Tính cấp thiết của đề tài Các quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân với tư cách là một chế định của pháp luật hình sự Việt Nam bao gồm nh
Trang 1Đại học Quốc gia Hà nội Khoa luật
Nguyễn Mai Bộ
Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân- một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Trang 2Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Các quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân với tư cách là một chế định của pháp luật hình sự Việt Nam bao gồm những quy phạm pháp luật quy định về tội phạm và chế tài đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là công cụ pháp lý quan trọng của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và vi phạm kỷ luật trong Quân đội Cho nên, các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là đối tượng nghiên cứu của khoa học pháp lý hình sự
Các quy định pháp luật hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân đã được hình thành từ năm 1946 và ngày càng được hoàn thiện Việc ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 là một bước tiến quan trọng của Luật hình sự nói chung và chế định các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân nói riêng Bộ luật hình sự năm 1985 đã quy định “Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân” thành một chương độc lập Sau khi ban hành Bộ luật hình sự, các cơ quan hữu quan đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn áp dụng tạo cơ
sở pháp lý cho việc điều tra, truy tố, xét xử các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, bảo đảm đúng người, đúng tội và đúng pháp luật Tuy nhiên, một số quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân chưa chặt chẽ, thiếu tính khoa học và không bảo đảm tính lôgích với các quy định khác của Bộ luật hình sự Việc hướng dẫn thống nhất nhận thức và áp dụng các quy định nêu trên của Bộ luật hình sự chưa được đầy đủ, kịp thời Mặc dù, Bộ luật hình sự năm 1985 đã được sửa đổi bổ sung nhiều lần với các mức độ khác nhau, trong đó có lần sửa đổi cơ bản là ban hành Bộ luật hình sự năm 1999, nhưng những bất cập trong các
Trang 3quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân vẫn chưa được khắc phục triệt để Cá biệt có quy định của Bộ luật hình sự như quy định về tội vắng mặt trái phép được huỷ bỏ, quy định về tội đào ngũ sau khi được sửa đổi đã tạo ra nhiều bất cập, không bảo đảm cho việc đấu tranh phòng chống các tội phạm này
Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân cho thấy, số lượng vụ án về các tội phạm này chưa có chiều hướng giảm và diễn biến tội phạm càng trở nên phức tạp Có nhiều trường hợp, hành vi vi phạm nghĩa vụ trách nhiệm của quân nhân đã vượt ra ngoài phạm vi điều chỉnh của chế định các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân trong luật hình sự Việt Nam Các cơ quan tiến hành tố tụng trong Quân đội đã có nhiều cố gắng trong việc áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, giảm bớt tình trạng sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật Mặc dù vậy, việc áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết các vụ án về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế: để lọt tội phạm; một số trường hợp định tội danh chưa chính xác hoặc có nhiều quan điểm khác nhau do quy định không rõ ràng của Bộ luật hình sự hoặc do nhận thức thiếu thống nhất các quy định của pháp luật
Để đáp ứng kịp thời các yêu cầu cải cách tư pháp, đấu tranh phòng chống các hành vi xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân một cách có hệ thống về mặt lý luận, chỉ ra những hạn chế, vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng; trên cơ sở đó đưa ra những căn cứ khoa học nhằm
Trang 4hoàn thiện pháp luật hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là một việc làm cần thiết của khoa học luật hình sự hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Mặc dù các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân được quy định trong Bộ luật hình sự từ năm 1985 nhưng cho đến nay chưa có một luận án thạc sỹ hay luận án tiến sỹ nào nghiên cứ đề tài này Trong khoa học pháp lý hình sự, các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân đã được một số tác giả trong nước nghiên cứu ở các cấp độ và mức độ khác nhau ở cấp độ giáo trình, có: giáo trình Luật hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội, giáo trình Luật hình sự của Khoa luật trực thuộc Đại học quốc gia Hà Nội, giáo trình Luật hình sự của trường Đại học luật trực thuộc Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Trong các giáo trình Luật hình sự nêu trên, các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân mới chỉ được đề cập ở mức độ cơ bản ở cấp độ bình luận khoa học, phân tích chuyên sâu, có: Chương “Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân” của PGS TS Trần Văn Độ trong Bình luận khoa học Bộ luật hình sự của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý Bộ Tư pháp năm 2000; Chương “Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân” của TS Nguyễn Đức Mai trong Bình luận khoa học Bộ luật hình sự của Nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2000; sách chuyên khảo “ Tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân” của tập thể tác giả Lê Đức Tiết, Lê Tranh Trung, Nguyễn Hữu Hùng, Nguyễn Văn Hợp do Nhà xuất bản pháp lý phát hành năm 1987 Trong các cuốn bình luận khoa học Bộ luật hình sự và cuốn sách chuyên khảo nêu trên, các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc phân tích, giải thích (trong đó, sách chuyên khảo phân tích sâu hơn) các quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân làm cơ sở cho việc nhận thức
và áp dụng pháp luật trong công tác điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm này
Trang 5Ngoài những công trình nghiên cứu nêu trên, còn có một số bài viết đăng trên
các tạp chí như: Về cấu thành tội đào ngũ theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 và thực tiễn áp dụng của ThS Nguyễn Văn Trượng đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân số 12 năm 2000; Những vướng mắc từ thực tiễn xử lý tội đào ngũ của Lê Văn Sua đăng trên tạp chí Toà án nhân dân số 9 năm 2002; Bàn về tội đào ngũ quy định tại Điều 325 Bộ luật hình sự năm 1999 của ThS
Bùi Quang Thạch và CN Trương Hùng Biện đăng trên Tạp chí Kiểm sát số
24 năm 2006 Các giả của những bài tạp chí nêu trên mới chỉ nghiên cứu một tội phạm cụ thể (tội đào ngũ) trong Chương các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân Tác giả cũng đã nghiên cứu và công bố một số cuốn sách chuyên khảo về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
như: cuốn Tìm hiểu các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân năm 1998; cuốn Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân năm 2006; và một số bài tạp chí như: áp dụng hình phạt quản chế đối với quân nhân phạm tội đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân số 12 năm 1993, Tội đào ngũ đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân số 6 năm 1995 và Tước danh hiệu quân nhân đối với các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân số 3 năm 1998 Trong cuốn “Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân”, Nghiên cứu sinh đã chứng
minh, làm rõ các đặc điểm của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm hình
sự của quân nhân theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam trên cơ sở phân tích các đặc điểm của khái niệm tội phạm được đề cập tại Điều 8 Bộ luật hình
sự Đồng thời, phân tích bình luận về từng tội phạm cụ thể xâm phạm nghĩa
vụ, trách nhiệm của quân nhân
Nhìn chung, việc nghiên cứu các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân của các tác giả trong nước tuy đã đạt được những thành quả nhất định nhưng với những kết quả nêu trên, thì có thể nói việc nghiên cứu
Trang 6các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân vẫn còn là một khoảng trống trong khoa học luật hình sự Việt Nam Điều này cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu sâu hơn, toàn diện hơn cả về lý luận và thực tiễn áp dụng các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân để từng bước hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự về các tội phạm này Đó cũng chính
là lý do chúng tôi chọn đề tài “Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân- một số vấn đề lý luận và thực tiễn” làm đề tài nghiên cứu sinh của mình
Về tình hình nghiên cứu các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân ở nước ngoài, do khả năng và điều kiện hạn chế nên chúng tôi chỉ nắm được một số thông tin về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của
quân nhân được đề cập trong: cuốn Bình luận khoa học Luật về trách nhiệm hình sự của các tội quân sự năm 1986 của GS TS Axmetina X M., GS TS
Ter-Akopop, PGS.TS Procovich E V và Giáo trình luật hình sự của nhà xuất bản Pháp lý Matxcơva năm 1988 Trong đó, GS TS Axmetina X M đã phân tích rất kỹ đặc điểm của các tội phạm quân sự theo quy định của Bộ luật hình
sự Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga Kết quả nghiên cứu của
GS TS Axmetina X M có thể kế thừa và phát triển để xây dựng khái niệm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam Do có nhiều khó khăn trong việc tiếp cận, phân tích, đánh giá pháp luật nước ngoài nên trong luận án này chúng tôi chỉ phân tích
số quy định về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân trong
Bộ luật hình sự của một số nước đã được dịch ra tiếng Việt mang tích chất thông tin khoa học
Các kết quả nêu trên cho thấy, trong khoa học luật hình sự nói chung và khoa học luật hình sự Việt Nam nói riêng đã có một hệ thống lý luận về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân Kế thừa và phát triển
Trang 7những kết quả nghiên cứu của khoa học luật hình sự trước đây để nghiên cứu, xây dựng khái niệm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là việc làm cần thiết
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của luận án là nghiên cứu: thừa kế và phát triển lý luận về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân; đề xuất những giải pháp hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
Để đạt được các mục đích nêu trên, luận án đề ra các nhiệm vụ:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân như: sự cần thiết phải quy định trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm, nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân; khái niệm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân; cơ sở trách nhiệm hình sự và các hình thức trách nhiệm hình sự của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiêm của quân nhân;
- Xem xét, đánh giá tính khoa học, tích pháp lý những quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiêm của quân nhân;
- Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 8Đối tượng nghiên cứu của luận án là những quy định của pháp luật hình
sự Việt Nam về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự về loại tội phạm này
Phạm vi nghiên cứu của luận án là các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân trong pháp luật hình sự của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có sự so sánh đối chiếu với pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới; thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân từ khi Cách mạng tháng Tám thành công cho tới nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng cộng sản và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại
Đồng thời, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: hệ thống, lịch sử, so sánh luật học, thống kê, phân tích, tổng hợp và phương pháp chuyên gia
6 ý nghĩa của việc nghiên cứu và những đóng góp mới của luận án
Việc nghiên cứu đề tài “Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân – một số vấn đề lý luận và thực tiễn” có ý nghĩa rất lớn đối với việc: tuyên truyền giáo dục pháp luật cho quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam và các đối tượng liên quan; áp dụng pháp luật hình sự trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự các hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân; hoàn thiện pháp luật hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân theo tinh thần cải cách tư
Trang 9pháp; và giúp sinh viên các khoa luật chuyên ngành hình sự nghiên cứu sâu hơn về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
Đề tài là công trình khoa học đầu tiên ở cấp độ tiến sỹ nghiên cứu toàn
diện, hệ thống về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân trong pháp luật hình sự Việt Nam Những đóng góp mới của luận án là:
- Luận án chứng minh sự cần thiết phải quy định trách nhiệm hình sự của các hành vi xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân;
- Luận án đưa ra các khái niệm khoa học về: các tội xâm phạm nghĩa
vụ, trách nhiệm của quân nhân; cơ sở trách nhiệm hình sự của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân; các yếu tố cấu thành tội phạm (khái niệm khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan) của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân;
- Luận án nêu các hình thức trách nhiệm hình sự của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân;
- Luận án phân tích và chứng minh những bất cập trong các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và thực tiễn áp dụng chúng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự hành vi xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân;
- Luận án đã kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhiều quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
7 Cơ cấu của luận án
Cơ cấu của luận án, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án có ba chương:
Trang 10Chương 1 Những vấn đề lý luận chung về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
Chương 2 Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam
Chương 3 Thực tiễn áp dụng và những kiến nghị hoàn thiện Bộ luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
Chương 1 Những vấn đề lý luận chung về Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
1.1 Nhận thức chung về Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
1.1.1 Sự cần thiết phải quy định trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
Những hành vi vi phạm kỷ luật quân đội bao gồm hành vi vi phạm pháp luật Nhà nước và hành vi vi phạm Điều lệnh Quân đội, có mức độ nguy hiểm khác nhau cần được xử lý bởi các hình thức khác nhau Trong đó có hành vi bị xử lý hình sự, có hành vi bị xử lý kỷ luật Những hành vi vi phạm
kỷ luật quân đội bị xử lý hình sự là những hành vi có tính nguy hiểm cao cho
xã hội, vì gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Căn cứ vào tính chất các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ có thể chia những hành vi vi phạm kỷ luật quân đội bị xử lý hình sự thành: những hành vi phạm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm
Trang 11của quân nhân; và những hành vi phạm tội hình sự chung Trong đó, những hành vi phạm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là những hành vi do quân nhân và những người có nghĩa vụ, trách nhiệm như quân nhân thực hiện, xâm phạm quan hệ xã hội trong lĩnh vực quân sự Trách nhiệm hình sự của các hành vi này là trách nhiệm hình sự của các hành vi xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam chưa có định nghĩa nào về trách nhiệm hình sự của các hành vi xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân Nhưng xuất phát từ việc phân tích các định nghĩa khoa học về trách nhiệm hình sự[10, tr.9, 33, tr.126, 41, tr.14, 95, tr.49, 96, tr.45] và quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, chúng tôi nêu khái niệm trách nhiệm hình sự của các hành vi xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân như sau:
Trách nhiệm hình sự của các hành vi xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là trách nhiệm pháp lý hình sự mà người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế, chịu mang án tích do Toà án áp dụng tuỳ thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó đã thực hiện
Việc quy định trách nhiệm hình sự đối với hành vi xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân xuất phát từ các lý do sau đây:
Thứ nhất, xuất phát từ quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin về xây dựng quân đội cách mạng là “Trong quân đội cần có kỷ luật nghiêm khắc nhất”[100, tr 240] và sự nguy hại lớn nhất đối với kỷ luật quân đội và chế độ
phục vụ trong quân đội là tội phạm mà trách nhiệm hình sự của nó được thể hiện trong văn bản pháp luật hình sự [101, tr 563]
Trang 12Thứ hai, Luật hình sự là một ngành trong hệ thống pháp luật Việt Nam,
bao gồm hệ thống những quy phạm pháp luật, xác định những hành vi nguy hiểm cho xã hội (trong đó có hành vi xâm phạm nghĩa vụ trách nhiệm của quân nhân) là tội phạm; quy định loại và mức hình phạt áp dụng đối với từng tội phạm cụ thể Luật hình sự là công cụ quan trọng để bảo vệ những thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh chống và phòng ngừa mọi hành vi phạm tội, góp phần hoàn thành hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Việt Nam [93, tr.288]
Thứ ba, để bảo đảm nguyên tắc công bằng “ở việc không thoát khỏi trách nhiệm và sự tương xứng của trách nhiệm đối với hành vi vi phạm” [96,
tr.45]
Thứ tư, để làm cơ sở cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân theo nguyên tắc “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự [45, tr.15].”
Thứ năm, Bộ luật hình sự thể hiện tinh thần chủ động phòng ngừa và
kiên quyết đấu tranh chống mọi tội phạm và thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục, cảm hoá, cải tạo người phạm tội trở thành người lương thiện; qua
đó, bồi dưỡng cho mọi công dân tinh thần, ý thức làm chủ xã hội, ý thức tuân theo pháp luật, chủ động tham gia phòng ngừa tội phạm [45, tr.14]
Thứ sáu, chỉ những hành vi nguy hiểm cho quan hệ xã hội tồn tại trong
quân đội, do chủ thể đặc biệt (là quân nhân và những người có nghĩa vụ, trách nhiệm như quân nhân) thực hiện bằng hành động hoặc không hành động (vi phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân) gây thiệt hại cho sức mạnh, trình
Trang 13độ sẵn sàng chiến đấu và chế độ phục vụ trong quân đội (sẽ được trình bày tại Mục 1.2 của Luận án) mới bị quy định là tội phạm cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân Đó là những hành vi đã từng xảy ra nhiều trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ hoặc chưa từng xảy ra nhưng việc quy định trách nhiệm hình sự đối với nó có ý nghĩa giáo dục ý thức pháp luật và phòng ngừa tội phạm Mặt khác, Bộ luật hình sự Việt Nam là văn bản quy phạm pháp luật áp dụng cho cả thời bình và thời chiến Do vậy, Cơ quan lập pháp của Nhà nước ta chỉ quy định: 28 tội phạm cụ thể xâm phạm nghĩa
vụ, trách nhiệm của quân nhân trong Bộ luật hình sự năm 1985 và 27 tội phạm cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân trong Bộ luật hình sự năm 1999
Việc quy định trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm nghĩa
vụ, trách nhiệm của quân nhân có ý nghĩa rất lớn đối với việc bảo vệ sức mạnh của Quân đội Bởi lẽ, các yếu tố tạo nên sức mạnh của Quân đội bao gồm lực lượng, con người, vũ khí, phương tiện kỹ thuật, trang bị, tính tổ chức
và kỷ luật… Khả năng kinh tế của đất nước ta không cho phép duy trì một số lượng quân thường trực rất lớn, trang bị thật nhiều vũ khí, phương tiện kỹ thuật hiện đại Cho nên, cùng với việc xây dựng Quân đội từng bước hiện đại, đổi mới tổ chức lực lượng, đổi mới huấn luyện và đào tạo nhằm nâng cao chất lượng huấn luyện, cần tăng cường tính tổ chức và tính kỷ luật của Quân đội đáp ứng yêu cầu tác chiến trong điều kiện chiến tranh hiện đại [54, tr.3] như yêu cầu của V.I Lênin “trong quân đội cần có kỷ luật nghiêm khắc nhất”[100, tr.240]
Về ý nghĩa pháp lý, thì:
Thứ nhất, việc quy định trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm
phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là cơ sở pháp lý để xử lý người
Trang 14thực hiện hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
Thứ hai, thông qua việc “quy định trong luật” về các hình thức cưỡng
chế đối với người thực hiện hành vi phạm một trong các tội xâm phạm nghĩa
vụ, trách nhiệm của quân nhân sẽ tác động đến ý thức của quân nhân Từ đó tác động tới tâm lý quân nhân và những người có nghĩa vụ, trách nhiệm như quân nhân, tạo hiệu quả trong cảnh báo và răn đe nếu ai đó thực hiện hành vi xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
Thứ ba, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm một
trong các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là thông điệp cụ thể, trực quan “Nhà nước làm thật chứ không chỉ tuyên bố trong luật”
Thứ tư, cùng với việc áp dụng hình phạt, Toà án còn áp dụng biện
pháp tư pháp buộc người phạm tội cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra như: phạm tội huỷ hoại vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự thì phải bồi thường giá trị vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự bị huỷ hoại; phạm tội hành hung đồng đội gây thương tích phải bồi thường toàn bộ chi phí hợp lý mà bệnh viện quân y
đã bỏ ra cứu chữa, điều trị cho nạn nhân… Tất cả các khoản bồi thường nêu trên đều được đưa vào ngân sách quốc phòng để bù đắp lại những thiệt hại do hành vi xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân gây ra
Như vậy, việc quy định trách nhiệm hình sự đối với hành vi xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân không chỉ có ý nghĩa về lý luận, thực tiễn mà còn mang tính cấp thiết để bảo đảm sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam
1.1.2 Khái niệm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
Trang 15Khi quy định trách nhiệm hình sự cũng như nghiên cứu về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, vấn đề cơ bản và đầu tiên cần được giải quyết là phải đưa ra khái niệm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân Trước đây và hiện nay, các nước trên thế giới có một số khuynh hướng:
Một là, không quy định các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của
quân nhân trong Bộ luật hình sự như Bộ luật hình sự của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (được ban hành ngày 01/7/1979), Bộ luật hình sự Cộng hoà Pháp (Luật số 92-683 ngày 23/7/1992 sửa đổi các quy định chung của Bộ luật hình sự), Bộ luật hình sự Tây úc…;
Hai là, có quy định các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân
nhân trong Bộ luật hình sự nhưng không nêu định nghĩa các tội phạm này như
Bộ luật hình sự của Vương quốc Thuỵ Điển, Bộ luật hình sự nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam…;
Ba là, có quy định các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân
nhân và có nêu định nghĩa các tội phạm này trong Bộ luật hình sự như Bộ luật hình sự Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga (trước đây) và Liên bang Nga (ngày nay), Bộ luật hình sự Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (được ban hành ngày 01/10/1997)…
Các nước theo xu hướng thứ ba tuy có định nghĩa các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân trong Bộ luật hình sự của mình, nhưng mỗi nước lại có một cách định nghĩa khác nhau Trong Bộ luật hình sự Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga năm 1960 được sửa đổi, bổ sung
năm 1984, các tội phạm quân sự được định nghĩa tại Điều 237 là “những tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự xâm phạm chế độ phục vụ quân đội, do quân nhân cũng như những người có nghĩa vụ quân sự trong thời gian
Trang 16tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra sẵn sàng chiến đấu thực hiện” [101,
tr.128] Trong Bộ luật hình sự Liên bang Nga năm 1996, các tội xâm phạm
chế độ phục vụ trong quân đội được định nghĩa tại Điều 331 là “những tội phạm được quy định tại Chương này xâm phạm trật tự phục vụ trong quân đội, do quân nhân, những người được trưng tập hoặc phục vụ trong lực lượng
vũ trang Liên bang Nga theo hợp đồng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện thực hiện”[35, tr.143] Trong Bộ luật hình sự nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1997, tại Điều 420 quy định “Quân nhân có hành vi vi phạm chức trách gây nguy hại lợi ích quân sự quốc gia thì sẽ là phạm tội vi phạm chức trách quân nhân bị xử phạt theo quy định của pháp luật [15, tr.67].”
Phân tích các định nghĩa nêu trên về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, chúng tôi thấy:
Quy định tại Điều 237 Bộ luật hình sự Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga và Điều 331 Bộ luật hình sự Liên bang Nga mới chỉ nêu
được khách thể loại của các tội phạm quân sự (là chế độ phục vụ quân đội) và người phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này (là quân nhân, người được trưng tập hoặc phục vụ trong lực lượng vũ trang theo hợp đồng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện) mà chưa nêu được các tội
phạm quân sự có tính nguy hiểm cho xã hội cũng như tính có lỗi của loại tội phạm này Trong khi đó tại Điều 7 Bộ luật hình sự Liên bang Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Xô viết Nga lại đưa ra khái niệm “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự, xâm phạm….[35, tr.71]; và tại Điều 14 Bộ luật hình sự Liên bang Nga định nghĩa “Tội phạm là hành vi
có lỗi, nguy hiểm cho xã hội bị áp dụng hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự” Mặt khác về hình thức ngôn ngữ, tại các điều luật nêu trên dùng thuật ngữ “các tội quân sự là những tội phạm…; các tội xâm phạm chế độ
Trang 17phục vụ trong quân đội là những tội phạm…” là không khoa học Như vậy,
các khái niệm về các tội phạm quân sự được các nhà lập pháp Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga và Liên bang Nga quy định không bảo đảm tính lôgích hình thức giữa quy định tại Phần chung và Phần các tội phạm của
Bộ luật hình sự
Tại Điều 420 Bộ luật hình sự nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm
1997 cũng chỉ nêu được tội xâm phạm chức trách quân nhân là hành vi vi phạm chức trách gây nguy hại cho lợi ích quân sự quốc gia và chủ thể của các tội xâm phạm chức trách quân nhâ là quân nhân, mà chưa nêu được tính
“được quy định trong Bộ luật hình sự” và chưa liệt kê được đầy đủ chủ thể
của loại tội phạm này Mặc dù, tại Chương IX Bộ luật hình sự này lại quy định từng tội phạm cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân (từ
Điều 421 đến Điều 448); tại Điều 450 lại nêu “Chương này được áp dụng cho những học viên trong quân đội, binh sỹ, cán bộ, sỹ quan Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa và những học viên, binh sỹ, cán bộ, sỹ quan của bộ đội lực lượng vũ trang và cả những sỹ quan dự bị và những nhân viên khác”[15,
tr.71]
Việt Nam tuy theo xu hướng thứ hai (có quy định các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân trong Bộ luật hình sự nhưng không nêu định nghĩa tội phạm này), nhưng trong khoa học pháp lý hình sự cũng có một
số cách định nghĩa khác nhau về các tội xâm phạm nghĩa vụ trách nhiệm của
quân nhân Cách định nghĩa thứ nhất cho rằng, các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là loại tội xảy ra trong lĩnh vực hoạt động quân
sự của Quân đội [93, tr 458] Cách định nghĩa thứ hai cho rằng, “Tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiện của quân nhân được Bộ luật hình sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại Chương XI, do quân nhân tại ngũ, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, công dân được
Trang 18trưng tập vào phục vụ trong quân đội, dân quân tự vệ phối thuộc chiến đấu với quân đội, những người khác được quy định thuộc lực lượng vũ trang gây
ra và xâm hại đến việc duy trì, củng cố, phát triển trình độ sẵn sàng chiến đấu và sức mạnh của quân đội”[58, tr 33] Cách định nghĩa thứ ba cho rằng,
“Tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiện của quân nhân là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự thực hiện một cách
cố ý hoặc vô ý, xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân [6, tr.21]” Cách định nghĩa thứ tư cho rằng, “Tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiện của quân nhân là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình
sự, do những người có năng lực trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều
315 Bộ luật hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân”[6, tr.61]
Phân tích các cách định nghĩa nêu trên, chúng tôi thấy:
Cách định nghĩa thứ nhất mới chỉ nêu được lĩnh vực xảy ra các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân mà chưa trả lời được câu hỏi “Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là gì? được quy định ở đâu? do ai thực hiện? có lỗi hay không?” Cách định nghĩa thứ hai cũng chỉ mới nêu được khách thể loại và chủ thể của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân Cách định nghĩa thứ ba tuy có đầy đủ hơn nhưng cũng như cách định nghĩa thứ hai lại không chặt chẽ về thuật ngữ pháp lý vì trong
Bộ luật hình sự Việt Nam không có “Tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiện của quân nhân” mà chỉ có “Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiện của quân nhân” Quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 1985 về những người phải
chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân
nhân bao gồm: “Quân nhân tại ngũ, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, công dân đươc trưng tập vào phục vụ trong quân đội, dân
Trang 19quan tự vệ phối thuộc chiến đấu với quân đội, những người khác được quy định là lực lượng vũ trang” là chưa chính xác Bởi lẽ, theo quy định của pháp
luật, thì Lực lượng vũ trang Việt Nam bao gồm Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Dân quân tự vệ [48 tr.12] Trong đó hành vi xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của Công an nhân dân do sỹ quan, hạ sỹ quan, công nhân, viên chức Công an nhân dân chỉ có thể xâm phạm sức mạnh của Công an nhân dân
chứ không thể xâm phạm sức mạnh của Quân đội Cho nên, nội dung được
nêu trong cách định nghĩa thứ hai và thứ ba cũng không bảo đảm chính xác về phạm vi khái niệm Cách định nghĩa thứ tư cũng không chính xác về thuật
ngữ pháp lý vì đó là định nghĩa về “Tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân”, một tội danh không được quy định trong Bộ luật hình sự hiện
hành Mặc dù nội dung đề cập trong khái niệm này là một số dấu hiệu của các
tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân như: hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do những người có năng lực trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 315 Bộ luật hình sự thực hiện một cách có lỗi, xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
Như vậy, trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam chưa có định nghĩa đầy đủ, chính xác và bảo đảm tính lôgích với quy định tại Điều 8 Bộ luật hình
sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân Theo chúng tôi, các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là một loại tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự Do vậy, khái niệm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân cũng bao gồm các những dấu hiệu chung của khái niệm tội phạm Nghĩa là các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân cũng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân Quân đội nhân dân Việt Nam Trên cơ sở pháp lý quy định tại khoản 1 Điều 8
Trang 20Bộ luật hình sự hiện hành, các quan điểm khoa học về các đặc điểm của tội phạm nói chung [11, tr.297, 21, tr.59, 28, tr.38, 56, tr.5-6, 95, tr.78-84] và của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân nói riêng [7, tr 13-22,
99, tr 13-22], chúng tôi cho rằng các dấu hiệu chung của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân bao gồm: các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là những hành vi nguy hiểm cho xã hội; các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là những hành vi được quy định trong Bộ luật hình sự; các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện; các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là những hành vi có lỗi; các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là những hành vi phải chịu hình phạt Các dấu hiệu nêu trên được thể hiện trong cấu thành tội phạm của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân Nghiên cứu các dấu hiệu của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân (thông qua việc nghiên cứu cấu thành tội phạm sẽ được trình bày ở Tiểu mục 1.2.2), đối chiếu với quy định của Bộ luật hình sự một số nước (đã trình bày ở phần trên) và của Bộ luật hình sự Việt Nam, chúng tôi thấy:
So với các tội phạm được quy định tại các chương khác của Bộ luật hình sự, thì các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân có hai điểm khác nhau cơ bản thể hiện ở hai yếu tố cấu thành tội phạm là khách thể
và chủ thể của tội phạm Khách thể của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là những quan hệ xã hội chỉ tồn tại trong quân đội Đó
là quan hệ giữa đơn vị quân đội với quân nhân trong đơn vị, công dân được trưng tập vào phục vụ trong đơn vị và dân quân, tự vệ phối thuộc với đơn vị trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu; quan hệ giữa các quân nhân với nhau
và quan hệ giữa quân nhân với những người không phải là quân nhân trong quá trình phối thuộc chiến đấu, phục vụ chiến đấu, tập trung huấn luyện,
Trang 21trưng tập vào phục vụ trong quân đội Chủ thể của các tội xâm phạm nghĩa
vụ, trách nhiệm của quân nhân là những người được quy định tại Điều 315 Bộ luật hình sự Hai yếu tố còn lại là mặt khách quan và mặt chủ quan tuy có một
số điểm khác nhau về tính chất và được thể hiện trong từng điều luật quy định
về các tội phạm cụ thể nhưng nói chung là giống nhau Do đó, nếu một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng (hành vi và con người đó) không được quy định tại Chương XXIII Bộ luật hình sự năm 1999, thì chỉ có thể dẫn đến một trong hai hậu quả pháp lý sau đây:
Thứ nhất, nếu hành vi đó không đủ yếu tố cấu thành tội phạm hoặc tuy
có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng
kể, thì đó là hành vi vi phạm kỷ luật được xử lý theo quy định của Điều lệnh quản lý bộ đội
Thứ hai, nếu hành vi đó có đủ yếu tố cấu thành tội phạm, thì người thực
hiện hành vi đó bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tương ứng được quy định tại các chương khác (không phải là Chương XXIII) Phần các tội phạm
Bộ luật hình sự
Do vậy, có thể kết luận đặc điểm đặc thù của các tội xâm phạm nghĩa
vụ, trách nhiệm của quân nhân được thể hiện ở hai yếu tố cấu thành tội phạm
là khách thể và chủ thể của tội phạm Từ cách đặt vấn đề, trên cơ sở phân tích các đấu hiệu của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và các định nghĩa khác nhau về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân; chúng tôi nêu khái niệm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân như sau:
Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là những hành
vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Chương XXIII Bộ luật hình sự, do những người sau đây có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố
Trang 22ý hoặc vô ý, xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân: quân nhân tại ngũ; quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện; công dân được trưng tập vào phục vụ trong quân đội; dân quân, tự vệ phối thuộc với quân đội trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu
Khái niệm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân nêu trên vừa thể hiện các dấu hiệu chung của khái niệm tội phạm được quy định tại Điều 8 Bộ luật hình sự vừa thể hiện các dấu hiệu đặc thù (là cơ sở để quy định) các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân thành một nhóm
tội phạm riêng, một phần trong thể thống nhất của Bộ luật hình sự Việt Nam
1.2 cơ sở Trách nhiệm hình sự của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
1.2.1 Khái niệm cơ sở trách nhiệm hình sự của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
Khi bàn về cơ sở trách nhiệm hình sự, trong khoa học luật hình sự của Liên Xô trước đây và Liên bang Nga hiện nay, về mặt nội dung có các quan điểm coi cơ sở của trách nhiệm hình sự là: lỗi; cấu thành tội phạm; tội phạm; hành vi có các dấu hiệu của cấu thành tội phạm; mối quan hệ nhân quả; việc thực hiện tội phạm- hành vi xử sự trái pháp luật cụ thể của con người; hành vi (bằng hành động hoặc không hành động) nguy hiểm cho xã hội, có tính chất lỗi, trái pháp luật, tức là tội phạm mà các dấu hiệu của nó có trong điều tương ứng của Phần riêng Bộ luật hình sự; khi có cấu thành tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho xã hội; việc xác định cấu thành tội phạm trong hành vi của người có tội v.v…[11, tr.628] Trong khoa học luật hình sự Việt Nam cũng có các quan điểm khác nhau về cơ sở trách nhiệm hình sự GS TSKH Đào Trí úc
cho rằng, cơ sở của trách nhiệm hình sự là “sự hiện diện của tất cả những dấu hiệu do luật định về tội phạm”[95, tr.43]; PGS TS Trần Văn Độ cho rằng, cơ
Trang 23sở của trách nhiệm hình sự là “tội phạm (tức hành vi nguy hiểm cho xã hội chứa đựng các yếu tố của cấu thành tội phạm)” [18, tr.182]; GS TS Đỗ Ngọc Quang cho rằng, cơ sở của trách nhiệm hình sự là “hành vi của một người khi thoả mãn các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong luật hình sự”[40, tr.18]; GS TS Nguyễn Ngọc Hoà cho rằng, “cấu thành tội phạm trong luật hình sự được coi là cơ sở pháp lý và sự thoả mãn cấu thành tội phạm là điều kiện cần và đủ của trách nhiệm hình sự”[29, tr.9-10] Trên
cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý quy định tại Điều 2 Bộ luật hình sự hiện hành
“Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”[45, tr.15] Từ kết quả của việc phân tích các quan điểm
của các nhà khoa học pháp lý hình sự về cơ sở của trách nhiệm hình sự, chúng tôi đồng tình với quan điểm cho rằng, tội phạm (tức hành vi nguy hiểm cho xã hội chứa đựng các yếu tố của cấu thành tội phạm) là cơ sở của trách nhiệm hình sự
Vậy cơ sở trách nhiệm hình sự của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là gì? Để giải đáp câu hỏi này, chúng tôi đồng tình với
GS TSKH Lê Cảm là về mặt phương pháp luật cần phải hiểu cơ sở trách nhiệm hình sự của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân trên cả ba bình diện: về mặt nội dung (khách quan); về mặt hình thức; và về mặt quy phạm [11, tr.626] Trong đó:
- Về nội dung, không phải tất cả những hành vi nguy hiểm cho xã hội
do quân nhân và những người có nghĩa vụ, trách nhiệm như quân nhân thực hiện mà luật hình sự quy định là tội phạm thì đều là những tội phạm cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân Bởi lẽ, quân nhân vừa có các quyền và nghĩa vụ công dân vừa có nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân Cho nên, mặc dù bị luật hình sự quy định là tội phạm nhưng những hành vi nguy hiểm cho xã hội do quân nhân và những người có nghĩa vụ, trách nhiệm như
Trang 24quân nhân thực hiện xâm phạm nghĩa vụ công dân không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm khác Ví dụ:
Hành vi giết người, cướp tài sản, tham ô tài sản, buôn lậu…do quân nhân và những người có nghĩa vụ, trách nhiệm như quân nhân thực hiện là những hành vi xâm phạm nghĩa vụ công dân Cho nên, những hành vi đó không bị coi là phạm tội cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân mà bị coi là phạm tội giết người, tội cướp tài sản, tội tham ô tài sản, tội buôn lậu…
Còn những hành vi nguy hiểm cho xã hội do quân nhân và những người có nghĩa vụ, trách nhiệm như quân nhân thực hiện xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân mà luật hình sự quy định là tội phạm thì đều là tội phạm cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân Ví dụ:
Hành vi chống mệnh lệnh, đào ngũ, đầu hàng địch…do quân nhân và những người có nghĩa vụ, trách nhiệm như quân nhân thực hiện là những hành vi xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân Cho nên, những hành vi đó bị coi là phạm tội cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân như tội chống mệnh lệnh, tội đào ngũ, tội đầu hàng địch…
Từ những lập luận nêu trên, về mặt nội dung có thể đưa ra khái niệm cơ
sở khách quan của trách nhiệm hình sự của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách
nhiệm của quân nhân như sau: Cơ sở trách nhiệm hình sự của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm cụ thể xâm phạm nghĩa
vụ, trách nhiệm của quân nhân
- Về mặt hình thức, thì xuất phát từ việc phân tích khái niệm cơ sở hình thức của trách nhiệm hình sự của các nhà khoa học, chúng tôi đồng tình với
Trang 25quan điểm của GS.TSKH Lê Cảm [11, tr.632] cho rằng, cơ sở hình thức của trách nhiệm hình sự của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là căn cứ chung, có tính chất bắt buộc và do pháp luật quy định Bởi lẽ, hành vi khách quan của mỗi tội phạm cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm
do pháp luật hình sự quy định là căn cứ chung, yêu cầu bắt buộc đối với việc truy cứu trách nhiệm hình sự những hành vi cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân thoả mãn những dấu hiệu được mô tả trong pháp luật hình sự Ví dụ:
Hành vi đi khỏi đơn vị, nơi công tác, nơi điều trị, điều dưỡng, hành vi không trở lại đơn vị sau khi đi phép, đi công tác, đi điều trị, điều đưỡng và hành vi không đến đơn vị mới (khi được chuyển đơn vị), không đến nơi công tác, nơi điều trị, điều dưỡng đều là những biểu hiện cụ thể của hành vi đào ngũ Như vậy, “đào ngũ” là căn cứ chung do pháp luật hình sự quy định và chỉ có thể dựa vào đó mà có thể đặt vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự các hành vi nêu trên về tội đào ngũ
Vì vậy, có thể khái niệm cơ sở hình thức của trách nhiệm hình sự của
các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân như sau: Cơ sở trách nhiệm hình sự của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là căn cứ chung, có tính chất bắt buộc và do luật hình sự quy định mà cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải dựa vào đó để truy cứu trách nhiệm hình sự người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân bị luật hình sự cấm
- Về mặt quy phạm, trên cơ sở pháp lý quy định tại Điều 2 Bộ luật hình
sự hiện hành, chúng tôi cho rằng chỉ hành vi có đầy đủ các yếu tố cấu thành một tội phạm cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân được ghi nhận tại Chương XXIII “Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm hình sự
Trang 26của quân nhân” Bộ luật hình sự mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về loại tội phạm này Cho nên, có thể đưa ra khái niệm cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân như sau:
Cơ sở trách nhiệm hình sự của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là cấu thành tội phạm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân được ghi nhận trong luật hình sự
1.2.2 Cấu thành tội phạm của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
Cấu thành tội phạm của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là kết quả của sự phản ánh các tội phạm này trong luật hình sự, bao gồm các yếu tố khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
- Khách thể của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là khách thể loại của tội phạm, tức là khách thể của một nhóm tội phạm trong Bộ luật hình sự Khi nghiên cứu về khách thể của tội phạm, thì đa số các nhà khoa học luật hình sự cho rằng, khách thể của tội phạm là các quan hệ
xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại [11, tr.343, 18, tr.184,
29, tr.46, 95, tr.79] Nhưng khi bàn về khách thể của các tội xâm phạm nghĩa
vụ, trách nhiệm của quân nhân, còn có nhiều quan điểm khác nhau
Trong khoa học luật hình sự nước ngoài có một số quan điểm khác nhau về khách thể của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân:
GS TS Axmetsina X M cho rằng, khách thể loại của tất cả các tội phạm quân sự là trật tự phục vụ quân đội được quy định trong Lực lượng vũ trang [99, tr 14] PGS TS Prôcôpvich E V cho rằng, khách thể loại của các tội phạm quân sự là trật tự phục vụ quân đội - là tổng thể các quan hệ xã hội
Trang 27bảo đảm cho Lực lượng vũ trang (nói chung) thực hiện chức năng của mình một cách bình thường và các bộ phận của nó (nói riêng) thực hiện tốt nhiệm
vụ của mình [101, tr 564] GS TS Ter- Akôpôb A A thì cho rằng, khách thể loại của các tội xâm phạm chế độ phục vụ quân sự là trật tự phục vụ quân đội - là các quan hệ xã hội tồn tại trong Lực lượng vũ trang bảo đảm cho chúng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ nhà nước [104, tr 330] Còn các nhà lập pháp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, thì cho rằng khách thể của tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là lợi ích quân sự quốc gia [15, tr 67]
Phân tích các quan điểm nêu trên, chúng tôi thấy dù được định nghĩa theo cách nào, thì nội dung cốt lõi của khách thể loại của các tội phạm quân
sự hay các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân cũng là chế độ phục vụ trong quân đội và sức mạnh của quân đội trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam cũng có một số quan điểm khác nhau về khách thể của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân
nhân Quan điểm thứ nhất cho rằng, “các quy định của pháp luật Nhà nước, của điều lệnh, điều lệ của quân đội về chức năng, nhiệm vụ, cơ quan, tổ chức, quân đội, trách nhiệm, nghĩa vụ của quân nhân, các chế độ, quy tắc, nội quy, quy định về trình tự, thủ tục công tác của quân nhân làm cơ sở pháp lý phục
vụ cho việc xây dựng, củng cố, phát triển sức mạnh tổng hợp của quân đội đều là khách thể loại của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân”[57, tr 82] Quan điểm thứ hai cho rằng, “khách thể của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là các quan hệ xã hội tồn tại trong quân đội giữa các quân nhân và giữa họ với những người không phải là quân nhân trong khi thực hiện nhiệm vụ quân sự, huấn luyện quân sự, phối thuộc chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu”[7, tr 61- 62] Quan điểm thứ ba
Trang 28cho rằng, “khách thể của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân chính là sức mạnh, khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội và chế độ phục vụ trong quân đội”[36, tr 798] Quan điểm thứ tư cho rằng,“khách thể loại của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là sức mạnh, trình độ sẵn sàng chiến đấu và chế độ phục vụ trong quân đội”[20, tr 393- 394].
Nghiên cứu các quan điểm nêu trên, chúng tôi thấy: các quy định của pháp luật Nhà nước, của điều lệnh, điều lệ quân đội chỉ là hình thức biểu hiện của các quy phạm pháp luật và quy phạm hành chính quân sự mà nội dung của nó là quy định về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của quân đội; nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân tại ngũ, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, công dân được trưng tập vào phục vụ trong quân đội, dân quân, tự
vệ phối thuộc với quân đội trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu; các chế
độ, quy tắc, nội quy, quy định về trình tự, thủ tục công tác của các đối tượng nêu trên Do vậy, các quy định của pháp luật Nhà nước, của điều lệnh, điều lệ của quân đội không thể là khách thể loại của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân
Cách định nghĩa thứ hai về khách thể của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là cách nói thổng quát theo giáo trình và mới chỉ dừng lại ở việc nêu môi trường tồn tại các quan hệ xã hội bị các tội phạm này xâm hại và quan hệ đó là quan hệ giữa quân nhân với nhau và giữa họ với những người không phải là quân nhân trong khi thực hiện nhiệm vụ quân sự, huấn luyện quân sự, phối thuộc chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu mà chưa nêu được quan hệ xã hội bị các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân xâm phạm còn là quan hệ giữa đơn vị quân đội với những người là chủ thể của các tội phạm này Bởi lẽ, khách thể trực tiếp của các tội chống mệnh lệnh, tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh, tội bỏ vị trí chiến đấu, tội đào ngũ, tội trốn tránh nhiệm vụ là quan hệ xã hội giữa đơn vị quân đội mà
Trang 29những người phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm này thuộc biên chế, được trưng tập, phối thuộc chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu với họ
Cách định nghĩa thứ ba và thứ tư gần giống hệt nhau và đều xuất phát
từ bản chất pháp lý, nội dung của các quan hệ xã hội bị các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân xâm phạm
Từ cách đặt vấn đề, nghiên cứu các định nghĩa khác nhau cũng như nghiên cứu bản chất khách thể của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, chúng tôi có thể khái niệm (về hình thức) khách thể loại của các tội xâm phạm nghĩa vụ trách nhiệm của quân nhân như sau:
Khách thể loại của các tội xâm phạm nghĩa vụ trách nhiệm của quân nhân là các quan hệ xã hội tồn tại trong quân đội giữa: đơn vị quân đội với quân nhân trong đơn vị, công dân được trưng tập vào phục vụ trong đơn vị và dân quân, tự vệ phối thuộc với đơn vị trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu; quân nhân, công dân (được trưng tập vào phục vụ trong quân đội) và dân quan, tự vệ (phối thuộc với quân đội trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu) với nhau
Khách thể của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
có tính đặc biệt Tính chất đặc biệt của khách thể các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân thể hiện ở chỗ quan hệ xã hội cùng tính chất bị xâm phạm, nhưng xâm phạm quan hệ đó trong quân đội, đối với quân nhân và những người có nghĩa vụ, trách nhiệm như quân nhân lại tỏ ra nguy hiểm hơn cho xã hội và cần phải đấu tranh phòng chống những hành vi xâm phạm các quan hệ này một cách cao hơn Cho nên, hành vi xâm phạm quan hệ đó trong quân đội bị coi là phạm tội và được quy định thành tội phạm riêng với chế tài nghiêm khắc hơn; còn hành vi xâm phạm quan hệ đó ngoài quân đội thì
không phải là tội phạm mà chỉ bị xử lý kỷ luật Ví dụ:
Trang 30Ví dụ 1: Xâm phạm quan hệ chỉ huy, phục tùng trong quân đội có tính
nguy hiểm cao hơn xâm phạm quan hệ chỉ huy, phục tùng trong các cơ quan,
tổ chức ngoài quân đội Bởi lẽ, xâm phạm các quan hệ chỉ huy, phục tùng bởi hành vi chống mệnh lệnh, chấp hành không nhiêm chỉnh lệnh ảnh hưởng rất lớn đến việc hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị, thậm chí phải đổ máu, thiệt hại
về người, về của, không giữu được khu vực đóng quân… Cho nên hành vi chống mệnh lệnh, chấp hành không nghiêm chỉnh lệnh do quân nhân và những người có nghĩa vụ, trách nhiệm như quân nhân thực hiện bị coi là phạm tội hình sự; còn hành vi chống lệnh, chấp hành không nhiêm chỉnh lệnh của cán bộ, công chức không bị coi là phạm tội hình sự
Ví dụ 2: Xâm phạm chế độ, quy định về bảo đảm bí mật công tác quân
sự, đặc biệt là bí mật quân sự về phòng thủ, kế hoạch chiến đấu là yêu cầu sống còn của hoạt động quân sự có thể gây thiệt hại rất lớn, đôi khi dẫn tới việc thất bại trong chiến đấu và tổ chức chiến đấu, thậm chí có thể bị trả giá bằng tính mạng, vũ khí, trang bị kỹ thuật Do vậy, xâm phạm chế độ, quy định
về bảo đảm bí mật công tác quân sự bởi các hành vi cố ý hoặc vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự, chiếm đoạt, mua bán, tiêu huỷ hoặc làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự đều bị coi là phạm tội Còn xâm phạm chế độ, quy định
về bảo đảm bí mật công tác bởi các hành vi cố ý hoặc vô ý làm lộ bí mật công tác, chiếm đoạt, mua bán, tiêu huỷ hoặc làm mất tài liệu bí mật công tác (không thuộc bí mật Nhà nước) do cán bộ, công chức thực hiện không bị coi
là phạm tội…
Nội dung những quan hệ xã hội nêu trên được quy định trong Luật nghĩa vụ quân sự, Luật về sỹ quan quân đội nhân dân Việt nam, Pháp lệnh bộ đội biên phòng, Pháp lệnh về dân quân tự vệ, Pháp lệnh về lực lượng dự bị động viên, Điều lệnh quản lý bộ đội, Điều lệ quân nhân chuyên nghiệp Nghiên cứu nội dung quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ thông qua việc
Trang 31quy định các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân chúng tôi thấy:
Nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, công dân được trưng tập vào phục vụ trong quân đội, dân quân, tự vệ khi phối thuộc với đơn vị quân đội chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu như: nghĩa vụ chấp hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên; nghĩa vụ chấp hành kỷ luật chiến đấu; nghĩa vụ phải có mặt tại đơn vị để sẵn sàng nhận và thực hiện nhiệm vụ… là khách thể loại của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân Bởi lẽ, theo quy định tại Chương XXIII Bộ luật hình sự, thì xâm phạm các nghĩa vụ nêu trên bị coi là phạm tội chống mệnh lệnh, tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh, tội đầu hàng địch, tội bỏ vị trí chiến đấu, tội đào ngũ, tội trốn tránh nhiệm vụ…
Theo quy định tại các điều từ Điều 319 đến 321 Bộ luật hình sự, thì hành vi xâm phạm sức khoẻ (chưa đến mức bị coi là phạm tội xâm phạm sức khoẻ của người khác), danh dự, nhân phẩm của quân nhân và những người có nghĩa vụ, trách nhiệm như quân nhân bị coi là phạm tội cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân Theo hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền về các tình tiết định tội, định khung hình phạt (gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng)[61, tr 6-7] của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, thì tính mạng, sức khoẻ (của quân nhân và những người có nghĩa vụ, trách nhiệm như quân nhân) và quan
hệ sở hữu tài sản cũng được coi là khách thể của một số tội phạm cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân Như vậy, tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm (của quân nhân và những người có nghĩa vụ, trách nhiệm như quân nhân), tài sản của Nhà nước và công dân chỉ bị xâm phạm bởi một
số tội phạm cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân Cho nên, tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm (của quân nhân và những người có
Trang 32nghĩa vụ, trách nhiệm như quân nhân), tài sản của Nhà nước và công dân không phải là khách thể loại của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
Trên cơ sở những phân tích nội dung các quan hệ xã hội được luật hình
sự bảo vệ thông qua việc quy định các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, chúng tôi nêu khái niệm (về nội dung) khách thể loại của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân như sau:
Khách thể loại của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là các quan hệ xã hội tồn tại trong quân đội, bao gồm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và những người có nghĩa vụ, trách nhiêm như quân nhân
Khách thể trực tiếp của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của
quân nhân là quan hệ xã hội cụ thể bị tội phạm cụ thể (xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân) trực tiếp gây thiệt hại hoặc đe doạ gây hại Bất cứ tội phạm cụ thể nào xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân cũng có khách thể trực tiếp Nghiên cứu các tội phạm cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, chúng tôi thấy khách thể trực tiếp của loại tội phạm này
là quan hệ xã hội về: chỉ huy, phục tùng; đoàn kết nội bộ quân đội; kỷ luật luật chiến đấu; chế độ phục vụ quân sự tại ngũ; chế độ công tác hàng ngày của quân nhân và những người có nghĩa vụ, trách nhiệm như quân nhân; chế
độ, quy tắc bảo quản, sử dụng vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự; và quan
hệ đoàn kết quân dân Trong đó, mỗi quan hệ xã hội là khách thể trực tiếp của
một nhóm tội phạm cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân Ví dụ: quan hệ chỉ huy, phục tùng là khách thể trực tiếp của tội chống mệnh lệnh,
tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh và tội cản trở đồng đội thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm; quan hệ đoàn kết quân dân là khách thể trực tiếp
Trang 33của tội quấy nhiễu nhân dân, tội lạm dụng nhu cầu quân sự trong khi thực hiện nhiệm vụ…
Việc xác định khách thể trực tiếp của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là căn cứ để chia những hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân thành những nhóm tội phạm khác nhau Căn cứ vào khách thể trực tiếp, có thể chia các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân thành bảy nhóm sau đây:
+ Nhóm 1, các tội xâm phạm quan hệ chỉ huy, phục tùng bao gồm: Tội
chống mệnh lệnh; Tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh; Tội cản trở đồng đội thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm
+ Nhóm 2, các tội xâm phạm quan hệ đoàn kết nội bộ quân đội bao
gồm: Tội làm nhục, hành hung người chỉ huy hoặc cấp trên; Tội làm nhục hoặc dùng nhục hình đối với cấp dưới; Tội làm nhục, hành hung đồng đội
+ Nhóm 3, các tội xâm phạm chế độ kỷ luật chiến đấu bao gồm: Tội
đầu hàng địch; Tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm
tù binh; Tội bỏ vị trí chiến đấu; Tội vi phạm chính sách đối với thương binh,
tử sỹ trong chiến đấu; Tội chiếm đoạt hoặc huỷ hoại chiến lợi phẩm; Tội ngược đãi tù binh, hàng binh
+ Nhóm 4, các tội xâm phạm chế độ thực hiện nghĩa vụ quân sự tại ngũ
bao gồm: Tội đào ngũ; Tội trốn tránh nhiệm vụ
+ Nhóm 5, các tội xâm phạm chế độ công tác hàng ngày của quân nhân
bao gồm: Tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự; Tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quân sự; Tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự; Tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự; Tội báo cáo sai; Tội vi phạm các quy định về trực chiến, trực chỉ huy, trực ban; Tội vi phạm các quy
Trang 34định về bảo vệ; Tội vi phạm các quy định về bảo đảm an toàn trong chiến đấu hoặc trong huấn luyện
+ Nhóm 6, các tội xâm phạm chế độ, quy tắc bảo quản, sử dụng vũ khí,
phương tiện kỹ thuật quân sự bao gồm: Tội vi phạm quy định về sử dụng vũ khí quân dụng; Tội huỷ hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; Tội làm mất hoặc vô ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự
+ Nhóm 7, các tội xâm phạm quan hệ đoàn kết quân, dân bao gồm: Tội
quấy nhiễu nhân dân; Tội lạm dụng nhu cầu quân sự trong khi thực hiện nhiệm vụ
Tuy nhiên, cách chia các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân theo căn cứ này chỉ có tính chất tương đối và để nghiên cứu các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân trong Bộ luật hình sự năm 1999 (được trình bày ở Chương II của Luận án) một cách có hệ thống Bởi lẽ, theo căn cứ nêu trên thì tội vi phạm các quy định về bảo đảm an toàn trong chiến đấu hoặc trong huấn luyện vừa thuộc nhóm tội xâm phạm chế độ công tác hàng ngày của quân nhân vừa thuộc nhóm tội xâm phạm chế độ kỷ luật chiến đấu Mặt khác, “phạm tội trong chiến đấu” còn được quy định là tình tiết định khung hình phạt của hầu hết các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
Đối tượng tác động của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là bộ phận của khách thể của nhóm tội phạm này, bị hành vi phạm tội tác động đến để gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho những quan hệ
xã hội được Luật hình sự bảo vệ [27, tr 84] Đối tượng của tội phạm cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân có thể: là con người như tội cản trở đồng đội thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm, tội làm nhục, hành hung
Trang 35người chỉ huy hoặc cấp trên (cấp dưới, đồng đội), tội ngược đãi tù binh, hàng binh; là vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự như tội huỷ hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, tội làm mất hoặc vô ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; là những công việc cụ thể phải làm hoặc không được làm như tội chống mệnh lệnh, tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh; là hoạt động bình thường của các đơn vị quân đội như tội đào ngũ, tội trốn tránh nhiệm vụ, tội vi phạm các quy định về trực chiến, trực chỉ huy, trực ban, tội vi phạm các quy định về bảo vệ; là bí mật công tác quân sự, tài liệu bí mật công tác quân sự như tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự, tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quân sự, tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự, tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự… Trong đó, những công việc cụ thể phải làm hoặc không được làm và hoạt động bình thường của các đơn vị quân đội có thể nói chung bằng một cụm từ là “hoạt động theo chức trách của quân nhân và những người có nghĩa vụ, trách nhiệm như quân nhân”
Từ những phân tích nêu trên có thể nêu khái niệm đối tượng tác động của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân như sau:
Đối tượng tác động của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là bộ phận của khách thể của nhóm tội phạm này, bị hành vi phạm tội tác động đến để gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho những quan hệ
xã hội được Luật hình sự bảo vệ thông qua việc quy định các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, bao gồm: hoạt động theo chức trách của quân nhân và những người có nghĩa vụ, trách nhiệm như quân nhân; vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự; bí mật quân sự, tài liệu bí mật quân sự
- Mặt khách quan của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là những biểu hiện của các tội phạm này diễn ra bên ngoài, là
Trang 36những yếu tố thuộc về thế giới khách quan Tuy nhiên, những biểu hiện ra bên ngoài của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân tồn tại ở thế giới khách quan được thể hiện bởi những dấu hiệu nào, thì còn có nhiều quan
điểm khác nhau Theo PGS TS Prôcôpvich E V thì mặt khách quan của các tội phạm quân sự được thể hiện bởi các hành vi (hành động hoặc không hành động) nguy hiểm cho xã hội; và nhiều tội phạm cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân đòi hỏi các dấu hiệu thời gian, địa điểm, thủ đoạn
và hoàn cảnh phạm tội là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt [103,
tr 565] Theo các tác giả Lê Đức Tiết, Lê Thanh Trung, Nguyễn Hữu Hùng
và Nguyễn Văn Hợp, thì mặt khách quan của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là sự thể hiện dưới dạng hành vi nhất định (hành động hoặc không hành động phạm tội)[57, tr 82] Còn theo PGS TS Trần Văn Độ và TS Nguyễn Đức Mai, thì mặt khách quan của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân được thể hiện bởi hành vi (hành động hoặc không hành động) nguy hiểm cho xã hội xâm phạm kỷ luật, sức mạnh chiến đấu, chế độ phục vụ, chế độ công tác trong quân đội; thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội [20, tr.394-395, 36, tr 799- 800].
Như vậy, các nhà khoa học pháp lý hình sự đều thống nhất dấu hiệu về mặt khách quan của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân bao gồm: hành vi nguy hiểm cho xã hội, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội Nghiên cứu các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của các tội phạm cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, chúng tôi thấy:
+ Hành vi khách quan là dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan của tất cả các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân Trong luật hình
sự, hành vi được hiểu là những biểu hiện của con người ra bên ngoài thế giới khách quan dưới những hình thức cụ thể nhằm đạt những mục đích có chủ định và có mong muốn [30, tr.94] Theo quy định của Bộ luật hình sự, thì tội
Trang 37phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội và được quy định trong Bộ luật hình
sự Do vậy, hành vi khách quan của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân có các đặc điểm: có tính nguy hiểm cho xã hội; là hoạt động có
ý thức và ý chí; có tính trái pháp luật hình sự Đối với những hành vi xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng biện pháp kỷ luật quân đội Việc phân biệt hành vi phạm tội cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân với hành vi xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân chưa đến mức bị coi là tội phạm được thực hiện theo Quyết định số 2530/2000/QĐ-BQP ngày 02/11/2000 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định về xử lý kỷ luật đối với những hành vi vi phạm chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự
Hành vi khách quan của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân có thể được mô tả hoặc chỉ được nêu tên trong điều luật cụ thể của Chương XXIII “Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân” Bộ
luật hình sự hiện hành dưới dạng hành động hoặc không hành động Đa số các
tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân được thực hiện bằng hành động và không hành động phạm tội Tuy nhiên, có một số ít tội phạm chỉ được thực hiện bằng hành động như: Tội làm nhục, hành hung người chỉ huy; Tội làm nhục, hành hung đồng đội; Tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh; Tội báo cáo sai; Tội huỷ hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; Tội chiếm đoạt hoặc huỷ hoại chiến lợi phẩm
Chuẩn bị phạm tội cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và phạm tội chưa đạt xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là những trường hợp chưa thực hiện đến cùng hành vi phạm tội nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự Bởi lẽ, về khách quan, người phạm tội đã có hành vi nguy hiểm cho xã hội và về chủ quan, việc dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị hay
Trang 38chưa đạt là do nguyên nhân ngoài ý muốn, còn bản thân người phạm tội vẫn mong muốn thực hiện tội phạm đến cùng[26, tr.152] Người chuẩn bị phạm tội, người phạm tội chưa đạt và người phạm tội hoàn thành xâm phạm nghĩa
vụ, trách nhiệm của quân nhân phải chịu trách nhiệm hình sự về cùng một tội danh, cùng một khung hình phạt được quy định tại cùng một điều luật của Chương “Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân” của Bộ luật hình sự Nhưng theo quy định của Bộ luật hình sự, thì mức độ trách nhiệm hình sự của các trường hợp chuẩm bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, phạm tội hoàn thành xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân không giống nhau Bởi lẽ, theo quy định tại các Điều 17 và 18 Bộ luật hình sự, thì: chỉ người nào chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân mới phải chịu trách nhiệm hình sự; người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự
về tội phạm (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng) chưa đạt
Và theo quy định tại khoản 2 và 3 Điều 52 Bộ luật hình sự, thì: đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội (rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng) xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng là không quá hai mươi năm tù (nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình) và không quá một phần hai mức hình phạt mà điều luật quy định (nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù có thời hạn); đối với trường hợp phạm tội chưa đạt xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, thì có thể áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng (nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình) và mức hình không quá ba phần tư mức hình phạt mà điều luật
Trang 39quy định (nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù có thời hạn)
+ Hậu quả của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
là thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho khách thể của các tội phạm này Thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho khách thể của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân thể hiện bởi sự biến đổi tình trạng bình thường của các bộ phận cấu thành khách thể của nhóm tội phạm này Bất cứ tội phạm cụ thể nào xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân cũng có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội và sự biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động [30, tr 102] của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân Nhưng không phải tất cả các cấu thành tội phạm của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân đều phản ánh dấu hiệu
“hậu quả nguy hiểm cho xã hội” Nghiên cứu các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, chúng tôi thấy:
Hậu quả nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu bắt buộc của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân có cấu thành vật chất như: Tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh; Tội báo cáo sai; Tội vi phạm các quy định về trực chiến, trực chỉ huy, trực ban; Tội vi phạm các quy định về bảo vệ; Tội vi phạm các quy định về bảo đảm an toàn trong chiến đấu hoặc trong huấn luyện; Tội vi phạm các quy định về sử dụng vũ khí quân dụng; Tội huỷ hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; Tội làm mất hoặc vô ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; Tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sĩ trong chiến đấu; Tội lạm dụng nhu cầu quân
sự trong khi thực hiện nhiệm vụ Để truy cứu trách nhiệm hình sự về hầu hết các tội phạm này, thì hậu quả do hành vi phạm tội gây ra phải là hậu quả nghiêm trọng Riêng đối với tội huỷ hoại vũ khí, thì chỉ cần có thiệt hại (vũ khí bị huỷ hoại hoặc bị mất) là đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự; còn trường hợp số lượng vũ
Trang 40khí bị mất hoặc bị huỷ hoại (bị coi là thiệt hại nghiêm trọng) thì bị coi là tình tiết định khung hình phạt của tội phạm này Bởi lẽ, theo quy định tại Thông tư liên tịch số 01/2003/TTLT-TANDTC- VKSNDTC- BCA-BTP-BQP ngày 11/8/2003 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp và Bộ Quốc phòng hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XXIII
“Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân” của Bộ luật hình sự năm 1999, thì chỉ các trường hợp huỷ hoại hoặc làm mất số lượng vũ khí sau đây mới bị coi là gây thiệt hại nghiêm trọng: từ 3 đến 10 khẩu súng ngắn, súng trường, súng tiểu liên; từ 1 đến 5 khẩu súng bộ binh khác như trung liên, đại liên, súng máy cao xạ 12,7 ly đến 25 ly, súng B40, B41; từ 5 đến 15 quả mìn, lựu đạn; từ 3 đến 10 quả đạn cối, đạn pháo; từ 300 đến 1.000 viên đạn bộ binh
cỡ 11,43 ly trở xuống; từ 200 đến 600 viên đạn súng máy cao xạ cỡ 12,7 ly đến 25 ly; từ 10 đến 30 kg thuốc nổ các loại; từ 1.000 đến 3.000 nụ xuỳ hoặc ống nổ; từ 3.000 đến 10.000 m dây cháy chậm, dây nổ v.v…[61, tr 7] Như vậy, trường hợp gây thiệt hại dưới mức nêu trên thì không bị coi là gây thiệt hại nghiêm trọng và không bị xử phạt theo quy định tại khoản 2 mà chỉ bị xử phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 334 Bộ luật hình sự
Tính chất và mức độ của hậu quả do hành vi phạm tội cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân gây ra được xác định bởi: tính chất và mức độ biến đổi đối tượng tác động của tội phạm; hoặc những đặc điểm (về chất và lượng) của chính đối tượng tác động đã bị hành vi xâm phạm nghĩa
vụ, trách nhiệm của quân nhân làm biến đổi tình trạng Tính chất và mức độ của hậu quả do hành vi phạm tội cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân gây ra là căn cứ để chia các tội phạm này thành: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng