Có thể nói Nhật Bản là quốc gia duy nhất ngoài khu vực châu Âu nằm trong danh sách những nước có dân số già nhất thế giới.Theo “Japan Times” Nhật Bản nhận định của các chuyên gia phân tí
Trang 1MỤC LỤC
Lời Mở đầu
I Giới thiệu tổng quan về đất nước Nhật Bản:………
……… … 2
II A Môi trường vĩ mô……… ………3
1 Môi trường dân số: ……… ………3
2 Môi trường kinh tế: ……… ………6
3 Môi trường tự nhiên: ……… ………13
4 Môi trường công nghệ: ……… ………14
5 Môi trường chính trị: ……… ……… 14
6 Môi trường văn hóa: ……… ………26
7 Môi trường quốc tế: ……… ……… 31
II B Thời cơ, thách thức và phương thức thâm nhập:……… 34
1 Thời cơ: ……… ……… 34
2 Thách thức: ……… ………38
3 Phương thức thâm nhập: ……… ……… 41
III Môi trường vi mô cho sản phẩm gỗ……… …47
1 Thị trường nội địa…….……….47
2 Nhu cầu tại Nhật Bản….………50
3 Thâm nhập thị trường Nhật Bản bằng phương thức xuất khẩu……… ……… 52
4 Nguồn cung ứng……… ……… 60
5 Thực trạng và khả năng cạnh tranh……….63
6 Sản phẩm thay thế….……… 70
7 Đánh giá sản phẩm thay thế và hướng đi của đồ gỗ Việt Nam…
……… ……79
Kết luận
Tài Liệu Tham Khảo
Trang 2I Giới thiệu tổng quan về đất nước Nhật Bản:
Nhật Bản có diện tích tổng cộng là 379.954 km2 nằm xoải theo bên sườn phía
đông của lục địa Châu Á Nhật Bản nằm ở phía đông của các quốc gia Hàn Quốc, Nga
và Trung Quốc; trải từ biển Okhotsk ở phía bắc đến biển Đông ở phía nam
Dân số Nhật Bản
Tính đến tháng 07/2012 là 127.368.088 người, xếp hạng thứ 10 trên thế giới Nhật Bản cũng là quốc gia có mật độ dân số lớn thứ 30 trên thế giới Nhật Bản là một trong những nước có tuổi thọ dân số cao nhất thế giới, trung bình là 81,25 tuổi cho năm 2006 Tuy nhiên, dân số nước này đang lão hóa do hậu quả của sự bùng nổ dân
số sau Thế chiến thứ hai Năm 2004, 19,5% dân số Nhật trên 65 tuổi Nhiều người trẻ Nhật Bản hiện có xu hướng không kết hôn hoặc có gia đình khi trưởng thành Dân số nước Nhật Bản dự tính sẽ giảm xuống còn 100 triệu người vào năm 2050 Chính quyền và các nhà hoạch định dân số đang đau đầu để giải quyết vấn đề này
Nhật Bản có hơn 3000 hòn đảo lớn nhỏ nằm trải dài dọc biển Thái Bình
Dương Các đảo chính chạy từ Bắc tới Nam bao gồm Hokkaido, Honshu, Shikoku và Kyushu Quần đảo Ryukyu bao gồm Okinawa là một chuỗi các hòn đảo phía Nam Kyushu Phần lớn diện tích Nhật Bản là núi, chiếm khỏag 70-80%, loại hình địa lý không hợp cho nông nghiệp, công nghiệp và cư trú
Do nằm trên vành đai núi lửa Thái Bình Dương, lại ở chính điểm nối của bavùng kiến tạo địa chất nên Nhật Bản thường xuyên phải chịu các dư trấn động đất nhẹcũng như các hoạt động của núi lửa Các cơn động đất có sức tàn phá, thường dẫn đếnsóng thần Cũng chính vì các hoạt động núi lửa diễn ra thường xuyên nên quốc gia này
có vô số suối nước nóng và các suối này đã và đang được phát triển thành các khunghỉ dưỡng
Khí hậu Nhật Bản phần lớn là ôn hòa, nhưng biến đổi từ Bắc vào Nam Nhiệt
độ nóng nhất đo được ở Nhật Bản là 40,9 °C - đo được vào 16 tháng 8 năm 2007.Phong cảnh thiên nhiên của Nhật Bản vô cùng đẹp với 4 mùa thay đổi rõ rệt với mùaxuân có hoa anh đào nở từ miền nam lên miền bắc, mùa hè với cây cối xanh mướt,mùa thu có lá phong đỏ thắm từ miền bắc xuống miền nam và mùa đông tuyết trắngxóa khắp nơi Đặc biệt Nhật Bản có núi Phú Sĩ (tiếng Nhật là Fujisan), là ngọn núi caonhất Nhật Bản và cũng chính là biểu tượng của đất nước này Núi Phú Sĩ nằm giữađồng bằng, có tuyết bao phủ trắng phần đỉnh núi, là nguồn cảm hứng của rất nhiều văn
sĩ và thi sĩ xứ Phù Tang cũng như các văn nghệ sĩ khắp bốn phương
Về văn hóa, Nhật Bản là một trong những quốc gia có nền văn hóa vô cùng
đặc sắc Văn hóa Nhật chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ văn hóa Châu Á, Châu Âu và Bắc
Mỹ Nghệ thuật truyền thống của Nhật Bản cũng vô cùng phát triển, từ các ngành thủcông như cắm hoa Ikebana, nghệ thuật gấp giấy Origami, ukiyo-e, đồ chơi, đồ gỗ sơnmài và gốm sứ Bên cạnh đó các bộ môn nghệ thuật biểu diễn cũng có những nét hấpdẫn rất đặc biệt như bunraku, nhảy, kabuki no, rakugo Ngoài ra cũng phải kể đến
Trang 3những nét đặc sắc truyền thống khác như trà đạo, Budo, kiến trúc, vườn Nhật và cảgươm Nhật Ẩm thực Nhật Bản cũng là một trong những nền ẩm thực nổi tiếng nhấttrên thế giới.
Nhật Bản đặc biệt phát triển manga, một loại truyện tranh Sau đó, Manga cũng
có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt hình của Nhật và phát triển nên một thể loại hoạt hình đặc trưng phong cách Nhật có tên là Anime Từ Manga và Anime mà các trò chơigame video của đất nước này cũng có những sự phát triển mạnh mẽ khắp thế giới từ thập niên 1980
Karaoke cũng là một hoạt động văn hóa phổ biến nhất ở Nhật Người Nhật hátKaraoke nhiều hơn là tham gia vào bất kì một động văn hóa truyền thống nào khác
Về thể thao, Sumo là một môn thể thao quốc gia của Nhật Bản và là một
trong những môn thể thao có lượng người xem lớn nhất tại đất nước này Các môn võkhác như judo, karate và kendo cũng phổ biến và được người dân tập luyện rộng rãikhắp đất nước Sau này rất nhiều các môn thể thao phương Tây cũng du nhập và lantruyền rộng rãi trong nước Nhật Trong đó Bóng chày là môn thể thao rất được ngườiNhật hâm mộ Bên cạnh đó, bóng đá cũng đang dần dần tìm được chỗ đứng trong làngthể thao Nhật Bản Từ khi thành lập Giải bóng đá chuyên nghiệp Nhật Bản năm 1992,đội tuyển bóng đá quốc gia Nhật Bản đã trở thành một trong những đội bóng thànhcông nhất ở châu Á với 4 lần dành chức vô địch Cúp bóng đá Châu Á Nhật Bản cũng
là nước đồng chủ nhà World Cup 2002 với Hàn Quốc Ở Châu Á, Nhật cũng là quốcgia đầu tiên tổ chức 1 kỳ Thế vận hội, đó là Thế Vận Hội mùa hè năm 1964 tại thủ đôTokyo
Nhật Bản cũng là quốc gia dẫn đầu thế giới trong nhiều lĩnh vực về nghiên cứu
khoa học, công nghệ máy móc và nghiên cứu y học Ở quốc gia này, gần 700.000 nhànghiên cứu có hơn 130 tỷ USD ngân sách để nghiên cứu và phát triển các lĩnh vựckhoa họa, đứng hàng thứ 3 trên thế giới Nhật có những phát minh rất quan trọngtrong các lĩnh vực điện tử, ô tô, máy móc Nhật Bản dẫn đầu thế giới trong ngànhkhoa học robot, với những phát minh nổi tiếng như QRIO, ASIMO và Aibo Nhật Bảncũng là nhà sản xuất ô tô lớn nhất trên thế giới và là quê hương của 6 trong tổng số 15nhà sản xuất ô tô lớn nhất toàn cầu cũng như 7 trong số 20 nhà sản xuất chất bán dẫnlớn nhất thế giới
II A Môi trường vĩ mô:
1 Môi trường dân số:
Nhật Bản là quốc gia có dân số lớn thứ 10 thế giới với ước tính khoảng 127,619 triệu người tính đến tháng 3 năm 2011 Vùng thủ đô Tokyo và một vài tỉnh xung quanh là vùng đô thị lớn nhất thế giới với khoảng 30 triệu người sinh sống
Nhật Bản cũng là một trong những nước có tuổi thọ dân số cao nhất thế giới, trung bình là 81,25 tuổi cho năm 2006 Tuy nhiên, dân số Nhật đang lão hóa do hậu
Trang 4quả của sự bùng nổ dân số sau Thế chiến thứ hai Năm 2004, 19,5% dân số Nhật trên
65 tuổi
Có thể nói Nhật Bản là quốc gia duy nhất ngoài khu vực châu Âu nằm trong danh sách những nước có dân số già nhất thế giới.Theo “Japan Times” (Nhật Bản) nhận định của các chuyên gia phân tích, mặc dù là một cường quốc kinh tế, nhưng vấn
đề dân số đang khiến các nhà hoạch định chính sách của Nhật Bản phải đau đầu.Trước
xu hướng dân số ngày càng già đi, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động giảm sút, vấn đề đặt ra là “Nhật Bản có thể duy trì được vị thế của một siêu cường kinh tế hay không?”,
“Nhật Bản có thể đẩy mạnh tham vọng can dự sâu hơn vào các vấn đề quốc tế và khu vực để mở rộng và tăng cường ảnh hưởng của mình hay không?” Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi Trung Quốc đang ngày càng trỗi dậy mạnh mẽ, Trung Quốc đang
có những bước đột phá hết sức ấn tượng Khi tiềm lực kinh tế của ngày càng mạnh và sức mạnh quốc phòng được nâng cao, nước này sẽ đẩy mạnh can dự vào các vấn đề quốc tế cũng như khu vực và điều này đe dọa tới vị thế của Nhật Bản
Qua các số liệu thống kê cho thấy dân số Nhật sẽ “giảm ở nông thôn, già hóa ở thành thị” Tỷ lệ dân số từ 65 tuổi trở lên sẽ vượt quá 30% tại tất cả các tỉnh của Nhật Bản vào năm 2040 Viện Nghiên cứu Dân số và An sinh xã hội Quốc gia Nhật Bản vừa công bố một dự báo về dân số nước này Theo đó, dân số tại tất cả các tỉnh của Nhật Bản sẽ giảm đi và già hơn vào năm 2040 Dự báo này dựa trên kết quả mới nhất
từ cuộc điều tra dân số được thực hiện hồi năm 2010 và tác động của thảm họa động đất sóng thần hồi tháng 3/2011 ở Đông Bắc Nhật Bản Dự báo cho thấy tỷ lệ dân số từ
65 tuổi trở lên sẽ vượt quá 30% tại tất cả các tỉnh của Nhật Bản vào năm 2040, tăng nhiều so với con số 20% hồi năm 2010 Người đứng đầu Viện trên, ông Toru Suzuki cho biết dân số Nhật Bản đang giảm đi tại khu vực nông thôn và lão hóa tại những thành phố lớn Nguyên nhân được cho là nhiều người đã chuyển tới khu vực thành thị vào những năm 1960 và những năm 1970, tức trong thời kỳ kinh tế phát triển mạnh ở Nhật Bản
Theo thông báo mới nhất của Bộ y tế Nhật Bản, dân số quốc gia này đã sụt giảm kỷ lục trong năm 2012 Tỷ lệ sinh và tử chênh lệch đến 212 ngàn người
Trang 5Cuối tháng 9/2012, dân số Nhật Bản xấp xỉ 125,95 triệu người Số trẻ em được sinh trong năm này thấp kỷ lục chỉ 1,033 triệu bé (giảm 18 ngàn bé so với năm 2011), trong khi tỉ lệ tử 1,245 triệu người Sự chênh lệch giữa số người sinh ra và mất đi của năm 2012 tại đây là 212 ngàn người.
Viện Nghiên cứu dân số và An sinh xã hội Nhật Bản dự báo, tổng dân số đất nước này sẽ giảm xuống còn khoảng 86,74 triệu người vào năm 2060
Từ năm 2007, dân số Nhật Bản đã bị thu hẹp đáng kể Năm 2011, có hơn 1,253 triệu người Nhật qua đời một phần do thảm họa từ trận động đất và sóng thần kinh hoàng
Bộ trưởng Bộ Y tế cho biết có 60% người Nhật mất do một trong các căn bệnh sau: ung thư, tim, viêm phổi và bệnh về mạch máu não
Theo nhận định của các chuyên gia, những thay đổi trong cơ cấu dân số là những dấu hiệu quan trọng ảnh hưởng tới tương lai của Nhật Bản Nhật Bản rất khó đểduy trì khả năng cạnh tranh kinh tế khi dân số giảm: Các thị trường giảm sút, chi phí kinh doanh tăng và đầu tư nước ngoài sẽ chuyển sang các thị trường khác năng động hơn Khi tỷ lệ người già ngày càng tăng lên, số người trong độ tuổi lao động giảm xuống sẽ hạn chế tốc độ tăng trưởng kinh tế, giảm nguồn thu thuế và ảnh hưởng tới ngân sách chi tiêu của Chính phủ và những điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn tới chính sách quốc phòng và đối ngoại của Nhật Bản
Các chuyên gia quân sự cho biết, chi tiêu quốc phòng luôn là vấn đề khó khăn gây tranh cãi ở Nhật Bản và vấn đề này thậm chí sẽ trở nên khó khăn hơn trong thời gian tới Trong những năm tiếp theo, Chính phủ Nhật Bản sẽ phải chi nhiều hơn nữa cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe đối với người cao tuổi và khi tỷ lệ người cao tuổi càng cao, ngân sách y tế chăm sóc số người này càng lớn và điều đó sẽ ảnh hưởng tới chi tiêu của Chính phủ dành cho các lĩnh vực khác Đặc biệt, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động ở Nhật Bản ngày càng ít đi, họ lại là lực lượng lao động chính của xã hội thì rất khó để họ tham gia quân đội Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản cũng đang hết sức lo ngại trước thực tế này Ở Nhật Bản, nghề sỹ quan quân đội chưa bao giờ trở thành một
Trang 6nghề phổ biến trong xã hội và ngày càng có ít người muốn theo con đường này trong thời gian tới.
