Từ các kết quả ban đầu, nhiều loại OLED với cấu trúc khác nhau đã được tạo ra, ví dụ như xây dựng các cấu trúc 2 lớp [3] gồm một lớp màng truyền lỗ trống HTL và một lớp màng truyền điện
Trang 1LÂM MINH LONG
NGHIÊN CỨU ĐẶC TRƯNG VÔN-AMPE (I-V) PHỤ THUỘC CẤU TRÚC ĐA LỚP CỦA OLED
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP HỒ CHÍ MINH - 2010
Trang 2LÂM MINH LONG
NGHIÊN CỨU ĐẶC TRƯNG VÔN-AMPE (I-V) PHỤ THUỘC CẤU TRÚC ĐA LỚP CỦA OLED
Chuyên ngành: Vật liệu và Linh kiện Nano
(Chuyên ngành đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS NGUYỄN NĂNG ĐỊNH
Trang 3MỤC LỤC
Trang phụ bìa i
Lời cảm ơn ii
Lời cam đoan iii
Mục lục iv
Danh mục các hình minh họa vi
Mở đầu 1
Chương 1 4
Giới thiệu tổng quan 4
1.1 Cấu tạo và tính chất của polymer dẫn điện 4
1.2 Các loại polymer dẫn điện 6
1.2.1 Polymer dẫn điện do chất phụ gia thêm vào 6
1.2.2 Polymer dẫn do quá trình pha tạp 7
1.2.3 Polymer dẫn điện thuần 7
1.3 Ứng dụng của polymer dẫn điện 8
1.4 Phương pháp chế tạo OLED cấu trúc đa lớp 8
1.4.1 Cấu tạo của OLED 8
1.4.2 Các phương pháp chế tạo OLED 11
1.5 Cơ chế phát quang của OLED 15
1.6 Vật liệu dùng để chế tạo OLED 17
1.7 Khảo sát các đặc tính của OLED 23
1.8 Cải thiện hiệu suất của OLED 29
Chương 2 Thực nghiệm 32
2.1 Nguyên tắc hoạt động của thiết bị bốc bay chân không 32
2.2 Các phương pháp được dùng để chế tạo mẫu 33
2.2.1 Bốc bay chùm tia điện tử 33
2.2.2 Phương pháp bốc bay nhiệt 34
2.2.3 Phương pháp quay phủ ly tâm 35
2.3 Các phương pháp đo đạc 36
2.3.1 Phương pháp đo điện hóa bằng các điện cực 36
2.3.2 Phép đo phổ tổng trở 37
Trang 42.3.3 Phổ tán xạ Micro-Raman 37
2.3.4 Phổ huỳnh quang 37
2.3.5 Nhiễu xạ tia X 38
2.4 Trình tự chế tạo mẫu 40
2.4.1 Quá trình chế tạo điện cực anode (ITO) 40
2.4.2 Quá trình chế tạo màng PVK và PVK+TiO2, PVK+CdSe 43
2.4.3 Quá trình chế tạo màng MEH-PPV và MEH-PPV+TiO2 44
Chương 3 Kết quả và thảo luận 46
3.1 Tính chất của tổ hợp cấu trúc nano PVK+ nc-TiO2 và PVK+ nc-CdSe: 46
3.2 Tổ hợp cấu trúc nano MEH-PPV + nc – TiO2 53
KẾT LUẬN 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH MINH HỌA
10
Hình 1.4.2a Các phân tử hữu cơ được đốt nóng nhẹ (làm bốc hơi) và
sẽ ngưng tụ thành các tấm màng mỏng 12
Hình 1.4.2b Qui trình lắng đọng
Hình 1.4.2c Thiết bị in phun độ chính xác cao (hình a) và cách thực
hiện (hình b) để tạo ra các OLED 13 Hình 1.4.2d
Hệ thống quay phủ (a) và tấm đế được quay với tốc độ cao mục đích là làm cho chất lỏng đó lan rộng ra phía ngoài (b)
14
Hình 1.5a Mức năng lượng của OLED trong quá trình hoạt động
15
Hình 1.5b Ảnh hưởng của rào tiêm tại 2 đầu điện cực tới đặc trưng
Hình 1.6 Phổ hấp thụ (a) và quang huỳnh quang (f) của màng
27
Hình 1.7c Độ chiếu sáng tăng theo hàm số mũ sau khi điện áp hoạt
động của OLED với sự gia tăng của điện áp phân cực 28 Hình 2.1 Hệ thống tích hợp bao gồm khối tạo chân không 32
Trang 6ULVAC-Sinku kiko, bộ nguồn dòng (RFT-Germany) có thể điều chỉnh được, nguồn áp ra khoảng 20Vdc, hệ thống cảm biến để đo và hiển thị độ dày màng (Quartz Crystal Microbalance)
38
Hình 2.3.5
Máy đo nhiễu xạ tia X D8-ADVANCE (Bruker) (phòng thí nghiệm micro nano- khoa Vật lý kỹ thuật và công nghệ nano- ĐHCN)
39
Hình 2.4.1
Thiết bị Nabertherm (model: L0185E) dùng để ủ nhiệt các mẫu ITO trong quá trình thực nghiệm tại phòng thí nghiệm vật liệu quang tử, khoa Vật lý kỹ thuật và công nghệ Nano, trường Đại học Công Nghệ, ĐHQGHN
42
Hình 3.1a
Phổ tán xạ Raman của PVK dạng bột và màng mỏng PVK/ITO với các tỷ lệ về cường độ khác nhau cho cả
Hình 3.1b
Phổ huỳnh quang của mẫu quay phủ ly tâm PVK/ITO (1) và tổ hợp P.n.T/ITO (2) Ta thấy đỉnh phổ của P.n.T dịch về phía sóng ngắn và cường độ PL của mẫu tổ hợp lớn hơn đáng kể so với PL của mẫu PVK thuần nhất
47
Hình 3.1c
Đặc trưng I-V của OLED PVK/ITO (1) và tổ hợp P.n.T/ITO (2) Ta nhận thấy rằng, ngưỡng điện thế phát quang của mẫu tổ hợp lớn hơn so với điện thế ngưỡng
47
Trang 7của polymer thuần nhất
Hình 3.1d Sự hấp thụ của PVK polymer 49
Hình 3.1e PL của PVK polymer 49
Hình 3.1f Phổ quang huỳnh quang của màng PVK và PVK +
Hình 3.1g Đặc trưng I-V của cấu trúc diode ITO/PVK/Al:Sn chế
tạo bằng phương pháp quay phủ ly tâm 52
Hình 3.1h Đặc trưng I-V của diode có cấu trúc ITO/PVK/Al:Sn
chế tạo bằng phương pháp bốc bay trong chân không 53
Hình 3.2a Phổ Raman của màng MEH-PPV (trên) và PVK chế tạo
bằng phương pháp quay ly tâm (dưới) 54
Hình 3.2b Đặc trưng I-V của diode có cấu trúc đa lớp
Trang 8MỞ ĐẦU
Ngày nay khoa học và công nghệ đã đem lợi ích, cuộc sống tiện nghi
của con người lên một tầm cao mới Các sản phẩm được chế tạo ngày càng
đạt đến mức độ tinh xảo với trình độ công nghệ cao và ngày càng đáp ứng
nhiều hơn nhu cầu của con người, đặc biệt ngành công nghệ nano đã và
đang tạo ra các sản phẩm công nghệ thông minh hơn, thân thiện với môi
trường, tiết kiệm năng lượng cũng như công sức lao động nhiều do đó chi
phí cũng ít tốn kém hơn và mang đến hiệu quả kinh tế cao hơn
Hiện tượng điện huỳnh quang của chất polymer xuất hiện lần đầu
tiên vào năm 1963, khi đó người ta thí nghiệm bằng cách nối điện cực
anode (ITO) và điện cực cathode (Ag) với lớp đệm ở giữa làm bằng chất
Anthracence [1] Sau đó, người ta đã chế tạo thành công các polymer dẫn
điện trên cơ sở pha tạp các dẫn xuất khác nhau vào chất polymer
athracence để làm tăng khả năng dẫn điện Sự kiện này đã mở ra khả năng
nghiên cứu mới về vật liệu bán dẫn hữu cơ trên cả hai lĩnh vực nghiên cứu
cơ bản và ứng dụng trong thực tế Năm 1980, nhóm Tang và Vanskylyke
đã công bố các kết quả nghiên cứu về sự phát quang của họ vật liệu Alqs
được dùng làm lớp màng phát quang trong các cấu trúc diode phát quang
hữu cơ (OLED)[2] Bằng các polymer kết hợp với PPP để tạo ra sự phát xạ
ra ánh sáng màu xanh da trời vào năm 1990 của nhóm Bourroughres tại đại
học Cambride đã đưa các nghiên cứu về OLED trở thành một ứng dụng
khoa học mang tính thực tiễn cao Từ các kết quả ban đầu, nhiều loại
OLED với cấu trúc khác nhau đã được tạo ra, ví dụ như xây dựng các cấu
trúc 2 lớp [3] gồm một lớp màng truyền lỗ trống HTL và một lớp màng
truyền điện tử ETL được kẹp giữa hai điện cực để cải thiện thêm một bước
nữa việc thiết kế các cấu trúc diode phát quang dựa trên các polymer bán
dẫn được dùng làm lớp màng phát quang có nhiều ưu điểm vượt trội như
giá thành sản xuất, diện tích phát quang rộng, cấu trúc đa dạng… do đó,
chúng có khả năng ứng dụng rộng rãi Tuy vậy, nhược điểm lớn nhất của
linh kiện hữu cơ là hiệu suất phát sáng còn thấp, độ ổn định chưa cao, màu
sắc phát ra chưa gần với độ nhạy của mắt người Người ta đã tìm nhiều
cách để khắc phục, chẳng hạn như thay đổi cấu trúc khác nhau, độ dày của
Trang 9các lớp màng, pha tạp một số ion đất hiếm hay chất màu có khả năng thay
đổi màu sắc của ánh sáng phát ra [4], cùng với phương pháp xử lý bề mặt
tiếp xúc ITO/polymer nhằm tăng cường khả năng tiêm lỗ trống của ITO,
cải thiện khả năng tiêm điện tử của cathode[5,6,7]
Bên cạnh đó, người ta đang tập trung nghiên cứu cải thiện khả năng
phát sáng hay tìm cách tận dụng các ưu thế của hai nhóm vật liệu phát
quang vô cơ và hữu cơ Theo đó, một số vật liệu tổ hợp giữa các polymer
phát quang và các tinh thể có cấu trúc nano như TiO2, SiO2, CdSe… đã
được sử dụng Thực nghiệm cho thấy khi các chất này được đưa vào bên
trong chất polymer thì hiệu suất phát quang cũng như các tính chất điện
được cải thiện rất nhiều Để tiếp nối các nghiên cứu trên và bước đầu tìm
hiểu một cách có hệ thống về công nghệ chế tạo, ảnh hưởng của các thông
số công nghệ chế tạo đến các thông số đặc trưng của các diode phát quang
hữu cơ, chúng tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu đặc trưng vôn-ampe (I-V)
phụ thuộc cấu trúc đa lớp của OLED” với các mục tiêu cụ thể là:
a) Về công nghệ:
Chế tạo màng PVK, MEH-PPV trên đế ITO bằng phương pháp quay ly
tâm và hóa hơi trong môi trường khí trơ, nâng cao công thoát cho ITO bằng
các phương pháp xử lý nhiệt, hóa học, vật lý và thích ứng cho PVK,
MEH-PPV, phủ điện cực cathode Al, Ag bằng phương pháp bốc bay chân không
b) Về đặc trưng, tính chất:
Nghiên cứu độ dẫn và tính phát quang của PVK, MEH-PPV phụ thuộc
vào điều kiện công nghệ, khảo sát đặc trưng IV, quang huỳnh quang PL của
cấu trúc PVK/ITO, MEH-PPV/ITO dùng làm OLED
Ngoài phần mở đầu, nội dung nghiên cứu của đề tài luận văn tốt nghiệp
được trình bày theo các chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về vật liệu polymer dẫn điện và
diode phát quang hữu cơ (OLED)
Chương 2: Quá trình thực nghiệm
Chương 3: Kết quả và thảo luận
Phần kết luận: Trình bày các kết quả nghiên cứu đạt được
Trong luận văn này, tác giả có sử dụng một số tài liệu được biên dịch lại
từ sách, bài báo bằng tiếng Anh của các tác giả trong và ngoài nước cũng
Trang 10như các kết quả đo đạc bằng thực nghiệm để đối chiếu, so sánh… nhằm
làm rõ vấn đề cần trình trình bày Những số liệu, hình ảnh… tác giả tham
khảo sẽ được ghi chú bằng các đề mục […], từ đó xin thông qua phần tài
liệu tham khảo sẽ nắm rõ thông tin hơn Qua đây, tác giả xin chân thành
cảm ơn những tác giả, nhà khoa học trên đã góp phần làm cho luận văn này
được phong phú thêm
TÁC GIẢ
Trang 11Chương 1 Giới thiệu tổng quan về vật liệu polymer dẫn điện và diode phát quang
hữu cơ (OLED) 1.1 Cấu tạo và tính chất của polymer dẫn điện:
Tính chất cách điện của hầu hết các loại polymer đã được ứng dụng trong
nhiều lĩnh vực khác nhau Quan niệm về tính cách điện của polymer đã thay
đổi khi các loại polymer dẫn điện đã được tìm thấy Do tỷ trọng nhẹ, dễ gia
công, độ bền cao, khả năng chống ăn mòn cao và có thể kéo thành sợi để tạo
thành dây dẫn điện, tạo nên các lớp màng mỏng hoặc cả các linh kiện điện tử
Do đó, các vật liệu này đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu để đưa
chúng vào trong thực tế từ những ứng dụng trong công nghiệp, trong lĩnh vực
hóa học, vật lý chất rắn đến điện hóa Sự trao đổi thông tin giữa các nhà khoa
học với các nhà nghiên cứu khác nhau là một nhân tố quan trọng trong quá
trình phát triển nhanh chóng lĩnh vực polymer dẫn điện
Như ta đã biết, trong tinh thể bán dẫn vô cơ thì liên kết giữa các nguyên tử
là liên kết ion hoặc dạng liên kết cộng hóa trị để tạo ra trạng thái của chất rắn
Nhưng đối với polymer thì khác, chúng liên kết các phân tử bằng lực phân tử,
Vander Waal, sự chồng chéo của hàm sóng Các electron ở quỹ đạo phía bên
ngoài của nguyên tử tạo ra liên kết kiểu cộng hóa trị C-C, được gọi là liên kết
σ Trong kiểu liên kết này thì các electron mang tính chất định xứ giữa 2
nguyên tử C Ngoài ra, electron thứ 2 của mỗi nguyên tử còn tham gia liên kết
π hay là liên kết kép Trong đó các electron mang tính chất kém định xứ hơn
và tạo ra các trạng thái bao phủ toàn bộ vật liệu, do đó liên kết này kém bền
vững hơn Các phân tử hữu cơ chứa các liên kết kép hoặc ba gọi là polymer
liên hợp mà ở đó các liên kết hóa học tạo ra một điện tử không ghép cặp với
nguyên tử C Các dạng liên kết π kém bền vững đã dẫn đến tình trạng bất định
xứ của electron dọc theo chuỗi polymer, chúng là nguồn gốc của các hạt tải
linh động Do đó, cấu trúc điện tử của polymer dẫn được xác định bởi cấu trúc
hình học của các dãy
Điều kiện cần có của một polymer dẫn điện là nó phải có hệ thống điện tử
π liên hợp, phân bố dọc theo các nguyên tử carbon của mạch polymer Cho
nên, đến tận bây giờ tất cả các loại polymer được nghiên cứu đều có hệ thống
điện tử π liên hợp Độ dẫn điện của chúng phụ thuộc vào mức độ tương tác
Trang 12của các vân đạo điện tử giữa các monomer kế cận, loại và nồng độ của các tác
nhân pha tạp
Giống như trong chất bán dẫn vô cơ, trong polymer người ta cũng đã
chứng minh sự tồn tại của vùng cấm năng lượng tức là sự khác biệt giữa 2
mức năng lượng HOMO và LUMO (viết tắt của Highest occupied molecular
orbital – quỹ đạo phân tử điền đầy cao nhất và Lowest unoccupied molecular
orbital – quỹ đạo phân tử chưa điền đầy thấp nhất) Chúng có tính chất giống
như vùng hóa trị và vùng dẫn trong chất bán dẫn vô cơ Các chất polymer có
độ rộng vùng cấm đặc trưng khác nhau, do đó đỉnh hấp thụ năng lượng
photon của chúng cũng khác nhau Nếu có tác nhân kích thích tương ứng, ví
dụ như điện trường một chiều, năng lượng nhiệt… thì các electron từ mức
HOMO sang mức LUMO để tạo ra cặp điện tử - lỗ trống (exciton) Trong một
khoảng thời gian rất ngắn, cặp điện tử – lỗ trống tái hợp và phát quang Lúc
này, giá trị của độ rộng vùng cấm (tức là sự chênh lệch mức năng lượng giữa
HOMO và LUMO) sẽ quyết định năng lượng của photon phát ra do kích thích
quang hay điện
Trong điều kiện bình thường, các polymer dẫn điện có cấu trúc vùng năng
lượng tương tự như các chất bán dẫn vô cơ Trong đó, năng lượng ion hóa
(thế tương ứng là thế ion hóa IP) của phân tử chính là năng lượng để đưa một
electron từ mức HOMO lên mức chân không Còn năng lượng để đưa một
điện tử từ mức chân không sang mức LUMO được gọi là di lực điện tử của
phân tử (Ic hoặc Ea) Quá trình ion hóa là quá trình di chuyển các hạt electron
từ mức HOMO, khi đó phân tử sẽ tích điện dương, tương ứng với quá trình
dẫn lỗ trống của mức HOMO Ngược lại, quá trình khử là quá trình thêm một
electron vào mức LUMO Như vậy, HOMO tương ứng với vùng hóa trị, còn
LUMO thì tương ứng với vùng dẫn trong bán dẫn vô cơ
Quá trình tạo ra ánh sáng trong một OLED khi được phân cực bởi điện
trường được chỉ ra trong hình 1.1 Từ các sơ đồ trên, ta có thể chia quá trình
hoạt động của OLED ra làm 4 bước như sau:
Bước 1: Tiêm hạt tải
Bước 2: Truyền hạt tải
Bước 3: Tạo thành exiton
Bước 4: Tái hợp exiton và phát xạ ánh sáng
Trang 13Nguyên lý hoạt động của OLED được trình bày trên hình 1.1
1.2 Các loại polymer dẫn điện:
1.2.1 Polymer dẫn điện do chất phụ gia thêm vào:
Để tạo ra các polymer dẫn điện loại này, người ta thường cho vào polymer
các chất phụ gia có độ dẫn điện lớn chẳng hạn như bột kim loại Tuy nhiên
tính dẫn điện có được không xuất phát từ bản chất của vật liệu polymer mà từ
các phụ gia thêm vào Do đó chúng không được ứng dụng vào lĩnh vực điện
hữu cơ
Lĩnh vực điện hữu cơ chủ yếu tạo ra các linh kiện điện tử như diode phát
quang hữu cơ (OLED), transistor hiệu ứng trường (FETs), tụ điện, pin mặt
trời và các bộ chuyển tín hiệu trong các thiết bị điện tử
Hình 1.1: OLED phát sáng khi được phân cực bởi điện trường
Trong cấu trúc OLED như trên thì lớp màng hữu cơ vừa có tác
dụng truyền lỗ trống và điện tử, đồng thời đóng vai trò là lớp
phát quang Các điện tử được tiêm vào lớp màng từ cathode,
còn lỗ trống được tiêm vào màng từ anode
Trang 141.2.2 Polymer dẫn do quá trình pha tạp:
Đa số các polymer có hệ thống điện tử π liên hợp là các chất bán dẫn Để
làm tăng độ dẫn điện, cần đưa các điện tích vào mạch polymer bằng hai
phương pháp:
Phương pháp thứ nhất: để đưa các điện tích vào mạch polymer, hoặc là lấy
đi các điện tử từ nó (quá trình oxy hóa hay còn gọi là pha tạp loại p với hạt tải
đa số là các lỗ trống), hoặc là đưa các điện tử vào nó (quá trình khử hay pha
tạp loại n với hạt tải đa số là các electron) Các polymer có hệ thống điện tử π
liên hợp thường có xu hướng nhường điện tử, cho nên chúng dễ bị oxy hóa
bởi các tác nhân oxy hóa như là I2, FeCl3,…
Quá trình lấy đi một điện tử từ polythiophene sẽ tạo ra một điện tích linh
động trên gốc cation mà theo thuật ngữ của vật lý chất rắn thì gọi là polaron
Quá trình oxy hóa sâu hơn có thể chuyển polaron thành bipolaron ở trạng thái
không spin hay một cặp polaron Trong trường hợp này, quá trình đưa vào
mạch polymer một điện tích dương đồng thời với việc đưa vào một ion đối
mang điện tích trái dấu
Phương pháp thứ hai: phương pháp này được gọi là quá trình pha tạp acid
Cấu trúc dạng leucoameraldine có thể bị oxy hóa thành dạng emaraldine mà
không có sự tham gia của các ion đối X- Tuy nhiên, dạng ameraldine chỉ dẫn
điện khi nó được xử lý bằng các loại acid mạnh
Trong hai phương pháp trên, việc tạo ra các điện tích trên mạch polymer
luôn gắn liền với việc đưa vào các ion đối Tuy nhiên, cơ chế dẫn điện của các
loại polymer loại này không phải do các ion đối tạo ra, mà do sự phân bố điện
tích một cách tương đối qua toàn mạch polymer
1.2.3 Polymer dẫn điện thuần:
Ngược lại với các loại polymer dẫn điện do quá trình pha tạp, các polymer
dẫn điện thuần là các polymer trung tính, bản chất dẫn điện là do giá trị năng
lượng vùng cấm (được gọi là Eg) rất nhỏ, thậm chí gần bằng 0eV Độ dẫn điện
của chúng phụ thuộc chủ yếu vào mức độ chồng lấp của các vân đạo điện tử π
giữa các monomer kế cận Các polymer loại này đang là đề tài cho nhiều
nghiên cứu trên thế giới vì nó tránh được quá trình pha tạp rắc rối và khó điều
khiển Quá trình làm giảm giá trị của Eg sẽ làm tăng mật độ điện tử trên vùng
dẫn, do đó làm tăng tính dẫn thuần của vật liệu và có thể tạo ra được các kim
loại hữu cơ mà không cần quá trình pha tạp
Trang 15Mặt khác, khi thế oxy hóa có giá trị càng bé kết hợp với giá trị Eg nhỏ sẽ
tạo ra được các loại polymer dẫn điện do quá trình pha tạp rất ổn định Hơn
nữa, khi giảm giá trị của Eg có thể tạo ra các loại polymer trong suốt trong
vùng bước sóng hồng ngoại, tính chất này được ứng dụng trong các thiết bị
làm việc trong vùng bước sóng hồng ngoại Một ví dụ điển hình nhất về loại
polymer có giá trị Eg thấp, đó là hệ đồng polymer hóa giữa
4-(Dicyanomethylene)-4H-cyclopenta[2,1b;3,4b’]dithiophene và
3,4-(ethylenedioxy)thiophene, giá trị Eg = 0,16eV
Độ dẫn của các loại polymer dẫn điện sẽ tăng khi nhiệt độ tăng và ngược
lại Mối liên hệ này tương tự như các chất bán dẫn vô cơ, vì vậy trong một số
nghiên cứu có thể áp dụng một số nguyên lý nào đó của chất bán dẫn vô cơ
cho polymer dẫn điện
1.3 Ứng dụng của polymer dẫn điện:
Polymer dẫn điện có rất nhiều ứng dụng, được chú ý nhiều nhất vẫn là
diode phát quang hữu cơ (OLED: Organic light emitting diode) và transistor
hiệu ứng trường (FETs: Field Effect Transistors) Trong luận văn này sẽ đề
cập một cách chi tiết về diode phát quang hữu cơ OLED cấu trúc đa lớp cũng
như các phương pháp nghiên cứu để cải thiện đặc tính Vôn-ampe (I-V ) từ đó
cải thiện hiệu suất phát quang cũng như kéo dài thời gian phục vụ cho các loại
OLED
Ngoài ra, dựa vào các đặc tính và cấu trúc của chất bán dẫn hữu cơ người
ta đã ứng dụng chúng vào các lĩnh vực khác như làm chất quang dẫn, mực in,
các chất phát quang…
1.4 Phương pháp chế tạo OLED cấu trúc đa lớp:
1.4.1 Cấu tạo của OLED:
Các OLED thường có cấu trúc xếp thành nhiều lớp do các lớp màng mỏng
hình thành, cấu trúc của nó giống như một cái bánh “sandwiched” mà ở đây
lớp màng mỏng nằm giữa điện cực dương anode và điện cực âm cathode Các
lớp màng mỏng được hình thành từ các loại vật liệu khác nhau Cấu trúc tổng
quát của một OLED gồm có các lớp màng mỏng được lắng đọng trên một cái
đế Lớp đầu tiên là điện cực cathode thường dùng các vật liệu đặc trưng để
chế tạo như Mg:Ag Dưới lớp này là một lớp truyền các hạt điện tử ETL
(Electron transport layer) được chế tạo từ hợp chất MEH-PPV, Alq3 Lớp thứ
ba là lớp truyền lỗ trống HTL (Hole transport layer) Cuối cùng, lớp thứ tư là
Trang 16điện cực anode với chất chế tạo đặc trưng là ITO (Indium-tin-oxide) Tấm đế
được làm từ thủy tinh hoặc từ nhựa trong suốt Khi cấp điện áp phân cực đúng
thì các lỗ trống và electron của các lớp bên trong tái hợp để hình thành các
exciton Khi một exciton phân rã thì phát xạ ra một photon
Điện cực âm cathode là kim loại có công thoát c thấp, vật liệu thường
hay được sử dụng là Ca và Mg Tuy nhiên các vật liệu này thường có hạn chế
là dễ phản ứng với oxy và độ ẩm môi trường, vì vậy Al và hợp kim của
chúng, ví dụ như Mg:Al (tỷ lệ 10:1) thường được lựa chọn sử dụng nhiều hơn
do chúng có khả năng chống oxy hóa, ít phản ứng với độ ẩm môi trường Đối
với OLED phát xạ thông qua anode thì yêu cầu của cathode là: tiêm được
nhiều điện tử vào mức LUMO và có thể phản xạ được ánh sáng phát ra
Ngoài ra, việc lựa chọn các vật liệu làm cathode còn phải thỏa mãn điều kiện
rào thế ΔEc giữa cathode và lớp màng polymer tiếp xúc là nhỏ nhất Các hợp
kim này được chọn bởi vì chúng có chức năng hoạt động thấp để cho phép
các hạt electron dễ dàng được phun vào bên trong các lớp hữu cơ Điện cực
âm cathode được hình thành có thể không cần phải sử dụng vật liệu trong
suốt, do đó tùy vào các ứng dụng mà chế tạo nó như thế nào
Điện cực dương anode được làm từ hợp chất ITO ITO có điểm đặc biệt là
truyền ánh sáng đi xuyên qua các lớp hữu cơ đến tấm đế Yêu cầu đầu tiên
của anode là phải tạo ra được các lỗ trống tích điện dương để phun vào lớp
màng polymer, có thể cho ánh sáng đi qua Do đó, việc lựa chọn các vật liệu
làm anode phải thỏa mãn điều kiện rào thế ΔEa giữa anode và lớp màng
polymer tiếp xúc là nhỏ nhất Thực tế, ITO (In2O3:Sn) thường được lựa chọn
làm anode Ngoài ra, để giảm rào thế ΔEa giữa anode và lớp màng polymer
người ta thường tìm cách nâng cao công thoát cho anode ITO bằng các
- Tạo ra lớp điện môi rất mỏng giữa anode và lớp polymer
Cấu trúc đơn giản, dễ chế tạo và phù hợp với điều kiện hiện có nên ITO
được chọn làm điện cực dương
Trang 17Hình 1.4.1: Những thành phần chính hình thành nên một OLED có cấu
trúc đa lớp bao gồm điện cực âm, lớp phát xạ, lớp dẫn, điện cực dương
và một tấm đế
Các lớp hữu cơ có thể được hình thành từ các phân tử hữu cơ hoặc các loại
polymer Khi sử dụng các phân tử hữu cơ để hình thành hai lớp màng: một
lớp được gọi là lớp truyền, còn lớp kia được gọi là lớp phát xạ Lớp truyền
phải đáp ứng được yêu cầu là cho các hạt tải đi qua từ điện cực anode, từ đó
lớp phát xạ sẽ cho các electron đi qua Khi các lỗ trống và các electron tương
tác với nhau thì sẽ tạo ra exciton và ánh sáng được phát ra Tùy vào các ứng
dụng khác nhau để chọn lựa các lớp vật liệu thích hợp Một trong các yếu tố
quyết định việc chọn lựa các vật liệu như thế nào đó là màu sắc từ ánh sáng
phát ra của OLED Các màu sắc khác nhau được thực hiện với các lớp vật liệu
khác nhau Ví dụ như để tạo ra ánh sáng màu xanh lá (Green) thì sử dụng hợp
chất Mq3, khi M là một kim loại nhóm III và q3 là 8-hydroxyquinolate Nếu
đó là ánh sáng màu xanh dương (Blue) thì sử dụng hợp chất Alq2OPh và ánh
sáng màu đỏ (Red) sẽ sử dụng các chất dẫn xuất perylene Khi sử dụng
polymer thì duy nhất chỉ có lớp hữu cơ đơn là đạt yêu cầu
Giống như một diode phát quang LED, một diode phát quang hữu cơ
OLED là một linh kiện có độ dày từ 100 đến 500nm hay nhỏ hơn khoảng 200
lần đường kính của sợi tóc Các OLED có thể có hai hoặc ba lớp vật liệu hữu
cơ; trong môi trường thiết kế ba lớp thì lớp thứ ba sẽ giúp truyền tải các
Trang 18electron từ cathode tới lớp phát xạ Tóm lại, một OLED gồm các phần cơ bản
sau (xem hình 1.4.1):
Đế: làm từ nhựa trong suốt, thủy tinh… tấm đế này có tác dụng chống đỡ
cho OLED
Điện cực anode: mang tính trong suốt sẽ lấy đi các electron (hay tạo ra
các lỗ trống mang điện tích dương) khi có một dòng điện chạy qua linh kiện
Các lớp hữu cơ: được tạo thành từ các phân tử hữu cơ hay polymer, bao
gồm:
-Lớp dẫn: lớp này được làm từ các phân tử hữu cơ dẻo có nhiệm vụ truyền tải
lỗ trống từ anode Một polymer dẫn được sử dụng trong các OLED là
polyaniline
-Lớp phát sáng: lớp này được làm từ các phân tử hữu cơ dẻo (nhưng khác loại
với lớp dẫn) có nhiệm vụ truyền tải các electron từ điện cực cathode Một loại
polymer dùng trong lớp phát sáng là polyfluorence
Điện cực cathode: có thể trong suốt hoặc không tùy vào loại OLED,
cathode sẽ tạo ra electron khi có dòng điện chạy qua linh kiện
1.4.2 Các phương pháp chế tạo OLED:
Một khi vật liệu đã được lựa chọn thì việc ứng dụng phương pháp nào sẽ
được lựa chọn Hiện nay, có nhiều phương pháp khác nhau được sử dụng, mỗi
phương pháp đều có những ưu và khuyết điểm riêng
Công đoạn phức tạp nhất của việc chế tạo các OLED là khi đặt các lớp
hữu cơ lên tấm đế Công đoạn này có thể thực hiện bằng các phương pháp
như sau:
Lắng đọng chân không hay bốc hơi nhiệt chân không:
Khi sử dụng các lớp phân tử nhỏ, các kỹ thuật làm bốc hơi là sự lựa chọn
phổ biến Các phân tử nhỏ được bốc hơi trên một tấm đế và tạo thành một lớp
màng mỏng, để thực hiện được điều này phải đặt mẫu trong điều kiện chân
không
Màng được chế tạo theo phương pháp bốc hơi nhiệt thì độ dày của màng
có khuynh hướng sẽ không đồng nhất cũng như độ phẳng của bề mặt sẽ rất
kém Cụ thể như sau: trong một buồng chân không, các phân tử hữu cơ được
đốt nóng nhẹ (làm bốc hơi) và sẽ ngưng tụ thành các tấm màng mỏng trên các
tấm đế (xem hình 1.4.2a) Quá trình này tốn kém và không hiệu quả và do
Trang 19tính không đồng nhất của màng nên nó không phải là phương pháp được lựa
Trong một buồng phản ứng áp suất thấp có tường nóng, một chất khí vận
chuyển sẽ truyền tải các phân tử hữu cơ bốc hơi tới các tấm đế lạnh, tại đó
chúng ngưng tụ thành các tấm màng mỏng Sử dụng một chất khí vận chuyển
sẽ tăng tính hiệu quả và làm giảm giá thành chế tạo OLED
Ngoài ra có một phương pháp khác gần giống như phương pháp OVPD đó
là công nghệ lắng đọng pha hơi hóa học CVD ( Chemical vapor phase
deposition) Trong phương pháp CVD, một tấm đế để lắng đọng được đặt
trong môi trường chân không và một hóa chất được đưa vào để ngưng tụ lại
trên tấm đế Sự bất lợi của phương pháp này là tất cả mọi thứ bên trong môi
trường chân không đó sẽ bị phủ hóa chất, dẫn đến việc làm hư cả vật liệu
đang sử dụng
Trang 20Hình 1.4.2b: Qui trình lắng đọng pha hơi hữu cơ OVPD
Với công nghệ phun mực, các OLED được phun rải trên các tấm đế giống
như mực được phun rải lên trên giấy khi in Công nghệ in phun mực giúp
giảm đáng kể giá thành sản xuất các OLED và cho phép các OLED được in
lên trên các tấm màng lớn tức là tạo ra các màn hiển thị rất lớn như các màn
Trang 21hình TV 80 inch hay các bảng thông báo điện tử Khi sử dụng các polymer thì
kỹ thuật dựa theo công nghệ in phun mực được lựa chọn nhiều nhất Độ phân
giải của màn hình hiển thị OLED thì tương tự như việc in ảnh lên trên giấy và
vì vậy, kỹ thuật này chuyển đổi qua lại một cách dễ dàng Trong phương pháp
in phun mực, vật liệu hữu cơ được sử dụng bên trong chất lỏng cùng loại với
cách thức giống như là mực được sử sụng trong cách in ấn truyền thống Có
những vấn đề còn tồn tại với những cái lỗ nhỏ trong lớp được tạo ra theo kiểu
in phun mực Cái đó giống như việc định địa chỉ bởi một lớp quay phủ ly tâm
ban đầu và sau đó mới sử dụng phương pháp in phun mực lên lớp thứ hai
Phương pháp quay phủ ly tâm (spin coating):
Hình 1.4.2d Hệ thống quay phủ (a) và tấm đế được quay với tốc độ cao mục
đích là làm cho chất lỏng đó lan rộng ra phía ngoài (b)
Đặc trưng của các polymer là sử dụng quá trình quay phủ ly tâm Trong
quá trình quay phủ ly tâm, vật liệu hữu cơ dưới dạng chất lỏng được lắng
đọng trên một tấm đế Tấm đế được quay với tốc độ cao với mục đích là làm
cho chất lỏng đó lan rộng ra phía ngoài (xem hình 1.4.2d) Chất lỏng sẽ được
định hình thành lớp màng mỏng và đông cứng lại sau khi nó được cho bốc
Trang 22hơi Độ dày của màng sẽ được xác định bởi số lần tấm đế được quay và tốc độ
làm khô của vật liệu
1.5 Cơ chế phát quang của OLED:
Các OLED phát ra ánh sáng theo cách giống như các đèn LED Quá trình
này gọi là sự phát quang điện tử Quá trình này xảy ra như sau:
-Nguồn điện cung cấp dòng điện cho OLED
-Một dòng các electron chạy từ cathode qua các lớp hữu cơ tới anode:
Cathode sẽ truyền các electron cho lớp các phân tử hữu cơ phát quang, anode
sẽ lấy các electron từ lớp các phân tử hữu cơ dẫn (điều này giống với việc
truyền các lỗ trống mang điện tích dương cho lớp dẫn)
Hình 1.5a: Mức năng lượng của OLED trong quá trình hoạt động
Tại biên giữa lớp phát quang và lớp dẫn, các electron sẽ gặp các lỗ trống
Như vậy khi một electron gặp một lỗ trống, nó sẽ tái hợp với lỗ trống này
(Hay nó rơi vào mức năng lượng của nguyên tử lỗ trống bị mất một electron)
Khi sự tái hợp xảy ra, electron tái hợp sẽ tạo ra một năng lượng dưới dạng
một photon ánh sáng
Khi ta đặt một điện trường phân cực lên hai điện cực thì các electron sẽ
được tiêm vào lớp màng ETL, còn lỗ trống được tiêm vào lớp màng HTL
Dưới tác dụng của điện trường, các hạt tải chuyển động về phía hai cực anode
và cathode, chúng tái hợp tại lớp phát quang hoặc tại lớp tiếp xúc HTL/ETL
Trang 23điện tử và lỗ trống sẽ bị ảnh hưởng bởi bề mặt tiếp xúc giữa cathode/polymer
và anode/polymer Do đó cần chọn vật liệu thích hợp để đảm bảo quá trình
tiêm hạt tải được ổn định
Ta nhận thấy, rào tiêm điện tử được đặt tại tiếp xúc kim loại và chất hữu
cơ với công thoát của kim loại lớn hơn mức LUMO của vật liệu hữu cơ Do
đó, các kim loại có công thoát thấp làm cho điện tử tiêm vào mức LUMO dễ
dàng hơn Thực tế, Mg pha thêm một lượng nhỏ Ag thường được dùng làm
cathode Ngoài ra, để tăng cường khả năng khuếch tán của điện tử vào mức
LUMO, một số hỗn hợp khác cũng đã được sử dụng như Al:Sn hoặc Al:Li
Tương tự, để phù hợp với mức HOMO của vật liệu hữu cơ, công thoát của
anode cần phải cao để lỗ trống tiêm vào mức HOMO dễ dàng hơn Bên cạnh
đó, để đáp ứng yêu cầu hiển thị nó cần phải có độ truyền qua cao (90% tại =
550nm) Cho đến nay, màng dẫn điện trong suốt ITO với khả năng thay đổi
công thoát trong một dãi rộng từ 4,5 đến 5,2 eV thường hay được sử dụng
nhất Các nhà khoa học cũng đang nghiên cứu thay thế màng ITO bằng các
màng hữu cơ để mở rộng phạm vi ứng dụng
Hình 1.5b Ảnh hưởng của rào tiêm tại 2 đầu điện cực tới đặc trưng I-V của OLED [12]
Trang 24Màu của ánh sáng phụ thuộc vào các kiểu phân tử hữu cơ của lớp phát
quang Để tạo ra ánh sáng có nhiều màu khác nhau, ta sắp xếp các tấm màng
hữu cơ trên cùng một OLED Cường độ hay độ sáng của màn hình phụ thuộc
vào lượng điện cung cấp Lượng điện càng lớn thì OLED càng sáng
1.6 Vật liệu dùng để chế tạo OLED:
Ở phần này, các chất bán dẫn hữu cơ sẽ được xem xét xung quanh khả
năng phát triển các thông số của vật liệu được yêu cầu, chẳng hạn như các dãy
năng lượng của quỹ đạo phân tử chưa điền đầy thấp nhất (LUMO) và quỹ đạo
phân tử điền đầy cao nhất (HOMO) Việc khám phá ra phức hợp
perylene-iodine vào năm 1952 đã dọn đường cho việc phát triển chất hữu cơ bán dẫn
đầu tiên
Chất bán dẫn phân tử nhỏ, các chất hóa học, hoặc các lớp polymer liên hợp
được lắng đọng một cách đặc trưng lên phía trên của lớp truyền điện tích Vật
liệu bán dẫn có thể được quay phủ spin theo cách thông thường, được lắng
đọng chân không bằng cách cho bốc hơi hóa học, hoặc in bởi các công nghệ
như là in phun mực, lăn khô và in trải rộng Sự lựa chọn vật liệu để chế tạo
màng hữu cơ chủ yếu là dựa vào quá trình nạp điện tích, màu sắc và hiệu suất
phát quang Ánh sáng phát sinh bởi sự phân rã nhanh chóng của các trạng thái
phân tử bị kích thích trong khi màu sắc của ánh sáng được tạo ra dựa trên sự
khác biệt về năng lượng giữa các trạng thái bị kích thích và mức nền phân tử
PVK:
Polyvinylcarbazole (PVK) là một polymer không mang tính liên hợp
nhưng có tính dẫn và truyền ánh sáng rất tốt Các chromophore mang tính
chất đối xứng được kết hợp từ chuỗi olefinic Vì vậy, trước đây nó được ứng
dụng rộng rãi trong lĩnh vực chụp ảnh điện Gần đây PVK thường được sử
dụng như là một lớp tiêm lỗ trống bên trong các LED hữu cơ khác nhau Các
nghiên cứu đều cho thấy khả năng nâng cao hiệu suất PL và EL của các chất
hữu cơ chromophore khi kết hợp với PVK, mặc dù nó không rõ ràng về chức
năng riêng biệt của PVK hay nếu pha loãng chromophore quá thì cũng sẽ làm
suy giảm các tính chất ưu việt cần thiết
Nếu PVK được sử dụng như một lớp riêng biệt (không kết hợp với
chromophore) và không mang tính liên kết khép kín bên trong với điện cực
ITO, nhưng khi lớp trung gian nằm giữa vật liệu dùng để tiêm lỗ trống, PPV
và polymer phát xạ, PDPV PDPV là một loại polymer mang tính hấp thu điện
Trang 25huỳnh quang (EL) bởi vì nó có một hiệu suất quang huỳnh quang (PL) rất cao
trong trạng thái rắn (0,45) và hòa tan được trong các dung môi thông thường,
chẳng hạn như chloroform hoặc toluene, trong suốt quá trình thay đổi phenyl
ở tại các vinylene và gây ra sự hỗn loạn do hiện tượng đồng phân Nói chung,
để sử dụng PPV như là một lớp tiêm lỗ trống tốt nhờ vào sự ổn định mang
tính tương đối của lớp bề mặt phân giới với ITO và giới hạn sự vượt quá của
các dòng lỗ trống với lớp trung gian PVK, lúc này điện thế ion hóa cao
khoảng 5,8eV Vì vậy, sẽ hình thành hàng rào năng lượng của các lỗ trống tại
bề mặt phân giới giữa PPV và PVK Dòng điện và độ chiếu sáng có khuynh
hướng đối ngược với các điện áp đặc trưng khi bề dày của cấu trúc khoảng
300nm Khi được dùng trong các thiết bị đa lớp hoặc được pha tạp, màu sắc
ánh sáng phát ra sẽ dịch dần về phía đỏ Bên cạnh đó, khi tạo thành màng
mỏng bằng các phương pháp lắng đọng pha hơi vật lý như bốc bay nhiệt cho
thấy chức năng của nhóm Cacbazole được an toàn và thành phần của nó bị cắt
ngắn thành oligomer Với ánh sáng laser có cường độ lớn, nó có thể bị thay
đổi chiết suất, vì vậy có thể gọi đây là vật liệu quang khúc xạ Bên cạnh đó,
nó còn có một ưu điểm khác nữa là mất mát điện môi thấp
Vai trò của PVK là hiển nhiên khi so sánh với các diode có sự kết hợp của
lớp PVK với lớp đơn PDPV và các diode có lớp kép PPV/PDPV Với các
diode có cấu trúc ITO/PDPV/Ca thì hiệu suất bên trong lên đến 0,04% và
0,25% với cấu trúc ITO/PPV/PDPV/Ca Đặc biệt, một thông số để phân loại
mức độ chiếu sáng của vật liệu được lợi dụng bên trong các linh kiện có hình
dạng đặc biệt có thể được tính toán như là tỷ số hiệu suất PL của vật liệu phát
xạ đến hiệu suất EL của diode (f ≡ ηPL/ ηEL), và nó gần bằng 104
(Al) hoặc 103
(Ca) cho các LED có cấu trúc đơn lớp PDPV kém hơn so với PPV [f (Al) =
2500, f (Ca) = 250] bởi vì hiệu suất PL là cao nhất và dòng mang tính không
cân bằng là lớn nhất Tỷ số về cấu trúc của các lớp là: f (Al) ≤ 100 và f (Ca) ≤
70 Mặc dù các giá trị tuyệt đối của hiệu suất không hẳn là cao để có thể thực
hiện được với cấu trúc PPV/CN-PPV nhưng hiệu suất được cải thiện khoảng
2 bậc với điện cực cathode Al và nhiều hơn một bậc với điện cực cathode Ca
Lưu ý rằng việc sử dụng PVK trong các liên kết trực tiếp với ITO là có thể
và hiệu suất đem lại khoảng từ 0,6 đến 1% Thời gian phục vụ của các LED
hữu cơ có liên quan đến hàng rào tại bề mặt phân giới ITO (hàng rào càng
Trang 26Hình 1.6: Phổ hấp thụ (a) và quang huỳnh quang (f) của màng
PVK [15]
thấp thì thời gian phục vụ của linh kiện càng được kéo dài lâu hơn) và vì vậy,
khả năng ứng dụng PPV như là một lớp tiêm lỗ trống trong OLED là rất lớn
PVK thường được sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu do có tính chất
dẫn điện tốt, dễ dàng chế tạo dưới dạng màng mỏng bằng nhiều phương pháp
khác nhau, nhiệt độ chuyển pha cao, khe năng lượng rộng (hấp thụ ánh sáng
trong vùng tử ngoại)
Thay vì dựa trên sự tập trung các thay đổi và các khái niệm về linh kiện đa
lớp, ở đây chỉ thảo luận việc nâng cao hiệu suất của chất dẫn xuất phenylated
Chúng ta thấy rằng, cường độ dòng điện và ánh sáng có khuynh hướng đối lập
với điện áp phân cực đối với linh kiện có cấu trúc dị mối nối, chẳng hạn như
indium-tin oxide/PPV/CN-PPV/aluminum Với một linh kiện có diện tích
khoảng 4mm2
thì công suất ngõ ra tương ứng sẽ là 5,2mW/sr/A, ánh sáng phát
Trang 27PVK là một vật liệu quang dẫn có độ rộng vùng cấm lớn, trong suốt, có độ
bền nhiệt và hóa học tốt… ví dụ, nhiệt độ hóa dẻo của PVK là 150oC, nhiệt độ
chuyển pha thủy tinh là 211oC và không bị phân hủy đến trên 300o
C, PVK có chiết suất cao (khoảng 1,69) Tuy nhiên, PVK có nhược điểm là giòn, dễ gãy
và có độ bền cơ học yếu PVK được chế tạo từ các nhóm Cacbazole có cấu
trúc xoắn ốc với ba đơn vị monomeric trên một vòng xoắn Trong một chu kỳ
xoắn, nhóm Cacbazole được sắp xếp vuông góc với trục của vòng xoắn và
song song với các nhóm khác Ở đó, các điện tử nội phân tử trao đổi tương tác
với nhau và trở nên mạnh hơn, dẫn tới sự bất định xứ của exiton với năng
lượng liên kết yếu Các nghiên cứu cho thấy đặc trưng của nhóm Cacbazole là
hấp thụ ánh sáng xung quanh với bước sóng khoảng 340nm và phát ra ánh
sáng xung quanh bước sóng 420nm [13,15]
Cathode kim loại (Al):
Al có công thoát khá lớn, dễ bốc bay trong chân không cao để tạo thành
điện cực Ohmic Bên cạnh đó, Al là một vật liệu có giá thành rẻ, phù hợp với
điều kiện thí nghiệm Lưu ý rằng, với các điện cực cathode Al thì độ chói
sáng là 1300cd/m2 với điện áp là 33V và cường độ dòng điện khoảng
400mA/cm2 Cần phải chú ý sự khác biệt về hiệu suất giữa Ca và Al với hệ số
là 1,5 thay vì 10 như đối với các linh kiện đơn lớp Hiệu suất lượng tử hóa
bên ngoài nằm trong khoảng độ từ 0,4 đến 0,55% cho các điện cực cathode
Al
Anode trong suốt (ITO):
Indium tin oxide (ITO) được sử dụng rộng rãi như là một điện cực truyền
dẫn cho các linh kiện quang điện tử, chẳng hạn như các tấm bảng hiển thị
phẳng bằng tinh thể lỏng hay pin mặt trời… ITO là một chất bán dẫn loại n có
sự thoái hóa cao và có điện trở suất thấp từ 2.10-4
cm đến 4.10-4 cm và độ rộng khe dãi trong khoảng từ 3.3eV đến 4.3eV Nó cho thấy tính truyền dẫn
cao trong vùng nhìn thấy và gần với vùng quang phổ ánh sáng hồng ngoại
ITO là loại bán dẫn kiểu n với độ rộng vùng cấm nằm trong khoảng 3,5
đến 4,3eV và có nồng độ hạt tải điện vào khoảng 1021
cm-3 Hệ quả là ITO trong suốt trong vùng ánh sáng nhìn thấy và có độ dẫn cao, nó thường được
chế tạo bằng nhiều phương pháp khác nhau Khi được pha tạp khoảng 10% thì
bị suy biến mạnh và có độ dẫn gần giống như kim loại [14] Yêu cầu đối với
vật liệu truyền lỗ trống hiện nay là: có nhiệt độ thủy tinh cao Tg > 200o
C (làm
Trang 28tăng thời gian sống của linh kiện); có khả năng truyền hạt tải cao (μ ≈ 10
-3
cm2/V.s) do đó hiệu suất phát quang cao, có khả năng hòa tan trong các dung
môi hữu cơ Mặt khác, khi nghiên cứu về OLED cho thấy, dòng lỗ trống
đóng góp chủ yếu vào dòng tổng do có độ linh động cao hơn điện tử Vì vậy,
cải tiến lớp tiếp xúc cho cả hai đầu điện cực nhằm làm cân bằng dòng tiêm lỗ
trống và điện tử là một nhu cầu cấp thiết cho việc nâng cao hiệu suất phát
sáng và độ ổn định của OLED Lớp phun lỗ trống hoặc lớp đệm cực tính
dương anode có thể được sử dụng để làm tăng hiệu suất bởi việc phát sinh ra
hàng rào năng lượng ở giữa mặt phân giới ITO/HTL Vật liệu của lớp phun lỗ
trống thường là poly(3,4-ethylenedioxythiophene) poly(styrenesulfonate)
(PEDOT:PSS) Do gel được hydrat hóa để làm bằng phẳng bề mặt gồ ghề
mang tính chất vi mô của của lớp màng ITO, qua đó làm giảm khả năng bị
ngắt chuỗi polymer
Lớp phát quang:
Chúng ta đã biết OLED hoạt động bởi sự phát xạ quang điện khi được
phân cực với điện áp nằm trong khoảng từ 2,5V đến 20V giữa các điện cực
Trong các lớp hoạt động rất mỏng xuất hiện một điện trường cao khoảng
107V/cm, làm nâng cao quá trình phun lỗ trống từ điện cực anode đi qua lớp
phun lỗ trống và của các hạt electron từ điện cực cathode đi ngang qua lớp
truyền lỗ trống Những hạt điện tích sau đó di chuyển theo các hướng đối lập
để tái hợp bên trong lớp phát xạ, khi sự tái hợp năng lượng ảnh hưởng của
phân tử polymer để đạt được một trạng thái kích thích, vì vậy năng lượng
phóng thích dưới dạng photon hoặc nhiệt Như vậy, yêu cầu cơ bản đối với
vật liệu phát quang là có khả năng truyền điện tử tốt, phát ra phổ ánh sáng
nằm trong vùng nhìn thấy của mắt người Phương pháp chế tạo đơn giản dưới
dạng các lớp màng mỏng, không cần nhiệt độ cao cũng như bền vững với các
điều kiện của môi trường
Vật liệu đầu tiên được sử dụng làm chất phát quang là PPP với ánh sáng
phát ra có bước sóng thuộc vùng ánh sáng màu xanh (460nm) PPP có ưu thế
là dễ dàng điều khiển được các tính chất phát quang thông qua quá trình điều
khiển các thông số của quá trình chế tạo, độ cứng cơ học cao, độ ổn định nhiệt
tốt Tuy nhiên, PPP có hạn chế là không hòa tan được trong dung môi hữu cơ,
màng được tạo ra có nhiều lỗ hổng
Trang 29Để phát triển các ưu điểm của PPP cũng như hạn chế các nhược điểm của
nó thì PPV và các dẫn xuất của chúng như MEH-PPV, OxdEH-PPV… ra đời
Đặc biệt là MEH-PPV thường hay được sử dụng nhiều nhất để làm lớp phát
quang trong OLED
Ưu điểm lớn nhất của các vật liệu này là dễ hòa tan trong các dung môi
hữu cơ và quá trình chế tạo thành màng mỏng từ dung dịch không cần xử lý
nhiệt Ngoài ra, PPV có bước sóng phát ra là 560nm và MEH-PPV là 590nm
Cả hai bước sóng này đều nằm xung quanh độ nhạy mắt người, từ đó ứng
dụng thích hợp để chế tạo OLED
Trong trường hợp đặc biệt, giá trị của dòng điện cao tương ứng với ánh
sáng phát ra với cường độ mạnh và điện áp cấp vào tương đối lớn thì các
electron phun ra tại cực cathode Aluminum cũng như lớp MEH-PPV có độ
dày tương đối sẽ làm hạn chế việc truyền điện tích nạp Hiệu suất phát sáng
của diode phát quang có thành phần MEH-PPV khi cung cấp điện áp vào
khoảng 14V là 2.10-2
cd/m2 Mặc dù vậy, sự lựa chọn cấu trúc linh kiện có đặc tính tốt để việc thử nghiệm được tiến hành thuận lợi hơn Điều quan trọng
nhất là quang phổ phát xạ của lớp MEH-PPV phụ thuộc vào quá trình ủ nhiệt
Nếu được ủ nhiệt, quang phổ phát xạ của màng sẽ được phân bố rất rộng tại
bước sóng bằng 650nm nhưng hiệu suất phát xạ rất yếu
Ưu điểm của vật liệu polymer khi chế tạo diode phát quang đó là công
nghệ chế tạo đơn giản bằng phương pháp quay phủ hay in trải để có thể chế
tạo linh kiện có kích thước tùy ý với các loại đế khác nhau, không cần phải xử
lý nhiệt nên tránh được hư hỏng do nhiệt gây ra… tuy nhiên, một nhược điểm
của vật liệu polymer phát quang là độ bền màu kém hơn các vật liệu vô cơ,
cấu trúc của chúng không hoàn hảo như vật liệu vô cơ (Si, GaP) do đó chúng
thường có nhiều khuyết tật, những tâm bắt điện tử và lỗ trống là nguyên nhân
chính làm cho hiệu suất phát quang thấp, tuổi thọ ngắn hơn so với các linh
kiện được chế tạo bằng vật liệu vô cơ Một phương pháp khác cũng hay được
sử dụng là tổ hợp các polymer phát quang với các hạt nano dạng tinh thể vô
cơ với độ hòa tan lớn trong các dung môi hữu cơ, qua đó việc chế tạo màng sẽ
được thực hiện dễ dàng hơn bằng phương pháp quay phủ ly tâm Người ta đã
tìm ra các vật liệu hữu cơ bền màu hơn bằng cách biến đổi các nhóm thế trong
polymer để thay đổi các thông số như độ rộng vùng cấm, ái lực điện tử, quá
Trang 30trình truyền điện tích, độ hòa tan của chúng Do vậy đã tạo ra các vật liệu
thích hợp cho quá trình chế tạo
Thực tế các polymer như PVK hoặc MEH-PPV và các hạt tinh thể nano Si
xốp, CdS, CdSe, TiO2 có các kích thước hạt khác nhau thường được lựa chọn
tổ hợp với nhau để tận dụng ưu thế của mỗi loại vật liệu Khi khảo sát về các
đặc trưng quang – điện cho thấy các hạt nano tinh thể có kích thước khoảng
5-30nm được đưa vào bên trong các polymer kể trên thì các đặc trưng I-V, PL,
EL của chúng được cải thiện rất lớn theo hướng giảm điện thế cung cấp và
dòng ngược, tăng cường độ quang huỳnh quang, thay đổi màu sắc phát quang
theo kích thước và cấu trúc vật liệu đưa vào Có thể thấy rằng, khi các hạt
nano tinh thể được đưa vào bên trong các chất polymer, chúng có tác dụng
thay đổi cấu trúc vùng LUMO-HOMO của polymer và làm tăng xác suất tái
hợp điện tử – lỗ trống, do đó hiệu suất phát quang sẽ tăng lên
Sự phát triển của quá trình pha tạp chất là chìa khóa trong việc gia tăng các
khả năng lượng tử hóa của OLED và cả trong việc điều chỉnh màu sắc phát ra
Để thay đổi các đặc tính điện huỳnh quang nguyên thủy để cho ra màu sắc
đúng yêu cầu thì cần phải cho các chất pha tạp huỳnh quang tương tác với các
vùng hóa trị của phân tử
Một trong những điểm đặc trưng được quan tâm của OLED chính là dải
phát sáng mang tính đa dạng về màu sắc bằng các phương pháp pha tạp Sự
thay đổi cấu trúc của OLED nhận được sự quan tâm rất đặc biệt Một trong
các phương pháp thay đổi đó là cải tiến lại điện cực cathode từ phần trên của
OLED xuống để tạo ra một cấu trúc bị đảo ngược Theo cách này thì các kim
loại phản ứng mạnh sẽ không được sử dụng mà thay vào đó là các kim loại có
tính phản xạ Các kim loại được ưu tiên để chế tạo điện cực cathode ở phía
dưới là các hợp kim Al-Ag Các OLED phát sáng đỉnh bị đảo ngược lại, vì
vậy tránh được sự hạn chế do độ truyền dẫn ánh sáng kém của các tấm đế và
từ đó cải thiện hệ số lắp đầy của các điểm ảnh Các linh kiện này được chế tạo
trên một tấm đế thủy tinh được chuẩn bị với các lớp màng nhôm hoặc bạc làm
điện cực cathode
1.7 Khảo sát các đặc tính của OLED:
Hầu hết các OLED gồm nhiều lớp ghép lại với nhau và có tổng bề dày
khoảng 100 đến 200nm Các lớp bao gồm một điện cực cathode, một điện cực
anode, các lớp màng mỏng được làm từ những loại vật liệu mang tính tích
Trang 31cực, thường là các loại polymer hữu cơ Cuối cùng là các lớp ngăn bảo vệ,
không cho các yếu tố lạ từ môi trường có thể xâm nhập gây hư hỏng linh kiện
Điện cực anode thường có chức năng hoạt động cao hơn so với điện cực
cathode, để tạo điều kiện cho các lỗ trống và electron đi xuyên qua một cách
dễ dàng Các lớp hoạt động thường được pha tạp với fluorescence đa sắc
trong quá trình phát xạ huỳnh quang Phải đảm bảo rằng tất cả năng lượng
được phóng thích khi các photon phần nào cao hơn được các phát xạ photon
kém do nhiệt được sử dụng để làm các lớp truyền Các lớp truyền được pha
tạp bởi các polymer, từ đó thu được năng lượng từ các phân tử bị kích thích
ban đầu và sau đó giải phóng chúng một cách hiệu quả như các photon Điện
cực dương anode thường được làm từ indium tin oxide (ITO) khi truyền dẫn,
sự định hình của OLED phát xạ cạnh đơn hoặc là phát sáng đỉnh hoặc phát
sáng phía dưới Nếu cả hai điện cực anode và cathode được làm từ ITO thì gọi
là OLED trong suốt (TOLED)
Như đã trình bày, có hai loại OLED chính: một loại có cấu trúc phân tử
nhỏ và một loại là polymeric Các OLED polymeric có các lớp polymer để
đáp ứng những chức năng phức tạp Các polymer thường được sử dụng là các
thành viên của nhóm polyphenylene vinylene, polyflourene homo và các
copolymer Polyphenylene vinylene là một polymer dẫn có khả năng điện
quang hóa và có thể tạo thành một lớp màng kết tinh mỏng Tuy nhiên, bên
trong sự hiện diện của oxygen, yếu tố cơ bản hình thành quá trình ăn mòn cấu
trúc của polymer, từ đó làm suy giảm nhanh chóng chất lượng của OLED do
sự xuất hiện của nước và oxygen Sự phát xạ bên trong các linh kiện xảy ra
bên trong lớp truyền electron, nhưng điều này cũng có thể dẫn đến sự phân rã
bên trong các điện cực, làm suy giảm hiệu suất của linh kiện
Để tránh các vấn đề suy thoái polymer, một loại OLED khác đã được sử
dụng, đó là loại có cấu trúc phân tử nhỏ Các vật liệu tích cực trong trường
hợp này là các nhóm phân tử, cũng có thể bao gồm các nhóm amine cho việc
truyền lỗ trống, các kim loại trong trường hợp các phân tử truyền electron
hoặc nhiều nhóm khác Bất lợi chính của các OLED có cấu trúc phân tử nhỏ
là quá trình chế tạo có thể sẽ rất khó khăn bởi vì các phân tử tồn tại có bề dày
và bề mặt đồng dạng rất nhỏ trong khi hầu hết các phân tử được lắng đọng từ
dung dịch Ngoài ra, sự kết tinh quá mức có thể làm suy giảm đặc tính của
linh kiện
Trang 32Một mô hình phân tích được sử dụng như là nền tảng của đặc tính linh
kiện và khả năng phân tích điện học đã được giới thiệu trong tài liệu “Mối
quan hệ giữa điện huỳnh quang và sự vận chuyển dòng điện bên trong các
linh kiện phát sáng hữu cơ có cấu trúc dị mối nối ” của tác giả Forrest xuất
bản năm 1996, trong đó trình bày mô hình xử lý linh kiện là một lớp màng
mỏng với mật độ cao của các bẫy trong các mức năng lượng phía dưới mức
LUMO Do vậy, sự tác động được biểu diễn bằng phương trình [17]:
I = V/Re V<Von
I = KVm+1 V>Von (1)
Trong đó I là dòng điện qua OLED, Re là điện trở tác động dưới các mức
điện áp thấp và K là một hằng số tỷ lệ OLED có một tác động ohmic tại các
mức điện áp thấp được trình bày trong phương trình (1) khi độ dẫn là do ảnh
hưởng của các phần tử mang điện tự do hơn là các điện tích được phun Các
điện tích được phun bị giữ lại bên trong những cái bẫy dẫn đến tính chuyển
động của các hạt mang điện thấp Khi tăng điện áp, số lượng các hạt điện tích
nạp được tiêm vào tăng lên, lắp đầy vào các bẫy và để lại các lỗ trống cùng
với sự gia tăng sự chuyển động của điện tích nạp, đó là lý do làm tăng dòng
của linh kiện Von là điện áp cấp vào để OLED hoạt động và được xác định
khi điện áp tại các giá trị mà các dòng điện từ bẫy được giới hạn khả năng dẫn
và tác động ohmic là bằng nhau Điện áp tại bẫy-dẫn dòng bắt đầu tạo thành
luồng và đủ các cặp đôi electron-lỗ trống phát sinh để tạo ra ánh sáng Vì vậy,
để thu được cường độ sáng cao nhất thì phải tăng điện áp nhưng điều này
cũng sẽ làm suy giảm hiệu suất của linh kiện (xem hình 1.7a) Tuy nhiên, ưu
điểm chính của OLED là chúng có mức phân cực thấp dẫn đến công suất tiêu
thụ thấp, cho nên phạm vi chính của nghiên cứu là đạt được cường độ sáng
cao với một điện áp phân cực rất thấp, làm gia tăng hiệu suất của linh kiện
Hiệu suất của OLED được mô tả bởi ba giới hạn đó là hiệu suất lượng tử
hóa, công suất và khả năng tỏa sáng Hiệu suất lượng tử hóa là một quá trình
được mô tả bởi hiệu suất lượng tử hóa bên trong và bên ngoài Hiệu suất
lượng tử hóa bên trong là số lượng hạt photon phát ra cho mỗi quá trình phun
cặp đôi electron-lỗ trống bên trong linh kiện, trong khi hiệu suất bên ngoài là
số lượng hạt photon được giải phóng từ linh kiện Hiệu suất lượng tử hóa bên
trong phụ thuộc vào trạng thái phát xạ như trong phương trình [17]:
η
Trang 33Khi đó γ là phân số của các hạt điện tích được phun vào dẫn đến các trạng
thái bị kích thích, f là phân số của các trạng thái bị kích thích được giải
phóng thành ánh sáng và ηs là sự phân bố của các trạng thái kích thích dẫn đến
hình thành các singlet (các singlet và triplet là các quãng đường bên trong các
spin của hai cặp đôi electron hiện có)
Sự phát xạ có thể dưới dạng ánh sáng huỳnh quang từ singlet hoặc lân
quang từ các triplet bên trong các vật liệu hữu cơ Các giới hạn huỳnh quang
của hiệu suất lượng tử hóa bên trong đến 25% trong khi lân quang cho phép
sử dụng năng lượng từ toàn bộ các trạng thái năng lượng để tạo ra ánh sáng,
do đó làm tăng hiệu suất bên trong lên đến 100% trong khi mức điện áp phân
cực rất thấp Cho dù hiệu suất lượng tử hóa bên trong đạt tỷ lệ phần trăm cao
thì hiệu suất lượng tử hóa bên ngoài có thể đạt được một giá trị cực đại
khoảng 25% chỉ khi hầu hết các photon được hấp thu hoặc được hướng sóng
trên bề mặt của linh kiện hoặc được phản xạ bên trong từ các bề mặt phân giới
với các lớp truyền
Hình 1.7a: Đồ thị cho thấy mối quan hệ giữa điện áp và hiệu suất của OLED
Các mức điện áp tác động từ 2 đến 4V như là một ohmic Von của OLED theo
một năng lượng liên kết khi được biểu diễn trong phương trình (1) [17]
Hiệu suất bên ngoài được gắn liền với hiệu suất bên trong bởi phương
trình [17]: