1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mạng quang thụ động (GPON) và ứng dụng triển khai tại viễn thông Hà Nội

86 1,4K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 2,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT ADM Add Drop Multiplexer Bộ ghép kênh xen rẽ APON ATM Passive Optical Network Mạng quang thụ động ATM ATM Asynchronous Transfer Mode Chế độ truyền tải không đồng b

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ

NGÔ VĂN THÁP

MẠNG QUANG THỤ ĐỘNG (GPON) VÀ ỨNG DỤNG

TRIỂN KHAI TẠI VIỄN THÔNG HÀ NỘI

Ngành: Công nghệ Điện Tử -Viễn Thông

Chuyên Ngành: Kỹ thuật điện tử

Mã số: 60 52 70

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN QUỐC TUẤN

HÀ NỘI – 2010

Trang 3

MỤC LỤC

1.1 Mở đầu

1.2 Mạng quang thụ động PON

12

13 1.2.1 Kiến trúc của PON

1.2.2 Các hệ thống PON đang đƣợc triển khai

14

16

Trang 5

3.3.2 Nhu cầu của nội bộ Viễn thông Hà Nội 53

3.4.3 Quy định về chiều dài cáp quang và số lƣợng măng sông đấu nối thẳng trên tuyến cáp quang từ OLT đến ONT/ONU

57

3.5.2 Khảo sát độ lợi quang tuyến GPON Cầu Giấy 64

Trang 6

DANH SÁCH HÌNH VẼ, BẢNG

Trang 7

CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

ADM Add Drop Multiplexer Bộ ghép kênh xen rẽ

APON ATM Passive Optical Network Mạng quang thụ động ATM

ATM Asynchronous Transfer Mode Chế độ truyền tải không đồng bộ

AUI Attachment Unit Interface Cáp nối với thiết bị

BPON Broadband PON Mạng quang thụ động băng rộng

BM-TX Burst-mode transmitter Truyền chế độ cụm (gói)

BM-LDD Burst-mode laser diode driver Chế độ truyền gói sử dụng laze điốt điều

khiển

Capex Capital Expenditrure Chi phí đầu tƣ ban đầu

CDM Code Division Multiplexing Ghép kênh theo mã

CE Customer Equipment Thiết bị khách hàng

CIR Constant Information Rate Tốc độ thông tin tốt nhất

CRC Cyclic Redundancy Check Kiểm tra vòng dƣ

CSMA/CD Carrier sense Multiple access /

Collision detect

Đa truy nhập cảm nhận sóng mang/phát hiện xung đột

DA Destination Address Địa chỉ đích

DCE Data Communications

Equipment

Thiết bị thông tin số liệu

Trang 8

DCS Digital Cross-connect Bộ nối chéo số

DFSM Dispersion Flattened single

Mode

Sợi tán sắc phẳng

DLC Digital Loop Carrier Sóng mang vòng số

DSL Digital Subscriber Loop Vòng thuê bao số

DSSM Dispersion Shifted Single

Mode

Sợi tán sắc dịch chuyển

DTE Data Terminal Equipment Thiết bị đầu cuối số liệu

DWDM Dense Wavelength Division

Multi

Ghép bước sóng với mật độ cao

E-LAN Ethernet LAN Mạng LAN Ethernet

E-Line Ethernet Line Tuyến Ethernet

EMS Element Management System Phần tử quản lí hệ thống

EPON Ethernet PON Mạng quang thụ động Ethernet EVC Ethernet Virtual Connection Kết nối ảo Ethernet

FCS Frame Check Sequence Dãy bit kiểm tra khung

FDM Frequency Division Multiple Ghép kênh theo tần số

FEC Forward –error Correction Sửa lỗi hướng tới trước

FSAN Full Service Access Network Tập dịch vụ mạng truy nhập FTTB Fiber to the Building Cáp quang nối đến toà nhà FTTC Fiber to the Curb Cáp quang nối đến cụm dân cư FTTH Fiber to the Home Cáp quang nối tận nhà

Trang 9

GPON Gigabit Passive Optical Network Mạng quang thụ động gigabit

GEM GPON Encapsulation Method Phương thức đóng gói dữ liệu Gpon

HF Hybrid- Fiber Coax Television

System

Hệ thống phân phối tín hiệu truyền hình lai ghép quang đồng trục

IPTV Internet Protocol Television Giao thức truyền hình Interrnet

IFG Inter Frame Gap Khoảng cách giữa hai khung liền kề

IP Internet Protocol Giao thức Internet

IPG Inter Packet Gap Khoảng cách hai gói liền kề

ISO International Organization for

Standard

Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế

LLC Line Terminal Equipment Thiết bị kết cuối đường dây

LMD Medium Access Control Điều khiển truy nhập môi trường

LTE Metro Area Network Mạng diện rộng

MAC Medium Access Control Điều khiển truy nhập môi trường

MAN Metro Area Network Mạng diện rộng

MAU Media Access Unit Khối truy nhập môi trường

MDI Medium Dependent Interface Giao diện độc lập môi trường

MEN Metro Ethernet Network Mạng diện rộng dùng Ethernet

MIB Management Information Base Cơ sở thông tin quản lý

MII Medium Independent Interface Giao diện phụ thuộc môi trường

MMDS Multi Channel Multi Point

Distribution System

Hệ thống phân bổ đa kênh, đa điểm

Trang 10

MPCP Multi-Point Control Protocol Giao thức điều khiển đa điểm MPLS Multi Protocol Label Switch Chuyển mạch nhãn đa giao thức MPN Mode partition noise Chế độ ồn

NIC Network Interface cards Card giao diện mạng

NLP Normal Link Pulse Xung báo hiệu liên kết

OLT Optical Line Terminal Thiết bị kết cuối đường quang ONU Optical Network Terminal Thiết bị kết cuối Mạng quang PCS Physical Coding Sub-layer Lớp con mã hoá vật lý

PDU Protocol Data Unit Đơn vị số liệu giao thức

PMA Physical Layer Attachment Truy nhập lớp vật lý

PMD Physical Medium Dependent Phụ thuộc môi trường vật lý PON Passive Optical Network Mạng quang thụ động

PVC Permanent virtual Circuit Mạch ảo bán cố định

SFD Start of Frame Delimiter Ranh giới bắt đầu khung

SME Station Management Entity Thực thể quản lý trạm

SMF Single Mode Fiber Sợi quang đơn mode

SSM Standard Single Mode Sợi đơn mode chuẩn

TCP Transport Control Protocol Giao thức điều khiển truyền tải TDM Time Division Multiplexing Ghép kênh theo thời gian

UNI User Network Interface Giao diện mạng-người dùng UTP Unshielded Twisted Pair Cáp trần xoắn đôi

Trang 11

UMTS Universal Mobile

Telecommunications System

Hệ thống viễn thông di động toàn cầu

RG Resident Gateways Cổng tập trung

VLAN Virtual Local Area Network Mạng LAN ảo

VPN Virtual Private Network Mạng riêng ảo

WAN Wide Area Network Mạng diện rộng

WDM Wavelength Division Multiple Ghép kênh theo bước sóng

Trang 12

LỜI NÓI ĐẦU

Trong những năm gần đây việc xuất hiện và phát triển mạnh mẽ các công nghệ Viễn thông mới đã làm thay đổi hoàn toàn diện mạo ngành Viễn thông cả về chất và lượng Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu phát triển các loại hình dịch vụ Viễn thông, đặc biệt là các dịch vụ băng rộng đa phương tiện đang ngày một tăng Để đáp ứng nhu cầu trao đổi thông tin của xã hội, các mạng Viễn thông ngày nay phải được đổi mới cả về công nghệ lẫn cơ cấu tổ chức kinh doanh, và quản lý khai thác

Mạng truy nhập băng rộng hiện tại chủ yếu dựa trên hạ tầng cáp đồng sử dụng công nghệ xDSL, về cơ bản mới chỉ đáp ứng cho các dịch vụ truy nhập tốc độ dưới 2 Mbit/s Thời gian gần đây, các hệ thống thông tin quang đã chiếm lĩnh hầu hết các tuyến truyền dẫn trọng yếu trên mạng lưới viễn thông và được coi là phương thức truyền dẫn có hiệu quả nhất, không chỉ mạng đường trục với các tuyến vượt biển và xuyên lục địa mà còn mở rộng trên các tuyến mạng truy nhập Để đáp ứng nhu cầu truyền tải lớn do bùng nổ thông tin trong xã hội, đặc biệt là sự phát triển của các dịch

vụ băng thông rộng, mạng truyền dẫn đòi hỏi phải có sự phát triển mạnh cả về quy mô

và trình độ công nghệ nhằm tạo ra các cấu trúc mạng bao gồm các hệ thống truyền dẫn quang hiện đại Các hệ thống thông tin quang trong thời gian tới phải đảm bảo có tốc

độ cao, cự ly xa, có cấu trúc hệ thống linh hoạt, độ tin cậy cao…

hiện nay nhằm xây dựng hạ tầng mạng truy cập đáp ứng cung cấp các dịch vụ băng rộng chất lượng cao cho các dịch vụ thoại, hình ảnh và dữ liệu dựa trên IP Qua đó cũng đặt ra những vấn đề cần giải quyết cấp bách đối với mạng truy cập Nghiên cứu triển khai giải pháp truy cập mới nhằm chiếm lĩnh thị trường dịch vụ mới là rất cần thiết đối với tình hình hiện nay Công nghệ truy cập quang thụ động GPON đã được ITU chuẩn hóa, hiện nay là một trong những công nghệ được ưu tiên lựa chọn cho triển khai mạng truy cập tại nhiều nước trên thế giới GPON là công nghệ hướng tới cung cấp dịch vụ mạng đầy đủ, tích hợp thoại, hình ảnh và số liệu với băng thông lớn tốc độ cao Do vậy GPON sẽ là công nghệ truy cập lựa chọn triển khai hiện tại và tương lai

Luận văn ―Mạng quang thụ động (GPON) và ứng dụng triển khai tại Viễn

thông Hà Nội‖ nhằm mục đích tìm hiểu những đặc điểm kỹ thuật cơ bản của công

Trang 13

nghệ GPON, qua đó đề xuất cấu hình Mạng GPON của Viễn thông Hà Nội, luận văn thực hiện gồm 04 chương:

và giới thiệu về các hệ thống PON hiện đang được triển khai

vấn đề về cấu trúc khung, định cỡ và phân định băng tần động là các vấn đề trọng tâm của GPON

các đề xuất về cấu hình, tổ chức mạng GPON, thiết kế cụ thể 01 tuyến Gpon,

mô phỏng tính toán ảnh hưởng của độ lợi quang theo mã FEC tuyến GPON tại VNPT Hà Nội

Do nội dung kiến thức của đề tài còn mới, khả năng còn hạn chế nên quyển đồ án này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự chỉ bảo góp ý của các thầy cô giáo và đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện và được áp dụng vào thực tế mang lại hiệu quả cao

Trang 14

từ tốc độ 10 Mb/s lên 100Mb/s và có thể đến 1Gb/s Thậm chí, các sản phẩm Ethernet

10 Gb/s cũng đã bắt đầu xuất hiện trên thị trường về băng thông giữa một bên thực

hiện trên DSL với một bên là mạng truy nhập thông tin di động tốc độ cao (3G/4G) dẫn đến hiện tượng nút cổ chai (bottleneck) trong mạng Viễn thông Việc bùng nổ lưu lượng Internet trong thời gian vừa qua càng làm trầm trọng thêm các vấn

đề của mạng truy cập, các báo cáo thống kê cho thấy lưu lượng dữ liệu đã tăng 100% mỗi năm kể từ năm 1990 Sự kết hợp giữa các yếu tố kinh tế và công nghệ đã tạo ra những thời điểm mà tốc độ phát triển đạt tới 1000% trong một năm (vào những năm 1995 và 1996), xu hướng này vẫn sẽ còn tiếp tục trong tương lai, tức là càng ngày

sẽ càng có nhiều người sử dụng trực tuyến và những người sử dụng đã trực tuyến thì thời gian trực tuyến sẽ càng nhiều hơn, do vậy nhu cầu về băng thông lại càng tăng lên

Các nghiên cứu thị trường cho thấy rằng, sau khi nâng cấp lên công nghệ băng rộng, thời gian trực tuyến của người sử dụng đã tăng lên 35% so với trước khi nâng cấp Lưu lượng thoại cũng tăng lên nhưng với tốc độ thấp hơn nhiều, khoảng 8% mỗi năm Theo hầu hết các báo cáo phân tích, lưu lượng của dữ liệu hiện nay đã vượt trội hơn rất nhiều so với lưu lượng thoại Càng ngày sẽ càng có nhiều dịch vụ và các ứng dụng mới được triển khai khi băng thông dành cho người sử dụng tăng lên Đứng trước tình hình đó, một số công nghệ mới đã được đưa ra nhằm đáp ứng những đòi hỏi

về băng tần

Hiện tại, các nhà cung cấp dịch vụ đã triển khai cung cấp dịch vụ Internet bằng công nghệ đường dây thuê bao số DSL DSL sử dụng đôi dây giống như dây điện thoại và yêu cầu phải có một modem DSL đặt tại thuê bao và DSLAM đặt tại tổng đài Tốc độ dữ liệu của DSL nằm trong khoảng từ 128Kb/s đến 1,5Mb/s, mặc dù tốc độ của nó đã tăng đáng kể so với modem tương tự, nhưng khó có thể được coi là băng

Trang 15

rộng do không cung cấp được các dịch vụ video, thoại, dữ liệu cho các thuê bao ở xa Khoảng cách từ tổng đài đến theo bao chỉ trong phạm vi 5,5 km, có thể tăng khoảng cách này bằng giải pháp triển khai thêm nhiều DSLAM đến gần thuê bao, nhưng đây

là một giải pháp không hiệu quả do chi phí quá cao

Trong những năm gần đây, do sự phát triển vô cùng mạnh mẽ của mạng di động về cả số lượng lẫn chất lượng, số lượng máy di động đạt tới 0.2 máy/1 người dân trưởng thành trong khi đó số lượng máy cố định hầu như giữ nguyên hay tăng trưởng rất thấp Tuy nhiên các máy cố định có các đặc tính ưu việt không thể bỏ qua mặc dù các máy di động 3G/4G ngày càng được cung cấp băng thông rộng hơn (hiện nay có thể đạt tới 8Mb/s và trong tương lai có thể có 54Mb/s) Chúng ta cũng đã thấy rằng cả công nghệ DSL và cáp modem đều không đáp ứng được những yêu cầu về băng thông cho mạng truy cập đa người dùng, băng thông rộng tương xứng với mạng không dây 3G Hầu hết các nhà công nghệ mạng hiện nay đều đang tiến tới một công nghệ mới, tập trung chủ yếu vào truyền tải dữ liệu dựa trên Internet với giao thức IP Trong bối cảnh đó, công nghệ PON sẽ là một giải pháp tối ưu cho mạng truy nhập băng rộng, người ta trông đợi mạng PON sẽ giải quyết được các vấn đề tắc nghẽn băng thông của mạng truy nhập trong kiến trúc mạng viễn thông Giữa một bên là các nhà cung cấp dịch vụ CO, các điểm kết cuối, các điểm truy cập và một bên là các công ty cung cấp dịch vụ qua mạng đường trục hay trong chính bản thân mạng truy cập

Theo các nhà nghiên cứu hiện nay, có 4 kiểu tích hợp cơ bản giữa PON và 3G theo kiểu kiến trúc độc lập hay kiến trúc lai ghép, hay kiến trúc liên kết có định hướng đồng nhất hay kiến trúc microwave-over-fiber Chỉ có kiểu kiến trúc độc lập là không cần thay đổi các thành phần mạng hiện hành của cả mạng PON lẫn mạng 3G, tuy nhiên kiểu kiến trúc này sẽ không thật sự hiệu quả Việc áp dụng kiểu kiến trúc nào giữa 3G và PON tùy thuộc vào các yêu cầu khác về các đặc tính vật lí của mạng như

độ xuyên kênh, nhiễu, độ phi tuyến , các yêu cầu về chất lượng dịch vụ (QoS) giữa 2 mạng và điều này đòi hỏi các phần tử mạng của một trong hai mạng (hay cả hai) phải thay đổi nhằm nâng cao hiệu năng mạng

1.2 MẠNG QUANG THỤ ĐỘNG (PON)

Mạng quang thụ động có thể định nghĩa một cách ngắn gọn như sau: ―Mạng quang thụ động (PON) là một mạng quang không có các phần tử điện hay các thiết bị quang điện tử‖

Trang 16

Như vậy với khái niệm này, mạng PON sẽ không chứa bất kỳ một phần tử tích cực nào mà cần phải có sự chuyển đổi điện-quang (EO) Thay vào đó, PON sẽ chỉ bao gồm: sợi quang, các bộ chia, bộ kết hợp, bộ ghép định hướng, thấu kính, bộ lọc, , điều này giúp cho PON có một số ưu điểm như: không cần nguồn điện cung cấp nên không bị ảnh hưởng bởi lỗi nguồn, có độ tin cậy cao và không cần phải bảo dưỡng do tín hiệu không bị suy hao nhiều như đối với các phần tử tích cực

Mạng PON ngoài việc giải quyết các vấn đề về băng thông, nó còn có ưu điểm

là chi phí lắp đặt thấp do nó tận dụng được những sợi quang trong mạng đã có từ trước PON cũng dễ dàng và thuận tiện trong việc ghép thêm các ONU theo yêu cầu của các dịch vụ, trong khi đó việc thiết lập thêm các nút trong mạng tích cực khá phức tạp do việc cấp nguồn tại mỗi nút mạng và trong mỗi nút mạng đều cần có các bộ phát lại

PON có thể hoạt động với chế độ không đối xứng Chẳng hạn, một mạng PON

có thể truyền dẫn theo luồng OC-12 (622 Mbits/s) ở đường xuống và truy nhập theo luồng OC-3 (155 Mbits/s) ở đường lên Một mạng không đối xứng như vậy sẽ giúp cho chi phí của các ONU giảm đi rất nhiều, do chỉ phải sử dụng các bộ thu phát giá thành thấp hơn

Do các nút của mạng PON nằm ở bên ngoài mạng, nên tổn hao năng lượng trên các nút này không gây ảnh hưởng gì đến các nút khác, khả năng một nút mất năng lượng mà không làm ngắt mạng là rất quan trọng đối với mạng truy cập, do các nhà cung cấp không thể đảm bảo được năng lượng dự phòng cho tất cả các đầu cuối ở xa

Với những lý do như trên, công nghệ PON có thể được coi là một giải pháp hàng đầu cho mạng truy cập, PON cũng cho phép tương thích với các giao diện SONET/SDH và có thể được sử dụng như một vòng thu quang thay thế cho các tuyến truyền dẫn ngắn trong mạng đô thị hay mạch vòng SONET/SDH đường trục

1.2.1 Kiến trúc của PON

Các phần tử thụ động của PON đều nằm trong mạng phân bố quang (hay còn gọi là mạng ngoại vi) bao gồm các phần tử như sợi quang, các bộ tách/ghép quang thụ động, các đầu nối và các mối hàn quang Các phần tử tích cực như OLT và các ONU đều nằm ở đầu cuối của PON, tín hiệu trong PON có thể được phân ra và truyền đi theo nhiều sợi quang hoặc được kết hợp lại và truyền trên một sợi quang thông qua bộ ghép quang, phụ thuộc vào tín hiệu đó là đi theo hướng lên hay hướng xuống của

Trang 17

PON PON thường được triển khai trên sợi quang đơn mode, với cấu hình cây là phổ biến, PON cũng có thể được triển khai theo cấu hình vòng ring cho các khu thương mại hoặc theo cấu hình bus khi triển khai trong các khu trường sở Mô hình mạng

quang thụ động với các phần tử của nó được biểu diễn như trong hình1-1

Hình 1-1: Mô hình Mạng quang thụ động

Về mặt logic, PON được sử dụng như mạng truy cập kết nối điểm - đa điểm theo chiều một CO phục vụ cho nhiều thuê bao và kết nối điểm – điểm theo chiều ngược lại Có một số cấu hình kết nối điểm-đa điểm phù hợp cho mạng truy nhập như cấu hình cây, cây và nhánh, vòng ring, hoặc bus Cấu trúc mạng PON được chỉ ra

trong hình 1-2

Hình 1.2: Cấu trúc PON

Bằng cách sử dụng các bộ ghép 1:2 và bộ chia quang 1:N, PON có thể triển khai theo bất cứ cấu hình nào Ngoài ra, PON còn có thể thu gọn lại thành topo mạng: vòng ring kép, hay topo mạng hình cây Tất cả các tuyến truyền dẫn trong PON đều được thực hiện giữa OLT và ONU, OLT nằm ở CO và kết nối mạng truy nhập quang với mạng đô thị (MAN) hay mạng diện rộng (WAN), được là mạng đường trục ONU nằm

Trang 18

tại vị trí đầu cuối người sử dụng (FTTH hay FTTB hoặc FTTC) Đây là cấu hình rất mềm dẻo, phù hợp với nhu cầu phát triển của thuê bao, cũng như những đòi hỏi ngày càng tăng về băng thông

1.2.2 Các hệ thống PON đang được triển khai

1.2.2.1 APON/BPON

Từ năm 1995, 7 nhà khai thác mạng hàng đầu thế giới đã lập nên nhóm FSAN (Full Service Access Network) với mục tiêu là thống nhất các tiêu chí cho mạng truy cập băng rộng Hiện nay các thành viên của FSAN đã tăng lên 40 trong đó có nhiều hãng sản xuất và cung cấp thiết bị viễn thông lớn trên thế giới

Các thành viên của FSAN đã phát triển một tiêu chí cho mạng truy nhập PON sử dụng công nghệ ATM và giao thức lớp 2 của nó Hệ thống này được gọi là APON (viết tắt của ATM PON) Cái tên APON sau đó được thay thế bằng BPON với ý diễn đạt PON băng rộng Hệ thống BPON có khả năng cung cấp nhiều dịch vụ băng rộng như Ethernet, Video, đường riêng ảo (VPL), kênh thuê riêng, v.v… Năm 1997 nhóm FSAN đưa các đề xuất chỉ tiêu BPON lên ITU-T để thông qua chính thức Từ đó, các tiêu chuẩn ITU G.983.x cho Mạng BPON lần lượt được thông qua Hệ thống BPON

hỗ trợ tốc độ không đối xứng 155 Mbps hướng lên và 622 Mbps hướng xuống hoặc tốc độ đối xứng 622 Mbps Các hệ thống BPON đã được sử dụng nhiều ở nhiều nơi, tập trung ở Bắc Mỹ, Nhật Bản và một phần Châu Âu

1.2.2.2 EPON

Năm 2001, IEEE thành lập một nhóm nghiên cứu Ethernet đường dài (EFM) với mục tiêu mở rộng công nghệ Ethernet hiện tại sang mạng truy nhập vùng, hướng tới các mạng đến nhà thuê bao hoặc các doanh nghiệp với yêu cầu vẫn giữ các tính chất của Ethernet truyền thống Ethernet PON được bắt đầu nghiên cứu trong thời gian gian này

Ethernet PON (EPON) là mạng trên cở sở PON mang lưu lượng dữ liệu gói trong các khung Ethernet được chuẩn hóa theo IEEE 802.3 Sử dụng mã đường truyền 8b/10B và hoạt động với tốc độ 1Gbps EPON có thể sử dụng để chuyển tải các luồng

dữ liệu được đóng thành các khung Ethernet Theo chiều hướng lên (từ ONU đến CO), ONU cần phải khai thác cơ chế điều khiển truy cập nhằm tránh xung đột dữ liệu và

Trang 19

chia sẻ dung lượng kênh dùng Giao thức điều khiển đa điểm (MPCP) sử dụng cơ chế

hỗ trợ, thiết lập các thuật toán phân bổ băng tần khác nhau trong EPON, giao thức này dựa vào hai bản tin Ethernet: Gate và Report Bản tin Gate được gởi từ OLT đến ONU

để ấn định một khe thời gian truyền, bản tin Report được ONU sử dụng để truyền đạt các thông tin về trạng thái hiện tại của nó (như mức chiếm dữ của bộ đệm) đến OLT, giúp OLT có thể phân bổ khe thời gian một cách hợp lý Cả hai bản tin Gate và Report đều là các khung điều khiển MAC (loại 88-08) và được xử lý bởi lớp con điều khiển MAC

Ngoài ra, giao thức DBA cũng có thể được sử dụng trong E-PON để thực hiện

cơ chế điều khiển phân bổ băng thông Do không có cấu trúc khung thống nhất đối với hướng xuống và hướng lên, do vậy trong cấu trúc của E-PON, các khe thời gian và giao thức xác định cự ly là khác so với B-PON và G-PON OLT và các ONU duy trì các bộ đếm cục bộ riêng và tăng thêm 1 sau mỗi 16ns Mỗi một MPCPDU mang theo một thời gian mẫu, mẫu này là giá trị của bộ đệm cục bộ của ONU tương ứng Tốc độ truyền dữ liệu E-PON có thể đạt tới 1Gbit/s

Một chuẩn khác cũng cùng họ với E-PON là chuẩn Gbit/s Ethernet PON (IEEE 802.3av – Gbit/s PON) Chuẩn này là phát triển của E-PON tại tốc độ 10Gbit/s và được ứng dụng chủ yếu trong các mạng quảng bá video số

1.2.2.3 GPON:

Gbit/s PON cho phép phân phối nhiều dịch vụ đòi hỏi băng thông lớn, độ phân giải cao, đóng gói IP các luồng dữ liệu video ngay cả khi hệ số chia OLT/ONT là 1:64 hoặc cao hơn Tại thời điểm hiện tại, tốc độ chiều xuống của GPON khoảng 2.5 Gbps,

và chiều lên là 1.25 Gbps Nếu 1 OLT phục vụ duy nhất một thuê bao thì thuê bao đó

có thể đuợc khai thác toàn bộ băng thông như trên , tuy nhiên thông thường trong các mạng đã triển khai tại một số nuớc trên thế giới, nhà cung cấp thường thiết kế tốc độ cho một thuê bao sử dụng PON vào khoảng 100 Mbps cho chiều xuống và 40 Mbps cho chiều lên Với tốc độ truy nhập như vậy , băng thông đã thỏa mãn cho hầu hết các

peer-to-peer HDTV) Tuy nhiên, GPON cũng có nhược điểm chính là : thiếu tính hội

tụ IP; có một kết nối duy nhất giữa OLT và bộ chia, nếu kết nối này mất toàn bộ ONT không được cung cấp dịch vụ

Trang 20

1.3 UMTS

UMTS phát triển trên cơ sở hạ tầng 2G đã đặt ra yêu cầu cho nhà mạng 2G hiện tại phải xây dựng một kiến trúc mạng mang tính tối ưu, đảm bảo chất lượng dịch vụ thoại truyền thống, thoại video và các dịch vụ dữ liệu khác Hiện tại các nhà mạng ở Việt Nam cũng chỉ xây dựng 3G trên nền 2G có sẵn, điều này một phần cũng là do tính kinh tế, phần khác giảm thiểu sự phức tạp của trong việc triển khai cơ sở hạ tầng mới tách biệt hẳn với mạng 2G truyền thống

Các nhà hoạch định cũng đưa ra các kiên trúc dành cho mạng 3G:

- Kiến trúc 3G WCDMA UMTS R3

- Kiến trúc 3G WCDMA UMTS R4

- Kiến trúc 3G WCDMA UMTS R5 và R6

- Kiến trúc R7 và R8 (đang trong quá trình thí nghiệm)

1.3.1 Kiến trúc mô hình UMTS R3

Kiến trúc R3 là kiến trúc hỗ trợ cả chuyển mạch kênh và chuyển mạch gói Ở chuyển mạch kênh thì tốc độ có thể lên tới 384Kbps(GPRS) dành cho đường xuống, trong khi đó chuyển mạch gói có thể lên đến 2Mbps Các kết nối tốc độ cao đảm bảo cung cấp dịch vụ chất lượng cao cho người sử dụng như trong môi trường mạng điện thoại cố định truyền thống và Internet Các dịch vụ này có thể kể đến như thoại có hình,

âm thanh chất lượng cao, truy cập các dịch dụ Internet… thêm vào đó trong kiến trúc UMTS luôn duy trì kết nối Internet ở tốc độ cao nên hỗ trợ rất tốt các dịch vụ liên qua đến vị trí như định vị, điều khiển không người lái

Mạng UMTS có thể chia làm 3 phần: Phần thiết bị di động (UE), mạng truy nhập vô tuyến mặt đất UMTS (UTRAN), mạng lõi (CN)

+ UE bao gồm: thiết bị đầu cuối (TE), thiết bị di động (ME), và modul bị nhận dạng thuê bao (USIM)

+ UTRAN gồm: Hệ thống mạng vô tuyến (RNS) và trong RNS có bộ điều khiển mạng vô tuyến (RNC) và các node B nối với RNC

+ CN gồm có: Miền chuyển mạch kênh, miền chuyển mạch gói, và miền môi trường nhà (HE) Trong HE gồm các cở sở dữ liệu: Trung tâm nhân thực (AuC),

bộ ghị định vị thường trú (HLR), và bộ ghi nhận dạng thiết bị (EIR)

Trang 21

Hình 1.3 : Mô hình kiến trúc 3G WCDMA UMTS R3

1.3.2 Mạng truy nhập vô tuyến UMTS

UTRAN là liên kết giữa người sử dụng và CN, gồm các phần tử đảm bảo các cuộc truyền thông UMTS trên vô tuyến và điều khiển chúng, được định nghĩa giữa hai giao diện: Giao diện Iu giữa UTRAN và CN, gồm hai phần: IuPS cho miền chuyển mạch gói và IuCS cho miền chuyển mạch kênh; giao diện Uu giữa UTRAN và thiết bị người sử dụng, giữa hai giao diện này là hai nút, RNC và nút B

RNC có nhiều chức năng logic tùy thuộc vào việc nó phục vụ nút nào Người sử dụng được kết nối vào một RNC phục vụ (SRNC: Serving RNC) Khi người sử dụng chuyển vùng đến một RNC khác nhưng vẫn kết nối với RNC cũ, một RNC trôi (DRNC: Drift RNC) sẽ cung cấp tài nguyên vô tuyến cho người sử dụng, nhưng RNC phục vụ vẫn quản lý kết nối của người sử dụng đến CN Vai trò logic của SRNC và

DRNC được mô tả trên hình 1-4 Khi UE trong chuyển giao mềm giữa các RNC, tồn

tại nhiều kết nối qua Iub và có ít nhất một kết nối qua Iur Chỉ một trong số các RNC

Trang 22

này (SRNC) là đảm bảo giao diện Iu kết nối với mạng lõi còn các RNC khác (DRNC) chỉ làm nhiệm vụ định tuyến thông tin giữa các Iub và Iur

Chức năng cuối cùng của RNC là RNC điều khiển (CRNC: Control RNC) Mỗi nút B có một RNC điều khiển chịu trách nhiệm cho các tài nguyên vô tuyến của nó

Hình 1.4 Vai trò logic của SRNC và DRNC

1.3.2.2 Nút UMTS BS

Trong UMTS trạm gốc được gọi là nút UMTS BS và nhiệm vụ của nó là thực hiện kết nối vô tuyến vật lý giữa đầu cuối với nó Nó nhận tín hiệu trên giao diện Iub từ RNC và chuyển nó vào tín hiệu vô tuyến trên giao diện Uu Nó cũng thực hiện một số thao tác quản lý tài nguyên vô tuyến cơ sở như "điều khiển công suất vòng trong" Tính năng này để phòng ngừa vấn đề gần xa; nghĩa là nếu tất cả các đầu cuối đều phát cùng một công suất, thì các đầu cuối gần nút UMTS BS nhất sẽ che lấp tín hiệu từ các đầu cuối ở xa Nút UMTS BS kiểm tra công suất thu từ các đầu cuối khác nhau và thông báo cho chúng giảm công suất hoặc tăng công suất sao cho nút UMTS Bs luôn thu được công suất như nhau từ tất cả các đầu cuối

1.3.3 Các dịch vụ của UMTS

Các dịch vụ cho các cuộc gọi thoại, video và dữ liệu đều dựa trên các dịch vụ sử dụng các giao thức internet (IP) Giao thức UMTS MAC là liên kết có định hướng được nhận dạng bởi 1 số nhận dạng kết nối 16-bit (CID) Việc thiết lập một kết nối sẽ liên quan đến lưu lượng của dịch vụ cụ thể như dịch vụ UGS hay dịch vụ BE Các lưu lượng của dịch vụ được sử dụng để quản trị chất lượng dịch vụ (QoS) Mỗi dịch vụ được chỉ định một QoS xác định và được nhận diện bởi một số nhận dạng luồng dịch

vụ 32-bit (SFID)

 Unsolicited Grant Service (UGS): được thiết kế để trợ giúp các luồng dữ liệu thời gian thực với các gói dữ liệu có kích thước cố định tại một chu trình Ví dụ như VoIP không xử lí khoảng lặng

Trang 23

 Dịch vụ Best-Effort (BE): được thiết kế để trợ giúp các dịch vụ không đòi hỏi chất lượng dịch vụ (non-QoS)

Các tham số đánh giá chất lượng mạng UMTS:

Các chỉ tiêu kỹ thuật đánh giá chất lượng dịch vụ thoại

- Tỷ lệ cuộc gọi thiết lập thành công (CSSR) đạt yêu cầu nếu ≥ 92%

- Tỷ lệ cuộc gọi rơi (CDR) đạt yêu cầu nếu ≥ 5%

- Tỷ lệ thời gian đàm thoại bị ghi cước sai 0% ≤0,1%

Các chỉ tiêu chất lượng dịch vụ, đô ̣ khả dụng của dịch vụ đạt yêu cầu khi ≥ 99,5% Ngoài ra còn các tham số: CSR, HOSR, TASR, TCR, SCR, Traffic Tham số đánh giá dịch vụ internet (chuyển mạch gói):

a) AIR_INTERFACE_BW_CS1, AIR_INTERFACE_BW_CS2 IR_ INTERFACE _BW_CS3, AIR_INTERFACE_BW_CS4 Đánh giá băng thông cực đại có thể của các cell tương ứng có sử dụng CS-1, CS-2, CS-3, CS-4

DL:Các chỉ số này đánh giá phần trăm của các RLC block được truyền bởi PCU

sử dụng các lược đồ mã hoá khác nhau Đây là chỉ số quan trọng đánh giá hiệu quả sử dụng của các CS khác nhau

thiết lập thành công của các yêu cầu kênh GPRS

độ làm việc của BS và ONU và chúng có thể nối với nhau nhờ một giao diện chung (ví

dụ như Ethernet) Tuy nhiên lưu lượng khi ONU lập lịch là độc lập với lưu lượng lập lịch của BS và thiếu thông tin nguồn đầy đủ để quản trị lưu lượng một cách hiệu quả

Trang 24

Khi đó việc cấp băng thông và khả năng cung cấp QoS cho các dịch vụ cho một SS (hay một thiết bị đầu cuối) là không tương xứng

Hình 1.5 : Kiến trúc mạng độc lập

1.4.2 Phương thức lai ghép

Theo kiến trúc lai ghép, PON và UMTS BS được tích hợp vào trong vào một khối riêng lẻ, và được gọi là ONU-BS như được chỉ ra trong hình 1.6 ONU-BS chứa cả 2 chức năng và có đầy đủ thông tin của cả 2 mạng Vì thế việc cấp băng thông sẽ có hiệu lực hơn kiến trúc độc lập

Hình 1.6: Kiến trúc lai ghép UMTS&PON

tiến hành cuộc gọi với các kiểu báo hiệu liên mạng giữa hai mặt phẳng điều khiển đảm bảo truyền tốt các gói tin giữa các mặt phẳng dữ liệu Việc ánh xạ các tham số QoS giữa hai mạng cũng phải được tính đến nhằm đảm bảo QoS cuộc gọi đầu cuối-đầu cuối

Trang 25

1.4.3 Phương thức Microwave-over-fiber

Phương pháp kiến trúc này là sự tích hợp các chức năng của UMTS Bs với OLT Mỗi một đầu cuối điều khiển từ xa được lắp ghép vào khối ONU hay tới antenna như chỉ ra trong hình 1.7 Khối ONU có trách nhiệm truyền dữ liệu của PON còn antenna chỉ chuyển tiếp các tín hiệu vô tuyến UMTS Các tín hiệu UMTS và quang được hợp kênh và điều chế vào một bước sóng ánh sáng chung và được truyền tới CO Theo chiều truyền hướng lên (tới CO), mỗi một lưu lượng của 1 antena phải được truyền trên

1 bước sóng để phân biệt lưu lượng cuộc gọi truyền từ các antenna khác nhau tới trạm trung tâm Như vậy trạm trung tâm chứa 2 khối chính: một cho OLT và một cho UMTS

BS Khi các tín hiệu quang đến trạm trung tâm, nó sẽ được tách ra 2 cổng: Một cổng cho PON để OLT xử lí, một cho tín hiệu UMTS Bs để giải điều chế cho tín hiệu như

của SS gửi rồi chuyển tiếp tới các UMTS BS khác để xử lí

Hình 1.7 Kiến trúc Microwave-over-fiber

Ưu điểm chính của kiểu kiến trúc này là khả năng thực hiện chuyển giao các cuộc gọi của người dùng di động khá đơn giản và các thuê bao quang (cố định) và các thuê bao di động liên hệ chặt chẽ với nhau Một ưu điểm tiềm năng là kiểu kiến trúc này có khả năng định xứ lại nguồn khá linh hoạt nếu hai thuê bao trên có thể được cấp động bởi OLT/BS Tuy nhiên trạm trung tâm có thể trở thành thắt cổ chai nếu phải chuyển giao một số lớn các SS, thêm nữa các nhiễu xuyên kênh và nhiễu vật lý có thể

không cần thay đổi bất cứ gì cả hai mạng, tuy nhiên nó chỉ dùng như là giải pháp tạm thời do hiệu năng của nó không thỏa mãn các yêu cầu sử dụng trong tương lai Kiến trúc microwave-over-fiber có mức độ tích hợp rất cao cho dù phải thay đổi PON/GPON

Trang 26

cho phù hợp, còn các nhiễu xuyên kênh, hiệu ứng phi tuyến có thể bị loại bỏ nhờ xử

lí số tín hiệu (DSP)

Tại Việt nam, mạng di động 3G đã được triển khai bởi 3 nhà mạng lớn VinaPhone, Viettel và MobilePhone đã đi vào hoạt động trong hơn 1 năm qua Tuy nhiên mạng PON mới bắt đầu được triển khai do vậy giải pháp cho mạng PON vẫn để

mở sao cho sử dụng có hiệu quả, liên kết tốt với các mạng khác

1.5 NHẬN XÉT

Vào giữa những năm 90 của thế kỷ này, công nghệ APON (ATM - PON) đã được

áp dụng để truyền tải dữ liệu và tiếng nói Chậm hơn một chút là BPON, nó sử dụng cấu trúc chuyển đổi ATM ở mạng ngoại vi Tuy nhiên hiện nay mạng APON/BPON không được quan tâm phát triển do chỉ hỗ trợ dịch vụ ATM và tốc độ truy nhập thấp hơn nhiều so với các công nghệ hiện hữu khác như GPON hay EPON

Các nghiên cứu hiện nay đang tập trung vào GPON và EPON/GEPON vì đây là các công nghệ mới hứa hẹn sẽ được triển khai rộng rãi trong mạng truy nhập băng rộng do các đặc điểm vượt trội của chúng so với các công nghệ khác Trong khi GEPON chỉ cung cấp tốc độ truyền là 1,25 Gbit/s thì GPON lại cho phép đạt tới tốc độ 2.448 Gbit/s Và thậm chí, khi càng ngày các nhà cung cấp dịch vụ càng cố tiết kiệm chi phí bằng việc tận dụng tối đa băng thông thì có vẻ như GEPON đang dần trở thành một sự lựa chọn không được đánh giá cao Với hiệu suất từ 50% – 70%, băng thông của GEPON bị giới hạn trong khoảng 600Mbps đến 900Mbps, trong khi đó GPON với việc tận dụng băng thông tối đa nó có thể cho phép các nhà cung cấp dịch vụ phân phối với băng thông lên đến 2300 Mbps

Trong một nghiên cứu điển hình, hệ thống mạng GPON của Flexlight có thể đạt tới hiệu suất mạng 93%, điều đó có nghĩa là chỉ có 7% độ rộng băng tần được sử dụng cho việc quy định các thủ tục của giao thức truyền thông Hiệu suất lớn, độ rộng băng tần lớn, GPON hứa hẹn mang lại nhiều lợi nhuận cho các nhà cung cấp dịch vụ Trong khi đó APON, BPON, hay EPON lại tốn khá nhiều băng thông cho việc quy định các thủ tục truyền thông Chính vì thế mà hiệu suất băng thông giảm đi đáng kể, cụ thể

là APON và BPON còn 70% và EPON còn 50%

Đã được chuẩn hoá theo ITU–T G.984, GPON cho phép cung cấp đường truyền với các định dạng gốc như IP và TDM, đây thực sự là một giải pháp công nghệ PON đạt hiệu quả kinh tế có thể sử dụng cho cả các dịch vụ gia đình cũng như là cho các

Trang 27

doanh nghiệp Với những đặc tính hỗ trợ cao nhất và độ rộng băng tiêu dùng được nâng từ 10 MHz lên 100 MHz cho truyền dữ liệu Internet, đáp ứng được các yêu cầu cho nhiều dòng IPTV, có thể hỗ trợ truyền thông SDTV và HDTV, GPON đã thực

sự được đánh giá là kinh tế hơn EPON

Mặt khác trong khi tiêu chuẩn IEEE 803.2ah chỉ hỗ trợ 2 lớp ODN: lớp A và lớp B thì ITU-GT.984.2 [8] GPON GPM hỗ trợ cả lớp C, lớp cấp cao hơn Lớp C cho phép Mạng PON mở rộng cự ly tới 20Km, cung cấp cho số lượng lớn người dùng cuối, đạt tới 64 thậm chí 128 ONU/ONT

Bên cạnh đó trong khi EPON chỉ hỗ trợ duy nhất một tốc độ truyền dẫn đối xứng 1,25/1,25 Gbps ITU- T G.984.2 [8] GPON GPM linh hoạt và biến đổi được nhiều hơn, cho phép các tốc độ hướng xuống 1,25 và 2,5Gbps, hướng lên cho phép

155 Mbps, 622 Mbps hay 1,25 và 2,5 Gbps Cả hai công nghệ đều nhắm tới thị trường truy nhập, bao gồm các ứng dụng FTTH và FTTB với đặc trưng là tốc độ truy nhập không đối xứng giữa hướng lên và hướng xuống Thậm chí với sự phát triển của các ứng dụng dữ liệu thì cũng không có nhu cầu đến 1,25 Gbps trong hướng lên Trong khi GPON cho phép các nhà cung cấp dịch vụ để thiết lập những tốc độ kết nối theo nhu cầu thực tế, EPON không thực hiện được điều này Mặc dù đây không là một vấn đề lớn về chi phí đối với kết nối tốc độ cao, tuy nhiên để hỗ trợ 1.25 Gbps hướng lên, đòi hỏi phải cung cấp laser DFP ở đầu cuối và diôt thác quang APD đặt tại trung tâm mạng quang CO

Từ những so sánh trên có thể thấy rằng GPON thích hợp hơn so với EPON trong việc lắp đặt các hệ thống mạng để cung cấp các khả năng dự phòng cần thiết hỗ trợ cho O&M, khả năng tương thích cũng như là bảo mật Đây là những điều kiện cần thiết để điều hành một mạng kích cỡ lớn

Trang 28

CHƯƠNG 2

CÔNG NGHỆ MẠNG QUANG THỤ ĐỘNG GPON

2.1 GIỚI THIỆU CHUNG

Hiệp hội viễn thông quốc tế ITU chuẩn hóa trên hai tiêu chuẩn mạng quang thụ động APON/BPON và GPON APON (ATM PON) được xem như là chuẩn ITU-T G.983 dựa trên nền của chế độ truyền tải không đồng bộ ATM ITU-T G.983 còn được xem như chuẩn PON băng rộng hay BPON (Broadband PON) Mạng APON/BPON điển hình cung cấp tốc độ 622 Mbit/s luồng xuống và 155 Mbit/s luồng lên GPON được ITU-T chuẩn hóa G.984 bắt đầu từ năm 2003, là mở rộng từ chuẩn BPON G.983

GPON định nghĩa cho lớp Vật lí mạng truyền dẫn quang, được mở rộng bằng cách tăng băng thông, nâng hiệu suất băng thông nhờ sử dụng gói lớn, có độ dài thay đổi và tiêu chuẩn hóa quản lý Thêm nữa, chuẩn cho phép vài sự lựa chọn của tốc độ trên 2,488 Mbit/s của băng thông luồng xuống và 244 Mbit/s của băng thông luồng lên Phương thức đóng gói GPON-GEM(GPON Encapsulation Method) cho phép đóng gói lưu lượng người dùng rất hiệu quả, với sự phân đoạn khung cho phép chất lượng dịch vụ QoS cao hơn cho các dịch vụ thoại, video và dữ liệu GPON tăng cường bảo mật và chọn lớp 2 giao thức (ATM, GEM, Ethernet tuy nhiên trên thực tế ATM chưa từng được sử dụng) Điều đó cho phép GPON phân phối thêm các dịch vụ tới nhiều thuê bao với chi phí thấp hơn cũng như cho phép khả năng tương thích lớn hơn giữa các nhà cung cấp thiết bị

G-PON cung cấp các giao diện mạng người dùng (UNI), giao diện nút dịch vụ (SNI) Chuẩn này kế thừa hệ thống G.982 (APON) và G.983.x (BPON) bằng việc xem xét lại dịch vụ hỗ trợ, chính sách bảo mật, tốc độ bit danh định bao gồm: ITU-T G.984.2 (03/2003) [8] chỉ ra các yêu cầu cho lớp vật lý và các chi tiết kỹ thuật cho lớp PMD Nó bao gồm các hệ thống có tốc độ hướng xuống 1244.160 Mbit/s, 2488.320 Mbit/s và hướng lên 155.520 Mbit/s, 622.080 Mbit/s, 1244.160 Mbit/s, 2488.320 Mbit/s Mô tả các hệ thống GPON đối xứng và bất đối xứng

 ITU-T G.984.2 Adm 1 (02/2006): thêm phụ lục cho ITU-T G.984.2 [8], các xác minh về khả năng chấp nhận giá thành sản xuất công nghiệp đối với hệ thống G-PON 2.488/1.244 Gbit/s ITU-T G.984.3 (02/2004) [9]: mô tả lớp hội tụ truyền dẫn TC cho các mạng G-PON bao gồm định dạng khung, phương thức điều khiển truy nhập môi trường, phương thức ranging, chức năng OAM và bảo

Trang 29

 ITU-T G.984.3 Adm3 (12/2006): sáng tỏ và cô đọng nội dung ITU-T G.984.3

 ITU-TG.984.4(06/2004) ―G-PON:ONT giao diện điều khiển và quản lí‖ cung cấp chỉ tiêu kỹ thuật giao diện điều khiển (OMCI) và quản lý ONT các hệ thống GPON

 ITU-T G.984.4 Adm1 (06/2005): sửa đổi bổ sung ITU-T G.984.4 ITU-T G.984.4 Adm2 (03/2006): sửa đổi bổ sung ITU-T G.984.4

mức cảnh báo, giới hạn tốc độ các cổng Ethernet, OMCI cho OMCI, vận chuyển lưu lượng pseudowire

nối OLT thông qua mạng phân phối quang (ODN) dùng cho trường hợp cung cấp kết nối quang tới nhà thuê bao (FTTH)

Trang 30

ONU (Optical Network Unit): thiết bị kết cuối mạng cáp quang tích cực, kết nối với OLT thông qua mạng phân phối quang (ODN) thường dùng cho trường hợp kết nối tới buiding hoặc tới các vỉa hè, cabin (FTTB, FTTC, FTTCab)

từ nhà cung cấp dịch vụ đến khách hàng và ngược lại giúp tận dụng hiệu quả sợi quang vật lý Splitter thường được đặt tại các điểm phân phối quang (DP) và các điểm truy nhập quang (AP) Bộ chia/ghép quang sẽ có 2 loại, một loại đặt tại các nhà trạm viễn thông sử dụng các tủ kiểu indoor, loại thứ 2 sẽ là loại thiết bị được bọc kín có thể mở ra được khi cần thiết và đặt tại các điểm măng xông

Giao diện của ONU/ONT:

- Giao diện uplink kết nối lên OLT sử dụng cổng GPON

- Giao diện downlink kết nối tới các thiết bị của khách hàng gồm các loại sau:

các đơn vị chưa cung cấp dịch vụ kiểu này vì chưa có softswitch và trong khi tính toán băng thông cho mạng Man E cũng chưa tính cho dịch vụ trên.)

yêu cầu khoảng cách cáp đồng không vượt quá 1500m

Giao diện ODN Chức năng

Khối dịch vụ

Khối dịch vụ thích ứng

Khối dịch vụ thích ứng

Hình 2-2: Các khối chức năng của OLT

Trang 31

 Kết cuối đường quang OLT : OLT được kết nối tới mạng chuyển mạch thông

qua các giao diện được chuẩn hoá Ở phía phân tán, OLT đưa ra giao diện truy nhập quang tương ứng với các chuẩn G-PON như tốc độ bit, quỹ công suất,

jitter,…,OLT được mô tả trong hình 2.2 Trong đó:

- PON core shell: Khối này gồm hai phần, phần giao diện ODN và chức năng PON TC Chức năng của PON TC bao gồm tạo khung, điều khiển truy cập phương tiện, OAM, DBA và quản lý ONU Mỗi PON TC có thể lựa chọn hoạt động theo một chế độ ATM, GEM và Dual

- Cross-connect shell: Cross-connect shell cung cấp đường truyền thông giữa PON core shell và Service shell Các công nghệ sử dụng cho đường này phụ thuộc vào các dịch vụ, kiến trúc bên trong của OLT và các yếu tố khác OLT cung cấp chức năng kết nối chéo tương ứng với các chế độ được lựa chọn (ATM, GEM hoặc Dual)

- Service shell: Phần này hỗ trợ chuyển đổi giữa các giao diện dịch vụ và giao diện khung TC của phần PON

 Khối mạng quang ONU: Các khối chức năng của GPON ONU hầu hết đều giống

như của OLT Vì ONU hoạt động chỉ với một giao diện PON đơn (hoặc nhiều nhất

là hai giao diện với mục đích bảo vệ), chức năng kết nối chéo có thể bị bỏ đi Tuy nhiên, thay cho chức năng này, chức năng dịch vụ MUX và DMUX được hỗ trợ để

xử lý lưu lượng Cấu hình điển hình của một ONU được mô tả trên hình 2-3 Mỗi

PON TC lựa chọn một chế độ ATM, GEM và Dual để hoạt động

Giao diện ODN Chức năng

Khối dịch vụ thích ứng

Chọn lựa

Hình 2-3: Các khối chức năng của ONU

Trang 32

 Mạng phân phối quang ODN: Mạng phân phối quang kết nối giữa một OLT với

một/nhiều ONU sử dụng thiết bị tách/ghép quang và mạng cáp quang thuê bao

o Bộ tách/ghép quang: GPON sử dụng thiết bị thụ động để chia tín hiệu

quang từ một sợi để truyền đi trên nhiều sợi và ngược lại, kết hợp các tín hiệu quang từ nhiều sợi thành tín hiệu trên một sợi Thiết bị này được gọi là

bộ tách/ghép quang Dạng đơn giản nhất của nó là một bộ ghép quang bao gồm hai sợi quang được hàn dính vào nhau Tín hiệu nhận được ở bất cứ đầu vào nào cũng bị chia thành hai phần ở đầu ra Tỷ lệ phân chia của bộ tách/ghép có thể được điều khiển bởi độ dài của mối hàn và vì vậy đây được coi là tham số không đổi

Các bộ tách/ghép NxN được chế tạo bằng cách ghép tầng nhiều bộ 2x2 với nhau như hình 2-4 hoặc sử dụng công nghệ ống dẫn sóng phẳng

Hình 2-4: Các bộ ghép 8x8 được tạo ra từ các bộ ghép 2x2

Các bộ tách/ghép được đặc trưng bằng các tham số sau đây:

Suy hao chia - là tỷ lệ giữa công suất đầu ra và công suất đầu vào của bộ ghép,

tính theo dB Với một bộ 2x2 lý tưởng, giá trị này là 3 dB Hình 2-4 biểu diễn hai mô hình của bộ 8x8 dựa trên các bộ 2x2 Trong mô hình 4 tầng (Hình 2-4a), chỉ có 1/16 công suất đầu vào được đưa tới từng đầu ra Hình 2-4b biểu diễn mô hình thiết kế hiệu quả hơn, mỗi đầu ra sẽ nhận được 1/8 công suất của đầu vào

Suy hao ghép - đây là công suất bị tổn hao do quá trình sản xuất, giá trị này

thông thường khoảng 0.1dB đến 1dB

Điều hướng - đây là mức công suất đo được ở đầu vào bị dò từ một đầu vào

khác Với những bộ tách/ghép là thiết bị có khả năng định hướng cao thì tham

số điều hướng khoảng từ 40 đến 50dB Thông thường, các bộ tách/ghép thường chỉ được chế tạo với một đầu vào hoặc một đầu ra Bộ tách/ghép có một đầu vào ta gọi là bộ chia (tách), còn bộ có một đầu ra ta gọi là bộ kết hợp (ghép) Tuy nhiên, cũng có những bộ 2x2 được chế tạo không đối xứng (với tỷ số chia khoảng 5/95 hoặc 10/90) Loại tách/ghép này chủ yếu được dùng để trích ra

Trang 33

một phần tín hiệu quang cho mục đích kiểm tra, được gọi là bộ ghép rẽ

o Mạng cáp quang thuê bao: Mạng cáp thuê bao quang được xác định trong phạm

vi ranh giới từ giao tiếp sợi quang giữa thiết bị OLT đến thiết bị ONU/ONT.[1]

Hình 2-5: Cấu trúc cơ bản Mạng cáp quang thuê bao

- Cáp quang gốc (Feeder Cable): từ phía nhà cung cáp dịch vụ (hay còn gọi

chung là Central Office) tới điểm phân phối được gọi là DP (Distribution Point)

- Điểm phân phối sợi quang (DP): điểm kết thúc của đoạn cáp gốc Trên thực tế

triển khai, điểm phân phối sợi quang thường là măng xông quang, hoặc các tủ cáp quang phối, ưu tiên dùng măng xông quang

- Cáp quang phối (Distribution Optical Cable): từ điểm phối quang (DOP) tới

các điểm truy nhập mạng (AP) hay từ các tủ quang phối tới các tập điểm quang Cáp quang thuê bao (DropCable) xuất phát từ các điểm truy nhập mạng (AP) hay là từ các tập điểm quang đến thuê bao

- Hệ thống quản lý mạng quang (FMS – Fiber Management System) được sử

Trang 34

- Tốc độ cho một kênh HDTV = 18 Mbit/s

- Tốc độ cho một kênh SDTV = 3 Mbit/s

- Truy cập Internet tốc độ cao = 100 Mbit/s trên mỗi thuê bao với tỷ lệ dùng chung 20:1

-Voice IP tốc độ 100 Kbit/s

b) Hướng lên:

ITU G 984 GPON không những có khả năng hỗ trợ tất cả các yêu cầu về hệ thống mạng mà còn cung cấp một cơ chế QoS riêng cho lớp PON vượt ra ngoài các giao thức Ethernet (lớp 2) và loại dịch vụ IP (lớp 3) để thỏa mãn QoS cho các dịch vụ VoIP, MultiMedia thông qua môi trường chia sẻ trên nền TDMA Tuy nhiên, các việc đảm bảo QoS phải dựa trên cơ chế của các giao thức mạng đa lớp (Multi-Layer Protocol) và phụ thuộc nhiều vào lớp truyền tải Nếu lớp truyền tải có độ trễ và dung sai lớn thì việc phân chia mức ưu tiên dịch vụ không còn ý nghĩa Đối với TDMA PON, dung lượng cung cấp QoS hướng lên sẽ bị hạn chế khi tất cả các ONU của PON

sử dụng hết băng thông hướng lên và ưu tiên của nó trong TDMA Hướng lên GPON

có thông lượng tối đa đến 1,25 Gbits/s

2.3.3 Các thông số khác:

4 Loại lưu lượng: dữ liệu số

5 Khung truyền dẫn: GEM

6 Dịch vụ: dịch vụ đầy đủ (Ethernet, TDM, POTS)

7 Tỉ lệ chia của bộ chia thụ động: tối đa 1:128

9 Phạm vi công suất sử dụng luồng xuống: -3 đến +2 dBm (10km ODN) hoặc +2 đến +7 (20Km ODN)

Trang 35

10 Phạm vi công suất sử dụng luồng lên: -1 đến +4 dBm (10Km và 20Km ODN)

11 Loại cáp: tiêu chuẩn ITU-T Rec G.652 điểm quản lý quang (FMP-Fiber Management Point): dễ dàng cho xử lý sự cố và phát hiện đứt đường

12 Suy hao tối đa giữa các ONU: 15dB

Cự ly cáp tối đa:20Km với DFB laser luồng lên, 10Km với Fabry-Perot

Cấu trúc tổng thể mạng truy nhập FTTx (GPON) như sau:

Hình 2-6: Cấu trúc tổng thể mạng truy nhập quang thụ động (GPON)

2.4 KỸ THUẬT TRUY NHẬP VÀ GHÉP KÊNH:

Công nghệ truyền dẫn đa truy nhập là các kỹ thuật chia sẻ tài nguyên hữu hạn cho một lượng khách hàng Trong hệ thống GPON, tài nguyên chia sẻ chính là băng tần truyền dẫn Người sử dụng cùng chia sẻ tài nguyên này bao gồm thuê bao, nhà cung cấp dịch vụ, nhà khai thác và những thành phần mạng khác Tuy không còn là một lĩnh vực mới mẻ trong ngành viễn thông trên thế giới nhưng các kỹ thuật truy nhập cũng là một trong những công nghệ đòi hỏi những yêu cầu ngày càng cao để hệ thống thoả mãn được các yêu cầu về độ ổn định cao, thời gian xử lý thông tin và trễ thấp, tính bảo mật và an toàn dữ liệu cao

2.4.1 Kỹ thuật truy nhập:

Kỹ thuật truy nhập được sử dụng phổ biến trong các hệ thống GPON hiện nay

là đa truy nhập phân chia theo thời gian (TDMA)

TDMA là kỹ thuật phân chia băng tần truyền dẫn thành những khe thời gian kế tiếp nhau Những khe thời gian này có thể được ấn định trước cho mỗi khách hàng hoặc có thể phân theo yêu cầu tuỳ thuộc vào phương thức chuyển giao đang sử dụng

Hình 2-7 dưới đây là một ví dụ về việc sử dụng TDMA trên GPON hình cây Mỗi thuê

bao được phép gửi số liệu đường lên trong khe thời gian riêng biệt Bộ tách kênh sắp

Trang 36

xếp số liệu đến theo vị trí khe thời gian của nó hoặc thông tin được gửi trong bản thân khe thời gian Số liệu đường xuống cũng được gửi trong những khe thời gian xác định

Hình 2-7: TDMA GPON

GPON sử dụng kỹ thuật TDMA có ưu điểm rất lớn đó là các ONU có thể hoạt động trên cùng một bước sóng, và OLT hoàn toàn có khả năng phân biệt được lưu lượng của từng ONU OLT cũng chỉ cần một bộ thu, điều này sẽ dễ dàng cho việc triển khai thiết bị, giảm được chi phí cho các quá trình thiết kế, sản xuất, hoạt động và bảo dưỡng Ngoài ra, việc sử dụng kỹ thuật này còn có một ưu điểm là có thể lắp đặt

dễ dàng thêm các ONU nếu có nhu cầu nâng cấp mạng

Một đặc tính quan trọng của GPON sử dụng TDMA là yêu cầu bắt buộc về đồng bộ của lưu lượng đường lên để tránh xung đột số liệu Xung đột này sẽ xảy ra nếu hai hay nhiều gói dữ liệu từ những thuê bao khác nhau đến bộ ghép cùng một thời điểm Tín hiệu này đè lên tín hiệu kia và tạo thành tín hiệu ghép Phía đầu xa không thể nhận dạng được chính xác tín hiệu tới, kết quả là sinh ra một loạt lỗi bit và suy giảm thông tin đường lên, ảnh hưởng đến chất lượng của mạng Tuy nhiên các vấn đề trên đều được khắc phục với cơ chế định cỡ và phân định băng thông động của GPON

mà chúng ta sẽ đề cập ở phần sau

2.4.2 Phương thức ghép kênh:

Phương thức ghép kênh trong GPON là ghép kênh song hướng, các hệ thống GPON hiện nay sử dụng phương thức ghép kênh phân chia không gian Đây là giải pháp đơn giản nhất đối với truyền dẫn song hướng, nó được thực hiện nhờ sử dụng những sợi riêng biệt cho truyền dẫn đường lên và xuống Sự phân cách vật lí của các hướng truyền dẫn tránh được ảnh hưởng phản xạ quang trong mạng và cũng loại bỏ vấn đề kết hợp và phân tách hai hướng truyền dẫn Điều này cho phép tăng được quỹ công suất trong mạng, việc sử dụng hai sợi quang làm cho việc thiết kế mạng mềm dẻo

Trang 37

hơn và làm tăng độ khả dụng bởi vì chúng ta có thể mở rộng mạng bằng cách sử dụng những bộ ghép kênh theo bước sóng trên một hoặc hai sợi Khả năng mở rộng này cho phép phát triển dần dần những dịch vụ mới trong tương lai Hệ thống này sẽ sử dụng cùng bước sóng, cùng bộ phát và bộ thu như nhau cho hai hướng nên chi phí cho những phần tử quang-điện sẽ giảm

Nhược điểm chính của phương thức này là cần gấp đôi số lượng sợi, mối hàn và connector, trong GPON hình cây thì số lượng bộ ghép quang cũng cần gấp đôi Tuy nhiên chi phí về sợi quang, phần tử thụ động và kỹ thuật hàn nối vẫn đang giảm, trong tương lai nó chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong toàn bộ chi phí hệ thống

2.4.3 Phương thức đóng gói dữ liệu:

GPON định nghĩa hai phương thức đóng gói ATM và GEM (GPON Encapsulation Method) Các ONU và OLT có thể hỗ trợ cả T-CONT nền ATM hoặc GEM

GEM cung cấp khả năng thông tin kết nối định hướng tương tự ATM, GPON cho phép hỗ trợ nhiều loại hình dịch vụ khách hàng khác nhau Khách hàng ATM được sắp xếp trong suốt vào khung GEM trên cả hai hướng, khách hàng TDM được sắp xếp vào khung GEM sử dụng thủ tục đóng gói GEM, các gói dữ liệu bao gồm cả các khung Ethernet cũng được sắp xếp sử dụng thủ tục đóng gói GEM GEM cũng hỗ trợ việc phân mảnh hoặc chia nhỏ các khung lớn thành các phân mảnh nhỏ và ghép lại

ở đầu thu nhằm giảm trễ cho các lưu lượng thời gian thực Lưu lượng dữ liệu bao gồm các khung Ethernet, các gói tin IP, IPTV, VoIP và các loại khác giúp cho truyền dẫn khung GEM hiệu quả và đơn giản GPON sử dụng GEM mang lại hiệu quả cao trong truyền dẫn tải tin IP nhờ sử dụng tới 95% băng thông cho phép trên kênh truyền dẫn

2.5 ĐỊNH CỠ VÀ CẤP BĂNG TẦN ĐỘNG:

2.5.1 Thủ tục định cỡ (Ranging):

Để một ONU có thể vận hành trong mạng G-PON, nó phải được định cỡ (xác định cự ly giữa ONU là OLT), cự ly tối đa của mạng G-PON hiện quy định là 20km Khoảng cách từ OLT tới ONU là khác nhau với mỗi ONU và do đó trễ khứ hồi RTD

từ mỗi ONU tới OLT là khác nhau Nếu trễ khứ hồi RTD chưa được xác định chính xác thì định thời truyền dẫn sẽ không thể thực hiện.Vì vậy nếu có một ONU mới kết nối với mạng thì trước hết cần đo RTD Bằng lệnh của hệ thống vận hành, OLT tự

Trang 38

động tạo ra kích thước cửa sổ được định cỡ phù hợp để đo trễ tùy theo khoảng cách giữa OLT và ONU

Có hai cách xác định kích thước cửa sổ ONU cho quá trình ranging: Một là dựa vào ONU đã đăng ký và phương pháp khác xác định tất cả các ONU chưa đăng ký Trong phương pháp thứ nhất, một ONU với số ID riêng được xác định trong hệ thống vận hành Trong phương pháp thứ hai OLT không biết số ID riêng của mỗi ONU, khi

đó sẽ có vài ONU có thể truyền tín hiệu cho quá trình đo trễ diễn ra liên tục Một biện pháp giảm xung đột trong quá trình ranging là truyền tín hiệu cho quá trình đo trễ với một khoảng thời gian chờ ngẫu nhiên, gần giống như phương pháp được sử dụng trong Ethernet(CSMA/CD) Thậm chí nếu có xảy ra xung đột ngay bước đầu thì vẫn có thể tiến hành do trễ bằng cách lặp lại quá trình truyền dẫn hai hay ba lần

Cửa sổ định cỡ

(3) Truyền SN

Trễ ngẫu nhiên

Dữ liệu #2

Hình 2-8: Định cỡ giai đoạn 1 của GPON

Vì dữ liệu thuê bao không được truyền trước khi quá trình ranging kết thúc nên

sẽ không làm tăng trễ truyền dẫn dữ liệu Ngoài ra thời gian chờ ngẫu nhiên được sử dụng để chống xung đột không được bao gồm trong phép đo trễ khứ hồi RTD

Thủ tục ranging của GPON được chia thành 2 giai đoạn, ở giai đoạn thứ nhất

(như chỉ ra trong hình 2.8) thủ tục để đăng ký số serial cho ONU chưa đăng ký và cấp

phát ONU-ID cho ONU đã thực hiện Serial Number là ID xác định ONU và phải là duy nhất, đồng thời ONU-ID được sử dụng để điều khiển, theo dõi và kiểm tra ONU Các bước trong giai đoạn thứ nhất bao gồm:

1 OLT xác định tất cả các ONU hiện đang hoạt động để cho dừng quá trình truyền dẫn (các ONU ngừng truyền dẫn – (1) ONU halt)

2 OLT xác định ONU không có ONU-ID để yêu cầu truyền số sêri

Trang 39

(bản tin yêu cầu sô sêri – (2) serial_number request)

3 Sau khi nhận được yêu cầu truyền số sêri, ONU không có ONU-ID sẽ truyền

số serial (quá trình truyền số serial – (3) SN transmission) sau khi chờ một khoảng thời gian ngẫu nhiên (tối đa 50ms)

4 OLT chỉ định một ONU-ID tới ONU chưa đăng ký mà OLT đã nhận được serial_number (bản tin chỉ định ONU-ID – (4) assign ONU-ID)

mới Thêm vào đó tại giai đoạn này cũng được áp dụng cho các ONU bị mất tín hiệu trong quá trình truyền tin

Các bước trong giai đoạn thứ hai bao gồm:

5 OLT xác định tất cả các ONU đang thông tin để cho dừng quá trình truyền dẫn luồng lên (các ONU ngừng truyền dẫn – (5) ONU halt)

6 Sử dụng các số sêri, OLT xác định một ONU nhất định và chỉ ONU đó được truyền tín hiệu cho quá trình đo trễ (bản tin yêu cầu ranging–(6) ranging request)

7 ONU có số sêri trùng với số sêri OLT đã xác định sẽ truyền tín hiệu cho quá trình đo trễ (quá trình truyền ranging–(7) ranging transmission), bao gồm cả ONU-ID đã chỉ định trong pha1

Hình 2-9: GPON Ranging pha 2

8 OLT do RTD phụ thuộc vào thời gian mà tín hiệu sử dụng cho phép đo trễ được thu Hơn nữa, sau khi xác nhận sự kết hợp giữa số sêri và ONU-ID là đúng, OLT thông báo trễ cân bằng (Equalization Delay=Teqd – RTD) tới ONU (bản tin thời gian ranging–(8) Ranging_time message) Trong đó Tepd là hằng

Trang 40

số và giá trị RTD lớn nhất được xác định trong Mạng PON, ví dụ với khoảng cách tối đa 20km thì Teqd =200ms

9 ONU lưu giá trị trễ cân bằng và tạo trễ định thời cho chuỗi dữ liệu truyền dẫn luồng lên với giá trị này

2.5.2 Phương thức cấp phát băng thông:

Tại hướng lên băng thông được sử dụng bởi các ONU không chỉ phụ thuộc vào bối cảnh lưu lượng tại các ONU có liên quan mà đồng thời còn liên quan đến lưu lượng của các ONU khác trong mạng Vì sử dụng môi trường chia sẻ băng thông nên lưu lượng truyền bởi mỗi ONU có khả năng bị xung đột và quá trình truyền lại làm giảm hiệu xuất Do đó hướng lên GPON sử dụng phương thức cấp phát băng thông động DBA Các khung truyền dẫn hướng lên được chia thành 5 loại TCONT để quản

lý việc cấp phát băng thông hướng lên

- Dịch vụ loại I –TCONT trên cơ sở được cấp phát băng thông cố định hay là dịch

vụ yêu cầu băng thông cố định, không được phục vụ bởi DBA cho lưu lượng UGS

- Loại II – TCONT cho dịch vụ có tốc độ bit thay đổi vài yêu cầu về trễ và jitter như truyền hình và VoIP

- Loại III – TCONT cho các dịch vụ được đảm bảo về trễ

- Loại IV – TCONT cho lưu lượng best-effort

- Loại V – TCONT là kết hợp của hai hay nhiều loại x–TCONT ở trên

OLT

Mỗi T-CONT hướng lên

ONU 1

ONU N ONU 2

Mỗi T-CONT Báo cáo tắc nghẽn

Hình 2-10: Báo cáo và phân bổ băng thông trong GPON

Ngày đăng: 25/03/2015, 11:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[4]. Credic F.Lam (2007), ―Passive Optical Networks princeiples and practice‖, Publisher: Academic Press , pp. 215-264. ISBN: 0123738539, EAN: 9780123738530 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Passive Optical Networks princeiples and practice
Tác giả: Credic F.Lam
Năm: 2007
[5] Govind P. Agrawal, ―Dispersion Penalty for 1.3-μm Lightware Systems with Multimode Semiconductor Lasers.” Journal of Lightwave technology, Vol.6 , No. 2, page 620 – 625, May 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dispersion Penalty for 1.3-μm Lightware Systems with Multimode Semiconductor Lasers.”
[6]. Paul E, Green Jr. ,― Fiber to the home the new empowerment‖, John Wiley & Sons Publisher , ISBN: 0471742473 , 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fiber to the home the new empowerment
Tác giả: Paul E. Green Jr
Nhà XB: John Wiley & Sons
Năm: 2005
[8]. ITU G.984.2 (2003), Gigabit-capable Passive Optical Networks (GPON): Physical Media Dependent (PMD) layer specification Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gigabit-capable Passive Optical Networks (GPON): Physical Media Dependent (PMD) layer specification
Tác giả: ITU
Nhà XB: ITU
Năm: 2003
[12]. ITU G.983.2 (2000), ―ONT Management and Control Interface Specification for ATM PON” Sách, tạp chí
Tiêu đề: ONT Management and Control Interface Specification for ATM PON
Nhà XB: ITU
Năm: 2000
[13]. ITU G.983.3 (2001), ―Broadband Optical Access Systems with Increased Service Capability by Wavelenght Allocation‖ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Broadband Optical Access Systems with Increased Service Capability by Wavelenght Allocation
Tác giả: ITU G.983.3
Năm: 2001
[14]. ITU G.983.4 (2001), ―Broadband Optical Access Systems with Increased Service Capability using Dynamic Bandwdith Assigment ’’ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Broadband Optical Access Systems with Increased Service Capability using Dynamic Bandwdith Assigment
Tác giả: ITU G.983.4
Năm: 2001
[15]. Yanchun Yi, Stefaan Verschuere, Zhe Lou. ‖ Simulations and Experiments on the Effective Optical Gain of FEC in a GPON Uplink‖, IEEE Photonics Technology Sách, tạp chí
Tiêu đề: Simulations and Experiments on the Effective Optical Gain of FEC in a GPON Uplink
[1]. Công văn số 640/CV-VT ngày 5/3/2009 của VNPT v/v Hướng dẫn triển khai xây dựng cấu trúc mạng truy nhập kết nối quang tới thuê bao(FTTx GPON) Khác
[2]. Đề tài ―Nghiên cứu giải pháp công nghệ quang thụ động Gigabit phù hợp với yêu cầu mạng VNPT‖ của tác giả Hoàng Văn Bình Khác
[7]. ITU G.984.1 (2003), Gigabit-capable Passive Optical Networks (GPON): General characteristics Khác
[9]. ITU G.984.3 (2004), Gigabit-capable Passive Optical Networks (GPON): Transmission convergence layer specification Khác
[10]. ITU G.984.4 (2004), Gigabit-capable Passive Optical Networks (GPON): ONT management and control interface specification Khác
[11]. ITU G.983.1 (1998), Broadband Optical Access Systems Based on Passice Optical Networks (PON) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2: Cấu trúc PON - Mạng quang thụ động (GPON) và ứng dụng triển khai tại viễn thông Hà Nội
Hình 1.2 Cấu trúc PON (Trang 17)
Hình 1-1: Mô hình Mạng quang thụ động - Mạng quang thụ động (GPON) và ứng dụng triển khai tại viễn thông Hà Nội
Hình 1 1: Mô hình Mạng quang thụ động (Trang 17)
Hình 1.3 : Mô hình kiến trúc 3G WCDMA UMTS R3. - Mạng quang thụ động (GPON) và ứng dụng triển khai tại viễn thông Hà Nội
Hình 1.3 Mô hình kiến trúc 3G WCDMA UMTS R3 (Trang 21)
Hình 1.6: Kiến trúc lai ghép UMTS&PON - Mạng quang thụ động (GPON) và ứng dụng triển khai tại viễn thông Hà Nội
Hình 1.6 Kiến trúc lai ghép UMTS&PON (Trang 24)
Hình 2-3: Các khối chức năng của ONU - Mạng quang thụ động (GPON) và ứng dụng triển khai tại viễn thông Hà Nội
Hình 2 3: Các khối chức năng của ONU (Trang 31)
Hình 2-8: Định cỡ giai đoạn 1 của GPON - Mạng quang thụ động (GPON) và ứng dụng triển khai tại viễn thông Hà Nội
Hình 2 8: Định cỡ giai đoạn 1 của GPON (Trang 38)
Hình 2-9: GPON Ranging pha 2 - Mạng quang thụ động (GPON) và ứng dụng triển khai tại viễn thông Hà Nội
Hình 2 9: GPON Ranging pha 2 (Trang 39)
Hình 2.14 Hiệu năng sử dụng mã FEC cho GPON - Mạng quang thụ động (GPON) và ứng dụng triển khai tại viễn thông Hà Nội
Hình 2.14 Hiệu năng sử dụng mã FEC cho GPON (Trang 46)
Hình 3.1 Cấu trúc mạng MEN của Viễn thông Hà Nội - Mạng quang thụ động (GPON) và ứng dụng triển khai tại viễn thông Hà Nội
Hình 3.1 Cấu trúc mạng MEN của Viễn thông Hà Nội (Trang 49)
Hình 3-2: Biểu đồ nhu cầu dịch vụ Viễn thông cơ quan TW tại Hà nội - Mạng quang thụ động (GPON) và ứng dụng triển khai tại viễn thông Hà Nội
Hình 3 2: Biểu đồ nhu cầu dịch vụ Viễn thông cơ quan TW tại Hà nội (Trang 53)
Hình 3-7: Thống kê lưu lượng, băng thông - Mạng quang thụ động (GPON) và ứng dụng triển khai tại viễn thông Hà Nội
Hình 3 7: Thống kê lưu lượng, băng thông (Trang 64)
Hình 3-6: Biểu đồ thể hiện chỉ số băng thông mạng GPON VTHN - Mạng quang thụ động (GPON) và ứng dụng triển khai tại viễn thông Hà Nội
Hình 3 6: Biểu đồ thể hiện chỉ số băng thông mạng GPON VTHN (Trang 64)
Hình 3-8. Tuyến GPON khu vực Cầu Giấy - Mạng quang thụ động (GPON) và ứng dụng triển khai tại viễn thông Hà Nội
Hình 3 8. Tuyến GPON khu vực Cầu Giấy (Trang 65)
Hình 3.9: Hiệu quả độ lợi quang khi sử dụng (FEC) hoặc không mã như là một hàm của BER - Mạng quang thụ động (GPON) và ứng dụng triển khai tại viễn thông Hà Nội
Hình 3.9 Hiệu quả độ lợi quang khi sử dụng (FEC) hoặc không mã như là một hàm của BER (Trang 67)
Hình 3.11: Sự  phụ thuộc BM-BER - Mạng quang thụ động (GPON) và ứng dụng triển khai tại viễn thông Hà Nội
Hình 3.11 Sự phụ thuộc BM-BER (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w