tăng lên, môi tr-ờng đầu t- đ-ợc cải thiện
Từ năm 1997, nhiều quốc gia tại Châu á, trong đó gồm cả các quốc gia có nền kinh tế hàng đầu thế giới như Nhật Bản, Trung Quốc hay các “con rồng” Châu
á nh- Hàn quốc, Indonexia, Singapore, Malaysia, Thái Lan lâm vào khủng hoảng tài chính, tốc độ tăng tr-ởng tổng sản phẩm quốc gia suy giảm Kết quả là, các khoản
nợ quá hạn khó đòi của các quốc gia Châu á này không những rất lớn về giá trị tuyệt
đối (Nhật Bản là 700 tỷ USD, Trung Quốc là 200 tỷ USD …) mà còn chiếm tỷ lệ phần trăm cao (%) trong tổng d- nợ tín dụng quốc gia (Indonexia 70%, Thái Lan xấp
xỉ 36%, Trung Quốc 26,5%, Hàn Quốc 25%, Malaysia 17% và Philippin khoảng 10%) Trong khi, mức an toàn tín dụng cho phép theo thông lệ quốc tế là không quá 5% nợ quá hạn trên tổng d- nợ
Gánh nặng nợ quá hạn khó đòi chồng chất đã đẩy hệ thống ngân hàng các quốc gia này đến tr-ớc bờ vực phá sản Nếu tính tổng cộng toàn khu vực thì hàng trăm ngân hàng có nguy cơ phá sản đang hoạt động bằng tiền của nhà n-ớc Nền
Trang 9kinh tế quốc dân và hệ thống ngân hàng của các quốc gia này phải chịu áp lực rất lớn, không thể tiến hành hoạt động một cách bình th-ờng Chính phủ các n-ớc sớm nhận thức đây không chỉ là mối quan tâm của hệ thống ngân hàng mà là vấn đề mang tính quốc gia nên đã nhanh chóng cho ra đời một mô hình chuyên biệt để xử lý hiệu quả vấn đề nợ quá hạn Đó chính là mô hình công ty quản lý nợ d-ới những hình thức khác nhau Nhờ những đóng góp quan trọng của công ty quản lý nợ, một
số quốc gia Châu á đã cơ bản xử lý xong vấn đề nợ quá hạn khó đòi nh- Thái Lan, Hàn Quốc tạo điều kiện cho nền kinh tế tiếp tục tăng tr-ởng và có những n-ớc đang tiếp tục giải quyết nh- Nhật bản, Indonexia, Malaysia và Trung quốc
Nh- vậy, việc sử dụng một mô hình chuyên biệt làm công cụ để quản lý các khoản nợ quá hạn tồn đọng ngày càng phát triển, kể từ lần đầu tiên mô hình này
đ-ợc thành lập vào khoảng cuối những năm 80 của thế kỷ tr-ớc tại Thuỵ Điển Sau khi đ-ợc Mỹ sử dụng nh- là một giải pháp chính để giải quyết các khoản nợ quá hạn khó đòi phát sinh từ cuộc khủng hoảng về tín dụng và tiết kiệm vào đầu những năm
1990, công ty quản lý nợ tiếp tục xuất hiện ở Trung và Đông âu Tiếp theo đó, để khôi phục lại nền kinh tế bị tàn phá nặng nề bởi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong những năm gần đây, Chính phủ một số n-ớc Châu á nh- Hàn Quốc, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Trung Quốc… cũng lần lượt cho thành lập các công ty quản lý
nợ của nhà n-ớc và của các ngân hàng t- nhân
Về mặt lý luận, sự ra đời của mô hình công ty quản lý nợ có thể đ-ợc giải thích bởi những quy luật phát triển nội tại của nền kinh tế thị tr-ờng và những rủi ro
mà các ngân hàng gặp phải trong quá trình hoạt động
Thật vậy, trong nền kinh tế thị tr-ờng xuất hiện nhiều các trung gian tài chính thực hiện chức năng hoạt động kinh doanh tiền tệ với hoạt động chính là huy động vốn nhàn rỗi từ chỗ thừa để cho vay lại hay đầu t- vào những nơi thiếu vốn nh- ngân hàng, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, các quỹ t-ơng hỗ Trong số đó, ngân hàng là một trung gian ra đời sớm nhất, có đối t-ợng huy động vốn rộng nhất, có khả năng huy động vốn nhiều nhất (theo thông lệ, ngân hàng đ-ợc huy động vốn gấp 20 lần vốn chủ sở hữu) và do vậy có khả năng ảnh h-ởng trực tiếp tới đời sống xã hội nhiều nhất
Về danh nghĩa, ngân hàng, với t- cách là ng-ời cho vay, có quyền sử hữu đối với khoản tiền cho vay Nh-ng sau khi cho vay, ng-ời đi vay mới thực sự nắm quyền
Trang 10sử dụng, định đoạt thực tế đối với khoản tiền vay Khả năng kiểm soát của ngân hàng
đối với khoản tiền vay lúc này phụ thuộc vào uy tín và tính trung thực của ng-ời đi vay Nh- vậy, bản thân hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng đã luôn tiềm ẩn nguy cơ tiền không quay trở lại với ngân hàng, đ-ợc biểu hiện d-ới hình thức nợ gốc
và nợ lãi không đ-ợc thanh toán đúng hạn Nói cách khác, nợ quá hạn luôn là rủi ro tiềm tàng đối với mọi ngân hàng Do vậy, các khoản nợ vay từ các ngân hàng trở nên nghiêm trọng nếu chúng không đ-ợc thanh toán gốc và lãi đúng hạn
Nợ quá hạn lớn đồng nghĩa với việc sử dụng nguồn lực tài chính của xã hội không hiệu quả Khi các khoản cho vay tăng lên nhanh chóng kèm theo sự suy giảm tốc độ tăng tr-ởng của nền kinh tế sẽ phá vỡ sự cân bằng trong bảng tổng kết tài sản của các ngân hàng, khiến các ngân hàng không thể đạt đ-ợc tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản có rủi ro ở mức an toàn ( 8%) Gánh nặng cho vay khó đòi chồng chất
đẩy nhiều ngân hàng đến bờ vực phá sản Lúc này, khả năng phá sản của các ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc vào mức độ tin t-ởng của công chúng Một khi các ngân hàng bị phá sản sẽ nhanh chóng đẩy nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng và gây ảnh h-ởng trực tiếp đến toàn bộ đời sống kinh tế xã hội, làm giảm uy tín và vị thế của quốc gia trên tr-ờng quốc tế
Các ngân hàng tích cực thực hiện nhiều giải pháp để giải quyết tình trạng khó khăn về tài chính của mình nh- bán quyền đòi nợ cho đối tác khác; cơ cấu lại khoản
nợ (nếu thấy khách hàng còn khả năng trả nợ); xử lý tài sản đảm bảo hoặc dùng tài sản đảm bảo để gán nợ (nếu khoản vay có bảo đảm), dùng các nguồn dự phòng rủi ro
để xoá nợ (nếu khách hàng chết, mất tích, phá sản hay không còn khả năng trả nợ); khởi kiện ra toà để đòi nợ (nếu khách hàng chây ỳ, cố tình không trả nợ hoặc có dấu hiệu tẩu tán tài sản…); thắt chặt thủ tục cho vay, hạn chế cho vay, cơ cấu lại danh mục cho vay đối với những khoản vay mới …
Về nguyên tắc, nhà n-ớc không trực tiếp can thiệp vào các hoạt động của nền kinh tế Tuy nhiên, khi các ngân hàng không thể tự giải quyết tình trạng khó khăn của mình, khả năng tự điều tiết của nền kinh tế tỏ ra không còn hiệu quả, buộc Nhà n-ớc phải thực hiện chức năng điều tiết nền kinh tế bằng các công cụ tài chính và pháp luật để duy trì ổn định xã hội Tuỳ theo điều kiện kinh tế xã hội, tình hình chính trị trong từng giai đoạn, Chính phủ các n-ớc sẽ can thiệp vào nền kinh tế thông qua những giải pháp mang tính hành chính, kinh tế, chính trị khác nhau nh- nhà
Trang 11n-ớc ban hành các quy định về việc thắt chặt quản lý đối với các ngân hàng, buộc các ngân hàng phải th-ờng xuyên theo dõi, báo cáo về tình trạng nợ quá hạn khó đòi hoặc cho phép mở cửa nền kinh tế, thúc đẩy tự do hoá hệ thống tài chính; buộc giải thể, sáp nhập cổ phần hoá hoặc quốc hữu hoá đối với những ngân hàng làm ăn kém hiệu quả; sử dụng ngân sách quốc gia hoặc thành lập các quỹ để đầu t- thêm vốn cho
hệ thống ngân hàng…
Tuy nhiên, các giải pháp truyền thống trên không phải lúc nào cũng đ-ợcthực
hiện đồng bộ và có hiệu quả Nguyên ngân chính là: thứ nhất, việc xử lý những
khoản nợ quá hạn và quản lý hiệu quả các tài sản đảm bảo yêu cầu những kỹ năng
đặc biệt thay vì những kỹ năng thông th-ờng sẵn có trong các ngân hàng Trong tr-ờng hợp này, chúng ta cần những chuyên gia bất động sản, chuyên gia thanh toán
và những ng-ời am hiểu nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau hơn là những ng-ời hoạt
động kinh doanh tiền tệ Thứ hai, việc xử lý nợ quá hạn chắc chắn sẽ can thiệp vào
công tác điều hành của ngân hàng, làm các ngân hàng không thể tập trung vào hoạt
động kinh doanh Thứ ba, tình trạng khó khăn của nền kinh tế không đ-ợc cải thiện
trong một khoảng thời gian dài làm “mất” lòng tin của các nhà đầu tư và khiến các nhà đầu t- không dám mạo hiểm bỏ một số l-ợng lớn tiền để mua tài sản trong khi
thị trường bất động sản đang “đóng băng” hoặc có chiều hướng sụt giảm Thứ t-, các
quy định của pháp luật không phản ánh đúng quy luật phát triển, không tháo gỡ kịp thời những khó khăn của nền kinh tế nên tính khả thi không cao hoặc các giải pháp kinh tế mà nhà n-ớc đ-a ra không hợp lý biểu hiện ở chỗ đầu t- không tập trung, thậm chí bị thất thoát… Khi đó, xã hội đòi hỏi phải có một phương thức xử lý hữu hiệu hơn đối với vấn đề nợ quá hạn tồn đọng
Bằng cách thiết lập mô hình xử lý nợ chuyên biệt với những quy định pháp lý
đặc thù, các ngân hàng sẽ có điều kiện tập trung hơn vào hoạt động kinh doanh, thúc
đẩy tăng tr-ởng Cả ngân hàng và công ty quản lý nợ đều có thể thực hiện đ-ợc những mục đích riêng mà không ảnh h-ởng đến hoạt động của nhau Đồng thời, Chính phủ có điều kiện tập trung hơn các nguồn lực của xã hội để vực dậy nền kinh
tế sớm thoát khỏi khó khăn, v-ợt qua khủng hoảng
Nh- vậy, trong điều kiện hệ thống ngân hàng hoạt động bình th-ờng, nợ quá hạn thấp không cần thiết phải thành lập công ty quản lý nợ Ng-ợc lại, khi nợ quá hạn của hệ thống ngân hàng lớn đến một mức độ nhất định thì nhất thiết phải thành
Trang 12lập mô hình công ty quản lý nợ Khi đó, nhà n-ớc hoặc các ngân hàng t- nhân sẽ thông qua mô hình này thực hiện các giải pháp kinh tế mà tr-ớc đó không thể thực hiện hoặc thực hiện không hiệu quả nhằm đẩy nhanh quá trình xử lý nợ nh- quản lý hiệu quả những tài sản đảm bảo, “bơm” thêm tiền để cơ cấu lại nợ, sắp xếp lại hoạt
động của những khách hàng vay là doanh nghiệp …, qua đó giúp các ngân hàng nhanh chóng thoát khỏi khó khăn Khi nợ quá hạn tồn đọng đ-ợc giải quyết, cơ sở tồn tại không còn thì công ty quản lý nợ cũng chấm dứt hoạt động
Tóm lại, sự ra đời và phát triển của mô hình công ty quản lý nợ là giải pháp kinh tế tình thế tất yếu khi nợ quá hạn tại các định chế tài chính v-ợt quá ng-ỡng an toàn cho phép đi kèm với khủng hoảng tài chính hoặc nền kinh tế của quốc gia bị
“tụt dốc” nghiêm trọng Ngoài ra, trong một số trường hợp công ty quản lý nợ còn
đ-ợc thành lập theo nhu cầu chính trị, xã hội, kinh tế và tài chính của các quốc gia
và các tổ chức liên quan
2 Một số mô hình của Công ty Quản lý nợ trên thế giới
Hình thức tổ chức của công ty quản lý nợ là cách thức tổ chức và hoạt động của công ty quản lý nợ nhằm đạt đ-ợc mục tiêu chính là thu hồi tối đa giá trị của các khoản nợ quá hạn, giảm tổn thất, hạn chế tối đa chi phí phát sinh trong quá trình xử
lý nợ hoặc nhanh chóng chuyển tài sản đảm bảo tồn đọng thành tiền, giúp cơ cấu lại tình hình tài chính của các ngân hàng Tuỳ vào điều kiện kinh tế, tình hình chính trị - xã hội, hệ thống pháp luật và các mục tiêu cụ thể, mỗi quốc gia sẽ hình thành những mô hình khác nhau về xử lý nợ
Đến thời điểm hiện nay, trên thế giới đã tồn tại một số mô hình chuyên biệt khác nhau về xử lý nợ nh- sau:
2.1 Ngân hàng lập bộ phận tự xử lý nợ hoặc thông qua hệ thống cơ quan nhà n-ớc
Trong điều kiện hoạt động tín dụng diễn ra bình th-ờng, bộ phận kinh doanh trong các ngân hàng vừa có nhiệm vụ tìm kiếm khách hàng, cho vay đối với những khách hàng đủ điều kiện, đồng thời theo dõi tình hình trả nợ, đốn đốc khách hàng trả
nợ khi đến hạn Đến khi xuất hiện tình trạng nhiều khách hàng không trả đ-ợc nợ
Trang 13đúng hạn, chất l-ợng tín dụng có chiều h-ớng sụt giảm, buộc ngân hàng phải thành lập riêng một bộ phận chuyên theo dõi những khoản nợ bị chuyển sang quá hạn Bộ phận này có nhiệm vụ quản lý, kiểm tra, đôn đốc việc trả nợ của những khách hàng
nợ quá hạn; xử lý tài sản đảm bảo nếu khách hàng không có khả năng trả nợ; cung cấp kịp thời những thông tin quan trọng cho bộ phận điều hành về tình hình hoạt
động của các khách hàng nợ quá hạn, diễn biến của nợ quá hạn… Khi những thoả thuận liên quan việc trả nợ tỏ ra không còn hiệu quả, các ngân hàng sẽ thông qua những trình tự tố tụng nhất định yêu cầu toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết buộc khách hàng phải trả nợ cho mình Để giúp ngân hàng thu hồi nợ, một số n-ớc đã cho thành lập toà án chuyên trách xét xử riêng những vụ kiện đòi nợ của ngân hàng, điển hình nh- ấn Độ
Về mặt pháp lý, nhà n-ớc không phải ban hành những quy định riêng về tổ chức và hoạt động cho mô hình xử lý nợ này
Ưu điểm của mô hình này là ngân hàng có đầy đủ thông tin cần thiết về khách hàng, do vậy có thể đ-a ra đ-ợc ph-ơng án xử lý nợ phù hợp đối với từng khách hàng, đặc biệt đối với những khách hàng là cá nhân, vay nhằm mục đích tiêu dùng Ngoài ra, thông qua các chi nhánh, phòng giao dịch, các ngân hàng có điều kiện tiếp cận dễ dàng đối với khách hàng vay nợ
Tuy nhiên, mô hình xử lý nợ này có một số điểm bất lợi về mặt kinh tế là: + Ngân hàng thiếu những kỹ năng cần thiết để tái cơ cấu các khoản nợ hay theo dõi,
đ-a ra những thay đổi về tổ chức và điều hành của những khách hàng là doanh nghiệp ; khả năng dự đoán tổn thất không chính xác Những giải pháp mà ngân hàng áp dụng th-ờng không có hiệu quả đối với những khách hàng chây ỳ, cố tình không trả nợ
+ Tỷ lệ nợ quá hạn ảnh h-ởng đến tài chính của ngân hàng, không làm sạch đ-ợc bảng tổng kết tài sản của ngân hàng
+ Nếu duy trì một khối l-ợng nợ quá hạn đáng kể trong một thời gian dài sẽ làm ảnh h-ởng đến các hoạt động kinh doanh bình th-ờng của ngân hàng
2.2 Uỷ thác cho bên thứ ba xử lý theo hợp đồng riêng biệt
Trang 14ở những n-ớc có nền kinh tế thị tr-ờng phát triển, xuất hiện nhiều công ty
độc lập hoạt động trong lĩnh vực t- vấn về tài chính, đồng thời có hệ thống pháp luật t-ơng đối hoàn chỉnh với những cơ chế đảm bảo thi hành hữu hiệu, ngân hàng th-ờng uỷ thác việc xử lý nợ quá hạn cho một bên thứ ba Trên cơ sở hợp đồng đ-ợc
ký kết, bên thứ ba nhận uỷ thác tiến hành phân tích tình hình tài chính của khách hàng, đ-a ra giải pháp xử lý thích hợp nh- cơ cấu lại nợ, chỉ định ng-ời quản lý độc lập, chuyển nợ thành vốn góp Bên thứ ba đ-ợc h-ởng một khoản tiền thù lao theo
tỷ lệ phần trăm trong tổng số nợ quá hạn đ-ợc uỷ thác Cũng nh- tr-ờng hợp trên, mô hình xử lý nợ này hoạt động dựa trên cơ sở những quy định pháp luật sẵn có, nhà n-ớc không phải ban hành những quy định riêng
Ưu điểm của mô hình xử lý nợ này, sau khi uỷ thác cho bên thứ ba, ngân hàng
có điều kiện tập trung vào các hoạt động kinh doanh của mình Việc xử lý nợ đ-ợc chuyên môn hoá Tuy nhiên, mô hình này có nh-ợc điểm là bảng tổng kết của ngân hàng không đ-ợc sạch, quy mô xử lý nợ nhỏ Nợ quá hạn đ-ợc uỷ thác xử lý th-ờng phát sinh do nguyên nhân khách quan hoặc do quản lý yếu kém của bên vay
2.3 Một định chế mua, bán, đẩy nhanh quá trình chuyển nh-ợng tài sản tồn đọng thành tiền với khối l-ợng lớn
Về mặt kinh tế, mô hình xử lý nợ này đ-ợc đánh giá có những -u điểm sau: tài sản đ-ợc quản lý tập trung, giá bán tài sản cao, khả năng tận thu nợ lớn, ngân hàng có điều kiện tập trung vào hoạt động kinh doanh của mình
Tuy nhiên, mô hình này có một số hạn chế nh-: việc xử lý tài sản diễn ra trong một thời gian dài, ảnh h-ởng đến các nghiệp vụ xử lý nợ khác Việc quản lý tài sản gặp nhiều khó khăn Th-ờng chịu những sức ép nhất định về chính trị
Mỹ là quốc gia điển hình cho áp dụng mô hình này Trong bối cảnh lạm phát những năm 70 và đầu những năm 80 của thế kỷ 20, nhiều ngân hàng và tổ chức tiết kiệm ở Mỹ đã tiến hành vay ngắn hạn để cho vay dài hạn bằng cách huy động tiền gửi với lãi suất cao hơn thị tr-ờng và cho vay với lãi suất thấp, chủ yếu d-ới dạng cầm cố th-ơng mại Do bị hạn chế hoạt động trong một vài khu vực địa lý nhất định nên các ngân hàng và tổ chức tiết kiệm đã chấp nhận mạo hiểm tiến hành đầu t- vào những lĩnh vực có rủi ro cao đ-ợc bảo đảm bằng bảo hiểm tiền gửi Khi kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái và thị tr-ờng bất động sản sụp đổ, nhiều ngân hàng và tổ
Trang 15chức tiết kiệm phải đối mặt với các khoản nợ quá hạn khó đòi gia tăng Từ năm 1980
đến năm 1988, ở Mỹ đã có khoảng 1.400 ngân hàng bị phá sản hoặc phải nhận sự giúp đỡ của Chính phủ và 1.100 tổ chức tiết kiệm bị phá sản Kèm theo hiện t-ợng này là việc Công ty Bảo hiểm các tổ chức cho vay và tiết kiệm Liên bang và Công ty bảo hiểm tiền gửi Liên bang, nơi chuyên cung cấp các khoản bảo hiểm của Chính phủ cho các khoản tiền gửi, cũng lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả Năm
1988, Quỹ bảo hiểm của Công ty Bảo hiểm các tổ chức cho vay và tiết kiệm Liên bang đã bị âm tới 75 tỷ USD và tỷ lệ lỗ trên tổng tiền gửi có bảo hiểm đã tăng lên 1,48%.(1)
Tr-ớc tình hình đó, tháng 8/1989, Quốc hội Mỹ đã cho thành lập Công ty tín thác xử lý các đổ vỡ ngân hàng với nhiệm vụ tiếp quản những khoản nợ khó đòi của các ngân hàng và tổ chức tiết kiệm bị đổ vỡ đ-ợc Công ty Bảo hiểm các tổ chức cho vay và tiết kiệm Liên bang bảo hiểm tr-ớc đây, quản lý tốt và làm gia tăng tối đa giá
(1) Trần Thị Liên: Kinh nghiệm quản lý tổ chức hoạt động của Công ty quản lý tài sản ở một số n-ớc trên thế giới, Chuyên đề NCKH năm 2000, Viện NCKH Ngân hàng, Tr.13
trị của các tài sản đảm bảo
Luật về công ty tín thác cho phép công ty này nắm quyền kiểm tra, giám sát các ngân hàng và tổ chức tiết kiệm mất khả năng thanh toán, gồm cả những ngân hàng, tổ chức tiết kiệm còn đang hoạt động và đã chấm dứt hoạt động Công ty tín thác có quyền -u tiên mua lại các tài sản ngay khi có một ngân hàng hay tổ chức tiết kiệm lâm vào tình trạng khó khăn Đối với ngân hàng, tổ chức tiết kiệm còn hoạt
động, Công ty tín thác chỉ có quyền quản lý tài sản trong thời gian những tổ chức này bị đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt Sau khi tình trạng kiểm soát đặc biệt kết thúc, Công ty tín thác phải chuyển trả lại tài sản để tổ chức đó tự quản lý, thanh
lý
Luật về công ty tín thác quy định Công ty tín thác có nhiệm vụ mua lại hay tiếp nhận là các khoản nợ quá hạn tồn đọng, các bất động sản, các tài sản đảm bảo và chứng khoán Tr-ớc khi tìm ra ph-ơng án xử lý tài sản tốt nhất, Công ty tín thác phải tiến hành bảo quản các tài sản này nhằm mục đích củng cố niềm tin của dân chúng,
đồng thời tạo điều kiện để những ngân hàng và tổ chức tiết kiệm tiếp tục hoạt động một cách an toàn và lành mạnh Sau đó, tuỳ từng tr-ờng hợp cụ thể, Công ty tín thác
Trang 16có quyền áp dụng những ph-ơng thức xử lý tài sản riêng để có thể bán đ-ợc số l-ợng tài sản lớn trong một khoảng thời gian ngắn nh-:
-Công ty tín thác có quyền xử lý những ngân hàng và tổ chức đang có dấu hiện xấu đi nhanh chóng do các khoản lỗ gia tăng, tiền gửi cạn kiệt hay đ-ợc quyết
định ph-ơng thức mua tài sản từ các những ngân hàng và tổ chức tiết kiệm gặp khó khăn
-Công ty tín thác có quyền thành lập các trung tâm bán đấu giá tài sản với phạm vi hoạt động trên toàn quốc để bán tài sản theo lô, đồng thời đ-ợc phép xây dựng những chính sách khuyến khích sự tham gia của các công ty quản lý tài sản t- nhân vào quá trình quản lý tài sản
-Công ty tín thác không đ-ợc phép gia hạn những khoản tiền gửi mà mình
đang kiểm soát, nếu nh- khoản tiền gửi này có mức lãi suất cao hơn mức lãi suất hiện hành trên thị tr-ờng
Luật về Công ty tín thác cũng cho phép công ty có một quy trình định giá và bán đấu giá tài sản riêng trên nguyên tắc đảm bảo tính công khai, minh bạch trong quá trình xử lý tài sản
Ngoài ra, với vai trò là ng-ời quản lý tài sản, Công ty tín thác đ-ợc pháp luật trao cho một số quyền hạn đặc biệt nh- quyền huỷ bỏ những hợp đồng hay điều khoản tạo ra gánh nặng cho Công ty tín thác; quyền loại bỏ một số khoản nợ; đ-ợc bán trực tiếp những khu nhà tập thể cho cá nhân hoặc tổ chức có nhu cầu không qua
đấu giá…
Bên cạnh những thuận lợi, Công ty tín thác cũng gặp không ít khó khăn, đặc biệt là khó khăn về tài chính khi Công ty tín thác chỉ có nguồn tài chính duy nhất do ngân sách cấp, trong Chính phủ lại không muốn dùng tiền ngân sách để thanh toán cho các ngân hàng và tổ chức tiết kiệm đã mất khả năng thanh toán Tuy nhiên, bằng những nỗ lực nội tại và những cơ chế phù hợp, đến năm 1996, về cơ bản nợ tồn đọng cùng các tài sản đảm bảo của các ngân hàng và tổ chức tiết kiệm đã đ-ợc Công ty tín thác giải quyết xong
2.4 Một định chế duy nhất ở trung -ơng hoặc thuộc chính phủ
Trang 17Mô hình này có một số -u điểm sau:
Tiềm lực kinh tế mạnh để có thể xử lý đ-ợc nợ với quy mô lớn
Hoạt động nh- một công cụ hữu hiệu đ-a các khoản nợ quá hạn ra khỏi những ngân hàng gặp khó khăn dựa trên những tiêu chuẩn đánh giá thống nhất
Thông qua mô hình này, Chính phủ có thể đ-a ra những điều kiện khi mua lại nợ quá hạn tồn đọng của ngân hàng và tập trung đ-ợc các nguồn lực để tái cơ cấu hệ thống ngân hàng
Tài sản đảm bảo đ-ợc tập trung, công ty quản lý nợ quản lý có điều kiện quản lý tài sản hiệu quả, cho phép khách hàng dễ dàng xử lý tài sản đã cầm cố, thế chấp cho khoản vay
Cho phép sử dụng những quyền lực đặc biệt để cơ cấu lại khoản nợ, nhờ đó đẩy nhanh hơn quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng
Tuy nhiên, mô hình này cũng bộc lộ một số hạn chế sau:
Bộ máy tổ chức cồng kềnh, hạn chế khả năng phản ứng nhanh nhạy trong các giao dịch mua bán, do vậy sẽ làm giảm hiệu quả trong quá trình hoạt động
Th-ờng chịu những sức ép nhất định về chính trị
Tài sản đảm bảo đ-ợc tập trung với số l-ợng lớn, trong một thời gian dài, việc chuyển đổi các tài sản này thành tiền th-ờng gặp khó khăn Nếu các tài sản hay các khoản cho vay để tái cơ cấu không đ-ợc quản lý tốt sẽ làm nền kinh tế thêm khó khăn
Chi phí hoạt động dành cho công ty quản lý nợ tập trung có thể cao hơn công ty t-ơng tự trực thuộc các ngân hàng
Gặp khó khăn khi xác định giá chuyển nh-ợng các khoản nợ quá hạn
Tr-ờng hợp này, các n-ớc th-ờng ban hành mới hoặc sửa đổi bổ sung các quy
định pháp luật hiện hành để công ty quản lý nợ hoạt động hiệu quả Những minh chứng rõ ràng nhất về sự thành công của mô hình này là Công ty Quản lý Tài sản KAMCO ở Hàn Quốc và Công ty Danaharta ở Malaysia
Trang 18Công ty Quản lý Tài sản Hàn Quốc (Korean Asset Management
Corp.-KAMCO.) đ-ợc Chính phủ Hàn Quốc thành lập chính thức vào tháng 4/1962 theo
Điều 53-3 Luật Ngân hàng Phát triển Hàn quốc, với nhiệm vụ chủ yếu là thanh lý các tài sản tồn đọng của Ngân hàng Phát triển Hàn quốc thuộc sở hữu nhà n-ớc Tháng 9/1997, Hàn Quốc lâm vào khủng hoảng tài chính tiền tệ trầm trọng với sự gia tăng nợ quá hạn tồn đọng lên tới 28.5 nghìn tỷ won (tính đến thời điểm 9/97) do tình trạng đổ vỡ của các tập đoàn kinh tế khổng lồ nh- thép Hanbo, ô tô Deawoo, Kia, Sammi…(1) Tr-ớc tình hình đó, tháng 11/1997, KAMCO đ-ợc tổ chức lại theo Luật
về xử lý hiệu quả các tài sản tồn đọng của các định chế tài chính và thành lập Công
ty Quản lý Tài sản Hàn Quốc, nhằm tăng c-ờng khả năng thanh toán và duy trì sự lành mạnh cho khu vực tài chính Phạm vi chức năng và nhiệm vụ của Công ty Quản
(1)Jae Ryong Chung-Chủ tịch kiêm giám đốc điều hành KAMCO: Kinh nghiệm hoạt động của KAMCO, Tài liệu do Ngân hàng nhà n-ớc Việt nam dịch tháng 8/2000, Tr.2
lý Tài sản Hàn Quốc lúc này đã đ-ợc mở rộng rất nhiều
KAMCO đ-ợc đặt d-ới sự giám sát trực tiếp của Uỷ ban Giám sát Tài chính (FSC) và phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính - Kinh tế (MOFE) với số vốn điều lệ là
130 tỷ Won Cổ đông chính của KAMCO là Chính phủ Hàn Quốc và Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc Chính phủ sở hữu 38% cổ phần, Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc chiếm 31% cổ phần và 31% còn lại do các ngân hàng khác nắm giữ Ngoài ra, KAMCO còn vay của Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc là 500 tỷ Won và huy động từ việc phát hành trái phiếu là 20.500 tỷ Won
Theo Luật về xử lý hiệu quả các tài sản tồn đọng của các định chế tài chính, KAMCO có nhiệm vụ chuyên xử lý các khoản nợ tồn đọng của các định chế tài chính với mục tiêu nâng cao giá trị và khả năng chuyển nh-ợng các khoản nợ quá hạn thông qua nhiều ch-ơng trình xử lý nợ, đồng thời tiết kiệm tối đa chi phí phát sinh trong quá trình tái cơ cấu lĩnh vực tài chính trong khi phải nâng cao tỷ lệ thu hồi các tài sản tồn đọng và phục hồi khả năng lành mạnh của ngành tài chính d-ới sự hỗ trợ của Uỷ ban Giám sát Tài chính và Bộ Tài chính - Kinh tế
Để hỗ trợ KAMCO hoạt động hiệu quả, pháp luật quy định cho KAMCO
đ-ợc sử dụng nhiều quyền hạn quan trọng nh- quyền đình chỉ việc sử dụng các thủ
Trang 19tục pháp lý thông th-ờng đối với việc đòi nợ, quyền đình chỉ việc tịch thu tài sản của bên vay để xiết nợ, quyền chuyển các khoản cho vay thành vốn cổ phần, quyền mua lại các chứng chỉ thanh toán, quyền mua và bán tài sản theo kế hoạch tự phục hồi của các công ty đang lâm vào tình trạng tài chính kiệt quệ hay quyền thành lập liên doanh để hợp tác trong việc tái cơ cấu hoạt động của các doanh nghiệp…
Tính đến tháng 6/1999, tổng số nợ đ-ợc KAMCO thu hồi thông qua việc bán
Pengurusan Danaharta Nasional Berhad (gọi tắt là Danaharta) là một công
ty cổ phần ra đời năm1998 theo Luật công ty trực thuộc Bộ Tài chính Công ty hoạt
động trên cơ sở độc lập với Chính phủ Maylaisia trong việc ra các quyết định hàng ngày của mình, đồng thời đ-ợc giao trọng trách đặc biệt trong việc giải quyết các khoản nợ quá hạn của các ngân hàng Malaysia và quản lý tài sản cho một số khu vực t- nhân đ-ợc lựa chọn
Danaharta ra đời nh- một công cụ của Chính phủ Malaysia trong nỗ lực nhằm củng cố lại khu vực tài chính, giúp các ngân hàng thoát khỏi các khoản nợ quá hạn
Trang 20chồng chất, có điều kiện tập trung thực hiện kế hoạch kinh doanh để thúc đẩy nhanh viễn cảnh phục hồi nền kinh tế Malaysia
Vốn hoạt động của Danaharta do Chính phủ cấp thông qua Bộ Tài chính Ngoài ra, trong quá trình hoạt động Luật thành lập quỹ phát triển năm 1998 cho phép công ty Danaharta đ-ợc huy động vốn thông qua hình thức phát hành trái phiếu có bảo đảm của Chính phủ Tổng số vốn đầu t- ban đầu của Danaharta khoảng 15 tỷ
RM, trong đó vốn góp của chính phủ là 3 tỷ RM (chiếm 20%), trái phiếu phát hành
để bán cho các tổ chức tài chính là 10 tỷ RM (chiếm 67%), vốn vay từ Quỹ dự phòng cho nhân viên và Khazanah (một công ty đầu t- của Bộ Tài chính) là 2 tỷ RM (chiếm 13%)
(1)Jae Ryong Chung-Chủ tịch kiêm giám đốc điều hành KAMCO: Kinh nghiệm hoạt động của KAMCO, Tài liệu do Ngân hàng nhà n-ớc Việt nam dịch tháng 8/2000, Tr.150
Trong vòng 3 tháng kể từ khi đ-ợc thành lập vào tháng 6/1998, Danaharta đã bắt đầu mua lại các khoản nợ quá hạn theo cơ chế thị tr-ờng và không chịu bất kỳ áp lực nào khi mua nợ Luật đất đai sửa đổi năm 1998 cho phép Danaharta mua lại các khoản nợ quá hạn đ-ợc bảo đảm bằng đất đai theo cách kinh tế và có hiệu quả nhất
Do vậy, ban đầu Danaharta tiến hành mua tất cả nợ quá hạn trên phạm vi toàn quốc của các tổ chức tài chính trong hệ thống ngân hàng Malaysia, gồm cả các tổ chức tài chính n-ớc ngoài nếu có nhu cầu Giai đoạn đầu kết thúc vào tháng 6/1999 Đến giai
đoạn 2, Danaharta đã quy định chỉ mua những khoản nợ quá hạn nếu chúng đáp ứng
đ-ợc một trong các điều kiện sau:
Các khoản nợ của cùng một khách hàng hoặc các khoản nợ quá hạn khác liên quan đến khách hàng hiện đang nằm trong danh mục do Danaharta quản lý
Các khoản nợ có bảo đảm với tổng giá trị từ 50 triệu RM trở lên
Các khoản nợ không có bảo đảm của các công ty cổ phần có niêm yết chứng khoán
Các khoản nợ của các tổ chức tài chính có tỷ lệ nợ quá hạn lớn hơn 10%
Giai đoạn 2 hoàn thành vào tháng 3/2000 Luật công ty Danaharta năm 1998, sau đó là luật sửa đổi năm 2000, cho phép Danaharta mua nợ đ-ợc thanh toán bằng
Trang 21tiền mặt hoặc trái phiếu do công ty phát hành Danaharta chỉ đ-ợc phép thanh toán bằng tiền mặt trong những tr-ờng hợp cần thiết nh- bên bán nợ gặp khó khăn cần tiền để thanh toán cho dân chúng hoặc để cơ cấu lại hoạt động Thêm vào đó, Luật thành lập quỹ phát triển năm 1998 quy định Danaharta có quyền phát hành trái phiếu hàng tháng, với kỳ hạn nợ ban đầu là 5 năm (Danaharta có quyền gia hạn thêm 5 năm tiếp theo) đ-ợc chính phủ bảo đảm Các trái phiếu này có độ an toàn rất cao, có khả năng chuyển nh-ợng Tuy vậy, khả năng sinh lợi của các trái phiếu này chỉ xấp
xỉ với khả năng sinh lợi của chứng khoán Chính phủ Malaysia có kỳ hạn t-ơng
đ-ơng
Giống nh- Hàn Quốc, Luật đất đai sửa đổi năm 1998, Luật công ty Danaharta sửa đổi năm 2000 của Malaysia cho phép Danaharta sử dụng một số quyền hạn đặc biệt trong quá trình xử lý nợ nh- quyền buộc ngân hàng không bán nợ quá hạn phải ghi giảm giá trị khoản nợ với giá bán đ-ợc ấn định (th-ờng là 80% giá do Danaharta
đ-a ra), quyền chỉ định ng-ời quản trị đặc biệt để đề xuất kế hoạch cơ cấu lại nợ mà không cần toà án, quyền tịch thu tài sản đảm bảo sau khi thông báo tr-ớc cho bên vay 30 ngày và bán thông qua th-ơng l-ợng cá nhân mà không cần thông qua quy trình đấu giá của toà án, quyền chỉ định ng-ời quản trị, giám sát hoạt động của khách hàng mắc nợ, thay thế cho đội ngũ quản trị, điều hành cũ của doanh nghiệp, quyền cơ cấu lại hoạt động kinh doanh của bên vay thay vì chỉ đ-ợc cơ cấu lại khoản nợ… và đặc biệt là quyền được bảo vệ đối với Danaharta và các nhân viên của nó khỏi các trách nhiệm pháp lý trừ tr-ờng hợp sai sót cố ý
Kết quả là, tính đến tháng 6/2001, Danaharta đã mua đ-ợc các khoản nợ quá hạn với tổng trị giá khoảng 48,03 tỷ RM bao gồm 2.928 khoản nợ liên quan đến 2.598 khách hàng khác nhau Danaharta đã thanh toán cho các tổ chức tài chính 1,02
tỷ RM bằng tiền mặt và 8,07 tỷ RM bằng trái phiếu Hơn 80% nợ quá hạn đ-ợc Danaharta giải quyết bằng nhiều ph-ơng pháp khác nhau với tỷ lệ thu hồi dự kiến khoảng 57% Tỷ lệ không trả đ-ợc nợ đúng hạn sau khi đ-ợc Danaharta cơ cấu lại khoảng 14%(1)
2.5 Công ty con của từng ngân hàng
Mô hình xử lý nợ này có những -u điểm sau: công ty quản lý nợ là một pháp nhân độc lập, chủ động hơn trong hoạt động xử lý nợ; có điều kiện áp dụng các kỹ năng chuyên môn hoá trong hoạt động xử lý nợ theo h-ớng tái cơ cấu nợ và tổ chức
Trang 22lại hoạt động sản xuất kinh doanh của bên vay; có điều kiện dự đoán t-ơng đối chính xác những tổn thất có thể xảy ra đối với khoản vay; giúp cho các ngân hàng làm sạch bảng tổng kết tài sản của mình sau khi chuyển giao nợ cho công ty quản lý nợ; là cơ
sở hình thành thị tr-ờng mua bán nợ
Tuy nhiên, mô hình này cũng có một số nh-ợc điểm sau: thiếu thông tin về bên vay, do vậy phải mất nhiều thời gian để đ-a ra đ-ợc ph-ơng án xử lý nợ phù hợp; khả năng tài chính hạn chế nên quy mô xử lý nợ không lớn; mức thiệt hại có thể xảy ra đối với khoản nợ lớn hơn nếu đ-ợc chuyển giao cho công ty quản lý nợ tập trung và ngân hàng không đủ tiền để bù đắp những thiệt hại này
Mô hình công ty quản lý nợ do các ngân hàng tự thành lập đ-ợc áp dụng ở nhiều n-ớc, điển hình trong số đó là các công ty quản lý nợ đ-ợc thành lập ở Thái Lan, Trung Quốc
(1) Tài liệu hội thảo ngày 12-13/12/2001 của Công ty Kiểm toán PriceWaterHouseCooper
Thái lan: Năm 1999, sau khi cơn “bão táp” khủng hoảng tài chính đi qua,
một số ngân hàng lớn đã tự thành lập công ty chuyên xử lý nợ tồn đọng để cải thiện tình hình tài chính của chính mình Chỉ trong thời gian ngắn, ở Thái Lan đã có 8 công ty quản lý nợ trực thuộc các ngân hàng đ-ợc thành lập, gồm 5 công ty trực thuộc các ngân hàng thuộc sở hữu nhà n-ớc và 3 công ty trực thuộc các ngân hàng thuộc sở hữu t- nhân B-ớc đầu, một số l-ợng đáng kể nợ quá hạn của các ngân hàng Thái Lan đ-ợc giải quyết Tuy nhiên, các công ty này, về cơ bản, không thể xử lý
đ-ợc những khoản nợ lớn, phức tạp do không đủ quyền lực và tài chính cần thiết
Trong số các công ty quản lý nợ đ-ợc thành lập, thành công nhất phải kể đến công ty SAM (Sukhuvit asset Management Co.Ltd) Công ty SAM đ-ợc Chính Phủ cho thành lập vào tháng 4/2000 với mục tiêu chuyên xử lý nợ tồn đọng của Ngân hàng Krung Thai Nguồn vốn hoạt động của Công ty SAM do Quỹ Phát Triển các
Định chế Tài chính của Ngân hàng Trung -ơng Thái Lan cấp Ban điều hành của Công ty SAM có 9 ng-ời, gồm Phó Thống đốc Ngân hàng Trung -ơng Thái Lan, Thứ tr-ởng Bộ Tài Chính Thái Lan, Phó Chủ nhiệm Văn Phòng Chính phủ, đại diện
Bộ T- Pháp, Giám đốc Quỹ Phát Triển các Định chế Tài chính, Phó Giám đốc điều hành các công ty quản lý bất động tài sản, Trợ lý Hội đồng Nhà n-ớc, Phó Giám đốc Ngân hàng Krung Thai và Tổng Giám đốc của Công ty SAM Mặc dù là một cơ quan
Trang 23của Chính phủ nh-ng Công ty Sam đ-ợc toàn quyền quyết định nh- một công ty thuộc sở hữu t- nhân Về cơ bản, công ty SAM chỉ có quyền hạn của một chủ nợ bình th-ờng Trong quá trình hoạt động, Công ty SAM không trực tiếp bán các khoản nợ và tài sản mà xử lý thông qua hình thức tìm một nhà quản lý độc lập đối với những khoản nợ và tài sản Sau đó, Công ty SAM chuyển trả các khoản nợ và tài sản đ-ợc tiếp nhận cho Ngân hàng Krung Thai
Trung Quốc: Không nh- các n-ớc Châu á khác, khi cho phép thành lập mô
hình công ty quản lý nợ, nhìn chung tình hình kinh tế Trung Quốc vẫn ổn định, dự trữ ngoại tệ tăng, lãi suất tiết kiệm đ-ợc điều chỉnh giảm, ch-a xuất hiện sức ép quá lớn về nợ quá hạn Năm 1999, Chính Phủ Trung quốc cho thành lập 4 Công ty Quản
lý nợ thuộc 4 ngân hàng th-ơng mại chuyên doanh thuộc sở hữu nhà n-ớc:
Công ty China orient Asset Management thuộc Ngân hàng Ngoại th-ơng Trung Quốc;
Công ty Vạn lý Tr-ờng thành thuộc Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc;
Công ty CHAMC thuộc Ngân hàng Công th-ơng Trung Quốc;
Công ty CINDA thuộc Ngân hàng Xây dựng
Mục tiêu của các công ty này là ngăn chặn và khắc phục những rủi ro tài chính tiềm tàng, cải thiện danh mục tài sản của các ngân hàng th-ơng mại quốc doanh, tăng c-ờng cải cách doanh nghiệp nhà n-ớc và sự phát triển lành mạnh của
hệ thống tài chính, duy trì giá trị của các tài sản và giảm thiểu các khoản lỗ thông qua việc tối -u hoá giá trị tài sản đảm bảo tồn đọng
Các khoản nợ quá hạn đ-ợc chuyển giao cho các công ty quản lý nợ từ các ngân hàng mẹ với giá trị sổ sách nh- một phần của nghiệp vụ tái cơ cấu vốn ngân hàng, để đổi lấy trái phiếu dài hạn đ-ợc Bộ Tài chính đảm bảo
Việc chuyển giao nợ tồn đọng đ-ợc hạn chế ở những khoản nợ đã gia hạn từ tr-ớc năm 1995, khi Trung Quốc ban hành luật ngân hàng th-ơng mại
Do hoàn cảnh ra đời đặc biệt nên địa vị pháp lý của các công ty quản lý nợ chỉ
đ-ợc quy định trong Quy chế tạm thời do Hội đồng Nhà n-ớc ban hành Công ty quản lý nợ không đ-ợc Chính phủ Trung Quốc trao cho bất kỳ quyền hạn pháp lý
Trang 24đặc biệt nào ngoài các quyền hạn mà ngân hàng chuyển giao đ-ợc h-ởng (nh- quyền kiện ng-ời đi vay)
Cho đến nay, vẫn còn quá sớm để đánh giá sự thành công hay thất bại của mô hình này tại Trung Quốc cũng nh- ch-a thể rút ra bất kỳ kết luận gì từ kinh nghiệm của Trung Quốc
Thực tiễn xử lý nợ quá hạn tồn đọng và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng ở các n-ớc đã cho thấy, mô hình công ty quản lý nợ tập trung với một hệ thống pháp lý phù hợp tăng c-ờng quyền hạn của công ty quản lý nợ tỏ ra có hiệu quả hơn cả
Tóm lại, mỗi mô hình có những -u điểm và hạn chế nhất định Nếu loại bỏ những yếu tố chủ quan, việc lựa chọn mô hình nào, vào thời điểm nào phụ thuộc vào nhiều nhân tố nh- tầm quan trọng của việc xử lý nợ, số l-ợng nợ đ-ợc xử lý, tính chất tài sản đảm bảo, dung lượng thị trường, đặc trưng của khách hàng mắc nợ… Tuỳ vào điều kiện cụ thể, mỗi quốc gia có thể lựa chọn cho mình một mô hình riêng hoặc mô hình công ty quản lý nợ tập trung trực thuộc Chính Phủ, nh- tại Hàn Quốc, Indonexia, Malaysia, hoặc mô hình công ty quản lý nợ thuộc các ngân hàng và cũng không loại trừ việc sử dụng mô hình hỗn hợp (gồm cả công ty quản lý nợ tập trung
và công ty quản lý nợ thuộc các ngân hàng) để xử lý nợ quá hạn tồn đọng
3 một số đặc tr-ng pháp lý của Công ty Quản lý nợ
Trong nền kinh tế thị tr-ờng phát triển, việc không thanh toán đ-ợc các nghĩa
vụ đến hạn có thể xảy ra ở hầu hết các hoạt động kinh tế ví dụ nh- nợ tiền điện, tiền n-ớc, tiền nhà, tiền điện thoại hay nợ tiền hàng hoá Do vậy, thị tr-ờng cũng xuất hiện nhiều doanh nghiệp hoạt động với chức năng cung cấp các dịch vụ t- vấn hay trực tiếp đòi nợ thuê cho các chủ nợ Tuy nhiên, về mặt pháp lý công ty quản lý nợ với những đặc tr-ng riêng, có sự khác biệt rõ nét so với doanh nghiệp do các cá nhân
và tổ chức (không phải là ngân hàng) thành lập hoạt động trong lĩnh vực đòi nợ (gọi chung là doanh nghiệp đòi nợ thuê)
Các đặc tr-ng của công ty quản lý nợ đ-ợc biểu hiện nh- sau:
1 Mục tiêu chủ yếu của công ty quản lý nợ là làm lành mạnh tình hình tài chính
của hệ thống ngân hàng chứ không phải tìm kiếm lợi nhuận
Trang 25Mục tiêu quan trọng nhất của công ty quản lý nợ là thu hồi tối đa giá trị từ các khoản nợ đ-ợc chuyển giao, giảm tối đa các chi phí phát sinh trong quá trình xử lý
nợ hoặc nhanh chóng chuyển nh-ợng tài sản đảm bảo tồn đọng thành tiền, quá đó làm lành mạnh tình hình tài chính của hệ thống ngân hàng
Đối t-ợng đ-ợc chuyển giao cho công ty quản lý nợ là các khoản nợ quá hạn
mà bên vay đang trong tình trạng không thể thanh toán nợ do gặp khó khăn về tài chính; nhiều khoản nợ không có tài sản đảm bảo hoặc giá trị tài sản đảm bảo không
đủ bù đắp khoản vay; tài sản đảm bảo, tài sản gắn nợ không thể chuyển nh-ợng do thị trường “đóng băng” hoặc do không đủ giấy tờ hợp pháp … Do vậy, khả năng thu hồi đối với những khoản vay này rất khó khăn thậm chí luôn tiềm ẩn nguy cơ “mất trắng” Bằng các kỹ năng đặc biệt như đầu tư thêm chi phí, cơ cấu lại khoản nợ hoặc tối -u hoá giá trị tài sản đảm bảo, công ty quản lý nợ mới hy vọng thu hồi nợ gốc đã cho vay Trong khi đó, các doanh nghiệp đòi nợ thuê luôn hoạt động vì lợi nhuận Doanh thu từ việc đòi nợ thuê đ-ơng nhiên bù đắp những chi phí phát sinh, đồng thời phải đem lại cho doanh nghiệp những khoản thu nhập nhất định Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu chắc chắn cao hơn lãi suất gửi tiết kiệm và cao hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân của nền kinh tế Bởi, nếu tỷ suất này bằng lãi suất gửi tiết kiệm thì chủ doanh nghiệp có thể gửi tiền tại ngân hàng h-ởng lãi suất chứ không phải bỏ sức
ra kinh doanh Ngoài ra, đòi nợ thuê, kinh doanh nợ là lĩnh vực có rủi ro, nếu tỷ suất lợi nhuận không cao thì doanh nghiệp sẽ lựa chọn những lĩnh vực khác đầu t- để tránh rủi ro, mạo hiểm
2 Công ty quản lý nợ có thời gian hoạt động xác định và t-ơng đối ngắn
Thời gian hoạt động của công ty quản lý nợ là khoảng thời gian hợp lý, cần thiết đủ để nó tiếp quản, xây dựng và triển khai các hoạt động xử lý nợ quá hạn tồn
đọng theo kế hoạch đã đ-ợc phê chuẩn Kết quả cuối cùng là, các khoản nợ quá hạn
và tài sản đảm bảo đ-ợc công ty quản lý nợ tái cơ cấu, chuyển nh-ợng để thu hồi vốn sau khi đã làm tăng tối đa giá trị Đến đây, công ty quản lý nợ hoàn thành nhiệm vụ
và kết thúc hoạt động
Tuỳ theo tình trạng nợ khó đòi, hoàn cảnh và mục tiêu của mỗi quốc gia mà xác định cụ thể thời gian tồn tại phù hợp cho công ty quản lý nợ Tuy nhiên, do yêu cầu cấp bách giải quyết nhanh chóng tình trạng khủng hoảng của hệ thống tài chính ngân hàng, đảm bảo ổn định trật nên quá trình này không thể diễn ra quá lâu Thông
Trang 26th-ờng, công ty quản lý nợ có thời gian hoạt động từ 7-10 năm (nh- Mỹ, Hàn Quốc…) hoặc có thể dài hơn nhưng tối đa không quá 15 năm Trong khi, thời gian hoạt động của doanh nghiệp đòi nợ thuê th-ờng không xác định tr-ớc Nó phụ thuộc vào cung cầu của thị tr-ờng và ý chí chủ quan của chủ đầu t-
3 Công ty quản lý nợ th-ờng đ-ợc giao những quyền hạn đặc biệt
Xử lý nợ quá hạn và quản lý hiệu quả tài sản đảm bảo là công việc rất phức tạp ngay cả trong những điều kiện bình th-ờng Vậy mà, công ty quản lý nợ phải tiếp quản một số l-ợng lớn nợ quá hạn trong hoàn cảnh đặc biệt, nền kinh tế suy thoái, sức mua giảm, lạm phát gia tăng … thì những khó khăn phát sinh là điều không thể tránh khỏi
Do vậy, để hoàn thành mục tiêu đặt ra trong thời gian hạn chế, pháp luật các n-ớc th-ờng trao cho công ty quản lý nợ những quyền hạn đặc biệt gắn với hoạt
động của nó mà những chủ thể kinh doanh khác không có nh-:
Quyền mua quyền đòi nợ và sở hữu tài sản không cần có sự chấp thuận của bên vay;
Quyền quyết định bán tài sản không theo các quy định đấu giá thông th-ờng nh-ng vẫn bảo đảm công bằng và minh bạch;
Quyền quản lý khoản vay và tài sản đảm bảo: Nội dung cơ bản của quyền này là công ty quản lý nợ đ-ợc yêu cầu bên vay trả nợ; thực hiện việc giãn nợ, miễn giảm nợ lãi, đầu t- thêm vốn, chuyển vốn thành cổ phần, bổ nhiệm ng-ời quản lý, kiểm soát chặt chẽ khách hàng mắc nợ…;
Quyền tuyên bố lệnh hoãn trả nợ ngay cả khi toà án đã mở thủ tục giải quyết việc phá sản;
Quyền đ-ợc pháp luật bảo vệ và miễn trừ nghĩa là công ty quản lý nợ và những nhân viên của mình sẽ không bị truy tố tại bất kỳ toà án, d-ới bất kỳ hình thức nào vì những tổn thất hoặc mất mát, vì những hành vi phải thi hành hoặc không thi hành nếu họ làm việc một cách trung thực và đúng pháp luật …
Trang 27Những quyền lực này không bị giới hạn bởi các quy định của hệ thống pháp luật quốc gia, thậm chí trong một số tr-ờng hợp nó còn làm thay đổi nhiều nội dung các quy định của pháp luật mỗi n-ớc
Kinh nghiệm thực tiễn các n-ớc cho thấy: mô hình công ty quản lý nợ không thể thành công hoặc kết quả không khả quan nh- mục tiêu đã đặt ra nếu nh- quốc gia đó không có một cơ chế thích hợp cho công ty quản lý nợ, không có khuôn khổ pháp lý tạo cho công ty quản lý nợ những quyền hạn cần thiết, khác với những mô hình thông th-ờng
Thêm vào đó, cách thức thu hồi nợ mà doanh nghiệp đòi nợ thuê áp dụng khác với công ty quản lý nợ Doanh nghiệp đòi nợ thuê th-ờng buộc bên vay phải thu xếp tiền để thanh toán nợ hoặc tìm các tài sản của bên vay để xiết nợ Việc gia hạn trả nợ, cho vay mới để cơ cấu lại nợ rất ít khi đ-ợc áp dụng hoặc đ-ợc thực hiện với những điều kiện khắt khe Do vậy, quyền hạn của doanh nghiệp đòi nợ thuê cũng nh- nhiều doanh nghiệp khác, thậm chí không có -u đãi về thuế, về tài chính nếu nhà n-ớc không khuyến khích phát triển
4 Công ty quản lý nợ chịu những cơ chế giám sát và kiểm soát chặt chẽ
Rất khó đảm bảo chắc chắn rằng trong quá trình hoạt động, công ty quản lý
nợ và các nhân viên của nó không lạm dụng những quyền hạn đ-ợc trao để sử dụng vào mục đích t- lợi cá nhân Bởi vậy, ngoài những quyền hạn và kỹ năng đặc biệt, pháp luật của các n-ớc đều quy định các biện pháp quản lý, kiểm soát và giám sát rất chặt chẽ nhằm đảm bảo cho công ty quản lý nợ hoạt động trong sự công khai, minh bạch, đồng thời đảm bảo an toàn cho các tài sản của quốc gia
Trong khi đó, không có quy định riêng về việc kiểm tra, kiểm soát đối với hoạt động của doanh nghiệp đòi nợ thuê cũng nh- đối với các nhân viên của nó
Ngoài ra, công ty quản lý nợ còn đặc biệt ở chỗ nó đ-ợc ra đời trong những
điều kiện hoàn cảnh hết sức khó khăn, đó là tình trạng nợ quá hạn khó đòi trong hệ thống ngân hàng tăng cao, khả năng thanh toán của các ngân hàng thấp, thậm chí nguy cơ khủng hoảng kinh tế, bất ổn xã hội có thể bùng phát bất cứ lúc nào
4 Vai trò của Công ty Quản lý nợ
Trang 28Công ty quản lý nợ đóng vai trò là công cụ giúp giải quyết hữu hiệu các khoản vay không thu hồi đ-ợc, đ-a ra những giải pháp xử lý hiệu quả các tài sản
đảm bảo; giúp cho các ngân hàng có điều kiện đa dạng hoá các nghiệp vụ hoạt động,
mở rộng cho vay, tăng c-ờng chuyển dịch cơ cấu và nâng cao chất l-ợng đầu t-, khắc phục những khó khăn về tài chính, củng cố tính thanh khoản, cải thiện khả năng hoàn vốn và khôi phục mối quan hệ với các đối tác kinh doanh
Vai trò của công ty quản lý nợ đ-ợc biểu hiện cụ thể nh- sau:
Công ty quản lý nợ là công cụ thích hợp giúp các ngân hàng xử lý nợ quá hạn tồn
đọng, làm sạch bảng cân đối tài sản bằng cách mua lại các khoản nợ này trên cơ
sở giá thị tr-ờng, làm lành mạnh hoá tình hình tài chính của các ngân hàng;
Công ty quản lý nợ sử dụng các biện pháp và kỹ năng đặc biệt để quản lý và khai thác hiệu quả các khoản nợ quá hạn nh- cơ cấu, khôi phục lại các khoản nợ hoặc chuyển chúng thành vốn góp, nhanh chóng chuyển các khoản nợ quá hạn thành tiền mặt, rút ngắn thời gian luân chuyển vốn
Công ty quản lý nợ sử dụng các biện pháp và kỹ năng đặc biệt để quản lý, khai thác hiệu quả và làm gia tăng giá trị của các tài sản cầm cố, thế chấp gắn liền với khoản nợ quá hạn để dễ dàng chuyển nh-ợng;
Công ty quản lý nợ bằng các biện pháp và kỹ năng đặc biệt để tối đa hoá lợi nhuận, giảm thiểu rủi ro, tổn thất và các chi phí phát sinh khác đối với các khoản
nợ quá hạn Ngoài ra, công ty quản lý nợ là yếu tố quan trọng, không thể thiếu trong các ch-ơng trình quốc gia về cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, góp phần làm lành mạnh hoá hệ thống tài chính và khôi phục nền kinh tế quốc dân
Trang 29
Ch-ơng II công ty quản lý nợ của việt nam
1 Bối cảnh ra đời Công ty quản lý nợ ở Việt nam
1.3 Tình hình nợ quá hạn tồn đọng tại Việt nam
Nợ quá hạn là khoản nợ mà bên nợ đang hoạt động, khoản nợ có khả năng thu hồi, nh-ng gặp khó khăn tạm thời về tình hình sản xuất kinh doanh ch-a trả đ-ợc nợ gốc hoặc lãi hoặc cả gốc và lãi khi đến hạn.(1)
Nợ xấu bao gồm những khoản nợ quá hạn không còn đối t-ợng để thu, nợ không có bảo đảm, nợ có bảo đảm nh-ng còn v-ớng về thủ tục pháp lý hoặc những khoản nợ mà bên vay chây ỳ không chịu trả
Nợ xấu của các ngân hàng Việt nam đ-ợc biểu hiện nh- sau:
Trang 30 Nợ quá hạn do một số hợp tác xã tín dụng tr-ớc đây bị giải thể nay tiếp tục
khắc phục, bổ sung thêm vốn cổ đông để thành lập ngân hàng th-ơng mại cổ phần, số này không lớn;
Nợ quá hạn do NHNN Việt nam và Bộ Tài chính xử lý cho khách hàng hoặc
tạm khoanh do những nguyên nhân bất khả kháng theo chỉ đạo của Chính phủ Số nợ này hoặc đã cho khoanh nh-ng hạch toán ở tài khoản nợ phải thu (đã đ-a ra khỏi d- nợ tín dụng nh-ng vẫn là tài sản có của ngân hàng) hoặc đã xét cho tạm khoanh nh-ng vẫn hạch toán ở tài khoản nợ quá hạn (trong d- nợ tín dụng của ngân hàng)
Những khoản nợ quá hạn trên 360 ngày và những khoản vay trong hạn nh-ng
đã xác định không thể thu hồi vì ng-ời vay chết, mất tích, doanh nghiệp phá sản, giải thể, bị khách hàng lừa đảo
Nợ quá hạn do cho vay bắt buộc trong tr-ờng hợp ngân hàng phải trả thay
Hiện nay, các số liệu chính xác liên quan đến vấn đề nợ quá hạn tồn đọng
được công bố từ các cơ quan của Chính phủ như NHNN Việt nam, Bộ Tài Chính …
đều không thống nhất, chính bởi sự “nhạy cảm” của số liệu này Thậm chí trên các ph-ơng tiện thông tin đại chúng, số liệu về nợ quá hạn tồn đọng tính tới thời điểm 31/12/2000 cũng đ-ợc công bố không giống nhau nh- 20.000 tỷ đồng (Tạp chí chứng khoán ngày 21/01/2002), 22.000 tỷ đồng (Báo Đầu t- ngày 18/10/2002),
Trang 3127.400 tỷ đồng (Báo Đầu t- ngày 25/3/2002) hoặc 1 tỷ Đôla Mỹ (Tạp chí chứng khoán số 11 tháng11/2002) Tuy nhiên, chúng đều thống nhất tỷ lệ nợ quá hạn ở Việt nam chiếm khoảng 12% trên tổng số d- nợ Cho dù, con số nào là chính xác thì nợ quá hạn ở Việt nam vẫn được đánh giá là “rất cao, cao gấp bội so với các nước trong khu vực”(2)
Số nợ quá hạn khổng lồ đó đ-ợc phân loại nh- sau:
Nhóm nợ có tài sản bảo đảm chiếm 40% tổng số nợ xấu, đ-ợc phân làm hai
loại: loại ngân hàng đã thu giữ tài sản và loại ngân hàng ch-a thu giữ đ-ợc tài sản (do tài sản liên quan đến các vụ án đang trong quá trình giải quyết hoặc
đã giải quyết xong nh-ng tòa án ch-a giao cho ngân hàng xử lý hoặc tài sản
đó ch-a đủ thủ tục pháp lý nh- giấy tờ sở hữu không đảm bảo, hợp đồng cầm
cố thế chấp không đ-ợc công chứng, chứng thực bởi các cơ quan nhà n-ớc có thẩm quyền …)
Nhóm nợ không có tài sản bảo đảm và bên vay không còn hoạt động chiếm
gần 20% tổng số nợ xấu Nhóm nợ này chủ yếu thuộc diện bị thiên tai, doanh nghiệp đã giải thể, phá sản hoặc không còn hoạt động…
(1) Trần Minh Tuấn-Phó Thống đốc NHNN Việt nam: Xử lý tài sản thế chấp và giảm tỷ lệ
nợ đọng là một nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành ngân hàng, Tạp chí ngân hàng, số chuyên đề, tháng 12/1998, tr.1
(2) Vũ Minh Quang: Cơ cấu lại hệ thống ngân hàng th-ơng mại Việt nam, Tạp chí chứng khoán số 11 tháng11/2002, tr.33
Nhóm nợ không có tài sản đảm bảo và bên vay đang hoạt động chiếm khoảng
40% tổng số nợ xấu Phần lớn các khách hàng thuộc nhóm này là các doanh nghiệp Nhà n-ớc hiệu quả sử dụng vốn rất thấp, ch-a đ-ợc cơ cấu lại
Vì vậy, việc xử lý sẽ rất phức tạp Vấn đề sẽ còn trở nên phức tạp hơn khi Chính phủ chủ tr-ơng chuyển các doanh nghiệp Nhà n-ớc thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, nghĩa là chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty Trong khi thực
tế, nguồn vốn chủ sở hữu tại các doanh nghiệp Nhà n-ớc (bao gồm cả quỹ phát triển kinh doanh) chỉ chiếm 31,3% tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp, 67% tổng giá trị tài sản là nguồn vốn vay hoặc vốn chiếm dụng của các đối tác khác, phần còn lại 1,7% là các nguồn kinh phí khác (Số liệu tổng kiểm kê doanh nghiệp Nhà n-ớc thời
điểm 0’ ngày 01/01/2000)
Trang 32Tuy nhiên, theo các chuyên gia đánh giá nếu áp dụng các chuẩn mực quốc tế trong phân loại nợ quá hạn thì tỷ lệ nợ quá hạn của Việt nam có thể lên đến trên 20%
và tập trung chủ yếu vào các nhóm không có tài sản đảm bảo mà bên vay vẫn đang hoạt động Trong tổng số nợ quá hạn không còn khả năng thu hồi của các ngân hàng quốc doanh thì trên 60% là nợ không trả đ-ợc từ các doanh nghiệp nhà n-ớc (1)
Qua phân tích từng nhóm nợ, chúng ta thấy vấn đề nợ quá hạn hiện nay không chỉ phức tạp ở mặt định l-ợng mà còn ở mặt định tính Xét về cơ cấu, các khoản nợ xấu chỉ tập trung chủ yếu là các ngân hàng trong n-ớc (quốc doanh và ngoài quốc doanh) Các chi nhánh ngân hàng n-ớc ngoài và ngân hàng liên doanh nợ quá hạn tồn đọng không đáng kể, khiến tỷ lệ nợ quá hạn của các ngân hàng trong n-ớc cao gấp nhiều lần mức độ an toàn cho phép
Ngoài ra, qua thống kê cho thấy, khá nhiều đối t-ợng vay vốn không trả đ-ợc
nợ cho ngân hàng có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự, gây thiệt hại cho hệ thống ngân hàng hàng trăm tỷ đồng, điển hình nh- vụ TAMEXCO, EPCO-Minh Phụng (trên 7.000 tỷ đồng), vụ Công ty Đầu t- và Phát triển Kinh tế Sóc Trăng (104 tỷ
đồng), vụ Công ty Trách nhiệm hữu hạn Quyết Thắng - TP Hồ Chí
(1) Thục Đoan: Trái tim cần đ-ợc giải phẫu, Thời báo kinh tế Sài gòn số 47-2001 ngày 15/11/2001, tr.13
Minh (139 tỷ đồng), vụ Công ty Trách nhiệm hữu hạn Ngọc Thảo - TP Hồ Chí Minh (trên 200 tỷ đồng)…
Trong khi, vốn điều lệ của các ngân hàng của Việt nam khá khiêm tốn so với các ngân hàng trong khu vực và so với chính các khoản nợ tồn đọng có nguy cơ tổn thất nh- Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt nam 2.300 tỷ đồng Việt nam (VND); Ngân hàng Ngoại th-ơng Việt nam 1.800 tỷ VND, Ngân hàng Đầu t- và Phát triển Việt nam 1.800 tỷ VND, Ngân hàng Công th-ơng Việt nam 1.800 tỷ
đồng và các ngân hàng th-ơng mại cổ phần đều có số vốn điều lệ d-ới 200 tỷ VND
Phần lớn các ngân hàng, kể cả ngân hàng th-ơng mại quốc doanh khẳng định tài sản của họ không bị mất hay thất thoát Bởi, hiện nay họ đang quản lý hàng triệu
m2 đất, hàng ngàn căn hộ do khách hàng vay đem thế chấp Nh-ng thực chất, tài sản
đảm bảo không đảm bảo thủ tục pháp lý nên không thể phát mại hoặc giá trị tài sản
đảm bảo khi phát mại thấp hơn nhiều số với nợ vay Nh- vậy, trong chừng mực nào
Trang 33đó có thể đánh giá rằng không những toàn bộ số vốn điều lệ của các ngân hàng cổ phần hiện đang bị chiếm dụng, lừa đảo mà còn thâm thủng cả vào tiền huy động của dân chúng cũng nh- của các tổ chức kinh tế xã hội
Theo số liệu tổng kiểm kê tính đến 0 giờ ngày 01/01/2000, tổng số nợ quá hạn các doanh nghiệp Nhà n-ớc phải trả lên tới 10.717 tỷ đồng, ngoài ra còn có 33,4 tỷ đồng nợ khó đòi đã đ-ợc loại trừ khi thực hiện chuyển đổi sở hữu 700 doanh nghiệp và một bộ phận doanh nghiệp Nhà n-ớc Đây là một biểu hiện không lành mạnh về tài chính và gây trở ngại lớn tới tiến trình sắp xếp và thực hiện chuyển đổi doanh nghiệp Nhà n-ớc
Tính đến hết năm 2001, chỉ tính riêng hệ thống các ngân hàng tại TP Hồ Chí Minh, d- nợ cho vay thế chấp quyền sử dụng đất là 724,5 tỷ đồng, hết quý I năm 2002 đạt 820 tỷ đồng Các khoản vay thế chấp bất động sản khác, d- nợ
đến hết năm 2001 là 4.705 tỷ đồng Các khoản vay cho xây dựng nhà ở, d-
nợ đến hết năm 2001 là 423,3 tỷ đồng và hết quý I năm 2002 là 543,5 tỷ
đồng Với các khoản vay xây dựng cao ốc, nhà x-ởng cho thuê, d- nợ hết
2001 là 305,9 tỷ đồng còn đến hết quý II năm 2002 là 383,7 tỷ đồng Đến hết năm 2001, giá trị quyền sử dụng đất đã xiết nợ và có quyết định của toà án giao cho các tổ chức tín dụng tại TP Hồ Chí Minh nh-ng ch-a xử lý là 726,8
tỷ đồng và đến hết quý I năm 2002 là 688,7 tỷ đồng Còn giá trị bất động sản
đã xiết nợ và có quyết định của toà án nh-ng ch-a xử lý là 1.319 tỷ đồng vào hết năm 2001 và đến hết quý I năm nay là 1.194,5 tỷ đồng.(1)
Tình hình nợ quá hạn trên đã ảnh rất lớn tới lợi nhuận của các ngân hàng, dẫn
đến làm chậm việc tiến độ thực hiện đổi mới và hiện đại hoá công nghệ ngân hàng Bởi lẽ, thu nhập từ hoạt động tín dụng và đầu t- chiếm tới 90% tổng thu nhập của hệ thống ngân hàng Việt nam Đồng thời, cho đến thời điểm hiện nay, ngân hàng vẫn là kênh chủ yếu thực hiện huy động vốn và cho vay phát triển nền kinh tế, tình hình nợ quá hạn lớn cùng với khối tài sản đảm bảo “khổng lồ” không được khai thác hiệu quả làm cho vốn không luân chuyển đ-ợc, khả năng huy động vốn và cho vay, đầu t-
bị thu hẹp; ảnh h-ởng tiêu cực đến sự nghiệp công nghiệp hiện đại hoá, kìm hãm tốc
độ tăng tr-ởng của nền kinh tế Ngoài ra, nợ quá hạn cũng làm giảm sức cạnh tranh của các ngân hàng và gây nhiều khó khăn trong việc đ-a hệ thống ngân hàng hoà nhập với khu vực và quốc tế Nếu không sớm đ-ợc xử lý dứt điểm, đây sẽ là nguy cơ
Trang 34trực tiếp gây ra khủng hoảng hệ thống tài chính ngân hàng, làm mất ổn định đời sống
kinh tế xã hội
1.4 Nguyên nhân của tình tình nợ quá hạn tồn đọng
Xét về tổng quan gây ra tình trạng nợ quá hạn tồn đọng ở Việt nam có thể
đ-ợc tìm thấy từ chính môi tr-ờng kinh tế xã hội phức tạp, thiếu ổn định và những bất cập của hệ thống ngân hàng Các giải pháp vĩ mô và vi mô mang tính tình thế
đ-ợc nhấn mạnh và kéo dài quá lâu Các ngân hàng rất khó tìm ra sự bảo đảm an toàn cho việc vận dụng cơ chế, công cụ của kinh tế thị tr-ờng trong môi tr-ờng đang
đ-ợc chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị tr-ờng
Ngoài ra, các nguyên nhân cụ thể cũng đ-ợc Chính phủ và ngành ngân hàng tổng kết nh- sau:
Thứ nhất, việc cho vay chính sách, cho vay theo chỉ thị lẫn trong các hoạt
động cho vay th-ơng mại đã phần nào tạo ra gánh nặng ngày nay cho các ngân hàng Các thống kê của NHNN Việt nam cho thấy các khoản cho vay theo ch-ơng trình kinh tế hoặc cho vay bắt buộc th-ờng có tỷ lệ quá hạn cao hơn Ví dụ, nợ
(1) Nguyễn Anh Thi: Ngân hàng sau cơ sốt nhà đất, Thời báo kinh tế số 83, ngày 12/7/2002, tr.5
quá hạn trong ch-ơng trình giúp dân tôn nền, làm sàn nhà trên cọc có tỷ lệ quá hạn
là 23% cho vay theo ch-ơng trình mía đ-ờng là 13% hoặc nhập khẩu phân bón là 46%, ch-ơng trình đánh cá xa bờ, ch-ơng trình hỗ trợ trồng cà phê và nhiều ch-ơng trình khác cũng trong tình trạng tương tự…(1) Ngoài ra, với cơ chế song trùng lãnh
đạo nh- hiện nay khó tránh khỏi việc tách bạch giữa cho vay chính sách với cho vay th-ơng mại Bởi, giám đốc các chi nhánh ngân hàng quốc doanh không chỉ chịu sự lãnh đạo trực tiếp từ ngân hàng mẹ mà còn bị chi phối bởi các quyết định của chính quyền địa ph-ơng Do vậy, nhiều tr-ờng hợp hoạt động tín dụng của ngân hàng không khỏi bị ảnh h-ởng bởi các chỉ tiêu phát triển kinh tế của địa ph-ơng
Thứ hai, cơ chế chính sách, pháp luật không ổn định, còn nhiều lỗ hổng,
“khoảng trống” chưa được lấp đầy, khả năng đảm bảo thực hiện trong thực tế rất kém
là đất cho những khoản nợ xấu nảy sinh và việc xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ gặp ách tắc Có thể dẫn ra đây một số ví dụ điển hình:
Trang 35ở nhiều n-ớc kinh tế thị tr-ờng phát triển, việc cho vay có tài sản đảm bảo là hình thức quá cổ, chỉ đ-ợc sử dụng ở phạm vi hẹp Trong khi cầm cố, thế chấp, bảo lãnh là những biện pháp bảo đảm đ-ợc các ngân hàng Việt nam th-ờng xuyên sử dụng Một thời gian dài, “có tài sản bảo đảm” là một nguyên tắc bắt buộc khi cho vay Vậy mà, cơ sở pháp lý và môi tr-ờng kinh tế xã hội lại khiến cho việc vận dụng các công cụ này gặp nhiều khó khăn Thực tế cho thấy, Hiến pháp 1992, Luật đất đai
đã quy định việc thế chấp quyền sử đất để vay vốn ngân hàng; Bộ Luật dân sự (tr-ớc
đó là Pháp lệnh hợp đồng dân sự) đã quy định việc sử dụng tài sản là động sản và bất
động sản để bảo đảm khi vay vốn của ngân hàng …phần nào không đủ hiệu lực để bảo vệ quyền lợi cho các ngân hàng Bên có nghĩa vụ (bên vay, bên bảo lãnh) trốn tránh, đùn đẩy trách nhiệm trả nợ, ng-ời chủ sở hữu tài sản không làm đúng nghĩa vụ chuyển giao quyền sử hữu cho ngân hàng, không hợp tác với ngân hàng trong quá trình xử lý tài sản Khi tiến hành phát mại tài sản là quyền sử dụng đất, ngân hàng buộc phải thực hiện nhiều thủ tục hành chính nh- xin phép Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền (Thông t- liên tịch số 03/2001/TTLT/NHNN-BTP-BCA-BTC-TCĐC ngày 23/4/2001 h-ớng dẫn việc xử lý đảm bảo tiền vay để thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng) Hồ sơ xin phép phát
(1) Báo cáo tổng kết của Ngân hàng Nhà n-ớc Việt nam năm 2001
mại tài sản phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay giấy chứng nhận quyền
sở hữu nhà ở hoặc quyền sở hữu đất ở Trong khi, một thực trạng là tr-ớc năm 2001
đa số tài sản là quyền sử dụng đất và nhà ở đ-ợc đảm bảo tại ngân hàng không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở
Nghị định 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng, Thông t- liên tịch số 03/2001//NHNN-BTP-BCA-BTC-TCĐC ngày 23/4/2001 cho phép ngân hàng có quyền khai thác, sử dụng tài sản đảm bảo trong thời gian tài sản đảm bảo ch-a đ-ợc xử lý thu hồi nợ Tuy nhiên, nhiều cơ quan nhà n-ớc, nhiều địa ph-ơng áp dụng không giống nhau gây cho ngân hàng nhiều khó khăn khi khai thác, sử dụng dụng tào sản đảm bảo để thu hồi nợ
Một ví dụ khác, Bộ luật dân sự quy định việc công chứng hay chứng thực hợp
đồng cầm cố, thế chấp do các bên thoả thuận, trừ tr-ờng hợp pháp luật có quy định khác Khi tiến hành xét xử, cách vận dụng của các toà án cũng không giống nhau Cùng một sự việc hợp đồng cầm cố, thế chấp không công chứng, nh-ng toà cấp sơ
Trang 36thẩm tuyên bố cam kết bảo lãnh vẫn có hiệu lực, bên cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh
có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng Nếu không, ngân hàng có quyền phát mại tài sản để thu hồi nợ Toà cấp phúc thẩm căn cứ vào dấu hiệu không
có công chứng, chứng thực để quyết định cam kết bảo lãnh không có hiệu lực, bên bảo lãnh không trách nhiệm trả nợ thay, ngân hàng không có quyền phát mại tài sản Thậm chí, pháp luật đã quy định trong tr-ờng hợp hợp đồng vô hiệu về hình thức thì toà án h-ớng dẫn các bên thực hiện các thủ tục cần thiết, tr-ớc khi tuyên bố thoả thuận đó vô hiệu và bên có lỗi phải bồi th-ờng thiệt hại Thực tế, bên vay th-ờng cố tình không thực hiện những h-ớng dẫn của toà án về việc công chứng hợp đồng cầm
cố, thế chấp để các khoản vay trở thành không có đảm bảo nh-ng toà án không xem xét đến lỗi của bên vay để buộc họ phải bồi th-ờng cho ngân hàng
Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993, Nghị định 69-CP ngày 18/10/93 quy
định thủ tục thi hành án dân sự quy định việc kê biên nhà chỉ đ-ợc tiến hành khi những tài sản khác không đủ để thi hành án Nh- vậy, cơ quan thi hành án có thể kê biên quyền sử dụng đất tr-ớc khi kê biên nhà ở của bên phải thi hành án Nh-ng sau khi kê biên lại không phát mại đ-ợc để thu hồi nợ, bởi vẫn còn tài sản là nhà ở gắn liền với đất không đ-ợc kê biên, phát mại Việc cơ quan thi hành án kê biên cả nhà
và quyền sử dụng đất một lúc lại không đ-ợc pháp luật cho phép Điều 37 Pháp lệnh thi hành án dân sự về thứ tự thanh toán tiền bán tài sản quy định số tiền bán tài sản sau khi trừ chi phí và một số tr-ờng hợp -u tiên phải thanh toán cho “các khoản phải trả Nhà nước” sau đó mới thanh toán “các khoản phải trả khác” Thực tế có trường hợp, cơ quan thi hành án sau khi hỏi ý kiến Cục Thi hành án Bộ T- Pháp, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã giải thích ngân hàng quốc doanh thuộc sở hữu nhà n-ớc, do
đó các khoản vay của ngân hàng quốc doanh đ-ợc -u tiên thanh toán tr-ớc Khi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán cho tất cả các khoản nợ thì việc vận dụng này không chính xác, thể hiện sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế
Việc đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản cũng rất bất cập Nhiều tài sản đã
đ-ợc bán, nh-ng không làm thủ tục sang tên đổi chủ Nhiều tài sản dùng chung trong gia đình không có căn cứ xác định quyền sở hữu khiến cơ quan thi hành án gặp rất nhiều khó khăn khi xác minh tài sản của bên phải thi hành án
Nhiều khách hàng “có dấu hiệu vi phạm hình sự” như cố ý sử dụng tài sản không thuộc sở hữu của mình để thế chấp, cầm cố vay tiền của ngân hàng, tẩu tán tài
Trang 37sản khi bị ngân hàng kiện đòi nợ … không được pháp luật xử lý nghiêm minh, nhiều bản án đ-ợc công bố với nghi thức trang trọng nhất song không có cơ sở để thi hành
… Theo thống kê, chỉ tính riêng trên địa bàn Hà nội số lượng bản án chưa có điều kiện thi hành án chiếm 25% tổng số án thụ lý nh-ng giá trị chiếm tới 55% tổng số tiền phải thu.(1) Đây cũng là những hạn chế khiến các khách hàng mắc nợ coi th-ờng pháp luật, chây ỳ không chịu trả nợ cho ngân hàng
Thứ ba, khi chuyển sang hoạt động th-ơng mại, nhiều ngân hàng quốc doanh
còn chứa đựng những yếu kém, bất cập trong việc thẩm định và xét duyệt cho vay trong hoạt động tín dụng Tính khả thi của dự án và hiệu quả của khoản vay ch-a trở thành mục tiêu cơ bản, quan trọng nhất trong hoạt động tín dụng của nhiều ngân
hàng
Thứ t-, do trình độ, năng lực quản lý hạn chế của các doanh nghiệp, của
(1) Nguyễn Tuấn: Thi hành án dân sự tại Hà nội, nhiều v-ớng mắc từ phía pháp luật, Báo an ninh thủ đô, số 904, ngày 23/11/2002, tr.5
ngân hàng và của các khách hàng vay vốn làm kinh tế, kèm theo đó là việc thiếu kiểm tra, kiểm soát sau cho vay đối với khoản cho vay
Các ngân hàng quốc doanh gắn liền với doanh nghiệp Nhà n-ớc, các ngân hàng cổ phần gắn liền với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Cho đến ngày hôm nay, phần lớn các nhóm doanh nghiệp này có vốn chủ sở hữu rất nhỏ Theo tổng kết,
tỷ lệ vốn vay trên vốn chủ sở hữu ở các doanh nghiệp Nhà n-ớc chỉ chiếm khoảng 70/30, cá biệt có nơi là 90/10 Hoạt động kinh doanh dựa vào vốn vay ngân hàng là chủ yếu Đối với các doanh nghiệp này, nhu cầu vay vốn ngân hàng gần nh- là vô hạn Nh-ng do trình độ quản lý yếu kém, đăng ký nhiều chức năng, kinh doanh quá nhiều ngành nghề, vay vốn đầu t- mở rộng sản xuất kinh doanh v-ợt tầm kiểm soát, ph-ơng án kinh doanh mạo hiểm thiếu tính thực tế dẫn tình trạng kinh doanh đã thua
lỗ, vốn thất thoát, nhiều doanh nghiệp đã ngừng hoạt động ch-a tuyên bố phá sản (vì cơ chế, vì pháp luật, vì bản thân doanh nghiệp…) nên kéo theo nợ quá hạn không thể trả đ-ợc cho ngân hàng
Các ngân hàng cũng bị đẩy vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan” nếu không cho vay thì không thu đ-ợc nợ, mặt khác công tác kiểm tra, giám sát còn nhiều yếu kém
Trang 38không ngăn chặn, phát hiện kịp thời các hành vi kinh doanh trái pháp luật của một số doanh nghiệp làm tình trạng nợ quá hạn càng tăng
Thứ năm, do biến động phức tạp của thị tr-ờng trong n-ớc và thế giới; tình
trạng thiên tai diễn ra liên tục; nợ n-ớc ngoài mà chủ yếu là các khoản nợ bảo lãnh,
điển hình là th- tín dụng (L/C) trả chậm, cho khách trong n-ớc làm giảm sút uy tín
và tăng thêm khó khăn về tài chính cho các ngân hàng trong n-ớc
Việc nhập khẩu hàng hoá d-ới hình thức L/C trả chậm là một trong những kênh huy động vốn n-ớc ngoài, song tình trạng mở L/C trả chậm tràn lan những năm 1995-1996 đã gây ra những thiệt hại không nhỏ cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng, đẩy tình trạng nợ quá hạn thêm trầm trọng
Thứ sáu, do sự câu kết của một bộ phận cán bộ ngân hàng và giám đốc các
doanh nghiệp hoặc một số cá nhân trong xã hội nhằm lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của ngân hàng
Từ đầu năm 1998, Chính phủ đã chỉ đạo NHNN Việt nam, Bộ Tài Chính và các cơ quan hữu quan cùng phối hợp thực hiện cải cách lại hệ thống ngân hàng Tháng 4/1998, Uỷ ban tái cơ cấu ngân hàng đ-ợc thành lập để thực hiện các biện pháp cải thiện khuôn khổ pháp lý, tạo sự bình đẳng trong kinh doanh, đánh giá lại tình hình chính (bao gồm xác định nợ xấu) của 4 ngân hàng quốc doanh và hơn 50 ngân hàng cổ phần, đ-a ra chiến l-ợc cơ cấu lại khối ngân hàng cổ phần
Chính phủ chủ tr-ơng áp dụng các biện pháp tạo ra động lực để giải phóng tài sản thế chấp đang bị phong toả và làm lành mạnh hoá tình hình tài chính của các ngân hàng Nhiều giải pháp vĩ mô đ-ợc Chính phủ đ-a ra nhằm giải quyết trọn gói,
đưa tài sản và các khoản nợ vào thị trường để mua bán, chuyển nhượng…Ngoài ra, Chính phủ cũng xây dựng những giải pháp hỗ trợ nh- sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà n-ớc, gắn xử lý nợ với việc đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp, giãn nợ trong nước…
Tuy nhiên, do những khó khăn, phức tạp của việc xử lý nợ và thiếu một môi tr-ờng pháp lý hỗ trợ hữu hiệu nên trong khoảng thời gian từ năm 1998 - 2000, tiến trình củng cố các ngân hàng th-ơng mại diễn ra vô cùng chậm chạm, nợ quá hạn không hề giảm
Trang 39Từ năm 2001 trở lại đây, vấn đề cơ cấu lại hệ thống ngân hàng nói chung và việc xử lý nợ xấu nói riêng đ-ợc Chính phủ quan tâm hơn tr-ớc Vào tháng 3/2001
“Đề án tổng thể cơ cấu lại ngân hàng thương mại nhà nước” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Việc “xử lý nợ tồn đọng trên cơ sở phân loại và đánh giá chính xác khối l-ợng nợ, tách việc cho vay chính sách ra khỏi hoạt động thông th-ờng của các ngân hàng th-ơng mại Nhà n-ớc, cơ cấu lại các ngân hàng th-ơng mại cổ phần”(1) đã được Chính phủ xác định là “yêu cầu cấp bách”(2) Chính phủ, NHNN Việt nam, bên cạnh việc tăng c-ờng kiểm tra, kiểm soát đối với các ngân hàng nhằm nâng cao chất l-ợng tín dụng, đã chỉ đạo các ngân hàng áp dụng nhiều biện pháp cần thiết nhằm thu hồi nợ, giảm bớt nợ xấu, giãn nợ, khoanh nợ … Một sự kiện quan trọng khác đánh dấu sự chuyển động đáng kể của ch-ơng trình cải cách khối ngân hàng quốc doanh là việc ngày 05/10/2001 Thủ t-ớng Chính phủ đã ban hành Quyết
định số 149/2001/QĐ-Ttg về việc phê duyệt đề án xử lý nợ tồn đọng của các ngân hàng này Ngoài ra, nhiều chính sách, văn bản pháp luật cũng đ-ợc Nhà n-ớc ban hành nhằm xây dựng một hệ thống ngân hàng lành mạnh về
(1)&(2) Báo cáo của Thủ T-ớng Phan Văn Khải tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá X
tài chính Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng tự cứu mình bằng cách đẩy mạnh những ph-ơng pháp truyền thống nh- cơ cấu lại nợ, khởi kiện ra toà đòi nợ theo thủ tục tranh chấp dân sự hoặc kinh tế, yêu cầu cơ quan thi hành án thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và cuối cùng là đề nghị các cơ quan t- pháp khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với những tr-ờng hợp có dấu hiệu hình sự Bằng những hoạt động tích cực đó, nhìn chung hệ thống ngân hàng đã đạt đ-ợc những kết quả bước đầu đáng ghi nhận “tỷ lệ nợ quá hạn ở thời điểm cuối năm 2001 giảm gần 2% so với đầu năm” (1) Nh-ng xét tổng thể, những gì đã đạt đ-ợc không t-ơng xứng với những mục tiêu đã đặt ra ban đầu
Chúng ta có thể chỉ ra một số nguyên nhân chính lý giải việc chậm trễ này:
Thứ nhất: Xử lý nợ quá hạn tồn đọng là một vấn đề phức tạp mà cả NHNN
Việt nam và các ngân hàng đều không đ-ợc ý thức đầy đủ, không có kinh nghiệm trong việc xây dựng và thực hiện các ph-ơng án cải cách, phải đáp ứng quá nhiều mục tiêu cùng một lúc nh- giảm thiểu thiệt hại cho Nhà n-ớc, bảo vệ lợi ích của ng-ời gửi tiền, tránh xáo trộn hoạt động của ngành ngân hàng nh-ng lại phải đẩy
Trang 40nhanh tiến độ thu hồi nợ Vì, xử lý nợ quá hạn tồn đọng là một trong những điều kiện để Chính Phủ xem xét, cấp bổ sung vốn điều lệ cho các ngân hàng quốc doanh
và là tiêu chí quan trọng để làm lành mạnh hoá hoạt động ngân hàng, đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt nam
Thời gian qua các chỉ đạo của NHNN Việt nam trong công tác thu hồi nợ mới dừng ở định h-ớng chung, thiếu cụ thể và phần nhiều để các ngân hàng tự xoay sở Ng-ợc lại, các ngân hàng ch-a thực sự chủ động, còn trông chờ, ỷ lại vào ý kiến chỉ
đạo của Nhà n-ớc trong các hoạt động kinh doanh, trong đó có hoạt động xử lý nợ
Thứ hai: Nguồn tài chính cho việc xử lý nợ rất hạn chế Sự hỗ trợ kinh phí từ
ngân sách Nhà nước không đáng kể, ngoại trừ việc cho phép xoá nợ, khoanh nợ … Trong khi, các ngân hàng, tr-ớc năm 1999, chỉ đ-ợc trích lập dự phòng rủi ro từ nguồn lợi nhuận để lại theo tỷ lệ 10% (nguồn này không nhiều), mà không căn vào mức độ rủi ro tiềm tàng Bởi vậy, các ngân hàng hầu nh- gặp nhiều khó khăn về tài chính trong việc tự cải thiện tình trạng nợ xấu của mình Chỉ từ năm 1999,
(1)TS Lê Xuân Nghĩa-Vụ Tr-ởng Vụ Chiến l-ợc Phát triển Ngân hàng: Thử thách vẫn còn
ở phía tr-ớc, Thời Báo Ngân hàng số xuân năm 2002, tr.6
sau khi Thống đốc Ngân hàng Nhà n-ớc ban hành quyết định số NHNN5 ngày 08/2/1999 về việc trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng, các ngân hàng mới áp dụng cơ chế dự phòng rủi ro tính vào chi phí tuỳ theo mức độ rủi ro của các khoản sử dụng vốn Nh-ng với hơn 03 năm dự phòng cho cả một quá trình rủi ro lịch sử thì không thể bù đắp nổi tổn thất đã xảy ra
488/1999/QĐ-đặt nhiều ngân hàng vào tình trạng khó tồn tại Nếu Nhà n-ớc để các ngân hàng tự
xử lý bằng nguồn dự phòng rủi ro, thì hệ thống ngân hàng Việt nam sẽ cần tới vài năm mới có đ-ợc sự lành mạnh cần thiết
Thứ ba, Thiếu sự chỉ đạo kiên quyết và hợp tình hợp lý của các cấp chính
quyền địa ph-ơng, thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng và việc chậm trễ thi hành các quyết định, chỉ thị của Chính phủ, của Thủ t-ớng trong công tác thu hồi nợ
Về nguyên tắc, việc cho vay, thu hồi nợ là quan hệ giữa bên cho vay là ngân hàng với các khách hàng Nh-ng khi nợ quá hạn quá lớn, các ngân hàng đã không thể tự kiểm soát tình hình; những quy tắc, quy định dân sự, kinh tế thông th-ờng