Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại SGD I Ngân hàng Công thương VN
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Một trong những giải pháp cơ bản thực hiện đường lối đổi mới kinh tế
theo hướng Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá của nước ta là đổi mới cơ cấu kinh
tế, bao gồm cơ cấu ngành, vùng và thành phần kinh tế Định hướng đó được thể hiện rõ nét qua các kỳ Đại hội Đảng vừa qua trong các chiến lược phát triển kinh
tế xã hội Đó là việc thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, GDP tăng bình quân hàng năm từ 8,5% 9% thời kỳ 2001- 2010 với tổng nhu cầu vốn đầu tư từ 90 - 95 nghìn tỷ đồng trong đó 39% – 40% tổng nguồn vốn này được đầu tư từ doanh nghiệp và dân cư Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi phải giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề, trong đó các giải pháp thuộc lĩnh vực tài chính
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và một trong những giải pháp tài chính đó là việc phát huy hơn nữa vai trò của các ngân hàng thương mại trên phạm vi cả nước để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân chuyển sang đầu tư một cách có hiệu quả
Như chúng ta vẫn biết, vốn là tiền đề cho sự tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào quy mô và hiệu quả vốn đầu tư Nếu không kể việc đầu tư từ ngân sách hoặc tự đầu tư của các cá nhân, doanh nghiệp thì việc khai thác và chuyển dịch các nguồn vốn tích luỹ đến lĩnh vực đầu tư cho vay có thể được tiến hành theo hai phương thức: đầu tư trực tiếp qua thị trường tài chính (phát hành trái phiếu doanh nghiệp) và đầu tư gián tiếp thông qua các trung gian tài chính Tuy nhiên, do thị trường tài chính nước ta mới đang trong giai đoạn hình thành và ngay cả khi thị trường đi vào hoạt động thì khả năng huy động cũng sẽ gặp nhiều khó khăn Do vậy nguồn vốn đầu tư qua các trung gian tài chính mà chủ yếu là hệ thống ngân hàng thương mại càng trở nên quan trọng và hữu hiệu hơn bao giờ hết
Cùng với sự phát triển phát triển chung của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng thương mại nước ta cũng đã không ngừng phát triển và ngày càng khẳng định mình là một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế Bằng lượng vốn huy Khoa: Ng©n Hµng - 1 -
Trang 2động được trong xã hội và thông qua nghiệp vụ tín dụng, ngân hàng thương mại
đã cung cấp một lượng vốn lớn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp ứng các nhu cầu vốn một cách nhanh chóng, kịp thời cho quá trình tái sản xuất Nhờ đó mà hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần trong nền kinh tế được diễn ra một cách trôi chảy Do vậy, trong thời gian tới, để phát huy hơn nữa vai trò của mình
và đồng thời đáp ứng cho sự phát triển chung của nền kinh tế cũng như cho nhính bản thân hệ thống ngân hàng, việc huy động vốn cho kinh doanh trong tương lai chắc chắn sẽ được đặt lên hàng đầu đối với các tổ chức tài chính nói chung và các ngân hàng thương mại nói riêng
Nhận thức được tầm quan trọng đó, với những kiến thức đã được học ở trường, cùng với những kiến thức thu nhận được trong thời gian thực tập, tìm hiểu tình hình thực tế tại SGD I Ngân hàng Công thương vừa qua, em đã mạnh
dạn chọn đề tài: “Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn
tại SGD I Ngân hàng Công thương VN” làm chuyên đề tốt nghiệp cho mình.
Chuyên đề được trình bày theo 3 chương với nội dung cơ bản như sau:
Chương I: Lý luận chung về nguồn vốn kinh doanh của Ngân hàng
thương mại
Chương II: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại SGD I Ngân hàng
Công thương VN.
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy
động vốn tại SGD I Ngân hàng Công thương VN.
Trang 31.1.2 Các nghiệp vụ của NHTM
NHTM hiện đại hoạt động với ba nghiệp vụ chính đó là: nghiệp vụ tài sản
nợ (nghiệp vụ huy động vốn); nghiệp vụ tài sản có (nghiệp vụ cho vay) và
nghiệp vụ cung ứng dịch vụ ngân hàng như: dịch vụ tư vấn, thanh toán hộ, giữ hộ Ba nghiệp vụ này có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển, tạo nên uy tín và thế mạnh cạnh tranh cho các NHTM, các nghiệp vụ này đan xem lẫn nhau trong quá trình hoạt động của ngân hàng, tạo nên một chỉnh thể thống nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM
Trang 4Đây là nghiệp vụ phản ánh hoạt động ngân hàng nhận các khoản tiền gửi từ các doanh nghiệp vào để thanh toán hoặc với mục đích bảo quản tài sản mà từ đó NHTM có thể huy động được Ngoài ra NHTM cũng có thể huy động các khoản tiền nhàn rỗi của cá nhân hay các hộ gia đình được gửi vào ngân hàng với mục đích bảo quản hoặc hưởng lãi trên số tiền gửi.
Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá:
Các NHTM phần lớn sử dụng nghiệp vụ này để thu hút các khoản vốn có tính thời hạn tương đối dài và ổn định, nhằm đảm bảo khả năng đầu tư, khả năng cung cấp đủ các khoản tín dụng mang tính trung và dài hạn vào nền kinh tế Hơn nữa, nghiệp vụ này còn giúp các NHTM giảm thiểu rủi ro và tăng cường tính ổn định vốn trong hoạt động kinh doanh
Nghiệp vụ đi vay:
Nghiệp vụ đi vay được các NHTM sử dụng thường xuyên nhằm mục đích tạo vốn kinh doanh cho mình bằng việc vay các tổ chức tín dụng trên thị trường tiền tệ và vay ngân hàng nhà nước dưới các hình thức tái chiết khấu hay vay có đảm bảo Trong đó các khoản vay từ ngân hàng nhà nước chủ yếu nhằm tạo sự cân đối trong điều hành vốn của bản thân NHTM khi mà nó không tự cân đối được nguồn vốn trên cơ sở khai thác tại chỗ
Nghiệp vụ huy động vốn khác:
Ngoài ba nghiệp vụ huy động vốn cơ bản kể trên, NHTM còn có thể tạo vốn kinh doanh cho mình thông qua việc nhận làm đại lý hay uỷ thác vốn cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Đây là khoản vốn huy động không thường xuyên của NHTM, thường để nhận được khoản vốn này đòi hỏi các ngân hàng phải lập ra các dự án cho từng đối tượng hoặc nhóm đối tượng phù hợp với đối tượng các khoản vay
Vốn tự có của NHTM :
Đây là vốn thuộc quyền sở hữu của NHTM Lượng vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi bắt đầu thành lập ngân hàng Do tính chất thường xuyên ổn định, ngân
Trang 5hàng có thể sử dụng nó vào các mục đích khác nhau như trang bị cơ sở vật chất, nhà xưởng, mua sắm tài sản cố định phục vụ cho bản thân
ngân hàng, cho vay, đặc biệt là tham gia đầu tư góp vốn liên doanh Trong thực
tế khoản vốn này không ngừng được tăng lên từ kết quả hoạt động kinh doanh của bản thân Ngân hàng mang lại
1.1.2.2 Nghiệp vụ tài sản có.
Đây là nghiệp vụ phản ánh quá trình sử dụng vốn của NHTM vào các mục đích khác nhau nhằm đảm bảo an toàn kinh doanh cũng như tìm kiếm lợi nhuận Nghiệp vụ tài sản có bao gồm các nghiệp vụ cụ thể sau:
Nghiệp vụ ngân quỹ:
Nghiệp vụ này phản ánh các khoản vốn của NHTM được dùng vào với mục đích nhằm đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán hiện thời cũng như khả năng thanh toán nhanh của NHTM và thực hiện quy định về dự trữ bắt buộc do Ngân hàng Nhà nước đề ra
Nghiệp vụ cho vay:
Đây có thể nói là nghiệp vụ quan trọng bậc nhất trong hoạt động quản lý tài sản có của NHTM Nghiệp vụ này đóng góp phần lớn lợi nhuận trong quá trình hoạt động kinh doanh của các ngân hàng Thông qua nghiệp vụ này mà Ngân hàng cung cấp các khoản tín dụng ngắn, trung và dài hạn cho các thành phần trong nền kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Nghiệp vụ đầu tư tài chính:
Bên cạnh nghiệp vụ tín dụng, các NHTM còn dùng số vốn huy động được
từ dân cư, từ các tổ chức kinh tế - xã hội để đầu tư vào nền kinh tế dưới các hình thức như : hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị trường và trực tiếp thu lợi nhuận trên các khoản đầu tư đó
1.1.2.3 Nghiệp vụ kinh doanh khác của NHTM.
Ngoài các nghiệp vụ cơ bản được nêu trên, trong hoạt động kinh doanh, các NHTM còn tiến hành các hoạt động kinh doanh khác trên thị trường như : kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và đá quý, thực hiện dịch vụ tư vấn, dịch vụ ngân Khoa: Ng©n Hµng - 5 -
Trang 6quỹ, nghiệp vụ uỷ thác và đại lý trong hoạt động cung ứng chứng khoán ra thị trường và hàng loạt những dịch vụ khác liên quan đến hoạt động ngân hàng như : dịch vụ bảo quản giấy tờ có giá, dịch vụ cho thuê két sắt, dịch vụ cầm đồ Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá đặc biệt là trong nền kinh tế theo cơ chế thị trường, hoạt động thu - chi hộ, chuyển tiền qua ngân hàng ngày càng được mở rộng và phát triển Các ngân hàng đã không ngừng áp dụng những tiến bộ, thành tựu khoa học công nghệ, kết hợp với uy tín kinh doanh của ngân hàng làm cho nghiệp vụ này ngày càng được thay đổi về chất.
1.2 VỐN VÀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM
1.2.1 Khái niệm về vốn
Khi nói đến thuật ngữ “Trung gian tài chính” người ta thường hay nghĩ tới hai loại hình tổ chức cơ bản đó là: các tổ chức nhận tiền gửi (bao gồm các ngân
hàng thương mại, các hiệp hội tiết kiệm và cho vay) và các trung gian đầu tư
(bao gồm các công ty tài chính, các quỹ tương trợ, các công ty bảo hiểm ) Nhưng cho dù có được hiểu thế nào đi chăng nữa thì NHTM, xét về khối lượng tài sản cũng như những đóng góp đối với nền kinh tế, vẫn luôn giữ một vai trò quan trọng Các NHTM có thể được tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau, chẳng hạn như ngân hàng tư nhân, ngân hàng cổ phần, ngân hàng quốc doanh và các ngân hàng liên doanh Dưới bất kỳ hình thức nào, các NHTM vẫn luôn đặt mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận lên hàng đầu và để làm được điều đó, công cụ duy nhất mà các ngân hàng phải có đó là vốn
Các nhà kinh tế đưa ra định nghĩa về vốn của NHTM như sau:
Vốn của Ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do bản thân Ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Theo như định nghĩa trên thì nguồn vốn mà ngân hàng tạo lập được sẽ là một phần thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng, được người chủ sở hữu của khoản vốn đó gửi vào ngân hàng
để thực hiện các mục đích khác nhau Nói cách khác, họ chuyển quyền sử dụng
Trang 7khoản vốn tiền tệ đó cho ngân hàng để rồi nhận được một khoản thu nhập từ phía ngân hàng Như vậy, NHTM đã thực hiện vai trò tập trung và phân phối lại vốn cho nền kinh tế dưới hình thức tiền tệ, kết quả là làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, phục vụ và kích thích mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh phát triển Nhưng đồng thời cũng chính các hoạt động đó lại là yếu tố mang tính chất quyết định đến sự tồn tại và phát tiển hoạt động kinh doanh của chính ngân hàng
Vốn nói chung của ngân hàng thương mại bao gồm:
1.2.1.1 Vốn tự có
Vốn tự có của NHTM là vốn thuộc sở hữu của ngân hàng Vốn tự có chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi bắt đầu thành lập ngân hàng Do tính chất thường xuyên ổn định của vốn tự có mà ngân hàng có thể sử dụng nó vào các mục đích khác nhau như: mua sắm máy móc trang thiết bị phục vụ cho bản thân ngân hàng, cho vay và tham gia đầu tư góp vốn liên doanh Mặt khác, với chức năng bảo vệ, vốn tự có được coi là tài sản đảm bảo, gây lòng tin với khách hàng, duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp ngân hàng gặp thua lỗ Vốn tự có của NHTM bao gồm:
Trang 8để thành lập Ngân hàng”, còn “Vốn điều lệ của NHTM là vốn do các cổ đông đóng góp và được ghi vào điều lệ hoạt động của Ngân hàng”
Vốn tự có bổ sung là một bộ phận trong nguồn vốn tự có của NHTM, nó tồn tại dưới dạng các quỹ chuyên dụng cũng như các quỹ đặc biệt của ngân hàng như: quỹ dự trữ bổ sung, quỹ phát triển kỹ thuật, quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng , các khoản lợi nhuận chưa phân phối Và nhờ có nguồn vốn này mà vốn tự có của ngân hàng không ngừng được gia tăng cả về quy mô lẫn số lượng theo thời gian
1.2.1.2 Vốn huy động.
Vốn huy động của NHTM được xem là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn và được dùng làm vốn kinh doanh Trong thực tế, ngân hàng có thể sử dụng nhiều công cụ huy động vốn khác nhau nhưng nhìn chung vẫn tập chung chủ yếu vào các công cụ sau:
a) Nhận tiền gửi:
Tiền gửi tại NHTM bao gồm có tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn
Trong đó:
- Tiền gửi không kỳ hạn: là tiền gửi mà người gửi có thể rút ra sử dụng bất
cứ lúc nào và ngân hàng có trách nhiệm phải thoả mãn yêu cầu đó của khách hàng Do tính lỏng cao như vậy nên loại tiền gửi này thường được ngân hàng trả lãi thấp hoặc không được trả laĩ và bao gồm hai loại đó là: Tiền gửi thanh toán
và tiền gửi thanh toán thuần tuý
- Tiền gửi có kỳ hạn: khác với tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn là
loại tiền gửi có sự thoả thuận trước giữa khách hàng và ngân hàng về thời gian rút tiền Phần lớn nguồn tiền gửi này có nguồn gốc từ tích luỹ và xét về bản chất chúng được gửi vào ngân hàng với mục đích hưởng lãi
b) Nhận tiền gửi tiết kiệm:
Trang 9Về bản chất, tiền gửi tiết kiệm là một bộ phận thu nhập của người lao động chưa sử dụng cho tiêu dùng, họ gửi vào ngân hàng với mục đích tích luỹ tiền một cách an toàn và hưởng lãi trên khoản tiền gửi đó Trên thực tế, trong nền kinh tế thị trường tiền gửi tiết kiệm được phát triển dưới hai hình thức đó là:
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
- Tiền gưỉ tiết kiệm không kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi có thể rút ra
bất cứ lúc nào song không được sử dụng cho việc thanh toán
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là loại tiền gửi có sự thoả thuận giữa ngân
hàng và người gửi về thời gian rút tiền (thường có lãi suất cao hơn tiền gửi không kỳ hạn)
c) Các nguồn huy động khác:
Bên cạnh nghiệp vụ nhận tiền gửi, các NHTM còn sử dụng một số nghiệp
vụ trên thị trường mở để huy động vốn như: phát hành chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu Thực chất các nghiệp vụ này là ngân hàng huy động vốn từ nền kinh tế bằng việc phát hành các chứng từ có giá Trong đó, chứng chỉ tiền gửi là công
cụ nợ ngắn hạn và trái phiếu là công cụ nợ trung và dài hạn Việc phát hành hai loại phiếu nợ này tuỳ thuộc vào mục đích huy động vốn của ngân hàng cũng như
sự chấp thuận của Ngân hàngTrung ương
1.2.1.3 Vốn đi vay
Đây là vốn được hình thành trên quan hệ vay mượn giữa ngân hàng thương
mại với Ngân hàng Trung ương hoặc với các tổ chức tín dụng khác Nguồn vốn này thường được sử dụng khi ngân hàng đã sử dụng hết lượng vốn khả dụng mà
vẫn không đủ vốn hoạt động kinh doanh (hay thiếu vốn khả dụng) Thông
thường, NHTM sẽ ưu tiên việc vay từ các tổ chức tín dụng trong nền kinh tế trước, sau đó mới đến vay Ngân hàng Trung ương, có nghĩa là NHTM chỉ vay Ngân hàng Trung ương khi đã thực hiện các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn không tìm kiếm đủ vốn đáp ứng cho nhu cầu sử dụng của ngân hàng
1.2.1.4 Vốn khác.
Khoa: Ng©n Hµng - 9 -
Trang 10Ngoài các hình thức huy động và vay vốn như trên, NHTM còn có thể tạo lập vốn kinh doanh cho mình thông qua việc thực hiện một số nghiệp vụ như: làm trung gian thanh toán, làm nghiệp vụ đại lý qua đó Ngân hàng có thể sử dụng một lượng vốn tạm thời nhàn rỗi đáng kể trong quá trình thu hộ hoặc chi
hộ khách hàng
Tóm lại, trong cơ cấu vốn kinh doanh của NHTM, vốn huy động có thể nói là chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, điều này hoàn toàn phù hợp về mặt cơ sở lý luận vì ngân hàng thương mại luôn được xem
là doanh nghiệp kinh doanh đồng vốn, lấy vốn vay để cho vay Như vậy, vốn huy động là công cụ chính trong hoạt kinh doanh của các NHTM, giữ vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, quyết định trực tiếp tới những nguồn lợi cũng như uy tín của ngân hàng
1.2.2 Vai trò của vốn đối với hoạt động kinh doanh của NHTM
1.2.2.1 Vốn là cơ sở nền tảng để NHTM hoạt động kinh doanh.
Như đã biết, vốn là điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh, đồng thời là cơ sở để phân phối và đánh giá hiệu quả các hoạt động kinh tế Đối với ngân hàng, vốn còn là cơ sở nền tảng để tiến hành tổ chức mọi hoạt động kinh doanh Thật vậy, với đặc trưng của ngân hàng
là tổ chức kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn thì vốn không còn đơn thuần là phương tiện kinh doanh mà nó còn là đối tượng kinh doanh chính của NHTM, trực tiếp quyết định tới quy mô hoạt động kinh doanh của ngân hàng Như vậy, những ngân hàng có vốn lớn sẽ có nhiều thế mạnh trong kinh doanh, ngược lại những ngân hàng không có hoặc có ít vốn cũng đồng nghĩa với việc gặp nhiều khó khăn khi tiến hành kinh doanh
Trang 111.2.2.2.Vốn quyết định khả năng cạnh tranh của NHTM.
Những NHTM có quy mô lớn, trình độ nghiệp vụ của đội ngũ nhân viên cao cũng như trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại là tiền đề quan trọng cho việc thu hút vốn Đồng thời khả năng vốn lớn lại là điều kiện thuận lợi đối với ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các tổ chức kinh tế xã hội trong nền kinh tế Khi đó, ngân hàng sẽ thu hút được ngày càng nhiều khách hàng đến với ngân hàng, kết quả là doanh số hoạt động của ngân hàng sẽ tăng lên nhanh chóng và ngân hàng sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong kinh doanh Mặt khác, vốn lớn sẽ giúp cho ngân hàng có đủ khả năng tài chính để kinh doanh đa dạng trên thị trường, mở rộng các lĩnh vực kinh doanh như: kinh doanh chứng khoán, kinh doanh dịch vụ thuê mua chứ không chỉ dừng lại ở dịch vụ cho vay đơn thuần Và chính các hình thức kinh doanh đa dạng này đã góp phần phân tán giảm thiểu rủi ro, tạo thêm vốn cũng như tăng sức cạnh tranh cho NHTM trên thị trường
1.2.2.3 Vốn đảm bảo khả năng thanh toán và uy tín của NHTM.
Trong hoạt động ngân hàng, uy tín có thể nói là yếu tố quan trọng, quyết định trực tiếp đến sự sống còn của ngân hàng Uy tín của ngân hàng trong kinh doanh được thể hiện trước hết ở khả năng sẵn sàng thanh toán chi trả cho khách hàng Khả năng thanh toán chi trả của ngân hàng càng cao thì uy tín cũng như vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn Hay nói cách khác, khả năng thanh toán của ngân hàng tỷ lệ thuận với lượng vốn của ngân hàng nói chung và vốn khả dụng của ngân hàng nói riêng
Như vậy, với khả năng cung ứng vốn lớn, các NHTM có thể tiến hành hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng mở rộng, cạnh tranh có hiệu quả nhưng đồng thời lại giữ được chữ tín và nâng cao danh tiếng của ngân hàng
1.2.2.4 Vốn quyết định quy mô hoạt động kinh doanh của NHTM.
Thực tế đã chứng minh, những ngân hàng có vốn lớn thường có khoản mục đầu tư và cho vay đa dạng hơn rất nhiều so với những ngân hàng có quy mô vốn nhỏ Thật vậy, trong khi các NHTM lớn có thể cho vay tại thị trường trong Khoa: Ng©n Hµng - 11 -
Trang 12nước thậm chí là cả thị trường quốc tế thì các NHTM nhỏ lại bị giới hạn trong phạm vi hẹp, thường là thị trường khu vực, thị trường địa phương Hơn nữa, do lượng vốn hạn hẹp nên các NHTM nhỏ sẽ không phản ứng nhanh nhạy trước những tình huống biến động về lãi suất thị trường, từ đó tác động đến khả năng thu hút vốn đầu tư từ các tầng lớp dân cư và các thành phần kinh tế Vì vậy, khi khả năng vốn của NHTM dồi dào thì chắc chắn ngân hàng sẽ mở rộng và đáp ứng được nhu cầu vay vốn, có điều kiện để mở rộng thị trường tín dụng, tăng đều khả năng thanh toán và dịch vụ ngân hàng.
1.2.3 Các hình thức tạo lập vốn của NHTM trong nền kinh tế thị trường
Sau khi đã sử dụng hết lượng vốn tự có nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu giao dịch, thanh toán của khách hàng thì các NHTM phải tiến hành huy động vốn từ bên ngoài Thông thường nguồn vốn huy động này chiếm một tỷ trọng tương đối lớn trong kết cấu nguồn vốn của ngân hàng, nó rất cần thiết và không thể thiếu, đảm bảo cho Ngân hàng có thể hoạt động một cách bình thường Quá trình huy động vốn của NHTM chủ yếu dưới các hình thức sau:
1.2.3.1 Huy động vốn bằng tiền gửi
• Tiền gửi không kỳ hạn
Như trên đã trình bày, tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền mà chủ sở hữu của khoản tiền này có thể rút tiền hoặc trả cho đối tác kinh doanh của họ bằng hình thức phát séc Ở những nước có hệ thống ngân hàng phát triển hoạt động dựa trên công nghệ cao, thì việc rút tiền từ tài khoản này phần lớn được thực hiện bằng điện thoại hoặc thực hiện qua các máy giao dịch tự động ATM được lắp đặt rộng rãi
Đối với khách hàng, việc gửi tiền vào tài khoản này với mục đích chủ yếu
là thanh toán và chi trả cho các hoạt động kinh doanh, các hoạt động dịch vụ phát sinh một cách thường xuyên Nên việc dễ dàng chuyển nhượng, dễ dàng thanh toán được xem là yếu tố rất quan trọng, còn việc hưởng lãi đối với khoản tiền gửi này chỉ là thứ yếu Do đó, loại tiền gửi này còn được gọi là tiền gửi theo yêu cầu, nó không đem lại lợi tức cao cho người gửi Ngược lại, đối với NHTM
Trang 13thì đây lại là một khoản vốn huy động với mức chi phí thấp nhất trong tất cả các khoản vốn huy động được khác Ngân hàng chỉ phải bỏ ra những khoản chi phí nhỏ về quản lý tài khoản hoặc trả lãi (nếu có thì nó cũng rất nhỏ) bù lại là được
sử một phần lớn làm vốn kinh doanh
Tuy nhiên, vốn tiền gửi không kỳ hạn lại là khoản vốn có sự biến động nhiều nhất, số dư của khoản vốn này tăng giảm phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của người gửi tiền Do vậy, NHTM chỉ có thể sử dụng hiệu quả nguồn vốn này khi và chỉ khi đưa ra được các dự đoán về sự biến động số dư trên tài khoản tiền gửi này một cách chính xác
Đây là loại tiền gửi trong đó đã có sự thoả thuận giữa người gửi tiền và Ngân hàng về lãi suất và thời hạn rút tiền Về cơ bản, các khoản tiền gửi này thường có kỳ hạn tương đối dài và không được sử dụng để tiến hành thanh toán như các khoản chi trả bằng vốn trên tài khoản vãng lai Chính vì vậy, mức lãi suất đối với loại tiền gửi này có thể cố định hoặc linh hoạt tuỳ thuộc vào sự thoả thuận của khách hàng với ngân hàng Đối với các khoản tiền gửi có lãi suất linh hoạt, khách hàng có thể gửi thêm tiền trước hạn định
Hiện nay, để thu hút người gửi tiền, các NHTM đã liên tục đưa ra các hình thức nhận tiền gửi hấp dẫn, theo đó ngoài việc nhận được một khoản lợi tức tiền gửi, khách hàng còn có thể chuyển nhượng được chứng chỉ tiền gửi của mình Bằng hình thức này, ngân hàng có thể thu hút vốn từ các nhà đầu tư lớn
mà lẽ ra các nhà đầu tư này đã có thể dùng vốn đó đầu tư vào trái phiếu kho bạc hay thị trường tiền tệ
Tiền gửi tiết kiệm từ lâu đã được coi là công cụ huy động vốn truyền thống của các NHTM Vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm thường chiếm một tỷ trọng tương đối trong cơ cấu tiền gửi vào Ngân hàng, ví dụ: Tiền gửi tiết kiệm
Khoa: Ng©n Hµng - 13 -
Trang 14tại các NHTM Việt nam chiếm khoảng 60% - 70% tổng tiền gửi, còn ở Mỹ là khoảng 25% Tiền gửi tiết kiệm bao gồm các loại chủ yếu sau:
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn:
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là hình thức gửi tiền mà người gửi có thể đến ngân hàng rút tiền bất kỳ lúc nào mà không phải báo trước Số dư trên tài khoản tiền gửi này thường không lớn, nhưng nó lại có ưu điểm hơn hẳn so với các tài khoản tiền gửi giao dịch đó là: số dư trên tài khoản này thường ít biến động Do đó, chi phí để huy động được nguồn vốn này là tương đối cao
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn:
Đây là loại tiền được gửi vào ngân hàng trên cơ sở có sự thoả thuận về thời hạn, lãi suất giữa khách hàng với ngân hàng Như vậy, về nguyên tắc thì một khi khách hàng đã gửi tiền vào ngân hàng, họ sẽ không được rút tiền ra trừ khi đến hạn rút tiền Tuy nhiên, để khuyến khích người dân gửi tiền, ngân hàng vẫn cho phép khách hàng rút tiền trước thời hạn Khi đó, khách hàng thường chỉ được hưởng một mức lãi suất thấp hơn so với mức lãi suất đã thoả thuận ban đầu
Mục đích chính của người gửi khi gửi tiền theo hình thức này là tìm kiếm lợi tức nên vấn đề lãi suất tiền gửi là rất quan trọng Đối với ngân hàng, đây là nguồn vốn khá ổn định Nhằm mục đích phục vụ cho các nhu cầu khác nhau của khách hàng cũng như các nhu cầu về vốn của ngân hàng, các ngân hàng thường áp dụng các loại tiết kiệm với kỳ hạn 3, 6, 9, 12 tháng hay kỳ hạn 1, 2 năm và ứng với nó là các mức lãi suất thích hợp theo nguyên tắc thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao
- Tiền gửi tiết kiệm có bảo đảm:
Đây là một trong những hình thức hấp dẫn để huy động vốn trung và dài hạn
vì nó loại bỏ tâm lý lo sợ đồng tiền bị mất giá của người dân Vì vậy, nó có tác dụng với việc thu hút tiền gửi trung và dài hạn
Theo hình thức này, số tiền khách hàng gửi vào ngân hàng sẽ được quy ra giá trị vàng hoặc ngoại tệ mạnh với trị giá tương đương Khi hết hạn, khách
Trang 15hàng sẽ nhận lại số tiền tương đương với giá trị vàng hoặc ngoại tệ đó cộng thêm phần tính lãi trên số tiền gửi Hình thức này có ưu điểm ở chỗ người gửi được đảm bảo về giá trị vốn gốc của mình, đồng thời vẫn có lãi Có thể nói, loại hình tiết kiệm này không chỉ tốt đối với người gửi tiền mà còn tốt đối với cả NHTM Do vậy, NHTM cần phải đặc biệt quan tâm đến hình thức huy động vốn này nhằm tạo ra những nguồn vốn có tính ổn định cao phục vụ cho nhu cầu sử dụng vốn trung và dài hạn của mình.
1.2.3.2 Huy động vốn qua đi vay.
Các khoản vốn vay ngày càng chiếm tỷ trọng cũng như vị trí đặc biệt quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại không chỉ về mặt quy mô đơn thuần mà còn mang ý nghĩa như là một biện pháp quản lý các danh mục trong tài sản nợ Vốn vay của Ngân hàng có thể hình thành từ nhiều nguồn khác nhau nhưng chủ yếu vẫn bao gồm những nguồn cơ bản sau:
Để tồn tại và phát triển thì NHTM phải cho vay, nó cho vay tới mức mà Ngân hàng Trung ương (NHTƯ) cho phép để tối đa hoá lợi nhuận Thế nhưng không phải lúc nào hoạt động của nó cũng thuận buồm xuôi gió Dẫu có thận trọng đến mức nào đi nhăng nữa trong hoạt cho vay thì ngân hàng cũng khó tránh khỏi những lúc thiếu khả năng chi trả hay thanh toán cho khách hàng Trong những trường hợp đó, giải pháp cuối cùng sau khi đã thực hiện các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn không tìm kiếm đủ vốn là đi vay NHTƯ NHTƯ với tư cách là ngân hàng của các ngân hàng sẽ trở thành vị cứu tinh cho các NHTM trong trường hợp thiếu vốn thanh toán
Trang 16đi vay NHTM có thể đi vay từ nhiều nguồn khác nhau và một trong số đó là đi vay từ các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên Ngân hàng hay thị trường tiền tệ trong và ngoài nước.
1.2.3.3 Huy động vốn qua phát hành công cụ nợ.
Để đa dạng hoá các kênh khai thác nhằm tập trung vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, ngân hàng không những chỉ đi vay của Ngân hàng Nhà nước hay của các tổ chức tín dụng, các NHTM khác mà còn chú trọng nguồn vốn hình thành từ nghiệp vụ phát hành công cụ nợ ra thị trường
Các NHTM có thể phát hành các loại công cụ nợ ra thị trường để huy động vốn như: chứng chỉ tiền gửi ngân hàng có mệnh giá lớn, trái phiếu, kỳ phiếu Trong đó, việc huy động vốn bằng các công cụ nợ ngắn hạn (gồm có chứng chỉ tiền gửi, giấy thoả thuận mua lại ) lại có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý tài sản nợ bên cạnh việc huy động vốn, bởi vì nó có thể được sử dụng mọi lúc khi cần thiết
1.2.3.4 Huy động vốn bằng hình thức huy động vốn khác.
Ngoài các hình thức huy động vốn trên, NHTM cũng có thể sử dụng những hình thức huy động vốn khác để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ dân cư, từ nền kinh tế thông qua các hoạt động uỷ thác về các dịch vụ xã hội như: dịch vụ câu lạc bộ… hoặc đứng ra làm dịch vụ đại lý phát hành chứng khoán cho các công ty, làm trung gian thanh toán…qua đó ngân hàng có thể sử dụng một lượng vốn tạm thời nhàn rỗi đáng kể trong quá trình thu hộ hoặc chi hộ khách hàng
1.3 Các nhân tố tác động đến hoạt động huy động vốn của NHTM
Hành lang pháp lý
Hành lang pháp lý có ảnh hưởng tới nghiệp vụ tạo vốn của các NHTM Có những bộ luật tác động trực tiếp đn hoạt động kinh doanh cua ngân hàng như:Luật các tổ chức tín dụng, Luật NHNN những luật này quy định tỷ lệ huy động vốn của ngân hàng so với vốn tự có, quy định viêc phát hành cổ phiếu, trái phiếu, quy định mức cho vay của ngân hàng đối với khách hàng có những bộ luật tác động gián tiếp tới hoạt động của ngân hàng như: Luật thương mại ,Luật
Trang 17đầu tư nươc ngoài, Luật doanh nghiệp Nếu các luật này hoàn thiên đồng bộ ,không chồng chéo mâu thuẫn se tạo diều kiên cho ngan hàng hoat động kinh doanh an toàn,thuận lợi,tăng niềm tin của công chúng vào ngân hàng.
Chính sách tiền tệ quốc gia.
+ Mục tiêu chính sách tiền tệ: với mục tiêu của chính scáh tiền tệ kiểm soát làm phát, bình ổn giá cả, tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm.Tuỳ thuộc vào mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ ma sự ảnh hưởng của nó đến việc tạo vốn của NHTM là khác nhau Chẳng hạn, khi nền kinh tế phat triển ,khối lượng hàng hoá luân chuyển trong xã hội tăng, Nhà nước khuyến khích nhân dân thanh toán không dùng tiền mặt bằng cách mở tài khoản cá nhân tại ngân hàng Càng có nhiều người mở tài khoản thanh toán thì ngân hàng càng có khả năng tạo dựng nguồn vốn hơn thông qua lượng tiền mà dân chúng đã gửi vào ngân hàng Hay khi nền kinh tế lạm phát, Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt bằng cách tăng lãi suất tiền gửidẻ thu hút tiền từ ngoài xã hội ,khi đó NHTM huy động vốn dế dàng hơn Nhưng khi Nhà nước co chính sách khuyến khích đầu tư,mở rộng sản xuất kinh doanh thì ngân hàng lại gặp khó khăn trong việc huy động vốn vi người có tiền nhàn rỗi sẽ bỏ tiền đầu tư sản xuất hay góp vốn vào công ty ma co khả năng sinh lời cao hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng
+ Việc sử dụng chính sách tiền tệ:
Lãi suất chiết khấu: NHTƯ ấn định mức lãi suất chiết khấu và các điều kiện tái chiết khấu trong từng thời kỳ, khi công cụ này có sự biến đổi sẽ tác động đến giá đầu vào của các NHTM
Dự trữ bắt buộc: Việc NHTƯ tăng (giảm) tỷ lệ dự trữ bắt buộc làm giảm (tăng) mức cung ứng vốn của ngân hàng trên thi trường liên ngân hàng Trong điều kiện nhu cầu vốn của khả dụng không thay đổi thi sự giảm (tăng) này làm tăng (giảm) lãi suất trên thị trường liên ngân hàng từ đó ảnh hưởng đến vốn của NHTM
Sự ổn định của nền kinh tế:
Khoa: Ng©n Hµng - 17 -
Trang 18Biến động của nền kinh tế là nhân tố đầu tiên để người gửi tiền ra quyết định là có nên gửi tiền vào ngân hàng hay không.
Nếu các tác động này tạo ra sự ổn định của đồng tiền, tăng thu nhập trong dân cư sẽ là tiền đề để tăng quy mô tiền gửi và giảm chi phí cho ngân hàng Bởi
vì lúc đó doanh nghiệp và cá nhân sẽ đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh nên
họ vay nhiều hơn và cũng gửi tiền nhiều hơn
Nếu lạm phát xảy ra, gây nên sự mất giá của đồng tiền, làm lợi ích của người gửi tiền giảm, lãi suất thực giảm Xu hường mọi người sẽ chuyển sang sang giữ vàng ngoại tệ mạnh hay hàng hoá với kỳ vọng sẽ đảm bảo giá trị đồng tiền, do đó ảnh hưởng tới nguồn vốn huy động của NHTM Trong trường hợp này các ngân hàng phải có những biện pháp huy động vốn thích hợp và hấp dẫn
Uy tín của ngân hàng.
Uy tín là một nhân tố quan trọng trong hoạt động của ngân hàng Khi gửi tiền vào ngân hàng, người gửi thường lo sợ trước sự biến động thường xuyên của nền kinh tế Do đó họ thường có sự cân nhắc lựa chọn NHTM mà họ cho là
an toàn thuận lợi nhất hay nói cách khách là có uy tín nhất với người gửi tiền Thông thường người gửi đánh giá uy tín của ngân hàng qua các tiêu thức như: sự hoạt động lâu năm, quy mô hoạt động, trình độ quản lý, công nghệ, tài sản của ngân hàng do đó các NHTM cần nâng cao uy tín thông qua các nghiệp
vụ của mình, từng bước thoả mãn nhu cầu của người gửi tiền, hoạt động kinh doanh có lãi của ngân hàng và giữ “chữ tín” là tiền đề của hoạt động huy động vốn
Bên cạnh đó các NHTM cần áp dụng hiệu quả công tác Marketing như: chính sách sản phẩm, chính sách giá, phân phối, khuếch trương giao tiếp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn của NHTM
Chất lượng hoạt động tín dụng.
Hoạt động tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc huy động tiền gửi vào ngân hàng Nếu như hoạt động huy động vốn làm khơi tăng nguồn vốn trong nền kinh tế thì nghiệp vụ sử dụng vốn chính la viêc đưa nguồn vốn đó vào
Trang 19Số chi cho từng khoản mục
Tổng chi phí
đầu tư sản xuất kinh doanh đem lại lợi nhuận cho ngân hàng Do vậy nghiệp vụ huy động vốn hiệu quả thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng huy động được nhiều vốn hơn vì khi sản xuất kinh doanh được mở rộng sẽ tạo công ăn việc làm cho dân cư, đời sống người dân được nâng cao sẽ có nhiều tiền gửi tiết kiệm vào ngân hàng
1.4 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM
1.4.1 Khối lượng vốn lớn, tăng trưởng với độ ổn định cao
Vốn huy động của ngân hàng phải có sự tăng trưởng ổn định về số lượng
để thoả mãn nhu cầu tín dụng, thanh toán cũng như các hoạt động kinh doanh khác ngày càng tăng của ngân hàng Tuy nhiên, vốn huy động được phải luôn ổn định về mặt thời gian Nếu ngân hàng huy động được một lượng vốn lớn lớn nhưng lại không ổn định, thường xuyên có những dòng tiền lớn bị rút ra thì lượng vốn dành cho đầu tư, cho vay sẽ không lớn, hiệu quả huy động vốn không cao, thường xuyên phải đối đầu với vấn đề thanh khoản Kết quả, trong nhiều trường hợp ngân hàng sẽ gặp phải rủi ro lớn là mất khách hàng Ngược lại, nếu nguồn vốn huy động được ổn định, dù nhỏ nó cũng có thể yên tâm sử dụng số tiền đó vào các hoạt động chắc chắn, lâu dài và thu được lợi nhuận cao
Chỉ tiêu này được đánh giá qua: mức độ tăng giảm nguồn vốn huy động
và số lượng vốn huy động có kỳ hạn Nguồn vốn tăng đều qua các năm, có độ gia tăng đều đặn, đạt mục tiêu nguồn vốn đặt ra là nguồn vốn tăng trưởng ổn định
1.4.2 Chi phí huy động vốn hợp lý
Quản lý chi phí vốn là hoạt động thường xuyên và quan trọng của mỗi ngân hàng vì mỗi sự thay đổi về cơ cấu nguồn vốn hay lãi suất đều có thể làm thay đổi chi phí trả lãi, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập ròng của ngân hàng
Chi phí huy động vốn được đánh giá qua chỉ tiêu truyền thống như:
1- Tỷ trọng các khoản mục chi phí (1)
Chỉ số(1) = - x 100 (%)
Khoa: Ng©n Hµng - 19 -
Trang 20Qua chỉ số này, chúng ta có thể biết được kết cấu các khoản chi phí để có thể hạn chế các khoản chi phí bất hợp lý, tăng cường các chi phí có lợi cho hoạt động kinh doanh
Trang 21Tổng chi phí trả lãi thực 2- Lãi suất bình quân đầu vào(2).
Chỉ số(2) = - x 100 (%)
Trả lãi tiền gửi là khoản chi phí chiếm tỷ trọng lớn nhất, nó là yếu tố quyết định đến việc hoạch định lãi suất cho vay, do vậy ngân hàng cần phải phân tích
cụ thể chỉ tiêu lãi suất bình quân đầu vào
Theo quy luật kinh tế, lãi suất huy động vốn đầu vào càng cao thì càng kích thích dân chúng gửi tiền vào ngân hàng Lãi suất huy động càng cao thì lãi suất cho vay cũng phải cao để có thể bù đắp các chi phí và tạo lợi nhuận cho ngân hàng Nhưng khi lãi suất này lên quá cao thì vượt quá khả năng của người đi vay, từ đó dẫn tới ứ đọng vốn Lãi suất huy động cũng như lãi suất cho vay là một trong những công cụ cạnh tranh có hiệu quả cuả các NHTM Vậy nhiệm vụ của ngân hàng là tìm ra một lãi suất hợp lý để vẫn có thể huy động được vốn vào
và vẫn cho vay được để thu về lợi nhuận lớn nhất Ngân hàng có thể giảm chi phí huy động không nhất thiết phải giảm lãi suất huy động của từng nguồn mà
có thể chỉ cần thay đổi cơ cấu huy động một cách hợp lý
1.4.3 Khả năng đáp ứng nhu cầu kinh doanh của nguồn vốn huy động
Chỉ tiêu này được đánh giá qua việc so sánh nguồn vốn huy động được với các nhu cầu tín dụng, thanh toán và các nhu cầu khác để thấy nguồn vốn huy động có thể đáp ứng được bao nhiêu, ngân hàng phải vay thêm bao nhiêu để thoả mãn nhu cầu ấy
Để đạt được mục tiêu này, ngân hàng phải có cơ cấu vốn hợp lý Cơ cấu vốn huy động ở đây bao gồm cơ cấu vốn theo ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, cơ cấu vốn theo nội tệ và ngoại tệ, theo tiền gửi dân cư và tiền gửi các tổ chức kinh
tế khác Cơ cấu vốn hợp lý có thể đáp ứng được tối đa nhu cầu sửdụng vốn, không có tình trạng bất hợp lý giữa vốn huy động với nhu cầu
sử dụng vốn Các chỉ tiêu sử dụng khi phân tích cơ cấu vốn và khả năng đáp ứng của vốn huy động gồm:
Khoa: Ng©n Hµng - 21 -
Tổng số vốn huy động bình quân
Trang 22Vốn huy động1- Chỉ số(3) = - x 100 (%)
Chỉ tiêu này cho biết khả năng và quy mô thu hút vốn từ nền kinh tế của NHTM
2- Chỉ số(4) = - x 100 (%)
Chỉ tiêu này cho biết hệ số sử dụng vốn huy động cho từng khoản mục tài sản có của Ngân hàng, qua đó cho biết khả năng cung ứng vốn của NHTM cho nền kinh tế
1.4.4 Đảm bảo an toàn vốn huy động
Ngày nay, các NHTM không còn chịu hoạt động bó hẹp trong phạm vi một vùng nào đó, mà luôn cố gắng mở rộng mạng lưới hoạt động kinh doanh của mình thông qua việc mở chi nhánh, văn phòng đại diện trong và ngoài nước Kết quả là mối quan hệ hợp tác kinh doanh giữa các NHTM ngày càng được tăng cường chặt chẽ hơn Điều này giúp các ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn, nhưng mặt khác cũng sẽ nguy hiểm hơn nếu như một trong những đối tác kinh doanh hoạt động yếu kém hay thậm chí bị phá sản Vì vậy, rủi ro trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động huy động vốn của ngân hàng nói riêng cũng tăng lên theo mức độ phát triển về mặt tổ chức và quy mô hoạt động kinh doanh
Như vậy, để đảm bảo an toàn nguồn vốn, trước hết là nằm ở bản thân việc quản lý điều hành của chính ngân hàng đó, bằng việc chấp hành đầy đủ những chỉ tiêu về an toàn vốn như: Hệ số an toàn vốn tự có so với tổng tiền gửi, Hệ số giữa vốn tự có và các nguồn dài hạn, Hệ số thanh toán… Việc có áp dụng triệt
để những chỉ tiêu trên hay không là còn tuỳ thuộc vào quy định của Ngân hàng nhà nước, vào chiến lược kinh doanh, vào đặc điểm riêng của từng NHTM trong những điều kiện cụ thể nhất định Tuy nhiên, nếu mỗi NHTM áp dụng được thì
nó không chỉ đảm bảo an toàn cho bản thân ngân hàng mà còn củng cố sự vững chắc chung cho toàn hệ thống
Vốn tự có
Số dư từng khoản mục t i s à ản có
Vốn huy động
Trang 23CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN KINH DOANH TẠI SGD I NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG
2.1 GIỚI THIỆU VỀ SGD I NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
Ngân hàng Công thương Việt Nam với tên giao dịch là Industrial and
Commercial bank of Vietnam (gọi tắt là Incombank) là một trong bốn ngân
hàng thương mại quốc doanh lớn ở Việt Nam, với tổng tài sản chiếm 20% thị phần trong toàn bộ hệ thống ngân hàng Việt Nam Ngân hàng có mạng lưới tổ chức rộng lớn bao gồm trụ sở chính đặt tại Hà Nội, có hai Sở giao dịch, một ở
Hà Nội và một ở TP HCM, cùng với hơn120 chi nhánh ngân hàng và gần 500 điểm giao dịch lớn nhỏ phân bổ rộng khắp trong phạm vi cả nước Trong đó, SGD I Ngân hàng Công thương Việt Nam là một trong hai SGD hoạt động có hiệu quả cao,giữ vai trò quan trọng, trụ cột của ngàh Ngân hàng Việt Nam
Ngân hàng có 3 công ty hạch toán độc lập là Công ty Cho thuê Tài chính, Công
ty TNHH Chứng khoán, Công ty Quản lý và Khai thác Tài sản và 2 đơn vị sự nghiệp là trung tâm Công nghệ Thông tin và Trung tâm Đào tạo
Là sáng lập viên và đối tác liên doanh của Ngân hàng INDOVINA, Công ty cho thuê tài chính quốc tế ( VILC ) và Công ty Liên doanh Bảo Hiểm Châu Á- NHCT Ngân hàng có quan hệ với hơn 600 ngân hàng lớn trên thế giới và là thành viên của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, hiệp hội Ngân hàng Châu Á, Hiệp hội Phát hành và thanh toán thẻ VISA,MASTER và Hiệp hội Tài chính Viễn thông Liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT )
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của SGD
Chi nhánh NHCT Thành phố HN được thành lập theo quyết định số 198/NH-TCCB ngày 24/06/1988 của TGĐ NHNNVN ngày 24/03/1993 TGĐ NHTW ra quyết định số 93/NH –TCCB chuyển các hoạt động tại hội sở NHCT
VN chi nhánh NHCT TP Hà Nội sở chính NHCT VN Ngày 30/12/1998, chủ tịch HĐQT NHCT VN ký quyết định số 134/qđ-HĐQT NHCT sắp xếp tổ chức hoạt động SGD I NHCT Theo điều lệ tổ chức và hoạt động của NHCT VN, Khoa: Ng©n Hµng - 23 -
Trang 24ngày 20/10/2003, chủ tịch HĐQT NHCT VN đã ban hành quyết định số 153/qđ HĐQT về mô hình tổ chức hoạt động mới của SGD I Theo dự án hiện đại hóa ngân hàng và công nghệ thanh toán do ngân hàng thế giới tài trợ.
Với mục tiêu “Phục vụ tốt nhất các yêu cầu về vốn và dịch vụ ngân hàng của khách hàng, vì sự thành đạt của khách hàng và sự thành đạt của khách hàng cũng chính là sự thành đạt Ngân hàng”, kết hợp với đường lối quản lý đúng đắn cho nên chi nhánh luôn đạt được kết quả kinh doanh đáng kích lệ, hàng năm luôn có lãi và lãi năm sau luôn cao hơn năm trước, đóng góp phần lợi ích đáng
kể cho Nhà nước đồng thời đời sống cán bộ công nhân viên từng bước được cải thiện Để đạt được kết quả như trên phần lớn là do SGD đã xây dựng cho mình một cơ cấu tổ chức tương đối hợp lý, gọn nhẹ nhưng vẫn đảm trách đầy đủ các chức năng nghiệp vụ phù hợp với khả năng và trình độ quản lý hoạt động kinh doanh của ngân hàng
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của SGD I Ngân hàng Công thương VN
Thực hiện nghị định 53/HĐBT ngày 26/3/1998 của HĐBT về “việc chuyển đổi hoạt động NH sang hạch toán kinh doanh va hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp”, ngày 1/7/1988 NHCT VN ra đời và đi vào hoạt động trên cơ
sở vụ tín dụng công ngiệp (TDCN) và vụ tín dụng thương nghiệp (TDTN) của NHNN cùng với các phòng TDCN, TDTN của 17 chi nhánh NHNN địa phương
Trong thời gian qua với sự chỉ đạo sát sao của Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ban lãnh đạo SGD I Ngân hàng Công thương đã kết hợp chặt chẽ những đổi mới trong chích sách đầu tư tín dụng do Ngân hàng Nhà nước ban hành với hoạt động cải tiến, cơ cấu lại tổ chức cho phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường Từ chỗ chỉ có hai nơi giao dịch, đến nay ngoài trụ sở chính tại 10 Lê Lai, SGD đã mở thêm nhiều phòng giao dịch và quỹ tiết kiệm mới được phân bổ rộng khắp trên địa bàn Quận
Cơ cấu tổ chức của SGD I Ngân hàng Công thương được thực hiện theo Quy chế Tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Công thương Việt nam ban hành
Trang 25theo quyết định số 16/NHCT- TCCB ngày 10/1/1991; Quy chế Tổ chức hoạt động của các phòng thuộc bộ máy Ngân hàng Công thương Việt nam ban hành theo quyết định số 110/NHCT- TCCB ngày 01/4/1992 và Công văn số 318/TCCB ngày 25/5/1992 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Công thương Việt Nam, theo đó SGD I Ngân hàng Công thương bao gồm: một Giám đốc, giúp việc cho Giám đốc là bốn Phó Giám đốc Mỗi Phó Giám đốc được giao trách nhiệm quản lý và điều hành một số phòng ban nhất định và chịu trách nhiệm trước Giám đốc
Căn cứ quyết định số 090/QĐ -NHCT 1 ngày 04/6/2003 của Hội đồng Quản trị
về việc “phê duyệt mô hình tổ chức kinh doanh và mô hình hiện đại hóa chi nhánh”
Tại Chi nhánh bao gồm các phòng ban sau:
8- Phòng tiện tệ kho quỹ
9- Phòng kiểm tra nội bộ
10- Phòng tổng hợp tiếp thị
11- Phòng kế toán tài chính
Hiện nay, các phòng ban trong SGD đã được chuyên môn hoá hoạt động theo chức năng nhiệm vụ công tác riêng của từng phòng, nhưng đều có trách nhiệm chung là tham mưu cho Giám đốc trong việc tổ chức thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước cũng như các chế độ thể lệ của ngành ngân hàng Đội ngũ cán bộ này được bố trí vào các phòng ban phù hợp với trình độ chuyên môn của từng người Cho nên SGD I Ngân hàng Công Khoa: Ng©n Hµng - 25 -
Trang 26thương kinh doanh liên tục đạt hiệu quả, lượng tiền gửi huy động trong dân cư
và dư nợ tín dụng luôn đạt mức cao, trong nhiều năm liền luôn là lá cờ đầu trong
hệ thống Ngân hàng Công thương Việt Nam
Việc xây dựng thành công hệ thống quản lý thống nhất với những quy định rõ ràng khiến hoạt động của SGD được tiến hành một cách nhịp nhàng, hiệu quả cao Tuy nhiên, để có được một vị trí như hiện nay thì không thể bỏ qua yếu tố được xem như là thế mạnh của SGD, đây chính là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động của SGD
Thật vậy, quận Hoàn Kiếm là một trong những quận có phạm vi địa giới tương đối lớn của thành phố Hà Nội, nơi được đánh giá là có nhiều điều kiện thuận lợi cho ngân hàng trong việc mở rộng địa bàn hoạt động kinh doanh như: Đời sống đân cư ổn định, lượng tiền nhàn dỗi trong dân lớn, lượng khách giao dịch đông và đặc biệt là trong địa bàn Quận tập trung nhiều nhà máy, công ty lớn, tuy nhiên hầu hết các công ty, nhà máy, xí nghiệp trong địa bàn Quận đều trực tiếp tham gia hoạt động sản xuất điều đó làm cho hoạt động của SGD ít nhiều phụ thuộc vào chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Với lợi thế so sánh về địa bàn hoạt động, đã tạo điều kiện thuận lợi để SGD I ngân hàng Công thương mở rộng lĩnh vực kinh doanh của mình, không chỉ dừng lại ở các nghiệp vụ nhận tiền gửi và cho vay truyền thống mà còn tích cực đa dạng hoá các loại hình dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là các loại hình dịch
vụ thanh toán qua ngân hàng như: Dịch vụ thanh toán chi trả hộ, chi trả kiều hối, dịch vụ thanh toán séc du lịch, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ tài trợ thương mại , góp phần mang lại lợi nhuận đáng kể cho SGD I
2.1.3 Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của SGD I Ngân hàng Công thương Việt Nam
Về cơ bản, một ngân hàng hiện đại luôn hoạt động với ba nghiệp vụ kinh doanh chính đó là: nghiệp vụ tài sản nợ (nghiệp vụ huy động vốn); nghiệp vụ tài
sản có (nghiệp vụ cho vay) và nghiệp vụ cung ứng dịch vụ ngân hàng Ba
nghiệp vụ này có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát
Trang 27triển, tạo nên uy tín và thế mạnh cạnh tranh cho NHTM Nhận thức được điều
đó SGD I đã vượt qua mọi khó khăn trở ngại bằng ý chí vươn lên, không ngừng đổi mới tăng cường các biện pháp mở rộng kinh doanh với phương châm “Phát triển – An toàn – Hiệu quả”, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của chính quyền địa phương cũng như sự tín nhiệm của khách hàng, nên trong thời gian qua SGD I
đã đạt được những thành tích đáng kích lệ trên các mặt hoạt động kinh doanh ngân hàng, cụ thể như sau:
2.1.3.1 Hoạt động huy dộng vốn.
Vốn là nguồn lực quan trọng để các ngân hàng tiến hành hoạt động kinh doanh Nhận thức sâu sắc vai trò của vốn nên SGD I Ngân hàng Công thương đã chủ động tích cực khai thác nguồn vốn nhàn rỗi, đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, đổi mới phong cách giao dịch, mở rộng mạng lưới khách hàng Với phương châm ‘ Sự thành đạt của khách hàng là sự thành đạt của ngân hàng’ Lấy công tác phục vụ khách hàng nhanh chóng chính xác, an toàn và bí mật cho khách hàng làm tiêu chuẩn hàng đầu Vì vậy nguồn vốn của ngân hàng luôn tăng trưởng đều qua các năm, đã đáp ứng được nhu cầu cho vay và đầu tư trên địa bàn, tạo thế chủ động trong kinh doanh Tổng nguồn vốn huy động tính đến 31/12/2004 là 14026
Bảng 1 : Nguồn vốn huy động qua các năm.
Đơn vị : Tỷ đồng
trước Tuyệt đối Tương đối
Nguồn : Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh từ năm 2001 đến 2004
Qua bảng số liệu trên ta thấy nguồn vốn huy động tăng trưởng qua 3 năm
từ 2001 đến 2003 Năm 2002 tăng so với 2001 là 3018 tỷ đồng, tương đương Khoa: Ng©n Hµng - 27 -
Trang 2826% ; năm 2003 tăng so với năm 2002 là 553 tỷ đồng, tương đương 3,79% Để
có được kết quả trên la do SGD luôn nổ lực va đưa ra nhiều biện pháp nhằm khai thác nguồn vốn trên địa bàn Nhưng đến năm 2004 thì nguồn vốn huy động
đã giảm so với năm 2003 là 1132 tỷ đồng, tương đương 7,47% Thực tế này do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan
Biểu đồ 1 : Nguồn vốn huy động qua các năm.
2.1.2 Tình hình sử dụng vốn
Cũng như bất kỳ một NHTM nào, công tác đầu tư, cho vay luôn giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, bởi vì đây là hoạt động chính mang lại thu nhập cho ngân hàng
Trong năm vừa qua, trong bối cảnh mọi trường đầu tư hết sức khó khăn do
sự cạnh tranh hết sức quyết liệt của các NHTM khác trên địa bàn , SGD I ngân hàng Công Thương đã đặt ra và quyết tâm phấn đấu nhằm đạt mục tiêu : ‘Đưa
dư nợ tăng trưởng một cách lành mạnh vững chắc’ Trên cơ sở nguồn vốn huy động khá ổn định, ngày càng tăng trưởng về số tuyệt đối, ngân hàng đã quản lý điều hành cân đối vốn một cách chặt chẽ, linh hoạt để sử dụng nguồn vốn tối đa
Trang 29đã có, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Ngân hàng luôn quan tâm đến việc đầu tư tín dụng, từ việc tìm kiếm khách hàng, mở rộng thị trường đến công tác điều tra khảo sát khách hàng, thẩm định các dự án, thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ cho vay nhằm hạn chế tới mức thấp nhất rủi ro có thể xảy ra Đồng thời với phong cách phục vụ của cán bộ tín dụng luôn nhiệt tình, nhạy bén do vậy tổng
dư nợ của ngân hàng luôn tăng trương theo chiều hướng tốt Thể hiện ở bảng kết quả cho vay dưới đây :
Bảng 2 : Kết quả cho vay năm 2003, 2004
Đơ
n vị : tỷ đồng
Tăng, giảm Tuyệt
đối
Tương đối
Nguồn : Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh phòng Tín dụng.
Như vậy, tổng dư nợ luôn tăng trưởng qua các năm cả về số tương đối và số tuyệt đối Năm 2003 tổng dư nợ là 3935 tỷ thì năm 2004 là 4836 tỷ , tăng 901 tỷ, tương đương với 23%
3- Hoạt động đầu tư
4- Dịch vụ cho vay và bảo lãnh
5- Dịch vụ thanh toán
6- Tài trợ thương mại
Khoa: Ng©n Hµng - 29 -
Trang 307- Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp.
8- Dịch vụ khác
2.1.3.4 Kết quả hoạt động kinh doanh.
Bước vào năm 2001, năm được coi là năm bản lề của thiên niên kỷ mới, một năm có vị trí hết sức quan trọng trong tiến trình đổi mới đất nước, đưa nền kinh tế đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới, từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và trên thế giới Được coi là trung tâm của nền kinh tế, là một trong những lĩnh vực có độ nhạy cảm cao đòi hỏi phải có những bước đi vững chắc trong công cuộc đổi mới, hệ thống ngân hàng nước ta nói chung và SGD I nói riêng phải gánh vác những nhiệm vụ hết sức khó khăn SGD vừa phải vươn lên để đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong tình hình mới, vừa phải khắc phục những tồn đọng cũ
Trước những khó khăn thử thách đó cũng như ý thức được những mặt yếu, mặt mạnh của mình, trong những năm qua, Ban lãnh đạo SGD I ngân hàng Công thương luôn đề ra những phương hướng kinh doanh tích cực vừa bám sát những định hướng, nhiệm vụ của Ngân hàng Công thương Việt Nam, vừa nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh Chính vì vậy SGD luôn được đánh giá là đơn vị kinh doanh ổn định, an toàn và hiệu quả
2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN Ở SGD I NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
Huy động vốn là một nghiệp vụ không thể thiếu của các NHTM vì đó là nguồn vốn chính để ngân hàng có thể duy trì và phát triển kinh doanh Huy động vốn (nghiệp vụ tài sản nợ) không phải là một nghiệp vụ độc lập mà phải gắn liền với các nghiệp vụ tài sản có (nghiệp vụ cho vay) và các nghiệp vụ cung ứng dịch
vụ ngân hàng khác Như vậy, công tác huy động vốn của một ngân hàng được đánh giá là có hiệu quả khi ngân hàng đó luôn đảm bảo cho mình một nguồn vốn dồi dào đáp ứng được nhu cầu của khách hàng đến vay vốn và đáp ứng được nhu cầu vốn cho quá trình phát triển của đất nước Bên cạnh đó, huy động
Trang 31vốn phải dựa trên cơ sở xác định được thị trường đầu ra, định hướng được hiệu quả của các dự án đầu tư cũng như nắm được mức độ ảnh hưởng của lãi suất Trong giai đoạn hiện nay, khi mà các NHTM nước ngoài cũng như các tổ chức tài chính phi ngân hàng như: Công ty bảo hiểm, Bưu điện đã đưa ra các hình thức dịch vụ chuyển tiền, nhận tiền gửi hết sức đa dạng và hấp dẫn đối với khách hàng thì hoạt động huy động vốn đặc biệt là huy động vốn trung và dài hạn của các NHTM trong nước đã khó nay lại càng khó khăn hơn bao giờ hết
Nó đòi hỏi các ngân hàng phải có những biện pháp hữu hiệu, phù hợp mà không phải là những biện pháp tình thế như trước đây đã làm Do vậy, SGD I Ngân hàng Công thương đã luôn chủ động, tích cực quan tâm phát triển công tác huy động vốn dưới mọi hình thức, để đảm bảo nâng cao cả về số lượng lẫn chất lượng của nguồn vốn huy động cũng như quy mô nguồn vốn liên tục tăng trưởng
ở mức cao
2.2.1 Tình hình huy động vốn
Hiện nay tại SGD I Ngân hàng công thương đang tiến hành huy động vốn dưới
các hình thức chủ yếu sau:
- Tiền gửi doanh nghiệp
- Tiền gửi dân cư
- Tiền gửi của tổ chức tín dụng
- Phát hành công cụ nợ
Trong đó nguồn tiền gửi doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất
Khoa: Ng©n Hµng - 31 -
Trang 32Bảng 3 : Cơ cấu nguồn vốn huy động
Qua bảng số liệu trên ta thấy
Tổng nguồn vốn huy động năm 2003 tăng so với năm 2002 nhưng đến năm
2004 lại giảm so với năm 2003 Năm 2002, 2003 tổng nguồn vốn huy động chủ yếu là vốn tiền gửi còn năm 2004 ngân hàng có thêm một kênh huy động mới thông qua việc phát hành GTCG chiếm 3,6% tổng nguồn vốn huy động Chứng
tỏ ngân hàng đã chú trọng mở rộng thêm hình thức huy động vốn Đối với nguồn phát hành công cụ nợ (chủ yếu là kỳ phiếu, trái phiếu), do đặc điểm riêng của nguồn là chỉ được sử dụng khi các nguồn huy động trên không đạt hiệu quả hoặckhi ngân hàng cần một khối lượng vốn lớn có tính ổn định cao phục vụ cho các dự án đầu tư dài hạn nên số dư của nguồn có sự biến động mạnh vào năm 2004
Phân loại nguồn vốn theo đối tượng khách hàng.
Bảng 4 : Cơ cấu nguồn vốn theo đối tượng khách hàng
Đơn vị: tỷ đồng
Trang 33Trong ba nguồn vốn huy động kể trên thì nguồn vốn huy động từ hoạt động nhận tiền gửi doanh nghiệp bao gồm tiền gửi không kỳ hạn chiếm vị trí quan trọng nhất (khoảng 74%/ tổng nguồn vốn huy động), sau đó kế đến là nguồn tiền gửi đân cư Tuy nguồn vốn huy động từ tiền gửi doanh nghiệp không ổn định nhưng ngân hàng đã có được nguồn vốn với chi phí thấp vì các doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng với mục đích chính là thanh toán và bảo đảm an toàn, do vậy đây được xem là bộ phận tiền tệ tạm thời chưa sử dụng đến trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, điều này sẽ thuận lợi hơn cho ngân hàng trong xu thế canh tranh gay gắt hiện nay Tuy nhiên nguồn vốn này có xu hướng giảm dần qua các năm Năm 2002 tiền gửi DN là 10817 tỷ đồng chiếm 74% nhưng đến năm 2004 chỉ còn 9918 tỷ đồng tương đương 70,7% Nguyên nhân
là do trong thời gian qua tình hình kinh tế - xã hội có nhiều diễn biến phức tạp dẫn đến sự biến động giá cả hàng hoá vật tư của một số ngành kinh tế mũi nhọn Điều đó đã làm giảm lượng tiền gửi vào ngân hàng
Trong tiền gửi dân cư thì tiền gửi có kỳ hạn chiếm tỷ trọng chủ yếu, còn tiền gửi không kỳ hạn chiếm tỷ trọng không đáng kể Điều này cũng dễ hiểu vì đây
là số tiền người dân chưa tiêu dùng ở hiện tại và đem gửi tiết kiệm để hưởng lãi
và sẽ sử dụng nó trong tương lai Về phía ngân hàng, tuy phải trả lãi cho số tiền gửi đó song đây là nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng có thể chủ động sử dụng vào hoạt động kinh doanh Trong những năm qua tỷ trọng tiền gửi của dân cư đều có xu hướng giảm, năm 2002 chiếm 25,5%, năm 2003 giảm xuống còn 24%
và năm 2004 chiếm 24,2% Ngoài những nguyên nhân khách quan như chỉ số giá tiêu dùng tăng cao, người dân có tâm lý e ngại khi gửi vốn vào ngân hàng thì phải kể đến công tác huy động của SGD từ nguồn này là chưa có hiệu quả
Và do NHCT đã duy trì chính sách lãi suất quá thấp nên không khuyến khích khách hàng gửi, các tiện ích như tiết kiệm dự thưởng, gửi tiền một nơi rút tiền nhiều nơi chưa được triển khai rộng rãi
Mặt khác do các ngân hàng khác trên địa bàn mở rộng mạng lưới huy động kèm theo các hình thức khuyến mãi hấp dẫn nên nguồn vốn huy động bị san sẻ Khoa: Ng©n Hµng - 33 -
Trang 34Ngoài ra phong cách phục vụ của các nhân viên ngân hàng chưa đáp ứng được nhu cầu của hiện đại hoá Do đó ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc cấp tín dụng cho nền kinh tế, hạn chế khả năng cho vay, làm giảm lợi nhuận của ngân hàng Bên cạnh đó tiền gửi của các TCTD tuy chiếm tỷ trọng thấp nhất nhưng có
xu hướng tăng dần qua các năm Điều này giúp ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn này để đầu tư cho vay với thời hạn ngắn để kiếm lời
Bảng 5 : Kết quả huy động vốn tiền gửi doanh nghiệp.
Đơn vị : tỷ đồng
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của Ngân hàng.
Tiền gửi DN tuy chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn huy động song lại biến động không đều qua các năm Năm 2003 tăng 164 tỷ (tương đương với tỷ lệ 1,5%) so với năm 2002 nhưng năm 2004 thì số tiền huy động lại giảm
1063 tỷ đồng (tương đương với tỷ lệ 9,68%) Như vậy chứng tỏ uy tín của ngân hàng đã bị giảm sút Trong thời gian tới ngân hàng cần có giải pháp hữu hiệu để thu hút nguồn tiền gửi này Tuy nhiên trong năm 2004 ngân hàng có được nguồn vốn tiền gửi đảm bảo thanh toán là 62 tỷ đồng cho thấy ngân hàng đã có sự chú trọng đến việc triển khai có hiệu quả các dịch vụ ngân hàng, từ đó tăng thu nhập
từ hoạt động dịch vụ cho ngân hàng
Trang 35Phân loại nguồn vốn huy động theo kỳ hạn:
Bảng 6 : cơ cấu nguồn vốn theo kỳ hạn.
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh
Qua bảng số liệu trên ta thấy tiền gửi KKH chiếm tỷ trọng lớn nhất, năm
2002 chiếm 65%, năm 2003 giảm còn 62%, năm 2004 tăng lên 71% Như vậy, Ngân hàng huy động nguồn vốn này với chi phí thấp nhưng lại không ổn định vì thế sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trong việc cho vay trung dài hạn Trong khi
đó năm 2004 tiền gửi KKH của các doanh nghiệp là 8374 tỷ đồng chiếm 84% trong tổng số tiền gửi KKH, còn tiền gửi KKH trong tổng tiền gửi tiết kiệm của dân cư là 18,8 tỷ đồng, tiền gửi CKH của dân cư là 2736,68 tỷ đồng Tiền gửi có
kỳ hạn của dân cư là nguồn vốn ổn định và đón vai trò chủ yếu để ngân hàng Khoa: Ng©n Hµng - 35 -
Trang 36tiến hành các hoạt động do vậy ngân hàng cần tìm mọi biện pháp để khơi tăng nguồn tiền gửi này.
với việc đa dạng hoá các kỳ hạn tiền gửi tiết kiệm nhiều hơn, nếu như trước đây ngân hàng mới chỉ có loại tiết kiệm 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng, 24 tháng, 36 tháng thì đến năm 2002 có thêm tiền gửi tiết kiệm bậc thang ( loại 1 tháng, 2 tháng, 7 tháng ) nên rất thuận lợi và phù hợp với khoảng thời gian nhàn rỗi của khách hàng nhưng đến năm 2004 thì nguồn vốn này lại giảm đáng kể Nguyên nhân có thể do hiện nay dường như tất cả các ngân hàng đều
áp dụng chính sách lãi suất bậc thang nhưng NHCT vẫn chưa áp dụng cho khách hàng của mình Điều này không có lợi cho khách hàng nên họ sẽ chọn ngân hàng khác để gửi tiền Trong thời gian tới SGD cần có những giải pháp hữu hiệu
để khắc phục tình trạng này nhằm nâng cao hơn nữa nguồn tiền gửi có kỳ hạn, tăng tính chủ động trong công tác huy động vốn và sử dụng vốn từ đó nâng cao hiệu quả trong kinh doanh
Qua bảng số liệu trên ta thấy: Tiền gửi KKH vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn huy động Năm 2002 chiếm tỷ trọng 65% tổng tiền nguồn vốn huy động, năm 2003, 2004 lần lượt là 62% và 71% Với cơ cấu nguồn vốn này ngân hàng có thuận lợi trong cạnh tranh về suất đầu ra so với các ngân hàng khác trên cùng địa bàn vì đây là nguồn vốn có chi phí đầu vào thấp nhất Điều này chứng tỏ chất lượng dịch vụ thanh toán của ngân hàng ngày càng nâng cao
và đã thu hút được khách hàng đến gửi tiền để đáp ứng nhu cầu thanh toán chi trả lẫn nhau của khách hàng Tuy nhiên do tính chất của nguồn vốn này thường không ổn định nên sẽ khó khăn cho ngân hàng trong việc ra quyết định đầu tư cho vay trung – dài hạn từ đó làm giảm tỷ suất sinh lời của ngân hàng
Trong khi đó nguồn vốn có tính ổn định cao hơn là nguồn vốn tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức cá nhân và dân cư lại chiếm tỷ trọng rất thấp và có xu hướng giảm Năm 2002 tiền gửi có kỳ hạn chiếm tỷ trọng 35% tổng nguồn vốn huy động, năm 2003 là 38% và đến năm 2004 con số này chỉ 29% Điều đó cho thấy công tác huy động nguồn vốn này trong những năm qua chưa hiệu quả Ngoài nguyên