Đối tượng của hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong lĩnh vực tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự là sự tuân thủ pháp luật của cơ quan, đơn vị và người có trách nhiệm t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THẾ LINH
KIỂM SÁT TẠM GIỮ, TẠM GIAM
VÀ THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ (Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn Thủ đô Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THẾ LINH
KIỂM SÁT TẠM GIỮ, TẠM GIAM
VÀ THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ (Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn Thủ đô Hà Nội)
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Mạnh Hùng
HÀ NỘI - 2014
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trần Thế Linh
Trang 4Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SÁT
TẠM GIỮ, TẠM GIAM VÀ THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
1.2 Khái niệm, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân
trong kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự
1.3 Khái quát lịch sử phát triển các quy phạm pháp luật về kiểm
sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự của Viện kiểm
Trang 5Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT TẠM
GIỮ, TẠM GIAM VÀ THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN
29
2.1 Các quy định của pháp luật về kiểm sát tạm giữ, tạm giam và
thi hành án hình sự
29
2.1.1 Quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong
việc kiểm sát tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự
29
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ trong việc kiểm sát thi hành án phạt
tù, thi hành án treo, cải tạo không giam giữ của Viện kiểm sát
nhân dân
35
2.2 Thực trạng kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình
sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội từ 2008
đến 2012
41
2.2.1 Những kết quả đã đạt được và những tồn tại trong công tác
tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự trên địa bàn thành phố
Hà Nội
41
2.2.2 Những kết quả đã đạt được và những hạn chế trong công tác
kiểm sát tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự của Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội
46
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SÁT TẠM GIỮ, TẠM GIAM VÀ THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
63
3.1.1 Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 63
3.1.2 Hoàn thiện các quy định pháp luật về tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân, các quy chế, nghiệp vụ và các văn bản pháp luật khác
68
3.2 Những giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm sát tạm giữ, tạm
giam và thi hành án hình sự
69
Trang 63.2.1 Về công tác cán bộ 69 3.2.2 Tăng cường quan hệ phối hợp trong thực thi nhiệm vụ 71 3.2.3 Áp dụng công nghệ thông tin vào thực hiện nghiệp vụ 73 3.2.4 Về xây dựng cơ sở vật chất như nhà tạm giữ, trại tạm giam và
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trước yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp nói chung, nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nói riêng trong giai đoạn hiện nay phải được đổi mới, đảm bảo mọi hành vi, vi phạm pháp luật hình sự phải được phát hiện kịp thời, nhanh chóng, truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, công minh, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội
Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2001 của Bộ Chính trị về một
số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới đã nêu rõ:
Nâng cao chất lượng hoạt động và đề cao trách nhiệm của các cơ quan và cán bộ tư pháp; Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp; tăng cường công tác kiểm sát việc bắt, giam, giữ, bảo đảm đúng pháp luật; những trường hợp chưa cần bắt, tạm giữ, tạm giam thì kiên quyết không phê chuẩn lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam; phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp oan, sai trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam thuộc phạm vi thẩm quyền phê chuẩn của mình [21]
Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 xác định một trong những nhiệm vụ của cải cách tư pháp là: "Xác định rõ căn cứ tạm giam; hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với một số loại tội phạm; thu hẹp đối tượng người có thẩm quyền quyết định việc áp dụng các biện pháp tạm giam" [23]
Trang 9Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự là một trong các công tác thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Đối tượng của hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân trong lĩnh vực tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự là sự tuân thủ pháp luật của cơ quan, đơn vị và người có trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự nhằm đảm bảo việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự đúng theo quy định của pháp luật; chế độ tạm giữ, tạm giam được chấp hành nghiêm chỉnh; tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị tạm giữ, tạm giam và các quyền khác của họ không bị pháp luật tước bỏ được tôn trọng Hoạt động này giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính thống nhất, công bằng và nghiêm minh của pháp luật nhằm phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền con người, bảo vệ quyền dân chủ của công dân góp phần thực hiện nhiệm vụ chung của ngành Kiểm sát
Thời gian qua, hoạt động kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, nhanh chóng phát hiện những vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức và người có trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự, kịp thời kiến nghị, kháng nghị khắc phục vi phạm trong hoạt động kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự Tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập như chất lượng kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự chưa cao, vẫn còn để xảy ra tình trạng bị can, bị cáo, phạm nhân trốn, tự sát, phạm tội mới; chế độ, tiêu chuẩn của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, phạm nhân còn chưa đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật, nhiều Nhà tạm giữ, Trại tạm giam còn diễn ra tình trạng vi phạm nội quy, quy chế Việc nghiên cứu để phân tích thực trạng của hoạt động kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự, xác định nguyên nhân của những hạn chế để đề ra các giải pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế đó là rất cần thiết và có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn
Trang 10Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài: "Kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự (Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn Thủ đô Hà Nội)" làm luận văn thạc sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng của ngành Kiểm sát nói riêng và hoạt động tư pháp nói chung Vì vậy, vấn đề này đang rất được quan tâm nhằm đảm bảo cho việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự đúng quy định của pháp luật Cho đến nay đã có một số bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến
đề tài như:
- Đề tài khoa học cấp bộ "Kháng nghị của Viện kiểm sát với các cơ
quan có trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù" của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, do Nguyễn Hoàng
Thế và các thành viên thực hiện, nghiệm thu năm 2004 nêu nên thực trạng việc sử dụng quyền kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân trong khâu công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện quyền năng này
- Đề tài khoa học cấp bộ "Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát
trong tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù theo yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay" của Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
do tác giả Ngô Quang Liễn và các thành viên thực hiện, nghiệm thu năm
2007, nghiên cứu về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong lĩnh vực tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù theo yêu cầu cải cách tư pháp
- Chuyên đề "Tổng kết 50 năm công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm
giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù" của Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, do tác giả Bùi Đức Long và các thành viên thực hiện,
Trang 11nghiệm thu năm 2010, đã khái quát quá trình hình thành, phát triển cùng những thành tựu, hạn chế trong công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù từ khi Viện kiểm sát nhân dân thành lập năm 1960 đến năm 2010
Vấn đề liên quan đến kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình
sự còn có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí
Kiểm sát số 19/2012 có bài: "Căn cứ tạm giam, hạn chế việc áp dụng biện
pháp tạm giam đối với một số loại tội phạm, thu hẹp đối tượng người có thẩm quyền quyết định việc áp dụng tạm giam" của TS Đỗ Văn Đương; tác giả
Nguyễn Hải Phùng có bài viết: "Khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự có cần ban hành "quyết định trực tiếp kiểm sát" không?", Tạp chí kiểm sát, số 7/2012 Bên cạnh đó còn có bài
viết của GS.TSKH Lê Cảm: "Những vấn đề chung về bảo vệ các quyền con
người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự", Tạp chí Khoa học pháp
lý, số 6/2010; bài viết của tác giả Vũ Đức Chấp: "Nâng cao chất lượng, hiệu
quả công tác kiểm sát thi hành án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân", Tạp
chí Kiểm sát, số 10/2008; bài viết của PGS.TS Trần Văn Độ: "Bảo vệ quyền
con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp", Tạp chí Khoa học pháp lý, số 6/2010; bài viết của
tác giả Bùi Đức Long: "Bàn về vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát
nhân dân trong thi hành án hình sự", Tạp chí Kiểm sát, số 23/2010 Trong
công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, việc đưa ra những chính sách hình sự hợp lý đồng thời nâng cao chất lượng đấu tranh phòng chống tội phạm, giảm bớt tình trạng oan sai và xâm phạm quyền con người đang là nhu cầu bức thiết Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm tới công tác tư pháp mà
cụ thể là giai đoạn công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, để đảm bảo rằng, mọi hoạt động tố tụng hình sự đều phải chấp hành nghiêm chỉnh theo Hiến pháp và pháp luật, đồng thời phát hiện xử lý tội phạm một cách nhanh chóng, chính xác, kịp thời và công minh
Trang 12Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn được thực hiện nhằm mục đích làm sáng tỏ các vấn đề lý luận chung về kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự, phân tích, nghiên cứu thực trạng kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội để đánh giá những ưu điểm cũng như những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó Qua đó, luận văn đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên đây, luận văn phải giải quyết những nhiệm vụ sau đây:
+ Nghiên cứu, làm rõ các căn cứ pháp lý, khái niệm, đặc điểm, nhiệm
vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân nhằm đảm bảo việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự cũng như lịch sử hình thành các quy phạm pháp luật đó
+ Nghiên cứu chức năng, nhiệm vụ cụ thể của Viện kiểm sát nhân dân trong việc tuân theo pháp luật của người có thẩm quyền trong lĩnh vực tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự, khảo sát, đánh giá thực tiễn về thực trạng hoạt động tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội và công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội Từ đó, phân tích những ưu, khuyết điểm cũng như tồn tại, thiếu sót và nguyên nhân của những tồn tại đó, trong việc thực hiện kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự trên địa bàn Thủ đô Hà Nội
Trang 13+ Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội nói riêng và ngành Kiểm sát nhân dân nói chung đảm bảo việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tạm giữ, tạm giam thời gian tới
3.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân đảm bảo việc tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự
* Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: Luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt tù và thi hành án treo, cải tạo không giam giữ
- Về thời gian: tác giả nghiên cứu trên cơ sở khảo sát thực tế, thu thập
số liệu, tài liệu thực tiễn của công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành
án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội từ năm 2008 đến 2012
4 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử và phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, khảo sát thực tiễn, các phương pháp nghiên cứu của tội phạm học, khoa học điều tra tội phạm và các khoa học pháp lý khác
5 Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về việc kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân, đồng
Trang 14thời xác định những vướng mắc, bất cập và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Luật thi hành án hình sự, Luật
tổ chức Viện kiểm sát nhân dân liên quan đến lĩnh vực kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự
Luận văn cũng tiến hành khảo sát thực tiễn, thu thập số liệu, tài liệu thực tiễn phản ánh thực trạng áp dụng pháp luật trong hoạt động tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội, qua đó đánh giá những ưu và nhược điểm và những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
đó để đưa ra được những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội nói riêng và ngành kiểm sát nói chung trong thời gian tới
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về kiểm sát tạm giữ, tạm giam
và thi hành án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
Chương 2: Các quy định của pháp luật về kiểm sát tạm giữ, tạm giam
và thi hành án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả
kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
Trang 15Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ KIỂM SÁT TẠM GIỮ, TẠM GIAM VÀ THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1 KHÁI NIỆM TẠM GIỮ, TẠM GIAM VÀ THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
1.1.1 Tạm giữ
Theo Từ điển Luật học năm 2006 thì: "tạm giữ được hiểu là biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang để cách ly họ với xã hội trong thời gian cần thiết nhằm ngăn chặn người đó tiếp tục phạm tội, cản trở điều tra và xác định sự liên quan của người này đối với tội phạm" [54] Theo Điều 86 Bộ luật tố tụng hình sự 2003, đối tượng bị tạm giữ là những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã Tuy nhiên không phải bất cứ trường hợp nào người bị bắt theo các trường hợp trên đều bị tạm giữ mà tùy tính chất mức độ của hành vi nguy hiểm cho xã hội mà có thể bị tạm giữ hoặc không tạm giữ Căn cứ để ra Quyết định tạm giữ chính là việc bắt quả tang, bắt khẩn cấp theo đúng trình tự thủ tục tại Điều 81, 82 Bộ luật tố tụng hình sự 2003, tự thú, đầu thú, bắt truy nã và căn cứ tính chất mức độ của hành vi phạm tội thì có thể ra quyết định tạm giữ hoặc không tạm giữ Trong trường hợp người đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vẫn
có thể bị tạm giữ khi có đủ căn cứ theo luật định nhưng chỉ trong các trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do lỗi cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng [44, Điều 303] Người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ chính là những người có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp được Thủ trưởng, phó Thủ trưởng
Cơ quan điều tra các cấp; người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới;
Trang 16người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng và chỉ huy vùng cảnh sát biển có quyền ra lệnh tạm giữ [44, Điều 86]
Thời hạn tạm giữ được quy định tại Điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự, theo đó: "Thời hạn tạm giữ không được quá 03 ngày kể từ khi cơ quan điều tra nhận người bị bắt" [44] Như vậy, thời hạn tạm giữ được tính theo ngày và thời điểm nhận người bị bắt chỉ có ý nghĩa tính ngày bị tạm giữ vì thời hạn sẽ hết vào lúc 24h Khi người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ thì quyết định tạm giữ phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 12 giờ, quyết định phải ghi rõ lý do tạm giữ ngày hết hạn tạm giữ, Viện kiểm sát xem xét tính có căn cứ, cần thiết của quyết định tạm giữ, nếu thấy quyết định tạm giữ không có căn cứ, không cần thiết thì phải ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ đó và người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ Những trường hợp Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định tạm giữ là trường hợp người bị tạm giữ không phải là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã; người bị tạm giữ chỉ vi phạm hành chính hoặc pháp luật dân sự; người bị tạm giữ là người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới
16 tuổi nhưng phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng do vô ý, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trong do vô ý; người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang nhưng có đủ chứng cứ, tài liệu chứng minh họ không phạm tội Thời hạn tạm giữ có thể được gia hạn 02 lần, mỗi lần không quá 03 ngày trong những trường hợp cần thiết và đặc biệt như chưa củng cố được tài liệu, nhân thân, tính chất mức độ hành vi của tội phạm và mọi trường hợp gia hạn tạm giữ phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trong thời hạn 12 giờ Trong thời hạn 12 giờ Viện kiểm sát cùng cấp phải ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ, khi Viện kiểm sát không phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ hoặc không đủ căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ Thời hạn tạm giữ đó sẽ được trừ vào
Trang 17thời hạn tạm giam theo quy định một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam Việc quy định thời hạn tạm giữ như vậy nhằm mục đích hạn chế tình trạng lạm dụng tạm giữ và bảo đảm tính khách quan, có căn cứ và cần thiết của việc tạm giữ
Từ những nghiên cứu và phân tích trên đây thì có để đưa ra khái niệm:
tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do những chủ thể có thẩm quyền theo luật định áp dụng trong trường hợp cần thiết đối với những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đang bị truy nã nhằm ngăn ngừa và xử lý tội phạm kịp thời
1.1.2 Tạm giam
Theo quy định tại Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì tạm giam
là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do những người có thẩm quyền
ở Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng; phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình
sự quy định hình phạt tù trên 2 năm và có căn chứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội Theo quy định tại Quy chế về tạm giữ, tạm giam được ban hành kèm theo Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07 tháng 11 năm 1998 thì tạm giữ, tạm giam là những biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật tố tụng hình
sự do Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát hoặc Tòa án áp dụng nhằm buộc những người có Lệnh tạm giữ hoặc Lệnh tạm giao cách ly khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để ngăn chặn hành vi phạm tội, hành vi gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc đảm bảo thi hành án phạt tù hoặc án tử hình [14, Điều 1] Như vậy, tạm giam không phải là hình phạt tù vì mục đích của tạm giam không những ngăn ngừa bị can, bị cáo phạm tội mới hoặc trốn tránh mà còn đảm bảo cho cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, truy tố và xét xử
bị cáo được chính xác, kịp thời, bên cạnh đó cũng là biện pháp để giúp đảm
Trang 18bảo thi hành án hình sự Đối tượng của biện pháp ngăn chặn tạm giam chỉ có thể là bị can, bị cáo tức là những người đã có quyết định khởi tố bị can hoặc quyết định đưa vụ án ra xét xử Tuy nhiên, không phải tất cả các bị can, bị cáo đều áp dụng biện pháp tạm giam mà theo căn cứ điều 88 Bộ luật tố tụng hình
sự 2003 quy định những bị can, bị cáo có thể được áp dụng biện pháp tạm giam bao gồm: bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng; bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng
mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù trên 2 năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội
Như vậy, để áp dụng biện pháp tạm giam đối với những bị can, bị cáo phạm tội phải tính đến khả năng người đó có thể trốn tránh hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hay tiếp tục phạm tội dựa vào nhân thân người phạm tội, họ có tiền án, tiền sự gì không, tạm giam có cần thiết hay không Hơn nữa, Bộ luật tố tụng hình sự 2003 cũng quy định một số trường hợp có đủ căn
cứ thì không áp dụng biện pháp tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác như: bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng Tuy nhiên, những người này vẫn có thể áp dụng biện pháp tạm giam nếu họ thuộc một trong những trường hợp sau đây: bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã; bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử; bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia
Khoản 3 Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự quy định những người có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam bao gồm: Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp; Thẩm phán giữ
Trang 19chức vụ Chánh tòa, phó Chánh tòa Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử; Thủ trưởng, phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp Khi Thủ trưởng, phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp ra lệnh tạm giam thì phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn và
hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc tạm giam, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn Viện kiểm sát phải hoàn trả hồ
sơ cho Cơ quan điều tra ngay sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn
Theo quy định tại Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự 2003, bị can, bị cáo khi bị áp dụng biện pháp tạm giam phải có Lệnh tạm giam của người có thẩm quyền ký, riêng Lệnh tạm giam của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp phải được sự phê chuẩn của Viện kiểm sát cùng cấp trước khi thi hành Biện pháp ngăn chặn tạm giam là biện pháp rất nghiêm khắc trong tố tụng hình sự, theo quy định trong trường hợp người bị tạm giam bị phạt tù thì
cứ 01 ngày tạm giam được tính bằng 01 ngày tù Vì vậy, khi áp dụng biện pháp tạm giam cơ quan ra lệnh tạm giam phải kiểm tra căn cước người bị tạm giam để đảm bảo tính có căn cứ, chặt chẽ và chính xác, tránh xảy ra oan sai, đồng thời phải thông báo ngay cho gia đình người bị tạm giam và cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị tạm giam cư trú hoặc làm việc biết Người bị tạm giam có được chế độ khác với chế độ đối với người đang chấp hành hình phạt tù Nơi tạm giữ, tạm giam, chế độ sinh hoạt, nhận quà, liên hệ với gia đình và các chế độ khác được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 89/NĐ-CP ngày 07 tháng 11 năm 1998 được sửa đổi bổ sung một số điều ở Nghị định số 98/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2002 và Nghị định số 09/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2011 Người bị tạm giữ, tạm giam được chăm nom người thân thích và bảo quản tài sản của mình cụ thể: Khi người bị tạm giữ, tạm giam có con chưa thành niên dưới 14 tuổi hoặc có người thân thích là người tàn tật, già yếu mà không có người chăm sóc, thì cơ quan ra lệnh tạm giam giao những người đó cho người thân thích chăm nom
Trang 20Trong trường hợp người bị tạm giam không có người thân thích thì cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam giao những người đó cho chính quyền sở tại chăm nom Nếu người bị tạm giữ, tạm giam có nhà hoặc tài sản khác mà không có người trông nom, bảo quản thì cơ quan ra quyết tạm giữ, lệnh tạm giam phải áp dụng những biện pháp trông nom, bảo quản thích đáng và cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam thông báo cho người bị tạm giữ, tạm giam biết những biện pháp đã được áp dụng
Thời hạn tạm giam được quy định cụ thể và chi tiết trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003 Cụ thể là, Điều 120 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định
về thời hạn tạm giam trong giai đoạn điều tra Theo đó, thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá
ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là mười ngày trước khi hết hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam Việc gia hạn tạm giam phải theo quy định như sau: Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá một tháng; đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá hai tháng và lần thứ hai không quá một tháng; đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng, lần thứ hai không quá hai tháng; đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam
ba lần, mỗi lần không quá bốn tháng [44]
Về thời hạn tạm giam trong giai đoạn truy tố được tính từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra trong thời hạn hai mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, ba mươi ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn, nhưng không quá
Trang 21mười ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; không quá mười lăm ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng; không quá ba mươi ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng [44, Điều 166] Điều 177, 228
Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định về thời hạn tạm giam trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và sau khi tuyên án; Điều 243 Bộ luật tố tụng hình sự
2003 quy định về thời hạn tạm giam khi xét xử phúc thẩm; Điều 250 Bộ luật
tố tụng hình sự 2003 quy định về thời hạn tạm giam khi cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại; Điều 287 Bộ luật tố tụng hình
sự 2003 quy định về thời hạn tạm giam khi giám đốc thẩm hủy bản án đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại
Như vậy, trên cơ sở phân tích trên đây có thể rút ra khái niệm: Tạm
giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất trong tố tụng hình sự do những người có thẩm quyền thuộc cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa
án áp dụng đối với bị can, bị cáo nhằm cách ly họ ra khỏi đời sống xã hội trong một khoảng thời gian nhất định để ngăn chặn tội phạm hoặc ngăn ngừa người thực hiện hành vi phạm tội trốn, cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án
1.1.3 Thi hành án hình sự
Hiến pháp 2013 khẳng định, các bản án, quyết định của Tòa án nhân
dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan,
tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành [47, Điều 106] Yêu cầu mang tính nguyên tắc Hiến định này đã khẳng định hiệu lực thi hành của tất cả các phán quyết của Tòa án khi có hiệu lực pháp luật đồng thời khẳng định ý nghĩa rất quan trọng của vấn đề thi hành án nói chung và thi hành án hình sự nói riêng Đồng thời, thi hành án hình sự có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết vụ án, vì nếu như vụ án sau khi được xét xử mà không mang ra thi hành thì tính quyền uy, nghiêm khắc, trừng trị hay giáo dục của pháp luật hình sự không còn nữa Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng
Trang 22trong quá trình tố tụng hình sự, nó hiện thực hóa bản án kết tội của Tòa án vào trong thực tế và bản án chính là căn cứ để tiến hành hoạt động thi hành án hình sự Mục đích của thi hành án hình sự không chỉ trừng trị người phạm tội
mà còn cải tạo, giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, khi họ tái hòa nhập với xã hội không tiếp tục phạm tội mới
Theo Đại Từ điển tiếng Việt, thi hành là: "Thực hiện điều đã chính thức quyết định" [65, tr 1497] Như vậy, thi hành án có thể được hiểu là thực hiện bản án, quyết định của Tòa án trên thực tế; còn thi hành án hình sự là thực hiện các bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trên thực tế [49, tr 5] Thi hành án hình sự là một hoạt động mang tính hành chính - tư pháp hình sự vì nó có những đặc thù riêng khác với hoạt động tố tụng hình sự [64, tr 22] Thi hành án hình sự là hoạt động mang tính điều hành và chấp hành theo đặc trưng của quản lý hành chính, phương pháp trong quá trình thi hành án là phương pháp thuyết phục giáo dục và mệnh lệnh hành chính, việc thi hành án có liên hệ với chính quyền địa phương, theo thủ tục hành chính như trường hợp thi hành án treo, cải tạo không giam giữ thì người chấp hành án treo, cải tạo không giam giữ được giao về Ủy ban nhân dân phường, xã nơi người chấp hành án cư trú để theo dõi, giám sát, giáo dục Nếu tất cả đều hướng đến một phán quyết đúng đắn của Tòa án thì thi hành án hình sự lại nhằm mục đích thực hiện nội dung các phán quyết đó của Tòa án Nhưng thi hành án hình sự có mối quan hệ biện chứng giữa quá trình tố tụng hình sự, không có tố tụng thì không có thi hành án và ngược lại không có thi hành án thì tố tụng trở nên vô nghĩa [64 tr 24-26]
Phạm vi của thi hành án hình sự bao gồm thi hành bản án, quyết định
về hình phạt tù, tử hình, cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, quản chế, trục xuất, tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, án treo, biện pháp tư pháp Theo đó, khoản 3, 5, 6 Điều 3 Luật thi hành án hình sự năm 2010 giải thích:
Trang 23Thi hành án phạt tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc phạm nhân phải chịu sự quản lý giam giữ, giáo dục, cải tạo để họ trở thành người có ích cho xã hội Thi hành án treo là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này giám sát, giáo dục người bị phạt tù được hưởng án treo trong thời gian thử thách Thi hành án phạt cải tạo không giam giữ là việc
cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này giám sát, giáo dục người chấp hành án tại xã, phường, thị trấn và khấu trừ thu nhập sung quỹ nhà nước theo bản án đã có hiệu lực pháp luật [46] Các bản án hoặc quyết định được thi hành bao gồm: bản án hoặc phần bản án của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm; bản án của Tòa án cấp phúc thẩm; quyết định giám đốc thẩm hoặc tái
thẩm của Tòa án; bản án hoặc quyết định của Tòa án được thi hành ngay theo
quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quyết định của Tòa án Việt Nam tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam chấp hành án và đã
có quyết định thi hành; quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài; bản án, quyết định về áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng
Như vậy, qua sự phân tích trên đây có thể rút ra khái niệm: thi hành
án hình sự là việc đưa ra thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật do cơ quan có thẩm quyền áp dụng nhằm hiện thực hóa bản án của Tòa án, góp phần lập lại trật tự xã hội, công bằng, trừng trị đồng thời cải tạo, giáo dục người phạm tội cũng như phòng ngừa tội phạm
1.2 KHÁI NIỆM, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG KIỂM SÁT TẠM GIỮ, TẠM GIAM VÀ THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
1.2.1 Khái niệm kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự
Theo Từ điển Tiếng Việt thì "kiểm sát" có nghĩa là "kiểm tra và giám sát" Theo Từ điển Luật học 2006 thì kiểm sát các hoạt động tư pháp là kiểm
Trang 24tra, xem xét theo dõi việc tuân theo pháp luật đối với hoạt động điều tra, truy
tố, xét xử, thi hành án, giam giữ, cải tạo của các cơ quan tiến hành tố tụng và giải quyết các hành vi phạm pháp, kiện tụng trong nhân dân bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất [54] Kiểm sát là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước, đảm bảo việc tuân theo pháp luật trong quá trình hoạt động tư pháp của các chủ thể Khi tiến hành kiểm sát, phát hiện
có vi phạm Viện kiểm sát nhân dân ban hành kiến nghị hoặc kháng nghị kịp thời để khắc phục vi phạm của các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự Mục đích của việc kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự nhằm phát hiện nhanh chóng, kịp thời, chính xác những vi phạm pháp luật trong công tác tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự, đảm bảo việc giam, giữ và thi hành án hình sự có căn cứ, đúng pháp luật đồng thời kiến nghị, kháng nghị để khắc phục kịp thời cũng như hạn chế những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự của cơ quan, đơn vị và những người có trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự
Đối tượng của công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự là việc tuân theo pháp luật của Tòa án, nhà tạm giữ, trại tạm giam; cơ quan quản lý thi hành án hình sự; cơ quan thi hành án hình sự; cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự và người có trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự là Trưởng nhà tạm giữ, Giám thị trại tạm giam, Giám thị trại giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự và người khác có trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam và thi hành
án hình sự theo quy định của pháp luật Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam bảo đảm việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình
sự có căn cứ theo luật định, kịp thời phát hiện và xử lý những vi phạm trong việc quản lý tạm giữ, tạm giam của Nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam
Phạm vi của công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam bắt đầu từ khi có người bị tạm giữ, tạm giam Phạm vi công tác kiểm sát thi hành án hình sự bắt
Trang 25đầu từ khi có bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án hình sự Công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam kết thúc khi chấm dứt việc tạm giữ, tạm giam Công tác kiểm sát việc thi hành án hình sự kết thúc khi chấm dứt việc thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật [63, Điều 3] Hoạt động kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự có thể tiến hành thường kỳ và bất thường để đảm bảo cho việc phát hiện những vi phạm và khắc phục kịp thời Điều 26 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002 quy định:
Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn vị và người có trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù, nhằm bảo đảm: Việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù theo đúng quy định của pháp luật; chế độ tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù được chấp hành nghiêm chỉnh; tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án phạt tù và các quyền khác của họ không bị pháp luật tước bỏ được tôn trọng [43]
Trên cơ sở những phân tích trên có thể rút ra khái niệm kiểm sát tạm
giữ, tạm giam và thi hành án hình sự là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong việc áp dụng các quy định của pháp luật để kiểm sát hoạt động của các đơn vị, tổ chức, người có trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự nhằm đảm bảo việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự theo đúng quy định của pháp luật, chế độ tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự phải được chấp hành nghiêm chỉnh và đảm bảo tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án và các quyền khác của họ không bị pháp luật tước bỏ được tôn trọng
Công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự giữ vai trò rất quan trọng Qua công tác này, Viện kiểm sát nhân dân phát hiện kịp thời những vi phạm của Nhà tạm giữ, trại tạm giam, người có trách nhiệm trong
Trang 26việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự để kịp thời kiến nghị, kháng nghị đối với những tổ chức có vi phạm nhằm đảm bảo cho việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự tuân theo pháp luật được thống nhất, chính xác và kịp thời
1.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự
Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp
là một chức năng hiến định Điều 107 Hiến pháp năm 2013 đã quy định:
Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát khác do luật định Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất [47] Như vậy, ngoài chức năng thực hành quyền công tố thì chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp, bảo đảm cho việc áp dụng pháp luật, thực thi pháp luật trên thực tế được thống nhất, chính xác, kịp thời và công minh cũng
là một chức năng rất quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân Hoạt động kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực này là hết sức cần thiết và
là một yêu cầu khách quan của quá trình giải quyết các vụ án hình sự Bên cạnh đó, hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự là một trong những hoạt động kiểm sát thực
hiện chức năng Viện kiểm sát nhân dân Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
năm 2002 đã quy định cụ thể chức năng và nhiệm vụ cụ thể đối với công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam tại Điều 1 và Điều 3, theo đó: "Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật" [43] và:
Trang 27Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ bằng những công tác sau đây: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án nhân dân; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù [43]
Cụ thể hóa nhiệm vụ đó, Điều 27 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định khi thực hiện công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù, Viện kiểm sát nhân dân phải thường kỳ và bất thường trực tiếp kiểm sát tại nhà tạm giữ, trại tạm giam và trại giam; kiểm tra hồ sơ, tài liệu của cơ quan cùng cấp và cấp dưới có trách nhiệm tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù; gặp, hỏi người bị tạm giữ, tạm giam và người chấp hành án phạt tù về việc giam, giữ; tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo về việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù; yêu cầu cơ quan cùng cấp và cấp dưới quản lý nơi tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành
án phạt tù kiểm tra những nơi đó và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát nhân dân; yêu cầu cơ quan cùng cấp, cấp dưới và người có trách nhiệm thông báo tình hình tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù; trả lời về quyết định, biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù; kháng nghị với cơ quan cùng cấp và cấp dưới yêu cầu đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù, chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật và yêu cầu xử lý người vi phạm pháp luật
Trong công tác kiểm sát thi hành án, Điều 23 và Điều 24 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định: Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan trong việc thi hành bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và những bản án, quyết định được thi
Trang 28hành ngay theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm các bản án, quyết định
đó được thi hành đúng pháp luật, đầy đủ, kịp thời Khi thực hiện công tác kiểm sát thi hành án, Viện kiểm sát nhân dân phải tuân thủ những nhiệm vụ, quyền hạn sau: Yêu cầu Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án cùng cấp và cấp dưới, Chấp hành viên, các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan đến việc thi hành án:
+ Ra quyết định thi hành án đúng quy định của pháp luật;
+ Tự kiểm tra việc thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và những bản án, quyết định được thi hành ngay theo quy định của pháp luật và thông báo kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát nhân dân;
+ Thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và những bản
án, quyết định được thi hành ngay theo quy định của pháp luật;
+ Cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng có liên quan đến việc thi hành án Viện kiểm sát nhân dân trực tiếp kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành án của cơ quan thi hành án cùng cấp và cấp dưới, Chấp hành viên, các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan và việc giải quyết kháng cáo, khiếu nại, tố cáo đối với việc thi hành án; tham gia việc xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích; đề nghị miễn chấp hành hình phạt theo quy định của pháp luật; kháng nghị với Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án cùng cấp và cấp dưới, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm trong việc thi hành án; yêu cầu đình chỉ việc thi hành án, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong việc thi hành án, chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật trong việc thi hành án; nếu có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự; trong trường hợp do pháp luật quy định thì khởi tố về dân sự [43, Điều 24]
Như vậy, công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình
sự là một trong các công tác kiểm sát thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân nhằm đảm bảo: Việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự theo đúng quy định của pháp luật; chế độ tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự
Trang 29được chấp hành nghiêm chỉnh; tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án và các quyền khác của họ không bị pháp luật tước bỏ được tôn trọng Bản án phải được thi hành nghiêm minh, đúng quy định pháp luật mang tính chất trừng phạt, răn đe và giáo dục người chấp hành án trở thành người có ích cho xã hội
Để bảo đảm cho công tác tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự được áp dụng một cách thống nhất, công minh, chính xác và kịp thời thì công tác kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự đóng một vai trò rất quan trọng, có ý nghĩa lớn trong công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm
Thứ nhất, là một trong những bảo đảm thực hiện dân chủ, tôn trọng và
bảo đảm các quyền tự do của công dân được Hiến pháp ghi nhận
Thứ hai, công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự là
một biện pháp "kiểm soát quyền lực" giữa các cơ quan tiến hành tố tụng Bởi
vì, nếu không có sự kiểm tra, giám sát thì việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự có thể dẫn đến phiến diện, chủ quan, không thống nhất và thiếu chính xác
1.3 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CÁC QUY PHẠM PHÁP LUẬT
VỀ KIỂM SÁT TẠM GIỮ, TẠM GIAM VÀ THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
Trang 30Như vậy, mặc dù trong giai đoạn này Viện kiểm sát nhân dân chưa ra đời nhưng chức năng kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và cải tạo phạm nhân là một trong những nhiệm vụ của Viện công tố được ghi nhận từ Nghị quyết ngày 25/1/1958 của Quốc hội Theo đó, Viện công tố có trách nhiệm phát hiện kịp thời những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực giam, giữ, cải tạo của những người và cơ quan có thẩm quyền để kịp thời ngăn chặn và xử lý Tuy nhiên, các quy phạm pháp luật quy định về nhiệm vụ kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự chưa được cụ thể hóa và đi vào hoạt động
1.3.2 Giai đoạn từ 1960 đến 1981
Hiến pháp năm 1959, Điều 105 quy định Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hòa kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan Nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan Nhà nước và công dân Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự có quyền kiểm sát trong phạm vi do luật định [34] Ngày 26/7/1960 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ra đời quy định cụ thể, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân nói chung và quy định về kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự nói riêng
Điểm e, Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1960 quy định:
"Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam giữ của các trại giam" [35] Như vậy, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
1960 đã chính thức ghi nhận nhiệm vụ của ngành Kiểm sát đảm bảo cho việc giam, giữ đúng theo quy định của pháp luật Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 cũng quy định 01 chương riêng về công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự Chương V - Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 quy định về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam giữ của các trại giam Trong đó, Điều 21, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 quy định, Viện kiểm sát nhân dân xem xét, kiểm tra các
sổ sách tài liệu về việc giam, giữ và trực tiếp hỏi người bị giam giữ để kịp
Trang 31thời phát hiện những oan, sai, đồng thời trả tự do cho họ hoặc ra những văn bản kiến nghị, kháng nghị đối với những trường hợp vi phạm pháp luật trong lĩnh vực giam, giữ, cải tạo Trường hợp có phạm tội thì truy cứu trách nhiệm hình sự Viện kiểm sát nhân dân cũng có trách nhiệm giải quyết đơn thư, khiếu nại trong việc giam, giữ góp phần cho việc giam giữ, bảo đảm không để một công dân vô tội bị giam giữ, bảo đảm cho thủ tục và chế độ giam giữ được chấp hành đúng đắn
Như vậy, trong giai đoạn này, nhiệm vụ kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân được ghi nhận chính thức trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 Đồng thời, quy định cụ thể, chi tiết cách thức thực hiện việc kiểm sát tạm giữ, tạm giam và cải tạo bảo đảm cho việc giam, giữ, cải tạo theo đúng quy định của pháp luật, kịp thời phát hiện vi phạm xử lý những trường hợp oan, sai và ban hành những kiến nghị, kháng nghị chấm dứt những vi phạm pháp luật của cơ quan, người
có thẩm quyền trong việc giam, giữ và cải tạo
1.3.3 Giai đoạn từ 1981 đến 2002
Kế thừa Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, khoản 5, điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 quy định nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam, giữ và cải tạo của Viện kiểm sát nhân dân Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn vị và người hữu quan trong việc chấp hành các bản án
và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật, nhằm bảo đảm các bản án và quyết định đó được chấp hành đúng pháp luật, đầy đủ, kịp thời Đồng thời, Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các
cơ quan, đơn vị có trách nhiệm trong các việc giam, giữ và cải tạo, nhằm bảo đảm việc giam, giữ và cải tạo theo đúng thủ tục pháp luật và có căn cứ, chế độ giam, giữ và cải tạo được chấp hành nghiêm chỉnh, tính mạng, tài sản, danh
dự, nhân phẩm và các quyền khác của đương sự không bị pháp luật tước bỏ
Trang 32được tôn trọng [43] Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 quy định những phương thức tiến hành kiểm sát Nhà tạm giữ, trại tạm giam nhằm bảo đảm mọi vi phạm pháp luật phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời, đưa ra những kiến nghị, kháng nghị để góp phần cho việc giam, giữ và cải tạo được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Bộ luật tố tụng hình sự 1988 quy định trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự Điều 23 Bộ luật tố tụng hình sự 1988 đã quy định chi tiết chức năng nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân:
Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Trong các giai đoạn của tố tụng hình sự, Viện kiểm sát có trách nhiệm áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào [39]
Trong đó, nhiệm vụ kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân, đối tượng của hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân đảm bảo việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự được xác định là việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan, đơn vị và người có trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam Đó là việc chấp hành pháp luật trong việc bảo đảm chế độ giam giữ, thời hạn giam giữ, tính có căn cứ và hợp pháp của lệnh tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 1988
Cụ thể hóa Bộ luật tố tụng hình sự 1988, Điều 1, phần những quy định chung của Thông tư liên ngành Bộ Nội vụ - Viện kiểm sát nhân dân tối cao số 02/TTLN ngày 06/9/1989 đã quy định việc Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát tuân theo pháp luật ở những nơi giam, giữ và cải tạo thuộc ngành công an
Trang 33quản lý nhằm đảm bảo các việc giam, giữ và cải tạo theo đúng thủ tục pháp luật và có căn cứ, các chế độ giam, giữ và cải tạo được chấp hành nghiêm chỉnh, tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm và các quyền khác của đương
sự không bị tước bỏ và tôn trọng
Chức năng kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự tiếp tục được khẳng định trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992 Điều 7, Pháp lệnh thi hành án phạt tù năm 1993 cũng khẳng định: "Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong công tác thi hành án phạt tù, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất" Như vậy, công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự được quy định cụ thể chi tiết và ngày càng được hoàn thiện Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng đã ban hành Quy chế số 43/QĐ ngày 20/7/1998 về công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù, trong đó quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn mà Viện kiểm sát nhân dân trong khi tiến hành kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án phạt tù, cũng như các biện pháp, cách thức tiến hành kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự
1.3.4 Giai đoạn từ 2002 đến nay
Nhiệm vụ kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân trong việc thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ
đó, Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 khẳng định: "Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản
án, quyết định của Tòa án nhân dân, Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù" [41]
Bộ luật tố tụng hình sự 2003 cũng khẳng định Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt
Trang 34tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội [43] Để công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự được hiệu quả và thống nhất, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Quy chế tạm thời số 168 ngày 17/2/2004, Quy chế chính thức số 959/VKSTC-V4 ngày 17/9/2007 và được sửa đổi bổ sung bởi Quy chế số 35/QĐ-VKSTC-V4 ngày 29/01/2013 về công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự để thực hiện thống nhất trong toàn ngành kiểm sát Quy chế quy định cụ thể vị trí, vai trò, nhiệm
vụ quyền hạn, đối tượng, phạm vi và phương thức hoạt động của Viện kiểm
sát các cấp khi tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn vị và người có trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù nhằm đảm bảo việc tạm giữ, tạm giam và chấp hành án phạt tù theo đúng quy định của pháp luật, chế độ tạm giữ, tạm giam, chấp hành án được chấp hành nghiêm chỉnh; tính mạng, tài sản, danh
dự, nhân phẩm của người bị tạm giữ, tạm giam, người chấp hành án phạt tù và các quyền khác của họ không bị pháp luật, tước bỏ được tôn trọng Điều 1, Quy chế số 35/QĐ-VKSTC-V4 khẳng định công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự là một trong những nhiệm vụ quan trọng, thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân, theo quy định của Hiến pháp và pháp luật nhằm đảm bảo: việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự theo đúng quy định của pháp luật; chế độ tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự được chấp hành nghiêm chỉnh; tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị tạm giữ, tạm giam, người chấp hành
án phạt tù và các quyền khác của họ không bị pháp luật tước bỏ được tôn trọng; quyền khiếu nại, tố cáo những hành vi, quyết định trái pháp luật trong tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự được thực hiện theo pháp luật
Như vậy, trải qua hơn 50 năm hình thành và phát triển, ngay từ khi Viện kiểm sát nhân dân ra đời thì nhiệm vụ kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam
và thi hành án hình sự đã là nhiệm vụ quan trọng của Viện kiểm sát nhân dân được ghi nhận trong Hiến pháp, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân qua các
Trang 35thời kỳ, được hướng dẫn thi hành trong các thông tư liên tịch, được xây dựng thành những Quy chế để áp dụng thống nhất trong toàn ngành Kiểm sát, qua
đó đảm bảo việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Viện kiểm sát nhân dân kịp thời phát hiện, khắc phục những vi phạm, tồn tại, thiếu sót trong công tác tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong phạm vi chương 1 của luận văn, để có cái nhìn rõ hơn về chức năng kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân đảm bảo tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự của các cơ quan, đơn vị và người có trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự, tác giả đã phân tích, làm sáng tỏ khái niệm có liên quan, rút ra một số đặc điểm cơ bản về chủ thể, đối tượng, mục đích, tính chất, phạm vi và nội dung về tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự Qua đó, nghiên cứu, phân tích và đưa ra khái niệm, phạm vi, chức năng và những đặc điểm cơ bản về hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân đảm bảo việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực tạm giữ, tạm giam
và thi hành án hình sự, một trong các khâu công tác kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Tác giả cũng phân tích ý nghĩa của việc kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự Khái quát về sự phát triển các quy phạm pháp luật về công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn từ 1945 đến nay
Kết quả nghiên cứu này góp phần làm sáng tỏ lý luận chung và căn
cứ pháp lý của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân trong lĩnh vực tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự
Trang 36Chương 2
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VỀ KIỂM SÁT TẠM GIỮ, TẠM GIAM VÀ THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
2.1 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT TẠM GIỮ, TẠM GIAM VÀ THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
2.1.1 Quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong việc kiểm sát tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự
Về chức năng kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân: Chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện
kiểm sát nhân dân là chức năng Hiến định, trong đó việc kiểm sát tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự đóng vai trò hết sức quan trọng Cụ thể hóa chức năng đó, khoản 6 Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002 đã quy định: "Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù là một trong các công tác của Viện kiểm sát nhân dân" [43] Điều 37, Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định Kiểm sát viên có nhiệm vụ kiểm sát việc bắt, tạm giữ, tạm giam; kiểm sát việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án [44] Để áp dụng thống nhất trong việc kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành quy chế về kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự kèm theo Quyết định số 35 ngày 29/01/2013 và các điều 27, 28, 29 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn bằng phương thức sau: Hàng ngày kiểm sát việc bắt, tạm giữ, tạm giam, đột xuất trực tiếp kiểm sát tại nhà tạm giữ, trại tạm giam theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Ba tháng trực tiếp kiểm sát một lần theo từng nội dung và sáu tháng một lần trực tiếp kiểm sát toàn diện về việc bắt, tạm giữ, tạm giam; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh trực tiếp kiểm sát việc
Trang 37tuân theo pháp luật, kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu đối với trại giam đóng tại địa phương đó trong việc thi hành án phạt tù; kiểm tra hồ sơ, tài liệu về việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự; gặp, hỏi người bị tạm giữ, tạm giam
và người chấp hành án phạt tù về việc giam, giữ; tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo về việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc thi hành án hình sự; yêu cầu thông báo tình hình chấp hành pháp luật; cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan; ra quyết định thi hành án hình sự;
tự kiểm tra và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát; trả lời về quyết định, biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật; phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp oan, sai và vi phạm pháp luật trong tạm giữ, tạm giam và thi hành
án hình sự theo thẩm quyền; quyết định trả tự do ngay cho người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù không có căn cứ và trái pháp luật;
đề nghị và kiểm sát việc miễn, hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ chấp hành án; tham gia và kiểm sát việc xét, quyết định miễn, giảm thời hạn chấp hành án, chấp hành biện pháp tư pháp, rút ngắn thời gian thử thách của án treo; đề nghị
và kiểm sát việc hưởng thời hiệu thi hành bản án, xóa án tích; kiểm sát việc thực hiện Quyết định về đặc xá của Chủ tịch nước theo quy định của Luật đặc xá; kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu Tòa án, nhà tạm giữ, trại tạm giam; cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp và cấp dưới; cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự và cá nhân có liên quan trong việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự yêu cầu đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự; chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật và yêu cầu xử lý người vi phạm pháp luật; kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự; khởi tố hoặc yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố về hình sự khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm trong tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật
Trang 38Thực hiện chức năng nhiệm vụ đó, Viện kiểm sát nhân dân phải đảm bảo:
Mọi trường hợp tạm giữ phải đảm bảo đúng đối tượng, đúng thủ tục theo quy định và đối với họ đã có quyết định tạm giữ đang còn hiệu lực pháp luật của cơ quan và người có thẩm quyền; mọi trường hợp gia hạn tạm giữ phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn; trong thời hạn tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho người đã bị tạm giữ Khi nhận được quyết định trả tự do, quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giữ thì cơ quan, đơn vị và người có trách nhiệm trong việc tạm giữ phải chấp hành ngay; người bị tạm giam phải có lệnh hoặc quyết định hợp pháp và đang còn hiệu lực pháp luật của cơ quan và người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Hồ sơ tiếp nhận người bị tạm giữ, tạm giam vào nơi giam, giữ theo đúng quy định của pháp luật và được cập nhật đầy đủ các tài liệu phát sinh trong quá trình tạm giữ, tạm giam Kiểm sát chặt chẽ việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng nhà tạm giữ, Giám thị trại tạm giam; trong đó, chú ý việc thông báo bằng văn bản cho cơ quan đang thụ lý vụ, việc biết có người bị tạm giữ, tạm giam sắp hết thời hạn theo quy định; phối hợp với cơ quan quản lý giam, giữ yêu cầu
cơ quan có thẩm quyền khắc phục kịp thời các trường hợp quá hạn tạm giữ, tạm giam [58, Điều 4]
Về tiêu chuẩn, chế độ người bị tạm giữ, tạm giam về ăn, nhận quà, đồ dùng sinh hoạt của gia đình, khám chữa bệnh: Viện kiểm sát nhân dân phải
kiểm sát chặt chẽ, đúng định lượng, chất lượng, tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 26, và Điều 28 Quy chế về tạm giữ, tạm giam ban hành kèm theo Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07 tháng 11 năm 1998 đã được sửa đổi bổ sung tại Nghị định số 09/ NĐ-CP ngày 25/1/2011 Công tác quản lý, giam giữ phải tuân thủ nghiêm ngặt; việc giam, giữ được bố trí theo khu vực và phân loại theo quy định; chống thông cung, liên lạc, phá buồng giam, trốn khỏi nơi giam,
Trang 39giữ; vi phạm nội quy, quy chế nhà tạm giữ, trại tạm giam; phạm tội mới trong giam giữ; việc trích xuất, xử lý kỷ luật, bàn giao người bị tạm giữ, tạm giam của Trưởng nhà tạm giữ, Giám thị trại tạm giam theo quy định của pháp luật
Thông qua công tác kiểm sát, kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót
và vi phạm pháp luật trong công tác quản lý người bị tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự để kiến nghị hoặc kháng nghị yêu cầu Trưởng nhà tạm giữ, Giám thị trại tạm giam có biện pháp chấn chỉnh, tổ chức phòng ngừa và khắc phục nhằm hạn chế đến mức thấp nhất vi phạm, tội phạm xảy ra ở nơi giam, giữ; đảm bảo chế độ ăn, ở, mặc, nhận quà và đồ dùng sinh hoạt, thăm gặp, gửi thư, khám chữa bệnh thực hiện khối lượng, số lượng và chất lượng theo quy định của pháp luật
Về kiến nghị, kháng nghị: Điều 33 Quy chế công tác kiểm sát tạm
giữ, tạm giam và thi hành án hình sự được ban hành theo quyết định số 35/QĐ-VKSTC-V4 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao ngày 29 tháng 01 năm 2013 quy định khi phát hiện những việc được xác định là nguyên nhân, điều kiện dẫn đến vi phạm pháp luật hoặc những việc nếu không có biện pháp khắc phục sẽ dẫn đến vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát kiến nghị đến cơ quan
có thẩm quyền và người có trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam; cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp và cấp dưới; cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự và cá nhân có liên quan trong việc thi hành án hình sự có biện pháp khắc phục, phòng ngừa vi phạm pháp luật Viện kiểm sát kháng nghị nhà tạm giữ, trại tạm giam cùng cấp và cấp dưới, yêu cầu đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam; chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật của cơ quan, đơn vị và người có trách nhiệm trong việc tạm giữ, tạm giam và yêu cầu
xử lý người vi phạm pháp luật Khi thấy có căn cứ cho rằng Trưởng nhà tạm giữ, Giám thị trại tạm giam, trại giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình
sự, cơ quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự về việc thi hành án hình sự; ra quyết định có vi phạm pháp luật thì Viện kiểm sát
Trang 40kháng nghị yêu cầu đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có
vi phạm pháp luật đó
Đối với Tòa án, trong qua trình kiểm sát, nếu thấy rằng Lệnh, quyết định tạm giam trong giai đoạn xét xử của Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao và Hội đồng xét xử hoặc quyết định của Tòa án trong việc thi hành án trái pháp luật thì Viện kiểm sát nhân dân kháng nghị, yêu cầu đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định có vi phạm pháp luật hoặc chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật đó Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm những quyết định của Tòa án về miễn, giảm thời hạn chấp hành án phạt hoặc rút ngắn thời gian thử thách của án treo
Khi thực hiện công tác kiểm sát, nếu phát hiện quyết định sơ thẩm của Tòa án trái pháp luật thì Viện kiểm sát cùng cấp có trách nhiệm kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hoặc đề nghị Viện kiểm sát cấp trên kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo quy định của pháp luật
tố tụng hình sự
Theo Điều 11 Bộ luật tố tụng hình sự người bị tạm giữ, tạm giam có quyền nhờ người khác bào chữa Cơ quan quản lý giam giữ phải tạo điều kiện thuận lợi để người bị tạm giữ, tạm giam thực hiện quyền của họ Viện kiểm sát nhân dân các cấp bảo đảm cho họ thực hiện quyền này
Về việc đảm bảo tài sản: Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm kiểm
sát việc quản lý lưu ký tài sản của người bị tạm giữ, tạm giam, bảo đảm nguyên tắc có biên bản giao nhận, có chữ ký của người bị tạm giữ, tạm giam,
có sổ sách theo dõi và trả cho họ khi họ được trả tự do Nếu người bị tạm giữ, tạm giam chết thì trưởng nhà tạm giữ, giám thị trại tạm giam phải trả tài sản lưu ký cho người thân hoặc gia đình người chết
Về đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo của người bị tạm giữ, tạm giam:
Viện kiểm sát nhân dân các cấp phải khẩn trương xem xét, giải quyết theo