Tuy nhiên, theo nhận định của các chuyên gia, có thể đưa ra một số giải pháp cho vấn đề này như chính sách nhập cư hợp lý, tăng cường vai trò của phụ nữ, đẩy mạnh các phát minh khám phá chẳng hạn chế tạo và nâng cao khả năng của rô-bốt để
có thể thay thế con người trong một số lĩnh vực Một chính sách đối ngoại ôn hòa hơn phù hợp với một cường quốc bậc trung là sự lựa chọn có nhiều khả năng nhất, mặc dù nếu Nhật Bản lựa chọn chính sách đối ngoại trung lập cũng sẽ được nhiều người ủng hộ
2 Môi trường kinh tế:
a Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Nửa đầu năm 2012 là sự tăng trưởng GDP khá ngoạn mục chủ yếu nhờ công cuộc tái thiết và phục hồi từ thảm họa động đất và sóng thần năm 2011 GDP Quý I
của nước này tăng 1% so với quý IV/2011, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm 2011; và Quý II đạt 1,3% so với Quý I Sự phục hồi ổn định của các ngành nghề sau thảm họa động đất - sóng thần là nguyên nhân chính khiến kinh tế Nhật Bản đạt mức tăng trưởng cao trong nửa đầu năm
Biểu đồ 1: Tốc độ tăng trưởng GDP của Nhật Bản (đã điều chỉnh lạm phát)
Nền kinh tế của Nhật Bản có thể đã rơi vào giai đoạn suy thoái do ảnh hưởng cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu và kinh tế toàn cầu suy yếu
b Sản xuất công nghiệp sụt giảm mạnh
Giá trị sản xuất công nghiệp và xuất khẩu năm 2012 của Nhật Bản tăng mạnh trong tháng 3 và tháng 4 chủ yếu do nhu cầu bên ngoài và tái thiết đất nước sau thảm họa sóng thần đã thúc đẩy sản lượng của các nhà máy, nhưng liên tiếp sụt giảm trong các tháng tiếp theo Sản lượng công nghiệp tháng 9 của nước này đã giảm 4,1% so vớitháng trước đó.Trong tháng 8, tốc độ này chỉ là 1,6% Nguyên nhân là suy giảm toàn cầu, căng thẳng lãnh thổ với Trung Quốc và nhu cầu nội địa yếu khi chính phủ ngừng
Trang 7trợ giá ôtô tiết kiệm nhiên liệu Đây là mức sụt giảm lớn nhất tại Nhật kể từ thảm họa kép hồi tháng 3 năm ngoái.
Sản lượng công nghiệp Nhật Bản bất ngờ tăng trong tháng 10, tăng 1,8% so vớitháng trước, sau khi giảm 4,1% trong tháng 9, số liệu bộ thương mại nước này công
bố hôm 30/11 cho biết Đây là mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 12/2012 do sản xuất các bộ phận máy móc, bao gồm iPhone của Apple Inc., mang đến điểm nhấn sáng cho nền kinh tế được cho là tăng trưởng chậm trong quý thứ hai liên tiếp cùng với các dấu hiệu phục hồi ở 2 nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ và Trung Quốc đã làm giảm bớt nguy cơ rơi vào suy thoái của Nhật Bản
Biểu đồ 2 Tốc độ sản xuất công nghiệp của Nhật Bản
c Thặng dư tài khoản vãng lai của Nhật Bản ở mức thấp nhất trong lịch sử
Tính đến hết tháng 10 năm 2012, mức thặng dư tài khoản vãng lai của Nhật Bản đạt 5273 tỷ Yên Năm 2011 do ảnh hưởng của khủng hoảng kép động đất, sóng thần, thặng dư tài khoản vãng lai của Nhật Bản là 9628,9 tỷ yên (125 tỷ USD), giảm 44% so với năm 2010 và là mức giảm mạnh nhất trong 15 năm Như vậy, năm 2012 thặng dư tài khoản vãng lai của Nhật Bản vẫn ở mức thấp kỷ lục
Theo số liệu của Chính phủ Nhật Bản công bố ngày 10/12, thặng dư tài khoản vãng lai của nước này trong tháng 10 đã giảm khoảng 30% so với năm ngoái xuống còn 376,9 tỷ yên Tài khoản vãng lai là thước đo rộng nhất của thương mại Nhật Bản với phần còn lại của thế giới, bao gồm cả xuất khẩu, du lịch và thu nhập ở nước ngoài.Thặng dư tài khoản hiện tại của Nhật Bản đã bị ảnh hưởng bởi một nền kinh tế toàn cầu chậm lại, xuất khẩu sụt giảm và nhập khẩu nhiên liệu tăng cao dẫn đến thâm hụt thương mại khổng lồ
Trang 8Biểu đồ 3 Thặng dư tài khoản vãng lai Nhật Bản (tỷ yên)
Biểu đồ 4 Kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản (tỷ yên)
Do một khoảng thời gian dài xuất khẩu sụt giảm khiến mức thâm hụt thương mại của Nhật Bản tăng vọt Bộ Tài chính Nhật Bản ngày 19-12 cho biết trong tháng 11-2012, Nhật Bản thâm hụt thương mại 953,4 tỉ yen (khoảng 11,4 tỉ đô la Mỹ), đánh dấu thâm hụt thương mại tháng thứ năm liên tiếp Số liệu cho thấy thâm hụt thương mại tháng 11 tăng gần 38% so với cùng kỳ năm ngoái Đây là mức thâm hụt thương mại lớn nhất của Nhật Bản kể từ tháng 1-2012 và là mức thâm hụt thương mại lớn thứ
ba kể từ khi Nhật Bản thống kê số liệu thương mại vào năm 1979 Từ tháng 1 đến tháng 11 năm nay, thâm hụt thương mại tích lũy của Nhật Bản lên tới gần 6.281 tỉ yen(khoảng 74,8 tỉ đô la Mỹ), gấp 2,4 lần mức thâm hụt thương mại cả năm qua là 2.613
tỉ yen Hội đồng Thương mại Quốc tế Nhật Bản ước tính, thâm hụt thương mại của nước này trong năm tài chính 2013 (kết thúc vào tháng 3.2014) sẽ đạt mức cao nhất trong lịch sử là 82,3 tỷ USD Theo đó, sản lượng xuất khẩu sẽ tăng 1,3% so với năm nay, sản lượng nhập khẩu sẽ tăng 1,1%, đặc biệt đối với các mặt hàng đồ gia dụng,
Trang 9quần áo, bởi Chính phủ Nhật dự định tăng thuế tiêu dùng vào tháng 4.2014 Cơ quan trên cũng cho rằng thâm hụt thương mại của Nhật Bản sẽ giữ ở mức cao trong vài nămtới.
d Tình trạng lạm phát ở Nhật Bản:
Khi nói về tỷ lệ lạm phát ở Nhật Bản, điều này thường đề cập đến tỷ lệ lạm phát trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng, hoặc gọi tắt là chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số CPI của Nhật Bản cho thấy sự thay đổi trong giá của một gói tiêu chuẩn hàng hóa và dịch
vụ mà các hộ gia đình Nhật Bản mua để tiêu thụ Biểu đồ 5 và 6 cho thấy chỉ số lạm phát và chỉ số giá tiêu dùng hiện tại của Nhật Bản
Biểu đồ 5 Tỷ lệ lạm phát của Nhật Bản
Biểu đồ 6 Chỉ số giá tiêu dùng Nhật Bản (CPI)
Năm 2012, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Nhật Bản liên tiếp giảm cho thấy ở Nhật Bản tình trạng giảm phát vẫn bao trùm cho dù ngân hàng trung ương nước này
đã tăng mục tiêu lạm phát với hy vọng thúc đẩy lạm phát Chỉ số lạm phát lõi của
Trang 10Nhật Bản tháng 7 giảm 0,3% so với cùng kỳ năm ngoái, sau khi giảm 0,2% trong tháng 6 Trong tháng 9, chỉ số này là 99,6; giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước Sau
5 tháng giảm liên tiếp, đến tháng 10/2012, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Nhật Bản không đổi so với cùng kỳ năm trước Như vậy, để đạt lạm phát mục tiêu 1% từ mức 0% như hiện nay, ngân hàng trung ương Nhật Bản còn một chặng đường dài
Xuất khẩu của Nhật Bản đã giảm xuống đến mức thấp kỷ lục do hậu quả của động đất, sóng thần năm ngoái, cũng như do suy thoái kinh tế thế giới, đồng Yên mạnh và cuộc tranh chấp lãnh thổ kéo dài với Trung Quốc Xuất khẩu tại Nhật Bản giảm xuống còn 4983,90 tỷ yên trong tháng mười một năm 2012 từ 5150 tỷ yên vào tháng Mười năm 2012 Nhập khẩu, trong khi đó, lại tăng 4,1% do Nhật Bản tăng nhập dầu mỏ và Gas
Giá trị đồng yên so với đồng đô la Mỹ đã giảm hơn 7% trong tháng 1/2013 Sự suy yếu của đồng yên sẽ làm cho chi phí nhập khẩu cao hơn và do đó tỷ lệ lạm phát cao hơn Khi giá tiêu dùng ở Nhật Bản tăng cao và đồng yên giảm so với các đồng tiền khác, các nhà đầu tư có thể sẵn sàng nắm giữ nhiều hơn trái phiếu chính phủ NhậtBản Lãi suất cao sẽ làm tăng thâm hụt ngân sách và tăng tỷ lệ nợ chính phủ Với tỷ lệ nợ/GDP hiện ở rất cao như hiện nay, cứ mỗi bốn điểm phần trăm tăng lên trong chi phí đi vay sẽ làm cho thâm hụt hàng năm tăng gấp đôi, tới 20% GDP.Sự kết hợp giữa bùng nổ nợ và lãi suất tăng là một công thức cho thảm họa kinh tế
Giới phân tích cho rằng cán cân vãng lai của đất nước mặt trời mọc sẽ sớm thâm hụt bởi nước này nhập khẩu ngày càng nhiều năng lượng Ngân hàng thế giới đã công bố cắt giảm dự báo tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản trong năm 2013 xuống còn 0,8% so với ước tính trước đó là 1,5%, một phần do tác động tiêu cực của tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc
Xuất khẩu sang Trung Quốc, thị trường lớn nhất của Nhật Bản, đã giảm 14,1%
so với 1 năm trước đây Xuất khẩu sang các nước EU giảm 21,1%, nhưng xuất sang
Mỹ lại tăng 0,9%
e Nợ công Nhật Bản cao kỷ lục
Số liệu được Bộ Tài chính Nhật công bố ngày 9/11/2012 cho thấy, nợ công củanước này tăng lên mức cao kỷ lục 983.30 ngàn tỷ yên (tương đương 12,4 nghìn tỷ USD) vào cuối tháng 9/2012 Nguyên nhân chủ yếu là do chi phí tái thiết đất nước sauthảm họa động đất và sóng thần đầu tháng 3/2011 Trong đó bao gồm 803.74 ngàn tỷ yên trái phiếu Chính phủ; 125,37 ngàn tỷ yên tín phiếu đảm bảo cho nhu cầu vốn ngắnhạn và 54,19 nghìn tỷ yên dưới dạng các khoản vay từ các tổ chức tài chính So với thời điểm cuối tháng 6/2012, nợ công của Nhật tăng 0.7% Bộ Tài chính dự báo nợ công của nước này có thể vượt 1 triệu tỷ yên trong năm tài khóa 2012 kết thúc vào tháng 3/2013[5]
So với nền kinh tế hàng đầu thế giới là Mỹ với quy mô nợ công thấp hơn Nhật Bản, nhưng lại đang phải loay hoay xử lý nguy cơ vỡ nợ kỹ thuật, trong khi nợ công của Nhật Bản có quy mô lên tới hơn 229% GDP, được đánh giá là cao nhất trong số các nước phát triển, nhưng nợ công của Nhật Bản vẫn được đánh giá ở ngưỡng an toàn[6] Những nhân tố đóng góp vào mức an toàn nợ công Nhật Bản, đó là:
Trang 11Thứ nhất, trái phiếu chính phủ ổn định và ít phụ thuộc vào giới đầu tư trái phiếu quốc tế Theo đánh giá của Cơ quan xếp hạng tín nhiệm quốc tế Standard &
Poor’s (S&P), triển vọng đối với trái phiếu chính phủ Nhật Bản hiện ổn định và Nhật Bản “không quá gần” với khủng hoảng, ít nhất là trong ngắn hạn, nhờ 3 yếu tố cơ bản:(1) Cán cân thanh toán quốc tế mạnh và dự trữ ngoại hối hơn 1000 tỷ USD; (2) Tỷ lệ tiết kiệm cá nhân vẫn lớn hơn nợ công; (3) Đa phần trái phiếu chính phủ Nhật Bản được các nhà đầu tư trong nước nắm giữ Do ít phụ thuộc vào giới đầu tư trái phiếu quốc tế, nên Chính phủ Nhật Bản sẽ chỉ gặp thách thức trong vấn đề vay nợ khi các nhà đầu tư trong nước không còn mặn mà với trái phiếu Nhật Bản Những thế mạnh này đã giúp Nhật Bản giữ được thị trường trái phiếu bình ổn
Thứ hai, phần lớn nợ công Nhật Bản nằm trong tay các nhà đầu tư nội
địa (khoảng 95%) nằm trong tay các nhà đầu tư trong nước nên Nhật Bản vẫn chưa
phải trải qua những gì như ở Hy Lạp (năm 2010) và tránh được tác động bất lợi từ những biến động thất thường của thị trường tài chính thế giới
Thứ ba, hệ số sử dụng vốn đầu tư ICOR của Nhật Bản hiệu quả và nguồn dự trữ ngoại tệ mạnh.Mặc dù tỉ lệ nợ công của Nhật Bản cao hơn 200% GDP, song chỉ số
hiệu quả vốn đầu tư ICOR (hệ số sinh lời từ đồng vốn đầu tư) của Nhật Bản chỉ vào khoảng 3,0, do vậy khả năng trả nợ không quá khó Bên cạnh đó, dự trữ ngoại tệ của Nhật Bản cũng ở mức rất cao Theo Bộ Tài chính Nhật Bản, dự trữ quốc gia của Nhật Bản là 1.046,873 tỉ USD (tháng 5/2011) Do vậy, nền kinh tế Nhật Bản, mặc dù ngoài
nợ công cao còn đứng trước nhiều khó khăn khác nữa, nhưng vẫn được dự báo là khó
có thể trở thành mục tiêu tấn công của giới đầu cơ quốc tế
f Triển vọng kinh tế Nhật Bản
Đánh giá về triển vọng kinh tế Nhật Bản, tất cả các tổ chức như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Liên Hiệp Quốc, chính phủ Nhật Bản, tạp chí kinh tế "L’Expansion" của Pháp… đều cắt giảm dự báo tăng trưởng của nước này trong năm tới
Trong báo cáo triển vọng kinh tế thế giới năm 2013, Liên hiệp quốc đánh giá nền kinh tế Nhật Bản sẽ tăng trưởng chậm do việc loại bỏ dần các biện pháp khuyến khích tiêu dùng cá nhân cùng với biện pháp tăng thuế tiêu dùng mới, cắt giảm lợi ích hưu trí, và cắt giảm chi tiêu của chính phủ GDP được dự báo tăng trưởng ở mức 0,6%vào năm 2013 và 0,8% vào năm 2014, giảm từ 1,5% trong năm 2012
Tạp chí "L’Expansion" của Pháp dự báo nền kinh tế Nhật Bản sẽ gặp khó khăn trong năm 2013 vì sẽ không còn tận dụng được ưu thế của việc tái xây dựng thời kỳ hậu thảm họa sóng thần, đồng yên sẽ tiếp tục tăng giá làm ảnh hưởng nhiều đến xuất khẩu của nước này Thêm vào đó, khủng hoảng ngoại giao giữa Nhật Bản và Trung Quốc sẽ còn nhiều “dư chấn.” Hãng sản xuất ô tô Toyota của Nhật Bản đã từ bỏ chỉ tiêu 10 triệu sản phẩm trong năm 2012 do phong trào bài Nhật Bản nổi lên ở Trung Quốc khiến doanh số bán ra của Toyota ở nền kinh tế lớn thứ hai thế giới bị sụt giảm
Số du khách Trung Quốc đến Nhật Bản đã và sẽ tiếp tục sụt giảm
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã cắt giảm dự báo tăng trưởng của Nhật Bản trong năm nay và năm 2013, do lại ngại sự suy giảm trong chi tiêu tái thiết sau thảm họa sẽ
đè nặng lên nền kinh tế lớn thứ ba thế giới Theo dự báo mới nhất về triển vọng kinh
Trang 12tế thế giới, IMF dự báo nền kinh tế Nhật Bản sẽ tăng trưởng tương ứng 2,2% và 1,2% năm 2012 và 2013; giảm so với dự báo tháng bẩy 2,4% và 1,5% Tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản đã giảm 0,7% vào năm 2011 do trận động đất sóng thần vào tháng 3 dẫnđến cuộc khủng hoảng hạt nhân Phần lớn sự tăng trưởng gần đây là do hoạt động tái thiết và phục hồi một số hoạt động sản xuất trong nửa đầu của năm sau các cú sốc năm 2011 Các chi tiêu liên quan đến tái thiết đất nước sau trận động đất đã hỗ trợ cho
sự tăng trưởng trong năm 2012 nhưng sẽ giảm mạnh trong năm 2013 Nền kinh tế định hướng xuất khẩu của Nhật Bản cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi sự sụt giảm đơn đặt hàng từ thị trường Châu Âu
Theo dự báo của Chính phủ Nhật Bản, tổng sản phẩm quốc nội của nước này
dự kiến sẽ tăng 2,5% trong năm tài chính 2013 GDP danh nghĩa được dự kiến tăng 2,7% Tăng trưởng GDP danh nghĩa được dự kiến sẽ vượt tốc độ tăng trưởng thực tế lần đầu tiên trong 16 năm, được hỗ trợ bởi chính sách nới lỏng tiền tệ tích cực, chiến lược tăng trưởng và những nỗ lực khác để kết thúc tình trạng giảm phát Đầu tư công được dự báo tăng 11,9% Tiền lương sẽ tăng 1,2% Chỉ số giá tiêu dùng cũng được dự báo sẽ tăng khoảng 0,5%
g Kinh tế Nhật Bản hiện nay:
Có thể nói: ”Kinh tế Nhật Bản đã kết thúc giai đọan suy thoái
Theo số liệu của Chính phủ Nhật Bản công bố ngày 8/3 cho thấy GDP của nước này trong quý 4 năm 2012 tăng 0.2% dấu hiệu cho thấy giai đoạn suy thoái vừa qua của nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới đã kết thúc
Kinh tế Nhật Bản đã giảm tăng trưởng trong hai quý liên tiếp từ tháng 4 đến tháng 9/2012 khi kim ngạch xuất khẩu giảm do khủng hoảng của nợ công ở khu vực đồng tiền chung Châu Âu-thị trường xuất khẩu chính của Nhật Bản và việc đồng yên tang giá cũng như căng thẳng ngoại giao Trung Quốc liên quan đến tranh chấp chủ quyền lãnh thổ
Qua số liệu được thống kê vào ngày 8/3, cán cân tài khoản vãng lai của Nhật Bản vào tháng 1/2013 lần đầu tiên bị thâm hụt vào tháng thứ ba liên tiếp do mức tăng kim ngạch xuất khẩu vẫn thấp hơn so với kim ngạch nhập khẩu Kim ngạch xuất khẩu tang 6,7% so với cùng kỳ năm 2012, lên mức 4.645,1 tỷ yên nhờ nhu cầu khôi phục của thị trường ở Mỹ và tang trưởng tốt ở thị trường các nước Đông Nam Á Song kim ngạch nhập khẩu tang lên mức 6.125,4 tỷ yên mà nguyên nhân chủ yếu là tang nhập khẩu nhiên liệu hóa thạch
Ngoài ra, tỷ lệ thất nghiệp ở Nhật Bản giảm xuống còn 4,2% trong tháng 1/2012, sản lượng công nghiệp cùng thời gian tang 0,1% so với tháng trước đó và nền kinh tế vẫn ở tình trạng giảm phát Trong khi đó đồng yên tiếp tục giảm giá khi có những thong tin rằng chính phủ và Ngân hàng Trung Ương Nhật Bản có thể sẽ thông qua một chính sách nới lỏng tiền tệ quyết liệt hơn Tuy nhiên, sự biến động tỷ giá này đang giúp các nhà xuất khẩu Nhật Bản nâng cao được tính cạnh tranh lẫn doanh thu
3 Môi trường tự nhiên:
Trang 13Nhật Bản là một quần đảo cách xa đại lục nên Nhật Bản giao lưu kinh tế với bên ngoài chủ yếu bằng đường biển, ngành du lịch biển của Nhật cũng rất phát triển.
Diện tích: Trên đất liền: 377906,97 km² , rộng thứ 60 trên thế giới, lãnh hải:
3091 km² *
Khoảng 70%-80% diện tích Nhật Bản là núi, loại hình địa lý không hợp cho nông nghiệp, công nghiệp và cư trú nhưng với nhiều cảnh đẹp, suối khoáng nóng thu hút nhiều du khách ghé thăm Đỉnh núi cao nhất là núi Phú Sĩ – biểu tượng của Nhật Bản (cao 3776m) Nhật Bản hiện có hơn 60 núi lửa đang hoạt động, vì vậy động đất thường xảy ra
Đường bờ biển dài (khoảng 29750km), nhiều vũng, vịnh, biển có nhiều ngư trường lớn, các thành phố lớn của Nhật tập trung chủ yếu ở đây, do đó dân cư Nhật Bản tập trung đông ở các vùng ven biển Theo thống kê, mật độ dân số của Nhật Bản lớn thứ 30 trên thế giới: 339 người/km2 năm 2005
Các đảo Nhật Bản nằm trong vùng khí hậu ôn hòa và mưa nhiều nên có cảnh rừng màu mỡ và cây cối xanh tốt Ở hầu hết các miền của Nhật Bản đều có 4 mùa rõ rệt Mùa xuân và mùa thu là những mùa dễ chịu nhất trong năm Vào mùa đông tại Tokyo, trời lạnh vừa với độ ẩm thấp và đôi khi có tuyết, trái với mùa hè có nhiệt độ và
độ ẩm cao Vì có mưa nhiều và khí hậu ôn hòa nên trên khắp quần đảo Nhật Bản đều
có những cánh rừng màu mỡ và cây cối xanh tốt
Mỗi năm Nhật Bản chịu vào khoảng 1000 trận động đất Các hoạt động địa chấn này đặc biệt tập trung vào vùng Kanto, nơi có thủ đô Tokyo và người ta cho rằng
cứ 60 năm Tokyo lại gặp một trận động đất khủng khiếp Động đất với mức 7 hoặc 8 trong thang Richter đã từng xảy ra ở Nhật Bản Động đất cấp 3, 4 xảy ra thường xuyên Trận động đất xảy ra vào ngày 1 tháng 9 năm 1923, với cường độ 8,2 trên thang Richter, đã tàn phá phần lớn hai thành phố Tokyo và Yokohama Động đất là mối đe dọa lớn nhất đối với Nhật Bản nên chính phủ Nhật mỗi năm đã phải bỏ ra hàng
tỉ Yên Nhật để tìm kiếm một hệ thống báo động sớm về động đất, và khoa học địa chấn tại Nhật Bản được coi là tiến bộ nhất trên thế giới nhưng kết quả của các nghiên cứu và các dụng cụ báo động cho tới nay chưa được coi là đáng tin cậy
4 Môi trường công nghệ:
Một vài đóng góp công nghệ quan trọng của Nhật Bản là những phát minh trong các lĩnh vực điện tử, ô tô, máy móc, robot công nghiệp, quang học, hóa chất, chất bán dẫn và kim loại Nhật Bản dẫn đầu thế giới trong nghành khoa học robot, đây
là quốc gia sở hữu hơn nửa (402.200 trong tổng 742.500) số robot cho công nghiệp sản xuất Nhật Bản đã phát minh ra QRIO, ASIMO và Aibo Nhật Bản cũng là nhà sảnxuất ô tô lớn nhất trên thế giới và là quê hương của 6 trong tổng số 15 nhà sản xuất ô
tô lớn nhất toàn cầu cũng như 7 trong số 20 nhà sản xuất chất bán dẫn lớn nhất thế giới
Trang 14Nhật Bản đang có những kế hoạch rất sáng sủa trong nghành thám hiểm không gian, trong đó có kế hoạch xây dựng một trạm mặt trăng vào năm 2030 Cơ quan thámhiểm không gian Nhật Bản (JAXA) là một trong những thành viên chủ chốt của trạm
vũ trụ quốc tế, đây là cơ quan chuyên nghiên cứu về không gian vũ trụ, các hành tinh, các nghiên cứu hàng không, phát triển tên lửa và vệ tinh
Các nhà nghiên cứu Nhật cũng đã phần nào khẳng định được mình qua các lần đoạt giải Nobel Hideki Yukawa một trong những nhà khoa học ưu tú xuất thân từ Đạihọc Kyoto giành giải Nobel về vật lý năm 1949 Sin-Itiro Tomonaga cũng nhận vinh
dự tương tự năm 1965 Nhà vật lý chất rắn Leo Esaki sau này xuất thân từ Đại học Tokyo cũng đạt được vinh quang đó năm 1973 Kenichi Fukui của Đại học Kyoto là một trong các nhà khoa học cùng chia giải Nobel hóa học năm 1981 Susumu
Tonegawa cũng trưởng thành từ Đại học Kyoto trở thành người Nhật đầu tiên từ 2007 nhận giải này với các thành tựu về sinh hóa kể từ khi lãnh vực này được phát triển năm 1987 Các nhà khoa học nghiên cứu về hóa học cũng không chịu kém khi vào
2000, 2001 lần lượt nhận giải: Hideki Shirakawa (Viện khoa học công nghệ Tokyo) vàRyoji Noyori (Đại học Kyoto) Gần đây nhất vào năm 2002 phải kể đến nhà vật lý Masatoshi Koshiba (Đại học Tokyo) và hóa học gia Koichi Tanaka (Đại học Tohoku).Nhật Bản là quốc gia có nhiều người đoạt giải Nobel nhất ở châu Á hiện nay
Ngay từ năm 1960, Nhật Bản đã tổ chức Tuần KH&CN vào tháng tư hàng năm Đến năm 1992, Nhật Bản có thêm các festival KH&CN cho giới trẻ gọi là
Youngsters’ Festival Hoạt động này được tổ chức ở hơn 100 thành phố Và năm
2006, Science Agora - sự kiện truyền thông khoa học lớn nhất ở Nhật Bản được tổ chức vào tháng 11 hàng năm, kéo dài ba ngày ở Công viên Hàn lâm thủ đô Tokyo với
số lượt người tham dự tăng từ 1,7 triệu lượt trong năm đầu tiên lên hơn 7 triệu lượt vào năm 2011
5 Môi trường chính trị - pháp luật:
5.1 Môi trường chính trị ở Việt Nam:
* Những chính sách thúc đẩy, khuyến khích xuất khẩu của Nhà nước:
a Chính sách thuế ưu đãi đối với hàng xuất khẩu:
Thuế là một công cụ Nhà nước dùng để đánh vào các loại hàng hoá và dịch vụ
Tác động của thuế tới hoạt động xuất khẩu là tác động xuôi chiều, khi thuế thấp kích thích xuất khẩu (thuế ưu đãi) Phần lớn các nước hiện nay có xu hướng khuyến khích xuất khẩu nên việc đánh thuế vào hàng hoá xuất khẩu hay đầu vào dùng để xuất khẩu đều được hưởng những ưu đãi nhất định Đặc biệt là ở Việt Nam khi mà thiếu ngoại tệ để nhập công nghệ mới, cải tiến kỹ thuật thì những chính sách thuế đối với hàng hoá xuất khẩu được các nhà lập chính sách cân nhắc rất kỹ sao cho có lợi nhất cho doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, tham gia hoạt động xuất khẩu Cụ thể là :
Trang 15Điều 3 của luật thuế tiêu thụ đặc biệt(TTĐB) quy định đối tượng không chịu thuế TTĐB là hàng hoá quy định tại khoản 1 điều 1 luật thuế TTĐB khi cơ sở sản xuấtgia công trực tiếp xuất khẩu hoặc bán, uỷ thác cho các cơ sở kinh doanh xuất khẩu Hiện nay do chính sách ưu tiên xuất khẩu nên hàng hoá đặc biệt khi xuất khẩu không phải là đối tượng chịu thuế TTĐB
Ngoài việc, xác định đối tượng chịu thuế đối với hàng hoá xuất khẩu đã có những ưu đãi thì việc hoàn thuế với hàng hoá xuất khẩu cũng được khuyến khích
Luật thuế giá trị gia tăng quy định việc áp dụng thuế suất 0% không theo mặt hàng hay nhóm hàng như các mức thuế suất 5%, 10% hoặc 20% được quy định theo mục đích và hàng hoá xuất khẩu Điều này có nghĩa là bất cứ mặt hàng nào thuộc đối tượng chịu thuế VAT khi đem xuất khẩu đều được áp dụng thuế suất 0% và được hoàn thuế VAT đầu vào Như vậy cùng với việc khuyến khích xuất khẩu, kích thích sản xuất cùng với vấn đề giải quyết việc làm, hàng hoá đặc biệt khi xuất khẩu được bình đẳng với hàng hoá khác khi xuất khẩu
b Chính sách tỷ giá hối đoái:
Cũng giống như các biến số kinh tế vĩ mô khác, tỷ giá hối đoái rất nhạy cảm với sự thay đổi của nó có những tác động rất phức tạp, ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo những tác động khác nhau thậm chí trái ngược nhau Đưa đến những kết quả khó lường trước, đụng chạm không chỉ tới xuất nhập khẩu, cán cân thương mại mà còn tới mặt bằng giá cả, lạm phát và tiền lương thực tế, đầu tư và vay
nợ nước ngoài, ngân sách nhà nước ,cán cân thanh toán quốc tế cũng như sự ổn định kinh tế vĩ mô nói chung
Ngay từ 1996, thực hiên chính sách đổi mới toàn diện và sâu sắc, nước ta có những điều chỉnh lại tỷ giá một cách căn bản Hoạt động ngoại thương phát triển mạnh, kim ngạch xuất khẩu 2000 gấp hơn 4 lần so với 1990, quan hệ với các nước trên thế giới mở rộng Với sự phá giá rất mạnh nội tệ, sau đó nhanh chóng thống nhất
tỉ giá chính thức với thị trường, xoá bỏ cơ bản hệ thống tỉ giá cũ quá phức tạp thì cơchế quản lý ngoại hối và chính sách tỉ giá của Việt Nam đã có bước chuyển biến rất căn bản sang cơ chế thị trường, thoát khỏi trạng thái thụ động để trở thành công cụ điều chỉnh vĩ mô quan trọng trong nền kinh tế mở
Trong giai đoạn 1992-1996, ổn định tỉ giá hối đoái quan trọng hơn là tăng giá
để khuyến khích xuất khẩu là điều cốt lõi và cũng là thành công của chính sách tỷ giá trong giai đoạn này biểu hiện kim ngạch xuất khẩu liên tục qua các năm tăng cao từ 20-30%/năm
Trang 16Sự ra đời của thị trường ngoại tệ cho phép 7 ngoại tệ được sử dụng để giao dịch: USD, DEM, GBP, FF, JPY, HKD, VND, cùng với việc ra đời 2 trung tâm giao dịch ngoại tệ ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh là bước tiến đáng kể theo hướng thị trườnggián tiếp kích thích xuất khẩu thông qua tạo mặt bằng giá hợp lý hơn Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, xuất khẩu là một trong những nguồn cung ngoại tệ chủ chốt song cung cầu ngoại tệ luôn luôn căng thẳng và VND không có khả năng chuyển đổi hoàn toàn nên trong thời gian tới vẫn tập chung ngoại tệ vào các ngân hàng, để ngân hàng thống nhất ngoại hối Đồng thời tự do hoá quyền sở hữu và sử dụng ngoại tệ, đặt ngoại tệ thành một hàng hoá đặc biệt được trao đổi trên thị trường Đẩy mạnh các biệnpháp khuyến khích không tiêu dùng tiền mặt trong thanh toán ngoại tệ, mở rộng tiến tới tự do hoá mở và sử dụng tài khoản nước ngoài và kinh tế trong nước Để kích thíchxuất khẩu giảm dần tiến tới xoá bỏ việc bảo đảm cân đối ngoại tệ từ phía chính phủ
Mở rộng quyền sử dụng ngoại tệ của các doanh nghiệp xuất khẩu, tăng cường quyền hạn và vai trò của ngân sách Nhà nước trong dịch vụ xuất khẩu Để đảm bảo cho nhà xuất khẩu một mặt cần điều chỉnh giá mua ngoại tệ linh hoạt không để doanh nghiệp
bị thua lỗ do biến động tỷ giá Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu
mở, sử dụng, chuyển cũng như đóng tài khoản của mình
Trong dài hạn, mục tiêu là khả năng chuyển đổi hoàn toàn của Việt Nam và một tỷ giá thích hợp có tác dụng khuyến khích tăng trưởng kinh tế và khuyến khích xuất khẩu Khi VND có khả năng chuyển đổi hoàn toàn thì quy định về ngoại hố nói chung về bản tệ nói riêng sẽ được dần dần nới lỏng và các nhà xuất khẩu có toàn quyền sở hữu và chủ động sử dụng số ngoại tệ của mình theo cơ chế thị trường
Tóm lại trong thời gian tới vẫn tiếp tục duy trì chính sách tỷ giá hợp lý để ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá một cách linh hoạt, phù hợp cung cầu không gây biến động lớn cho nền kinh tế, góp phần khuyến khích xuất khẩu trong ngắn hạn và trung hạn không đặt vấn đề kích thích xuất khẩu bằng công cụ phá giá và nới lỏng quản lý ngoại hối mà chỉ dừng lại ở chính sách tỷ giá không cản trở hay bóp chết xuất khẩu
c Chính sách đầu tư đối với doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu và tham gia hoạt động xuất khẩu:
Đầu tư là hoạt động bỏ vốn và làm tăng quy mô của tài sản quốc gia
Trang 17Hoạt động đầu tư bao gồm đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài Đối với đầu tư trong nước đặc biệt là những doanh nghiệp tham gia sản xuất hàng hoá xuất khẩu được Nhà nước khuyến khích xuất khẩu nhất là các mặt hàng chủ lực có lợi thế
so sánh thông qua vận hành quỹ hỗ trợ xuất khẩu, quỹ bảo lãnh xuất khẩu cũng như các biện pháp hỗ trợ về thông tin, tìm kiếm khách hàng, tham dự triển lãm
Đối với khu vực đầu tư nước ngoài nói chung và đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ hội nhập kinh tế của một đất nước, là một cầu nối quan trọng giữa kinh tế nội địa với nền kinh tế toàn cầu Do đó, tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được coi là giải pháp quan trọng húc đẩy xuất khẩu
d Chính sách, chiến lược xúc tiến xuất khẩu:
Khái niệm xúc tiến thương mại được coi là mới ở những nước có nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung Nhìn từ góc độ nghiệp vụ kinh doanh quốc tế xúc tiến thương mại có thể là xúc tiến xuất khẩu, xúc tiến nhập khẩu và phát triển thương mại nội địa Xúc tiến xuất khẩu là một bộ phận của xúc tiến thương mại nhưng do tầm quan trọng của nó nên nhiều khi người ta thường nói tới như một khái niệm riêng biệt Xúc tiến xuất khẩu gồm ba nhóm yếu tố sau:
Vai trò to lớn của kết cấu hạ tầng đòi hỏi chúng ta phải thành lập khu chế xuất
để tạo ra nguồn xuất khẩu sản phẩm chế biến Việc cung cấp một số kết cấu hạ tầng trong các khu vực địa lý được phân định rõ theo các khu chế xuất có thể góp phần xúc
Trang 18tiến xuất khẩu trong một thời gian tương đối ngắn thông qua khả năng cung cấp cho các nhà công nghiệp Việt Nam nhiều kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn về quản lý, marketing, thu hút công nghệ,…Tuy nhiên lợi ích của khu chế xuất mang lại không đ-ược như người ta mong đợi nên không coi chúng là biện pháp xúc tiến xuất khẩu Ở Việt Nam, chúng ta áp dụng biện pháp xúc tiến xuất khẩu sau:
Thứ nhất, về tỷ giá hối đoái: Việt Nam áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái thống nhất Ngày 27/2/1998, thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt nam ra quyết định 45/QĐ-NH về việc quy định nguyên tắc ấn định tỷ giá mua, bán ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ trong phạm vi biên độ dao động ± 5% sovới tỷ giá chính thức do thống đốc ngân hàng công bố hàng ngày theo quyết định 16-
1998 QĐNHNN7 ra ngày 10/1/1998 thì biên độ này là ±10 so với tỷ giá chính thức Điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu đẩy mạnh công tácxuất khẩu ở doanh nghiệp mình
Thứ hai, về tín dụng xuất khẩu được thông qua ngân hàng thương mại Việc mở rộng quyền cấp tín dụng xuất khẩu cho các doanh nghiệp xuất khẩu trong nư-
ớc của các ngân hàng thương mại là một bước tiến lớn trong hệ thống ngân hàng Chủ trương chuyển hoá từ cho vay nhập khẩu sang cho vay đầu tư xuất khẩu của các ngân hàng góp phần nâng cao hệ số sử dụng vốn
Để khắc phục vấn đề khát vốn cho doanh nghiệp xuất khẩu ở Việt Nam đó là một hình thức tín dụng thuê mua ra đời Công ty cho thuê tài chính quốc tế tại Việt Nam ra đời có ý nghĩa rất lớn đối với doanh nghiệp không đủ vốn vẫn có thể thuê đợc máy móc, thiết bị hiện đại để thay đổi công nghệ sản xuất, chất lượng sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam trên thị trường quốc tế
Thứ ba về chính sách lãi suất: Sự điều chỉnh linh hoạt chính sách lãi suấtcủa ngân hàng là một việc làm tích cực giúp doanh nghiệp xuất khẩu mạnh dạn vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh xuất khẩu, hạ giá thành nhờ lợi thế quy mô, và nâng cao khả năng cạnh trang của hàng Việt Nam
5.2 Môi trường chính trị ở Nhật Bản:
* Chính sách nhập khẩu hàng hoá của Nhật Bản:
Vào đầu những năm 80, Nhật Bản đã tiến hành mở cửa thị trường trongnước qua việc cắt giảm và bãi bỏ thuế nhập khẩu, nới lỏng các biện pháp hạn chế về
số lượng, cải thiện hệ thống cấp giấy chứng nhận cho hàng hoá nhập khẩu Tuy nhiên,Nhật Bản vẫn duy trì nhiều biện pháp hạn chế hoặc cấm nhập khẩu hàng hóa vào thịtrường trong nước Sự hạn chế này được thể hiện trong các chính sách, các quy định
và tiêu chuẩn của chính phủ cũng như qua việc tạo ra sự khác biệt trong văn hoá kinhdoanh Trong đó có các vấn đề nổi bật như:
Trang 19- Thiết lập các tiêu chuẩn riêng của Nhật Bản Các tiêu chuẩn này còn đượccoi trọng hơn các tiêu chuẩn của thế giới Hàng hoá muốn nhập khẩu vào thị trườngNhật Bản cần phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn này.
- Đòi hỏi chứng minh kinh nghiệm trong thị trường Nhật Bản, đây chính làmột rào cản đối với những nhà xuất khẩu mới muốn xâm nhập được vào thị trườngNhật Bản
- Các hiệp hội sản xuất tuy có số thành viên hạn chế nhưng có ảnh hưởng rấtlớn trên thị trường, có khả năng kiểm soát thông tin và hoạt động của thị trường ở mức
Ngoài các biện pháp để quản lý nhập khẩu, Nhật Bản còn áp dụng các biệnpháp bảo hộ nông nghiệp đa dạng Nhà nước can thiệp vào quá trình sản xuất nôngnghiệp qua các khâu sản xuất, marketing sản phẩm, phân phối sản phẩm Những chínhsách bảo hộ của Nhật Bản như:
- Hạn ngạch sản xuất PQ đối với ngành sữa
- Chính sách ổn định thu nhập ISP đối với ngành rau quả
- Hỗ trợ giá DP, người nông dân được thanh toán một phần hoặc toàn bộmức chênh lệch giữa giá mục tiêu mà nhà nước để ra với giá cả thực tiễn trên thịtrường
- Chương trình chuyển đổi sản xuất lúa gạo RDP Chương trình này đượcbắt đầu thực hiện từ những năm 60 Chính phủ sẽ thanh toán các khoản mà ngườinông dân đã chi để chuyển đổi diện tích trồng lúa sang trồng các loại cây trồng kháctuỳ theo diện tích đất đai chuyển đổi và loại cây trồng
- Chương trình trợ cấp bảo hiểm rủỉ ro GSIP, Chính phủ sẽ trợ cấp một phầnhoặc tái bảo hiểm những rủi ro cho người nông dân khi xảy ra dịch bệnh và các rủi rokhác trong trồng trọt, chăn nuôi
Trang 20- Chất lượng và an toàn thực phẩm FSAQ Năm 2003, một Uỷ ban thựcphẩm cấp Văn phòng chính phủ đã được thành lập nhằm đánh giá và xác định mức độrủi ro an toàn đối với các sản phẩm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và hoá chất nôngnghiệp.
5.3 Những rào cản thương mại khi nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản:
a Thuế quan:
Nhật Bản áp dụng 4 hệ thống thuế như sau :
- Thuế suất chung: mức thuế cơ bản căn cứ vào Luật thuế quan hải quan, áp dụng trong một thời gian dài
- Thuế suất tạm thời: là thuế suất trong một thời gian ngắn, thay thế cho thuế suất chung
- Thuế suất ưu đãi phổ cập (GSP): là mức thuế áp dụng cho các nước đang phát triển hay các khu vực lãnh thổ Mức thuế có thể thấp hơn mức thuế đang áp dụng cho các nước phát triển Hệ thống GSP của Nhật Bản bắt đầu có hiệu lực vào từ ngày 1/8/1971
- Thuế suất WTO: là mức thuế căn cứ vào cam kết WTO và các hiệp định quốc tế khác
Về nguyên tắc, mức thuế áp dụng theo thứ tự mức thuế GSP, mức thuế WTO, mức thuế tạm thời và mức thuế chung Tuy nhiên, mức thuế GSP chỉ được áp dụng trong trường hợp thoả mãn các điều kiện cần thiết mà Nhật Bản đưa ra như : là nước đang phát triển, là thành viên của hiệp ước Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển ( UNCTAD ), là quốc gia mà Nhật Bản cho là thích hợp để hưởng quy chế GSP Đối với mức thuế WTO, nó chỉ được áp dụng khi thấp hơn cả mức thuế tạm thời và mức thuế chung Như vậy, mức thuế chung là mức thuế áp dụng cho các nước không phải là thành viên của WTO Trong trường hợp mức thuế tạm thời thấp hơn các mức thuế trên, nó sẽ được áp dụng
Trang 21một nhóm mặt hàng Khi nhập khẩu các mặt hàng có quy định hạn ngạch, nhà nhập khẩu phải xin hạn ngạch nhập khẩu trước của MITI, thì mới xin được giấy phép của ngân hàng quản lý ngoại hôi hay của cơ quan quản lý khác
Hạn ngạch được áp dụng với 3 nhóm hàng sau:
- Các mặt hàng thương mại thuộc kiểm soát của nhà nước, bao gồm vũ khí, rượu, chất nổ, súng cầm tay và dao, vật liệu hạt nhân, ma tuý và các thực phẩm chịu
sự kiểm soát (như gạo)
- Những mặt hàng hạn chế nhập khẩu
- Các loại thực vật và động vật có tên trong Bản phụ lục I của Công ước về thương mại quốc tế về các loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng trong hệ thống động thực vật (CITES)
Theo các quy định trước đây của Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch GATT (nay là tổ chức thương mại thế giới WTO) thì các nước thành viên của tổ chức này không được sử dụng hạn ngạch để tạo rào cản phi thuế quan cản trở buôn bán với các nước khác Tuy nhiên, các nước có thể sử dụng hạn ngạch trong một số trường hợp ngoại lệ như: để bảo hộ nông nghiệp, chống bán phá giá và đảm bảo an toàn tạm thời trong trường hợp hàng nhập khẩu có thể làm tổn thương các ngành công nghiệp khác
Hạn ngạch thuế quan
Chế độ hạn ngạch thuế là chế độ, trong đó quy định áp dụng mức thuế bằng không (0%) hoặc thấp đối với những hàng hoá được nhập khẩu theo đúng số lượng quy định, nhằm cung cấp với giá hợp lý cho người tiêu dùng Khi hàng hoá vượt quá số lượng quy định thì sẽ áp dụng mức thuế cao để bảo vệ các nhà sản xuất trong nước Chế độ hạn ngạch nhập khẩu thuế được thiết lập dựa trên quan điểm đảm bảo hài hoà mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng và mục tiêu bảo hộ người sản xuất nội địa Vì vậy, chính phủ phải dựa trên cơ sở xem xét cung cầu, thực trạng sản xuất trongnước để đề ra mức thuế lần một, lần hai và thời gian áp dụng để không cản trở tự do hoá thương mại Trong các quy định của GATT/WTO, các nước thành viên không được sử dụng chế dộ hạn ngạch nhập khẩu, nhưng lại thừa nhận chế độ hạn ngạch thuế với điều kiện không có sự phân biệt đối xử với từng nước
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện
Là một dạng của hạn chế nhập khẩu, là thoả thuận theo đó một nước đồng ýhạn chế xuất khẩu của mình sang nước khác đối với một mặt hàng xác định, với một mức tối đa Các thoả thuận này là tự nguyện chỉ ở mức độ nước xuất khẩu muốn tránh một mối đe doạ lớn hơn đối với ngoại thương của mình và do đó chọn biện pháp ít
Trang 22thiệt hại hơn Tuy nhiên, đây là biện pháp tạm thời và không có hiệu quả Bởi vì biện pháp này có thể giúp làm giảm lượng xuất khẩu của một nước nhưng lại bóp méo quátrình tự do ngoại thương và dẫn đến việc phân phối các nguồn tài nguyên quốc gia và quốc tế một cách kém hiệu quả Tại Nhật Bản, vào cuối những năm 50 đã phải thực hiện hạn chế xuất khẩu tự nguyện đối với các sản phẩm dệt và một số mặt hàng sử dụng nhiều lao động
Giấy phép nhập khẩu
Hầu hết các mặt hàng nhập khẩu vào Nhật Bản không cần giấy phép của
Bộ Công Nghiệp và Ngoại thương Nhưng các mặt hàng sau vẫn cần giấy phép nhập khẩu :
- Hàng hoá liệt kê trong thông báo nhập khẩu thực hiện quản lý bằng hạn ngạch
- Hàng hoá sản xuất hay vận chuyển từ các quốc gia, khu vực quy định trong thông báo nhập khẩu đòi hỏi phải có giấy phép nhập khẩu
- Hàng hoá đòi hỏi phương thức thanh toán đặc biệt
- Hàng hoá cần sự xác nhận của hải quan về nhập khẩu và phải đáp ứng được các quy định đặc biệt của chính phủ, như các loại vắcxin nghiên cứu
c Các biện pháp hành chính kỹ thuật
Đây là nhóm các biện pháp gián tiếp ngăn cản và giám sát hàng nhập khẩu
từ nước ngoài vào thị trường Nhật Bản Các biện pháp hành chính kỹ thuật rất phong phú và đa dạng Chúng tuỳ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Tại Nhật Bản, các biện pháp hành chính được áp dụng rât đa dạng và nó đã hình thànhnên một rào cản rất lớn đối với doanh nghiệp muốn thâm nhập vào thị trường Nhật Bản
Trong quan hệ ngoại thương, giá cả thường rất quan trọng Tuy nhiên, tại thị trường Nhật Bản thì chất lượng của sản phẩm được đặt lên hàng đầu Ngay cả đối với những mặt hàng rẻ tiền, hạ giá thì người tiêu dùng Nhật Bản cũng rất quan tâm đến chất lượng và độ an toàn của mặt hàng đó Thực tế là là các tiêu chuẩn về chất lượng và độ an toàn của hàng hoá của Nhật Bản còn cao hơn và chặt chẽ hơn so với yêu cầu thông thường và các tiêu chuẩn quốc tế Vì vậy nên các sản phẩm của Nhật Bản thường có chất lượng cao và dễ tràn ngập vào các thị truờng các nước khác Các dấu chứng nhận chất lượng mà Nhật Bản sử dụng có thể kể đến như :
Tiêu chuẩn “JIS”
Trang 23Dấu chứng nhận tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản “ JIS” là một trong những dấu được sử dụng rộng rãi nhất ở Nhật Bản Tiêu chuẩn này dựa trên “luật tiêu chuẩn hoá công nghiệp” được ban hành vào tháng 6 năm 1949 Dấu JIS được áp dụng cho tất cả các sản phẩm công nghiệp và khoáng sản, trừ những sản phẩm được áp dụng các tiêu chuẩn chuyên ngành như dược phẩm, phân hoá học, sợi tơ tằm, thực phẩm và các sản phẩm nông nghiệp khác được quy định trong luật về tiêu chuẩn hoá
và dán nhãn các sản phẩm nông lâm sản Các nhà sản xuất trong nước hay nước ngoài muốn được cấp giấy chứng nhận JIS phải làm đơn xin cấp giấy chứng nhận này Bộ trưởng bộ Công nghiệp và ngoại thương có phê đuyệt đơn xin phép cấp JIS cho nhà sản xuất hay không dựa vào kết luận của Hội đồng thẩm định Quyết định của Bộ trưởng sẽ được thông báo cho người nộp đơn Nếu đơn xin phép được phê duyệt thì sẽđăng trên Công báo Thời gian cần thiết kể từ khi nộp đơn cho đến lúc nhận được quyết định và thông báo là 3 tháng
Tiêu chuẩn “JAS”
Luật tiêu chuẩn nông nghiệp Nhật Bản được ban hành vào tháng 5 năm
1970 Luật này quy định các tiêu chuẩn về chất lượng và đóng dấu chất lượng tiêu chuẩn JAS Danh sách các sản phẩm được điều chỉnh bởi Luật JAS bao gồm: đồ uống,thực phẩm chế biến, dầu ăn và mỡ, các nông, lâm thuỷ sản chế biến Các tiêu chuẩn JAS bao quát cả sản phẩm được sản xuất trong nước và các sản phẩm nhập khẩu Tại Nhật Bản việc sử dụng dấu chứng nhận sản phẩm JAS lên nhãn hiệu sản phẩm là tự nguyện và các nhà sản xuất cũng như các nhà bán lẻ không bị bắt buộc phải sản xuất hay kinh doanh các sản phẩm có chất lượng tiêu chuẩn JAS Tuy nhiên, các quy định
về việc ghi nhãn mác sản phẩm là bắt buộc với những sản phẩm do bộ Nông – Lâm – Ngư nghiệp quy định Người tiêu dùng Nhật Bản rất tin tưởng vào chất lượng của các sản phẩm đã được đóng dấu JAS Vì vậy, các nhà sản xuất nước ngoài khi xuất khẩu hàng hoá vào Nhật Bản có được dấu chứng nhận chất lượng JAS sẽ tạo thuận lợi cho việc tiêu thụ hàng hoá của mình tại đây
Các dấu chứng nhận chất lượng khác:
Ngoài dấu chứng nhận chất lượng JIS và JAS còn có nhiều loại dấu chứng nhận khác được sử dụng ở Nhật Bản Ví dụ, các dấu chứng nhận sau đang được sử dụng tại Nhật Bản :
Bảng 1.1 Một số dấu chất lượng của Nhật Bản
Trang 24Dấu chất lượng Ý nghĩa Phạm vi áp dụng
Dấu Q
Chất lượng và đo độ đồng nhất của sản phẩm
Các loại sản phẩm dệt, bao gồm quần áo trẻ em, các loại quần áo khác, khăn trải giường
Hàng may mặc như quần áo nam,quần áo nữ, ô, áo khoác, balô
và các sản phẩm phục vụ cho thể thao
Dấu Len
Các hàng may mặc có chất lượng tốt
Sợi len nguyên chất, quần áo len nguyên chất, đồ len đan
Nguồn: Nguyễn Hữu Khải, “Hàng rào phi thuế quan trong chính sách thương mại quốc tế”, trang 155 – 156
d Các biện pháp quản lý khác
Ngoài các tiêu chuẩn chất lượng khắt khe đối với hàng sản xuất trong nước
và hàng nhập khẩu, Nhật Bản còn ban hành nhiều văn bản pháp luật cơ bản điều chìnhcác hàng hoá mà có thể gây nguy hại đến sức khoẻ, vệ sinh, đạo đức và sự an toàn chung của người dân Nhật:
Tiêu chuẩn môi trường
Vấn đề môi trường cũng rất được quan tâm tại Nhật Bản Cục môi trường Nhật Bản đang khuyến khích người tiêu dùng sử dụng các sản phẩm không làm hại sinh thái ( kể cả các sản phẩm trong nước cũng như các sản phẩm nhập khẩu ) Các
Trang 25sản phẩm đạt được ít nhất một trong các tiêu chuẩn dưới đây sẽ được đóng dấu
“Ecomark”:
1 Việc sử dụng sản phẩm đó không gây ô nhiễm tới môi trường hoặc có nhưng ít
2 Việc sử dụng sản phẩm đó mang lại nhiều lợi ích cho môi trường
3 Chất thải sau khi sử dụng không gây hại cho môi trường hoặc gây hại ít
4 Sản phẩm đóng góp đáng kể vào việc bảo vệ môi trường theo các cách khác không được kể đến ở trên
Ecomark được ban hành năm 1989, và được rất nhiều người Nhật biết đến Ecomark không đưa ra các tiêu chuẩn và cũng không nói lên chất lượng cũng như tính
an toàn của sản phẩm Các công ty nước ngoài có thể xin dấu chứng nhận Ecomark thông qua các nhà nhập khẩu
Luật vệ sinh thực phẩm.
Luật vệ sinh thực phẩm ra đời và có hiệu lực từ năm 1947 Luật này áp dụng cho tât cả các hàng hoá liên quan đến thực phẩm, các gia vị, dụng cụ chứa, các máy móc chế biến thực phẩm và đồ chơi trẻ em Hàng sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu đều phải tuân theo những quy định của Luật như nhau Bộ Y tế và Phúc lợi
sẽ chịu trách nhiệm thực thi và quản lý vệ sinh thực phẩm
Khi xuất hàng sang Nhật Bản, các nhà xuất khẩu nước ngoài phải hiểu đượccác quy định về luật pháp phức tạp liên quan đến vấn đề vệ sinh, an toàn thực phẩm
Ví dụ như : theo quy định thực phẩm sản xuất tại nước xuất xứ phải theo phương phápphù hợp với Luật vệ sinh thực phẩm của Nhật Bản Do đó, đồ uống, chân giò, xúc xích, thịt lợn nuôi và thịt bò nuôi đưa vào bán tại thị trường Nhật Bản phải được khử trùng ở nhiệt độ theo quy định sản xuất tại Nhật Bản Trong nhiều truờng hợp, do thiếu hiểu biết về các quy định vệ sinh, an toàn thực phẩm nên các sản phẩm của các nhà xuất khẩu bị cấm không được đưa vào Nhật Bản Hàng đã dỡ xuống cầu cảng lại
bị gửi trả lại do không đáp ứng được tiêu chuẩn
Luật kiểm dịch thực vật.
Được ban hành nhằm chống lại sự xâm nhập của sâu bệnh và các căn bệnh
ở cây trồng Trong Luật kiểm dịch quy định rõ các mặt hàng cấm nhập khẩu, các đối tượng kiểm tra và tổ chức việc kiểm tra rât cụ thể, chặt chẽ Nếu khi kiểm tra hàng nhập khẩu mà phát hiện các lô hàng này bị nhiễm bệnh hay sâu hại thì các hàng này bịhuỷ bỏ hoặc trả lại nước xuất khẩu Đồng thời, việc xuất khẩu các rau quả thực vật bị cấm cho tới khi nguồn gốc sâu hại, bệnh tật được tìm ra
Trang 26Luật chống các bệnh truyền nhiễm
Do áp dụng luật này nên Nhật Bản là một trong số ít nước có vật nuôi không mắc bệnh truyền nhiễm, lây lan qua virus Nhật cũng là một trong ít nước không có bệnh dại Luật chống các bệnh truyền nhiễm được áp dụng với các đối tượngsau:
- Súc vật móng chẻ (gia súc, lợn, cừu, dê…)
- Ngựa
- Gia cầm và trứng
- Thỏ và ong mật
- Xương, thịt, mỡ, máu, da thú, lông chim, móng, gân
- Xúc xích, chân giò và thịt muối
6 Môi trường văn hoá:
Các yếu tố trong văn hoá Nhật Bản:
a Ngôn ngữ:
Tại Nhật Bản, có 12 ngôn ngữ thuộc họ ngôn ngữ Nhật Bản, một ngôn ngữ bản xứ không thuộc ngữ hệ Nhật Bản là tiếng Ainu và vài ngoại ngữ như tiếng Anh, tiếng Trung Quốc được người Nhật sử dụng
Họ ngôn ngữ Nhật Bản (hay còn gọi là Nhật Bản ngôn ngữ hệ) gồm 12
ngôn ngữ thành viên, tất cả trong số đó đều được dùng tại Nhật Bản Số người sử dụng tiếng Anh tại Nhật Bản là 70.000 trong khi tiếng Trung được khoảng 150.000 người dùng
Có trên 300.000 dân di cư sử dụng các ngôn ngữ của Pakistan, Iran, Ấn
Độ, Bangladesh, Thái Lan, Malaysia
Tiếng Nhật được viết trong sự phối hợp ba kiểu chữ: Hán tự hay Kanji
và hai kiểu chữ đơn âm mềm Hiragana (Bình Giá Danh) và đơn âm cứng Katakana (Phiến Giá Danh) Kanji dùng để viết các từ Hán (mượn của Trung Quốc) hoặc các từ
người Nhật dùng chữ Hán để thể hiện rõ nghĩa Hiragana dùng để ghi các từ gốc Nhật
và các thành tố ngữ pháp như trợ từ, trợ động từ, đuôi động từ, tính từ,… Katakana dùng để phiên âm từ vựng nước ngoài, trừ tiếng Trung và từ vựng của một số nước dùng chữ Hán khác Bảng ký tự Latinh Rōmaji cũng được dùng trong tiếng Nhật hiện đại, đặc biệt là ở tên và biểu trưng của các công ty, quảng cáo, nhãn hiệu hàng hóa, khi nhập tiếng Nhật vào máy tính và được dạy ở cấp tiểu học nhưng chỉ có tính thí điểm Số Ả Rập theo kiểu phương Tây được dùng để ghi số, nhưng cách viết số theo ngữ hệ Hán-Nhật cũng rất phổ biến
Trang 27Phật giáo
Đạo Phật bắt đầu từ Ấn Độ từ thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên Một nhánh chính của Phật giáo, nhánh Mahayana hay gọi là Phật giáo Đại thừa đã du nhập vào Nhật Bản Phật giáo được du nhập vào Nhật từ Trung Hoa và Triều Tiên dưới dạng món quà của vương quốc thân hữu Triều Tiên Kudara vào thế kỷ thứ 6 Trong khi Phật giáo được giới quý tộc cai trị ủng hộ, lúc đầu nó lại không phổ biến trong giới thường dân vì những lý thuyết phức tạp của nó
Khổng giáo
Mặc dù không được tiến hành như một thứ tôn giáo, Khổng giáo du nhập từ Trung Hoa đã có ảnh hưởng rất sâu đậm đến cách suy nghĩ của người Nhật Khổng giáo đã đưa ra một hệ thống giai tầng, trong đó mỗi người phải hành động theo địa vị của để
Trang 28đảm bảo sự hài hòa trong xã hội và sự trung thành đối với quốc gia.
Tân Khổng giáo, được đưa vào Nhật thế kỷ 12, giải thích thiên nhiên và xã hội dựa trên những nguyên tắc siêu hình và chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Lão giáo Ở Nhật, lý thuyết này được gọi là Shushigaku, đã đưa ra ý tưởng là con người phải đảm bảo sự ổn định xã hội và chịu những trách nhiệm về xã hội Trường phái này sử dụng nhiều khái niệm siêu hình để giải thích thiên nhiên và trật tự xã hội
Đạo cơ đốc
Ngày nay có khoảng từ 1 đến 2 triệu người Nhật theo Cơđốc giáo(khoảng 1% dân số Nhật Bản) Hầu hết sống ở miền Tây nước Nhật, nơi các hoạt động truyền giáo mạnh nhất trong thời gian từ thế kỷ 16
Một số tập tục của Cơ đốc giáo đã trở lên phổ biến cả với những người không theo đạo Chẳng hạn như việc mặc áo đầm trắng trong đám cưới, việc kỷ niệm ngày Valentine và ở mức độ nào đó là việc kỷ niệm ngày Giáng sinh
Đến cuối thế kỷ 16, đạo Cơ đốc đánh mất vị trí độc tôn ởNhật
Đến năm 1873 sau cuộc phục hưng Meiji, tự do tôn giáo được quảng bá và đặc biệt là từ thế chiến thứ II
số người Cơ đốc giáo Nhật Bản bắt đầu tăng dần trở lại
Đạo hồi
Đạo hồi ở Nhật Bản là tương đối mới so với các nước
khác trên thế giới
Đạo hồi được người Nhật biết đến lần đầu vào năm
1877 Điều này giúp Hồi giáo tìm được một chỗ đứng
trong đời sống tinh thần của người Nhật, nhưng chỉ trên
phương diện kiến thức và một phần lịch sử văn hóa
Với sự hình thành của những cộng đồng Hồi giáo, vài
nhà thờ đã được xây dựng, trong đó quan trọng nhất là
nhà thờ Kobe được xây năm 1935(là nhà thờ Hồi giáo
duy nhất còn lại ở Nhật Bản ngày nay), và nhà thờ
Tokyo được xây dựng năm 1938 Chỉ đến sau Thế chiến
thứ II, cộng đồng Hồi giáo của người Nhật mới hình
thành thực sự Tuy nhiên, bất kể những thành công ban
đầu, số lượng thành viên Hồi giáo gia tăng chậm Ngày
nay số lượng tín đồ Hồi giáo ở Nhật có khoảng vài ngàn
người
c Giá trị và thái độ:
Trang 29 Ở người Nhật điển hình, bạn không khó để nhận thấy được hai phẩm chất cơ bản là lòng tự trọng và cung cách chu đáo trong quan hệ giao tiếp.
Hai yếu tố nữa cũng góp phần tạo nên bản sắc Nhật là “chữ tín và kỷ luật” Một khi đã hứa họ sẽ giữ lời bằng mọi giá, nếu cần, kể cả bằng toàn bộ tài sản, thậm chí bằng mạng sống của chính mình, bởi suy cho cùng , mất lòng tin cuả thân nhân cũng có nghĩa là không còn chỗ dựa để sống trong không gian chung Còn về ý thức kỷ luật, ai cũng thừa nhận dân tộc Nhật là một tấm gương điển hình Chính nhờ tinh thần kỷ luật này mà bất chấp sự tàn phá hung hãn, khủng khiếp của động đất và sóng thần mà các thành phố, cộng đồng dân cư nói chung xã hội Nhật vẫn duy trì được nếp sinh hoạt trong vòng trật tự (không thấy những vụ giẫm đạp lên nhau khi hoảng loan, không thấy nạn cướp bóc, hôi của, hiếp dâm, đầu cơ…)
d Phong tục và cách cư xử:
Mặc dù Nhật Bản là một quốc gia tân tiến nhưng trong xã hội Nhật, vai trò và các liên hệ nam nữ đã được ấn định rõ ràng Thời xưa, Nhật Bản theo chế độ mẫu hệ, người phụ nữ có vai trò lớn hơn nam giới Từ khi thời kỳ samurai phát triển, người đàn ông lại chiếm vai trò độc tôn Dù rằng tinh thần giải phóng phụ nữ đã được
du nhập vào Nhật Bản từ cuối thế kỷ 19 nhưng hiện nay trong đời sống công cộng, người phụ nữ vẫn ở vị thế thấp hơn nam giới và bên ngoài xã hội, người nam vẫn giữ
vai trò lớn hơn một chút Theo căn bản, người nữ vẫn là người của "bên trong" (uchi no) và người nam vẫn là người của "bên ngoài" (soto no) Phạm vi của người phụ nữ
là gia đình và các công việc liên hệ, trong khi người chồng là người đi kiếm sống và đưa hết tiền lương về cho người vợ Thời xưa, người phụ nữ trên 25 tuổi mà chưa có chồng thường bị nam giới coi như "có khuyết điểm nào đó" Nhưng nay Nhật Bản lại
là nước có phụ nữ lấy chồng rất muộn, thậm chí là sống độc thân mà không có chồng (Nhật Bản hiện nay là nước có phụ nữ lấy chồng rất ít và tỉ lệ sinh thấp nhất Châu Á Tại các công ty, nhà máy, cửa hàng người phụ nữ thường được thuê mướn để chào đón các khách mới đến Ngày nay, vị thế của người phụ nữ đã được nâng lên nhiều trong xã hội, nhất là tư duy của lớp thanh niên trẻ - những người thường không có quan niêm phân biệt và suy nghĩ bảo thủ, cổ hủ
Một vài lưu ý trong kinh doanh với người Nhật:
Phong cách làm việc, giao dịch của các doanh nghiệp Nhật Bản rất nghiêm chỉnh, lễ nghi, tôn trọng nhau Trong văn hoá kinh doanh giao tiếp của người Nhật, có 4 vấn đề mà các doanh nghiệp Việt Nam cần chú ý coi trọng, đó là cách chàohỏi nghiêm túc, đúng giờ, làm việc ngoài giờ và phải có danh thiếp Thiếu 1 trong 4 yếu tố trên mà đặc biệt là thiếu danh thiếp vì lý do quên không mang hoặc không có, coi như việc hợp tác làm ăn sẽ chắc chắc gặp khó khăn Bên cạnh đó, doanh nghiệp Nhật luôn tìm hiểu trước khi hợp tác làm ăn Nếu nóng vội, “mì ăn liền” thì khó có thểhợp tác thành công
Đặc điểm người tiêu dùng Nhật Bản là tính đồng nhất, 90% người tiêudùng cho rằng họ thuộc về tầng lớp trung lưu Nhìn chung người Nhật có những đặcđiểm chung như: người Nhật không đòi hỏi tất cả các sản phẩm nhất thiết phải có độ
Trang 30bền lâu năm mà là các sản phẩm có vòng đời ngắn nhưng chất lượng phải tốt, kiểudáng đẹp, hoàn hảo, tiện dụng
Nhật Bản là nước có dân số già Chính vì vậy, thị trường Nhật Bản sẽ hướng tới phục vụ nhu cầu và sự hưởng thụ của những người già
e Yếu tố vật chất của văn hóa:
Sau khi được hồi phục, từ 1952-1962 kinh tế Nhật Bản phát triển nhanh.Đăc biệt 1960-1973 con gọi là giai đoạn “thần kỳ” Từ 1970 trở đi, Nhật trở thành mộttrong 3 trung tâm tài chính cùa thế giới và là một trong những quốc gia có nền kinh tế phát triển hàng đầu
Ngoài tập trung vào phát triển kinh tế, Nhật còn tập trung vào phát triển các cơ sở hạ tầng trường hoc, bệnh viên…và đăc biệt là hệ thống giao thông, với hệ thống tàu cao tốc hiện đại (shinkanhen) nổi tiếng khắp thế giới
f Thẩm mỹ :
Thẩm mỹ của người Nhật được thể hiện rất sâu sắc qua các đặc trưng văn hóa
họ như kimono, ẩm thực, lễ hội, âm nhạc, hội họa, nghệ thuật trà đạo, nghệ thuật cắm hoa… Tất cả cho thấy con người Nhật Bản khá cầu kỳ, tao nhã, thích các lễ hội sôi động và những đồ vật đầy màu sắc Họ cũng rất tỉ mỉ và chi tiết trong các sản phẩm của mình
g Giáo dục:
Về mặt giáo dục, Nhật Bản là một trong số các quốc gia phát triển trên thế giới với tỷ lệ người mù chữ thực tế bằng không và 72,5% số học sinh theo học lên đến bậc đại học, cao đẳng và trung cấp, một con số ngang hàng với Mỹ và vượt trội một số nước châu Âu Điều này đã tạo cơ sở cho sự phát triển kinh tế và công nghiệp của đất nước Nhật Bản trong thời kỳ hiện đại
Hệ thống giáo dục Nhật Bản hiện hành đã được thiết lập ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai vào giữa những năm 1947 và 1950, lấy hệ thống của Mỹ làm kiểu mẫu Nó bao gồm 9 năm giáo dục bắt buộc (6 năm tiểu học và 3 năm trung học cơ sở),tiếp theo đó là 3 năm trung học phổ thông không bắt buộc và 4 năm đại học Đã có những động thái nhằm hiện đại hoá chương trình giảng dạy Tỷ lệ thanh niên cả nam lẫn nữ tiếp tục học lên trung học phổ thông và bậc đại học sau khi đã kết thúc chương trình giáo dục bắt buộc đã gia tăng Trình độ chung của giáo dục đã được cải thiện, nhưng đồng thời, một số tác động tiêu cực đã nảy sinh do việc gia tăng số học sinh hoặc do chế độ nghiêm ngặt của hệ thống giáo dục
7 Môi trường quốc tế:
7.1 Tình hình Châu Á:
Đông Á
Trang 31Năm 2013, nền kinh tế Trung Quốc tiếp tục một tiến trình chậm chạp, nhưngkhó khăn là phải chuyển dần sự tăng trưởng do xuất khẩu sang một mô hình bền vữnghơn về lâu dài Xuất khẩu sẽ không tăng nhanh, một phần do những trì trệ kinh tế ởchâu Âu Tác động của việc lương tăng và chi phí cao hơn ở các khu vực sản xuấthàng xuất khẩu miền duyên hải truyền thống cộng với sự cạnh tranh của các nền kinh
tế mới nổi ở khu vực như Indonesia, Philippines, Việt Nam sẽ ảnh hưởng đến xuấtkhẩu
Tuy việc Trung Quốc là nhà cung cấp chủ chốt của thế giới trong hai thập kỷ
về hàng chi phí thấp sẽ được cảm nhận mạnh mẽ hơn nữa trên khắp khu vực Đông Ávào năm 2013, nhưng điều này sẽ không thể cảm nhận được đồng đều ở mọi nơi Sựsuy giảm của sản xuất cấp thấp khu vực ven biển ở Trung Quốc sẽ tạo ra cơ hội to lớncho các nước Đông Nam Á như Indonesia, Việt Nam, Philippines và tiềm năng nhưMyanmar - tất cả những nước này sẽ tiếp tục thúc đẩy thu hút mạnh mẽ đầu tư nướcngoài không chỉ vào các ngành công nghiệp khai thác tài nguyên và nguyên vật liệunhưng cũng vào các khu vực như giao thông vận tải điện, và vật liệu xử lý cơ sở hạtầng, đô thị… Đồng thời, việc điều chỉnh giảm tốc độ tăng trưởng tổng thể của TrungQuốc sẽ đặt ra những thách thức ngắn hạn, trong khi việc tiêu thụ nguyên vật liệuTrung Quốc đã bước vào ổn định so với thời kỳ không ổn định giai đoạn 2010-2011
Trong khi khu vực đang định vị lại đối với sự chuyển đổi kinh tế của TrungQuốc thì năng lực quân sự và sự quyết đoán ngày càng tăng của Bắc Kinh sẽ gây áplực lên các nước Đông Á Ở Đông Bắc Á, việc hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc
sẽ làm căng thẳng hơn quá trình bình thường hóa quân sự của Nhật Bản, bao gồm cảnhững nỗ lực mới để nâng những hạn chế hiến pháp về việc sử dụng các lực lượng vũtrang của Nhật Bản Nhật cũng có thể đẩy nhanh việc chuyển các cơ sở kinh doanh vàđầu tư của Nhật Bản từ Trung Quốc tới các nước mới nổi ở Đông Nam Á do các sự
cố về căng thẳng ngoại giao và tranh chấp lãnh thổ đã đe dọa các công ty sản xuất vàcác lợi ích kinh doanh Nhật Bản ở Trung Quốc
Trang 32Bán đảo Triều Tiên, bị kẹt giữa hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc và khảnăng bình thường hóa của Nhật Bản, có thể thúc đẩy sự gần gũi lại nhau hơn, đặc biệt
là những nỗ lực của Bắc Triều Tiên nhằm giảm dần sự phụ thuộc vào Trung Quốc
Trong khi đó, Việt Nam và Philippines - là những nước có tiếng nói mạnh mẽchống Trung Quốc trong khu vực Đông Nam Á - sẽ tiếp tục thúc đẩy mạnh cho hộinhập lớn hơn giữa các thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và cho việc
Mỹ có cam kết quân sự trong khu vực Năm 2013 sẽ là một năm quan trọng đối vớiMyanmar trong khi đất nước này đang cố gắng việc mở cửa dân chủ - và nhằm đểgiảm sự phụ thuộc về đầu tư lớn của Trung Quốc
Nam Á
Việc Washington có ý định giảm sự hiện diện trong khu vực sẽ thúc đẩy cácnước trong khu vực nhảy vào lấp chỗ trống Pakistan sẽ tăng cường hợp tác với Nga,Trung Á và Iran để chuẩn bị cho một Afghanistan mới
Ấn Độ cũng sẽ chuyển sự chú ý của mình về phía Đông, nơi mà Mỹ đang lặng
lẽ cố gắng để xây dựng một liên minh các đối tác trong khu vực nhằm khống chếTrung Quốc ở lưu vực Ấn -Thái Bình Dương Myanmar nói riêng sẽ là một chiếntrường nhằm giành giật ảnh hưởng trong năm nay
Ấn Độ sẽ tránh có các liên minh chính thức nhưng sẽ có lý do để hợp tác vớiNhật Bản, Australia và các quốc gia Đông Nam Á nhằm tạo cho Nhật Bản mở rộngquan hệ kinh tế, chính trị và an ninh trong khu vực Ấn Độ không muốn đối đầu vớiTrung Quốc, cũng không bị ràng buộc chính sách đối ngoại với Mỹ trong khu vực liênquan đến các vấn đề như Trung Quốc hay Iran
7.2 Nhật Bản và các tổ chức thế giới:
a Quan hệ Nhật Bản - ASEAN:
Trang 33Sau 40 năm quan hệ, Nhật và ASEAN đã trở thành đối tác thương mại quan trọng nhất của nhau.
Hiện có khoảng 7.000 doanh nghiệp Nhật đang hoạt động tại địa bàn Theo kếtquả khảo sát tại các doanh nghiệp Nhật, trong danh sách 20 địa chỉ ưu tiên hàng đầu
sẽ lập quan hệ đầu tư trong vài năm tới, có đến 8 nước thành viên ASEAN Ngoàikinh tế, thành công lớn nhất của 40 năm quan hệ là tăng cường sự hiểu biết lẫn nhauthông qua ngoại giao nhân dân, đặc biệt là giới trẻ
Mỗi năm, có hơn 13.000 sinh viên ASEAN sang Nhật du học Năm 2007, theosáng kiến của Thủ tướng Abe, chương trình “Japan-East Asia Network of Exchangefor Students and Youth” (JENESYS) được phát động, thu hút trên 14.000 thanh niênNhật bản và ASEAN qua lại thăm viếng lẫn nhau Gần đây, ngay từ đầu nhiệm kỳ lầnthứ hai, Thủ tướng Abe vừa tuyên bố sẽ tiếp tục phát động JENESYS 2.0, nhằm thuhút trên 30.000 thanh niên ASEAN và các nước Châu Á khác đến thăm đất nước mặttrời mọc
Có thể nói, quan hệ Nhật-ASEAN là quan hệ “đối tác chiến lược”, được xây dựng trên những quyền lợi chiến lược chung và vì những mục tiêu chung Tăng
trưởng kinh tế Nhật Bản gắn bó mật thiết với mọi động thái của láng giềng ASEAN
Do các tuyến hàng hải nối liền Nhật với thế giới bên ngoài đều đi ngang khu vực, nên
sự ổn định của ASEAN là điều kiện cần thiết phục vụ cho hòa bình và phát triển phồn vinh của Nhật Hơn thế nữa, sự phối hợp hành động chặt chẽ ASEAN-Nhật sẽ góp phần rất lớn vào việc kiến thiết một Châu Á-Thái Bình Dương hòa bình và thịnh vượng
b Quan hệ Nhật Bản và các nước tiểu vùng sông Mekong:
5 quốc gia Tiểu vùng sông Mekong (gồm Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan, Myanmar) và Nhật Bản cam kết tăng cường hợp tác trong khu vực
Bộ trưởng Ngoại giao các nước khẳng định quyết tâm hợp tác chặt chẽ hơn trong các vấn đề khu vực và toàn cầu mà các bên cùng quan tâm, củng cố và mở rộng
sự hợp tác giữa các nước Tiểu vùng sông Mekong và Nhật Bản cũng như sự hợp tác trong các khuôn khổ khác như Quan hệ Đối thoại Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)-Nhật Bản, ASEAN+3, Thượng đỉnh Đông Á và Diễn đàn khu vực ASEAN nhằm bảo đảm hòa bình, sự ổn định và phồn vinh trong khu vực
Nhật Bản đã cam kết tăng hỗ trợ kinh tế cho các nước ASEAN, đặc biệt là các nước Tiểu vùng sông Mekong, trong đó tập trung vào cơ sở hạ tầng, đầu tư, phát triển nguồn nhân lực, trao đổi văn hóa và thanh niên
Nhờ vào sự đóng góp to lớn của Nhật Bản dành cho các nước khu vực sông Mekong sẽ giúp làm giảm bớt sự cách biệt về phát triển giữa 10 nước thành viên ASEAN
Trang 34"Nhật Bản mong muốn đóng góp lớn hơn bao giờ hết cho khu vực sông Mekong" để tạo ra một "cộng đồng Đông Á".
Chương trình Đối tác Nhật Bản-khu vực Mekong được khởi xướng năm 2007
vì hòa bình, phát triển và phồn vinh của 5 nước Tiểu vùng sông Mekong và nhằm giảm bớt sự cách biệt giữa các nước này
II B Thời cơ, thách thức, phương thức thâm nhập:
1 Thời cơ:
b Về dân số:
Trước những vấn đề thực tại nêu trên, dễ dàng nhận thấy một thực tế là Nhật Bản đang phải đối mặt với tình trạng dân số già và thiếu lực lượng lao động trầm trọng Điều này buộc Nhật Bản phải có những chính sách thu hút nhiều thật nhiều người lao động từ các nước khác đến Đặc biệt, số người già ngày một tăng nên nước này đang thiếu người trong lĩnh vực dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe Đây là cơ hội lớn cho những bạn trẻ Việt Nam muốn sang Nhật làm việc, với thu nhập cao và môi trường làm việc hiện đại, mà không phải cạnh tranh nhiều
Cơ hội làm việc tại Nhật Bản rất nhiều, là cánh cửa mở cho nhiều người Việt Nam Tuy nhiên, môi trường làm việc tại đây cũng rất khắt khe, đòi hỏi người lao động phải có ý thức cao, có trình độ chuyên môn lành nghề Do đó, ngày càng có nhiều bạn trẻ lựa chọn đi du học Nhật Bản Đây là hình thức đơn giản nhất giúp các bạn có được Visa dài hạn tại Nhật Bản, được có cơ hội làm quen với môi trường sống,làm thêm và văn hóa, xã hội Nhật Bản, đồng thời, được học tập, nâng cao tay nghề ngay tại nước mà bạn muốn làm việc
Sau đây là số liệu so sánh giữa tháng 10/2010 và tháng 10/2011
Khu vực
Số người xin
Được cấp CE
Số người xin
Được cấp CE
Trang 35Việt Nam
Mông Cổ
Malaysia
Trang 36Tổng cộng
Tuy nhiên, trên bảng số liệu cũng hiện lên những con số tích cực từ Việt Nam, Srilanca, Nepal, Indonesia, Malaysia, Thụy Điển, trong đó, Việt Nam là nước có số lượng du học sinh tăng nhiều nhất (47 người) Cũng theo đó, Việt Nam có tỉ lệ được cấp giấy chứng nhận đủ tư cách lưu trú (COE) cao nhất trong số các nước được công
bố Giấy COE có vai trò rất quyết định lớn trong việc xét tuyển du học sinh, là căn cứ
để xin visa nhập cảnh vào Nhật Bản, do đó cục Lưu Trú Nhật Bản rất khắt khe trong việc lựa chọn thí sinh nào đỗ, thí sinh nào trượt COE Đây thực sự là một thành công lớn từ phía chính phủ, du học sinh Việt Nam, cững như các trung tâm tư vấn du học nhật bản
Du học sinh Việt Nam cũng được hưởng những thuận lợi từ những con số nói trên: Số lượng du học sinh trên mặt bằng chung giảm đồng nghĩa với chính phủ Nhật Bản sẽ cố gắng nỗ lực hơn trong công tác giáo dục và chăm sóc du học sinh Đồng thời, du học sinh Việt Nam sẽ có cơ hội nhận học bổng nhiều hơn, sẽ kiếm được việc làm thêm dễ dàng hơn khi ít phải cạnh tranh với nhiều người
c Về kinh tế:
Nhật Bản có các vấn đề kinh tế nổi bật như: Tỷ lệ thất nghiệp giảm, Giá tiêu dùng tiếp tục giảm, tài khoản vãng lai thâm hụt tháng thứ ba liên tiếp, Nhật Bản đang phải đối mặt với giá nhiên liệu tăng cao tao ra một cơ hội cho các doanh nghiệp nước ngoài có thể xuất khẩu các nhiên liệu thô giá rẻ
Nhật Bản là thị trường có khả năng chi trả cao, thu nhập bình quân đầu người được xếp vào hàng cao trên thế giới (đạt khoảng 34780 USD) Vì vậy, người tiêu dùng Nhật Bản sẵn sàng chi trả cho những sản phẩm có chất lượng cao, an toàn cho người sử dụng và hữu ích cho họ
d Về tự nhiên:
Nhật Bản cũng là một nước Châu Á, có vị trí địa lý khá thuận lợi cho việc vận chuyển, lưu thông hàng hóa.Nhật Bản nằm giáp biển nên có nguồn thủy hải sản phongphú và đa dạng Nhật Bản là đất nước được hình thành từ nhiều đảo đã giúp Nhật Bản
có tiềm năng du lịch rất lớn là một cơ hội đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài
Nhật Bản nằm cạnh với các nước có nền kinh tế phát triển và mới nổi trên thế giới là một lợi thế giao lưu kinh tế tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển giao thông vận tải biển và cảng biển
Trang 37Khí hậu ôn đới ở miền Bắc và cận nhiệt ở miền Nam tạo nên khí hậu đa dạng
và thuận lợi để phát triển ngành du lịch Nhật Bản không hợp cho phát triển các ngànhnông nghiệp, công nghiệp, cư trú nhưng nhiều cảnh đẹp, thu hút khách du lịch
Phía nam của đảo Kyushu và các đảo Nansei vào mùa đông ít lạnh hơn, đây là nơi mùa xuân tới trước tiên với hoa Anh Đào, một sự kiện rất quan trọng đối với người Nhật Bản Vào cuối tháng 3, hoa Anh Đào bắt đầu nở trên đảo Kyushu và nở dần lên tới phía bắc của đảo Hokkaido vào tuần lễ thứ hai của tháng 5 Mùa hoa Anh Đào là mùa tốt đẹp nhất để du khách viếng thăm Nhật Bản Sau khi hoa đã tàn là các trận mưa thất thường trước khi mùa mưa (tsuyu) đến và kéo dài trong hai tháng Tới tháng 10 và tháng 11, thời tiết trở nên dịu đi, lá cây bắt đầu đổi màu, đây cũng là thời gian tốt đẹp cho khách du lịch
Nhật Bản là quốc gia có rất ít tài nguyên thiên nhiên Trên các đảo Hokkaido
và Kyushu có các mỏ than và kỹ nghệ khai mỏ lên tới cực điểm vào năm 1941, ngày nay hầu như các hầm mỏ này không hoạt động Tất cả khoáng sản khác, kể cả dầu thô,đều phải nhập cảng từ nước ngoài
Tại Nhật Bản, cây rừng cũng là một nguồn tài nguyên Gỗ được dùng cho kỹ nghệ xây nhà và làm giấy nhưng việc sản xuất nội địa đã giảm hẳn vì Nhật Bản ưa nhập cảng loại gỗ rẻ tiền hơn từ các quốc gia nhiệt đới thuộc vùng Đông Nam Á
e Về công nghệ:
Đối thủ nước ngoài muốn giành được thị trường Nhật Bản chủ yếu nhờ tiếp thu
và cải tiến các công nghệ nước ngoài (mạnh nhất vẫn là nước Mỹ) Ban đầu, họ
khuyến khích khách hàng dùng thử bằng việc cung cấp sản phẩm ở mức giá thấp Sau
đó, họ thuyết phục khách hàng bằng chất lượng tốt và cuối cùng là nhờ vào sự vượt trội về công nghệ Trong suốt quá trình cộng tác, họ luôn duy trì mối quan hệ mật thiếtvới khách hàng, để thu lượm được kiến thức của đối tác và sau đó tìm mọi cách thoả mãn trúng những gì khách hàng mong mỏi Chính sự vượt trội về công nghệ và sự tín nhiệm nơi khách hàng đã tạo nên thời cơ cho đối thủ nước ngoài thâm nhập vào thị trường Nhật Bản
f Về môi trường chính trị:
Từ khi có Hiệp định Đối tác toàn diện Việt - Nhật (ký tháng 12/2008), giao thương giữa hai nước phát triển mạnh Đây là khung pháp lý quan trọng nhưng cũng rất thuận lợi cho DN hai nước mở rộng các mối quan hệ trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học - công nghệ - đầu tư - lao động… Sau hơn 1 năm triển khai hiệp định, đã có hơn 1/3 hàng hoá Việt Nam sang Nhật hưởng các lợi ích từ hiệp định, nhất là trong lĩnh vực thuế quan Hiệp định vẫn còn đến 95% sản phẩm công nghiệp từ Việt Nam
Trang 38sang Nhật sẽ có thuế suất 0% (giảm theo lộ trình), nhiều mặt hàng khác như da giày, sản phẩm gỗ, sản phẩm hoá chất, hàng nông sản… cũng đang và sẽ tiếp tục được giảmthuế suất.
Một thuận lợi nữa cho DN Việt Nam tại Nhật là Nhật Bản đang thay đổi chínhsách kinh tế - thương mại Trước đây, Nhật chú tâm vào nội địa, nay mở rộng kết nốivới thế giới, trong dó có việc tăng hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá về hướngĐông, vì thế đã ký nhiều hiệp định thương mại song phương với ASEAN (7 hiệp định,trong đó có Việt Nam) và một hiệp định chung với khối ASEAN, đồng thời dành ưuđãi thuế quan GSP cho một số quốc gia khác Theo ông Võ Thanh Hà, Phó Trưởngphòng Đông Bắc Á - Vụ Thị trường châu Á - Thái Bình Dương, sau khủng hoảng kinh
tế thế giới, kinh tế Nhật cũng bị ảnh hưởng nên tác động đến tâm lý tiêu dùng, vì vậythị trường hàng giá rẻ được ưa chuộng và ngày càng xuất hiện nhiều ở hệ thống cácsiêu thị, hệ thống phân phối Nhật
Về phía Việt Nam, với các chính sách thúc đẩy, khuyến khích xuất khẩu đã tạo nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá sang thị trường Nhật Thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam cho thấy, kim ngạch thương mại song phương Việt Nam - Nhật Bản năm 2011 đạt 21,1 tỷ USD, tăng 26% so với năm 2010; trong đó, kimngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản đạt 10,7 tỷ USD, tăng 39% so với năm
2010 Nhiều mặt hàng của Việt Nam đã thâm nhập và có chỗ đứng tại thị trường Nhật Bản như thủy sản, may mặc, đồ gỗ, cà phê, sản phẩm nhựa, đồ da, giày dép
e Về môi trường văn hoá:
- Ngôn ngữ: ngoài tiếng Nhật, còn có 1 vài ngôn ngữ được sử dụng như tiếng Anh, tiếng Trung Điều này tạo thuận lợi cho việc quảng bá sản phẩm bằng nhiều thứ tiếng
- Tôn giáo: đa dạng, tạo điều kiện cho sự du nhập các sản phẩm đặc trưng của từng tôn giáo, cũng như sự đa dạng trong các kiểu kiến trúc, kết cấu, tạo nên phù hợp cho các loại sản phẩm này
- Quan điểm, thái độ: người Nhật thích các sản phẩm có chất lượng tốt, kiểu dáng đẹp, hoàn hảo, tiện dụng , tạo điều kiện cho ngành sản xuất đòi hỏi sự khéo léo,công phu, cẩn thận tìm được chỗ đứng trong thị trường này
f Về môi trường quốc tế:
Trong bối cảnh các nước xung quanh đang có nhiều vấn đề hoặc mất ổn định,
mà nổi bật nhất hiện nay là tình hình chiến sự căng thẳng giữa Triều Tiên – Hàn Quốc,thì Việt Nam có một nền chính trị ổn định, xã hội ổn định, kinh tế phát triển Đồng thời Việt Nam lại mở cửa rất rộng và có một vị trí gần như là trung tâm của khu vực
Trang 39Đông Nam Á và đầu mối của tiểu vùng sông Mêkông – khu vực mà Nhật Bản rất quantâm phát triển quan hệ
2 Thách thức:
a Về dân số:
Nhật Bản luôn nổi tiếng là một ”Môi trường làm việc khắt khe”, đòi hỏi lực lượng lao động được xuất khẩu sang đây phải nỗ lực, tuân theo những qui định và qui trình đã được đề ra
Người tiêu dùng Nhật Bản tương đối khó tính, chỉ cần nhà sản xuất mắc một lỗinhỏ cũng có thể bị phàn nàn, mặc dù đó có thể chỉ đơn thuần là một khiếm khuyết nhỏ
mà đa số hàng hóa có thể mắc phải Doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia và tiếp cận thị trường Nhật Bản cần tạo lòng tin ban đầu của khách hàng với sản phẩm của mình
b Về kinh tế:
Nền kinh tế Nhật Bản đang có xu hướng giảm tốc và rơi vào suy thoái, cán cân vãng lai của Nhật Bản cũng gần chạm đến mức cân bằng Trong cuộc đấu tranh thúc đẩy tăng trưởng, Chính phủ mới của Nhật Bản, do thủ tướng Shinzo Abe đứng đầu có thể sớm hủy bỏ một trong những lợi thế lớn của nước này, đó là tỷ lệ lãi suất vay nợ thấp của chính phủ và tư nhân Nếu điều đó xảy ra, kinh tế Nhật Bản rất có thể sẽ còn tồi tệ hơn vào cuối nhiệm kỳ của Thủ tướng Shinzo Abe Lãi suất trái phiếu chính phủcủa Nhật Bản 10 năm qua là dưới 1% - thấp nhất trên thế giới, mặc dù mức độ nợ và thâm hụt ngân sách hàng năm của chính phủ Nhật Bản rất cao Nợ của Nhật Bản là khoảng 230% GDP, cao hơn so với Hy Lạp (175% GDP) và gần gấp đôi Ý (125%) Thâm hụt ngân sách hàng năm là gần 10% GDP, cao hơn so với bất kỳ quốc gia nào thuộc khu vực đồng Euro Tình trạng GDP trì trệ, thâm hụt gây ra tỷ lệ nợ/GDP tăng 10% hàng năm
Thống đốc Masaaki Shirakawa của BOJ cho rằng “lãi suất dài hạn có thể tăng đột biến và có ảnh hưởng tiêu cực đối với nền kinh tế” Nhật Bản cần thoát khỏi cái bẫy không có sự tăng trưởng và giảm phát kéo dài Tuy nhiên, các chính sách mà Thủ tướng Shinzo Abe đang theo đuổi không phải là cách để đạt được những điều đó
Những khó khăn về kinh tế sẽ kéo theo một loạt các khó khăn khác, trong đó các yếu tố của chính sách đối ngoại và an ninh sẽ bị ảnh hưởng Viện trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản đang giảm và sẽ bị giảm hơn nữa, đóng góp cho các chiến dịch gìn giữ hòa bình sẽ gặp nhiều khó khăn hơn, các ngành công nghiệp quốc phòng sẽ bị cắt giảm và một vài trong số các ngành này sẽ không còn tồn tại
Ngoài ra, thị hiếu của người tiêu dùng bắt nguồn từ truyền thống và điều kiện của người Nhật Bản trở thành một yếu tố quan trọng trong việc bán và phát triển sản phẩm Cũng cần chú ý đến tình trạng khủng hoảng kinh tế kéo dài gần đây nên người Nhật có xu hướng thích mua các hàng hóa có giá cả hợp lý Người tiêu dùng Nhật Bản
đề ra các tiêu chuẩn về độ bền và chất lượng cao cho sản phẩm, người Nhật Bản cũngtạo ra các yêu cầu cho các sản phẩm phải tuân thủ tiêu chuẩn JIS, JAS,…Chính việc
Trang 40đáp ứng nhu cầu tiêu dùng này của các hãng sản xuất Nhật Bản đã đem lại những tiến
bộ về chất lượng hàng hóa tạo nên danh tiếng cho các hãng sản xuất Nhật Bản Như vậy, việc đưa những sản phẩm của doanh nghiệp nước ngoài như Việt Nam sang thị trường Nhật Bản sẽ gặp phải những khó khăn và trở ngại từ các hãng sản xuất của Nhật Bản
Chính phủ Nhật Bản luôn có chế độ ưu đãi và bảo vệ các ngành nông nghiệp không vì mục đích kinh tế mà xem trọng nó như một vấn đề bình ổn, đảm bảo an ninh quốc gia,…Như vậy, gây nên những khó khan không nhỏ đối với nhà cung cấp nước ngoài không chỉ là nông nghiệp
c Về tự nhiên:
Giao thông đường bộ gặp nhiều khó khăn
Nguồn tài nguyên thiên nhiên khá nghèo nàn, trừ than đá và dồng có 1 số lượng
ít thì còn lại những nguồn tài nguyên ko đáng kể
Thiên tai (động đất, núi lửa, sóng thần ) thường xuyên xảy ra: nằm ở vành đai Thái Bình Dương
Người tiêu dùng Nhật Bản rất nhạy cảm với những thay đổi theo mùa: Mùa hè thường nóng, ấm và mùa đông thì lạnh và khô Vì vậy, hàng hóa chịu ảnh hưởng của thời tiết thì phải có chất liệu, màu sắc và kiểu dáng phải phù hợp
d Về công nghệ:
Tại triển lãm Eco-Products lần thứ 14 các nhà sản xuất hàng đầu Nhật Bản đã giới thiệu những sản phẩm tiên tiến, thông minh và thân thiện với môi trường, hứa hẹn
sẽ tạo nên làn sóng mới ưa chuộng đồ gia dụng Nhật như những thập niên trước đây
Nguyên nhân tạo nên thành công của các công ty công nghệ Nhật Bản là nhờ vào đẳng cấp của khách hàng mà họ phục vụ Chỉ những khách hàng có đẳng cấp mới đưa ra các đòi hỏi khắt khe và nhà cung cấp vì thế cũng phải tự nâng tầm cho tương xứng Đồng thời các công ty Nhật thành công bởi họ đã cá biệt hoá cao các sản phẩm mình tạo ra Và những thành phần, công cụ và chất liệu như vậy chỉ có thể được tạo rakhi nhà sản xuất biết cộng tác chặt chẽ với khách hàng trong nhiều năm tới mức nhà sản xuất thông suốt về các kế hoạch công nghệ trong tương lai của khách hàng và dành được sự tín nhiệm để cùng tham gia đưa ra lời giải cho những vấn đề hóc búa màchỉ một nhà sản xuất thực sự có tầm mới giải quyết được Một khi họ đã dành được sựtin cậy trọn vẹn của đối tác thì các đối thủ mới khó lòng chen chân vào nổi
Hơn thế, kiến thức về công nghệ nhiều khi thật khó diễn giải và truyền đạt thành sách hướng dẫn hay ghi chép vào tài liệu ứng dụng Những kinh nghiệm này được tích luỹ từ quá trình cộng tác với nhiều cộng sự trong nhiều năm liền Điều đó tạo rào cản quá lớn cho bất kỳ đối thủ nào muốn nhảy vào cuộc chơi Điều đó cũng giải thích vì sao ở một số lĩnh vực công nghệ chuyên biệt cao, các công ty luôn muốn