1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Địa vị pháp lý của Doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

112 827 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, đã có khá nhiều đề tài cũng như các bài nghiên cứu pháp lý, các bài báo bàn về vấn đề này ở góc độ vĩ mô hoặc nghiên cứu chuyên sâu về từng loại hình doanh nghiệp như công ty c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HOÀNG YẾN

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN

TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HOÀNG YẾN

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN

TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật kinh tế

Mã số: 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trinh nào khác Các số liệu ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo qui định của khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Hoàng Yến

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Luật Doanh Nghiệp Thuế Giá trị gia tăng Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 7

1.1 Khái quát về Doanh nghiệp tư nhân ở Việt nam hiện nay 7

1.1.1 Địa vị pháp lý và vấn đề tiếp cận địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân 7

1.1.2 Khái niệm địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân: 12

1.1.3.Các yếu tố chi phối đến việc xác định địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân 15

1.2 Đặc điểm pháp lý của doanh nghiệp tư nhân 21

1.3 Vai trò của Doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế thị trường ở Việt nam hiện nay 30

1.3.1 Các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường 30

1.3.2 Doanh nghiệp tư nhân với tư cách là một loại hình doanh nghiệp của thành phần kinh tế tư nhân: 34

CHƯƠNG 2: ĐỊA VỊ PHÁP LÝ VÀ VAI TRÒ THỰC TẾ CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM 42

2.1 Những nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của Doanh nghiệp tư nhân 42

2.1.1 Nguyên tắc tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật 42

2.1.2 Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp 44

2.1.3 Nguyên tắc chủ Doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn 46

2.2 Địa vị pháp lý của Doanh nghiệp tư nhân theo qui định của pháp luật ở Việt nam hiện nay … 48

2.2.1 Quyền của doanh nghiệp tư nhân 48

2.2.2 Nghĩa vụ của doanh nghiệp tư nhân 66

2.3 Vai trò thực tế của Doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay 75

Trang 6

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO ĐỊA VỊ PHÁP LÝ VÀ VAI

TRÒ THỰC TẾ CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 85

3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao địa vị pháp lý của Doanh nghiệp tư nhân 85

3.1.1 Bổ sung quy định của pháp luật về việc xác định sản nghiệp kinh doanh của Doanh nghiệp tư nhân 86

3.1.2 Xác định rõ hơn các thức giải quyết đối với trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ của doanh nghiệp trong trường hợp chủ Doanh nghiệp tư nhân chết 86

3.1.3 Làm rõ mối quan hệ giữa chủ doanh nghiệp với người quản lý, điều hành Doanh nghiệp tư nhân 86

3.1.4 Bổ sung các quy định pháp luật làm rõ bản chất pháp lý của chủ Doanh nghiệp tư nhân và Doanh nghiệp tư nhân 87

3.1.5 Làm rõ các quyền và nghĩa vụ của của Doanh nghiệp tư nhân với người lao động trong các vấn đề lao động, chính sách thu nhập và bảo hiểm xã hội 87

3.2 Một số giải pháp cụ thể khuyến khích, trợ giúp các doanh nghiệp tư nhân 88

3.2.1 Hoàn thiện hệ thống các chính sách khuyến khích trợ giúp đối với Doanh nghiệp tư nhân 88

3.2.2 Đổi mới quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân 89

3.2.3 Giải pháp về vốn – tài chính 91

3.2.4 Giải pháp về chính sách thị trường tiếp cận thị trường 93

3.2.5 Giải pháp về thuế 93

3.2.6 Giải pháp về chính sách về lao động 95

3.2.7 Giải pháp hỗ trợ xuất khẩu đối với các Doanh nghiệp tư nhân 96

3.2.8 Nâng cao vai trò của Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ 97

KẾT LUẬN 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI được ghi nhận như một mốc lịch sử đánh dấu sự chuyển hướng có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển kinh tế của nước ta trong thời kỳ mới và phù hợp với quy luật khách quan Chủ trương Đổi mới đúng đắn, trong đó sự ghi nhận và bảo hộ của nhà nước đối với sở hữ tư nhân và thành phần kinh tế tư nhân là trọng tâm, đã tạo

ra một sự động lực lớn cho sự phát triển của nền kinh tế- xã hội nước ta Tiếp tục chủ trương đổi mới, Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX tiếp tục khẳng định“khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngành, nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm” [28]

Trên tinh thần ấy, Quốc hội khóa VIII đã thông qua Luật Doanh nghiệp

tư nhân ( DNTN) ngày 21 tháng 12 năm 1990, có hiệu lực từ ngày 15 tháng 4 năm 1991 Sự ra đời của Luật DNTN đã thể hiện sự thừa nhận trên góc độ luật pháp về loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam, là cơ sở pháp lý cho sự ra đời và hoạt động của DNTN, là một đảm bảo pháp lý cho những người có vốn đầu tư vào hoạt động kinh doanh một cách ổn định, lâu dài

Thông qua luật DNTN, Nhà nước đã công nhận sự tồn tại và phát triển lâu dài của kinh tế tư nhân và tính sinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh tế tư nhân, công nhận sự bình đẳng trước pháp luật của DNTN với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác Từ đó, DNTN đã hình thành, phát triển và đóng góp một phần đáng kể cho sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam trong suốt hơn một thập kỷ qua

Trên cơ sở sửa đổi những điều bất hợp lý, những quy định không cần thiết của luật DNTN 1990, LDN 1999 và để phát huy hơn nữa vai trò của kinh

tế tư nhân, ngày 29/11/2005, Quốc hội đã ban hành Luậ Doanh nghiệp 2005 (LDN) Sự ra đời của LDN 2005 đã một lần nữa khẳng định vai trò của

Trang 8

DNTN trong nền kinh tế Thực tiễn từ năm 2005 cho đến nay, trên cơ sở sự hình thành khung pháp lý nhằm công nhận và bảo đảm sự tồn tại của các loại hình doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân, DNTN đã và đang khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế Cho nên nghiên cứu và làm rõ địa vị pháp

lý của DNTN sẽ cung cấp cái nhìn tổng quát hơn về địa vị và vai trò thực tế của loại hình doanh nghiệp này Việc nghiên cứu địa vị pháp lý của DNTN cũng được đặt trong bối cảnh chung của một nền kinh tế đang đạt mức tăng trưởng nhanh chóng, trong đó có sự đóng góp đáng kể của khu vực kinh tế tư nhân với nhiều thành tựu đáng khích lệ

Khu vực kinh tế tư nhân tăng trưởng liên tục trong những năm gần đây Năm 2007 khu vực kinh tế tư nhân đạt 233.992 tỷ đồng; Cơ cấu thành phần kinh tế cũng có những thay đổi cơ bản, năm 1995 cơ cấu GDP theo thành phần sở hữu: Khu vực kinh tế Nhà nước chiếm 40.1%; khu vực kinh tế dân doanh chiếm 53.5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiến 6.4% Đến năm

2007 thì khu vực kinh tế Nhà nước chiếm 37.8%; khu vực kinh tế dân doanh chiếm 54%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 8.2% [23] Số liệu trên cũng nói lên sự đóng góp đáng kể của khu vực kinh tế tư nhân đối với sự tăng trưởng kinh tế của đất nước, mặt khác chính sự tăng trưởng đó cũng đem lại thời cơ và nhiều điều kiện khách quan thuận lợi cho sự phát triển của DNTN

Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay các DNTN của Việt nam chưa phát huy được hết tiềm năng của mình, còn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh Hiện tượng này một phần là do các DNTN chưa có kinh nghiệm hoạt động trong nền kinh tế thị trường Mặt khác, cũng chưa có khung chính sách thật rõ ràng và ổn định từ phía Nhà nước nhằm đưa ra các biện pháp hữu hiệu tạo điều kiện cho các DNTN phát huy hết khả năng cho sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước [22]

Vấn đề đặt ra hiện nay là cần xác định địa vị pháp lý của DNTN như thế nào cho phù hợp với những điều kiện của nền kinh tế thị trường mới được

Trang 9

xác lập ở nước ta Vì vậy, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn địa vị pháp lý của DNTN còn có ý nghĩa thời sự, góp phần xây dựng những

cơ sở lý luận trong việc hoàn thiện địa vị pháp lý của DNTN

Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “ Địa vị pháp lý của DNTN trong nền kinh tế thị trường ở Việt nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc

sỹ của mình Hy vọng rằng, với đề tài này, luận văn sẽ góp phần thiết thực vào việc thực hiện các qui định pháp lý về doanh nghiệp nói chung và DNTN nói riêng

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Pháp luật về doanh nghiệp nói chung và DNTN nói riêng không phải là một nội dung mới mẻ ở Việt nam Hiện nay, đã có khá nhiều đề tài cũng như các bài nghiên cứu pháp lý, các bài báo bàn về vấn đề này ở góc độ vĩ mô hoặc nghiên cứu chuyên sâu về từng loại hình doanh nghiệp như công ty cổ phần, công ty TNHH 2 thành viên, doanh nghiệp tư nhân…Theo đó, các nhà nghiên cứu tiếp cận địa vị pháp lý của doanh nghiệp ở khá nhiều góc độ như nội dung về chế độ pháp lý về thành lập, giải thể và phá sản doanh nghiệp; Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập; Quy chế pháp lý về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay…

Cho đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về DNTN trên các bình diện khác nhau Điển hình là một số công trình nghiên cứu khoa học của một số tác giả như sau:

-“ Kinh tế tư nhân và quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở nước ta” của GS.TS Hồ Văn Vĩnh (đề tài cấp bộ 2001) Tác giả đã khẳng định vai trò to lớn của kinh tế tư nhân, nêu ra những định hướng phát triển kinh tế tư nhân và đưa ra các giải pháp về pháp luật, về chính sách, về tổ chức để khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân

Trang 10

- “Kinh tế tư nhân ở Việt nam trong tiến trình hội nhập” của PGS.TS Trịnh Thị Hoa Mai, nhà xuất bản Thế giới, Hà nội- 2005 Tác giả đưa ra những vấn đề chung về khu vực kinh tế tư nhân, phát triển kinh tế tư nhân ở Việt nam trong điều kiện hội nhập, trong đó tác giả có đưa ra một số vấn đề như: các loại hình DNTN ở Việt nam, vốn thực tế của DNTN như thế nào? số lượng DNTN ở Việt nam

- “ DNTN ở Thái Bình hiện nay” Luận văn thạc sỹ kinh tế của Bùi Việt Hưng, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà nội 2006 Tác giả đã đánh giá được những thành tựu và những mặt hạn chế của sự phát triển của DNTN ở Thái Bình Đồng thời, tác giả đã đề ra một số giải pháp nhằm khuyến khích phát triển DNTN ở Thái Bình

- “Vài bình luận về pháp LDN tư nhân” của TS Ngô Huy Cương đăng trên Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà nội, Luật học 26(2010) Từ thực trạng pháp luật còn thiếu những giải pháp để giải quyết những tranh chấp có liên quan và có nhiều bất cập trong việc điều tiết các mối quan hệ của DNTN, tác giả đã tập trung phân tích bản chất pháp lý của DNTN từ đó chỉ ra bất cập của pháp luật về DNTN

Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào tiếp cận và làm rõ địa vị pháp lý của DNTN bời các đề tài đã xuất bản ở Việt nam hoặc chỉ tìm hiểu về một DNTN cụ thể hoặc nghiên cứu DNTN dưới góc độ một đơn vị kinh doanh thuộc thành phần kinh tế tư nhân Tính đến thời điểm này, đây là một trong những luận văn thạc sỹ đầu tiên nghiên cứu về Địa vị pháp lý của DNTN trong nền kinh tế thị trường ở Việt nam trong giai đoạn hiện nay Luận văn được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu của bản thân kết hợp tham khảo thông tin tại các nguồn sách, báo, thông tin trên mạng internet

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng về địa vị pháp lý trong hệ thống pháp luật và trên thực tế của DNTN ở nước ta

Trang 11

trong giai đoạn hiện nay, từ đó đề ra các giải pháp để hoàn thiện địa vị pháp

lý của Doanh nghiệp tư nhân Cụ thể, luận văn làm rõ những vấn đề dưới đây: phân tích và đánh giá đặc điểm pháp lý của doanh nghiệp tư nhân, quyền và nghĩa vụ của DNTN được pháp luật ghi nhận, phân tích vai trò của DNTN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt nam hiện nay Từ đó định rõ những khiếm khuyết của pháp luật về địa vị pháp lý doanh nghiệp tư nhân, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý

và vị trí thực tế của doanh nghiệp tư nhân

4 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các qui định pháp lý về địa vị pháp lý của DNTN trên cơ sở sử dụng và xem xét các qui định của LDN 2005, Luật

thương mại 2005 và các văn bản pháp luật có liên quan hiện hành Đồng thời,

luận văn cũng đối chiếu xem xét thực trạng cũng như tình hình phát triển trên thực tế của DNTN trong nền kinh tế thị trường ở Việt nam hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp tổng thể nhiều phương pháp nghiên cứu Phương pháp luận được sử dụng trong luận văn là những phương pháp cơ bản của khoa học pháp lý bao gồm phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, lịch sử, hệ thống, logic, diễn giải

- Phương pháp so sánh, đối chiếu giữa các qui định trong LDN 2005 với LDN tư nhân 1990, Luật công ty 1990 và các văn bản pháp luật khác về doanh nghiệp, so sánh các qui định của pháp luật Việt Nam và các qui định pháp luật trên thế giới Ngoài ra, còn thực hiện đối chiếu, tổng kết với thực trạng áp dụng các qui định pháp luật trên thực tế nhằm hoàn thiện các qui định pháp lý, góp phần vào việc giải quyết các tranh chấp có liên quan tới hoạt động doanh nghiệp tư nhân

Trang 12

- Phương pháp phân tích tồng hợp: phân tích các qui định pháp lý được

lý giải, dẫn chiếu trong các văn bản pháp luật, tổng hợp các qui định pháp luật trong và ngoài nước nhằm có cái nhìn toàn diện hơn về địa vị pháp lý của DNTN ở Việt Nam hiện nay

- Ngoài ra luận văn còn triêt để sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp duy vật lịch sử để xem xét quá trình hình thành, phát triển một cách khách quan của doanh nghiệp tư nhân, cụ thể đi sâu nghiên cứu địa vị pháp lý

và vai trò thực tế của loại hình doanh nghiệp này

6 Bố cục của luận văn

Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về doanh nghiệp tư nhân Chương 2: Địa vị pháp lý và vai trò thực tế của DNTN ở Việt Nam Chương 3: Giải pháp nâng cao địa vị pháp lý và vai trò thực tế của

doanh nghiệp tư nhân

Nghiên cứu và hoàn thiện chế định địa vị pháp lý của DNTN là vấn

đề phức tạp Hơn nữa, với thời gian ngắn, thông tin và trình độ người viết còn hạn chế, do vậy luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong sẽ nhận được nhiều ý kiến phê bình, đóng góp của thầy cô giáo và các bạn

Trang 13

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 1.1 Khái quát về Doanh nghiệp tư nhân ở Việt nam hiện nay

1.1.1 Địa vị pháp lý và vấn đề tiếp cận địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân

Theo cách hiểu truyền thống, địa vị pháp lý của một doanh nghiệp là tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp đó được pháp luật ghi nhận, đảm bảo sự độc lập về mặt pháp lý và khả năng tham gia các quan

hệ pháp luật, trước hết là quan hệ luật kinh tế và từ đó có thể phân biệt với các chủ thể kinh doanh khác

Một doanh nghiệp không chỉ tham gia các quan hệ pháp luật kinh tế, các quan hệ kinh doanh mà có thể đồng thời tham gia nhiều quan hệ khác như: quan hệ dân sự, hành chính, lao động… Khi xem xét địa vị pháp lý của một doanh nghiệp với tính chất tổng thể là các quyền và nghĩa vụ pháp lý của một doanh nghiệp, trong khoa học pháp lý đã có lúc có quan niệm xem xét vấn đề theo phương diện khái niệm thẩm quyền, bao gồm những quyền và nghĩa vụ trong nhiều lĩnh vực và phương diện tồn tại, hoạt động của doanh nghiệp [1] Trong đó, thẩm quyền trong lĩnh vực kinh tế, kinh doanh được coi

là một nội dung chủ yếu trong hệ thống thẩm quyền của doanh nghiệp với lý

do doanh nghiệp là tổ chức kinh tế… được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh

Thẩm quyền kinh tế của một doanh nghiệp bao gồm các quyền và nghĩa

vụ của nó trong quá trình tổ chức và thực hiện các hoạt động kinh doanh Đối với các loại hình doanh nghiệp khác nhau thì hệ thống thẩm quyền này cũng

có những điểm khác nhau Cũng chính vì vậy, đối với mỗi loại hình doanh nghiệp, pháp luật đều dành cho chúng những quy chế pháp lý riêng [5]

Trang 14

Ngoài ra, khi nghiên cứu địa vị pháp lý của một doanh nghiệp độc lập,

từ trước đến nay, trong khoa học pháp lý vẫn thường đề cập đến khái niệm pháp nhân (hay tư cách pháp nhân) Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay thì tư cách pháp nhân và tư cách chủ thể pháp lý không phải là đồng nhất

Trước đây, trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, khi mà pháp luật kinh tế chỉ điều chỉnh các quan hệ và hoạt động kinh tế của doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã, thì vấn đề pháp nhân và tư cách pháp nhân của những chủ thể này cũng không được quan tâm nhiều, tuy nhiên khi những lọai hình chủ thể kinh doanh mới có tư cách pháp nhân như công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh xuất hiện thì vấn đề tư cách pháp nhân đã được đặt ra

và xem xét một cách cụ thể hơn Nội dung của khái niệm pháp nhân theo quan niệm của luật Dân sự truyền thống đã trở lên quá chật hẹp đối với các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Hơn thế nữa, từ hệ thống pháp luật hiện hành về các doanh nghiệp của nước ta cho phép khẳng định là: bên cạnh những chủ thể kinh doanh là pháp nhân còn có sự tồn tại của những doanh nghiệp tuy không phải là pháp nhân, nhưng chúng vẫn là những thực thể pháp lý có tư cách pháp lý độc lập tham gia vào các quan hệ kinh tế và các quan hệ pháp luật

Hơn nữa, khi xác định địa vị pháp lý của doanh nghiệp, chúng ta phải gắn với chúng với sự phát triển của các mô hình kinh tế, cơ chế kinh tế mà trong khuôn khổ đó các doanh nghiệp tồn tại và phát triển Như vậy, có thể thấy nội hàm địa vị pháp lý của doanh nghiệp được phản ánh và thể hiện ở những phương diện sau:

Thứ nhất, các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, chức năng của

từng loại hình doanh nghiệp; tính chất, đặc điểm tổ chức kinh doanh trong mỗi loại hình doanh nghiệp

Thứ hai, tổng hợp các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh

nghiệp được pháp luật quy định phù hợp với vị trí, vai trò và chức năng của

Trang 15

doanh nghiệp và những quyền hạn và nghĩa vụ mà doanh nghiệp đảm nhận trên cơ sở những quy định của pháp luật khi doanh nghiệp tham gia vào các quan hệ pháp luật trong quá trình hoạt động

Những quyền và nghĩa vụ này được quy định trong hệ thống các văn bản bao gồm:

- Các văn bản quy định chung về quyền và nghĩa vụ cho mọi doanh nghiệp trong hoạt động kinh tế - xã hội (luật thuế, luật lao động, luật hải quan, các quy định về bảo hiểm, xuất nhập khẩu…)

- Các văn bản quy định cụ thể về tổ chức và hoạt động đối với các loại doanh nghiệp (LDN Nhà nước, LDN tư nhân, luật công ty trước năm 2000 và LDN 2005 hiện hành

- Các quyết định thành lập, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, địa bàn hoạt động kinh doanh, ngành nghề kinh doanh…

Có thể thấy rằng từ thời kỳ Đổi mới 1986 đến nay các chủ thể hoạt động sôi động nhất và được quan tâm, nghiên cứu nhiều nhất trong khu vực kinh tế tư nhân là các doanh nghiệp có tư cáchs pháp nhân như các công ty TNHH (TNHH), công ty cổ phần (CTCP), DNTN chưa dành được nhiều chú ý

Cho đến nay, những vấn đề về địa vị pháp lý của DNTN còn ít được nghiên cứu về mặt lý luận Vì vậy, để tiếp cận địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân, cần phải tham khảo những công trình khoa học hiện có, các quan điểm của một số tác giả đề cập đến các vấn đề chủ thể pháp luật, chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, về doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp Nhà nước và các loại hình công ty nói riêng, cũng như các quan niệm

về doanh nghiệp và địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân

Khi đề cập đến địa vị pháp lý của một chủ thể pháp luật nói chung hay một doanh nghiệp nào đó, có tác giả xem địa vị pháp lý là toàn bộ quyền và

Trang 16

nghĩa vụ của chúng được Nhà nước thừa nhận Trong công trình nghiên cứu

về địa vị pháp lý của một số loại hình doanh nghiệp, có tác giả lại quan niệm pháp nhân là khái niệm phản ánh địa vị pháp lý của một tổ chức (trong đó có các doanh nghiệp)

Ở đây, tác giả có quan niệm không thống nhất với các quan điểm nêu trên Vì một chủ thể kinh tế nói chung, một doanh nghiệp (trong đó có DNTN nói riêng) không chỉ có các quyền và nghĩa vụ trong lĩnh vực kinh tế mà còn

có các quyền và nghĩa vụ khác Các chủ thể này không chỉ chịu sự điều chỉnh của luật kinh tế, mà còn chịu sự điều chỉnh của các ngành luật khác như hành chính, hiến pháp, lao động, dân sự, môi trường, đất đai…

Trong quá trình nghiên cứu địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân, có thể nhận thấy, nhiều tác giả đã đồng nhất các khái niệm tư cách chủ thể pháp luật, tư cách pháp nhân với khái niệm địa vị pháp lý của doanh nghiệp Sự đồng nhất này có những điểm không chuẩn xác Ở đây, tác giả thống nhất với quan điểm cho rằng tư cách pháp nhân và tư cách chủ thể pháp luật là hai vấn

đề có nội dung và bản chất pháp lý khác nhau Bởi vì tất cả các doanh nghiệp được pháp luật thừa nhận và bảo hộ thì đều có tư cách chủ thể pháp lý độc lập Nhưng chỉ những doanh nghiệp có trách nhiệm giới hạn về tài sản thì chúng mới là pháp nhân Bởi vì, dấu hiệu cơ bản của pháp nhân là: chỉ chịu TNHH trong số tài sản của mình đem ra kinh doanh (TNHH) Trong trường hợp này, có sự tách biệt giữa tài sản góp vào doanh nghiệp và tài sản mà người góp vốn không góp vào doanh nghiệp (tài sản dân sự)

Trong khi đó, DNTN với trách nhiệm vô hạn không có sự tách biệt, giới hạn về trách nhiệm tài sản và trong mọi trường hợp, họ phải chịu trách nhiệm đến cùng về thiệt hại thực tế Quan điểm này phần nào đã bác lại quan điểm cho rằng: tư cách pháp nhân một chế định pháp lý thể hiện địa vị pháp

lý của doanh nghiệp

Trang 17

Chính vì địa vị pháp lý của một chủ thể kinh doanh, nhất là của các doanh nghiệp là những khái niệm chưa được thống nhất, chưa được nghiên cứu đầy đủ, nên khi đề cập đến các đặc trưng của chúng, các tác giả thường dùng một khái niệm: tư cách chủ thể pháp luật của doanh nghiệp được nhà nước thừa nhận là một chủ thể pháp lý độc lập Theo đó, tư cách chủ thể phản ánh vị trí, vai trò của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân

Theo tác giả, những quan điểm nay ít nhiều đã làm sáng tỏ dần khái niệm địa vị pháp lý của doanh nghiệp Tuy nhiên cần có cách tiếp cận mới năng động và đa dạng đối với địa vị, vai trò mới của doanh nghiệp trong kinh

tế thị trường

Khi nghiên cứu về địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân, việc đầu tiên chúng ta phải xác định khái niệm về địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân Muốn làm sáng tỏ khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân, trước hết chúng ta phải làm sáng tỏ loạt khái niệm như: chủ thể pháp luật, chủ thể luật kinh tế, chủ thể kinh doanh, doanh nghiệp…

Điều đáng lưu ý là trong LDN 2005 chỉ mới đề cập đến những vấn đề kinh doanh, chủ thể kinh doanh và doanh nghiệp Theo nghĩa đó, doanh nghiệp (trong đó có doanh nghiệp tư nhân) là những chủ thể kinh doanh độc lập, đồng thời cũng là chủ thể pháp luật kinh tế độc lập Chúng xuất hiện trên

cơ sở pháp lý khác với các chủ thể kinh doanh khác, chúng được tồn tại và hoạt động trên cơ sở thừa nhận của các văn bản pháp luật.Vì vậy, cần nghiên cứu địa vị pháp lý của DNTN trong sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần và trong định hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước, chú trọng phân tích loại hình DNTN trong sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần và trong định hướng phát triển kinh tế xã hội của nước ta Cũng như xem xét đánh giá trên thực tế và xác định những bất cập trong chế định địa vị pháp lý của khu vực kinh tế tư nhân và DNTN nói riêng để từ đó đề xuất các phương hướng, biện pháp củng cố hoàn thiện địa vị pháp lý của doanh nghiệp

tư nhân, góp phần đổi mới và phát triển kinh tế

Trang 18

1.1.2 Khái niệm địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân:

Địa vị pháp lý của DNTN là một chế định quan trọng trong pháp luật kinh doanh Khi nghiên cứu địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân, vấn

đề đầu tiên cần làm sáng tỏ là định nghĩa DNTN và các đặc điểm pháp lý của chúng

LDN 2005 đã đưa ra cách hiểu thống nhất về doanh nghiệp tư nhân

Theo đó, Điều 141 LDN 205 đã định rõ: „DNTN là doanh nghiệp do một cá

nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp” [8] Định nghĩa này cho thấy, DNTN không

phải là thực thể độc lập Chủ nhân của nó phải đầu tư vốn để tạo lập nó và có toàn quyền trong việc bán, cho thuê doanh nghiệp, trách nhiệm của chủ doanh nghiệp gắn liền với mọi hoạt động của doanh nghiệp trong suốt quá trình tồn tại Tại thời điểm đăng ký kinh doanh, chủ doanh nghiệp phải kê khai rõ số vốn ban đầu để thành lập doanh nghiệp [2] Vì thế, xác định rõ tư cách pháp

lý của DNTN sẽ tạo ra cách nhìn nhận đúng đắn hơn về vai trò, vị trí của DNTN trong nền kinh tế

Trên cơ sở được thừa nhận là chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, DNTN có quyền tham gia vào quan hệ kinh tế, thực hiện các hoạt động thương mại Hoạt động do doanh nghiệp tiến hành phải phù hợp với địa

vị pháp lý của doanh nghiệp, tức là chỉ hoạt động trong phạm vi quyền và nghĩa vụ được pháp luật ghi nhận Các quyền và nghĩa vụ của DNTN được xác định dựa trên bản chất pháp lý của DNTN và được quy định trong LDN Ngoài ra, chủ DNTN còn có thể có những quyền và nghĩa vụ khác do mình tạo ra bằng các hành vi pháp lý của doanh nghiệp, thông qua bằng việc thiết lập những quan hệ do pháp luật dân sự, hành chính, lao động, môi trường, đất đai…điều chỉnh mà DNTN tham gia

Trang 19

Như vậy, DNTN là một đơn vị sản xuất, kinh doanh bình đẳng trước pháp luật với mọi doanh nghiệp và chủ thể kinh doanh khác trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, cũng như các quan hệ pháp luật khác, có đủ các quyền

và nghĩa vụ như một chủ thể pháp lý độc lập Vị trí, vai trò của DNTN trong nền kinh tế thể hiện sự phân công lao động xã hội, là cơ sở khách quan trong việc xác định địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân, với nội hàm chủ yếu là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của một doanh nghiệp, vai trò và giới hạn hoạt động của nó trong nền kinh tế

Về nguyên tắc, tất cả các DNTN đều hoạt động trên cơ sở những quy định chung và thống nhất của pháp luật hiện hành, nhưng trên thực tế, mỗi DNTN có vai trò, vị trí, nhiệm vụ cụ thể riêng trong quá trình sản xuất kinh doanh [15]

Thực tế cho thấy, bên cạnh những quy định chung và thống nhất của Nhà nước về doanh nghiệp và DNTN nói chung, các DNTN cụ thể hoạt động kinh doanh trên từng ngành, nghề khác nhau, trong chừng mực nhất định sẽ

có sự khác nhau nhất định trong tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của một DNTN nói chung Do đó, địa vị pháp lý của DNTN sẽ gồm 2 bộ phận: tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý được quy định cho DNTN nói chung

và tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý được xác định cho mỗi DNTN cụ thể nói riêng

Về hình thức pháp lý, hai bộ phận cấu thành nên địa vị pháp lý của DNTN được thể hiện bằng hai hình thức khác nhau

Bộ phận thứ nhất về địa vị pháp lý của DNTN được thể hiện trong LDN 2005 và các quy định pháp luật có liên quan

Địa vị pháp lý của doanh nghiệp nói chung và DNTN nói riêng bị chi phối bởi LDN và luật chuyên ngành Hiện nay, Việt Nam vẫn chưa có sự nhất trí khái niệm luật chuyên ngành nhưng theo tác giả, luật chuyên ngành là luật

Trang 20

quy định và hoạt động kinh doanh trong một chuyên ngành cụ thể nào đó Luật chuyên ngành được quy định tại Điều 3 của LDN 2005 bao gồm:

- Bộ Luật hàng hải năm 2005

- Luật xuất bản 2012

- Luật dầu khí (sửa đổi năm 2000)

- Luật hàng không dân dụng Việt Nam 2006

- Luật khoáng sản 2010

- Luật báo chí 1989

- Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật báo chí 1999

- Luật giáo dục 1998 (sửa đổi 2009)

- Luật tài nguyên nước 2012

- Luật kinh doanh bảo hiểm 2000

- Luật tổ chức tín dụng 2010

Bộ phận thứ hai về địa vị pháp lý của DNTN là những quyền và nghĩa vụ phát sinh khi doanh nghiệp tham gia vào các quan hệ xã hội không chỉ do các quy phạm pháp luật kinh tế mà còn các quy phạm của các ngành luật điều chỉnh

Như vậy, địa vị pháp lý của DNTN là tổng hợp những quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm được pháp luật xác định phù hợp với vị trí, vai trò, chức năng kinh

tế và xã hội của loại hình DNTN trong quá trình sản xuất kinh doanh và những quyền, nghĩa vụ mà tự DNTN và chủ DNTN lựa chọn và đảm nhận trên cơ sở vận dụng những khả năng pháp luật cho phép hoặc không cấm khi tham gia vào các vào các quan hệ pháp luật trong quá trình hoạt động của mình

Pháp luật không thể quy định chi tiết được tất cả mối quan hệ pháp luật

mà doanh nghiệp tham gia mà chỉ có khả năng xác định những vấn đề có tính nguyên tắc, tạo hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động Do

đó, quyền và nghĩa vụ của từng DNTN cụ thể không hoàn toàn giống nhau

Trang 21

mà còn tùy thuộc vào khả năng của mỗi chủ thể pháp luật bằng hành vi của mình thực hiện quyền và nghĩa vụ trong khuôn khổ luật pháp quy định

DNTN là chủ thể kinh doanh có cơ cấu tổ chức và quản lý được Nhà nước thừa nhận Do vậy, DNTN có các quyền và nghĩa vụ được ghi nhận trong các văn bản pháp luật Khẳng định DNTN là chủ thể pháp lý phải đi đôi với việc quy định trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan Nhà nước Do vậy, DNTN có quyền yêu cầu bảo vệ quyền lợi khi bị xâm hại, có quyền khiếu nại các quyết định trái pháp luật của cơ quan Nhà nước

Như vậy, khái niệm địa vị pháp lý của DNTN với hai bộ phận quyền và nghĩa vụ nêu trên đã phản ánh đầy đủ hơn những đặc trưng pháp lý của DNTN trong nền kinh tế thị trường Trên cơ sở đó, vấn đề về địa vị pháp luật

và thực trạng thực tế của DNTN sẽ được xem xét một cách thống nhất và chặt chẽ hơn Trong phạm vi luận văn, khi phân tích chi tiết địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân, tác giả căn cứ chủ yếu trên các quy định của LDN

2005 và các văn bản pháp luật có liên quan

1.1.3 Các yếu tố chi phối đến việc xác định địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân

Nghiên cứu các yếu tố chi phối đến việc xác định địa vị pháp lý của DNTN là cần thiết bởi các yếu tố chi phối đó có mối quan hệ biện chứng với địa

vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân, chúng có sự tác động qua lại với nhau Từ

đó có hướng điều chỉnh sao cho tác động của các yếu tố chi phối đó ở mức độ hợp lý, tạo đà cho DNTN phát triển

Các yếu tố tác động đến địa vị pháp lý của DNTN có thể chia ra thành

3 nhóm:

- Sự ảnh hưởng của chế độ chính trị - kinh tế

Trước Đổi mới 1986, nền kinh tế nước ta, chỉ hai hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể được chính thức công nhận và bảo hộ, sở hữu

Trang 22

tư nhân nhỏ lẻ tuy vẫn vẫn được bảo hỗ nhưng bị hạn chế trong khuôn khổ

“kinh tế phụ gia đình xã viên” và bị giới hạn trong những lĩnh vực nhất định

Rõ ràng là sự vượt trước của quan hệ sản xuất Xã hội chủ nghĩa đã được áp đặt lên , trong khi tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất còn thấp kém

đã mang lại tác dụng ngược là kìm hãm sự phát triển của sản xuất xã hội, không huy động được tiềm lực trong dân để phát triển kinh tế của đất nước Trên thực tế, nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế nông nghiệp, sản xuất nhỏ

là phổ biến Trong khi đó, sự phát triển của lực lượng sản xuất rất không đều nhau giữa các vùng, ngành kinh tế của đất nước, giữa miền xuôi với miền ngược, giữa thành thị với nông thôn

Vì thế, việc Hiến pháp 1980 không ghi nhận hình thức “sở hữu tư nhân” đã làm cho bộ phận thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân bị kìm hãm, không được phát triển Do đó, trong thời kỳ này, chủ thể kinh doanh chủ yếu là doanh nghiệp quốc doanh, hợp tác xã, còn DNTN và một số loại hình doanh nghiệp khác chưa được thừa nhận về mặt pháp lý

Đại hội Đảng 1986 đã xác định phát triển nền kinh tế nước ta theo hướng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế Trên cơ sở đó, Quốc hội đã sửa đổi và ban hành một số văn bản luật để tạo hành lang pháp lý cho các cá nhân, tổ chức tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh như Luật đầu tư 2005, LDN 2005, Luật Thương mại 2005 và các văn bản pháp luật khác

Việc đưa hình thức sở hữu tư nhân vào là một điểm tiến bộ của Hiến pháp năm 1992 bởi điều này đã tạo nền tảng pháp lý cho hình thức kinh tế tư nhân phát triển, tiến tới một nền kinh tế thị trường phong phú và phát triển

mạnh mẽ hơn Theo đó, Điều 21, Hiến pháp 1992 qui định: “kinh tế cá thể,

kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất - kinh doanh,

Trang 23

được thành lập doanh nghiệp không hạn chế về qui mô hoạt động trong những ngành, nghề có lợi cho quốc kế dân sinh”[7] Trên cơ sở đó, DNTN -

một loại hình doanh nghiệp dựa trên nền tảng sở hữu tư nhân đang ngày càng phát triển và khẳng định được vai trò của mình Trên cơ sở đó, LDN và các văn bản luật có liên quan đã cụ thể hóa hơn thẩm quyền kinh tế của DNTN trong nền kinh tế

Thực tiễn trong những năm qua, sự phát triển của kinh tế tư nhân đã có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của nền kinh tế - xã hội, như huy động được nhiều nguồn vốn đầu tư với số lượng lớn vào sản xuất kinh doanh, góp phần nâng cao sức sản xuất cho xã hội, tạo thêm nhiều việc làm mới vừa tăng của cải vật chất cho xã hội, vừa giảm áp lực giải quyết việc làm cho người lao động, thúc đấy sự hình thành và phát triển của các loại thị trường, làm tăng sức cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước, tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong hoạt động sản xuất và kinh doanh, vừa góp phần tạo nên tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, vừa tham gia giải quyết các vấn đề xã hội…đã thể hiện rõ sự định hướng đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong việc xác lập và xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt nam

- Sự ảnh hưởng của thi trường và các chính sách cạnh tranh

Trong bối cảnh tự do cạnh tranh kinh doanh, Nhà nước ta trong những năm gần đây đã ban hành nhiều văn bản pháp luật, chính sách về thị trường và chính sách cạnh tranh Tuy vậy, trên thực tế:

+ Còn tồn tại những nhận thức không đúng đắn về vị trí, vai trò của khu vực ngoài quốc doanh nói chung, của DNTN nói riêng Vì thế khu vực này cũng không nhiều cơ hội để thu hút lực lượng lao động trí thức và lao động có tay nghề cao

Trang 24

+ Còn tồn tại nhiều lĩnh vực cấm hoặc hạn chế hoạt động kinh doanh của các DNTN một cách bất hợp lý

+ Tư tưởng phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế còn tương đối nặng nề, tư tưởng này không chỉ thể hiện ở các quy định pháp luật, chính sách

mà còn thể hiện cả trong những hành vi ứng xử của một số công chức Nhà nước, của các cơ quan thi hành chính sách, pháp luật

Sự phát triển của DNTN còn có hạn chế là do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu do chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của Đảng, trong nhiều trường hợp cụ thể, vẫn chưa có sự thống nhất cao trong nhận thức Cơ chế, chính sách còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ và môi trường kinh tế va luật pháp còn thiếu sự thông thoáng Đây là nhân tố hàng đầu làm nản lòng các nhà đầu tư trong và ngoài nước

Hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước và kinh tế còn cồng kềnh, chồng chéo Việc phát triển đồng bộ các thể chế kinh tế thị trường và tạo lập một môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế còn chậm Đặc biệt, với những chính sách ưu đãi riêng đối với từng thành phần kinh tế, Nhà nước chưa tạo ra một môi trường chung dẫn đến sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế

Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế, vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước bị nhầm lẫn với độc quyền kinh doanh của một số doanh nghiệp Nhà nước, tạo điều kiện cho một số doanh nghiệp nhà nước duy trì sự trì trệ, ỷ lại chính sách bao cấp

Bên cạnh đó, hệ thống những quy định pháp luật điều chỉnh các quan

hệ liên quan đến cạnh tranh chưa hoàn chỉnh, ý thức chấp hành pháp luật chưa nghiêm, vì thế còn tồn tại nhiều hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong nền kinh tế

Trang 25

Việc đổi mới, đơn giản hóa thủ tục hành chính tiến hành còn chậm, chưa kịp thời nên còn gây nhiều phiền hà cho các nhà đầu tư, đồng thời cũng tạo ra sự bất bình đẳng trong cạnh tranh Thủ tục hành chính phức tạp cũng đã làm tăng chi phí giao dịch, giảm tính hấp dẫn của môi trường đầu tư tại Việt Nam so với các nước khác Tuy vậy có thể thấy, môi trường kinh doanh tư nhân tại Việt Nam đã được cải thiện đáng kể từ giữa năm 1999 Việc thành lập Diễn đàn khu vực tư nhân và việc thông qua LDN là một số những tín hiệu tích cực của Chính phủ cho các nhà đầu tư Chính phủ giờ đây cho phép các DNTN có điều kiện được góp vốn liên doanh bằng quyền sử dụng đất

Tuy nhiên vấn đề cản trở sự phát triển của DNTN còn là thị trường và

cơ cấu giá Nhà nước ta cần đặc biệt phát triển khu vực tư nhân bằng cách tạo lập một sân chơi bình đẳng, tiếp tục tiến tới hạ thấp các hàng rào mậu dịch, thúc đẩy hệ thống Ngân hàng và Thị trường vốn theo hướng thương mại hơn

và tăng tốc hội nhập kinh tế thế giới cùng với những nỗ lực đặc biệt để cải thiện khoa học và công nghệ, khuyến khích và tạo điều kiện thông thoáng hơn

để phát triển kinh tế tư nhân- khu vực kinh tế năng động và về lâu dài sẽ đóng góp vai trò không nhỏ trong quá trình tăng trưởng và hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ Bài học kinh nghiệm của các quốc gia phát triển cho thấy, phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải được coi là một trong những ưu tiên hàng đầu vì nó có vai trò to lớn trong giải quyết vấn đề việc làm và thất nghiệp hiện nay

- Nhóm các yếu tố thuộc cơ chế quản lý Nhà nước:

Địa vị pháp lý của doanh nghiệp nói chung và DNTN nói riêng, đều

chịu sự tác động và chi phối về phương diện quản lý từ Nhà nước Xu hướng chung trong các nền kinh tế thị trường đều cho thấy vai trò quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp Luật chú ý đến việc nâng cao hiệu lực quản lý

Trang 26

Nhà nước đối với doanh nghiệp, cơ chế giám sát hoạt động của doanh nghiệp sau khi đăng ký kinh doanh, đảm bảo yêu cầu tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp theo nguyên tắc minh bạch, công khai

Xuất phát từ yêu cầu đổi mới tư duy kinh tế, đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực quản lý kinh tế, LDN và các văn bản hướng dẫn thi hành đều khẳng định sự cần thiết của việc quản lý Nhà nước đối với các loại hình doanh nghiệp trong đó có doanh nghiệp tư nhân Tất cả đều thể hiện một bước

cơ bản trong nội dung và phương pháp quản lý, vừa đạt được mục đích quản

lý, vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong kinh doanh

Vấn đề đặt ra trong thời gian tới không phải là xóa bỏ sự ưu đãi của Nhà nước mà chọn cách thức ưu đãi như thế nào để không có sự phân biệt đối

xử theo thành phần kinh tế như bấy lâu nay

Nhà nước cần:

- Khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển trong tất cả các ngành, các lĩnh vực mà luật pháp không cấm Đặc biệt khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân trong các ngành chế biến nông, lâm, thủy sản, sản xuất các mặt hàng tiêu dùng xuất khẩu và thay thế nhập khẩu

Để thực hiện những khuyến khích này, Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi về tín dụng, thuế, điều kiện đầu tư…theo tinh thần chủ thể nào làm việc có hiệu quả sẽ nhận được ưu đãi, không kể chủ thể đó thuộc thành phần kinh tế nào

- Khuyến khích sự liên kết kinh tế và mở rộng quan hệ sở hữu trong phát triển doanh nghiệp tư nhân

- Xóa bỏ mặc cảm đối với DNTN và tạo điều kiện cho loại hình này bình đẳng thực sự so với các loại hình kinh tế khác Trong những năm qua, DNTN thường chịu nhiều thiệt thòi so với các loại hình kinh tế khác trong

Trang 27

việc phân phối và sử dụng nguồn lực của xã hội.Vì vậy, cần tăng cường sự giúp đỡ của Nhà nước đối với DNTN trong quá trình vận động và phát triển

Ở nước ta, quy mô sản xuất, kinh doanh của DNTN còn nhỏ, trình độ

và năng lực tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của các chủ doanh nghiệp còn nhiều hạn chế… Để phát triển doanh nghiệp tư nhân, đòi hỏi Nhà nước phải có sự tác động và hỗ trợ như: hỗ trợ và vốn cho DNTN phát triển sản xuất kinh doanh thông qua quan hệ tín dụng giữa DNTN và các ngân hàng, tổ

chức tín dụng quốc doanh, hỗ trợ công nghệ và kỹ thuật cho các DNTN để nâng cao trình độ công nghệ và kỹ thuật của các doanh nghiệp, hỗ trợ đào tạo,

bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh và ý thức pháp luật cho các chủ DNTN [29]

Tóm lại, sự hình thành và phát triển địa vị pháp lý của DNTN là một quá trình Đó là quá trình thừa nhận, thay đổi và hoàn thiện quan niệm về doanh nghiệp tư nhân, về vị trí và vai trò, chức năng và nhiệm vụ của nó trong nền kinh tế

Vấn đề xác định và hoàn thiện địa vị pháp lý của DNTN trong cơ chế thị trường đòi hỏi phải đồng thời giải quyết những vấn đề có liên quan như đổi mới quan niệm về sở hữu tư nhân, DNTN và phương thức thực hiện quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp tư nhân Việc nghiên cứu địa vị pháp lý của DNTN không chỉ tạo điều kiện thuận lợi riêng cho DNTN mà còn tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh, ổn định cho hoạt động kinh tế của tất các thành phần kinh tế thực hiện cạnh tranh bình đẳng, hợp pháp, lành mạnh với mục tiêu tăng trưởng kinh tế

1.2 Đặc điểm pháp lý của doanh nghiệp tƣ nhân

Điều 141 LDN 2005 định nghĩa: “DNTN là doanh nghiệp do một cá

nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi

hành động của doanh nghiệp”

Trang 28

Từ khái niệm đó ta thấy DNTN có những đặc điểm sau:

- DNTN là một đơn vị kinh doanh do một cá nhân bỏ vốn ra và làm chủ:

Trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, việc nền kinh tế có phát triển bền vững được hay không cần sự phát triển đồng bộ của tất cả các thành phần kinh tế, sự yếu kém của một bộ phận nào đó cũng sẽ làm cho Việt nam không thể đạt được mục tiêu tăng trưởng như đã định Do đó, trong giai đoạn hiện nay, bên cạnh những nỗ lực tái cơ cấu để vực dậy các Doanh nghiệp Nhà nước, thì chính sách mở rộng và phát triển khu vực kinh tế tư nhân càng được chú trọng, trong đó đáng quan tâm nhất là làm thế nào để các DNTN khẳng định được vị trí của mình, dần trở thành một trong những trụ cột của nền kinh tế

Để đảm bảo các DNTN thực hiện quyền tự do kinh doanh, Nhà nước thừa nhận sự bình đẳng trước pháp luật của DNTN với các doanh nghiệp khác Trong quá trình hoạt động của mình, với tư cách là một đơn vị kinh doanh, DNTN sẽ tham gia vào các quan hệ trao đổi, mua bán trên thị trường Các quan hệ này không chỉ giữa các doanh nghiệp trong một thành phần kinh

tế mà còn là giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau Các quan hệ đó vừa có tính chất hợp tác với nhau, vừa có tính chất cạnh tranh nhau Điều đó thể hiện các doanh nghiệp đều là những đơn vị kinh doanh và bình đẳng trước pháp luật

DNTN là một đơn vị kinh doanh đặc biệt hơn so với các doanh nghiệp khác bởi vốn trong doanh nghiệp do một cá nhân bỏ vốn ra thành lập và làm chủ, không có sự liên kết, hùn vốn giữa các thành viên Do đó, DNTN thuộc quyền sở hữu của một người đó là chủ doanh nghiệp Chủ DNTN đưa tư liệu sản xuất và vốn vào quá trình sản xuất mà không có sự hội vốn với người khác Do vậy, họ vừa là chủ sở hữu tài sản, vừa là người sử dụng tài sản, đồng thời cũng là người có toàn quyền quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 29

Do tính chất một chủ nên trong DNTN không có sự phân chia quyền hành quản lý và phân chia rủi ro Chủ doanh nghiệp thông thường là giám đốc trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nhưng DNTN là một thực thể pháp lý trong kinh tế cho nên cũng có trường hợp chủ DNTN không nhất thiết phải trực tiếp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh mà

có thể thuê người khác làm giám đốc điều hành, quản lý hoạt động kinh doanh Người được thuê chỉ làm theo sự ủy quyền của chủ doanh nghiệp Một vấn đề cần lưu ý là cho dù trực tiếp hay gián tiếp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì Chủ doanh nghiệp vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với tư cách chủ sở hữu

Trong quá trình điều hành quản lý DNTN, vì DNTN thuộc sở hữu của một cá nhân cụ thể nên chủ doanh nghiệp có toàn quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp, bán doanh nghiệp hoặc sát nhập doanh nghiệp vào một doanh nghiệp khác và có quyền đưa ra quyết định giải thể doanh nghiệp

Xét trên góc độ quản lý, cá nhân - chủ doanh nghiệp hoàn toàn độc lập với các chủ thể khác và do đây là loại hình doanh nghiệp một chủ nên chủ doanh nghiệp có thể đưa ra quyết định một cách nhanh chóng, mọi hoạt động kinh doanh đều có thể tiến hành một cách linh hoạt, ứng phó nhanh và hiệu quả đối với những tác động từ bên ngoài

- Chủ Doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản

nợ trong kinh doanh của doanh nghiệp:

Trách nhiệm vô hạn có nghĩa là chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản chứ không phải chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đã bỏ ra kinh doanh như một số chủ thể kinh doanh chịu TNHH khác

Về mặt pháp lý, đây là một đặc điểm rất quan trọng của DNTN bởi chịu trách nhiệm vô hạn có nghĩa trách nhiệm của chủ doanh nghiệp đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình tồn tại của

Trang 30

doanh nghiệp là bao gồm toàn bộ tài sản, điều này đồng nghĩa là: Nếu chủ DNTN không có khả năng thanh toán nợ đến hạn bằng vốn kinh doanh thì theo yêu cầu của các chủ nợ, tòa án có thể cho bán cả những tài sản mà chủ doanh nghiệp không dùng vào kinh doanh để trả nợ và thực hiện các nghĩa

vụ tài sản

Trách nhiệm vô hạn là một trong những yếu tố đặc trưng trong địa vị pháp lý của DNTN Trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh, nếu doanh nghiệp làm ăn phát đạt, thu nhiều lợi nhuận, chủ doanh nghiệp được hưởng toàn bộ số lợi nhuận đó Chủ doanh nghiệp có thể dùng số lợi nhuận đó vào hoạt động kinh doanh hay mua sắm tài sản phục vụ nhu cầu của gia đình

Do vậy, nếu kinh doanh thua lỗ, họ cũng phải chịu trách nhiệm bằng tài sản của doanh nghiệp và tài sản của cá nhân là chủ sở hữu về các khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp

Như vậy, đối với DNTN, không có sự phân tách rõ ràng về tài sản của doanh nghiệp và tài sản riêng của chủ doanh nghiệp Đây là điểm khác biệt của DNTN so với công ty TNHH hay công ty cổ phần trong đó những thành viên công ty hay cổ đông chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công

ty trong phạm vi phần vốn góp của mình

Theo luật DNTN 1990 thì DNTN còn phải có thêm một đặc điểm nữa

là phải có mức vốn không thấp hơn vốn pháp định Tức là phải có một số vốn tối thiểu mà pháp luật quy định khi đăng ký thành lập doanh nghiệp Thực tế qua gần 10 năm thi hành LDN tư nhân 1990, quy định về vốn pháp định đã không phát huy được hiệu quả trong việc bảo vệ lợi ích của chủ nợ Vì nhiều nhà kinh doanh không nghiêm chỉnh, có ý định lừa đảo vẫn “lách” qua các quy định về vốn pháp định một cách dễ dàng bằng cách dùng tài sản đi vay tạo thành vốn đầu tư ban đầu của mình và sau khi doanh nghiệp được thành lập thì đem trả lại vốn cho người mình đã vay Hậu quả là nhiều người không thực sự có vốn vẫn thành lập được doanh nghiệp

Trang 31

Mặt khác, việc quy định DNTN phải có mức vốn không thấp hơn vốn pháp định là hoàn toàn không cần thiết vì chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của doanh nghiệp bằng toàn bộ tài sản thuộc

sở hữu của mình ( bao gồm cả tài sản chủ doanh nghiệp bỏ ra kinh doanh và những tài sản không bỏ ra kinh doanh)

Thêm nữa việc quy định vốn pháp định cả trong những ngành nghề không thuộc lĩnh vực kinh doanh đặc biệt sẽ làm cản trở quyền tự do kinh doanh, cụ thể là quyền tự do lựa chọn ngành nghề và quy mô kinh doanh của các chủ thể khi tham gia hoạt động thương mại

Vì những lý do trên, LDN quy định chỉ DNTN kinh doanh một số ngành nghề đặc thù được Chính phủ qui định mới phải có mức vốn không thấp hơn mức vốn pháp định Cụ thể, những lĩnh vực ngành nghề kinh doanh

có áp dụng mức vốn pháp định và mức vốn tối thiểu là bao nhiêu được quy định trong Luật, Pháp lệnh, Nghị định

Ví dụ: Điều 3 NĐ 153/2007/NĐ-CP ngày 15/10/2007 về kinh doanh

bất động sản đã quy định: “Mức vốn pháp định của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản là 6 tỷ đồng Việt Nam”

Một vấn đề cần lưu ý là cho dù LDN 2005 đã bãi bỏ quy định chung về vốn pháp định không có nghĩa là không cần có vốn vẫn thành lập được doanh nghiệp Trái lại vốn đầu tư của chủ DNTN do chủ DNTN tự khai và chủ DNTN có nghĩa vụ khai báo chính xác tổng số vốn đầu tư, trong đó nêu rõ số vốn bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng và các tài sản khác Đối với vốn bằng tài sản khác còn phải ghi rõ loại tài sản, số lượng và giá trị còn lại của mỗi loại tài sản

Toàn bộ vốn và tài sản, kể cả vốn vay và tài sản đi thuê, được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều phải được ghi chép đầy đủ vào sổ sách kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp Trong quá trình

Trang 32

hoạt động, chủ DNTN có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư của mình vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việc này phải được ghi chép đầy đủ vào

sổ sách kế toán Trường hợp giảm vốn đầu tư xuống thấp hơn vốn đầu tư mà chủ doanh nghiệp đã đăng ký thì chủ DNTN chỉ được giảm khi đã khai báo với cơ quan đăng ký kinh doanh Qui định này cho thấy chủ DNTN có quyền định đoạt tài sản của doanh nghiệp hoàn toàn theo ý chí của mình , chứ không chỉ định đoạt bản thân DNTN như bán hoặc cho thuê doanh nghiệp [2, tr.26]

Trong quá trình tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp, với tư cách là chủ sở hữu, cá nhân là chủ doanh nghiệp có quyền tổ chức và quản lý doanh nghiệp Tức là chủ doanh nghiệp có quyền lựa chọn ngành nghề kinh doanh, đặt tên doanh nghiệp, quản lý điều hành doanh nghiệp, quyền giải thể, phá sản doanh nghiệp… Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, chủ doanh nghiệp có quyền tăng, giảm vốn đầu tư, lựa chọn khách hàng, tuyển dụng và thuê mướn nhân công… Đặc biệt, thể hiện rõ nét trong quy định của pháp luật

về việc chủ doanh nghiệp có quyền cho thuê doanh nghiệp, bán hoặc tạm ngưng hoạt động kinh doanh doanh nghiệp

Ở đây, xuất phát từ việc chủ doanh nghiệp bỏ vốn ra đầu tư đồng thời phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản phát sinh trong quá trình tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp nên có thể cá nhân là chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp có quyền quyết định số phận của doanh nghiệp mà không bị chi phối bởi yếu tố nào khác Đây cũng

trách nhiệm vô hạn của chủ DNTN là một ưu thế giúp cho doanh nghiệp này có thể dễ dàng vay các khoản tín dụng lớn từ ngân hàng Khi cung cấp tín dụng, ngân hàng có thể căn cứ vào toàn bộ tài sản của chủ doanh nghiệp chứ không chỉ căn cứ vào tài sản của doanh nghiệp Toàn bộ tài sản của chủ doanh nghiệp là một đảm bảo chắc cho việc thanh toán các khoản nợ của

Trang 33

doanh nghiệp Bên cạnh đó, chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ DNTN cũng

có những điều đáng lưu ý sau:

Trách nhiệm của người điều hành doanh nghiệp trong quan hệ với chủ doanh nghiệp trong trường hợp người điều hành doanh nghiệp không phải là chủ doanh nghiệp Trên cơ sở qui định của pháp luật hiện hành về loại hình DNTN, có thể nhận thấy, doanh nghiệp này có hai phương thức quản lý: thứ nhất, chủ doanh nghiệp tự đứng ra điều hành quản lý, trong trường hợp này chủ doanh nghiệp và giám đốc là một Thứ hai, chủ doanh nghiệp thuê người khác điều hành quản lý, đây là phương thức quản lý gián tiếp, tức là chủ doanh nghiệp và giám đốc là hai chủ thể độc lập Việc xác định trách nhiệm đối với mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ được giải quyết như thế nào trong trường hợp chủ doanh nghiệp thực hiện phương thức quản lý thứ hai, có nghĩa là trách nhiệm chủ doanh nghiệp và người được thuê để điều hành quản lý sẽ giải quyết đến đâu, người được ủy quyền quản lý có phải liên đới chịu trách nhiệm không, hay chủ doanh nghiệp có phải gánh chịu trách nhiệm hay không nếu họ không tham gia giao kết và ký kết hợp đồng Nhìn chung, cơ sở pháp lý để xác định trách nhiệm sẽ được xem xét và giải quyết trên cơ sở hợp đồng của chủ doanh nghiệp với người điều hành doanh nghiệp (hay còn gọi là hợp đồng lao động) và các quy định trong pháp luật hợp đồng

Trong trường hợp chủ doanh nghiệp có mối quan hệ hôn nhân trong quá trình thành lập, tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp thì cần phải xác định rõ khối tài sản của vợ chồng và tài sản riêng của cá nhân là chủ doanh nghiệp trong khối tài sản chung đó Theo quy định tại Điều 16 Luật hôn nhân

và gia đình 2000, vợ chồng quyền có tài sản riêng Các quy định này cũng có

ở nhiều nước, theo đó ở các nước công nghiệp phát triển, việc xác định tài sản riêng của vợ chồng không còn là vấn đề quá mới mẻ, nhiều cặp vợ chồng đã thỏa thuận về tài sản chung và riêng ngay từ khi kết hôn hoặc trong quá trình

Trang 34

chung sống Pháp luật cũng quy định một cách cụ thể tài sản nào là tài sản chung, tài sản nào có thể là tài sản riêng

Ở Việt nam, do có những đặc điểm về văn hóa và trình độ pháp luật nên việc xác định tài sản nào chung, tài sản nào riêng là điều không đơn giản Thông thường, các tài sản của vợ chồng xác lập trước khi kết hôn có thể là tài sản riêng hoặc tài sản mà chồng hoặc vợ được tặng cho, được hưởng thừa kế…Theo đó, tài sản chung của vợ chồng được coi là tài sản của chủ doanh nghiệp và phải đem thanh toán các khoản nợ và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác Đối với tài sản riêng của vợ chồng không phải là tài sản của chủ doanh nghiệp, về nguyên tắc, sẽ không đem ra thanh toán nợ của chủ doanh nghiệp

Ngoài ra, chế độ trách nhiệm vô hạn cũng có nhược điểm làm cho các chủ DNTN không dám đầu tư vào những lĩnh vực ngành nghề có độ rủi

ro cao, bởi trong bối cảnh nền kinh tế thị trường với tính cạnh tranh cao, đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau với quy mô đầu tư lớn sẽ ảnh hưởng tới khả năng thanh toán và chi trả của chủ doanh nghiệp Điều đó dẫn đến

sự phát triển mất cân đối của nền kinh tế và có những nhu cầu của xã hội không được đáp ứng

- Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào ra công chúng trong suốt quá trình tồn tại và hoạt động để huy động vốn

Điều này có thể được lý giải bởi các lý do xuất phát từ bản chất mang tính đóng của DNTN Nếu DNTN được phép phát hành cổ phần sẽ dẫn đến phá vỡ cấu trúc vốn và cơ cấu số lượng thành viên của doanh nghiệp, khi đó DNTN sẽ không còn là DNTN nữa mà sẽ chuyển sang các loại hình doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu khác như công ty TNHH, công ty cổ phần…

Trang 35

Hơn nữa, qui định này có liên hệ chặt chẽ với những qui định khác về tăng, giảm vốn đầu tư, về giới hạn trách nhiệm Theo đó, quyền phát hành cổ phần để huy động vốn từ công chúng được qui định dành cho công ty cổ phần với đặc trưng là số lượng cổ đông lớn, mô hình quản trị chặt chẽ, thích hợp

\dành cho mô hình kinh doanh lớn, đòi hỏi có số vốn lớn và có chế độ tài chính rõ ràng, minh bạch

- Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một Doanh nghiệp tư nhân

Theo quan điểm truyền thống về loại hình doanh nghiệp tư nhân, thì không có sự phân biệt về quyền lợi và nghĩa vụ giữa cá nhân người chủ sở hữu doanh nghiệp và doanh nghiệp DNTN là đại diện trực tiếp không thể tách rời cho cá nhân chủ sở hữu với tư cách là một chủ thể kinh doanh Do đó, ở bất cứ thời điểm nào, mỗi cá nhân chỉ có thể làm chủ một DNTN Khi nào DNTN đó chưa chấm dứt sự tồn tại về mặt pháp lý, thì cá nhân không thể đăng ký làm chủ một DNTN khác [19]

Mặt khác, chủ DNTN là người phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp mà mình là chủ sở hữu Đây chính là cơ sở bảo đảm cho các chủ nợ khi tham gia quan hệ với loại hình doanh nghiệp này, bởi tính rủi ro của chủ DNTN là rất cao, nếu cho phép một cá nhân cùng lúc được tham gia làm chủ sở hữu của nhiều doanh nghiệp khác nhau, mà mỗi doanh nghiệp họ đều phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản, thì không có gì bảo đảm họ sẽ có đủ tài sản để thanh toán cho tất cả các khoản nợ ở tất cả các doanh nghiệp đó Do vậy, đây

là qui định cần thiết nhằm đảm bảo khả năng thanh toán nợ của chủ doanh nghiệp, cũng như đảm bảo quyền lợi cho các cá nhân, tổ chức có quan hệ với đoanh nghiệp tư nhân

Tóm lại, DNTN là đơn vị kinh doanh do một cá nhân thành lập và làm chủ Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, cá nhân là chủ sở hữu phải

Trang 36

chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ và nghĩa

vụ tài chính của doanh nghiệp Ngoài ra, ở Việt nam hiện nay, DNTN cũng là loại hình doanh nghiệp duy nhất không được thừa nhận là có tư cách pháp nhân Đây cũng chính là cơ sở hình thành nên các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh, cơ sở tạo lập nên các yếu

tố hợp thành địa vị pháp lý của DNTN

1.3 Vai trò của Doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế thị trường

ở Việt nam hiện nay

1.3.1 Các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường

Từ giữa những năm 80 của thế kỷ XX, Đảng và Nhà nước ta có chủ trương chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh

tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Trong giai đoạn chuyển đổi này, sự tồn tại của nhiều thành phần kinh

tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân trong nền kinh tế nước ta là một tất yếu khách quan Định hướng phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của Đảng

và Nhà nước là chủ trương, chính sách hoàn toàn đúng đắn nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy khả năng của mọi thành phần kinh tế, khuyến khích người dân đưa vốn vào sản xuất, kinh doanh

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã xác định phương hướng chủ trương, chính sách và các biện pháp nhằm thúc đẩy các thành phần kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, trong đó, “ Muốn phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, đi đôi với việc bố trí lại cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu tư theo ngành và theo vùng, phải xác định đúng cơ cấu thành phần kinh tế… chúng ta chủ trương: đi đôi với việc phát triển kinh tế quốc doanh, kinh tế cá thể, tăng cường nguồn tích lũy, tập trung của Nhà nước và tranh thủ nguồn vốn của nước ngoài, cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng các thành phần kinh tế khác”, “việc thực

Trang 37

hiện các chủ trương, chính sách và giải pháp này, chúng ta cần xuất phát từ thực tế của nước ta và là sự vận dụng quan điểm của Lê nin coi nền kinh tế có

cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ” [10]

Quan điểm kinh tế mới của Đảng đã được nhân dân đồng tình và hưởng ứng rộng rãi nên đã nhanh chóng đi vào cuộc sống Nhất quán quan điểm này Đại hội VII, VIII và các nghị quyết gần đây đã đề ra chủ trương như chú trọng phát triển kinh tế ngoài quốc doanh, trong đó bao gồm các DNTN (DNTN);

“cải thiện đời sống của nhân dân làm mục tiêu đầu tiên, hàng đầu trong việc khuyến khích phát triển các ngành kinh tế và hình thức tổ chức kinh doanh

… Tạo điều kiện kinh tế và pháp lý thuận lợi để các nhà kinh doanh tư nhân yên tâm làm ăn lâu dài”; “Mở rộng các hình thức kinh doanh, liên kết giữa kinh tế Nhà nước với kinh tế tư nhân trong và ngoài nước”

Thực tiễn đổi mới kinh tế ở nước ta những năm qua cho thấy việc chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế nhằm phát huy mọi tiềm lực trong dân cư để phát triển kinh tế, xã hội là đúng đắn nhưng đây là những vấn đề mới và cực kỳ phức tạp

Nhằm đáp ứng được những yêu cầu đặt ra của nền kinh tế và việc tạo lập các hình thức pháp lý về các loại hình chủ thể kinh doanh, để tạo điều kiện cho các nhà đầu tư có thể lựa chọn và đảm bảo an toàn pháp lý cho việc đầu

tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh một cách ổn định, lâu dài, lần đầu tiên LDN tư nhân, Luật Công ty được Quốc hộị thông qua năm 1989 và có hiệu lực năm 1990

Thông qua LDN tư nhân 1990 và Luật Công ty 1990, Nhà nước công nhận sự tồn tại và phát triển lâu dài của kinh tế tư nhân và tính sinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh tế tư nhân, công nhận sự bình đẳng trước pháp luật của DNTN với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác Khuyến

Trang 38

khích những người có vốn đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh, làm giàu cho mình và cho xã hội, đồng thời tạo công ăn việc làm cho những người khác, giải quyết nạn thất nghiệp

Để quyết định đầu tư và tiến hành các hoạt động kinh doanh, ngoài việc quan tâm đến khả năng sinh lời trong hoạt động kinh doanh, các nhà đầu tư còn quan tâm đến sự an toàn pháp lý trong các hoạt động kinh doanh mà trước hết là loại hình tổ chức hoạt động kinh doanh được pháp luật ghi nhận và bảo

hộ sao cho phù hợp với:

+ Mức độ phức tạp và quy mô hoạt động kinh doanh dự định tiến hành + Nhu cầu và khả năng về vốn cũng như huy động vốn

+ Những yêu cầu về tổ chức quản lý các hoạt động kinh doanh

Nói một cách khác, họ cần được thừa nhận và trở thành một chủ thể kinh doanh hợp pháp để tiến hành đầu tư vào các hoạt động kinh doanh

Trong sự đổi mới về tư duy kinh tế, khái niệm kinh doanh được định rõ tại khoản 2 Điều 4 LDN như sau: “ kinh doanh được hiểu là việc thực hiện một, một số hay tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” Theo định nghĩa này, một hành vi sẽ được coi là hành vi kinh doanh khi đáp ứng được các điều kiện sau: hành vi đó mang tính chất nghề nghiệp, diễn ra trên thị trường được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, có mục đích tìm kiếm lợi nhuận và đó phải là những hành vi thường xuyên, có sự lặp đi, lặp lại

Mặc dù không có định nghĩa pháp lý, song có thể suy ra rằng chủ thể kinh doanh là những pháp nhân hay thể nhân thực hiện trên thực tế những hành vi kinh doanh Các hành vi của hoạt động kinh doanh hiện nay chủ yếu

do chủ thể là các doanh nghiệp thực hiện Trong hệ thống pháp luật hiện hành

và khoa học pháp lý, nhiều nhà nghiên cứu và học giả đã tiếp cận và đưa ra

Trang 39

những kiến giải khác nhau về khái niệm doanh nghiệp Tuy nhiên, sau khi Quốc hội ban hành LDN mà mới nhất là LDN 2005 thì khái niệm doanh nghiệp được – chủ thể kinh doanh thường xuyên của nền kinh tế, đã được xác

định một cách thống nhất như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên

riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh

doanh”(LDN 2005, Điều 4, khoản 1)

Như vậy, theo định nghĩa pháp lý đó thì doanh nghiệp được thành lập

và hoạt động trước hết vì mục đích kinh doanh và là chủ thể kinh doanh độc lập Nhưng mặt khác, theo suy luận logic từ pháp luật hiện hành thì hiện nay, không phải tất cả các chủ thể kinh doanh được thành lập “nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh” đều được coi là doanh nghiệp ở nước ta Luật phá sản 2004 có giới hạn về các chủ kinh doanh được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, đó là: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty (Bao gồm công ty TNHH và công ty cổ phần), doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị - xã hội và Hợp tác xã

Như vậy, có thể thấy phạm vi đối tượng chịu sự điều chỉnh của Luật phá sản 2004 chưa bao trùm hết các chủ thể kinh doanh ở Việt nam, mà chỉ giới hạn trong một số chủ thể được xác định là doanh nghiệp và Hợp tác xã Theo đó, còn có một loại hình chủ thể kinh doanh hợp pháp như hộ gia đình,

tổ hợp tác, hộ kinh doanh cá thể… không được luật phá sản 2004 xác định là doanh nghiệp

Trên cơ sở qui định của LDN 2005 và Luật phá sản 2004, DNTN là một chủ thể kinh doanh thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, là chủ thể thực hiện hoạt động sản xuất hàng hóa và tiến hành hoạt động kinh doanh, có

Trang 40

quyền tự chủ sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, có sự hợp tác và có quyền bình đẳng trước pháp luật như tất cả các chủ thể pháp luật kinh tế khác

Sự ra đời DNTN cũng đánh dấu bước chuyển biến nền kinh tế nhanh chóng hơn sang cơ chế thị trường, góp phần thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước Xác định quyền của người sở hữu, quyền của người sử dụng tư liệu sản xuất và quyền quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, bảo đảm cho mọi tư liệu sản xuất đều có người làm chủ, mọi đơn vị kinh tế đều tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh

1.3.2 Doanh nghiệp tư nhân với tư cách là một loại hình doanh nghiệp của thành phần kinh tế tư nhân:

Năm 1975, sau khi giành được độc lập, chúng ta đã quá coi trọng việc xây dựng và phát triển thành phần kinh tế quốc doanh và cho rằng đó là một trong những công cụ hữu hiệu nhất để thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, bảo đảm độc lập kinh tế và chính trị Vì thế, trong một thời gian dài kinh tế quốc doanh được coi là hình thức quản lý tiên tiến nhất và hình thức sở hữu đặc trưng chỉ riêng CNXH mới có

Trên thực tế, kinh tế quốc doanh, kinh tế Nhà nước mặc dù đã được ưu tiên thâu tóm nhiều ngành, nghề, lĩnh vực chủ đạo và quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, với sự hỗ trợ tối đa của nhà nước, nhưng đến nay vẫn chưa đạt được hiệu quả kinh tế mong muốn Việc thừa nhận sự tồn tại một loại hình doanh nghiệp mới là DNTN chính là một trong những biện pháp nhằm giải phóng sức sản xuất, phát huy mọi nguồn lực để xây dựng phát triển đất nước, tạo ra động lực cho người lao động

Hơn nữa, trong điều kiện nền kinh tế nước ta là sản xuất nhỏ, tự cung -

tự cấp, nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, lao động xã hội phần lớn là lao động chân tay nên phát triển DNTN là cách tốt nhất để nâng cao sức sản xuất xã

Ngày đăng: 25/03/2015, 13:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Thị Ngọc Ánh (2010), Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân
Tác giả: Phạm Thị Ngọc Ánh
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động
Năm: 2010
2. TS. Ngô Huy Cương (2010), Vài bình luận pháp luật về doanh nghiệp tư nhân, tr.26, Luật học 26, Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài bình luận pháp luật về doanh nghiệp tư nhân
Tác giả: TS. Ngô Huy Cương
Năm: 2010
3. John Naisbitt và Patricia Aburdence, Tác phẩm “Các xu thế lớn năm 2000”(Megatrends 2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Các xu thế lớn năm 2000”
4. TS. Cao Sỹ Khiêm (2013) , Doanh nghiệp nhỏ và vừa- Thực trạng và giải pháp hỗ trợ, Báo Tapchitaichinh.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp nhỏ và vừa- Thực trạng và giải pháp hỗ trợ
Tác giả: TS. Cao Sỹ Khiêm
Nhà XB: Báo Tapchitaichinh.vn
Năm: 2013
5. PGS.TS Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo Luật kinh tế, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên khảo Luật kinh tế
Tác giả: PGS.TS Phạm Duy Nghĩa
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
6. Phòng công nghiệp và thương mại Việt nam (2011), Báo cáo tình hình hoạt động doanh nghiệp vừa và nhỏ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình hoạt động doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tác giả: Phòng công nghiệp và thương mại Việt nam
Năm: 2011
7. Quốc Hội (1992), Hiến pháp, Hà Nội 8. Quốc Hội (2005), LDN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp
Tác giả: Quốc Hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1992
9. Quốc Hội (2005), LDN (sửa đổi năm 2009), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: LDN (sửa đổi năm 2009)
Tác giả: Quốc Hội
Năm: 2005
10. Quốc hội (1986), Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1986
11. TS. Dương Văn Sao, Trường Đại học Công Đoàn (2013), Vai trò của công đoàn trong các doanh nghiệp, Báo Công Đoàn Công Thương Việt Nam ngày 27/08/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của công đoàn trong các doanh nghiệp
Tác giả: TS. Dương Văn Sao, Trường Đại học Công Đoàn
Năm: 2013
12. Tổng cục thống kê (2011), Báo cáo điều tra doanh nghiệp Quý III, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo điều tra doanh nghiệp Quý III
Tác giả: Tổng cục thống kê
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
13. Tổng cục thống kê năm (2012), Báo cáo Điều tra lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Điều tra lao động
Tác giả: Tổng cục thống kê năm
Năm: 2012
14. Tổng cục thống kê (2007), Điều tra toàn bộ doanh nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra toàn bộ doanh nghiệp
Tác giả: Tổng cục thống kê
Năm: 2007
15. Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2010), Giáo trình Luật kinh tế, tr.46, NXB Phương Đông, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật kinh tế
Tác giả: Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Phương Đông
Năm: 2010
16. Trường Đại học Luật Hà nội (tái bản 2012), Giáo trình Luật Thương mại tập 1, tr.80, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Thương mại tập 1
Nhà XB: NXB Công an Nhân dân
17. Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình Luật Thương mại tập 1- tr.79, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Thương mại tập 1
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an Nhân dân
Năm: 2010
19. Trường Đại học Luật thành phố HCM, Tập bài giảng chủ thể kinh doanh, tr.41, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng chủ thể kinh doanh
20. Đậu Anh Tuấn, Phó trưởng Ban phụ trách Ban Pháp chế, VCCI (2012), Báo cáo về công tác xúc tiến thương mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về công tác xúc tiến thương mại
Tác giả: Đậu Anh Tuấn
Nhà XB: VCCI
Năm: 2012
21. Uỷ ban thường vụ Quốc hội (1999), Điều 20 – Pháp lệnh về chất lượng hàng hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh về chất lượng hàng hóa
Tác giả: Uỷ ban thường vụ Quốc hội
Năm: 1999
22. Luật sư Võ Thành Vị (2007), Quyền và nghĩa vụ của DNTN và hộ kinh doanh cá thể, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội, tr 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền và nghĩa vụ của DNTN và hộ kinh doanh cá thể
Tác giả: Luật sư Võ Thành Vị
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w