Khách thể và đối tượng nghiên cứu: 3.1- Khách thể nghiên cứu: Mối quan hệ và tác động qua lại của Hiệu trưởng và giáo viên trong quá trình thực hiện các biện pháp kiểm tra chuyên môn c
Trang 1MỤC LỤC
Mở đầu
1 Lý do chon đề tài
2 Mục đích nghiên cứu
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4 Giả thuyết khoa học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
6 Giới hạn nghiên cứu
7 Các phương pháp nghiên cứu
8 Đóng góp mới của đề tài nghiên cứu
9 Cấu trúc luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm tra chuyên môn của Hiệu Trưởng Trường Trung học Phổ Thông Trang 1 4 4 4 5 5 5 8 9 10 1.1 Tổng quan vài nét về lịch sử vấn đề nghiên cứu 10 1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 11
1.2.2 Khái niệm quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 14
1.2.4 Khái niệm kiểm tra và đánh giá trong quản lý giáo dục 19
1.3.4 Nội dung kiểm tra của hiệu trưởng trong nhà trường 29 1.3.5 Một số đặc điểm của công tác kiểm tra ở nhà trường 32
Chương 2: Thực trạng kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng ở các
Trường trung học phổ thông Trên địa bàn thành phố Nam Định 35 2.1 Thực trạng phát triển giáo dục trung học phổ thông ở thành phố
Trang 2Nam Định 35 2.1.1 Các chủ trương phát triển giáo dục của Đảng bộ, chính quyền địa
2.1.2 Thực trạng phát triển giáo dục trung học phổ thông ở thành phố
2.2 Thực trạng công tác kiểm tra chuyên môn của người Hiệu trưởng
các trường trung học phổ thông ở thành phố Nam Định 43 2.2.1 Thực trạng về kế hoạch kiểm tra chuyên môn 43 2.2.2 Thực trạng về nội dung kiểm tra chuyên môn 43 2.2.3 Thực trạng về hình thức kiểm tra chuyên môn 44 2.2.4 Thực trạng về phương pháp kiểm tra chuyên môn 44 2.2.5 Tác động của công tác kiểm tra đối với việc nâng cao năng lực
2.3 Đánh giá về công tác kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng ở
2.3.1 Nhận thức về công tác kiểm tra của cán bộ quản lý và giáo viên 45 2.3.2 Nghiệp vụ kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng 50 2.3.3 Vấn đề chỉ đạo công tác kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng 59
2.3.5 ý kiến của chuyên gia về công tác kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng 62
2.5 Một số gương làm tốt công tác kiểm tra chuyên môn của Hiệu
trưởng các trường trung học phổ thông tại thành phố Nam Định 67
Chương 3: Một số biện pháp kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng ở
các trườngảtung học phổ thông trên địa bàn thành phố Nam Định 70
Trang 33.1 Mục tiêu cần đạt của công tác kiểm tra chuyên môn 70
3.1.2 Tiêu chuẩn đánh giá từng nội dung kiểm tra quy chế chuyên môn 73 3.2 Các biện pháp tăng cường công tác kiểm tra chuyên môn 79 3.2.1 Lập kế hoạch kiểm tra giáo viên thực hiện quy chế chuyên môn 79
3.3.3 Quy trình kiểm tra thực hiện quy chế chuyên môn 101 3.4 Đánh giá về các biện pháp - cách thức kiểm tra chuyên môn đã đề xuất 103
3.5 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp - cách
thức kiểm tra chuyên môn đã đề xuất
Trang 4BẢNG KÍ HIỆU CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
THPT Trung học phổ thông UBND Uỷ Ban Nhân Dân
Trang 53 Thống kờ số học sinh xếp loại theo hạnh kiểm 37
4 Thống kờ số học sinh xếp loại theo học lực 37
5 Thống kờ xếp loại hai mặt giỏo dục lớp 11,12 38
6 Bỏ học, lưu ban, hoàn thành chương trỡnh THPT 38
7 Thống kờ số học sinh xếp loại theo hạnh kiểm 39
10 Số học sinh bỏ học, lưu ban, hoàn thành chương trỡnh THPT 40
11 Bảng: Thống kờ về đội ngũ giỏo viờn TP Nam Định năm học
14 Bảng: Nhận thức của cỏn bộ, giỏo viờn về mức độ quan trọng
15 Bảng: Kết quả đánh giá về hình thức và biện pháp kiểm tra 50
16 Bảng: Kết quả về số lần kiểm tra chuyên môn của nhà tr-ờng: 54
20 Kết quả đánh giá của giáo viên về các biện pháp 103
21 Kết quả đánh giá của Hiệu tr-ởng về các biện pháp 104
22 Kết quả đánh giá của lãnh đạo, chuyên viên sở Giáo dục về
các biện pháp - cách thức kiểm tra chuyên môn đã đề xuất
106
23 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp 108
24 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp cách thức
kiểm tra chuyên môn đã đề xuất
108
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Trong thế giới ngày nay, hầu hết các quốc gia đều đã nhận thấy vai trò
to lớn của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia mình Những bài học về sự thành công "Thần kỳ" của các nền kinh tế Nhật Bản, Hàn Quốc, và một số quốc gia khác, đã cho thấy từ giáo dục các quốc gia này đã đạt được sự phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội Trước hết, phải hướng tới sự phát triển con người - nguồn nhân lực của xã hội - động lực của mọi sự phát triển Giáo dục là bước mở đầu của chiến lược con người, là điều kiện cơ bản để hình thành, phát triển và hoàn thiện lực lượng sản xuất xã hội Con người cùng với trí tuệ đã trở thành nhân tố phát triển kinh tế - xã hội Con người cũng là nguyên nhân làm tăng của cải xã hội, sự giàu có và thịnh vượng
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam
đã xác định: "Cùng với khoa học và công nghệ, Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam) đã định hướng chiến lược phát triển Giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới của đất nước
Để thực hiện được định hướng chiến lược phát triển Giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nghị quyết hội nghị lần thứ
II Ban chấp hành Trung ương khoá VIII đã đề ra 4 giải pháp cơ bản đó là:
- Tăng cường các nguồn lực đầu tư cho Giáo dục và đào tạo
- Xây đựng đội ngũ giáo viên, tạo động lực cho người dạy, người học
- Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp Giáo dục đào tạo
- Đổi mới và tăng cường công tác quản lý của Giáo dục đào tạo
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam lại khẳng định rõ: "Phát triển Giáo dục và đào tạo là một trong những động
Trang 7lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá là điều kiện
để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững" Đại hội chủ trương: "Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục Thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá giáo dục" (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam)
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đánh giá về tồn tại của Giáo dục là chất lượng giáo dục và đào tạo còn thấp, nhiều vấn đề hạn chế, yếu kém chậm được khắc phục Trong đó công tác quản lý giáo dục, đào tạo chậm đổi mới và còn nhiều bất cập Thanh tra giáo dục còn nhiều yếu kém; những hiện tượng tiêu cực, như bệnh thành tích, thiếu trung thực trong đánh giá kết quả giáo dục, trong học tập, tuyển sinh, thi cử, cấp bằng và tình trạng học thêm, dạy thêm tràn lan kéo dài, chậm được khắc phục Tại Đại hội này Đảng ta đã đề ra một số định hướng phát triển ngành Giáo dục và đào tạo trong đó có nội dung: "Đổi mới và nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về giáo dục và đào tạo; Nhà nước thực hiện đúng chức năng định hướng phát triển, tạo lập khung pháp lý và kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực thi pháp luật, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong Giáo dục
và đào tạo, chống bệnh thành tích Đổi mới tổ chức và hoạt động, đề cao và bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của nhà trường Tập trung khắc phục những tiêu cực trong dạy thêm, học thêm, thi cử, tuyển sinh, đánh giá kết quả học tập và cấp chứng chỉ, văn bằng" (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam)
Đối với ngành Giáo dục và đào tạo trong Hội nghị tổng kết năm học
2005 - 2006, triển khai nhiệm vụ năm học 2006 - 2007 đã đánh giá một số vấn đề còn hạn chế của ngành Giáo dục trong đó có đề cập đến nội dung:
"Công tác quản lý giáo dục chậm đổi mới, không ít cơ quan quản lý giáo dục còn lúng túng khi xử lý các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn Việc thi cử, đánh
Trang 8giá còn chậm đổi mới; Tình hình tiêu cực trong giáo dục chưa được khắc phục "
Nhiệm vụ của năm học 2006-2007 là: "Tiếp tục thực hiện đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục, trọng tâm là tổ chức thực hiện tốt phân ban, kết hợp với tự chọn của lớp 10, trên cơ sở giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục hướng nghiệp về pháp luật Hệ thống khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục cần phát triển; tiếp tục đổi mới công tác thi, kiểm tra, đánh giá đúng chất lượng giáo dục" Điểm nhấn mạnh của nhiệm vụ này là kế hoạch tổ chức cuộc vận động: "Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục"
Từ những định hướng qua các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như đánh giá và định hướng thực hiện nhiệm vụ của ngành Giáo dục và đào tạo từ các năm học trước, đặc biệt là năm học 2006-
2007 cho thấy: Tính cấp thiết của việc đổi mới công tác quản lý giáo dục, công tác kiểm tra, đánh giá trong các nhà trường là rất quan trọng
- Trong hoạt động quản lý, kiểm tra vừa là biện pháp vừa là một trong
4 chức năng chung đó là: Hoạch định kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra Muốn có quyết định quản lý đúng đắn thì phải kiểm tra, không có kiểm tra thì không có quản lý
- Trong thực tế hiện nay Hiệu trưởng một số trường THPT chưa chú ý đúng mức việc kiểm tra giáo viên thực hiện quy chế chuyên môn Biểu hiện là: Qua theo dõi sổ kiểm tra của Hiệu trưởng các nhà trường thì có tới gần 100% số giáo viên được kiểm tra toàn diện, chuyên đề có kết quả kiểm tra tốt Một số Hiệu trưởng giao hết cho Hiệu phó chuyên môn và Tổ trưởng chuyên môn từ đó dẫn tới giáo viên thực hiện chưa tốt các hoạt động chuyên môn Kết quả là người Hiệu trưởng không thể thực hiện một cách tối ưu hoạt động quản lý chuyên môn của mình
- Trên địa bàn thành phố Nam Định có 12 trường THPT là trường Công lập Các trường này việc thực hiện quy chế chuyên môn của giáo viên
Trang 9chưa đồng bộ, việc kiểm tra của Hiệu trưởng về quy chế chuyên môn của giáo viên vẫn còn chưa thống nhất Một số Hiệu trưởng chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác kiểm tra chuyên môn; một số Hiệu trưởng chưa nhận thức đúng và chưa coi trọng công tác kiểm tra chuyên môn Do đó việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong mỗi nhà trường chưa thật tốt Vì vậy, muốn có sự thống nhất hợp lý trong quá trình kiểm tra cần có một số biện pháp hữu hiệu hơn của Hiệu trưởng tại các trường THPT trong thành phố Nam Định
Từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài "Một số biện pháp kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng tại thành phố Nam Định" để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu:
Đề xuất các biện pháp phù hợp và khả thi nhằm nâng cao hiệu quả quản
lý chuyên môn của Hiệu trưởng các trường THPT tại thành phố Nam Định
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
3.1- Khách thể nghiên cứu:
Mối quan hệ và tác động qua lại của Hiệu trưởng và giáo viên trong quá trình thực hiện các biện pháp kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng Vai trò kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng tại các nhà trường
3.2- Đối tượng nghiên cứu:
Các biện pháp kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng các trường tại thành phố Nam Định
4 Giả thuyết khoa học:
Nếu có các biện pháp điều tra, khảo sát khoa học, phù hợp sẽ khảo sát
và đánh giá đúng thực trạng kiểm tra chuyên môn của người Hiệu trưởng trong các trường THPT, từ đó đề xuất các biện pháp kiểm tra chuyên môn phù hợp thì sẽ nâng cao hiệu quả quản lý chuyên môn tại các trường THPT ở thành phố Nam Định
5 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trang 105.1- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về công tác kiểm tra chuyên môn của hiệu trưởng, làm rõ các khái niệm liên quan đến đề tài của luận văn:
Khái niệm quản lý, quản lý nhà trường, kiểm tra, các hình thức kiểm tra, kiểm tra chuyên môn
5.2- Nghiên cứu thực trạng kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng tại
thành phố Nam Định
5.3- Đề xuất biện pháp kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng tại thành
phố Nam Định
6 Giới hạn nghiên cứu:
6.1- Giới hạn về nội dung:
Quản lý có nhiều chức năng: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra Trong luận văn này chỉ nghiên cứu một chức năng kiểm tra
Trong chức năng kiểm tra chỉ nghiên cứu một số biện pháp kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng đối với việc giáo viên thực hiện hoạt động giảng dạy
6.2 Giới hạn về địa bàn - Cấp học:
Do những hạn chế về mặt thời gian và quy mô nghiên cứu nên đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi 12 trường THPT trên địa bàn thành phố Nam Định
7 Các phương pháp nghiên cứu:
7.1- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
Để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài làm nền tảng cho quá trình nghiên cứu cụ thể chúng tôi đã hệ thống, phân tích, tổng hợp các tài liệu về quản lý, công tác kiểm tra đánh giá: Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, kiểm tra đánh giá, kiểm tra chuyên môn, các văn bản pháp quy của Nhà nước,
Bộ, ngành Giáo dục - Đào tạo cũng như các Nghị quyết của Đảng về công tác Giáo dục - Đào tạo
Mục đích:
- Nghiên cứu đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước
Trang 11- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về quản lý, công tác kiểm tra đánh giá, kiểm tra chuyên môn trong ngành Giáo dục và các nhà trường
7.2- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn và phương pháp hỗ trợ khác:
7.2.1- Phương pháp điều tra xã hội học - khảo sát thực tiễn:
Mục đích:
- Thu thập số liệu liên quan như số học sinh, số trường, số lớp, số giáo viên, cán bộ quản lý của các nhà trường; tư liệu về thực tế các biện pháp kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng đã và đang được áp dụng ở các trường THPT trong thành phố Nam Định để đánh giá thực trạng về công tác kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng
- Trao đổi với các chuyên gia, các Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng để tập hợp tổng kết kinh nghiệm kiểm tra chuyên môn có hiệu quả cao
7.2.2- Phương pháp phân tích và tổng hợp:
Mục đích:
- Từ kết quả của việc điều tra xã hội học; khảo sát thực tiễn tổng hợp số liệu từ đó phân tích thực trạng phát triển giáo dục ở thành phố Nam Định cũng
Trang 12như thực trạng của công tác kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng các trường THPT ở thành phố Nam Định trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp kiểm tra chuyên môn có hiệu quả cao hơn
7.2.3- Các phương pháp kiểm tra, đánh giá:
Mục đích:
- Kiểm tra, đánh giá thực trạng việc kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng các trường THPT ở thành phố Nam Định cũng như tính khả thi của những biện pháp kiểm tra chuyên môn đã đề xuất của đề tài
Nội dung:
- Kiểm tra, đánh giá công tác kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng
- Kiểm tra, đánh giá tính khả thi của các biện pháp kiểm tra chuyên môn đã đề xuất
Cách tiến hành:
- Kiểm tra, đánh giá thông qua hồ sơ kiểm tra các nhà trường Kiểm tra, đánh giá trực tiếp, phỏng vấn các Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, Hội đồng
Trang 13giáo viên các nhà trường, lãnh đạo và chuyên viên Sở Giáo dục thông qua phiếu điều tra Từ đó rút ra kết luận đánh giá
7.2.4- Phương pháp chuyên gia:
Mục đích:
Phỏng vấn các chuyên gia có độ sâu về lý luận quản lý và có nhiều kinh nghiệm trong thực tiễn quản lý, kiểm tra chuyên môn ở các trường THPT để đánh giá thực trạng và biện pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng các trường THPT
7.2.5- Phương pháp thống kê toán học:
Cách tiến hành:
- Thống kê các số liệu theo mẫu phiếu điều tra
- Kết luận vấn đề về công tác kiểm tra chuyên môn
8 Đóng góp mới của đề tài nghiên cứu:
Trang 14Đề tài này sẽ đề xuất các biện pháp kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng và giúp cho các Hiệu trưởng trường THPT nhìn rõ mục tiêu của công tác kiểm tra chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục ở các nhà trường
9 Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và khuyến nghị luạn văn được cấu trúc bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm tra chuyên môn của hiệu trưởng trường THPT
Chương 2: Nghiên cứu thực trạng biện pháp kiểm tra chuyên môn của người Hiệu trưởng ở trường THPT trên địa bàn thành phố Nam Định
Chương 3: Một số biện pháp kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Nam Định
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA CHUYÊN MÔN CỦA
HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG THPT
1.1 `TỔNG QUAN VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU:
Đã có nhiều nhà khoa học giáo dục có những công trình nghiên cứu về giáo dục, quản lý giáo dục, vai trò chức năng của người Hiệu trưởng và mới chỉ đề cập tới lĩnh vực kiểm tra đánh giá quá trình dạy - học đặc biệt là quá trình học tập của học sinh
Một số nhà khoa học mới chỉ đề cập tới vai trò, ý nghĩa của hoạt động kiểm tra và coi kiểm tra là một chức năng trong công tác quản lý của nhà quản lý chứ chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập sâu sắc tới vấn đề kiểm tra, kiểm tra chuyên môn của người Hiệu trưởng như: "Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục" của M.I.Konđacốp Công trình nghiên cứu về
"Quản lý giáo dục quốc dân ở địa bàn huyện, quận" của nhà lý luận giáo dục
Xô Viết - Khuđôminsky; công trình nghiên cứu "Những vấn đề cốt yếu của quản lý" của nhà khoa học giáo dục Mỹ - Hanold Koontz
Trang 15Ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về quản lý, quản lý nhà trường nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng của các nhà nghiên cứu khoa học giáo dục, các thầy cô giáo trong nhà trường sư phạm nhưng cũng mới chỉ đề cập tới công tác kiểm tra chuyên môn dưới góc độ chức năng kiểm tra đánh giá công tác quản lý của mỗi nhà quản lý ở từng nhà trường
Trong những năm gần đây một số luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục chuyên ngành quản lý giáo dục bước đầu đã có nghiên cứu tới thực trạng và biện pháp quản lý chuyên môn ở các trường học từ cấp mầm non đến tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông có đề cập tới chức năng kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng như: "Các biện pháp quản lý chuyên môn của Hiệu trưởng các trường tiểu học ở Quảng Nam" - Nguyễn Đăng Hưng (1999);
"Thực trạng và biện pháp quản lý chuyên môn của Hiệu trưởng trường phổ thông trung học miền núi Thanh Hoá nhằm nâng cao kết quả dạy học" - Lương Hữu Hồng (2000); "Một số biện pháp quản lý chuyên môn của Hiệu trưởng nhằm góp phần nâng cao kết quả học tập cho học sinh trung học phổ thông thị xã Sơn La" - Nguyễn Khắc Tâm (2000); "Một số biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn của Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh Bắc Ninh đối với các trường trung học phổ thông ngoài công lập" - Nguyễn Nho Hoài (2004)
Kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng trong các nhà trường là một hoạt động không thể thiếu được nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục trong mỗi nhà trường, đồng thời nó còn mang ý nghĩa quan trọng đó là bồi dưỡng đội ngũ nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực sư phạm cho giáo viên Mặt khác kiểm tra chuyên môn trong nhà trường tạo ra việc thực hiện quy chế, quy định chuyên môn của giáo viên mang tính nghiêm túc, ổn định hơn
Công tác kiểm tra chuyên môn thì gặp nhiều khó khăn về chỉ đạo, tổ chức thực hiện trong mỗi nhà trường
Trang 16Do đó đề tài nghiên cứu này mong muốn qua nghiên cứu thực trạng công tác kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng các trường THPT thành phố Nam Định đề xuất được một số biện pháp kiểm tra chuyên môn có tính hệ thống và khả thi nhằm tăng cường công tác kiểm tra chuyên môn của Hiệu trưởng các trường THPT để nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn ở mỗi nhà trường
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI:
1.2.1 Khái niệm quản lý:
Người ta có thể tiếp cận khái niệm quản lý từ nhiều góc độ khác nhau
Đó là cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra theo góc độ tổ chức, theo góc độ điều khiển học từ quản lý là lái, điều khiển, điều chỉnh
Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản
lý đến khách thể quản lý (hay là đối tượng quản lý) nhằm tổ chức phối hợp hoạt động của con người trông các quá trình sản xuất xã hội để đạt được mục đích nhất định
Các Mác đã lột tả bản chất của quản lý là: "Nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh
từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất khác với sự vận động của các bộ phận riêng lẻ của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng" (C.Mác P.Ăng ghen tập 23, trang 342) Như vậy theo Các Mác quản lý là loại lao động sẽ điều khiển mọi quá trình lao động, phát triển xã hội
PGS Nguyễn Văn Lê - Học viện Chính trị Quốc gia quan niệm: "Quản
lý một cơ sở kinh doanh với tư cách là một hệ thống xã hội, là khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ thống bằng những phương pháp thích hợp, nhằm đạt các mục tiêu đề ra cho hệ và từng thành tố của hệ"
Theo GS Nguyễn Minh Đạo "Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên khách thể và các mặt: chính trị, văn hoá, kinh tế, xã hội, giáo dục bằng một hệ thống các luật định, chính sách,
Trang 17nguyên tắc, phương pháp, biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng"
GS Đặng Vũ Hoạt và GS Hà Thế Ngữ cho rằng: "Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định"
Ý kiến của GS Mai Hữu Khuê "Hoạt động quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt của người lãnh đạo mang tính tổng hợp của các loại lao động trí
óc, liên kết bộ máy quản lý thành một chỉnh thể thống nhất điều hoà phối hợp các khâu và các cấp quản lý làm cho hoạt động nhịp nhàng đưa đến hiệu quả"
Quan điểm của GS Nguyễn Bá Sơn "Quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng một hệ thống các giải pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng, quản lý đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu cuối cùng phục vụ lợi ích của con người"
Hay theo PGS Trần Quốc Thành: "Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý phù hợp với quy luật khách quan" (Bài giảng khoa học quản lý đại cương)
Như vậy, khái niệm quản lý bao gồm những khía cạnh sau:
- Đối tượng tác động của quản lý là một hệ thống xã hội hoàn chỉnh như một cơ thể sống bao gồm nhiều yếu tố liên kết hữu cơ theo một quy luật nhất định tồn tại trong thời gian, không gian cụ thể (gọi là môi trường quản lý)
Hệ thống quản lý gồm các thành tố: chủ thể quản lý, khách thể quản lý,
cơ chế quản lý (hình thức quản lý) và mục tiêu quản lý
- Chủ thể quản lý tạo ra các tác động quản lý, còn khách thể quản lý tạo
ra các sản phẩm có giá trị sử dụng, hiện thực hoá mục tiêu quản lý và thoả mãn mục đích của nhà quản lý Cơ chế quản lý chính là hình thức quản lý những phương thức mà nhờ nó hoạt động quản lý được thực hiện và quan hệ
Trang 18tương tác giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý được vận hành, điều chỉnh để đạt đến mục tiêu quản lý" Có thể mô hình hoá cấu trúc quản lý bằng
sơ đồ sau:
MÔI TRƯỜNG QUẢN LÝ
Sơ đồ 1: Cấu trúc hệ thống quản lý được đặt trong môi trường quản lý
- Mục tiêu cuối cùng của quản lý là chất lượng, sản phẩm vì lợi ích phục vụ con người Người quản lý tựu trung lại là nghiên cứu khoa học, nghệ thuật giải quyết các mối quan hệ giữa con người với nhau vô cùng phức tạp không chỉ giữa chủ thể và khách thể trong hệ thống mà còn có mối quan hệ tương tác với các hệ thống khác cũng song song tồn tại trong môi trường quản lý: Theo công thức Mqh = n(n - 1) trong đó n là số lượng các yếu tố (hay thành viên) tham gia hệ thống Các mối quan hệ này phát sinh rất nhanh theo cấp số nhân Ví dụ: n=3 thì Mqh = 3(3 - 1) = 6, n = 6 thì Mqh = 6(6 - 1) = 30
Ta dễ dàng nhận thấy các yếu tố n tham gia vào hệ thống chỉ tăng lên 2 lần thì tổng các mối quan hệ tăng lên gấp 5 lần
Quản lý theo ý nghĩa của điều khiển học là sự tác động chống lại Entrôpy của một hệ thống nhằm đưa hệ thống đến những mục tiêu xác định
Một cách tổng quát nhất có thể định nghĩa về quản lý như sau: Quản lý
là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra
1.2.2 Khái niệm quản lý giáo dục, quản lý nhà trường:
1.2.2.1 Quản lý giáo dục:
MỤC TIÊU QUẢN LÝ
Chủ thể quản lý Cơ chế quản lý
(Hình thức quản lý) Khách thể quản lý
Trang 19Khoa học quản lý giáo dục là một phân ngành của khoa học quản lý, chính vì vậy cũng như khoa học quản lý, nó được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Với phạm vi của đề tài chúng tôi chỉ xin đề cập tới khái niệm quản
lý giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân mà cốt lõi của hệ thống là cơ sở các trường học
Hiện nay, định nghĩa thế nào là quản lý giáo dục tuy chưa hoàn toàn thống nhất với nhau nhưng đã có nhiều ý kiến cơ bản đồng nhất với nhau
Quản lý giáo dục theo nghĩa rộng nhất là quản lý quá trình hình thành
và phát triển nhân cách con người trong các chế độ chính trị, xã hội khác nhau
mà trách nhiệm là của Nhà nước và hệ thống đa cấp của ngành Giáo dục từ Trung ương đến các địa phương là Bộ Giáo dục, Sở Giáo dục, Phòng Giáo dục và đơn vị cơ sở là các nhà trường
Quản lý giáo dục trên cơ sở quản lý nhà trường là một phương hướng cải tiến quản lý giáo dục theo nguyên tắc tăng cường phân cấp quản lý nhà trường nhằm phát huy tối đa năng lực, trách nhiệm và quyền hạn của mọi cá nhân trong quản lý nhà trường, quản lý giáo dục
Trong tác phẩm "Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục" tác giả M.I.Kônđacốp đã cho rằng: "Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp tổ chức cán bộ giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và
mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng"
Trong tác phẩm "Quản lý giáo dục quốc dân ở địa bàn huyện, quận" Nhà lý luận giáo dục Xô Viết Khuđônninsky đã viết: "Quản lý khoa học hệ thống giáo dục có thể xác định như là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến nhà trường, đến các cơ sở giáo dục) nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục xã hội chủ nghĩa cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của chủ nghĩa xã hội cũng như
Trang 20những quy luật của quá trình xã hội, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em, thiếu niên và thanh niên, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ"
Ở Việt Nam trong quá trình nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận cho quản lý giáo dục nước nhà, nhiều tác giả đã đề cập tới khái niệm quản lý giáo dục
Theo GS Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà mục tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất"
Theo quan điểm của GS Phạm Minh Hạc: "Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy và học có tổ chức được hoạt động dạy và học thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hoá đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước"
Theo GS Đặng Quốc Bảo: "Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội"
Theo PGS - TS Phạm Viết Vượng quan niệm rằng: "Mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và biết phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và của xã hội"
Từ những quan điểm trên có thể hiểu rằng: Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm thúc đẩy mạnh công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội Như vậy quản lý giáo dục là sự tác động có tổ chức có định hướng phù hợp quy luật khách quan của chủ thể quản lý ở các cấp lên đối tượng quản lý nhằm đưa
Trang 21hoạt động giáo dục từng cơ sở trường học và của toàn hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định
Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế
hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến lên trạng thái mới về chất
Trong lý luận và thực tiễn quản lý cũng khẳng định quản lý nhà trường gồm 2 loại quản lý:
- Quản lý của các chủ thể bên trong và bên ngoài nhà trường nhằm định hướng cho nhà trường và tạo điều kiện cho nhà trường hoạt động và phát triển
- Quản lý chính chủ thể bên trong nhà trường, nhằm cụ thể hoá các chủ trương, chính sách giáo dục thành các kế hoạch hoạt động, tổ chức, chỉ đạo
và kiểm tra đưa nhà trường đạt tới mục tiêu đã đạt ra
Trên cơ sở lý luận, chúng ta thấy rằng thực chất của nội dung quản lý dạy học của giáo viên và hoạt động học của học sinh nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong việc hình thành nhân cách của học sinh Trong sự vận hành của hệ thống cơ sở này nó chịu nhiều tác động của các yếu tố khách quan ngoài trường học Hiểu rõ đặc điểm này của quản lý cơ sở trường học sẽ là cơ sở lý luận cần thiết để chúng ta đề ra các biện pháp cụ thể trong kiểm tra chuyên môn - hoạt động chuyên môn của đội ngũ giáo viên
1.2.2.2 Quản lý nhà trường:
Trường học là tổ chức giáo dục cơ sở, là tế bào của hệ thống giáo dục, quản lý nhà trường là bộ phận của quản lý giáo dục Vậy quản lý nhà trường theo quan điểm của GS Phạm Minh Hạc: "Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vào vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục đào tạo đối với ngành Giáo dục với thế hệ trẻ và từng học sinh"
Trang 22Nói một cách cụ thể hơn theo GS Nguyễn Ngọc Quang là: "Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp .) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu
tư, lực lượng xã hội đóng góp, do lao động xây dựng và vốn lao động tự có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới
Quản lý nhà trường bao gồm hai loại tác động sau:
Tác động chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà trường (đó là những tác động quản lý của các cơ quan quản lý giáo dục cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập, giáo dục của nhà trường hoặc những chỉ dẫn, những quyết định của các thực thể bên ngoài nhà trường nhưng có liên quan trực tiếp đến nhà từơng như cộng đồng được đại diện dưới hình thức Hội đồng Giáo dục nhằm định hướng sự phát triển của nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó) Tác động của những chủ thể bên trong nhà trường (bao gồm các hoạt động: Quản lý giáo viên, quản lý học sinh, quản lý quá trình dạy học giáo dục, quản lý cơ sở vật chất trang thiết bị trường học, quản lý tài chính trường học, quản lý mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng)
Qua đó ta thấy quản lý nhà trường chính là quản là giáo dục trong một phạm vi định nhà trường là cơ sở của hệ thống giáo dục Vì vậy quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý đồng thời có những nét riêng mang đặc thù của quản lý giáo dục Do
đó quản lý nhà trường cần vận dụng tất cả các nguyên lý chung của quản lý giáo dục để đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo
Tóm lại, nhà trường là một thành tố cơ bản của hệ thống giáo dục nên quản lý nhà trường cũng được hiểu như là một bộ phận của quản lý giáo dục Thực chất của quản lý nhà trường, suy cho cùng là tạo điều kiện cho các hoạt
Trang 23động trong nhà trường (mà trọng tâm bao trùm mọi hoạt động là hoạt động dạy - học) vận hành theo đúng mục tiêu tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1.2.3 Khái niệm quản lý chuyên môn:
Quản lý chuyên môn là: Hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch việc thực hiện quy chế chuyên môn hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ điều hành theo đường lối, theo nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện ược các tính chất của nhà trường xã họi chủ nghĩa Việt Nam
Quản lý chuyên môn là quản lý việc thực hiện quy chế chuyên môn trong nhà trường đó là:
Chuẩn bị giáo án:
Đảm bảo soạn đủ số lượng giáo án (1 giáo án/ giờ dạy)
- Thể hiện rõ các bước lên lớp trong giáo án
- Xây dựng đủ kiến thức kỹ năng cơ bản, có liên hệ với thực tế
- Nêu cụ thể công việc trên lớp của thầy và trò
Thực hiện chương trình giảng dạy:
Thực hiện đúng phân phối chương trình và giảng dạy theo đúng nội dung theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy - học
Kiểm tra, chấm và chữa bài:
- Đủ số lượng bài theo phân phối chương trình
- Đề kiểm tra phù hợp với yêu cầu chương trình
- Chấm và chữa bài công bằng, chu đáo
Chấm bài chính xác theo biểu điểm
Khi chấm có chữa bài
Có nhận xét và lời khuyên
Thực hành thí nghiệm - sử dụng đồ dùng:
Đảm bảo thực hành đẩy đủ thí nghiệm theo quy định
Sử dụng đồ dùng một cách hiệu quả trong giờ dạy
Bồi dưỡng, tự bồi dưỡng:
Trang 24Tham gia bồi dưỡng theo kế hoạch và tự bồi dưỡng thường xuyên
1.2.4 Khái niệm kiểm tra và đánh giá trong quản lý giáo dục:
Có quan niệm cho rằng: "Kiểm tra là một quá trình thông qua đó người quản lý bảo đảm cho hoạt động hiện tại diễn ra phù hợp với hoạt động đã được kế hoạch hoá"
Đây là một cách xác định ngắn gọn về kiểm tra song nó gợi lên vấn đề
về mục đích kiểm tra mà chưa chỉ rõ kiểm tra là gì, kiểm tra bao gồm những yếu tố nào ?
Một cách cụ thể hơn, có tác giả cho rằng: "Kiểm tra là xem xét thực để tìm ra những sai lệch so với quyết định, kế hoạch và chuẩn mực đã quy định; phát hiện ra trạng thái thực tế; so sánh trạng thái đó với khuôn mẫu đã đặt ra; khi phát hiện ra những sai sót thì cần phải điều chỉnh, uốn nắn và sửa chữa kịp thời" Cách xác định này đã nêu ra được nhiều yếu tố của kiểm tra trong quá trình quản lý, song ở đây tác giả chưa chỉ rõ những yếu tố cơ bản, đặc trưng của kiểm tra và sắp xếp theo một trật tự logic hợp lý
`Sơ đồ 2: Mối quan hệ giữa chức năng kiểm tra với chức năng quản lý khác
Từ những vấn đề nêu trên, có thể xác định nội hàm của kiểm tra như sau:
Lập kế hoạch
Thông tin
Kiểm tra
Tổ chức Chỉ đạo
Trang 25Kiểm tra trong quản lý là một hệ thống những hoạt động bao gồm:
a) Đánh giá thành tích:
- Xác định những chuẩn mực và phương pháp đo thành tích
- Thiết kế hệ thống thông tin liên hệ nghịch đo thành tích
- So sánh sự phù hợp của thành tích đã đạt với những chuẩn mực đã dự kiến
b) Phát hiện những lệch lạc:
- Sự phát hiện kịp thời những sai lệch, thiếu sót so với mục tiêu dự kiến
- Đo lường chính xác những sai lệch, thiếu sót
- Tìm nguyên nhân những sai lệch, thiếu sót
c) Điều chỉnh:
- Phát huy những ưu điểm
- Uốn nắn những sai lệch, thiếu sót
đồ sau:
Sơ đồ 3: Các yếu tố cơ bản của quá trình kiểm tra
Từ cách trình bày trên có thể rút gọn định nghĩa kiểm tra như sau: Kiểm tra trong quản lý là hệ thống những hoạt động đánh giá - phát hiện -
Xác lập chuẩn
và phương pháp
đo thành tích
Đo thành tích
So sánh thành tích có phù hợp với chuẩn không
Xử
lý không
Phát huy
Có
Có thể Uốn nắn
Trang 26điều chỉnh nhằm đưa toàn bộ hệ thống được quản lý tới mục tiêu dự kiến và đạt trình độ chất lượng cao hơn
Phân biệt các loại hình kiểm tra trong quản lý:
Trong lý luận và thực tiễn quản lý, có một số khái niệm gần gũi nhau cần phải phân biệt để tránh sai lầm, đó là: kiểm tra, thanh tra, giám sát
Tất cả các khái niệm đó đều có cùng một chức năng như nhau là đánh giá, phát hiện lệch lạc và điều chỉnh, uốn nắn Nhưng tuỳ theo việc đánh giá
đó diễn ra ở thời điểm nào của quá trình quản lý và do ai thực hiện mà phân biệt chúng:
- Kiểm tra sơ bộ: Diễn ra khi chuẩn bị kế hoạch hoá, lúc chuẩn đoán để xác định trạng thái xuất phát của hệ
- Kiểm tra cuối cùng: Đánh giá trạng thái kết thúc của hệ ở giai đoạn cuối cùng của chu kỳ quản lý
- Giám sát: Là kiểm tra hay đánh giá thường xuyên lúc hệ đang vận hành, bất cứ ai trong hệ quản lý cũng có quyền giám sát người khác theo tinh thần dân chủ hoá quản lý
- Thanh tra: Là kiểm soát, xét tại chỗ những việc làm của cơ quan (tổ chức) để đánh giá việc thi hành pháp luật, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý vi phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực hoạt động (Cũng có chức năng như kiểm tra, giám sát nhưng do chủ thể bên ngoài hệ thực hiện đối với hệ)
Đánh giá là đưa ra một phán xét về giá trị đạt được so với chuẩn mực Theo định nghĩa trên thì đánh giá không chỉ giới hạnh trong phạm vi của một biên bản đơn thuần mà nó còn góp phần cải thiện các đối tượng đánh giá, giúp cho sự lựa chọn quyết định
Trong hệ thống giáo dục, đánh giá là một công cụ thiết yếu hướng tới hiệu quả, nhằm phù hợp với thực tế địa phương, giảm bớt chi phí, thoả mãn các yêu cầu cấp bách về kinh tế Hệ thống giáo dục giống như mọi hệ thống
Trang 27khác phải đảm bảo sự cân đối, một bên là hiệu quả đầu tư nhân lực, vật lực; còn một bên là duy trì, thích ứng và phát triển
Khái niệm đánh giá trong lĩnh vực giáo dục còn tương đối mới Nó ra đời là do nhu cầu cần phải xem xét lại toàn bộ các yếu tố, từ mục tiêu cuối cùng cần đạt được cho đến phương pháp và nội dung chương trình trên một quan điểm hết sức khoa học nhằm mục đích tăng cường tính dân chủ hoá giáo dục và phát huy ngày càng tốt hơn toàn bộ tiềm năng của giáo viên và học sinh Các thao tác đánh giá đang dần dần trở thành phổ biến trong hệ thống giáo dục Để đạt được sự hoàn thiện về các tiêu chuẩn đánh giá cần phải nghiên cứu tìm ra được các cách đo lường, cách nhận biết và định các giá trị chất lượng thực của mỗi hoạt động trong nhà trường
Kiểm tra trực tiếp: Là hình thức kiểm tra mà cá nhân người kiểm tra trực tiếp tiếp xúc với đối tượng được kiểm tra để tiến hành kiểm tra
Ví dụ: Hiệu trưởng kiểm tra bài soạn của giáo viên, dự giờ 1 tiết dạy (kiểm tra chuyên đề); dự 3 tiết dạy (kiểm tra toàn diện), ra đề khảo sát kết quả dạy-học
Kiểm tra gián tiếp: Là hình thức kiểm tra mà người (một hoặc nhiều) kiểm tra không trực tiếp tiếp xúc với đối tượng được kiểm tra mà kiểm tra đối tượng thông qua công cụ, phương tiện, kết quả, tác động của đối tượng được kiểm tra để đánh giá đối tượng
Ví dụ: Hiệu trưởng lập các phiếu điều tra về giảng dạy của giáo viên,
về việc chấm bài, thông qua phỏng vấn học sinh, xem xét vở ghi của học sinh
Kiểm tra hỗn hợp: Là hình thức kiểm tra mà nhiều người kiểm tra cùng phối hợp kiểm tra một nội dung, hoặc mỗi người kiểm tra một phần nội dung kiểm tra của đối tượng được kiểm tra
Ví dụ: Hiệu trưởng cùng Phó hiệu trưởng, tổ trưởng, tổ phó dự giờ của giáo viên, cùng kiểm tra bài soạn của giáo viên, cùng chấm lại 1 bài kiểm tra của một lớp
Trang 281.3 Kiểm tra, đánh giá trong quản lý giáo dục:
Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trường THPT nói chung và hiệu quả quản lý giáo viên THPT thực hiện quy chế chuyên môn nói riêng Hiệu trưởng trường THPT cần nắm vững cơ sở ơháp lý qua nhiệm vụ năm học mà
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề ra; các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Quốc hội; chương trình hành động, nghị định của Chính phủ liên quan đến vấn đề này
Vai trò của kiểm tra, đánh giá trong quản lý giáo dục được thể hiện qua các văn bản gần đây nhất như:
* Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo về nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành năm học 2002 - 2003 ngày 01/8/2002
Có 5 nhiệm vụ trọng tâm trong đó nhiệm vụ trọng tâm thứ 5 là: Tiếp tục chấn chỉnh và tăng cường nề nếp, kỷ cương; kiện toàn cơ bản cơ quan quản lý giáo dục các cấp; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về giáo dục
* Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo về nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành năm học 2003 - 2004 ngày 01/8/2003
Có 6 nhiệm vụ trọng tâm trong đó nhiệm vụ trọng tâm thứ 6 là: Tiếp tục đổi mới quản lý giáo dục, tăng cường nề nếp, kỷ cương, ngăn chặn, khắc phục các hiện tượng tiêu cực trong lĩnh vực giáo dục
* Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo về nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành năm học 2004 - 2005 ngày 02/8/2004
Có 7 nhiệm vụ trọng tâm trong đó:
Nhiệm vụ thứ 2 là: Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
Nhiệm vụ thứ 7 là: Thực hiện cải cách hành chính, đổi mới công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực giáo dục
Trang 29* Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo về nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành năm học 2005 - 2006 ngày 15/8/2005
Có 7 nhiệm vụ trọng tâm trong đó:
Nhiệm vụ thứ 6 là: Khẩn trương xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục; tích cực đổi mới công tác thi, kiểm tra, đánh giá quá trình dạy và học
Nhiệm vụ thứ 7 là: Đổi mới mạnh mẽ công tác quản lý Nhà nước về giáo dục; tăng cường công tác thanh tra giáo dục; đẩy mạnh cải cách hành chính trong các cơ quan quản lý giáo dục, nhà trường và các cơ sở giáo dục
* Chỉ thị 40-CT/TW của Ban Bí thư ngày 15 tháng 6 năm 2004 "Về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục"
Sau khi nêu tầm quan trọng, thực trạng chất lượng của đội ngũ nhà giáo
và cán bộ quản lý giáo dục hiện nay chỉ thị nêu:
Mục tiêu là xây đựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Để đạt mục tiêu trên chỉ thị yêu cầu thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:
- Củng cố, nâng cao chất lượng hệ thống các trường sư phạm, các trường cán bộ quản lý giáo dục
- Tiến hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng bảo đảm đủ số lượng và cân đối về cơ cấu; nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý
Trang 30- Đẩy mạnh việc đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục theo hướng hiện đại và phù hợp với thực tiễn Việt Nam
- Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
- Xây dựng và hoàn thiện một số chính sách, chế độ đối với đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục
Các nhiệm vụ nêu trong chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo
về nhiệm vụ của toàn ngành và Chỉ thị 40-CT/TW của Ban Bí thư bao quát nhiệm vụ của toàn ngành trong đó đều có nêu yêu cầu, phạm vi trách nhiệm của Hiệu trưởng để nâng cao hiệu quả quản lý thực hiện quy chế chuyên môn
ở trường THPT
Hệ thống lý luận và thực tiễn quản lý nói chung đã khẳng định: Quản lý
mà không kiểm tra thì xem như không lãnh đạo Kiểm tra, đánh giá là chức năng vô cùng quan trọng xuất hiện từ giai đoạn chuẩn bị lập kế hoạch cho đến khi kết thúc chu trình quản lý Kiểm tra, đánh giá của hoạt động quản lý nhằm các mục đích:
- Tìm hiểu xem các mục tiêu, các quyết định được thực hiện như thế nào ? đến đâu ? phát hiện kịp thời những hiện tượng lệch lạc, trì trệ và các nguyên nhân để kịp thời đề ra các biện pháp khắc phục chúng
- Thu thập thông tin từ các mối liên hệ ngược về tình trạng hoạt động của nhà trường, về hiệu quả của các quyết định, các kế hoạch, các biện pháp để kịp thời có những quyết định mới nhằm thực hiện mục tiêu đã xác định
- Tác động kịp thời đúng lúc đến hoạt động của giáo viên nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, động viên, khích lệ tính tích cực, sáng tạo của họ đưa nhà trường đến một mục tiêu, dự kiến tốt hơn
Trang 31Vậy: Kiểm tra là quá trình thiết lập các tiêu chuẩn đo lường kết quả, thực hiện mục tiêu, phân tích và điều chỉnh các sai lệch nếu có nhằm đạt tới các kết quả mong muốn
Kiểm tra thực chất là thu nhập các thông tin phản hồi từ phía đối tượng quản lý để biết kết quả hoạt động của nhà trường, kịp thời điều chỉnh các sai lệch, làm cho hoạt động của nhà trường đạt hiệu quả, đạt mục đích đề ra
1.3.1 Chức năng kiểm tra đánh giá:
- Thu thập thông tin một cách có hệ thống, chính xác, khách quan làm biểu lộ những bản chất và kết quả đạt được trong từng bộ phận hay toàn cục,
ở từng thời điểm hay cả quá trình của một chu kỳ
- Kiểm tra bao giờ cũng đi đôi với đánh giá, kiểm tra mà không đánh giá cũng như không kiểm tra và cũng như coi không quản lý Đánh giá nhằm khẳng định chất lượng, hiệu quả từng mặt, từng bộ phận, từng cá nhân Riêng đối với giáo dục nói chung, nhà trường nói riêng đánh giá nhằm vạch ra những ưu điểm và những tồn tại trong Giáo dục - Đào tạo, trong lao động dạy
và học Đánh giá để giúp thầy và trò khẳng định kết quả lao động của mình từ
đó vạch ra kế hoạch hoạt động cho giai đoạn tiếp theo
1.3.2 Yêu cầu của kiểm tra, đánh giá giáo dục:
- Đối với giáo dục công việc kiểm tra phải được thiết kế theo kế hoạch hoạt động của nhà trường, tuỳ theo kế hoạch hoạt động của nhà trường mà xây dựng kế hoạch kiểm tra cho phù hợp, tuỳ theo bản chất hoạt động của nhà trường mà xây dựng những nội dung kiểm tra cụ thể
Có rất nhiều hình thức, biện pháp kiểm tra trong nhà trường, song cần phải chú ý các yêu cầu cơ bản sau:
- Kiểm tra bao giờ cũng phải đi theo hoạt động đánh giá kiểm tra không
có đánh giá hoặc kiểm tra mà không đánh giá được cũng coi như thiếu sự quản lý lãnh đạo
- Kiểm tra phải dựa vào các quy định, quy tắc, chế độ, các chỉ tiêu kế hoạch để kiểm tra có nghĩa là dựa vào những tiêu chí có tính chất pháp quy
Trang 32Nếu các quy định, chỉ tiêu đã lạc hậu thì cần có sự thay đổi trước khi tiến hành kiểm tra
- Có nhiều cách kiểm tra nhưng tốt nhất là đến tận nơi, xem tại chỗ
- Muốn kiểm tra thì người kiểm tra phải thông thạo chuyên môn đặc biệt phải có phẩm chất trung thực, khách quan
- Trong kiểm tra phải tôn trọng công việc và phải chú ý đến đặc điểm riêng của người đi kiểm tra và người được kiểm tra
- Kịp thời tìm ra các nguyên nhân sai lệch và có thiện chí giúp người có sai sót để khắc phục sửa chữa Khi kiểm tra phải linh hoạt, không máy móc
- Có thể kiểm tra để ngăn ngừa, ngăn chặn sai sót có thể xảy ra Không
để sai sót xảy ra rồi mới kiểm tra
- Kiểm tra phải phù hợp với bầu không khí tâm lý của nhà trường, động viên, khuyến khích kịp thời để tạo bầu không khí thuận lợi cho hoạt động của nhà trường
- Mọi vấn đề kiểm tra phải tiến hành ghi chép đầy đủ, chính xác, nghiêm túc, phải có biên bản đầy đủ Kiểm tra phải tiết kiệm, chống lãng phí
- Cần phân biệt việc kiểm tra một công việc cụ thể khác với sự đánh giá con người cụ thể Bởi vì khi kiểm tra, đánh giá công việc cần phải dựa vào các tiêu chí, các tiêu chuẩn để đánh giá cái được, cái chưa được nhưng khi đánh giá con người còn phải theo quan điểm phát triển Đó là tiêu chuẩn ICPP
I: Input: đầu vào, là trình độ năng lực, phẩm chất ban đầu
C: Context: hoàn cảnh, là điều kiện môi trường sống, học tập, rèn luyện P: Process: quá trình, thời gian sống, học tập, rèn luyện, công tác
P: Product: sản phẩm, là kết quả về trình độ, năng lực, phẩm chất so với đầu vào
1.3.3 Các kỹ thuật kiểm tra:
- Lựa chọn vấn đề, nội dung kiểm tra
Trang 33- Xây dựng các tiêu chuẩn: Căn cứ vào các chỉ tiêu kế hoạch, căn cứ vào các yêu cầu quản lý để định ra các tiêu chuẩn kiểm tra
- Xây dựng kế hoạch kiểm tra: Kiểm tra cái gì ? Để làm gì ? Bằng hình thức nào ? Ai kiểm tra ? Bắt đầu từ đâu ?
- Sau đó tiến hành kiểm tra:
+ Nghe báo cáo, xem xét sổ sách, hồ sơ, văn bản lưu trữ
+ Quan sát thực tế, cân đong đo đếm các sản phẩm do bộ máy làm ra + Kiểm tra chất lượng sản phẩm và quy trình đạt sản phẩm
- So sánh kết quả đạt được với yêu cầu, tiêu chuẩn để kết luận về hiện trạng của đối tượng được kiểm tra Chỉ ra các sai lệch và phân tích các nguyên nhân sai lệch, đi đến đánh giá chính thức về đối tượng được kiểm tra
- Lập kế hoạch, chương trình khắc phục sai lệch nếu có
- Tiến hành khắc phục các sai lệch nhằm đưa hoạt động của nhà trường tốt hơn
Sơ đồ 4: Các hoạt động trong quá trình kiểm tra
1.3.4 Nội dung kiểm tra của Hiệu trưởng trong nhà trường được tập trung vào các mặt cụ thể sau:
* Về kế hoạch kiểm tra:
a Kế hoạch kiểm tra toàn năm:
Trong kế hoạch này được ghi toàn bộ các đầu việc theo trình tự thời gian từ tháng 9 năm trước đến tháng 5 năm sau Dựa vào kế hoạch năm để tiến hành chỉ đạo kiểm tra cụ thể từng tháng, từng tuần
Xác định các
sai lệch
So sánh với các tiêu chuẩn
Đo lường kết quả thực tế
Kết quả thực tế
Phân tích các
nguyên nhân sai
Chương trình hoạt động điều chỉnh
Thực hiện các điều chỉnh mong muốn Kết quả
Trang 34b Kế hoạch kiểm tra tháng:
Nội dung kiểm tra mỗi tháng dựa vào các đầu việc của kế hoạch kiểm tra cả năm nhưng cần chi tiết hơn Không chỉ ghi đầu việc mà phải chỉ rõ đích danh, thời gian tiến hành Sao cho các đối tượng được kiểm tra có ý thức chủ động kiểm tra phòng ngừa và tự kiểm tra phần việc của họ
c Kế hoạch kiểm tra trong tuần:
Nội dung kiểm tra trong tuần được ghi chi tiết:
- Người và đơn vị được kiểm tra
- Nội dung kiểm tra chi tiết
- Người được tham gia lực lượng kiểm tra
- Thời gian kiểm tra, thời gian hoàn thành
Lịch kiểm tra hàng tuần được ghi công khai trên bảng công tác tuần trong phòng họp hội đồng Các kết quả kiểm tra được công bố và được lưu hồ
sơ đầy đủ
* Về lực lượng kiểm tra:
Trong trường học có nhiều đối tượng kiểm tra, do tính chất đa dạng và phức tạp, thường Hiệu trưởng không đủ thông thạo về nhiều bộ môn, nhiều thời gian để trực tiếp kiểm tra trong trường Hiệu trưởng phải xây dựng được ban chuyên môn gồm đội ngũ cốt cán các phân môn để thực hiện chức năng kiểm tra, lực lượng này phải bao gồm nhiều thành phần, đảm bảo tính khoa học, tính dân chủ Lực lượng kiểm tra trong nhà trường phải đạt các yêu cầu:
- Hiệu trưởng quyết định thành lập Ban kiểm tra do Hiệu trưởng làm trưởng ban
- Thành viên Ban kiểm tra phải là người thông thạo chuyên môn nghiệp vụ: Giỏi về nghề, tốt về đức, sáng suốt và linh hoạt trong công việc
- Các thành viên trong Ban kiểm tra được phân công cụ thể phần việc được giao, xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn và quyền lợi, được hướng dẫn đầy đủ về mục đích, yêu cầu, nội dung và nghiệp vụ kiểm tra
Trang 35* Hiệu trưởng chỉ đạo kiểm tra các hoạt động chính trong nhà trường gồm các nội dung sau:
a Nội dung kiểm tra giáo viên:
Yêu cầu kiểm tra giáo viên là đi sâu kiểm tra 4 nội dung lớn sau:
- Trình độ nghiệp vụ
- Việc thực hiện quy chế chuyên môn
- Kết quả giảng dạy
- Việc tham gia các công tác khác
b Nội dung kiểm tra tổ chuyên môn:
Yêu cầu kiểm tra tổ chuyên môn là giúp Hiệu trưởng thấy được mối quan hệ hoạt động của tập thể sư phạm và mối quan hệ tác động của tập thể
đó đối với học sinh, thấy được tính thống nhất và tính hợp tác của mỗi giáo viên trong tập thể
Nội dung kiểm tra cụ thể là: Trình độ hoạt động tập thể thông qua kế hoạch tổ chức và chỉ đạo thực hiện, các hồ sơ chuyên môn thông qua các buổi sinh hoạt khoa học, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; kiểm tra đánh giá vai trò, năng lực của các tổ chuyên môn, cũng thông qua việc kiểm tra tổ chuyên môn để hiểu sâu hơn từng giáo viên trong tổ đó
c Nội dung kiểm tra học sinh:
Mọi kết quả hoạt động sư phạm của giáo viên được phản ánh vào trình
độ được giáo dục của học sinh, kiểm tra học sinh là để so sánh với mục tiêu đào tạo của trường, nó cũng giúp Hiệu trưởng nhận biết sự tác động của tập thể sư phạm có đồng bộ hay không
Nội dung kiểm tra học sinh căn cứ vào 2 mặt sau đây:
- Trình độ được giáo dục về tư tưởng, đạo đức, tác phong (còn gọi là hạnh kiểm)
- Trình độ tiếp thu và năng lực tự giác nghiên cứu khoa học, kỹ thuật (còn gọi là văn hoá)
d Nội dung kiểm tra cơ sở vật chất, thiết bị:
Trang 36Nội dung kiểm tra cơ sở vật chất, thiết bị tập trung vào các mặt sau:
- Cơ sở, nhà cửa, phòng làm việc, lớp học
- Các trang thiết bị trong phòng học và phòng làm việc như bàn, ghế, bảng
- Các thiết bị trong phòng thí nghiệm
- Các loại máy móc ở xưởng thực hành
- Thư viện nhà trường gồm phòng đọc, phòng mượn, kho sách
e Nội dung kiểm tra công tác hành chính quản trị:
Nội dung công tác hành chính quản trị trong nhà trường THPT có một
số công việc chủ yếu sau:
- Phục vụ quá trình quản lý dạy - học, các loại hồ sơ học sinh
- Phục vụ quá trình quản lý tổ chức - nhân sự
- Phục vụ quá trình quản lý tài lực, vật lực
- Phục vụ quá trình quản lý môi trường quản lý
g Nội dung kiểm tra công tác quản lý tài chính:
Nội dung công tác quản lý tài chính gồm các nội dung:
- Quản lý các loại phiếu thu, chi và các loại hoá đơn chứng từ khác phải theo đúng mẫu của Bộ Tài chính
- Quản lý quỹ tiền mặt
Nhiệm vụ tư vấn: Đưa ra lời khuyên phù hợp về những kinh nghiệm và
biện pháp quản lý để đạt được các mục tiêu giáo dục của nhà trường trong bối cảnh cụ thể
Nhiệm vụ thúc đẩy: Nhằm kích thích, phát hiện và phổ biến kinh
nghiệm đồng thời kiến nghị với nhà trường và các cấp quản lý điều chỉnh
Trang 37công tác quản lý, nhằm dần hoàn thiện công tác quản lý của Hiệu trưởng, phát triển nhà trường, góp phần phát triển hệ thống giáo dục
1.3.5 Một số đặc điểm của công tác kiểm tra ở nhà trường:
Đặc điểm của công tác kiểm tra đánh giá ở nhà trường:
Nhà trường cũng như những hệ hoạt động xã hội khác, khi tiến hành kiểm tra, đánh giá cũng có những mục đích, nội dung, chương trình và yêu cầu cơ bản đã nêu ở trên Tuy nhiên tuỳ theo bản chất hoạt động các mặt trong nhà trường: Xây dựng trường sở, mua sắm trang thiết bị, hoạt động kinh
tế, hoạt động dạy của thầy, hoạt động của trò mà xây dựng nội dung kiểm tra, đánh giá khác nhau Nhưng kiểm tra đánh giá chất lượng giảng dạy, học - giáo dục của thầy và trò là hoạt động chủ yếu và thường xuyên trong nhà trường
Nội dung kiểm tra quá trình dạy học - giáo dục chính là việc đánh giá quá trình thực hiện mục tiêu kế hoạch năm học, quy chế chuyên môn, nề nếp dạy và học, hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường
Yêu cầu cơ bản của công tác kiểm tra đánh giá trong nhà trường là: Tập trung kiểm tra trực tiếp kết quả lao động dạy và học của giáo viên và học sinh
là chính Lấy mục tiêu giáo dục làm đích kiểm tra
So sánh đặc điểm kiểm tra đánh giá ở nhà trường với kiểm tra đánh giá
ở các tổ chức xã hội khác:
Giống nhau: Nhà trường cũng như các đơn vị hành chính sự nghiệp khác trong xã hội đều có chung các mục đích, yêu cầu, nội dung, chương trình của công tác kiểm tra đánh giá trong hoạt động quản lý
Khác nhau:
- Do chức năng giáo dục của nhà trường đó là: Truyền thụ tri thức, tổ chức quá trình giáo dục (quá trình dạy học và giáo dục); giáo dục nên mục đích của kiểm tra đánh giá trong nhà trường đó là lấy mục tiêu giáo dục, giáo dưỡng làm đích kiểm tra
Trang 38- Do mục đích, kế hoạch, nội dung, chương trình hành động của nhà trường khác với mục đích, kế hoạch, nội dung, chương trình của các tổ chức
xã hội khác như đơn vị kinh tế, đơn vị quản lý nhân sự nên khi kiểm tra, đánh giá trong nhà trường phải dựa vào các mục tiêu quy định, quy tắc, tiêu chuẩn các tiêu chí có ý nghĩa pháp quy của nhà trường, của ngành Giáo dục làm cơ sở, điều kiện để phân tích và đối chiếu khi kiểm tra
- Kiểm tra, đánh giá, xếp loại con người một cách toàn diện là công việc hết sức phức tạp bởi vì bản chất, nhân cách con người là một tổ hợp rất nhiều phẩm chất, rất nhạy cảm có thể thay đổi trong rất nhiều điều kiện, hoàn cảnh khác nhau nên phương pháp kiểm tra, đánh giá trong các nhà trường phải hết sức khoa học, chính xác và khách quan
Thực chất của quản lý nhà trường, suy cho cùng là tạo điều kiện cho các hoạt động trong nhà trường (mà trọng tâm bao trùm mọi hoạt động là hoạt động dạy - học) vận hành theo đúng mục tiêu tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Kiểm tra, đánh giá là chức năng vô cùng quan trọng xuất hiện từ giai đoạn tiền kế hoạch cho đến khi kết thúc chu trình quản lý
Kiểm tra, giám sát, thanh tra giống nhau về chức năng kiểm tra, đánh giá nhưng khác nhau ở đối tượng thực hiện: Kiểm tra do một bộ phận quản lý trong hệ thực hiện; Giám sát là bất cứ đối tượng nào trong hệ thống cũng được thực hiện; Thanh tra do chủ thể bên ngoài thực hiện
Trang 39Tính đặc thù của quản lý giáo dục trong nhà trường nói chung làm cho
nó phân biệt hẳn với mọi loại quản lý hệ xã hội khác (cơ quan kinh tế, cơ quan hành chính sự nghiệp khác ) trước hết bởi sự quy định về bản chất lao động trí óc, lao động sư phạm của người giáo viên, bản chất của quá trình dạy học - giáo dục mà trong đó học sinh là đối tượng bị quản lý nhưng cũng là chủ thể tự quản lý trong quá trình học tập, rèn luyện, phát triển nhân cách
Mặt khác, từ sự khác nhau về mục đích, chức năng giáo dục, nội dung chương trình giáo dục của nhà trường nên dẫn đến nhà trường là đơn vị hành chính sự nghiệp nhưng nhiệm vụ kiểm tra, nội dung kiểm tra, hình thức, biện pháp kiểm tra sẽ khác nhau so với các đơn vị hành chính sự nghiệp khác
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KIỂM TRA CHUYÊN MÔN CỦA NGƯỜI HIỆU TRƯỞNG Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG TẠI THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
2.1.THỤC TRẠNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC THPT Ở TP NAM ĐỊNH
2.1.1 Các chủ trương phát triển giáo dục của Đảng bộ, chính quyền địa phương
Ngay sau khi Trung ương Đảng có Nghị quyết 02 khoá VIII về giáo dục và đào tạo thì Tỉnh Uỷ nam Định cũng có nghị quyết số 05 về phát triển giáo dục và đào tạo Trong đó đề ra những chủ trương phát triển nhanh hơn để sớm đạt các mục tiêu của toàn quốc
Năm 1991: đạt chuẩn quốc gia về xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học Năm 1999: Đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi Năm 2001: Đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục trung học cơ sở Tính đến thời điểm tháng 10/2004 Nam Định đã có các trường đạt chuẩn quốc
Trang 40gia Bình quân hằng năm Nam Định có trên 70 giải thi học sinh giỏi quốc gia,
có giải thi học sinh giỏi khu vực và quốc tế Liên tục 12 năm học Nam Định
được Bộ giáo dục và Đào tạo tặng cờ đơn vị dẫn đầu Liên tục 14 năm
nghành GD-ĐT được UBND tỉnh tặng “Cờ thi đua xuất sắc”
Trong ba năm qua UBND thành phố tập trung chỉ đạo các trọng tâm phát triển kinh tế xã hội: Như kiên cố hoá kênh mương và đường giao thông,
Xây dựng thêm nhiều trường chuẩn quốc gia, xây dựng thêm nhiều địa bàn,
khu văn hoá Đảng bộ và chính quyền đang tập trungcao nhất khả năng của
mình cho việc thực hiện đề án xây dựng các trường chuẩn quốc gia
Sự quan tâm của toàn dân đến giáo dục cũng đang ở thời kỳ tốt nhất
Giáo dục và đào tạo đã được toàn Đảng, toàn dân và các bậc phụ huynh ý
thức được là “Quốc sách hàng đầu” Việc xây dựng các trường chuẩn quốc
gia đã phát triển thành phong trào Kết quả xây dựng cơ sở vật chất trường
học trong 5 năm qua đã đạt cao hơn 10 năm trước đó
2.1.2 Thực trạng phát triển giáo dục THPT ở TP Nam Định 2.1.2.1 Đội ngũ cán bộ, giáo viên, học sinh:
Để khảo sát tình hình đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh tôi khảo sát 12 trường THPT trong thành phố Sau đây là thống kê đội ngũ cán
bộ, giáo viên, học sinh của các trường THPT ở thành phố Nam Định:
lớp
GV hợp đồng
Số
GV cần