Lê Thị Sơn: Về trách nhiệm hình sự của hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm chưa đạt, Tạp chí Luật học, số 4/2007; 5 PGS.TS Trần Văn Độ: Hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự về gia
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Trịnh Tiến Việt
HÀ NỘI - 2014
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Hồ Thanh Vinh
Trang 4Chương 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI PHẠM CHƢA HOÀN
THÀNH THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
8
1.1 Khái niệm và cơ sở phân chia các giai đoạn thực hiện tội phạm 8 1.1.1 Khái niệm các giai đoạn thực hiện tội phạm 8 1.1.2 Cơ sở phân chia các giai đoạn thực hiện tội phạm 12 1.2 Khái niệm, nội dung và ý nghĩa của các giai đoạn trong tội
phạm chưa hoàn thành
16
1.2.1 Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của tội phạm chưa hoàn thành 16 1.2.2 Khái niệm, các đặc điểm cơ bản và ý nghĩa của chuẩn bị phạm tội 18 1.2.3 Khái niệm, các đặc điểm cơ bản và ý nghĩa của phạm tội chưa đạt 23 1.3 Quy định trong Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới về
tội phạm chưa hoàn thành
30
1.3.2 Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 33
Chương 2: TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI PHẠM CHƢA
HOÀN THÀNH THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
37
2.1 Một số vấn đề chung về trách nhiệm hình sự đối với tội phạm
chưa hoàn thành
37
Trang 52.1.1 Khái niệm, cơ sở và những điều kiện của trách nhiệm hình sự
đối với tội phạm chưa hoàn thành
2.3.1 So sánh trách nhiệm hình sự của tội phạm chưa hoàn thành
đối với trách nhiệm hình sự của trường hợp tự ý nửa chừng
chấm dứt việc phạm tội
59
2.3.2 So sánh trách nhiệm hình sự của tội phạm chưa hoàn thành
với trách nhiệm hình sự của tội phạm hoàn thành
61
Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI PHẠM CHƢA HOÀN THÀNH VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
64
3.1 Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam
về tội phạm chưa hoàn thành
3.2 Sự cần thiết của việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình
sự Việt Nam về tội phạm chưa hoàn thành
80
Trang 63.2.1 Dưới góc độ chính trị - xã hội 80
3.3 Những kiến nghị hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự
Việt Nam về tội phạm chưa hoàn thành
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
3.1 So sánh tỷ lệ chuẩn bị phạm tội và tội phạm hoàn thành
thông qua 100 bản án hình sự sơ thẩm và 100 quyết định
giám đốc thẩm về hình sự
65
3.2 So sánh tỷ lệ phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành
thông qua 100 bản án hình sự sơ thẩm và 100 quyết định
giám đốc thẩm về hình sự
70
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, là một hiện tượng xã hội tiêu cực gắn liền với đời sống của con người Hiện tượng tiêu cực này xâm hại tới lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân cho nên chúng ta luôn phải đấu tranh để phát hiện, ngăn chặn nhanh chóng, kịp thời hiện tượng này nhằm giảm bớt tác hại cho xã hội do nó gây ra
Trong quá trình nghiên cứu tội phạm, thông thường hay chú tâm đến tội phạm hoàn thành, do đó tội phạm chưa hoàn thành ít được đề cập, chú trọng Song, nghiên cứu về tội phạm chưa hoàn thành sẽ giúp chúng ta rất nhiều trong công tác phòng ngừa tội phạm, ngăn chặn tội phạm nguy hiểm có thể xảy ra, là một trong những mục tiêu trong yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ các lợi ích của Nhà nước và của công dân, đặc biệt là ngăn
chặn từ "trứng nước" và ngăn ngừa những hậu quả (thiệt hại) đã gây ra cho
Nhà nước, xã hội, cho cơ quan, tổ chức và cho công dân, qua đó còn góp phần phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt được công minh, chính xác và đúng pháp luật [8, tr 440]
Ngoài ra, nếu nắm vững về tội phạm chưa hoàn thành sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tội phạm, giúp cho công tác phòng ngừa tội phạm của Nhà nước được tốt hơn Vì tội phạm chưa hoàn thành xảy ra trước tội phạm hoàn thành, nó là điều kiện, tiền đề của hoạt động tội phạm hoàn thành Hơn nữa, trong khoa học luật hình sự Việt Nam, xung quanh vấn đề tội phạm chưa hoàn thành còn nhiều nội dung cần nhận thức thống nhất, cũng như cần làm sáng tỏ vấn đề trách nhiệm hình sự trong từng giai đoạn của tội phạm chưa hoàn thành Bên cạnh đó, cũng chưa có công trình khoa học nào tổng kết lý luận, đánh giá thực tiễn áp dụng về vấn đề tội phạm chưa hoàn thành, trong khi chính sách hình sự trước yêu cầu mới của đất nước đòi hỏi cần điều chỉnh
Trang 9theo phương châm "việc không để tội phạm xảy ra xét về hiệu quả kiểm soát tội phạm luôn được đánh giá cao hơn là việc kịp thời phát hiện, xử lý tội phạm" [53, tr 24] Đặc biệt, điểm 3.1 tiểu mục 3 phần IV - Định hướng cơ bản sửa đổi Bộ luật hình sự trong Đề cương định hướng sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự số 7724/ĐC-BSTBLHS (SĐ) ngày 24/9/2012 quy định:
Sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật hình sự liên quan đến khái niệm và phân loại tội phạm, cơ sở của trách nhiệm hình sự,
nguồn của luật hình sự, nguồn của luật hình, các giai đoạn phạm
tội, các chế định đồng phạm, phạm tội có tổ chức, các tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vấn đề quyết định hình phạt [1] Hay gần đây, ngày 10/9/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành
Quyết định số 1236/QĐ-TTg về việc "Phê duyệt kế hoạch tổng kết thi hành
Bộ luật hình sự năm 1999" Theo đó, việc tổng kết này nhằm đánh giá một
cách khách quan, toàn diện và đầy đủ thực tiễn hơn mười năm thi hành Bộ luật hình sự năm 1999, từ đó đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình
sự, trong đó có tội phạm chưa hoàn thành, góp phần đáp ứng yêu cầu mới của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo đảm ổn định lâu dài, thúc đẩy phát triển đất nước
Như vậy, vì các lý do trên mà chúng tôi đã lựa chọn đề tài: "Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn về tội phạm chưa hoàn thành theo luật hình sự Việt Nam" làm luận văn thạc sĩ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Hiện nay, việc nghiên cứu về tội phạm chưa hoàn thành đã có nhiều công trình khoa học đề cập ở các mức độ khác nhau, tuy nhiên so với các chế định khác, thì tội phạm chưa hoàn thành ít được quan tâm nghiên cứu hơn, vì
đa số tập trung vào tội phạm hoàn thành Do những điều kiện nhất định, tội phạm chưa hoàn thành cũng không được thống kê số liệu một cách đầy đủ phục vụ cho công tác điều tra nghiên cứu của tác giả, các nhà nghiên cứu
Trang 10cũng như các học viên Qua tìm hiểu, đã có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu, giáo trình, bài viết trực tiếp hoặc gián tiếp có liên quan đến vấn đề tội phạm chưa hoàn thành như sau:
* Nhóm thứ nhất - sách chuyên khảo, sách tham khảo, giáo trình, bao
gồm: 1) GS TSKH Lê Văn Cảm: Mục V - Chế định về các giai đoạn thực
hiện tội phạm, Chương thứ tư - Tội phạm, Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2005; 2) ThS Lâm Minh Hạnh, Chương VIII - Các giai đoạn
phạm tội, trong sách: Những vấn đề lý luận cơ bản về tội phạm trong luật hình sự việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1986; 3) PGS.TS Nguyễn
Ngọc Chí: Chương Các giai đoạn phạm tội, trong sách: Giáo trình Luật hình
sự Việt Nam (Phần chung), GS.TSKH Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2001, tái bản năm 2003, 2007; 4) PGS.TS Lê Thị Sơn: Bài IV - Một
số vấn đề về các giai đoạn thực hiện tội phạm, trong sách: Luật hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1999;
5) PGS.TS Lê Thị Sơn: Các giai đoạn thực hiện tội phạm, đồng phạm và tổ
chức tội phạm với việc hoàn thiện cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự, Nxb
Tư pháp, Hà Nội, 2013; cũng như một số công trình của các nhà khoa học Liên bang Nga trong phần tài liệu tham khảo của các sách chuyên khảo nói trên
* Nhóm thứ hai - các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành, bao gồm:
1) GS TSKH Lê Văn Cảm: Chế định về các giai đoạn thực hiện tội phạm và
mô hình lý luận của nó trong pháp luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và
pháp luật, số 2/2002; 2) PGS.TS Trịnh Quốc Toản: Một số vấn đề về giai
đoạn phạm tội chưa đạt, Tạp chí Khoa học, chuyên san Kinh tế - Luật, số
4/2002; 3) TS Trịnh Tiến Việt: Một số vấn đề về giai đoạn phạm tội chưa
đạt, Tạp chí Khoa học, chuyên san Kinh tế - Luật, số 4/2002; 4) PGS.TS Lê
Thị Sơn: Về trách nhiệm hình sự của hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm
chưa đạt, Tạp chí Luật học, số 4/2007; 5) PGS.TS Trần Văn Độ: Hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự về giai đoạn thực hiện tội phạm, Tạp chí
Trang 11Tòa án nhân dân, số 5/1999; 6) PGS.TS Dương Tuyết Miên: Quyết định hình
phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, Tạp chí Luật
học, số 4/2001; v.v
* Nhóm thứ ba - các luận văn, luận án, bao gồm: 1) Hoàng Đức Ngọc: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phạm tội chưa đạt theo luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà
Nội, 2010; Bùi Thị Chinh Phương: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quyết
định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc
gia Hà Nội, 2011; v.v…
Tuy nhiên, các công trình trên đây mới chỉ đề cập giải quyết đến khái niệm, các đặc điểm cơ bản, việc quyết định hình phạt trong một giai đoạn của tội phạm chưa hoàn thành là chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt, mà chưa có công trình nào đi sâu và tổng quan về tội phạm chưa hoàn thành, lý giải cơ sở của việc phân chia tội phạm hoàn thành và tội phạm chưa hoàn thành, các nguyên tắc và nội dung trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong giai đoạn này, cũng như phân tích và giải quyết các vấn đề cùng một lúc xung quanh cả hai giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt
3 Mục đích, phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu và làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn, bản chất và các đặc điểm cơ bản của tội phạm chưa hoàn thành nói chung, giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt nói riêng, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội phạm chưa hoàn thành, qua đó, đề xuất hoàn thiện Bộ luật hình sự Việt Nam về tội phạm chưa hoàn thành
3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Phạm vi nghiên cứu của luận văn gồm nghiên cứu, giải quyết một số vấn đề xung quanh tội phạm chưa hoàn thành trong luật hình sự Việt Nam -
Trang 12khái niệm, các dấu hiệu pháp lý và trách nhiệm hình sự đối với tội phạm chưa hoàn thành, kết hợp nghiên cứu đánh giá tình hình áp dụng pháp luật hình sự trong thực tiễn đối với tội phạm chưa hoàn thành thông qua các báo cáo tổng kết, chuyên đề của các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án, cũng như thông qua một số bản án hình sự điển hình
3.3 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn đúng như tên gọi của nó - Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về tội phạm chưa hoàn thành theo luật hình sự Việt Nam
4 Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu đề tài
4.1 Cơ sở lý luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, về công tác đấu tranh, phòng chống các loại tội phạm, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI và Nghị quyết số 08/NQ-TW
ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị "Về một số nhiệm vụ trọng tâm trong công
tác tư pháp trong thời gian tới", và nhất là trong Nghị quyết số 48/NQ-TW
ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị "Về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020", Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày
02/06/2005 của Bộ Chính trị "Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020",
cũng như các công trình khoa học của các nhà khoa học, luật gia trong và ngoài nước
4.2 Các phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, đối chiếu; v.v… Từ đó, có
Trang 13sự tổng hợp kiến thức, rút ra những đánh giá, kết luận và đề xuất các kiến nghị, giải pháp hoàn thiện liên quan đến tội phạm chưa hoàn thành để các nhà làm luật nước ta có thêm tư liệu tham khảo sửa đổi toàn diện Bộ luật hình sự Việt Nam
5 Những điểm mới về mặt khoa học và đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu độc lập dựa trên kết quả tìm hiểu, tra cứu, phân tích, lập luận, làm rõ về mặt lý luận một số vấn đề về tội phạm chưa hoàn thành như: khái niệm, các dấu hiệu khách quan, chủ quan, làm rõ các nội dung về chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, để từ đó có thể đưa ra những kiến giải lập pháp và mô hình khoa học về tội phạm chưa hoàn thành (chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt)
Ngoài ra, về mặt thực tiễn, luận văn nghiên cứu, làm sáng tỏ bức tranh khái quát về tình hình tội phạm chưa hoàn thành trong đời sống xã hội thông qua các báo cáo tổng kết, chuyên đề của các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án, cũng như thông qua đánh giá các bản án hình sự Ngoài ra, luận văn còn làm sáng tỏ một số tồn tại, bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật trong thực tiễn Vì vậy, luận văn còn có ý nghĩa chính trị, xã hội
và pháp lý quan trọng trong việc đánh giá mức độ thực hiện tội phạm Bởi vì xác định đúng sự kiện thực hiện tội phạm do cố ý sẽ có cơ sở cho việc xác định phạm vi mà mức độ trách nhiệm hình sự một cách có căn cứ và đúng pháp luật Từ đó, giúp cho cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án xác định đúng trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt một cách có căn cứ đầy đủ, đúng pháp luật
Bên cạnh đó, luận văn là tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích cho các nhà nghiên cứu, các nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên đại học ở các cơ sở đào tạo về luật trong cả nước, cũng như phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự Việt Nam sắp tới
Trang 146 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về tội phạm chưa hoàn thành theo
luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Trách nhiệm hình sự đối với tội phạm chưa hoàn thành
theo Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành
Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự Việt
Nam về tội phạm chưa hoàn thành và những kiến nghị hoàn thiện
Trang 15Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI PHẠM CHƢA HOÀN THÀNH
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 KHÁI NIỆM VÀ CƠ SỞ PHÂN CHIA CÁC GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN TỘI PHẠM
1.1.1 Khái niệm các giai đoạn thực hiện tội phạm
Khoa học luật hình sự trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng,
đa phần đều phân biệt các giai đoạn phạm tội, như là cách thức để nhận biết dấu hiệu của từng thời điểm mà tội phạm thực hiện
Trong khoa học luật hình sự Liên bang Nga thể hiện qua các quan
điểm nổi bật đã được GS.TSKH Lê Văn Cảm tổng kết trong Sách chuyên khảo
Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung),
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005 về khái niệm đang nghiên cứu như sau: 1) Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các giai đoạn chuẩn bị và trực tiếp thực hiện tội phạm cố ý, được phân biệt với nhau theo tính chất (nội dung) của hành vi đã được thực hiện và thời điểm chấm dứt xử sự có tính chất tội phạm (B.V.Zđravômưxlôv); 2) Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các giai đoạn nhất định của việc chuẩn bị và thực hiện tội phạm cố ý, được phân biệt với nhau theo tính chất của những hành vi được thực hiện và thời điểm chấm dứt hành vi ấy (X.G.Kelina); 3) Các giai đoạn của việc chuẩn bị và trực tiếp thực hiện tội phạm được quy định trong luật và được phân biệt với nhau theo tính chất và nội dung của hành vi người phạm tội thực hiện, cũng như mức độ kết thúc hành vi phạm tội (Ê.F.Pobegailô) [8, tr 440-441]
Còn trong khoa học luật hình sự Việt Nam, các nhà khoa học luật hình
sự, về cơ bản, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu và đưa ra các quan điểm khác nhau về tội phạm chưa hoàn thành và nói chung đều thừa nhận chỉ những tội
Trang 16phạm do phạm tội cố ý, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình
là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả của hành vi đó, bằng ý chí chủ quan của mình quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng thì mới có các giai đoạn phạm tội
GS.TSKH Lê Văn Cảm viết:
Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các bước phát triển theo một trình tự nhất định mà tội phạm trải qua, được thể hiện bằng việc thực hiện các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm tương ứng và bằng mức độ khác nhau của việc thể hiện sự cố
ý phạm tội của chủ thể [8, tr 441]
Hay tác giả Trần Văn Đượm lại đưa ra quan điểm tương tự và liệt kê các giai đoạn cố ý thực hiện tội phạm là "các bước trong quá trình thực hiện tội phạm bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành" [Dẫn theo 44, tr 176]
Hay gần đây, TS Trịnh Tiến Việt quan niệm: "Các giai đoạn phạm tội được hiểu là những bước trong quá trình thực hiện tội phạm do cố ý, phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội ở từng thời điểm, bao gồm: chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành" [56, tr 156]; v.v
Nói chung, từ những quan điểm nêu trên, chúng ta có thể rút ra những điểm chung cơ bản của các giai đoạn thực hiện tội phạm là chỉ ở các tội cố ý, người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả của hành vi đó, người phạm tội bằng ý chí chủ quan của mình quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng thì mới có các giai đoạn phạm tội Từ đó cũng có thể hiểu, các giai đoạn thực hiện tội phạm không có trong tội phạm vô ý, bởi trong tội phạm vô ý người phạm tội không nhận thức được hành vi nguy hiểm cho xã hội, không thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho
xã hội của hành vi đó và cũng không mong muốn cho hậu quả nguy hiểm cho
xã hội bởi hành vi đó
Trang 17Như vậy, trong phạm tội cố ý, có hai hình thức lỗi (hay còn gọi là hai dạng) cố ý là cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp Như vậy vấn đề đặt ra cho các giai đoạn thực hiện tội phạm là hình thức lỗi cố ý trực tiếp hay hình thức lỗi
cố ý gián tiếp, hay chung cho cả hai hình thức lỗi cố ý Hầu hết các nhà hình
sự học, luật gia cho rằng các giai đoạn thực hiện tội phạm chỉ đặt ra với tội phạm thực hiện với hình thức lỗi cố ý trực tiếp [3, tr 223] Lý giải cho quan điểm này, các tác giả đều cho rằng, ở lỗi cố ý trực tiếp người phạm tội khi thực hiện một loạt hành vi như chuẩn bị công cụ, phương tiện, vạch kế hoạch, bàn bạc, rủ rê, lôi kéo người khác tham gia; v.v… và tiến hành thực hiện hành
vi phạm tội Do đó, người phạm tội không thể không nhận thức được hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi thực hiện, không thể không mong muốn cho hậu quả xảy ra
Cũng có trường hợp đối với những tội có cấu thành hình thức bằng không hành động, mặc dù có lỗi cố ý trực tiếp cũng không có hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt Ví dụ: Tội không tố giác tội phạm (Điều 314
Bộ luật hình sự); Tội cố ý không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng (Điều 107 Bộ luật hình sự); v.v
Cũng có một số quan điểm cho rằng người phạm tội với hình thức lỗi
cố ý gián tiếp cũng trải qua các giai đoạn thực hiện tội phạm
Cũng trường hợp phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội có lỗi cố ý gián tiếp cũng có ý thức lựa chọn một xử sự phạm tội Những gì nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra ở trường hợp phạm tội cố ý gián tiếp là những điều tuy chủ thể không nhằm tới nhưng họ chấp nhận việc nó xảy ra Khi điều đó chưa xảy ra, chúng
ta vẫn có thể và cần phải đặt vấn đề trách nhiệm hình sự đối với họ,
vì việc không xảy ra là do nguyên nhân khách quan, còn chủ quan người phạm tội vẫn sẵn sàng chấp nhận việc nó xảy ra Ngoài ra, về mặt thực tiễn, hiện nay chúng ta đã gặp những vụ việc đòi hỏi cần
Trang 18xét xử về hình sự và việc xét xử này chỉ có thể thực hiện được trên
cơ sở thừa nhận nguyên tắc: Các giai đoạn thực hiện tội phạm và trách nhiệm hình sự đối với các giai đoạn phạm tội được đặt ra cho
cả trường hợp phạm tội cố ý gián tiếp [19, tr 68-69]
Do đó, việc đặt ra cho các giai đoạn thực hiện tội phạm với hình thức lỗi cố ý gián tiếp là chưa thật chính xác, bởi vì trong tội phạm do lỗi cố ý gián tiếp, người phạm tội không nhận thức trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội, không mong muốn hậu quả xảy ra, nên không thể có các giai đoạn chuẩn
bị phạm tội cũng như phạm tội chưa đạt
Bộ luật hình sự Việt Nam quy định các giai đoạn thực hiện tội phạm
bao gồm: Chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành Tuy
nhiên, Bộ luật hình sự cũng chỉ nêu chuẩn bị phạm tội tại Điều 17, phạm tội chưa đại tại Điều 18, còn tội phạm hoàn thành không quy định thành một điều luật cụ thể mà được phản ánh thông qua nội dung của 276 tội danh trong Phần các tội phạm Bộ luật này Trong đó, chuẩn bị phạm tội là giai đoạn đầu tiên của các giai đoạn thực hiện tội phạm và là giai đoạn có ảnh hưởng lớn đến kết quả phạm tội Các giai đoạn kế tiếp là phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành Có thể nói việc quy định cách phân chia các giai đoạn thực hiện tội phạm như vậy, thể hiện tính hợp lý cao về khoa học và thực tiễn Điều 2 Bộ luật hình sự quy định: "Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự" [32] Như vậy, việc quy định rõ chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt trong Bộ luật hình sự là cơ sở để xác định mức độ và tính chất của hành vi nguy hiểm cho xã hội, từ đó làm cơ sở cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự một cách chính xác, hợp tình, hợp lý, bảo đảm sự chặt chẽ trong quyết định hình phạt, thể hiện được các nguyên tắc pháp chế và công bằng, để Tòa án đưa ra được các quyết định hình phạt một cách công minh, chính xác, không để lọt tội phạm và người phạm tội, nhưng cũng không làm oan người vô tội
Trang 19Ngoài ra, thực tiễn xét xử ở nước ta từ trước đến nay hầu hết chỉ thừa nhận các giai đoạn thực hiện tội phạm do lỗi cố ý mà không đặt ra vấn đề các giai đoạn thực hiện tội phạm đối với lỗi cố ý trực tiếp, bởi vì trong tội phạm
do lỗi cố ý gián tiếp người phạm tội không mong muốn hậu quả xảy ra, thờ ơ, bàng quan với hậu quả xảy ra Hậu quả xảy ra không phải là mục đích của người phạm tội
Như vậy, chúng ta có thể đưa ra khái niệm đang nghiên cứu như sau:
Các giai đoạn phạm tội là các bước của quá trình thực hiện tội phạm do cố ý (trực tiếp) do luật hình sự quy định, phản ánh tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội ở từng thời điểm khác nhau, bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành
Từ khái niệm nêu trên, chúng ta có thể nêu lên những đặc điểm chính của các giai đoạn thực hiện tội phạm như sau:
- Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các bước, các giai đoạn phát triển nhất định mà tội phạm trải qua gồm: Chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành
- Các giai đoạn thực hiện tội phạm được quy định trong luật hình sự
- Các giai đoạn thực hiện tội phạm chỉ được đặt ra đối với tội phạm thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp
- Các giai đoạn thực hiện tội phạm phản ánh tính chất và mức độ nguy hiểm khác nhau của hành vi phạm tội ở từng thời điểm trong quá trình thực hiện tội phạm (chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành)
1.1.2 Cơ sở phân chia các giai đoạn thực hiện tội phạm
Trên thế giới, khoa học luật hình sự vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về sự phân chia các giai đoạn tội phạm GS.TS Nguyễn Niên trong cuốn
sách chủ biên "Những vấn đề cơ bản về tội phạm trong luật hình sự Việt
Nam", Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1986 đã tổng kết như sau:
Trang 20Trong khoa học luật hình sự Liên Xô cũ, A.A Gertsendon chỉ ra rằng, có 5 giai đoạn phạm tội: 1) Giai đoạn hình thành ý định; 2) Giai đoạn biểu lộ ý định; 3) Giai đoạn chuẩn bị phạm tội; 4) Giai đoạn phạm tội chưa đạt; 5) Giai đoạn hoàn thành tội phạm Trong
cuốn "Giáo trình luật hình sự Xô Viết", A.A Piontkovski không
công nhận hình thành ý định là một giai đoạn của quá trình phạm tội, mà coi giai đoạn biểu lộ ý định là giai đoạn đầu tiên Giáo sư N.D.Durmanjev lại cho rằng chỉ có ba giai đoạn phạm tội: 1) Chuẩn
bị phạm tội; 2) Phạm tội chưa đạt; 3) Tội phạm hoàn thành Hầu hết các giáo trình luật hình sự của Liên Xô cũ đều chia ba giai đoạn như vậy; v.v [28, tr 119]
Còn ở Việt Nam, trước đây, vấn đề này đã được đặt ra từ thế kỷ XV trong Bộ luật Hồng Đức của triều Lê Tuy nhiên, do hạn chế về mặt kỹ thuật lập pháp, vấn đề này không được đề cập một cách rõ ràng Nó được thể hiện qua các điều luật cụ thể và có thể rút ra bốn giai đoạn là: Âm mưu phạm tội; chuẩn bị phạm tội; phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành Ở Bộ luật Hồng Đức, chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt được gọi bằng tên khác, được quy định thành những tội phạm cụ thể, có cấu thành tội phạm cụ thể và những hình phạt riêng
Trong khi đó, hiện nay, ở nước ta có hai quan điểm chính về cách phân chia số lượng các giai đoạn thực hiện tội phạm
- Quan điểm thứ nhất cho rằng, các giai đoạn thực hiện tội phạm bao
gồm: Chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành Trong
đó, GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa cho rằng "Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các mức độ thực hiện tội phạm cố ý, bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành" [19, tr 66] Có cùng quan điểm về cách phân chia số lượng các giai đoạn thực hiện tội phạm, TS Trịnh Tiến Việt cũng đưa ra khái niệm như sau: "Các giai đoạn phạm tội là những bước trong
Trang 21quá trình thực hiện tội phạm do cố ý và bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành" [55, tr 25]; v.v Quan điểm này cũng đã được ghi nhận trong cả Phần chung và Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự
Ở Phần chung Bộ luật hình sự quy định các trường hợp tội phạm chưa hoàn thành: Chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt (Điều 17 và Điều 18); trong Phần các tội phạm quy định trường hợp tội phạm hoàn thành Người phạm tội nếu thực hiện hết các hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm ở Phần các tội phạm thì khi đó tội phạm đã hoàn thành Nếu khi người phạm tội chỉ thực hiện được một hay một số hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm ở Phần các tội phạm (hậu quả chưa xảy ra và việc không thực hiện được đến cùng là do nguyên nhân khách quan), thì khi đó tội phạm được coi là chưa hoàn thành
- Quan điểm thứ hai lại cho rằng, các giai đoạn thực hiện tội phạm
gồm có hai giai đoạn là chuẩn bị phạm tội và thực hiện tội phạm Còn phạm tội chưa đạt và phạm tội hoàn thành chỉ là trường hợp riêng biệt của giai đoạn thực hiện tội phạm, chứ không thể coi là những giai đoạn chính thức được Trong trường hợp phạm tội chưa đạt, người phạm tội chưa thực hiện được tội phạm đến cùng hoặc có thể thực hiện tội phạm đến cùng nhưng kết quả mong muốn không đạt được Còn trong trường hợp tội phạm hoàn thành, người phạm tội đã thực hiện được đầy đủ mọi hành vi phạm tội và đạt được kết quả mong muốn Như vậy, quan điểm này cho rằng, rõ ràng là phạm tội chưa đạt
và tội phạm hoàn thành chỉ là những trường hợp riêng biệt của quá trình thực hiện tội phạm [16, tr 117]; v.v
Theo chúng tôi, quan điểm thứ nhất được ghi nhận trong Bộ luật hình
sự hiện hành, cụ thể hơn và sát thực tế hơn Có thể nói đây là quan điểm phù hợp với diễn biến khách quan của quá trình phạm tội; phù hợp với yêu cầu đấu tranh chống tội phạm của Nhà nước; quan điểm này đồng thời đảm bảo sự chính xác trong phân hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt, từ đó bảo vệ được
Trang 22quyền tự do của công dân, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội
Trong thực tiễn, không phải tất cả trường hợp người phạm tội đều tiến hành tất cả các giai đoạn từ chuẩn bị phạm tội, đến phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành Nếu tội phạm được thực hiện tuần tự từ giai đoạn đầu đến giai đoạn cuối thì có nghĩa tội phạm đã hoàn thành Có những trường hợp sau khi có ý định phạm tội, người phạm tội lập tức thực hiện ngay ý định mà không có sự chuẩn bị gì hết (không trải qua giai đoạn chuẩn bị phạm tội) Hoặc có trường hợp người phạm tội mới bắt tay vào chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội hay tạo ra những điều kiện thuận lợi khác để thực hiện tội phạm thì bị bắt giữ Hoặc người phạm tội sau khi đã tạo ra được nhiều điều kiện cần thiết để thực hiện tội phạm và đã bắt tay vào thực hiện tội phạm nhưng lại không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân khách quan (hậu quả không xảy ra); v.v
Ở Việt Nam hiện nay, luật hình sự không quy định việc biểu lộ ý định phạm tội là một giai đoạn phạm tội Tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự quy định: "Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội…" [32] Như vậy, những gì không phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội thì không phải là tội phạm Ý định phạm tội là những suy nghĩ, tính toán hình thành trong đầu óc con người
Ý định phạm tội chỉ thể hiện ra bên ngoài và có khả năng gây ra nguy hiểm cho xã hội khi người đó thực hiện hành vi Khi ý định chưa thể hiện ra bằng hành vi thì nó vẫn nằm trong đầu óc con người, chưa tác động đến thế giới khách quan, vì vậy nó chưa có khả năng gây ra những nguy hiểm cho xã hội Biểu lộ ý định phạm tội là việc thể hiện ý định ra ngoài bằng lời nói, chữ viết,
cử chỉ, điệu bộ có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp (như đe dọa) Ý định có thể
có hai chiều hướng: hoặc có thể được suy nghĩ, tính toán thêm để quyết định thể hiện ra bên ngoài bằng hành động, hoặc có thể bị thay đổi, từ bỏ vì nguyên nhân nào đó (khách quan hoặc chủ quan) Như vậy, ý định phạm tội chưa biết có được thực hiện trong thực tế hay không Tóm lại, ý định chưa
Trang 23được thể hiệu ra ngoài bằng lời nói, chữ viết, cử chỉ, điệu bộ… thì không phải
là hành vi nguy hiểm cho xã hội, mà không phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội thì không phải là tội phạm Tuy nhiên, trong thời kỳ chiến tranh ở nước ta, cũng có những trường hợp đặc biệt, do yêu cầu đấu tranh chống tội phạm của Nhà nước và do tính chất quan trọng của khách thể tội phạm nên có thời điểm, Nhà nước ta quy định đối với các tội phản cách mạng thì chỉ cần có
"âm mưu phạm tội" cũng bị trừng trị, ví dụ: "Âm mưu phạm tội và hành động
phạm tội đều bị trừng trị" (Điều 2, Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng
ngày 30/6/1967) [39, tr 25] Bởi vì, các nhà làm luật cho rằng khi đã có âm
mưu thì ý thức chống đối của người phạm tội không nằm trong lĩnh vực tư tưởng nữa Trong giai đoạn hiện nay, do tình hình chính trị đã thay đổi nên trong pháp luật hình sự Việt Nam, quy định này đã bị bãi bỏ và được thay
bằng quy định "hoạt động nhằm lật đổ" trong tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 79 Bộ luật hình sự), "đe dọa" trong tội đe dọa giết
người (Điều 103 Bộ luật hình sự)
Từ những quan điểm nêu trên và theo quy định trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành, cũng như việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn, chúng
ta có thể nhận định: Cơ sở để phân chia các giai đoạn thực hiện tội phạm
chính là tính chất của những hành vi được thực hiện với hình thức lỗi cố ý và thời điểm kết thúc những hành vi đó
1.2 KHÁI NIỆM, NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA CỦA CÁC GIAI ĐOẠN TRONG TỘI PHẠM CHƢA HOÀN THÀNH
1.2.1 Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của tội phạm chƣa hoàn thành
Cho đến nay, pháp luật hình sự Việt Nam chưa ghi nhận nội dung về khái niệm về tội phạm chưa hoàn thành, mà chỉ đưa ra khái niệm pháp lý về hai giai đoạn của tội phạm chưa hoàn thành là chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt (Điều 17, 18 Bộ luật hình sự) và là giai đoạn riêng, độc lập so với tội phạm hoàn thành
Trang 24Ngoài ra, trong khoa học luật hình sự Việt Nam, quan điểm của GS.TSKH Lê Văn Cảm đưa ra khá phù hợp với những giai đoạn thực hiện tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam: "Tội phạm chưa hoàn thành là hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt" [7, tr 7], kèm theo
đó là trách nhiệm hình sự đối với tội phạm chưa hoàn thành
Chúng tôi cho rằng, việc ghi nhận khái niệm đầy đủ về tội phạm chưa hoàn thành trong luật hình sự là điều cần thiết Đó là cơ sở để phân biệt giữa tội phạm chưa hoàn thành với tội phạm hoàn thành Đồng thời qua đó còn làm
rõ cơ sở phân chia các giai đoạn phạm tội, cũng như việc quy định trách nhiệm hình sự đối với từng giai đoạn thực hiện tội phạm
Trên cơ sở đó, chúng ta có thể đưa ra khái niệm đang nghiên cứu như
sau: Tội phạm chưa hoàn thành là hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội
chưa đạt, diễn ra trước giai đoạn tội phạm hoàn thành và người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự trên những
- Việc thực hiện tội phạm chưa hoàn thành là do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội
- Tội phạm chưa hoàn thành chỉ đặt ra đối với các tội được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp
- Trách nhiệm hình sự đặt ra với giai đoạn phạm tội chưa hoàn thành nhẹ hơn trách nhiệm hình sự áp dụng đối với trường hợp phạm tội hoàn thành
- Tội phạm chưa hoàn thành phải diễn ra trước giai đoạn tội phạm hoàn thành
Trang 251.2.2 Khái niệm, các đặc điểm cơ bản và ý nghĩa của chuẩn bị phạm tội
* Khái niệm
Điều 17 Bộ luật hình sự Việt Nam quy định như sau: "Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm" [32] Như vậy, chuẩn bị phạm tội là giai đoạn đầu tiên của quá trình thực hiện tội phạm do cố ý Người phạm tội từ chỗ có ý định phạm tội, bằng ý thức chủ quan của mình đã nẩy sinh ý định thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, từ đó dẫn đến bước (hay còn gọi là giai đoạn) chuẩn bị phạm tội Có thể hiểu, chuẩn bị phạm tội là chuẩn bị sẵn những điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm cụ thể Các hành vi như tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện, tìm kiếm đồng phạm, cấu kết với nhau; v.v
Như vậy, chuẩn bị phạm tội là chưa thực hiện hành vi cấu thành tội phạm (trừ một số trường hợp đặc biệt), đó là hành vi chưa tác động trực tiếp đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, do đó, nó chưa trực tiếp gây nguy hại cho khách thể của luật hình sự, nhưng lại là tiền đề, điều kiện thuận lợi để tội phạm xảy ra một cách dễ dàng
Trong quy định tại Bộ luật hình sự, các nhà làm luật đã định nghĩa ngắn gọn, tương đối rõ ràng về giai đoạn chuẩn bị phạm tội Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học luật hình sự, khái niệm đang nghiên cứu có thể được định
nghĩa như sau: Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn đầu tiên của quá trình thực
hiện tội phạm do cố ý trực tiếp, là khi một người tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm, tuy nhiên vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội nên tội phạm
đã không được thực hiện đến cùng
* Các đặc điểm cơ bản
Theo khái niệm trên đây, chúng ta thấy chuẩn bị phạm tội bao hàm cả nội dung thể hiện các đặc điểm cơ bản trên phương diện khách quan và phương diện chủ quan như sau
Trang 26Một là, về phương diện khách quan:
- Hành vi tìm kiếm công cụ, phương tiện để thực hiện tội phạm
- Hành vi sửa soạn công cụ, phương tiện để thực hiện tội phạm
- Tạo ra những điều kiện thuận lợi khác để thực hiện tội phạm
Chúng ta có thể hiểu, lý giải cụ thể về mặt khách quan nêu trên như sau: Công cụ phạm tội là bất kỳ vật gì, như súng, đạn, dao, kéo… mà các vật này có thể dùng được để trực tiếp tác động vào khách thể hoặc đối tượng của tội phạm Còn phương tiện phạm tội là máy móc, đồ vật được sử dụng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm như ô tô, xe máy, máy kéo…
Tìm kiếm công cụ, phương tiện phạm tội là dùng bất kỳ cách thức, phương pháp, thủ đoạn như xin, mua, mượn, trộm cắp… để có được công cụ, phương tiện cho việc thực hiện tội phạm
Sửa soạn công cụ, phương tiện để thực hiện tội phạm là việc người phạm tội tự chế tạo công cụ, phương tiện phạm tội, sửa sang, tân trang, thay đổi hình dạng, kích thước công cụ, phương tiện nhằm giúp cho việc thực hiện tội phạm được thuận lợi hoặc che giấu tội phạm, người phạm tội
Tạo ra những điều kiện thuận lợi khác để thực hiện tội phạm là những hành vi khác nhau (không phải là các hành vi đã nêu trên) như lôi kéo, rủ rê, tạo băng nhóm, nghiên cứu địa hình, lập kế hoạch phạm tội…
Để chuẩn bị cho việc thực hiện tội phạm, người phạm tội có thể thực hiện một hay một số hành vi nêu trên, tùy thuộc vào từng loại tội phạm, từng loại khách thể định xâm hại Hành vi tìm kiếm sửa soạn công cụ, phương tiện
là hành vi chuẩn bị phổ biến nhất so với các hành vi chuẩn bị khác Hầu hết các hành vi tìm kiếm, sửa soạn được thực hiện dưới dạng hành động, chỉ một
số ít thực hiện dưới dạng không hành động
Ví dụ: A đi xe máy ra đường va quệt với B, sau khi lời qua tiếng lại, A
đã về nhà chuẩn bị một con dao, mài sắc dự tính cho B một bài học Để có
Trang 27tiền tiêm chích ma túy, C đã nhiều lần thăm dò nhà hàng xóm để biết được sinh hoạt của nhà hàng xóm, nhằm trộm cắp xe máy của nhà hàng xóm… Những hành vi trên như là hành động nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phạm tội, chứ chưa trực tiếp xâm hại đến việc giết người hay trộm cắp tài sản
Trong mặt khách quan, về nguyên tắc, hành vi chuẩn bị phạm tội là hành vi nguy hiểm cho xã hội Tuy nhiên, tính chất và mức độ nguy hiểm không cao như giai đoạn phạm tội chưa đạt hay tội phạm hoàn thành Hành vi
đó chưa tác động trực tiếp đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, chưa trực tiếp gây nguy hại cho khách thể của luật hình sự, nhưng lại là tiền
đề, điều kiện thuận lợi để tội phạm xảy ra một cách dễ dàng, nhanh chóng và
nó đã thực sự nguy hiểm cho xã hội Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi chuẩn bị phạm tội được quyết định bởi khách thể của tội phạm, thời gian giữa hành vi chuẩn bị phạm tội và thời điểm bắt đầu thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được mô tả trong cấu thành tội phạm, mức độ chuẩn bị… Trên thực tế, có những khách thể của tội phạm, do tính chất đặc biệt quan trọng cho nên chỉ cần có hành vi chuẩn bị phạm tội sẽ gây nguy hại rất lớn cho xã hội
Vì vậy, những trường hợp này pháp luật hình sự nước ta quy định nó hoàn thành ngay khi có hành vi chuẩn bị phạm tội
Ví dụ: Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 79 Bộ luật hình sự, theo đó, ở tội này chỉ cần có hành vi hoạt động thành lập tổ chức được thực hiện bằng một số hành vi: đề xướng chủ trương, viết cương lĩnh, điều lệ; v.v , đường lối hoạt động của tổ chức, tuyên truyền lôi kéo, tập hợp người vào tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân thì tội phạm hoàn thành Mặc dù, khi phân tích những hành vi thuộc mặt khách quan của tội này thì rõ
ràng đó là những hành vi chuẩn bị phạm tội, mang tính "chuẩn bị" chứ chưa
phải là tội phạm hoàn thành
Hai là, về phương diện chủ quan:
Chuẩn bị phạm tội là hành vi chỉ được thể hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp Khi đó, người phạm tội nhận thức được những hành vi đang tiến
Trang 28hành nhằm chuẩn bị cho việc thực hiện tội phạm, biết được được hậu quả nguy hiểm cho xã hội có thể xảy ra nếu tội phạm được thực hiện và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra Động cơ, mục đích và hành vi của người thực hiện hành vi chuẩn bị phạm tội là thống nhất và rõ ràng nhằm đi đến mục tiêu
là thực hiện trọn vẹn hành vi phạm tội sau đó
Từ các dấu hiệu trên ta nhận thấy hành vi (giai đoạn) chuẩn bị phạm tội có các đặc điểm sau:
- Chuẩn bị phạm tội là hành vi tạo điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm
- Chuẩn bị phạm tội chưa chứa đựng dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm, chưa phải hành vi được quy định trong cấu thành tội phạm ở phần các tội phạm của Bộ luật hình sự
- Hành vi đó chưa trực tiếp xâm hại khách thể hoặc đối tượng mà kẻ phạm tội nhằm xâm hại tới
- Hành vi chuẩn bị phạm tội bao giờ cũng diễn ra trước khi tội phạm được thực hiện Giai đoạn này diễn ra trong thời gian ngắn hay dài phụ thuộc rất lớn vào khách thể của tội phạm mà người chuẩn bị phạm tội nhắm tới, động cơ, mục đích của việc phạm tội, công cụ, phương tiện, phạm tội có phức tạp hay không… Nếu công cụ, phương tiện phạm tội là những thứ dễ tìm kiếm như dao, búa…, động cơ thôi thúc mãnh liệt thì hành vi chuẩn bị phạm tội diễn
ra trong thời gian rất ngắn Nhưng nếu công cụ, phương tiện phạm tội là những thứ khó tìm kiếm như súng đạn, dùi cui…, hay để tạo ra nó cần mất nhiều thời gian, việc xâm phạm khách thể của tội định phạm cần có nhiều người cùng tham gia thì hành vi chuẩn bị phạm tội diễn ra trong một thời gian dài hơn
Lưu ý, hành vi chuẩn bị phạm tội khác với hành vi thực hiện tội phạm
Có nhiều trường hợp rất dễ bị nhầm lẫn giữa hành vi chuẩn bị phạm tội và hành vi thực hiện tội phạm vì ranh giới của nó rất nhỏ Nếu việc tạo điều kiện
để thực hiện tội phạm được tiến hành trước khi thực hiện tội phạm một thời
Trang 29gian dài thì đó là giai đoạn chuẩn bị phạm tội Nhưng nếu việc tạo điều kiện
để thực hiện tội phạm được tiến hành ngay trước khi tội phạm bắt đầu thì hành vi đó chỉ được coi là một bước của giai đoạn thực hiện tội phạm
Ví dụ: Hai người đi đường đâm vào nhau gây tai nạn giao thông, sau đó tranh cãi, xô xát Một trong hai người nhặt cục đá ven đường ném mạnh vào đầu người kia dẫn đến bị thương nặng ở đầu Hành vi đó phải tính là một bước của giai đoạn thực hiện tội phạm, chứ không thể coi là hành vi chuẩn bị phạm tội
Trên thực tế, có những hành vi chuẩn bị phạm tội không chỉ cấu thành một tội phạm chưa hoàn thành, mà hành vi đó còn có đầy đủ các dấu hiệu của một (hay nhiều) tội phạm hoàn thành khác
Ví dụ: A có thù oán với B, nên có ý định giết B Để chuẩn bị giết B, A đã tìm mua trái phép súng quân dụng Trong lúc chờ thời cơ giết B, tên này đã cất giấu súng một thời gian Như vậy, A đã phạm tội giết người ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội và đồng thời A còn phạm tội mua bán, vận chuyển, tàng trữ vũ khí quân dụng ở giai đoạn hoàn thành Trong trường hợp này, A phải chịu trách nhiệm hình sự của tội giết người chưa hoàn thành, đồng thời phải chịu trách nhiệm hình sự của tội mua bán, vận chuyển, tàng trữ vũ khí quân dụng ở giai đoạn hoàn thành
* Ý nghĩa của giai đoạn chuẩn bị phạm tội
Chuẩn bị phạm tội là một giai đoạn trong các giai đoạn thực hiện tội phạm, nó xuất hiện sau khi người phạm tội nảy sinh ý định thực hiện tội phạm Chuẩn bị phạm tội cũng là giai đoạn đầu tiên của quá trình người phạm tội trải qua việc thực hiện tội phạm
Mặc dù chuẩn bị phạm tội chưa thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm (trừ một số trường hợp đặc biệt), chưa tác động trực tiếp đến các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, nhưng đó là giai đoạn chuẩn bị sẵn những điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm cụ thể và cũng là tiền đề để tội phạm xảy ra một cách dễ dàng, nhanh chóng, từ đó thực hiện các bước tiếp theo của các giai đoạn thực hiện tội phạm
Trang 30Có thể nó, việc đi sâu nghiên cứu về chuẩn bị phạm tội là rất cần thiết
và có ý nghĩa vô cùng quan trọng, mà qua đó xác định giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt có ý nghĩa rất quan trọng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt [40]
Trong Bộ luật hình sự hiện hành, nhà làm luật nước ta chỉ quy định các cấu thành tội phạm tương ứng với các tội phạm đã hoàn thành, mà không quy định các cấu thành tội phạm tương ứng với giai đoạn chuẩn bị phạm tội Do vậy, việc xác định đúng giai đoạn chuẩn bị phạm tội là cơ sở cho việc định tội
Việc xác định đúng giai đoạn chuẩn bị phạm tội là căn cứ để xác định tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội Ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội thì tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội bao giờ cũng thấp hơn so với các giai đoạn như phạm tội chưa đạt hay tội phạm hoàn thành
Việc xác định đúng giai đoạn chuẩn bị phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong quyết định hình phạt, qua đó, đảm bảo cho các cơ quan xét xử quyết định hình phạt một cách công minh, đưa ra được quyết định hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với người phạm tội
Tóm lại, việc đi sâu nghiên cứu về giai đoạn chuẩn bị phạm tội có ý nghĩa quan trọng để đánh giá mức độ thực hiện tội phạm, từ đó đưa ra cơ sở xác định phạm vi và mức độ trách nhiệm hình sự ở lĩnh vực lập pháp và áp dụng hình phạt đối với những trường hợp cụ thể của giai đoạn chuẩn bị phạm tội, cũng như các bước khác nhau của các giai đoạn thực hiện tội phạm trong luật hình sự Việt Nam
1.2.3 Khái niệm, các đặc điểm cơ bản và ý nghĩa của phạm tội chƣa đạt
* Khái niệm
Điều 18 Bộ luật hình sự Việt Nam quy định: "Phạm tội chưa đạt là cố
ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên
Trang 31nhân bên ngoài ý muốn của người phạm tội" [32] Như vậy, về mặt lý luận, chúng ta có thể hiểu, phạm tội chưa đạt là giai đoạn tiếp theo sau của giai đoạn chuẩn bị phạm tội Trong giai đoạn phạm tội chưa đạt, người phạm tội
sử dụng những điều kiện thuận lợi cần thiết đã chuẩn bị để thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội (được quy định trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm), tuy nhiên, vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội nên tội phạm đã không được thực hiện đến cùng
Khái niệm về phạm tội chưa đạt đã manh nha xuất hiện vào năm 1970 khi trong bản tổng kết số 452-HS2, ngày 10/08/1970 của Tòa án nhân dân tối cao về thực tiễn xét xử loại tội giết người, có giải thích: "Tội giết người chưa hoàn thành khi người bị nạn chết, đối với trường hợp giết người nhưng không chết, nên thống nhất gọi là "giết người chưa đạt" [39, tr 27] Đến năm 1985 thì khái niệm này đã được nêu ra tại khoản 2, Điều 15 (Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985)
Như vậy, khái niệm phạm tội chưa đạt đã xuất hiện khá lâu trong lịch
sử pháp luật Việt Nam, được quy định trong Bộ luật hình sự các thời kỳ và cũng đã được định nghĩa khá rõ ràng, đầy đủ Do đó, dưới góc độ khoa học luật hình sự, theo chúng tôi, khái niệm đang nghiên cứu có thể được định
nghĩa như sau: Phạm tội chưa đạt một giai đoạn trong quá trình thực hiện tội
phạm do cố ý trực tiếp, là khi một người đã thực hiện tội phạm, nhưng tội phạm đã không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người đó
* Các đặc điểm cơ bản
Từ khái niệm trên, chúng ta có thể thấy nội dung của phạm tội chưa đạt được phản ánh thông qua các đặc điểm cơ bản bao gồm cả phương diện khách quan và phương diện chủ quan như sau
Một là, về phương diện khách quan
Trang 32- Từ chuẩn bị phạm tội (ở giai đoạn trước), người phạm tội đã bắt đầu thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm, khách thể của tội phạm đã bị đe dọa và bị xâm hại một cách trực tiếp Ví dụ: Người phạm tội đã thực hiện hành vi lấy cắp tài sản từ kho hàng của công ty, nhưng khi chưa kịp đem ra khỏi công ty thì bị bảo vệ phát hiện, bắt giữ
- Phạm tội chưa đạt có thể là hành động hoặc không hành động, tuy nhiên phần lớn là hành động Hành vi phạm tội chưa đạt đã tác động trong chừng mực nhất định đã làm biến đổi các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ
- Tội phạm không thực hiện đến cùng: Về hình thức, hành vi chưa thỏa mãn đầy đủ những dấu hiệu của một cấu thành tội phạm tương ứng được quy định trong từng tội phạm cụ thể, hoặc đã thỏa mãn nội dung cấu thành tội phạm nhưng hậu quả nguy hiểm cho xã hội theo ý muốn của người phạm tội chưa xảy ra Hành vi đó chưa thể hiện đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội Hậu quả chưa xảy ra hoặc đã xảy ra nhưng không như người phạm tội mong muốn Hành vi chưa thỏa mãn đầy đủ những dấu hiệu của một cấu thành tội phạm tương ứng là điểm cơ bản để phân biệt phạm tội chưa đạt với tội phạm hoàn thành Những khả năng có thể xảy ra như sau:
+ Người phạm tội chưa thực hiện được hành vi khách quan, mà mới chỉ thực hiện được hành vi đi liền trước hành vi khách quan được mô tả trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm
+ Người phạm tội chưa thực hiện được đầy đủ nội dung hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm Người phạm tội mới chỉ thực hiện được một phần hành vi hoặc thực hiện được một hành vi trong số các hành vi được quy định trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm
+ Hậu quả chưa xảy ra dù người phạm tội đã thực hiện hết hành vi được quy định trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm Hoặc đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng chưa phù hợp với hậu quả được quy định trong cấu thành tội phạm
Trang 33+ Dù hậu quả thiệt hại đã xảy ra, nhưng không có mối quan hệ nhân quả với hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm mà người phạm tội thực hiện
- Tội phạm không được thực hiện đến cùng là do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội: Những nguyên nhân dẫn đến hậu quả chưa xảy ra hoặc không xảy ra là những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội Trong giai đoạn phạm tội chưa đạt cũng có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc Thời điểm bắt đầu của hành vi phạm tội chưa đạt là
từ khi người phạm tội bắt đầu thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm hoặc hành vi đi liền trước đó Thời điểm kết thúc là thời điểm người phạm tội đang thực hiện hành vi phạm tội thì bị phát hiện, ngăn chặn hoặc đã thực hiện xong hết hành vi nhưng hậu quả không xảy ra hoặc đã xảy ra nhưng không đúng như mong muốn
Việc xác định xem tội phạm đã bắt đầu thực hiện hay chưa cần dựa vào khách thể của tội phạm, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, loại hành vi, ý thức chủ quan của người phạm tội và từng loại cấu thành tội phạm Trong loại cấu thành tội phạm hình thức, hành vi đi liền trước hành vi khách quan đã được quy định là hành vi bắt đầu thực hiện tội phạm được quy định trong các cấu thành tội phạm tương ứng
Hai là, về phương diện chủ quan
- Phạm tội chưa đạt là hành vi được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp Mỗi hành vi được thực hiện đều có động cơ, mục đích riêng Người phạm tội nhận thức được hành vi mà mình thực hiện nguy hiểm cho xã hội, nhìn thấy trước khả năng xảy ra hậu quả và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra nhưng hậu quả đó đã không xảy ra như mong muốn
Ví dụ: A đi làm về ban đêm, trên một đoạn đường vắng, nhìn thấy B
bị tai nạn giao thông do ngã xe máy, chấn thương rất nặng, nằm bất động Do
sợ bị liên lụy, A không dừng xe để đưa B đi cấp cứu và để mặc B nằm đấy
Trang 34Trong trường hợp này, nếu B chết thì A sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 102 Bộ luật hình sự về tội không cứu giúp người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, nhưng nếu sau đó B được một người tốt bụng khác đưa đi cấp cứu thì B lại không phạm tội, vì điều luật quy định là phải xảy ra hậu quả chết người
* Các dạng phạm tội chưa đạt
Trong giai đoạn phạm tội chưa đạt, tùy từng trường hợp, tính chất, mức độ phạm tội chưa đạt không giống nhau, vì thế, cần phân loại các dạng phạm tội chưa đạt Việc phân loại tội phân loại phạm tội chưa đạt có ý nghĩa xác định mức độ nguy hiểm của phạm tội chưa đạt, làm cơ sở cho việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với từng trường hợp cụ thể Việc phân loại phạm tội chưa đạt dựa trên những căn cứ khác nhau Căn cứ vào mức độ thực hiện hành vi mà người phạm tội dự định thực hiện, chúng ta có thể phân chia thành hai dạng phạm tội chưa đạt là: phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành và phạm tội chưa đạt đã hoàn thành
Một là, phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành Đây là trường hợp chưa
đạt về hành vi và cả chưa đạt về hậu quả Là dạng phạm tội (chưa đạt) mà người phạm tội cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện đến cùng do những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội Người phạm tội cũng chưa thực hiện hết những hành vi dự định làm Việc chấm dứt hành vi nằm ngoài dự tính và trái với mong muốn của người phạm tội Trường hợp này, người phạm tội nhận thức rõ ràng rằng mình đã không thực hiện được tất cả những hành vi cần thiết để hậu quả xảy ra
Hai là, phạm tội chưa đạt đã hoàn thành Ở trường hợp này, người
phạm tội đã thực hiện tất cả những hành vi mà họ cho là cần thiết để đạt được mục đích mà họ dự định và mong muốn từ trước Hành vi của người phạm tội
đã thỏa mãn đầy đủ nội dung của hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm, nhưng do những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội mà hậu quả của tội phạm chưa xảy ra
Trang 35Đây là dạng phạm tội chưa đạt mà người phạm tội cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng do những nguyên nhân ngoài
ý muốn của người phạm tội Tuy nhiên, khác với dạng phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành, thì ở dạng này người phạm tội đã thực hiện hết hành vi dự định làm
Như vậy, có thể nói, dạng phạm tội chưa đạt đã hoàn thành có hành vi rất gần với tội phạm hoàn thành, do vậy nó cũng mang tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn dạng phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành Về mặt chủ quan, phạm tội chưa đạt đã thành là cố ý thực hiện hành vi đến cùng Về mặt khách quan, phạm tội chưa đạt đã hoàn thành cũng đã thực hiện đầy đủ hành vi thỏa mãn cấu thành tội phạm tương ứng trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự,
nó chỉ khác tội phạm hoàn thành ở hậu quả chưa xảy ra, hoặc đã xảy ra nhưng không như mong muốn của người phạm tội
* Ý nghĩa của giai đoạn phạm tội chưa đạt
Phạm tội chưa đạt là một giai đoạn trong các giai đoạn thực hiện tội phạm, Đây là giai đoạn tiếp theo sau của giai đoạn chuẩn bị phạm tội và xảy
ra trước giai đoạn tội phạm hoàn thành Trong giai đoạn này, người phạm tội
sử dụng những điều kiện thuận lợi cần thiết đã chuẩn bị (ở giai đoạn chuẩn
bị phạm tội có trước) để cố ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và đã thực hiện các hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm (được quy định trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm), tuy nhiên, vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội nên tội phạm đã không được thực hiện đến cùng
Việc đi sâu nghiên cứu về giai đoạn phạm tội chưa đạt là rất cần thiết
và có ý nghĩa vô cùng quan trọng, qua đó:
- Xác định đúng việc thực hiện tội phạm ở giai đoạn phạm tội chưa đạt
là căn cứ xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội Hành vi ở giai
Trang 36đoạn phạm tội chưa đạt bao giờ cũng nặng hơn giai đoạn chuẩn bị phạm tội và nhẹ hơn giai đoạn tội phạm hoàn thành
- Xác định giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt có ý nghĩa rất quan trọng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt [40] Do trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự không quy định cụ thể về phạm tội chưa đạt nên việc xác định đúng giai đoạn này là cơ
sở cho việc định tội
- Xác định đúng việc thực hiện tội phạm ở giai đoạn phạm tội chưa đạt
có ý nghĩa quan trọng trong quyết định hình phạt, đảm bảo cho các cơ quan xét xử quyết định hình phạt một cách công minh, đưa ra được quyết định hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội
- Xác phân chia để xác định các dạng phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành và phạm tội chưa đạt đã hoàn thành (trong giai đoạn phạm tội chưa đạt)
có ý nghĩa quan trọng trong quyết định hình phạt, đảm bảo cho các cơ quan xét xử quyết định hình phạt một cách công minh, đưa ra được quyết định hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, đúng người, đúng tội
Như vậy, có thể nói, việc nghiên cứu giai đoạn phạm tội chưa đạt có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn Về mặt lý luận, giúp chúng ta bổ sung thêm, làm rõ về mặt lý luận những vấn đề về tội phạm chưa hoàn thành để từ đó có thể đưa ra một mô hình lý luận hoàn chỉnh về chế định này Về mặt thực tiễn, nghiên cứu chế định phạm tội chưa đạt giúp cho những người làm công tác áp dụng pháp luật có thể đánh giá mức độ thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội để áp dụng pháp luật một cách chính xác, bảo đảm truy tố, xét xử đúng người đúng tội và phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Ngoài ra, việc nghiên cứu chế định phạm tội chưa đạt, giúp ích rất nhiều trong nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm, ngăn ngừa việc xảy ra các tội phạm nguy hiểm
Trang 371.3 QUY ĐỊNH TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ TỘI PHẠM CHƯA HOÀN THÀNH
Pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự trên thế giới đều có chung mục đích là bảo vệ công lý, giữ vững chế độ chính trị, bảo vệ đất nước, đảm bảo quyền con người Tuy nhiên, ở mỗi nước lại có cách nhìn nhận riêng, quy định riêng, có phần giống và cũng có phần khác nhau trong mỗi điều luật
Về dạng tội phạm chưa hoàn thành, hầu hết các nước đều có quy định Để có nhận thức toàn diện và bao quát hơn, qua đó có thể đánh giá, đối chiếu với pháp luật hình sự ở Việt Nam, chúng tôi đi sâu nghiên cứu pháp luật của các nước và nhận thấy sự đa dạng trong pháp luật về tội phạm chưa hoàn thành trên thế giới
1.3.1 Bộ luật hình sự Liên bang Nga
Liên bang Nga là quốc gia có lịch sử pháp luật hình sự lâu đời với nhiều quan điểm phong phú Bộ luật hình sự Liên bang Nga, được Đuma quốc gia thông qua ngày 24/05/1996, sửa đổi năm 2010 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự Liên bang Nga) Khoa học luật hình sự Liên bang Nga từ trước đến nay có nhiều quan điểm khác nhau về các giai đoạn phạm tội Điểm đáng ghi nhận là trong Bộ luật hình sự nước này có một chương riêng về Tội phạm chưa hoàn thành (Chương 6) với các điều luật cụ thể như:
- Điều 29 quy định về tội phạm hoàn thành và chưa hoàn thành;
- Điều 30 quy định về chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt;
- Điều 31 quy định về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
* Giai đoạn chuẩn bị phạm tội
Theo Bộ luật hình sự Liên bang Nga tại khoản 1 Điều 30 quy định khái niệm:
Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn phương tiện, công
cụ phạm tội, tìm kiếm những người đồng phạm, bàn bạc thực hiện việc tội phạm hoặc cố ý tạo ra những điều kiện khác để thực hiện
Trang 38tội phạm nhưng tội phạm không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội [46]
Khái niệm về chuẩn bị phạm tội mà Bộ luật hình sự Liên bang Nga quy định, cũng giống như khái niệm về chuẩn bị phạm tội của Bộ luật hình sự Việt Nam quy định tại Điều 17 Các dấu hiệu giống nhau như: tìm kiếm, sửa soạn hoặc chuẩn bị phương tiện hoặc công cụ phạm tội; hay tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm Trong Bộ luật hình sự Liên bang Nga còn thêm phần sau của khái niệm là các dấu hiệu như: Tìm kiếm những người đồng phạm, bàn bạc việc thực hiện tội phạm Khái niệm này cũng làm rõ ý: Tội phạm không thực hiện được do hoàn cảnh khách quan Như vậy, nội dung
cơ bản của khái niệm chuẩn bị phạm tội của Bộ luật hình sự Việt Nam và Liên bang Nga là tương đối giống nhau, dù câu chữ có khác nhau, nhưng mục đích, quan điểm của nhà làm luật là cơ bản giống nhau
Khái niệm về chuẩn bị phạm tội của luật hình sự Liên bang Nga nêu
trên đã thể hiện được đầy đủ ý như "tìm kiếm đồng phạm"; "bàn bạc thực hiện
tội phạm"; hay "tội phạm nhưng tội phạm không thực hiện được do hoàn cảnh khách quan" Như vậy, khái niệm đã làm rõ được giai đoạn chuẩn bị phạm
tội, và là giai đoạn đầu của hoạt động phạm tội sơ bộ Khái niệm cũng đã thể
hiện được phần "lý do khách quan" mà tội phạm không được thực hiện Đây
là những dấu hiệu cần được làm rõ mà hiện nay trong Bộ luật hình sự Việt Nam chưa được ghi nhận Chúng tôi cho rằng, nhà làm luật nước ta cần ghi nhận những dấu hiệu này trong Bộ luật hình sự sửa đổi tới đây
Về trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với tội phạm chưa hoàn thành
ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, khoản 2 Điều 30 của Bộ luật hình sự Liên bang Nga quy định: "Chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng" [46] Theo đó, các tội có mức hình phạt cao nhất từ 5 năm tù trở lên hoặc hình phạt nghiêm khắc hơn So với quy định này của Bộ luật hình sự Liên bang Nga thì Bộ luật hình sự Việt Nam có
Trang 39phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người chuẩn bị phạm tội hẹp hơn, vì theo
Bộ luật hình sự Việt Nam, hành vi chuẩn bị phạm tội có mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội đó từ trên 7 năm tù trở lên, tù chung thân hoặc tử hình thì phải chịu trách nhiệm hình sự, còn hành vi chuẩn bị phạm tội ở một tội có mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội đó là không quá 7 năm tù thì không phải chịu trách nhiệm hình sự
Ngoài ra, Điều 66 Bộ luật hình sự Liên bang Nga có quy định về quyết định hình phạt đối với phạm tội chưa đạt, trong đó quy định về trường hợp chuẩn bị phạm tội như sau: 1) Khi quyết định hình phạt đối với phạm tội chưa đạt phải cân nhắc các tình tiết làm cho tội phạm không được thực hiện đến cùng; 2) Thời hạn và mức hình phạt đối với việc chuẩn bị phạm tội không vượt quá 1/2 thời hạn mức hình phạt [46]
* Giai đoạn phạm tội chưa đạt
Tương tự, tại khoản 3 Điều 30 Bộ luật hình sự Liên bang Nga quy định: "Phạm tội chưa đạt là những hành động (hoặc không hành động) cố ý của một người trực tiếp nhằm thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội" [46] Như vậy, khái niệm phạm tội chưa đạt trên tương tự như quy định về phạm tội chưa đạt trong Bộ luật hình sự Việt Nam, nhưng trong đó chỉ ra hai dạng của hành vi là hành động hoặc không hành động
Quy định về trách nhiệm hình sự đối với phạm tội chưa đạt của Bộ luật hình sự Liên bang Nga khá giống như Bộ luật hình sự Việt Nam khi không đặt ra vấn đề giới hạn những trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự
mà quy định mọi trường hợp phạm tội chưa đạt đều phải chịu trách nhiệm hình sự, không kể tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hay tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Điều 66 Bộ luật hình sự Liên bang Nga quy định mức hình phạt quyết định đối với hành vi phạm tội chưa đạt không vượt quá 3/4 mức hình phạt trong
Trang 40khung hình phạt đối với tội phạm đã hoàn thành, không áp dụng hình phạt tử hình và tù chung thân đối với người phạm tội chưa đạt (tại khoản 3 và khoản 4)
Như vậy, về cơ bản, Bộ luật hình sự Liên bang Nga giống với Bộ luật hình sự Việt Nam ở mức hình phạt quyết định đối với hành vi phạm tội chưa đạt áp dụng cho hình phạt tù có thời hạn là không vượt quá 3/4 mức hình phạt
mà điều luật quy định Tuy nhiên, trong Bộ luật hình sự Liên bang Nga lại không áp dụng hai hình phạt nghiêm khắc nhất là hình phạt tử hình và hình phạt tù chung thân đối với người có hành vi phạm tội chưa đạt Theo Bộ luật hình sự Việt Nam thì trường hợp điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì có thể áp dụng các hình phạt này trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng
Ngoài ra, Bộ luật hình sự Liên bang Nga cũng có quy định trách nhiệm hình sự đối với tội phạm chưa hoàn thành tại một khoản riêng: "Trách nhiệm hình sự đối với tội phạm chưa hoàn thành được quy định trong điều luật quy định trách nhiệm hình sự đối với phạm tội hoàn thành và viện dẫn Điều 30 Bộ luật hình sự này" [46, khoản 3 Điều 66]
1.3.2 Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Pháp luật hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có quy định về tội phạm chưa hoàn thành, tuy nhiên khái niệm khá ngắn gọn Bộ luật hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ II, ngày 01/7/1979, có hiệu lực từ ngày 01/01/1980 Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự này được sửa đổi vào năm 1997, có hiệu lực từ ngày 01/10/1997 Từ sau năm 1997, Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được sửa đổi, bổ sung vào năm 1999, 2001, 2002, 2005 và gần đây là 2009 tại Hội nghị lần thứ 16 của Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa)
Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thể hiện nội dung về tội phạm chưa hoàn thành như sau: