1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Luật Hình sự Việt Nam - Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Nam Định

101 1,6K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thể chế hóa quy định của Hiến pháp, Bộ luật hình sự đã giành hẳn một chương quy định các tội xâm phạm sở hữu Chương XIV Bộ luật hình sự gồm từ Điều 133 đến Điều 145 trong đó tội lừa đảo

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN TIẾN DŨNG

TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM – TRÊN CƠ SỞ NGHIÊN CỨU THỰC

TIẾN TẠI ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Chuyên ngành:Luật Hình sự và Luật Tố tụng Hình sự

Mã số: 60380104

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS TRẦN VĂN DŨNG

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Nội dungcủa luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong công trình khoa học nào

Tác giả luận văn

Nguyễn Tiến Dũng

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TĂT

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU 1

Chương 1:MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 9

1.1 LỊCH SỬ LẬP PHÁP HÌNH SỰ VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 9

1.1.1 Từ năm 1945 đến trước khi ra đời Bộ luật hình sự 1985 9

1.1.2 Từ năm 1986 đến trước khi sửa đổi toàn diện Bộ luật hình sự vào năm 1999 12

1.1.3 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lần sửa đổi toàn diện vào năm 1999 18

1.1.4 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lần sửa đổi, bổ sung năm 2009 21

1.2 KHÁI NIỆM, CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH 22

1.2.1 Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 22

1.2.2 Dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 24

1.3 PHÂN BIỆT TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN VỚI MỘT SỐ TỘI PHẠM KHÁC CÓ LIÊN QUAN 36

1.3.1 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140 Bộ luật hình sự) 37

1.3.2 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lừa dối khách hàng (Điều 162 Bộ luật hình sự) 38

Trang 4

1.3.3 Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội đánh bạc (Điều 248 Bộ luật

hình sự) 39

1.3.4 Phân biệt tội lừa đảo với tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 226b) 40 Chương 2:TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN ĐIỀU TRA, TRUY TỐ, XÉT XỬ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TÌNH NAM ĐỊNH 42

2.1 TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG BLHS 1999 (SỬA ĐỔI NĂM 2009) 42

2.1.1 Khung cơ bản (Khoản 1 Điều 139) 43

2.1.2 Khung tăng nặng thứ nhất (Khoản 2 Điều 139) 43

2.1.3 Khung tăng nặng thứ hai (Khoản 3 Điều 139) 47

2.1.4 Khung tăng nặng thứ ba (Khoản 4 Điều 139) 48

2.1.5 Hình phạt bổ sung 50

2.1.6 Các biện pháp tư pháp 50

2.1.7 Trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong những trường hợp đặc biệt 51

2.2 THỰC TIỄN ĐIỀU TRA, TRUY TỐ, XÉT XỬ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH 54

2.2.1 Những đặc điểm về địa lý, kinh tế, xã hội của tỉnh Nam định có ảnh hưởng đến tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản 54

2.2.2 Kết quả điều tra, truy tố, xét xử tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định từ năm 2008 đến năm 2012 58

2.2.3 Một số đặc điểm của loại tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định 61

2.2.4 Một số đặc điểm liên quan đến chủ thể tội phạm 65

Trang 5

2.2.5 Địa bàn hoạt động 67

Chương 3 : MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH 69

3.1 MỘT SỐ BẤT CẬP HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ ÁP DỤNG TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN Ở TỈNH NAM ĐỊNH 69 3.1.1 Một số bất cập của Bộ luật hình sự 69 3.1.2 Những bất cập xuất phát từ hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật 72 3.1.3 Những bất cập xuất phát từ việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật 74 3.2 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH 75 3.2.1 Hoàn thiện các quy định của BLHS 75 3.2.2 Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nghiệp vụ của các cơ quan tố tụng trên địa bàn tỉnh Nam Định về xử lý tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản 84

KẾT LUẬN 89 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 6

DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TĂT

BLHS : Bộ Luật Hình sự

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

TAND : Tòa án nhân dân

TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao VKSND : Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân HĐTP : Hội đồng thẩm phán TNHS : Trách nhiệm hình sự

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: So sánh thực trạng tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản

với tội phạm nói chung trên địa bàn tỉnh Nam Định 58

Bảng 2.2: Thực trạng khởi tố, truy tố, xét xử tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên

địa bàn tỉnh Nam Định 59

Bảng 2.3 Hình phạt được áp dụng đối với bị cáo phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài

sản từ năm 2008 - 2012 trên địa bàn tỉnh Nam Định 600

Bảng 2.4: Bảng thống kê đặc điểm chủ thể tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa

bàn tỉnh Nam Định 66

Bảng 2.5: Cơ cấu độ tuổi người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 67

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tài sản và quyền sở hữu về tài sản là một trong những quyền quan trọng, thân thiết nhất của con người và luôn chiếm được sự quan tâm đặc biệt của các nhà lập pháp của bất kỳ quốc gia nào Trong các hình thái xã hội khác nhau, Nhà nước đều sử dụng các biện pháp để bảo vệ quyền sở hữu tài sản hợp pháp của con người và hành vi xâm hại đến quyền sở hữu của con người đều bị áp dụng những hình thức trách nhiệm pháp lý nhất định như: Trách nhiệm bồi thường, trách nhiệm hoàn trả vật, tài sản trong pháp luật dân sự hay điều tra, truy tố, xét xử một người khi họ có hành vi xâm phạm quyền sở hữu

ở mức độ nghiêm trọng Thông qua việc đánh giá coi hành vi xâm phạm quyền sở hữu của con người là tội phạm và áp dụng đối với người phạm tội một hình phạt, Nhà nước luôn thể hiện thái độ đấu tranh không khoan nhượng đối với loại hành vi này

Ở Việt Nam, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước

ta đã ban hành Hiến pháp và các đạo luật khác để ghi nhận, bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của công dân, trong đó các quy định của pháp luật hình sự giữ vai trò quan trọng Theo cách hiểu hiện nay "Quyền sở hữu là một hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, những tài sản khác theo quy định của pháp luật" [37] Như vậy sau quyền được sống, quyền được tự do thì quyền sở hữu có một vai trò to lớn đối với đời sống con người Tiếp theo các văn bản pháp lý trước đó, Hiến pháp 1992 - văn bản pháp lý có giá trị pháp lý cao nhất đều ghi nhận:

Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ

Trang 9

2

cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh

đa dạng, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng [14]

Thể chế hóa quy định của Hiến pháp, Bộ luật hình sự đã giành hẳn một chương quy định các tội xâm phạm sở hữu (Chương XIV Bộ luật hình sự) gồm từ Điều 133 đến Điều 145 trong đó tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự Trước đó, trong Bộ luật hình sự

1985, vì đề cao sở hữu tập thể, sở hữu Nhà nước nên các nhà lập pháp thời kỳ này đã tách thành hai chương riêng: Chương các tội xâm phạm tài sản sở hữu

xã hội chủ nghĩa và chương các tội xâm phạm sở hữu của công dân với các đặc điểm pháp lý hành vi không có gì khác nhau, có chăng chỉ khác nhau về khách thể bảo vệ là quan hệ sở hữu XHCN hay quan hệ sở hữ tư nhân Chính sách hình sự khác nhau dẫn đến mức hình phạt áp dụng khác nhau và có một vài tình tiết định khung tăng nặng khác nhau

Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định quyền sở hữu là một quyền thiêng liêng và được hiến định Điều 32 Hiến pháp năm 2013 quy định:

1 Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác

2 Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ

3 Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của tổ chức, cá nhân theo giá thị trường [22]

Cụ thể hóa nội dung và tinh thần này của Hiến pháp, các quy định của

Bộ luật hình sự về bảo vệ quyền sở hữu của con người được nghiên cứu, bổ sung, trong đó có tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới

Trang 10

3

Nghiên cứu diễn biến tội phạm trong những năm vừa qua, trên phạm vi toàn quốc, có thể thấy rằng nhóm các tội xâm phạm sở hữu thuộc loại tội phạm có diễn biến rất phức tạp Tính chất phức tạp thể hiện ở hai điểm: số vụ liên tục tăng và mức độ nguy hiểm cũng ngày càng nghiêm trọng Hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu đã gây thiệt hại nghiêm trọng tài sản của Nhà nước, của

tổ chức và tài sản của công dân, ảnh hưởng đến trật tự chung của xã hội Trong đó tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội xâm phạm sở hữu có mức độ xảy ra nhiều nhất, tội này diễn biến ngày một gia tăng, với nhiều thủ đoạn tinh vi xảo quyệt

Trên địa bàn tỉnh Nam Định, thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm xâm phạm đến sở hữu trong những năm vừa qua cho thấy loại tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản luôn chiếm một số lượng đáng kể trong tổng số các tội phạm hàng năm Có nhiều nguyên nhân để giải thích cho tình trạng nghiêm trọng của tội phạm này, tuy nhiên việc nghiên cứu làm rõ các đặc điểm của tội phạm này trên phạm vi một địa bàn cụ thể được xác định (thông qua việc nghiên cứu đặc điểm kinh tế - xã hội, đặc điểm dân cư, tính chất địa bàn) sẽ giúp chúng ta lý giải phần nào tính đặc thù của loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh Nam Định qua đó giúp chúng ta có thể đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của

Bộ luật hình sự Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với các cơ quan tiến hành tố tụng

Là một cán bộ công tác trong ngành bảo vệ pháp luật, tác giả lựa chọn

đề tài này để làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình Việc nghiên cứu dấu hiệu pháp lý của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói chung và các biểu hiện cụ thể của nó tại Nam Định để từ đó đề ra những biện pháp hoàn thiện các quy định của BLHS cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là rất cần

Trang 11

4

thiết Vì lý do đó tác giả đã chọn đề tài "Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong

Luật hình sự Việt Nam - Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Nam Định"làm luận văn thạc sĩ luật học của mình

Cũng cần nói thêm rằng, vì đặt trọng tâm nghiên cứu thực trạng tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên một địa bàn cụ thể, nên tác giả không có điều kiện nghiên cứu xuyên suốt quá trình lập pháp hình sự Việt Nam về loại tội phạm này trong suốt quá trình phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam,

mà chỉ cố gắng tập trung nghiên cứu quá trình phát triển pháp luật hình sự Việt Nam từ Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến nay

Qua nghiên cứu cho thấy, nhìn chung các tác giả đã đề cập khá sâu sắc

và toàn diện về các dấu hiệu pháp lý của loại tội phạm này; phân biệt rõ các trường hợp phạm tội này với một số tội phạm khác có chung đặc điểm là dấu hiệu lừa dối, tuy nhiên chưa có công trình khoa học nào đề cập đến tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong mối liên hệ với một địa bàn cụ thể là tỉnh Nam Định, nhất là trong bối cảnh là một tỉnh đan xen dân cư nông thôn và thành thị Sự

Trang 12

5

đình đốn trong sản xuất công nghiệp, tình trạng thất nghiệp, tình trạng di dân

tự do, tình trạng yếu kém trong việc quản lý kinh tế của các cơ quan nhà nước trong hoạt động tổ chức xuất khẩu lao động, trong hoạt động cho vay tín dụng, sự lơ là thiếu cảnh giác của một bộ phận không nhỏ người dân luôn là vấn đề nổi cộm và là một trong những nguyên nhân làm cho loại tội phạm này gia tăng

Trên thực tế Nam Định tuy là một tỉnh nhỏ thuộc đồng bằng Bắc Bộ, song cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, tình hình tội phạm lừa đảo có những diễn biến phức tạp và xu hướng ngày càng gia tăng không chỉ về số vụ mà cả về tính chất, hậu quả thiệt hại về tài sản ngày càng trầm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của tỉnh Nam Định Bởi vậy, luận văn nghiên cứu về: các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; so sánh sự khác biệt của tội phạm này và các tội phạm khác có cùng tính chất; nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp hình sự của một số quốc gia có những nét tương đồng về truyền thống lập pháp với Việt Nam; nghiên cứu thực trạng và diễn biến của loại tội phạm này ở Nam Định Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm sửa đổi bổ sung Bộ luật hình sự đồng thời đưa ra các biện pháp nâng cao nhận thức và hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhằm giảm bớt những thiệt hại xảy ra,đem lại sự tin tưởng vào pháp luật cho mọi người dân trên địa bàn tỉnh Nam Định

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Mục đích của đề tài: trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và thực trạng tình hình, các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định để đưa ra các các đề xuấthoàn thiện BLHS về loại tội phạm này, nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của

Bộ luật hình sự ViệtNam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Trang 13

6

- Để đạt được mục tiêu trên, trong quá trình thực hiện đề tài tác giả đặt

ra cho mình các nhiệm vụ sau đây:

a) Nghiên cứu lịch sử lập pháp hình sự của Việt Nam từ khi Cách mạng tháng 8 thành công đến nay, qua đó để có một cách nhìn khái quát về quá trình phát triển của quy định này, phục vụ cho các đề xuất sửa đổi, bổ sung tội phạm này và các tội phạm khác có liên quan

b) Phân tích và làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 đồng thời phân tích và so sánh các dấu hiệu pháp lý của tội phạm này với một số tội phạm khác có liên quan như: tội lừa dối khách hàng, tội đánh bạc…để làm rõ thêm cách nhận biết các dấu hiệu pháp lý của tội phạm này

c) Phân tích thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử loại tội này tại tỉnh Nam Định trong thời gian vừa qua để thấy được các yếu tố tác động làm ảnh hưởng đến hiệu quả công tác này trong thời gian vừa qua

d) Phân tích những đặc điểm đặc thù của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên cơ sở gắn với đặc điểm của tỉnh Nam Định đồng thời chỉ ra những vướng mắc, hạn chế trong việc điều tra, truy tố, xét xử tội phạm này tại tỉnh Nam Định

đ) Đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định của BLHS hiện hành

về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và các biện pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, qua đó góp phần đấu tranh có hiệu quả hơn đối với loại hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định nói riêng và cả nước nói chung

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là: Các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, phân tích thực trạng và diễn biến của tội phạm để rút ra những điểm thành công cũng như thiếu sót trong việc áp dụng các quy

Trang 14

7

định của BLHS và BLTTHS trên địa bàn tỉnh Nam Định, phân tích nguyên nhân, đưa ra các biện pháp nhằm hoàn thiện các quy định của BLHS và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự ViệtNam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

- Phạm vi nghiên cứu: đề tài nghiên cứu trong phạm vi những vấn đề liên quan đến tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới góc độ luật hình sự trên địa bàn tỉnh Nam Định

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học luật hình

sự và tội phạm học như: phương pháp thống kê hình sự, phương pháp phân tích

và so sánh, phương pháp tổng hợp Ngoài ra, còn một số phương pháp khác cũng được áp dụng như: phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp chuyên gia

6 Kết quả nghiên cứu và những đóng góp mới của đề tài

Trong phạm vi của đề tài là một công trình nghiên cứu vừa có ý nghĩa

về mặt lý luận, vừa có ý nghĩa về mặt thực tiễn đối với cuộc đấu tranh phòng, chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định

- Về mặt lý luận: đề tài góp phần hoàn thiện nội dung quy định của Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999, đồng thời có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học pháp lý hình sự

- Về mặt thực tiễn: những đề xuất giải pháp nêu trong luận văn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về tội phạm nói chung và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng Ngoài ra, đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các lực lượng tham gia phòng, chống loại tội phạm này không những ở tỉnh Nam Định mà còn có thể áp dụng trên địa bàn tỉnh, thành phố khác có điều kiện tương tự

- Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống và toàn diện về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đồng thời đã đưa ra các

Trang 15

8

giải pháp nâng cao hiệu quả công tác điều tra, truy tố và xét xử đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

trong luật hình sự Việt Nam

Chương 2:Trách nhiệm hình sự của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

trong BLHS hiện hành và thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định

Chương 3: Một số đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định của Bộ luật

hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Nam Định

Trang 16

9

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Bảo vệ quyền sở hữu của các nhân, tổ chức chống lại các hành vi xâm hại là mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ Việt Nam kể từ khi giành được Chính quyền Do đó, chỉ sau một thời gian ngắn, mặc dù bận nhiều công việc nhưng Chính phủ dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để nghiêm trị các hành vi này

1.1 LỊCH SỬ LẬP PHÁP HÌNH SỰ VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1.1 Từ năm 1945 đến trước khi ra đời Bộ luật hình sự 1985

Sau thành công của Cách mạng tháng 8 năm 1945, nước ta đã ban hành những văn bản pháp luật hình sự quy định việc trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa như:

Sắc lệnh số 26-SL ngày 25/2/1946 về các tội phá hoại công sản;

Sắc lệnh số 223-SL ngày 27/11/1946 về tội biển thủ công quỹ;

Sắc lệnh số 12-SL ngày 12/3/1949 về tội trộm cắp tài sản quốc phòng trong thời chiến;

Sắc lệnh số 68-SL ngày 18/6/1949 về bảo vệ các công trình thủy nông; Sắc lệnh 267-SL ngày 15/6/1956 về các âm mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước, của Hợp tác xã và của nhân dân làm cản trở việc chính sách, kế hoạch Nhà nước…

Bên cạnh đó, Nhà nước ta cũng quan tâm tới việc bảo vệ các tài sản riêng của công dân bằng việc ban hành Thông tư 442-TTg ngày 19/1/1955 của Thủ tướng Chính phủ về một số tội phạm Trong đó có đề cập tới tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tuy nhiên mới nêu tội danh mà chưa mô tả được cụ thể hành vi phạm tội [31] Do yêu cầu khách quan và nhằm tăng cường pháp chế

Trang 17

10

xã hội chủ nghĩa, đấu tranh bảo vệ có hiệu quả tài sản xã hội chủ nghĩa và công dân Tòa án nhân dân tối cao cũng đã có nhiều văn bản hướng dẫn việc vận dụng các quy phạm pháp luật vào công tác xét xử, ngày 21/10/1970 Nhà nước ta đã thông qua hai pháp lệnh mới

- Pháp lệnh thứ nhất là: Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản

xã hội chủ nghĩa do Lệnh số 149-LCT ngày 23/10/1970 của Chủ tịch nước công bố

- Pháp lệnh thứ hai là: Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân do Lệnh số 150 - LCT ngày 23/10/1970 của Chủ tịch nước công bố

Hai pháp lệnh trên đã thay thế các luật lệ cũ về các tội phạm xâm phạm sở hữu Trong cả hai pháp lệnh này hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng được quy định với hai tội danh cụ thể tương ứng với hai hình thức sở hữu được quy định lúc đó là sở hữu tài sản xã hội chủ nghĩa và sở hữu tài sản riêng của công dân

Về cơ bản hai tội trên đều có hành vi giống nhau đó là hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản đang do người khác quản lý Thủ đoạn gian dối có thể bằng cách dùng mọi mánh khóe, bịp bợm, bằng lời nói, giả mạo giấy tờ, giả danh cán bộ, giả mạo tổ chức, Làm cho người quản lý tài sản tin mà giao nhầm tài sản đó cho người phạm tội

Với những hành vi có cùng tính chất nhưng lại tác động lên đối tượng

là hai loại tài sản khác nhau đó là tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản của công dân nên được quy định thành hai tội khác nhau trong hai pháp lệnh Tuy nhiên

ở pháp lệnh thứ nhất, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa coi lừa đảo là một số hành vi gian dối cụ thể của những người trong khi giao dịch, mua bán với cơ quan nhà nước hay hợp tác xã đã cố ý dùng mánh khóe gian lận thông thường như cân, đo, đong, đếm, tính sai hoặc bằng cách khác để

Trang 18

11

chiếm đoạt tài sản của cơ quan nhà nước hoặc hợp tác xã mà mình giao dịch Còn ở pháp lệnh thứ hai, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng của công dân chỉ

quy định tôi phạm một cách chung chung: "kẻ nào dùng thủ đoạn gian dối để

chiếm đoạt tài sản riêng của công dân…" trong khi những hành vi gian lận

bằng cách: cân, đo, đong, đếm, tính gian, không chấp hành chính sách giá cả

đã quy định, đánh tráo hàng…" được tách ra khỏi tội lừa đảo để quy định

thành một tội riêng tại Điều 10 Pháp lệnh là "Tội gian lận để chiếm đoạt tài sản riêng của khách hàng"

Sau ngày 30/4/1975 thống nhất đất nước, Nhà nước ta đã ban hành thêm một số văn bản pháp luật hình sự mới trừng trị các tội xâm phạm sở hữu Cụ thể ở miền Nam, Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời ban hành Sắc lệnh số 03-SL/76 ngày 15/3/1976 quy định về tội phạm và hình phạt

Tại Điểm b, Điều 4 Sắc luật số 03-SL/76 quy định như sau: Phạm các tội chiếm đoạt tài sản khác như trộm cắp, tham ô, lừa đảo, bội tín, cướp giật, cưỡng đoạt, chiếm giữ trái phép thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 7 năm Trường hợp nghiêm trọng thì thì bị phạt tù đến 15 năm Phạm tội trộm cắp, tham ô, lừa đảo mà số tài sản chiếm đoạt rất lớn hoặc có nhiều tình tiết nghiêm trọng, hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình

Điều 8 Sắc luật 03-Sl/76 quy định về tội xâm phạm đến tài sản riêng của công dân như sau:

Phạm tội cướp tài sản riêng của công dân thì bị phạt tù từ 2 năm đến

12 năm Trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù đến 20 năm, từ chung thân hoặc tử hình

Phạm các tội chiếm đoạt khác như trộm cắp, lừa đảo, bội tín, cướp giật, chiếm giữ trái phép thì bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm Trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù đến 10 năm

Trang 19

12

Như vậy, ở thời điểm này trên hai miền Nam , Bắc tồn tại hai loại văn bản pháp luật khác nhau cùng xử lý về một tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đó là: Hai pháp lệnh ngày 21/10/1970 và Sắc luật số 03-SL/76 ngày 15/3/1976 Nội dung cơ bản của các văn bản này đều thống nhất về tội danh và đường lối

xử lý Tuy nhiên so với các pháp lệnh, thì các quy định của Sắc luật chỉ nêu tên tội danh mà không quy định cụ thể dấu hiệu pháp lý của tội phạm

Để áp dụng thống nhất các văn bản pháp luật này, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Chỉ thị số 54/TATC ngày 6/7/1977 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc thi hành pháp luật thống nhất thì việc áp dụng pháp luật đối với hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thống nhất như sau:

Ở miền Bắc vẫn áp dụng hai pháp lệnh ngày 21/10/1970 Ở miền Nam thì áp dụng Sắc luật số 03 là chính, có tham khảo điều khoản tương ứng của Pháp lệnh ngày 21/10/1970 để nắm rõ hơn dấu hiệu các tội phạm và áp dụng các hình phạt hợp lý hơn

Như vậy, trong giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi Bộ luật hình sự năm 1985 có hiệu lực, pháp luật hình sự đã có quy định về loại tội phạm có hành vi lừa đảo để chiếm đoạt tài sản, tuy nhiên do có nhiều loại văn bản được ban hành và áp dụng ở hai miền Nam, Bắc khác nhau nên không tránh khỏi những bất cập nhất định, nguyên tắc pháp chế khó được thực hiện Vì vậy cần phải pháp điển hóa các quy định trong các văn bản pháp luật này để đảm bảo tính thống nhất [24] Bộ luật hình sự 1985, có hiệu lực từ ngày 01/1/1986 đã ra đời đáp ứng yêu cầu đó

1.1.2 Từ năm 1986 đến trước khi sửa đổi toàn diện Bộ luật hình sự vào năm 1999

Ngày 27/6/1985 Bộ luật hình sự đã được Quốc hội khóa VI ban hành

và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/1986 đã khắc phục được tình trạng các văn bản pháp luật chồng chéo, không thống nhất trước đó Tăng cường được

Trang 20

và các tình tiết định khung tăng nặng ngày càng được hoàn thiện hơn

* Tiếp tục đề cao chính sách hình sự bảo vệ tốt hơn quan hệ sở hữu xã hội chủ nghĩa

Theo quy định của Bộ luật hình sự 1985 thì tội xâm phạm sở hữu có

kế thừa và phát triển các văn bản pháp luật trước đó Do đề cao sở hữu nhà Nước và tập thể, chưa thật sự coi trọng đến sở hữu tư nhân nên trong giai đoạn này hành vi xâm phạm tài sản Nhà nước luôn được coi là nghiêm trọng hơn xâm hại sở hữu tư nhân nên được các nhà lập pháp lúc bấy giờ quy định ở hai chương khác nhau Cụ thể: Chương IV là các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và chương V là các tội xâm phạm sở hữu công dân Có sự quy định như vậy là vì Bộ luật hình sự 1985 ra đời trong bối cảnh nền kinh tế nước ta lúc đó chỉ có hai thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế quốc doanh và hợp tác xã Được quản lý và điều hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, thống nhất từ trung ương đến cơ sở Trên cơ sở kế thừa quy định của hai pháp lệnh ngày 21/10/1970 thì vẫn được quy định là hai tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa"

và tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng của công dân" cụ thể như sau:

Điều 134: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa:

1 Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm

Trang 21

14

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 03 năm đến 12 năm:

a Có tổ chức

b Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm

c Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn

d Tái phạm nguy hiểm

3 Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nguy hiểm thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân [15]

Điều 157: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân:

1 Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 10 năm:

a Có tổ chức

b Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm

c Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn

d Tái phạm nguy hiểm

3 Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nguy hiểm thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm [15]

* Các dấu hiệu pháp lý của tội phạm ngày càng được bổ sung hoàn thiện hơn

So với các điều luật tương ứng của các văn bản pháp luật trước năm

1985, Điều 134 Bộ luật hình sự 1985 đã có hai thay đổi quan trọng đó là Bộ luật hình sự quy định rõ ràng hơn dấu hiệu khách quan của hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa Trên thực tế, có thể nói sự sơ hở trong công tác quản lý kinh tế cũng như một số khuyết điểm về kỹ thuật lập pháp, đã tạo điều kiện thuận lợi cho các tội phạm kinh tế và các tội xâm phạm

Trang 22

15

sở hữu nảy sinh và phát triển Để đáp ứng yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng, liên tiếp trong 04 năm, 1990, 1991, 1993 và 1997, Bộ luật hình sự 1985 đã được sửa đổi bổ sung, trong đó có 02 lần sửa đổi bổ sung nhằm hoàn thiện một bước các dấu hiệu pháp lý của loại tội phạm này khi đất nước đang bắt đầu chuyển mình từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường Cụ thể:

Lần sửa đổi thứ nhất năm 1990 có bổ sung vào Điểm a khoản 2 Điều 134

và Điều 157 ngoài quy định "có tổ chức" còn thêm tình tiết "hoặc có tính chất

chuyên nghiệp" Do đó Điểm a Khoản 2 Điều 134 và Điều 157 được quy định

như sau: "Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp"

Lần sửa đổi thứ hai, năm 1993 Xuất phát từ thực tiễn đấu tranh phòng

chống tội phạm cho thấy, nhiều tội phạm đã thực hiện hành vi phạm tội thông qua việc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức để dễ dàng tạo được niềm tin đối với nạn nhân, đồng thời trong nền kinh tế thị trường, nhiều trường hợp hành vi phạm tội đã gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng (lớn hơn rất nhiều lần so với những dự liệu ban đầu của các nhà lập pháp, do đó năm 1993 có sự sửa đổi, bổ sung vào khoản 2 Điều 134 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã

hội chủ nghĩa thêm tình tiết định khung tăng nặng là: Lợi dụng danh nghĩa

cơ quan, tổ chức;gây hậu quả nghiêm trọng.cụ thể như sau:

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 03 năm đến 12 năm:

a Có tổ chức

b Có tính chất chuyên nghiệp

c Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm

d Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn

e Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức

f Gây hậu quả nghiêm trọng

Trang 23

16

g Tái phạm nguy hiểm [17]

Trong lần sửa đổi năm 1997, Bộ luật hình sự đã bổ sung thêm một

điều (Điều 134 a) quy định tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa cụ thể như sau:

1 Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa có giá trị từ năm triệu đồng đến dưới một trăm triệu đồng hoặc dưới năm triệu đồng nhưng gây hậu qủa nghiêm trọng, vi phạm nhiều lần hoặc đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a Có tổ chức

b Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm

c Tài sản có giá trị từ một trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng

d Phạm tội nhiều lần

e Gây hậu quả nghiêm trọng

3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a Tài sản có giá trị từ ba trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng

b Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 Điều này

c Gây hậu quả rất nghiêm trọng

4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù chung thân hoặc tử hình:

a Tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên

b Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 3 Điều này

c Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng [18]

* Mức hình phạt áp dụng ngày càng có xu hướng nghiêm khắc hơn

Trang 24

từ kinh tế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường đặt ra yêu cầu đảm bảo sự bình đẳng tham gia của các thành phần kinh tế Ngoài kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo, các thành phần kinh tế khác như: kinh tế tư nhân, hợp tác xã, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng dần được thừa nhận

và ngày càng chiếm một vị trí quan trọng hơn trong đời sống kinh tế, do đó, ngay lần sửa đổi đầu tiên vào năm 1991, các nhà lập pháp hình sự Việt Nam

đã nâng mức hình phạt tối đa lên tử hình Cụ thể: Khoản 3 Điều 134 tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa: "Phạm tội trong trường hợp đặc biệt

nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử

hình" [16]

Đối với tội tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân (Điều 157) trong lần sửa đổi đầu tiên, các nhà lập pháp hình sự đã tăng mức hình phạt cao nhất đối với tội này từ 10 năm đến 15 năm áp dụng trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng Tuy vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, năm 1991 hình phạt tử hình lại được áp dụng Khoản 3 Điều 157 như sau:

1 Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 05 năm

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 03 năm đến 12 năm:

a Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp

b Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm

c Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn

Trang 25

18

d Tái phạm nguy hiểm

3 Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nguy hiểm thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình [16]

Như vậy Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 1991 khi quy định hình phạt cho hai tội trên đều cùng quy định hình phạt cao nhất là tử hình

1.1.3 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lần sửa đổi toàn diện vào năm 1999

Do chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới là xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần dựa trên cơ sở nhiều hình thức sở hữu khác nhau, vận hành theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo Để làm được điều này, Nhà nước chủ trường, thông qua hệ thống pháp luật bảo đảm là các thành phần kinh tế được đối xử và bảo vệ ngang bằng trước pháp luật Do đó, việc chia hai nhóm tội xâm hại quan hệ sở hữu tỏ ra không còn phù hợp vì điều này không phù hợp với bản chất của kinh tế thị trường - đòi hỏi một sự đối sử bình đẳng của các thành phần kinh tế cùng tham gia vào quá trình kinh tế Trước tình hình đó, Bộ luật hình sự 1985 mặc dù đã qua 4 lần sửa đổi, bổ sung vẫn duy trì hai chương về các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa và các tội xâm phạm tài sản của công dân Mặt khác, sự quy định hai nhóm tội xâm phạm đến hai loại quan hệ sở hữu khác nhau đã nảy sinh ra những bất cập Trong nhiều trường hợp, người phạm tội chỉ quan tâm đến tài sản và giá trị tài sản mà không quan tâm đến nguồn gốc tài sản thuộc sở hữu nào, nên gây khó khăn cho các cơ quan tố tụng khi xác định tội danh cho đối với người phạm tội Quan niệm về định tội danh theo ý thức chủ quan của người phạm tội, tuy giải quyết được một phần các vấn đề trước mắt là đáp ứng yêu cầu coi trọng bảo vệ sở hữu xã hội chủ nghĩa, nhưng rõ ràng không đảm bảo tính khoa học, nhất là trong trường hợp không xác định được rõ ý thức chủ quan

Trang 26

19

của người phạm tội hoặc trong trường hợp người phạm tội có sự lẫn lộn giữa

sở hữu xã hội chủ nghĩa và sở hữu riêng của công dân (cùng một hành vi xâm hại đến hai loại tài sản thuộc hai nhóm quan hệ sở hữu khác nhau) Để phù hợp với chính sách kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới, Bộ luật hình sự 1999 đã ra đời và đã nhập hai chương của Bộ luật hình

sự 1985 thành một chương với tên gọi "Các tội xâm phạm sở hữu" Có thể

nói, việc nhập hai chương này làm một là một cuộc đấu tranh giữa hai luồng

tư tưởng cũ và mới ngay trong chính các nhà lập pháp Việt Nam thời bấy giờ

* Tư tưởng phân biệt hai loại quan hệ sở hữu tuy đã được khắc phục nhưng những ảnh hưởng của nó vẫn còn tồn tại trong một vài quy định của BLHS

Mặc dù được coi là lần sửa đổi toàn diện, nhưng các nhà lập pháp hình sự thời kỳ này vẫn muốn duy trì hai loại tội lừa đảo đó là: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 (là tội được nhập từ tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa tại Điều 134 và Tội lừa đảo chiếm đoạttài sản công dân quy định tại Điều 157) và tội lợi dụng chức vụ quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa quy định tại Điều 134a Bộ luật hình sự

Theo đó, Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định:

Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm [19]

Trang 27

20

Như vậy so với Bộ luật hình sự 1985 thì Điều 139 Bộ luật hình sự

1999 quy đình về hình phạt vẫn nghiêm khắc, vì mức cao nhất khung hình phạt của tội này là tử hình, còn các mức hình phạt khác có thể tăng lên hoặc giảm xuống so với quy định của Bộ luật hình sự 1985

* Yếu tố định lượng đã được sử dụng để phân biệt giữa hành vi phạm tội là đảo và hành vi lừa đảo nhưng chỉ được coi là vi phạm hành chính và bị

xử phạt hành chính

Đây là vấn đề đã và đang gây nhiều tranh cãi trong giới chuyên gia luật hình sự hiện nay, tuy nhiên, quan điểm coi dấu hiệu định lượng là một căn cứ để phân biệt giữa tội phạm và vi phạm hành chính đáp ứng được yêu cầu chính trị là chống sự lạm dụng của cơ quan tố tụng

Theo đó, các tội xâm phạm sở hữu hầu hết được lấy mức khởi điểm là

từ 500 000 đồng trở lên để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự Cũng theo đó, tùy theo giá trị tài sản mà mức hình phạt có thể thay đổi theo các khung hình phạt khác nhau Như vậy, trong lần sửa đổi toàn diện BLHS lần này, nếu giá trị tài sản chiếm đoạt từ 500 000đ trở lên thì được coi là tội phạm Dưới 500 000đ được xem là vi phạm hành chính Tuy nhiên, gianh giới này không phải là tuyệt đối khi mà giá trị tài sản mặc dù dưới 500 000đ nhưng người phạm tội lại thuộc một trong những trường hợp “có nhân thân xấu” thì cũng có thể bị coi là tội phạm

* Coi đặc điểm xấu về nhân thân là dấu hiệu cấu thành tội phạm

Đây cũng là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi cho đến ngày nay Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, việc lấy đặc điểm xấu về nhân thân người phạm tội để là dấu hiệu định tội là không phù hợp Theo GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa:

Trong Luâ ̣t hình sự , nguyên tắc vẫn được thừa nhâ ̣n là : Mô ̣t người không thể bi ̣ xử pha ̣t hình sự về nhân thân xấu của ho ̣ Theo nguyên tắc này , Luâ ̣t hình sự không thể quy đi ̣nh đă ̣c điểm xấu về nhân thân là dấu hiê ̣u đi ̣nh

Trang 28

mà còn vi phạm" thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự (nghĩa là vẫn bị coi

sự 1999 đã bộc lộ nhiều bất cập, trong đó điểm đáng lưu ý là Bộ luật hình sự

1999 chưa thể chế hóa được những quan điểm, chủ trương mới của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp được thể hiện trong Nghị quyết số 08-NQ/TW

và Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị Trong khi sự phát triển mạnh

mẽ của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đã đặt ra cho hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng phải là công cụ pháp lý nhằm thúc đẩy và bảo vệ cho các nền kinh tế phát triển

Mặt khác, bên cạnh xu hướng chung hội nhập quốc tế, có lẽ đã đến lúc cần nghiên cứu lại chính sách hình sự đối với một số loại tội phạm cụ thể, nhất là khi chúng ta đã áp dụng một thời gian khá dài chính sách hình sự khá nghiêm khắc (hình phạt tử hình) nhưng tình hình tội phạm không hề giảm mà người lại, loại tội phạm này còn có tính chất gia tăng và quy mô ngày càng nghiêm trọng Điều này cho phép chúng ta nhận thấy rằng: dường như biện pháp trừng trị hà khắc không phải là liều thuốc hữu hiệu để có thể làm giảm

Trang 29

22

loại tội phạm này mà cần hướng đến một biện pháp khác làm triệt tiêu động lực và điều kiện phạm tội Bộ luật hình sự 1999 đã được sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới

Ngoài ra, mặt trái của nền kinh tế thị trường cùng với những yếu kém trong quản lý kinh tế của nhà nước là cơ hội để tội phạm lừa đảo phát triển Thực tiễn đã chứng minh các hành vi lừa đảo chiếm đoạt thuế giá trị gia tăng đặc biệt lớn Gần đây là hành vi lừa đảo để chiếm đoạt tiền vay trong hoạt động tín dụng, ngân hàng lên đến hàng ngàn tỷ đồng Đây là những hồi chuông cảnh tỉnh cho các cơ quan Nhà nước trong việc kịp thời hoàn thiện thể chế, nhất là thể chế kinh tế để nhằm ngăn chặn các hành vi nguy hiểm này

Theo đó, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được sửa đổi hai nội dung cơ

bản: một là, sửa đổi mức định lượng tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội này là tăng mức từ "năm trăm nghìn đồng" lên mức "hai triệu

đồng", và hai là, bỏ hình phạt tử hình, và thay vào đó mức cao nhất của khung

hình phạt là "tù chung thân" Sự thay đổi này cho chúng ta thấy chính sách

hình sự của Nhà nước về loại tội phạm này một lần nữa lại có sự thay đổi cho phù hợp với công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới, thể hiện rõ quan điểm giảm nhẹ hình phạt có tính hà khắc đối với người phạm tội Tuy nhiên, trước diễn biến tình hình tội phạm lừa đảo ngày càng nghiêm trọng như đã nói ở trên, nhiều ý kiến đề xuất cần quy định lại hình phạt tử hình tại khoản 4 điều này để tạo nên sự răn đe cần thiết trong quá trình xử lý

1.2 KHÁI NIỆM, CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH

1.2.1 Khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Đến nay, Bộ luật hình sự 1999 đã thi hành được hơn 10 năm và được sửa đổi, bổ sung lần gầy đây nhất vào năm 2009 Theo đó các tội xâm phạm

sở hữu được quy định từ Điều 133 đến Điều 145 Bộ luật hình sự không có

Trang 30

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong các tội xâm phạm sở hữu,

vì vậy khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải thỏa mãn khái niệm chung của các tội xâm phạm sở hữu, đồng thời phải thỏa mãn các các dấu hiệu đặc thù nói riêng Căn cứ vào quy định tại Khoản 1 Điều 139 của Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009:

Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành

vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt

tù từ sáu tháng đến ba năm [21]

Như vậy, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội xâm phạm sở hữu, với mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác, người phạm tội đã dùng những thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin sai sự thật, có thể bằng lời nói hoặc hành động khiến có tài sản hoặc người có trách nhiệm trông giữ tài sản vì tin nhầm, tưởng giả là thật, tưởng kẻ gian là người ngay, tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội

Từ đó có thể hiểu khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, do

Trang 31

Quan hệ sở hữu là quan hệ trong đó quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản được tôn trọng và bảo vệ Quan hệ này bị tội phạm gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thông qua việc làm biến đổi tình trạng bình thường của những đối tượng vật chất (tài sản) là một bộ phận của quan hệ sở hữu

Như mọi hành vi phạm tội khác, hành vi xâm phạm sở hữu cũng có đối tượng tác động cụ thể đó là tài sản "Tài sản gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá

và các quyền tài sản" [20, Điều 163] Tài sản là đối tượng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể thuộc bất cứ hình thức sở hữu nào được pháp luật thừa nhận và phải được thể hiện dưới dạng vật chất, vì những gì không thuộc

về vật chất thì không thể là đối tượng của hành vi chiếm đoạt Vì thế, không phải mọi trường hợp của quyền tài sản đều là đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Ví dụ: Bản di chúc về quyền thừa kế tài sản của một người thì không phải là đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, còn những giấy

Trang 32

Như vậy pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng luôn bảo

vệ quyền sở hữu hợp pháp và chỉ bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp nên về nguyên tắc tài sản được luật hình sự bảo vệ phải là tài sản hợp pháp Nhưng điều đó không có nghĩa những hành vi xâm phạm tài sản bất hợp pháp khác của công dân không bị coi là tội phạm và vẫn bị coi là trái pháp luật và có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1.2.2.2 Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm là một trong bốn yếu tố của tội phạm, không có mặt khách quan thì cũng không có các yếu tố khác của tội phạm, do vậy cũng không có tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm là biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm, trong đó hành vi khách quan là biểu hiện cơ bản nhất, các biểu hiện khác như hậu quả của tội phạm, công cụ, phương tiện… cũng chỉ thể hiện khi có hành

vi khách quan Vì vậy việc nghiện cứu những yếu tố thuộc mặt khách quan của tội phạm có ý nghĩa thực tiễn rất lớn Cụ thể có các dấu hiệu đặc trưng sau:

* Dấu hiệu hành vi khách quan

Trong mặt khách quan của tội phạm, hành vi nguy hiểm cho xã hội là nội dung cơ bản nhất Theo quy định của Bộ luật hình sự hiện nay, hành vi nguy hiểm cho xã hội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thể hiện dưới hai hành vi thực tế là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản

Trang 33

26

- Hành vi lừa dối: Là hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật

nhằm để người khác tin đó là sự thật, tự nguyện trao tài sản cho người phạm tội Trên thực tế hành vi gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hợp thành bởi hai yếu tố:

Thứ nhất, đó là hành vi đưa ra những thông tin gian dối Hành vi này

thể hiện là hành động có chủ đích của người phạm tội Hành vi này có thể được thực hiện bằng lời nói, hành động hoặc những biểu hiện khác nhằm cung cấp những thông tin sai lệch về sự việc như nói có thành không, ít thành nhiều, xấu thành tốt, giả thành thật

Thứ hai, chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản đã nhầm lẫn, tin tưởng

vào những thông tin không đúng sự thật ấy mà trao tài sản cho người phạm tội Khi giao tài sản, chủ tài sản không biết mình bị lừa dối Họ có thể phát hiện ra ngay sau khi trao tài sản nhưng bản chất của hành vi chiếm đoạt vẫn dựa trên thủ đoạn lừa dối thì vẫn xử lý về tội này Cũng cần lưu ý thêm rằng, nếu ngay sau khi trao tài sản, người quản lý tài sản phát hiện và đã thực hiện một số hành động để bắt giữ mà người phạm tội lại sử dụng các thủ đoạn khác (như dùng vũ lực) để chiếm đoạt tài sản cho bằng được thì sẽ xử lý về tội phạm khác Đây là trường hợp mà khoa học luật hình sự Việt Nam thường gọi

là các trường hợp chuyển hóa từ một số tội có tính chất chiếm đoạt sang tội cướp tài sản

Ví dụ: Lê Văn K 35 tuổi là đối tượng nghiện ma túy có quen biết với cháu Phạm Đình P 16 tuổi ở cùng khu phố Do có ý định muốn chiếm đoạt chiếc xe đạp điện của cháu P để lấy tiền sử dụng ma túy nên vào chiều ngày 10/4/2012 chờ lúc cháu P đi học về K đón ở đầu đường xin đi nhờ xe, thấy K

là người quen nên P cho K đi nhờ Khi đi đến ngõ 102 Trần Đăng Ninh - Thành phố Nam Định K nói dối P là đứng ngoài chờ để K mượn xe đi vào nhà người quen trong ngõ có việc và hẹn 10 phút quay ra, P tin tưởng nên đã

Trang 34

27

cho K mượn xe Mượn được xe K đi vào ngõ 102 rồi vòng ra ngõ 103 đến hiệu cầm đồ Tuấn A đặt vấn đề cầm cố chiếc xe đạp điện nhưng anh C là chủ hiệu nghi ngờ là xe trộm cắp nên không cầm, K lại đi tìm hiệu cầm đồ khác Quá 30 phút không thấy K quay lại nên P đi tìm nhưng không thấy nên biết mình bị K lừa, P điện thoại cho người nhà đến đón và chở đi tìm K Khi đi đến đường Lương Thế Vinh - Thành phố Nam Định P nhìn thấy K đang đi chiếc xe của mình nên nhẩy xuống giữ lại và hô mọi người bắt giữ Thấy vậy

K giật tay P ra nhưng không được, K tiếp tục dùng chân đạp mạnh vào bụng P làm P ngã ra đường, K nhảy lên xe chạy vào trong ngõ Sau đó K bị quần chúng nhân dân bắt giữ Như vậy hành vi của K đã chuyển hóa từ lừa đảo chiếm đoạt tài sản sang cướp tài sản

Trong trường hợp người phạm tội có hành vi gian dối nhưng chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không bị nhầm lẫn, không tự nguyện trao tài sản, mà người phạm tội phải dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác để chiếm đoạt tài sản thì không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà sẽ cấu thành tội chiếm đoạt có hành vi tương ứng Nếu chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không bị nhầm lẫn, không tự nguyện trao tài sản và người phạm tội cũng không có hành động chiếm đoạt nào khác thì có thể người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở giai đoạn phạm tội chưa đạt [1,tr 271]

Xét về mặt khách quan hành vi gian dối là hành vi đưa ra những thông tin giả Về mặt chủ quan, người phạm tội biết đó là thông tin giả nhưng mong muốn người khác tin đó là sự thật Thủ đoạn để thực hiện rất đa dạng có thể qua lời nói, sử dụng giấy tờ giả, hoặc qua những việc làm cụ thể… Những thủ đoạn thể hiện hành vi này không có ý nghĩa về mặt định tội, bởi đã là hành vi gian dối thì dù được thực hiện bằng thủ đoạn nào cũng đều có thể là hành vi

Trang 35

- Hành vi chiếm đoạt: là hành vi cố ý dịch chuyển một cách trái pháp

luật tài sản của người khác thành tài sản của mình.Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được coi là hoàn thành khi có hậu quả xảy ra, kẻ phạm tội chiếm đoạt được tài sản Hành vi chiếm đoạt trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có hai

hình thức cụ thể:

Thứ nhất: Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của chủ

tài sản thì hình thức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi nhận tài sản từ người bị lừa dối vì đã tin vào thông tin của người phạm tội nên bị lừa dối đã giao nhầm tài sản Khi nhận được tài sản cũng là lúc người phạm tội lừa đảo đã làm chủ được tài sản đó trên thực tế và đó cũng là lúc tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được coi là hoàn thành

Ví dụ: Hàng năm chợ Viềng Xuân ở Nam Định họp từ ngày mồng 7 đến hết ngày mồng 8 tháng giêng âm lịch Vào đêm ngày mồng 7 tháng giêng năm 2012 âm lịch, Trần Văn A thấy có những bãi giữ xe tự phát mở ra ở gần khu vực chợ, ánh sáng tại chỗ soát vé không được sáng rõ, nên A nghĩ cách làm vé xe giả để lấy xe trong bãi giữ xe do Vũ Quang C quản lý A đã quan sát kỹ đặc điểm vé xe của C giao cho khách và làm vé xe giả số 11 gần giống với vé thật Sau đó A mang theo một cục phấn trắng đi vào bãi gửi xe, đến

Trang 36

29

cuối bãi xe A xóa số ghi ở yên chiếc xe Dream và viết số 11 vào rồi dắt chiếc

xe này ra ngoài và đưa chiếc vé giả cho C, C không biết đó là vé giả nên cho

A dắt xe ra bình thường Lấy được xe A mang đi bán được 3.000.000đ ăn tiêu Khi có khách đến lấy xe, C kiểm tra lại mới biết bị A dùng vé giả lừa lấy

xe Như vậy A đã phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi chiếm đoạt tài sản hoàn thành từ khi A dắt xe ra khỏi bãi gửi xe

Thứ hai: Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang ở trong sự chiếm hữu của

người phạm tội thì hình thức thể hiện của hành vi chiếm đoạt là hành vi giữ lại tài sản đáng nhẽ phải giao cho người bị lừa dối vì đã tin vào thông tin của người phạm tội nên người bị lừa dối đã nhận nhầm tài sản hoặc không nhận Khi người bị lừa dối nhận nhầm hoặc không nhận tài sản cũng là lúc người phạm tội lừa đảo đã làm chủ được tài sản bị chiếm đoạt và người bị lừa dối đã mất tài sản đó và đó cũng là thời điểm hoàn thành của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Ví dụ: Lê Quốc N là chủ cửa hàng buôn bán đồ gỗ ở Nam Định, N thường xuyên thuê Hoàng Đình H lái xe chở hàng cho khách Ngày 12/2/ 2012 Q

là khách mua hàng nhờ H chuyển cho chị T (là vợ N) 35 triệu đồng tiền hàng, lúc giao nhận tiền giữa H và T, H đã dùng thủ đoạn gian dối khiến T tưởng mình đã nhận đủ 35 triệu đồng và đã ký vào giấy nhận tiền rồi đi về Khi về nhà T kiểm tra lại tiền thì thấy thiếu 10 triệu đồng và số tiền mà T nhận từ H chỉ có 25 triệu đồng Như vậy H đã phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi chiếm đoạt tài sản là hành vi giữ lại số tiền 10 triệu đồng đáng lẽ phải giao cho T

Hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Hành vi gian dối tạo điều kiện cho hành vi chiếm đoạt được thực hiện một cách công khai, dễ dàng Trong thực

Trang 37

mà tùy từng trường hợp cụ thể thủ đoạn gian dối đó có thể là hành vi che giấu tội phạm hoặc là hành vi phạm tội khác như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Thông thường hành vi chiếm đoạt tài sản xảy ra kế tiếp ngay sau hành vi gian dối, nhưng cũng có trường hợp giữa hai hành vi này lại có khoảng cách nhất định về thời gian Ở đây cần chú ý tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ coi là hoàn thành khi hành vi chiếm đoạt xảy ra

Như vậy hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tương

tự với hành vi khách quan của nhiều tội khác Vì vậy để định tội danh chính xác phải đặt hành vi khách quan trong mối liên hệ với các yếu tố khác, nghiên cứu một cách toàn diện các yếu tố của cấu thành tội phạm [10]

* Dấu hiệu hậu quả của tội phạm

Hậu quả của tội phạm là thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho quan

hệ xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự Thiệt hại gây ra cho khách thể được thể hiện thông qua sự biến đổi tình trạng bình thường của các bộ phận cấu thành quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội có cấu thành vật chất, nghĩa là trong cấu thành tội phạm có phản ánh dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội, nhưng hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc, vì có những trường hợp hậu quả chưa xảy ra vẫn có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ví dụ như trường hợp chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt Hậu quả của tội phạm được phản ánh trong cấu thành tội phạm thông qua thiệt hại về tài sản mà cụ

Trang 38

31

thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt, chính vì vậy việc xác định tài sản là đối tượng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc, đây là dấu hiệu định lượng để xác định cấu thành cơ bản hoặc cấu thành định khung tăng nặng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Trong cấu thành tội phạm cơ bản của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định ở Khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm

2009 thì giá trị tài sản bị chiếm đoạt ở mức 2 triệu đồng là mức nguy hiểm đáng kể làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự Cụ thể nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên luôn cấu thành tội phạm, còn nếu tài sản

bị chiếm đoạt có giá trị dưới 2 triệu đồng thì phải kèm theo là gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà vi phạm mới cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Việc xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định trường hợp nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trường hợp nào chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, cũng như việc áp dụng đúng khung hình phạt Do đó cần lưu ý một số điểm sau đây trong việc xác định giá trị tài sản đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Giá trị tài sản bị chiếm đoạt được xác định căn cứ vào kết luận của Hội đồng định giá do cơ quan tố tụng tiến hành kết luận về giá trị tài sản bị chiếm đoạt Trong trường hợp tài sản bị xâm phạm không còn nữa, cơ quan điều tra cần lấy lời khai của những người biết về tài sản này để xác định đó là tài sản gì, nhãn mác của tài sản đó, giá trị tài sản đó theo thời giá vào thời điểm tài sản bị xâm phạm, tài sản đó còn bao nhiêu phần trăm giá trị sử dụng… để có kết luận cuối cùng về giá trị tài sản bị xâm phạm

Trang 39

32

Trong trường hợp có đầy đủ căn cứ chứng minh rằng người có hành

vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có ý định xâm phạm đến tài sản có giá trị cụ thể theo ý thức chủ quan của họ, thì lấy giá trị tài sản đó để xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi xâm phạm Nếu người phạm tội có ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng không quan tâm đến giá trị của tài sản bị chiếm đoạt thì căn cứ vào giá trị thực của tài sản bị xâm phạm để xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội

Trong trường hợp một người thực hiện nhiều lần cùng loại hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng mỗi lần giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự và không thuộc một trong các trường hợp khác để truy cứu trách nhiệm hình sự như: gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử phạt hành chính, đã bị kết án nhưng chưa xóa án tích…, đồng thời trong các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản đó chưa có lần nào bị xử phạt hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt hành chính Nếu tổng giá trị tài sản của các lần chiếm đoạt bằng hoặc trên mức 2 triệu đồng thì người thực hiện hành vi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng giá trị tài sản của các lần bị xâm phạm, nếu: (i) Các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian; (ii) Việc thực hiện các hành vi chiếm đoạt tài sản có tính chất chuyên nghiệp, lấy tài sản chiếm đoạt được làm nguồn sống chính và (iii) Với mục đích chiếm đoạt, nhưng do điều kiện khách quan nên việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải được thực hiện nhiều lần cho nên giá trị tài sản bị chiếm đoạt mỗi lần dưới 2 triệu đồng

Ngoài hậu quả là giá trị tài sản bị chiếm đoạt là dấu hiệu định tội được phân tích ở trên thì thức tế hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn gây hậu quả nguy hiểm khác, đó là những thiệt hại về tài sản, về thể chất hoặc những hậu quả phi vật chất khác diễn ra ở những cấp độ khác nhau thể hiện

Trang 40

33

mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Những hậu qủa này thường phát sinh do việc tài sản bị chiếm đoạt (có mối quan hệ nhân quả giữa việc tài sản bị chiếm đoạt và hậu quả) Do đó việc xác định hậu quả là thiệt hại về tài sản thì phải xảy ra ngoài giá trị tài sản bị chiếm đoạt Hậu quả phi vật chất ở đây được biểu hiện là những ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, gây ảnh hưởng lớn đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội Những hậu quả phát sinh này, tùy từng vụ án, tình hình cụ thể mà các cơ quan tiến hành tố tụng xác định đã gây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự theo Khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự hay để làm căn cứ quyết định hình phạt theo Điểm g Khoản 2, Điểm b Khoản 3 và 4 Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009

* Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm

Việc định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không chỉ xác định hậu quả là giá trị tài sản bị chiếm đoạt mà còn đòi hỏi làm rõ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi lừa đảo với hậu quả đó Vì con người chỉ phải chịu trách nhiệm hình

sự về hậu quả nguy hiểm cho xã hội khi hậu quả đó do chính hành vi của mình gây ra Mối quan hệ giữa hành vi vi phạm và hậu qủa tội phạm được biểu hiện như sau:

- Hành vi gian dối phải diễn ra trước hành vi chiếm đoạt

- Hành vi gian dối là cơ sở chủ yếu để quyết định việc chiếm đoạt được tài sản của người phạm tội

Vì vậy việc chiếm đoạt được tài sản của người phạm tội có thể gây ra những hậu quả nguy hiểm khác cho xã hội nên việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả trên không chỉ có ý nghĩa về mặt định tội

mà còn có ý nghĩa trong quyết định hình phạt

Ngày đăng: 25/03/2015, 13:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Cảm (2003), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, phần các tội phạm, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, phần các tội phạm
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
2. Lê Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật Hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật Hình sự Việt Nam (Phần chung)
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
3. Lê Cảm (2006), "Những vấn đề lý luận về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự", Tòa án nhân dân, (13), tr. 8-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2006
4. Bích Diệp (2010) "Mô ̣t triê ̣u người Viê ̣t Nam đang thất nghiê ̣p", http://dân trí.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô ̣t triê ̣u người Viê ̣t Nam đang thất nghiê ̣p
5. Lê Đăng Doanh (2004), "Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản liên quan đến lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng", Tòa án nhân dân, (22), tr. 22-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản liên quan đến lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng
Tác giả: Lê Đăng Doanh
Năm: 2004
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005),Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
9. Trần Thị Phương Hiền (2007), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trần Thị Phương Hiền
Năm: 2007
10. Nguyễn Ngọc Hòa (1999), Tội phạm học trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm học trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1999
11. Nguyễn Ngo ̣c Hòa (2001), "Bộ luật hình sự 1999 với viê ̣c quy đi ̣nh về đă ̣c điểm về nhân thân là dấu hiê ̣u đi ̣nh tô ̣i", Luật học, (6), tr. 19-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự 1999 với viê ̣c quy đi ̣nh về đă ̣c điểm về nhân thân là dấu hiê ̣u đi ̣nh tô ̣i
Tác giả: Nguyễn Ngo ̣c Hòa
Năm: 2001
12. Nguyễn Ngọc Hòa (2004), Cấu thành tội phạm lý luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu thành tội phạm lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2004
13. Đinh Văn Quế (2005), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự phần các tội phạm, tập II, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự phần các tội phạm
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005
16. Quốc hội (1991), Luật số 55-LTC/HĐNN8 ngày 12/8 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số 55-LTC/HĐNN8 ngày 12/8 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1991
17. Quốc hội (1993), Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung)
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1993
18. Quốc hội (1997), Luật số 57-L/CTN ngày 10/5 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số 57-L/CTN ngày 10/5 về sửa đổi, bổ sung một số điều của "Bộ "luật hình sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1997
21. Quốc hội (2009), Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung)
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2009
23. Sở Lao đô ̣ng - Thương binh và Xã hô ̣i tỉnh Nam Đi ̣nh (2012), Báo cáo về tình hình sử dụng lao động năm 2012 và dự kiến tuyển dụng lao động năm 2013 của tỉnh Nam Định, Nam Đi ̣nh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về tình hình sử dụng lao động năm 2012 và dự kiến tuyển dụng lao động năm 2013 của tỉnh Nam Định
Tác giả: Sở Lao đô ̣ng - Thương binh và Xã hô ̣i tỉnh Nam Đi ̣nh
Năm: 2012
24. Trần Quang Tiệp (2003), Lịch sử luật hình sự Việt Nam, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Trần Quang Tiệp
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc gia
Năm: 2003
25. Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định (2008), Số liệu thống kê kết quả công tác xét xử năm 2008, Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu thống kê kết quả công tác xét xử năm 2008
Tác giả: Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Thực trạng khởi tố, truy tố, xét xử tội lừa đảo chiếm đoạt tài - Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Luật Hình sự Việt Nam - Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Nam Định
Bảng 2.2 Thực trạng khởi tố, truy tố, xét xử tội lừa đảo chiếm đoạt tài (Trang 66)
Bảng  2.3.  Hình  phạt  đƣợc  áp  dụng  đối  với  bị  cáo  phạm  tội  lừa  đảo   chiếm đoạt tài sản từ năm 2008 - 2012 trên địa bàn tỉnh Nam Định - Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Luật Hình sự Việt Nam - Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Nam Định
ng 2.3. Hình phạt đƣợc áp dụng đối với bị cáo phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ năm 2008 - 2012 trên địa bàn tỉnh Nam Định (Trang 67)
Bảng 2.5: Cơ cấu độ tuổi người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong Luật Hình sự Việt Nam - Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn tại địa bàn tỉnh Nam Định
Bảng 2.5 Cơ cấu độ tuổi người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w