Là học viên cao học đã được học một số môn liên quan và tôi cũng muốn thử sức mình trong lĩnh vực khoa học có nhiều ứng dụng này vì thế tôi lựa chọn đề tài:”Nội suy ảnh sử dụng các ràng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
NGUYỄN THÀNH TRUNG
NỘI SUY ẢNH
SỬ DỤNG CÁC RÀNG BUỘC HÌNH HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.LÊ VŨ HÀ
HÀ NỘI – 2011
Trang 33 LỜI MỞ ĐẦU
Sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ đem lại cho con người cuộc
sống ngày càng tốt hơn Trong sự phát triển đó có thể dễ dàng nhận ra sự có mặt của các
công trình khoa học liên quan đến lĩnh vực điện tử viễn thông và công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin và truyền thông trong đó có lĩnh vực xử lý ảnh đã đóng góp một
phần quan trọng, làm thay đổi căn bản, nâng cao chất lượng đời sống của con người
Chính vì lẽ đó có rất nhiều nhà khoa học dành thời gian để nghiên cứu về lĩnh vực này Là
học viên cao học đã được học một số môn liên quan và tôi cũng muốn thử sức mình trong
lĩnh vực khoa học có nhiều ứng dụng này vì thế tôi lựa chọn đề tài:”Nội suy ảnh sử dụng
các ràng buộc hình học” với mong muốn tiếp cận và dần dần có những công trình khoa
học có giá trị phục vụ cuộc sống của con người
Mục tiêu của luận văn là:
1 Tìm hiểu một số phương pháp nội suy
2 Cài đặt thử nghiệm, đánh giá một giải thuật nội suy
Tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình với nội dung chính sau:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về một số phương pháp nội suy
Chương 3: Thực nghiệm
Mặc dù đã rất cố gắng để hoàn thành luận văn tốt nghiệp đặc biệt là giai đoạn hoàn
thiện Tuy nhiên tôi cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót, sai sót Kính mong nhận
được sự góp ý chân thành của các Thày cô, anh chị, bè bạn để tôi khắc phục và hoàn thiện
hơn luận văn tốt nghiệp của mình
Trang 44 MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 6
1.1 Tổng quan về xử lý ảnh 6
1.1.1 Lịch sử về xử lý ảnh 6
1.1.2 Các bước cơ bản trong xử lý ảnh 8
1.2 Vấn đề nội suy trong xử lý ảnh 11
1.2.1 Sơ lược về một số phương pháp nội suy truyền thống 12
1.2.2 Nội suy theo hướng 13
1.3 Cấu trúc của luận văn 15
CHƯƠNG 2 16
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NỘI SUY 16
2.1 Nội suy tuyến tính 16
2.2 Nội suy song tuyến tính (bilinear) 17
2.3 Nội suy spline 20
2.4 Nội suy các điểm gần nhất 23
2.5 Đánh giá và nhận xét về các phương pháp nội suy ở trên 25
2.6 Nội suy ảnh theo hướng 27
2.6.1 Đặt vấn đề 27
2.6.2 Nội suy theo hướng và việc ước lượng thưa 29
2.6.3 Phân giải ảnh trên từ điển có cấu trúc 30
Trang 55
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM 33
3.1 Giới thiệu chung 33
3.2 Một số thực nghiệm đơn giản 34
3.2.1 Thực nghiệm phân tích phổ của một đường thẳng đơn 34
3.2.2 Thực nghiệm phân tích phổ của đường thẳng đứt nét 35
3.2.3 Phân tích ảnh của một đường thẳng dựa trên phép biến đổi wavlet 37
3.3 Xác định các hướng, các vị trí ở đó ảnh có tính chất đồng nhất 39
3.3.1 Xác định các hướng ở đó ảnh có tính chất đồng nhất 39
3.3.2 Xác định các khu vực tương ứng với các hướng ở đó ảnh có tính chất đồng nhất 43
3.3 Nội suy theo hướng 49
3.4 Triển khai cài đặt chương trình 50
3.4.1 Mô tả về hoạt động của chương trình 50
3.4.2 Triển khai cài đặt 50
3.5.1 Thí nghiệm phóng to gấp đôi ảnh 64x64 52
3.5.2 Thí nghiệm trên ảnh Lena 512x512 53
KẾT LUẬN 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 66 CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU
1.1 Tổng quan về xử lý ảnh
1.1.1 Lịch sử về xử lý ảnh
Các phương pháp xử lý ảnh bắt nguồn từ hai ứng dụng: nâng cao chất lượng thông tin hình ảnh đối với mắt người và xử lý số liệu cho máy tự động Một trong những ứng dụng đầu tiên của xử lý ảnh là nâng cao chất lượng ảnh báo, truyền qua cáp giữa London
và NewYork vào những năm 1920 Thiết bị đặc biệt mã hóa hình ảnh (báo), truyền qua cáp và khôi phục lại ở phía thu
Vấn đề nâng cao chất lượng hình ảnh (số) lúc đầu có liên quan đến việc lựa chọn quá trình in và phân bố các mức sáng
Hệ thống đầu tiên (Bartlane) có khả năng mã hóa hình ảnh với 5 mức sáng khả năng này tăng lên 15 mức vào năm 1929
Việc nâng cao chất lượng ảnh bằng các phương pháp xử lý để truyền ảnh được liên tục nghiên cứu 35 năm sau đó Do kỹ thuật máy tính phát triển, nên xử lý hình ảnh ngày càng phát triển Năm 1964, các bức ảnh chụp mặt trăng được vệ tinh Ranger 7 của Mỹ truyền tải về trái đất, được xử lý để sửa méo (gây ra do camera truyền hình đặt trên vệ tinh ở các góc độ khác nhau) Các kỹ thuật cơ bản cho phép nâng cao chất lượng hình ảnh như làm nổi đường biên và lưu hình ảnh
Từ năm 1964 đến nay, phạm vi xử lý ảnh và video(ảnh động) lớn mạnh không ngừng Các kỹ thuật xử lý ảnh số (digital image processing) hiện nay được sử dụng để giải quyết hàng loạt vấn đề, nhằm nâng cao chất lượng thông tin hình ảnh
Trong y học, xử lý ảnh nhằm nâng cao độ tương phản, hoặc mã hóa các mức sáng thành các màu để nội suy ảnh X quang và các hình ảnh y sinh học dễ dàng Các nhà địa vật lý sử dụng kỹ thuật tương tự để nghiên cứu các mẫu vật chất từ ảnh vệ tinh Các thuật toán làm nổi đường biên và khôi phục hình ảnh được sử dụng để xử lý hình ảnh bị giảm chất lượng Trong thiên văn học, các phương pháp xử lý ảnh nhằm khôi phục hình ảnh bị nhiễu hoặc bị mất do bóng (antifacts) sau khi chụp Trong vật lý và các lĩnh vực liên quan, kỹ thuật máy tính nâng cao được chất lượng hình ảnh trong các lĩnh vực như plasma
và microcopy điện tử Tương tự người ta đã ứng dụng xử lý ảnh có kết quả tốt trong viễn
Trang 77
thám, sinh học, y tế hạt nhân, quân sự, công nghiệp Nâng cao chất lượng (làm nổi đường biên) và khôi phục ảnh bị nhiễu là quá trình xử lý ảnh dùng cho mục đích nội suy của mắt người Lĩnh vực ứng dụng quan trọng thứ hai là xử lý ảnh số gắn liền với việc cảm nhận của máy Trong lĩnh vực thứ hai, các cố gắng đều tập trung vào các quá trình trích thông tin ảnh và chuyển thành dạng thích hợp cho xử lý máy tính Ví dụ như thông tin dùng cho máy tính là các moments thống kê, các hệ số biến đổi Fourier
Những vấn đề tiêu biểu của kỹ thuật xử lý ảnh (tĩnh) và video (ảnh động) được ứng dụng nhiều trong thực tế, có thể kể như: tự động nhận dạng đặc trưng, máy nhìn công nghiệp để điều khiển và kiểm tra sản phẩm, nhận dạng mục tiêu quân sự, tự động xử lý vân tay, hiển thị lên màn hình ảnh X quang và các mẫu máu, xử lý bằng máy tính các hình ảnh chụp từ vệ tinh để dự báo thời tiết, nén ảnh (tĩnh) và video (ảnh động) để lưu và truyền được nhiều hơn tín hiệu ảnh và video số trong thông tin, máy tính, truyền hình thông thường và truyền hình có độ phân giải cao HDTV/ATV
(Nguồn:[1] TS Nguyễn Kim Sách, Xử lý ảnh và video số, Nhà xuất bản khoa học
và kỹ thuật-tr 5,6)
Có thể nói những công trình nghiên cứu về xử lý ảnh đã và đang góp phần không nhỏ vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đời sống vật chất, tinh thần của con người đưa con người vươn xa ra ngoài vũ trụ Cũng chính vì xử lý ảnh có nhiều ứng dụng và đem lại nhiều lợi ích như vậy nên em đã lựa chọn đề tài luận văn tốt nghiệp liên quan đến lĩnh vực này với mong muốn sau này có chút đóng góp nhỏ bé vào lĩnh vực này
Trang 88
1.1.2 Các bước cơ bản trong xử lý ảnh
Hình 1.1 Các bước cơ bản trong xử lý ảnh[2]
1.1.2.1 Thu nhận ảnh (Image Acquisition)
Để thu nhận ảnh có thể sử dụng camera (màu hoặc đen trắng), máy quét hoặc các loại cảm biến khác Thông thường ảnh nhận qua camera là ảnh tương tự (loại camera ống chuẩn CCIR với tần số 1/25, mỗi ảnh 25 dòng), cũng có loại camera đã số hoá (như loại CCD – Change Coupled Device) là loại dùng các điốt quang tạo cường độ sáng tại mỗi điểm ảnh
Camera thường dùng là loại quét dòng ; ảnh tạo ra có dạng hai chiều Chất lượng một ảnh thu nhận được phụ thuộc vào thiết bị thu, vào môi trường (ánh sáng, phong cảnh)
1.1.2.2 Tiền xử lý (Image Processing)
Sau bộ thu nhận, ảnh có thể nhiễu, độ tương phản thấp nên cần đưa vào bộ tiền xử
lý để nâng cao chất lượng Chức năng chính của bộ tiền xử lý là lọc nhiễu, nâng độ tương phản để làm ảnh rõ hơn, nét hơn
1.1.2.3 Phân đoạn (Segmentation) hay phân vùng ảnh
Phân vùng ảnh là tách một ảnh đầu vào thành các vùng thành phần để biểu diễn phân tích, nhận dạng ảnh Ví dụ: để nhận dạng chữ (hoặc mã vạch) trên phong bì thư cho mục đích phân loại bưu phẩm, cần chia các câu, chữ về địa chỉ hoặc tên người thành các
từ, các chữ, các số (hoặc các vạch) riêng biệt để nhận dạng Đây là phần phức tạp khó
Trang 99
khăn nhất trong xử lý ảnh và cũng dễ gây lỗi, làm mất độ chính xác của ảnh Kết quả nhận dạng ảnh phụ thuộc rất nhiều vào công đoạn này
1.1.2.4 Biểu diễn ảnh (Image Representation)
Đầu ra ảnh sau phân đoạn chứa các điểm ảnh của vùng ảnh (ảnh đã phân đoạn) cộng với mã liên kết với các vùng lận cận Việc biến đổi các số liệu này thành dạng thích hợp là cần thiết cho xử lý tiếp theo bằng máy tính Việc chọn các tính chất để thể hiện ảnh gọi là trích chọn đặc trưng (Feature Selection) gắn với việc tách các đặc tính của ảnh dưới dạng các thông tin định lượng hoặc làm cơ sở để phân biệt lớp đối tượng này với đối tượng khác trong phạm vi ảnh nhận được Ví dụ: trong nhận dạng ký tự trên phong bì thư, chúng ta miêu tả các đặc trưng của từng ký tự giúp phân biệt ký tự này với ký tự khác
1.1.2.5 Nhận dạng và nội suy ảnh (Image Recognition and Interpretation)
Nhận dạng ảnh là quá trình xác định ảnh Quá trình này thường thu được bằng cách
so sánh với mẫu chuẩn đã được học (hoặc lưu) từ trước Nội suy là phán đoán theo ý nghĩa trên cơ sở nhận dạng Ví dụ: một loạt chữ số và nét gạch ngang trên phong bì thư có thể được nội suy thành mã điện thoại Có nhiều cách phân loai ảnh khác nhau về ảnh Theo lý thuyết về nhận dạng, các mô hình toán học về ảnh được phân theo hai loại nhận dạng ảnh cơ bản:
- Nhận dạng theo tham số
- Nhận dạng theo cấu trúc
Một số đối tượng nhận dạng khá phổ biến hiện nay đang được áp dụng trong khoa học và công nghệ là: nhận dạng ký tự (chữ in, chữ viết tay, chữ ký điện tử), nhận dạng văn bản (Text), nhận dạng vân tay, nhận dạng mã vạch, nhận dạng mặt người…
Trang 1010
1.1.2.6 Cơ sở tri thức (Knowledge Base)
Ảnh là một đối tượng khá phức tạp về đường nét, độ sáng tối, dung lượng điểm ảnh, môi trường để thu ảnh phong phú kéo theo nhiễu Trong nhiều khâu xử lý và phân tích ảnh ngoài việc đơn giản hóa các phương pháp toán học đảm bảo tiện lợi cho xử lý, người ta mong muốn bắt chước quy trình tiếp nhận và xử lý ảnh theo cách của con người Trong các bước xử lý đó, nhiều khâu hiện nay đã xử lý theo các phương pháp trí tuệ con người Vì vậy, ở đây các cơ sở tri thức được phát huy
1.1.2.7 Biểu diễn và mô tả
Ảnh sau khi số hoá sẽ được lưu vào bộ nhớ, hoặc chuyển sang các khâu tiếp theo
để phân tích Nếu lưu trữ ảnh trực tiếp từ các ảnh thô, đòi hỏi dung lượng bộ nhớ cực lớn
và không hiệu quả theo quan điểm ứng dụng và công nghệ Thông thường, các ảnh thô đó được đặc tả (biểu diễn) lại (hay đơn giản là mã hoá) theo các đặc điểm của ảnh được gọi
là các đặc trưng ảnh (Image Features) như: biên ảnh (Boundary), vùng ảnh (Region) Một
số phương pháp biểu diễn thường dùng:
• Biểu diễn bằng mã chạy (Run-Length Code)
• Biểu diễn bằng mã xích (Chaine -Code)
• Biểu diễn bằng mã tứ phân (Quad-Tree Code)
Trên đây là các bước cơ bản trong xử lý ảnh trên thực tế không nhất thiết các ứng dụng liên quan đến xử lý ảnh phải trải qua tất cả các bước trên Tùy vào yêu cầu của ứng dụng mà một số bước có thể bỏ qua Hình vẽ dưới đây là một sơ đồ thể hiện khá chi tiết
về phân tích, xử lý ảnh:
(Nguồn[2] TS Nguyễn Quang Hoan, Xử lý ảnh, Học viện công nghệ bưu chính viễn thông, 2006)
Trang 1111
Hình 1.2 Sơ đồ phân tích và xử lý ảnh và lưu đồ thông tin giữa các khối[2]
1.2 Vấn đề nội suy trong xử lý ảnh
Trong chế bản hay những công việc có liên quan đến hình ảnh đều gặp phải một
trở ngại đó là việc phóng to ảnh sẽ dẫn đến tình trạng ảnh bị bể nên không thể in và chỉnh
sửa được Muốn phóng to ảnh người ta thường dùng phương pháp chụp rửa hình, dùng
máy quét để quét ảnh với độ phân giải cao Nhưng làm như thế rất mất thời gian lại không
kinh tế Hiện tại có rất nhiều nhà sản xuất phần mềm đã khắc phục vấn đề này bằng cách
dùng các phương pháp nội suy ảnh và bù đắp sự tương quan của màu sắc trong quá trình
biến đổi ảnh
Có thể dễ dàng nhận thấy sự có mặt của nội suy trong các máy ảnh kỹ thuật số, trong
các phần mềm xem ảnh, trong các phần mềm chỉnh sửa hình ảnh Một ví dụ cụ thể là
trong phần mềm xem ảnh, khi chúng ta muốn phóng to/thu nhỏ hình ảnh thì là lúc cần
dùng đến nội suy Một ví dụ khác là khi chúng ta quay ảnh hoặc biến dạng hình ảnh thì
cũng có thể dùng nội suy Phần dưới đây trình bày về một số phương pháp nội suy hay
được sử dụng Những phương pháp nội suy này khi áp dụng vào nội suy ảnh thì “cư xử”
như nhau đối với các ảnh tức là nội suy không thích nghi, không dựa vào thông tin hình
ảnh
Formatted: DMC1
Trang 1212
1.2.1 Sơ lược về m ột số phương pháp nội suy truyền thống
Một số phương pháp nội suy hay được dùng trong xử lý ảnh:
-Nội suy các điểm gần nhất -Nội suy song tuyến tính -Nội suy ghép trơn
Nội suy các điểm gần nhất thực chất là không có tính toán gì chỉ đơn giản gán giá
trị điểm ảnh cần nội suy với giá trị điểm ảnh gần nó nhất Nội suy các điểm gần nhất có
ưu điểm là đơn giản dễ cài đặt nhưng có nhiều nhược điểm cụ thể là nếu dùng nội suy các
điểm gần nhất để phóng to ảnh có thể gây ra các đướng ziczac hoặc tạo những ô vuông
lớn trong ảnh làm cho hình ảnh thô, không được mịn màng Hình vẽ dưới đây minh họa
việc phóng to một ảnh sử dụng nội suy các điểm gần nhất Các ảnh được hiển thị dưới
dạng ma trận số để thể hiện rõ bản chất của phương pháp nội suy:
Hình 1.3 Ảnh ban đầu
Hình 1.4 Ảnh phóng to sử dụng nội suy các điểm gần nhất
Formatted: DMC2
Trang 1313
Không giống như nội suy các điểm gần nhất trong nội suy song tuyến, điểm ảnh
được nội suy có tính toán dựa trên một số điểm lân cận nó Gọi là nội suy song tuyến
tính nhưng thực chất nội suy song tuyến tính không phải là nội suy tuyến tính Tính theo
một biến thì nội suy song tuyến tính là tuyến tính song nếu tính trên tất cả các biến thì nội
song tuyến tính không phải là nội suy tuyến tính Nội suy song tuyến tính có quy luật nội
suy phức tạp hơn nội suy các điểm gần nhất và do nó xét tới ảnh hưởng của 4 điểm gần
nhất xung quanh nó nên có thể nói về cơ bản sử dụng nội suy song tuyến tính tuyến tính
là lựa chọn tốt hơn so với nội suy các điểm gần nhất
So với nội suy song tuyến tính và nội suy các điểm gần nhất thì nội suy ghép trơn
có quy luật phức tạp nhất trong nội suy ghép trơn (spline) điểm cần nội suy chịu ảnh
hưởng của nhiều điểm xung quanh nó Cài đặt nội suy ghép trơn khó hơn nhưng kết quả
nội suy tốt hơn
1.2.2 Nội suy theo hướng
Nếu chỉ sử dụng đơn thuần các phương pháp nội suy đã trình bày ở trên trong việc
nội suy ảnh thì ảnh sau nội suy xuất hiện những chi tiết lạ mà ảnh gốc không có điều này
có thể làm giảm độ sắc nét của hình ảnh Tìm cách hạn chế được tối đa các chi tiết lạ đó
thì ảnh sau nội suy sẽ tốt hơn
Trong miền không gian ảnh xuất hiện các chi tiết lạ thì chắc chắn khi chuyển sang
miền tần số thì cũng có những thành phần phổ lạ tương ứng Có thể nhìn thầy một vấn đề
là nếu những phổ lạ này được khử đi được hoặc hạn chế thì ảnh sau nội suy sẽ không còn
xuất hiện hoặc hạn chế được sự xuất hiện của các chi tiết lạ Nhưng không phải trong
trường hợp nào cũng khử đi được thành phần phổ lạ Thành phần phổ lạ chỉ khử được khi
nó có sự tách biệt không chồng lấn với các phổ khác
Trường hợp đơn giản nhất là khi ta đem hạ mẫu một ảnh với hệ số hạ mẫu là 2, nếu
thì ảnh hạ mẫu xuất hiện các phổ lạ
nhưng các thành phần phổ lạ chắc chắn không đè lên các thành phần phổ của ảnh gốc vì
vậy hoàn toàn có thể dùng bộ lọc thông thấp để loại bỏ thành phần phổ lạ từ ảnh hạ mẫu
và ta lại thu được ảnh gốc ban đầu
Formatted: DMC2
Trang 14 thì thành phần phổ lạ nhiều khả năng bị đè lên
thành phổ giống phổ ảnh gốc điều này dẫn tới việc không thể dùng bộ lọc thông thấp như trên đề khôi phục Nhưng nếu thành phần phổ lạ không chồng lấn lên thành phần phổ giống phổ của ảnh gốc thì có thể tách nó ra được Liệu có ảnh nào có tính chất như vậy không? Guoshen Yu đã đưa ra một trường hợp đó là ảnh của một đường thẳng
Từ đây tôi thấy nếu có thể phân rã ảnh ra thành các đường thẳng thì trong nội suy có thể lợi dụng việc nội suy theo hướng từng đường thẳng vào việc nội suy ảnh và tôi đã triển khai ý tưởng này để cài đặt một chương trình nội suy ảnh có sử dụng ý tưởng nội suy theo hướng Ý tưởng chính trong chương trình tôi đã cài đặt như sau:
Trang 1515
-Phân tích ảnh cần nội suy để thu được thành phần ảnh tần số cao, thành phần ảnh tần
số thấp
-Nội suy theo phương pháp thông thường đối với thành phần ảnh tần số thấp
-Nội suy theo hướng được áp dụng đối với thành phần ảnh tần số cao
-Tổ hợp các ảnh để thu được ảnh đầu ra
1.3 Cấu trúc của luận văn
Sau một thời gian nghiên cứu tài liệu, cài đặt chương trình, chỉnh sửa tôi đã hoàn
thành luận văn “Nội suy ảnh sử dụng các ràng buộc hình học” Luận văn có cấu trúc 3
chương:
Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về các phương pháp nội suy Chương 3: Thực nghiệm
Sau những lần chỉnh sửa tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình các nội
dung trong luận văn là do tôi tự viết theo suy nghĩ của mình dựa trên các tài liệu tham
khảo mà tôi thu thập được Ngoài ra tôi có một số nội dung lý thuyết từ các tài liệu khác
tôi đã chỉ rõ nguồn trích dẫn
Formatted: DMC1
Formatted: mucchuong
Trang 1616
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NỘI SUY
Trong toán học việc nội suy với mục đích tìm ra những giá trị chưa biết của một
hàm dựa trên những giá trị đã biết của hàm đó tại một số giá trị của biến số Như ta đã
biết một tín hiệu bất kì có thể được biểu diễn bởi một hàm của một hoặc nhiều biến độc
lập Vì vậy, rõ ràng ta có thể sử dụng các thuật toán nội suy trong toán học vào mục đích
nội suy tín hiệu trong đó có nội suy ảnh Chương 2 bắt đầu từ việc trình bày về một số
thuật toán nội suy trong toán học và sử dụng chúng trong nội suy ảnh, tiếp theo là trình
bày về nội suy theo hướng - phương pháp nội suycó khai thác thông tin hình ảnh cụ thể là
có sử dụng ràng buộc hình học Sử dụng phương pháp nội suy ảnh này cho kết quả tốt
hơn đối với một số dạng ảnh
2.1 Nội suy tuyến tính
Trong nội suy tuyến tính thì hàm nội suy được tìm ra dựa trên việc coi mối quan hệ
giữa hàm và biến là quan hệ tuyến tính
Trường hợp đơn giản là cần tìm các giá trị của hàm f(x) tại các giá trị của x thuộc
khoảng (x0,x1) khi biết f(x0) = y0 và f(x1) = y1 trong trường hợp này hàm nội suy chính là
phương trình đường thẳng đi qua (x0,y0); (x1,y1)
Hình 2.1 Minh họa nội suy tuyến tính dựa trên 2 điểm đã biết[8]
Formatted: DMC1
Formatted: Justified, Indent: First
line: 1,27 cm, Line spacing: Multiple 1,3 li
Formatted: Centered, Indent: First
line: 1,27 cm, Line spacing: Multiple 1,3 li
Trang 1717
Khi biết nhiều hơn hai giá trị của f(x) thì việc nội suy được thực hiện bằng cách
nội suy tuyến tính trong từng cặp giá trị kề nhau của x Cụ thể là nếu biết f(x) tại các giá
trị của x là x0, x1, x2, ,xn thì hàm f(x) là tổ hợp của các phương trình đường thẳng đi qua
các cặp điểm [(x0,y0) (x1,y1)]; [(x1,y1) (x2,y2)]; [(x2,y2) (x3,y3)], ,[(xn-1,yn-1),(xn,yn)]
Hình 2.2 Minh họa nội suy tuyến tính[8]
Thực chất nội suy tuyến tính khi biết giá trị của hàm tại nhiều điểm là nội suy
tuyến tính từng khúc Tức là sự tuyến tính chỉ xảy ra ở phạm vi cục bộ Tập các giá trị đã
biết của hàm có ảnh hưởng đến hàm nội suy
2.2 Nội suy song tuyến tính (bilinear)
Nếu như nội suy tuyến tính áp dụng với hàm một biến thì nội suy song tuyến tính
được dùng trong việc nội suy hàm hai biến
Giả sử biết giá trị của hàm f tại các điểm Q11, Q12, Q21, Q22 cần tìm giá trị của
hàm tại điểm P(x,y) Với P nằm trong hình vuông tạo bởi Q11, Q12, Q21, Q22 việc nội
suy được thực hiện qua hai bước:
Bước 1: Nội suy theo trục x để tìm ra f(R1), f(R2)
Bước 2: Nội suy theo trục y để tìm ra f(P)
Việc nội suy theo trục x trước hay nội suy theo trục y trước đều cho cùng một kết quả
Formatted: Justified, Indent: First
line: 1,27 cm, Line spacing: Multiple 1,3 li
Formatted: Font: 13 pt, Subscript Formatted: Font: 13 pt, Subscript Formatted: Font: 13 pt, Subscript Formatted: Font: 13 pt, Subscript Formatted: Font: 13 pt, Subscript Formatted: Font: 13 pt, Subscript Formatted: Font: 13 pt, Subscript Formatted: Font: 13 pt, Subscript Formatted: Font: 13 pt, Subscript Formatted: Font: 13 pt, Subscript Formatted: Font: 13 pt, Subscript Formatted: Font: 13 pt, Subscript Formatted: Font: 13 pt, Subscript Formatted: Font: 13 pt, Subscript Formatted: Font: 13 pt, Subscript Formatted: Font: 13 pt, Subscript Formatted: Centered, Indent: First
line: 1,27 cm, Line spacing: Multiple 1,3 li
Formatted: Centered, Indent: First
line: 1,27 cm, Line spacing: Multiple 1,3 li
Formatted: Justified, Indent: First
line: 1,27 cm, Line spacing: Multiple 1,3 li
Formatted: DMC1 Formatted: Justified, Line spacing:
Multiple 1,3 li
Trang 1818
Hình 2.3 Minh họa nội suy song tuyến tính[10]
Ta có thể áp dụng nội suy song tuyến tính vào việc nội suy ảnh vì nội suy song
tuyến tính là nội suy cho hàm hai biến mà ảnh số cũng có thể biểu diễn dưới dạng hàm hai
biến
Thực hiện một thực nghiệm nhỏ trên matlab để quan sát kết quả của việc nội suy
ảnh sử dụng nội suy song tuyến tính Nội dung của thực nghiệm như sau:
+Đọc ảnh Lena
+Hạ mẫu với hệ số 2
+Nội suy phóng to ảnh hạ mẫu theo kiểu bilinear
+Hiển thị ảnh gốc và ảnh nội suy
+Quan sát và so sánh
Thực nghiệm cho ta hai ảnh như hình vẽ dưới đây:
Formatted: Centered, Line spacing:
Multiple 1,3 li
Formatted: Justified, Indent: First
line: 1,27 cm, Line spacing: Multiple 1,3 li
Formatted: Justified, Indent: First
line: 1,27 cm, Line spacing: Multiple 1,3 li
Trang 1919
Hình 2.4 Ảnh Lena nội suy bilinear
Formatted: Centered, Indent: First
line: 1,27 cm, Line spacing: Multiple 1,3 li
Trang 2020
Hình 2.5 Ảnh Lena gốc
Quan sát hai ảnh ta thấy độ sắc nét của ảnh nội suy không thể bằng so với ảnh gốc,
ngoài ra trên ảnh nội suy xuất hiện những chi tiết lạ mà ảnh gốc không có Điều này có
thể giải thích là do việc hạ mẫu đã làm xuất hiện những phổ lạ và chính những phổ lạ này
phát sinh ra những chi tiết lạ mà ảnh gốc không có
2.3 Nội suy spline
Trong nội suy việc lựa chọn quy luật biến thiên của hàm nội suy theo biến ảnh
hưởng tới kết quả nội suy Người ta luôn cố gắng tìm ra các quy luật gần với tự nhiên
Nội suy spline (nội suy ghép trơn) phỏng theo quy luật uốn cong của thước đàn hồi khi ta
ép nó chạy qua các điểm cố định
Formatted: Justified, Indent: First
line: 1,27 cm, Line spacing: Multiple 1,3 li
Formatted: Line spacing: Multiple 1,3
li
Formatted: Justified, Indent: First
line: 1,27 cm, Line spacing: Multiple 1,3 li
Formatted: Justified, Line spacing:
Multiple 1,3 li
Formatted: DMC1 Formatted: Justified, Line spacing:
Multiple 1,3 li
Trang 2121
Hình 2.6 Minh họa uốn cong thước đàn hồi qua các điểm cố định[10]
Thực chất nội suy spline là nội suy đa thức trong từng khúc Những đa thức này
phải chịu một số ràng buộc và dựa vào chính những ràng buộc này ta có thể xác định
được hàm nội suy
Quy luật nội suy spline phức tạp hơn so với quy luật trong nội suy tuyến tính
nhưng bằng thực nghiệm cho thấy nội suy spline cho ta các giá trị nội suy có sai số nhỏ
hơn
Thực hiện một thực nghiệm nhỏ trên matlab Nội dung của thực nghiệm như sau:
+Đọc ảnh Lena
+Hạ mẫu với hệ số 2
+Nội suy phóng to ảnh hạ mẫu theo kiểu spline
+Hiển thị ảnh gốc và ảnh nội suy
+Quan sát và so sánh
Thực nghiệm cho ta hai ảnh như hình vẽ dưới đây:
Formatted: Centered, Line spacing:
Multiple 1,3 li
Formatted: Justified, Indent: First
line: 1,27 cm, Line spacing: Multiple 1,3 li
Trang 2222
Hình 2.7 Ảnh Lena gốc
Trang 2323
Hình 2.8 Ảnh Lena nội suy ghép trơn
Quan sát ảnh gốc và ảnh thực nghiệm ta thấy ảnh nội suy bằng phương pháp spline
không tốt hơn ảnh gốc và cũng có những chi tiết lạ xuất hiện trong ảnh Điều này có thể
được giải thích là khi ta hạ mẫu ảnh gốc xảy ra hiện tượng chồng phổ và phép nội suy
không tạo được ra ảnh có phổ như phổ của ảnh gốc dẫn tới việc ảnh nội suy xuất hiện các
chi tiết lạ
2.4 Nội suy các điểm gần nhất
Thực chất là không có sự tính toán trong nội suy các điểm gần nhất Nội suy các
điểm gần nhất chỉ đơn giản gán giá trị cần nội suy bằng với giá trị của điểm lân cận nó
nhất vì thế phép nội suy này khá đơn giản và nhanh
Thực hiện một thực nghiệm đơn giản trên matlab như sau:
+Đọc ảnh lena
Formatted: DMC1
Trang 2424
+Hạ mẫu với hệ số 2
+Nội suy các điểm gần nhất để phóng to ảnh
+Hiển thị ảnh gốc và ảnh nội suy
+Quan sát và so sánh
Kết quả thực nghiệm:
Hình 2.9 Ảnh Lena gốc
Trang 2525
Hình 2.10 Ảnh Lena nội suy các điểm gần nhất
Quan sát ảnh nội suy các điểm gần nhất và ảnh gốc ta thấy ảnh nội suy các điểm gần nhất có độ nét kém hơn nhiều so với ảnh gốc, trên ảnh nội suy xuất hiện nhiều chi tiết là đặc biệt là ở những khu vực đường biên của ảnh Điều này có thể giải thích như sau: tại biên ảnh là nơi có sự chênh lệnh về giá trị điểm ảnh nếu ta thực hiện nội suy kiểu các điểm gần nhất sẽ dẫn đến việc xuất hiện nhiều lỗi ở các khu vực biên
2.5 Đánh giá và nhận xét về các phương pháp nội suy ở trên
Qua tìm hiểu các phương pháp nội suy và qua các thực nghiệm đơn giản ở trên ta thấy các phương pháp nội suy ở trên làm phát sinh các chi tiết lạ, ảnh thu được sau nội suy có độ sắc nét kém hơn ảnh gốc Quy luật nội suy càng đơn giản thì kết quả nội suy càng kém Cụ thể là trong ba phương pháp kể trên nội suy ghép trơn (spline) có quy luật nội suy phức tạp nhất tiếp đến là nội suy song tuyến tính và cuối cùng là nội suy các điểm
Trang 2626
gần nhất Ảnh thu được từ nội suy ghép trơn (spline) tốt hơn ảnh nội suy bilinear, ảnh nội suy song tuyến tính (bilinear) tốt hơn ảnh nội suy các điểm gần nhất Tuy nhiên các phương pháp nội suy cũng có tính chất chọn lọc ảnh Có những phương pháp nội suy thích hợp với ảnh này, có những phương pháp nội suy thích hợp với những ảnh khác Thậm chí, các phương pháp nội suy còn có tính chất chọn lọc vùng ảnh Trong cùng một ảnh, khu vực này thì thích hợp với phương pháp nội suy này, khu vực khác thì thích hợp với phương pháp nội suy khác Việc lựa chọn tập các giá trị đã biết để tìm ra những giá trị chưa biết cũng có ảnh hưởng đến kết quả của việc nội suy
Từ đây nảy sinh ra một vấn đề nếu ta biết sử dụng những thông tin hình ảnh cho việc nội suy ảnh thì có thể cho ảnh nội suy có chất lượng tốt hơn Yếu tố rất quan trọng của thông tin hình ảnh là cấu trúc/trật tự trong không gian (2 chiều) của các điểm ảnh, các thành phần cơ bản (đường,vùng ) và các đối tượng (người, đồ vật, xe cộ )
Ràng buộc hình học là sự ràng buộc giữa các điểm ảnh được quy định bởi một số cấu trúc hình học nào đó Ví dụ: các điểm tạo thành một dạng hình (shape), sự đồng nhất
về dạng mẫu (pattern/texture), sự đồng nhất về hướng trong một phạm vi nào đó
Sự đồng nhất về hướng là dạng ràng buộc dễ sử dụng nên thường được khai thác nhất Trong ảnh, sự đồng nhất này thường xuất hiện trong những phạm vi cục bộ
Phần dưới đây trình bày về phương pháp nội suy có sử dụng thông tin hình ảnh đó
là nội suy dựa theo hướng
Trang 2727
2 6 Nội suy ảnh theo hướng
Khi nội suy, tập các giá trị được lựa chọn để tham gia vào việc nội suy tìm ra các
giá trị mới có ảnh hưởng đến kết quả của việc nội suy Nếu các điểm ảnh cần tìm ra và
những điểm ảnh đã biết cùng nằm trên một hướng thì việc sử dụng các giá trị đã biết này
vào việc nội suy cho ta kết quả nội suy tốt hơn so với việc dùng các giá trị khác, ít nhất là
việc giữ được thông tin về hướng Cơ sở lý thuyết về nội suy theo hướng đã được trình
bày trong luận văn tiến sĩ của Guoshen Yu Sau một thời gian nghiên cứu tôi hiểu và trình
bày lại phần này theo cách hiểu của tôi
2.6.1 Đặt vấn đề
Giả sử có một ảnh f(n) là ảnh có độ phân giải cao hơn ảnh y(n) thu được từ f bằng
việc hạ mẫu với hệ số K Dùng phép biến đổi Fourier để chuyển f(n) và y(n) sang miền
tần số ta thu được mối quan hệ giữa chúng trong trường hợp K = 2 như sau:
Quan sát phổ của y(n) ta thấy nếu như các thành phần
F(1,2+),F(1+,2),F(1+,2+) không chồng lấn lên F(1,2) nghĩa là không xảy
ra hiện tượng chồng phổ thì có thể sử dụng bộ lọc thông thấp đề tách F(1,2) ta từ
Y(1,2) một cách chính xác hay nói khác đi có thể phục hồi hoàn toàn y(n) từ f(n) bằng
nội suy hàm sinc
Gọi đáp ứng tần số của bộ lọc thông thấp nói trên là H(1,2) với :
( , ) ( , ) ( , )
F Y H (2.3)
Nhưng nếu xảy hiện tượng chồng phổ thì việc lựa chọn bộ lọc thông thấp để nội
suy ra f(n) là giải pháp không tốt Hoặc phổ của tín hiệu sau nội suy xuất hiện các thành
Formatted: DMC1
Trang 2828
phần tần số lạ hoặc là bị cắt bớt đi các thành phần tần số cao Cả hai tình huống này đều dẫn tới sự sai khác lớn giữa tín hiệu thu được và tín hiệu mong muốn Trong trường hợp này người ta thường sử dụng bộ lọc nội suy ghép trơn (spline), đặc biệt nếu ảnh có tính đồng nhất theo hướng thì sử dụng bộ lọc theo hướng sẽ cho kết quả tốt hơn
Thực vậy, nếu ảnh đồng nhất trong một khu vực nhỏ theo hướng thì biến đổi Fourier trong khu vực đó của nó xác định trong một giải tần thông thấp hẹp phụ thuộc vào
Quan sát hình trên ta thầy phổ của đường thẳng hướng xác định trong dải tần hẹp
bó chặt theo hướng / 2 Phổ của đường thẳng trong hình b xuất hiện các thành phần tần số lạ nhưng các thành phần này không bị chồng lấn lên nhau và không chồng lấn lên thành phần chính Từ đây, ta thấy nếu thay thế bộ lọc thông thấp h bằng bộ lọc nội suy theo hướng hcó biến đổi fourier xác định trong miền tần số khoanh bởi hình elip trong hình b thì có thể tái tạo được phiên bản ước lượng f của f mà biến đổi Fourier của nó thỏa mãn:
Hình 2.11Ảnh và phổ của của ảnh các đường thẳng[6]
a.Ảnh gốc và phổ của nó c.Ảnh nội suy theo hướng từ ảnh b
b.Ảnh hạ mẫu từ a va phổ của nó d Ảnh nội suy theo cubicspline
Trang 2929
2.6.2 Nội suy theo hướng và việc ước lượng thưa
Nếu tín hiệu f có tính đồng nhất theo hướng thì có thể biểu diễn nó thông qua từ điển D {g } p p các curvelet Curvelet là một dạng dao động mà biến đổi Fourier của nó tập trung ở một hướng đơn lẻ trên mặt phẳng Fourier
p g
U d) ˆ ( )
p g
là nhiễu tuân theo phân bố chuẩn
Giả sử y Uf là ảnh có độ phân giải thấp(U là toán tử hạ mẫu) thì có thể biểu diễn y thông qua từ điển U p
p
D Ug như sau:
'
p p
Trang 302.6.3 Phân giải ảnh trên từ điển có cấu trúc
Khi quan sát một ảnh ta thấy có thể có những khu vực ở đó ảnh đồng nhất theo hướng và có những khu vực thì không Phần ảnh có tính chất đồng nhất theo hướng ta có thể biểu diễn nó thông qua tập các đường thẳng trong một từ điển và phần ảnh này ta sử dụng nội suy theo hướng phần còn lại ta có thể lựa chọn phương pháp nội suy thông thường ví dụ như cubic spline
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để tách ra được những khu vực ảnh có tính đồng nhất theo hướng? Hướng đó là hướng nào Một vấn đề khác là lỗi do nội suy thường xuất hiện
ở các thành phần tần số cao vì vậy ta có thể tách ảnh thành ảnh thành phần tần số cao và thành phần ảnh tần số thấp Ảnh thành phần tần số cao ta tiến hành nội suy có sử dụng nội suy theo hướng, ảnh thành phần tần số thấp tiến hành nội suy thông thường