1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp phát triển nông thôn huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương

56 609 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp phát triển nông thôn huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương
Người hướng dẫn Thầy Cô Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân - Hà Nội
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại Đề tài
Thành phố Hải Dương
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 379 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiệnmục tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội của Đại hội đảng bộ Huyện BìnhGiang lần thứ XXII đề ra: “Phát huy mọi nguồn lực, tiếp tục phát triển kinh tế theohướng công nghiệ

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Bình Giang là một huyện nằm ở phía tây tỉnh Hải Dương là một huyện nôngnghiệp, có tiềm năng lớn về sản xuất nông nghiệp, đồng thời có vị trí địa lý thuậnlợi nằm sát với đường 5 Trong những năm qua sản xuất nông nghiệp đã thu đượcnhững thành tựu to lớn góp phần vào sự tăng trưởng chung của Tỉnh Thực hiệnmục tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế - xã hội của Đại hội đảng bộ Huyện BìnhGiang lần thứ XXII đề ra: “Phát huy mọi nguồn lực, tiếp tục phát triển kinh tế theohướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp,kinh tế nông thôn toàn diện vững chắc, tận dụng lợi thế địa phương, phát triển côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả và phù hợp với nhu cầucủa thị trường, phát triển đa dạng các ngành dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống”.Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Bình Giang tỉnhHải Dương đã không ngừng phát triển cho vay, tuy nhiên chất lượng tín dụng làvấn đề vô cùng quan trọng vì:

- Nó đảm bảo đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh vànhu cầu tiêu dùng của các cá nhân trong nền kinh tế Đảm bảo chất lượng tín dụngtốt và ổn định sẽ giúp chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thônhuyện Bình Giang tỉnh Hải Dương thực hiện và đáp ứng được yêu cầu tăng trưởngkinh tế, cũng như công cuộc xoá đói giảm nghèo và từng bước Công nghiệp hoá -Hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn trên địa bàn huyện Bình Giang

- Nâng cao được chất lượng tín dụng đồng nghĩa với việc tăng khả năngkiểm soát vốn của ngân hàng Từ đó chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và Pháttriển nông thôn huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương sẽ bảo vệ được tiền gửi củakhách hàng và hiệu quả hoạt động của ngân hàng Giúp nâng cao được uy tín và lợinhuận của Ngân hàng

Trang 2

- Nâng cao chất lượng tín dụng sẽ làm giảm thiểu rủi ro trong nền kinh tếhuyện, tạo điều kiện tâm lý thuận lợi cho nhân dân trong huyện yên tâm tới chinhánh Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Bình Giang tỉnh HảiDương để vay vốn để sản xuất kinh doanh.

Xuất phát từ những luận cứ và thực tiễn trên, qua tìm hiểu cho vay vốn Hộsản xuất tại Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Bình

Giang tỉnh Hải Dương, tôi đã chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp phát triển nông thôn huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương” nhằm mục đích tìm ra những giải pháp để mở

rộng đầu tư đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn Huyện

và đảm bảo an toàn vốn đầu tư Tuy nhiên, do trình độ của bản thân tôi còn nhiềuhạn chế, việc thu thập tài liệu và thời gian nghiên cứu có hạn, do đó không tránhkhỏi những thiếu sót Rất mong được các thầy cô giáo của Trường Đại Học Kinh

Tế Quốc Dân - Hà Nội và Ban giám đốc chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp huyệnBình Giang tỉnh Hải Dương quan tâm giúp đỡ để bài viết được hoàn thiện hơn

Trang 3

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1 Những hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại

Ngân hàng là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho công chúng và doanhnghiệp Thành công của ngân hàng phụ thuộc vào năng lực xác định các dịch vụ tàichính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách có hiệu quả

và cho phép ngân hàng sử dụng tạm thời để kinh doanh Trong lịch sử đã có những

kỷ lục về lãi suất, chẳng các ngân hàng Hy Lạp đã trả lãi suất 16% một năm để thuhút các khoản tiền tiết kiệm nhằm mục đích cho vay đối với các chủ tầu ở ĐịaTrung Hải với lãi suất gấp đôi hay gấp ba lãi suất tiết kiệm Như vây, khi cung cấpdịch vụ nhận tiền gửi ngân hàng thu “phí” gián tiếp thông qua thu nhập của hoạtđộng sử dụng tiền gửi đó

Trang 4

1.1.2 Mua, bán ngoại tệ

Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi (mua,bán) ngoại tệ: Mua, bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch

vụ

1.1.3 Phát hành giấy tờ có giá trên thị trường tài chính

Khi cần huy động một số lượng vốn lớn trong thời gian ngắn, các ngân hàngthương mại có nhiều cách nhưng phát hành các loại giấy tờ có giá trên thị trườngthường được áp dụng Các Ngân hàng thương mại có thể chấp nhận mức lãi caohơn so với thị trường để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong thời gian ngắn trên.Điều này giúp Ngân hàng chủ động trong việc huy động cũng nhu trả nợ

1.2 Sử dụng vốn

1.2.1 Cho vay

Cho vay thương mại.

Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế làcho vay đối với người bán (người bán chuyển các khoản phải thu cho ngân hàng đểlấy tiền trước) Sau đó ngân hàng cho vay trực tiếp đối với khách hàng (là ngườimua), giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh Điềunày giúp Ngân hàng quay vòng được nguồn vốn một cách thường xuyên, tạo ra lợinhuận cao Khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì yêu cầu vốn trên thị trường làrất lớn, điều này tạo điều kiện cho vay thương mại phát triển bền vững và tăngtrưởng không ngừng Đóng góp lớn vào sự phát triển chung của thị trường tàichính

Cho vay tiêu dùng

Trong giai đoạn đầu hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với cánhân và hộ gia đình bơỉ vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng rủi ro vỡ nợtương đối cao Sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong chovay đã hướng các ngân hàng tới người tiêu dùng như là một khách hàng tiềm năng

Trang 5

Sau chiến tranh thế giới thứ 2, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những loạihình tín dụng tăng trưởng nhanh nhất ở các nước có nền kinh tế phát triển Khi nềnkinh tế ngày càng phát triển kéo theo đó là đời sống của con người ngày càng đượcnâng lên thì cho vay tiêu dùng ngày càng khẳng định được ưu thế của mình, nó đãgóp phần không nhỏ vào sự phát triển của các Ngân hàng thương mại.

1.2.2 Tài trợ và đầu tư

Tài trợ cho dự án

Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn, các Ngân hàng thươngmại ngày một trú trọng hơn trong cho vay trung và dài hạn Vì các khoản vay nàythường là rất lớn và đem lại hiệu quả kinh tế cao Các khoản cho vay này tập trungchủ yếu vào tài trợ các dự án lớn và mang tính chiến lược của nền kinh tế như: Tàitrợ xây dựng nhà máy, phát triển ngành công nghệ cao một số Ngân hàng còn đầu

tư vào đất Các khoản cho vay đàu tư này đã được các Ngân hàng thương mại thựchiện ngày càng linh hoạt hơn nhằm thu hút các dự án cần kinh phí tới vay vốnnhiều hơn nữa

Tài trợ các hoạt động của chính phủ

Khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trởthành trọng tâm chú ý của các chính phủ Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường là cấpbách trong khi thu không đủ, chínhphủ các nước đều muốn tiếp cận với các khoảncho vay của ngân hàng Ngày nay, chính phủ dành quyền cấp phép hoạt động vàkiểm soát các ngân hàng Các ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điềukiện là họ phải cam kết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách của chính phủ

và tài trợ cho Chính phủ Các ngân hàng thường mua trái phiếu Chính phủ theo một

tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được

Đầu tư

Ngoài việc tài trợ cho các dự án, các Ngân hàng thương mại còn tự đầu tưkinh doanh trên thi trường Nó đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, vì Ngân hàng

Trang 6

thương mại có thực lực về tài chính điều này tạo lợi thế cạnh tranh rất lớn cho cácNgân hàng thương mại Thực tế đã chứng minh điều này, các dự án của các Ngânhàng thương mại đang mang lại hiệu quả cao đem về lợi nhuân lớn

1.3 Các hoạt động khác

1.3.1 Bảo quản tài sản hộ

Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng, các giấy tờ có giá và tài sản kháccho khách hàng trong két (vì vậy còn gọi là dịch vụ cho thuê két) Ngân hàngthường giữ hộ những tài sản tài chính, giấy tờ cầm cố, hoặc những giấy tờ quantrọng khác của khách hàng với nguyên tắc an toàn, bí mật, thuận tiện Dịch vụ nàyphát triển cùng vời nhiều dịch vụ khác như mua bán hộ các giấy tờ có giá chokhách, thanh toán lãi hoặc cổ tức hộ

1.3.2 Cung cấp tài khoản giao dịch, thực hiện thanh toán

Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản màcòn thục hiện các lệnh chi trả cho khách hàng Thanh toán qua ngân hàng đã mởđầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền không cần phải đếnngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết phiếu chi trả cho khách, khách hàng manggiấy đến ngân hàng sẽ nhận được tiền Các tiện ích của thanh toán không dùng tiềnmặt (an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiếtkiệm chi phí) đã góp phần rút ngắn thờigian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho khách hàng Khi ngân hàng mở chinhánh, phạm vi thanh toán qua ngân hàng được mở rộng, càng tạo nhiều lợi íchhơn Điều này đã khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để nhờ ngânhàng thanh toán hộ Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, bên cạnh cácthể thức thanh toán như séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, L/C, đã phát triển các hình thứcthanh toán mới bằng điện, thẻ

1.3.3 Quản lý ngân quỹ

Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp và cánhân Nhờ đó, ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều khách hàng Do

Trang 7

có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân, nhiềungân hàng đã ccung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ, trong đó ngânhàng đồng ý quản lý việc thu chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu tưphần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lời và tín dụng ngắn hạncho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán

1.3.4 Bảo lãnh

Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng rất lớn và dongân hàng nắm giữ tiền gửi của khách hàng, nên ngân hàng có uy tín trong bảo lãnhcho khách hàng Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng đa dạng

và phát triển mạnh Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịuhàng hoá và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụngkhác

1.3.5 Cho thuê thiết bị trung và dài hạn (Leasing)

Nhằm để bán được các thiết bị, đặc biệt là các thiết bị có giá trị lớn Nhiềuhãng sản xuất và thương mại đã cho thuê Cuối hợp đồng thuê khách hàng có thểmua( do vậy còn gọi là hợp đồng thuê mua) Rất nhiều ngân hàng tích cực chokhách hàng quyền lựa chọn thuê các thiết bị máy móc cần thiết thông qua hợp đồngthuê mua, trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê với điều kiệnkhách hàng phải trả tới hơn 70% hoặc100% giá trị của tài sản cho thuê Do vậy chothuê của ngân hàng cũng có nhiều điểm giống như cho vay và được xếp vào tíndụng trung và dài hạn

1.3.6 Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn

Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, các ngân hàng có rất nhiều chuyên gia

về quản lí tài chính Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân hàng quản

lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ Dịch vụ uỷ thác phát triển sang cả uỷthác vay hộ , uỷ thác cho vay hộ, uỷ thác phát hành, uỷ thác đầu tư Thậm chí, cácngân hàng đóng vai trò là người được uỷ thác trong di chúc, quản lý tài sản cho

Trang 8

khách hàng đã qua đời bằng cách công bố tài sản, bảo quản các tài sản có giá.Nhiều khách hàng còn coi ngân hàng như một chuyên gia tư vấn về tài chính Ngânhàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về thành lập, mua bán, sápnhập doanh nghiệp

1.3.7 Cung cấp dịch vụ môi giới và đầu tư chứng khoán

Nhiều ngân hàng đang phấn đấu cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phépkhách hàng thoả mãn mọi nhu cầu Đây là một trong những lý do chính khiến cácngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng

cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác Trong một vài trườnghợp các ngân hàng tổ chức ra công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứngkhoán để cung cấp dịch vụ môi giới

1.3.8 Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm

Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách hàng, điều đóđảm bảo việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng bị chết, bị tàn phế hay gặp rủi

ro trong hoạt động, mất khả năng thanh toán Ngân hàng liên doanh với công ty bảohiểm con, ngân hàng cung cấp dịch vụ tiết kiệm gắn với bảo hiểm như tiết kiệm ansinh, tiết kiệm hưu trí

1.3.9 Cung cấp các dịch vụ đại lý

Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi nhánhhoặc văn phòng ở khắp mọi nơi Nhiều ngân hàng (thường ngân hàng lớn) cung cấpdịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng khác như thanh toán hộ, phát hành hộcác chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ

2 Chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại

2.1 Một số vấn đề cơ bản về tín dụng

2.1.1 Khái niệm

Lịch sử ra đời và phát triển của tín dụng gắn liền với lịch sử phát triển củasản xuất hàng hoá Hình thức sơ khai của tín dụng là tín dụng nặng lãi, có được do

Trang 9

sự phân chia của tập đoàn người thành những người có nhiều hơn và những người

có ít hơn dẫn đến sự xuất hiện quan hệ vay mượn do có sự chênh lệch dư thừa sảnphẩm Người đi vay sẽ không những phải trả vốn mà còn phải trả lãi cho ngườivay, đó chính là tín dụng nặng lãi Hình thức ngày chỉ tồn tại ở xã hội trước tư bản

và mục đích của nó là để duy trì cuộc sống cho những người cần vay Đến phươngthức TBCN tín dụng nặng lãi không còn phù hợp, sản xuất phát triển, đi vay khôngnhững để cho tiêu dùng mà còn phải phát tinr sản xuất Lãi suất cho vay cũng phảithấp hơn do có nhiều nhà vay hơn và để cho nhà tư bản đi vay đảm bảo cho sảnxuất có lợi nhuận Vay chỉ đơn thuần là tiền mà còn là các máy móc thiết bị, tư liệusản xuất… Lãi suất không còn bị áp đặt bời những người cho vay mà phải là sựthoả thuận giữ người mua và người bán Các hình thức tín dụng mới ra đời

Từ đó có thể định nghĩa tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắchoàn trả Đó là quan hệ giữa hai bên trong đó một bên (trái chủ hay người cho vay)chu cấp tiền hay hàng hoá, dịch vụ dựa vào lời hứa thanh toán lại trong tương laicủa người phía bên kia (người thu trái hay người đi vay)

Cùng với sự phát triển của sản xuất và hàng hoá, tín dụng ngày càng có nhữngphát triển cả về nội dung và hình thức, từ tín dụng nặng lãi đến tín dụng thương mại

và cao nhất là tín dụng Ngân hàng Tín dụng ngân hàng đã thực sự mở rộng cácmối quan hệ, thay thế quan hệ giữa các cá nhân với nhau mối quan hệ giữa các cánhân với tổ chức, giữa các tổ chức với nhau và cao nhất là quan hệ tín dụng quốctế

Tín dụng ngân hàng là một hình thức phát tín cao của tín dụng, tuy nhiên nóvẫn giữ nguyên được những bản chất ban đầu của quan hệ tín dụng Tín dụng ngânhàng được hiểu là quan hệ vay mượn lẫn nhau theo nguyên tắc có hoản trả gốc vàlãi theo một thời gian nhất định, giữ một bên là Ngân hàng thương mại và một bên

là các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức tín dụng, ngânhàng thương mại khác

Trang 10

Để quản lý tốt chất lượng các khoản tín dụng, người ta phân loại tín dụng theonhiều hình thức khác nhau Dựa trên kỳ hạn các khoản tín dụng, theo tính chất đảmbảo của khoản vay, theo những hình thái tồn tại của vốn tín dụng….

Sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển và hiện nay ngày càng có nhiều hìnhthức tín dụng mới ra đời, đáp ứng nhu cầu gửi tiền và vay của các đối tượng khácnhau Tín dụng trở thành một hoạt động chủ yếu của các ngân hàng thương mại

2.1.2 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng thương mại

- Vốn tín dụng ngân hàng được thực hiện dưới hình thức tiền tệ và đã đượcgiải phóng ra khỏi chu kỳ kinh doanh, là vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nềnkinh tế, với sự tham gia trong vai trò trung gian của ngân hàng thương mại

- Quá trình vận động của vốn tín dụng ngân hàng tương đối độc lập so với sựvận động của quá trình sản xuất kinh doanh

- Khi hoạt động sản xuất kinh doanh được mở rộng và phát triển, nhu cầu vốntăng có thể dẫn đến nhu cầu về vốn tín dụng tăng, từ đó tín dụng ngân hàng phục

vụ đắc lực cho sản xuất kinh doanh

Cũng có thể khi sản xuất kinh doanh mở rộng và phát triển, nhu cầu vốn pháttriển nhưng quy mô vốn tín dụng ngân hàng có thể không đổi do có thể có vốn từcác nguồn khác (phát hành tín phiếu, trái phiếu, kêu gọi viện trợ….)

Sản xuất kinh doanh không thay đổi nhưng nhu cầu tín dụng vẫn tăng do hoạtđộng tín dụng còn đáp ứng nhiều nhu cầu khác ngời sản xuất kinh doanh như tiêudùng, trả nợ nước ngoài…

Chính do các đặc điểm trên, tín dụng ngân hàng có thể đáp ứng được nhu cầuvốn tín dụng cả về khối lượng, thời hạn cho vay bằng các khoản vốn không phảichỉ của nó mà cả vốn huy động Đồng thời nhờ có tín dụng mà ngân hàng đã mởrộng được cả về phạm vi cũng nhưng lĩnh vực hoạt động

Trang 11

Nhưng bên cạnh đó, tín dụng không phải không có những nhược điểm của nó,

đó chính là tính rủi ro của hoạt động tín dụng tương đối cao do đó các ngân hàng sẽ

dễ bị mất vốn hiệu quả hoạt động cũng như chất lượng tín dụng vì thế sẽ kém đi

2.1.3 Các vấn đề cơ bản của tín dụng ngân hàng

- Vốn tự có và các quỹ của ngân hàng

- Vốn huy động trong và ngoài nước bằng cách phát hành kỳ phiếu, tráiphiếu hoặc huy động tiền gửi

- Vốn uỷ thác và vốn tài trợ để cho vay theo chương trình hoặc dự án đầu tưcủa Nhà nước, của các tổ chức kinh tế xã hội và ngoài nước

Theo luật ngân hàng đã ban hành và luật tín dụng thì tất cả những khách hàngđược cho vay phải thoả mãn đồng thời các điều kiện sau:

- Có tư cách pháp nhân, thể nhân đầy đủ

- Có dự án đầu tư hoặc phương pháp sản xuất kinh doanh thả thi, có hiệu quả

- Có vật tư hay hàng hoá tương đương, tài sản thế chấp, đảm bảo tiền vay hoặcbảo lãnh của người thứ ba theo quy chế của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

- Có kế hoạch trả nợ gốc và lãi ngân hàng

- Sử dụng tiền vay đúng mục đích

- Thu nhập tài liệu, thông tin cần thiết

- Xử lý thông tin, đánh giá, phân tích

- Nội dung thẩm định dự án đầu tư

+ Thẩm định tư cách pháp nhân vay vốn

+ Phân tích tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chứccũng như của cá nhân cần vay vốn trong những năm gần đây (tối thiểu là 2 năm).Phân tích tình hình tài chính, chất lượng quản lý

Trang 12

Phân tích mục đích của vay vốn, thái độ và đạo đức của khách hàng.

Phương diện kỹ thuật

Kỹ năng trả nợ, lãi và tính khả thi của dự án (trong đó hai chỉ tiêu quan trọngnhất là giá trị hiện tại ròng NPV và tỷ suất doanh lợi IRR)

Lập từ trình kết quả thẩm định Quá trình thẩm dịnh là một khâu quan trọngkhông thể thiếu với mỗi dự án cho vay nhằm tránh rủi ro và nâng cao chất lượng tíndụng Thẩm định yêu cầu cao đối với nhân viên, cán bộ thẩm định cả về trình độchuyên môn cũng như tư cách đạo đức, nó quyết định sự thành công của khoản tíndụng đó

2.1.4 Tầm quan trọng của tín dụng ngân hàng trong sự phát triển kinh tế

Sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các ngân hàng thương mại và các tổchức tín dụng có thể cho thấy vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự vận hànhcủa nền kinh tế Ta có thể thấy được một số vai trò chủ yếu của tín dụng trong nềnkinh tế

Hoạt động tín dụng đảm bảo đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuấtkinh doanh và nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân trong nền kinh tế

Với mục tiêu lớn là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế của Đảng vàNhà nước cũng như nhu cầu phát triển của các tổ chức kinh tế trong nền kinh tế thịtrường cạnh tranh gay gắt quyết liệt như hiện nay nhu cầu về vốn để đổi mới trangthiết bị công nghệ sản xuất cũng như phát triển sản xuất, mở rộng mặt hàng, nângcao chất lượng sản phẩm và dịch vụ… là rất lớn Do đó mở rộng nguồn vốn để đầu

tư phát triển là một yêu cầu bức thiết đối với các doanh nghiệp cũng như các tổ

chức kinh tế khác Thực tế cho thấy phần vốn chủ yếu của các công ty là huy động

được từ các tổ chức tài chính trung gian, đặc biệt là các ngân hàng thương mạithông qua các hình thức vay mới, chiếm tỷ trọng lớn (61,9%)

Trang 13

Mặt khác ở nước ta hiện nay thị trường chứng khoán mới ở giai đoạn sơkhai, đối tượng phát hành còn hạn chế cũng như khuôn khổ pháp lý, môi trườngkinh tế, thói quen, tâm lý người dân… chưa cho phép lưu hành trái phiếu, cổphiếu một cách rộng rãi để nó có thể là nguồn vốn cơ bản của các công ty Do vậytín dụng ngân hàng thực sự gần như là con đường duy nhất đôi với các dự án đầu tưchiều sâu phát triển sản xuất, hiện đại hoá và cải tiến công nghệ Từ những khoảntín dụng đó có thể nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, tăng khảnăng sinh lời, tăng thu nhập cho người lao động, đời sống nhân dân được cải thiện

và các khoản thu của Nhà nước cũng tăng theo

Thông qua hoạt động tín dụng, các tổ chức tín dụng tăng cường kiểm tra,giám sát với khách hàng vay vốn, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế chungcủa nền kinh tế quốc dân

Tín dụng là hoạt động tiêu biểu của hầu hết các ngân hàng, đòi hỏi ngânhàng phải kiểm soát khả nưng hoàn trả nợ của khách hàng, ít ra là cũng phải dựtính, phán đoán được khả năng này nhằm bảo vệ tiền gửi của khách hàng và hiệuquả hoạt động cũng như lợi nhuận của ngân hàng Nếu một khoản vay nào đó thấtthoát thì trước tiên làm ngân hàng không còn khả năng thanh toán cho người gửitiền Ngân hàng cũng có trách nhiệm với các cổ đông đảm bảo mức chia lãi cổ phầnhợp lý cũng như mức lương nhất định đối với nhân viên Chính vì vậy, ngân hàngluôn phải thận tọng đối với các khoản tín dụng và tăng cường kiểm soát đối vớikhách hàng vay để xem khoản vay đó có sử dụng đúng mục đích và có hiệu quảkhông… đồng thoì có thể tư vấn chuyên môn cho khách hàng Do vậy chất lượngtín dụng sẽ được nâng cao, đem lại lợi ích cho cả ngân hàng và khách hàng, rộnghơn là cho cả nền kinh tế quốc dân

Thông qua hoạt động tín dụng góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông, ổn địnhthị trường Chi phí giao dịch là một trong những yếu tố quyết định sự thành cônghay không của khách hàng Với mỗi khoản giao dịch, có các khảon chi phí cố định

Trang 14

(chiếm tỷ lệ chủ yếu) và chi phí khác phụ thuộc từng loại giao dịch, do vậy vớikhối lượng giao dịch càng nhỏ thì chi phí giao dịch bình quân cho mỗi đồng vay,cho vay là càng cao.

Ngân hàng thương mại và các tổ chức chính trung gian khác chuyên môn hoátrong lĩnh vực này nên nó sẽ tiếp kiệm được nhiều chi phí giao dịch cho khách hàng(có thể giao dịch với lượng tiền lớn)

Ngoài ra, ngân hàng thương mại đóng vai trò người trung gian trong hoạtđộng tín dụng, thực hiện huy động vốn bằng nhiều hình thức những nguồn vốn tạmthời nhàn rỗi trong nền kinh tế và cho những người cần vốn vay đã tránh được sựlãng phí và giúp cho nền kinh tế phát triển hơn

2.2 Chất lượng tín dụng ngân hàng thương mại các nhân tố ảnh hưởng

2.2.1 Quan điểm về chất lượng tín dụng

Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ hiệu quảcủa hoạt động ngân hàng, sức mạnh của ngân hàng trong quá trình cạnh tranh đểtồn tại và phát triển

Tín dụng được coi là có chất lượng cao khi vốn vay được của khách hàng sửdụng vào đúng mục đích, tạo được số tiền lớn, ngân hàng thu được cả vốn và lãi,còn doanh nghiệp vừa trả được nợ ngân hàng đúng hạn vừa đù đắp được chi phí và

có lợi nhuận Như vậy, ngân hàng vừa tạo ra hiệu quả kinh tế, vừa đem lại hiệu quả

xã hội

Để có thể có được chất lượng tín dụng tốt thì hoạt động quản lý phải có hiệuquả và quan hệ tín dụng phải được thiết lập trên cơ sở sự tin cậy và uy tín tronghoạt động Hiểu đúng bản chất về chất lượng tín dụng, phân tích, đánh giá đúngchất lượng tín dụng hiện tại cũng như xác định chính xác các nguyên nhân của chấtlượng tín dụng sẽ giúp cho ngân hàng tìm được các biện pháp quản lý thích hợp để

có sự đứng vững trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh sôi nổi và gay gắt

2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngân hàng thương mại

Trang 15

Hoạt động tín dụng ngân hàng là hoạt động "đi vay để cho vay" do đó chấtlượng tín dụng phụ thuộc vào công tác huy động và cho vay vốn Tín dụng là cầunối giữa hoạt động của ngân hàng và các hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu dùngcủa xã hội và đồng thời tín dụng từ lâu đã được sử dụng như một công cụ cung cấpnguồn vốn với lãi suất ưu đãi cho những người thiếu vốn, khó khăn để học có điềukiện mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, áp dụng kỹ thuật mới, mở rộng thịtrường… từ đó mà tăng thu nhập, các khoản tín dụng do đó có vai trò lớn trongviệc giải quyết các vấn đề kinh doanh cũng như xã hội.

Đối với các ngân hàng thương mại (là các tổ chức kinh doanh tiền tệ) đểđánh giá chất lượng của tín dụng, ngoài các chỉ tiêu định tính, phải dựa vào các chỉtiêu định lượng cụ thể sau:

Một ngân hàng luôn đáp ứng được nhu cầu vay của khách hàng và có đủkhối lượng tiền khách hàng cần rút sẽ tạo niềm tin cho khách hàng và chứng tỏđược tiềm lực tài chính mạnh của mình Đồng thời với đáp ứng được nhu cầu củakhách hàng, ngân hàng phải tính toán để cho lợi nhuận của mình dược đảm bảo một

tỷ lệ nhất định đối với mỗi khoản vay

Muốn đạt được những tiêu chuẩn đó, ngân hàng phải có khả năng huy độngđược những nguồn vốn có thời hạn dài và chi phí thấp nhất có thể được Khả năngkhu động vốn được thể hiện ở hai chỉ tiêu

Tổng số vốn huy động được và tốc độ tăng của nguồn vốn này qua mỗi nămthể hiện tốc độ tăng trưởng và khả năng huy động vốn của ngân hàng

Hiện nay ngân hàng Nhà nước không quy định tỉ lệ lãi xuất bắt buộc mà thaybằng lãi xuất cơ bản và tỉ lệ dao động Chính vì vậy, các ngân hàng thương mại cóthể điều chỉnh dễ dàng đầu vào và đầu ra của tín dụng bằng các chính sách lãi xuấtnhằm làm cân đối bảng cân đối tài sản của mình Nếu xét thấy số lượng khách hàngrút tiền ra tăng hay nhu cầu vay vốn tăng trong hiện tại hay dự đoán trong tương lai,

Trang 16

các ngân hàng sẽ thực hiện huy động vốn và đó sẽ là biểu hiện cụ thể của mở rộngtín dụng và ngược lại.

 Cơ cấu của nguồn vốn huy động được

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng vay của ngân hàng với những đối tượng khácnhau và đồng thời cũng thể hiện khả năng ổn định và cho vay của ngân hàng Nếutrong cơ cấu nguồn vốn huy động, vốn trung và dài hạn chiếm một tỷ trọng đáng kểthì ngân hàng có khả năng ổn định cao và có thể mở rộng đối tượng cho vay ratrung và dài hạn Nhưng hiện nay phần lớn tỷ lệ vốn huy động được chủ yếu là vốnngắn hạn từ 6 - 12 tháng Trong số này, các ngan hàng chỉ được trích một tỷ lệ nhỏcho vay trung và dài hạn còn chủ yếu là các khoản tín dụng ngắn hạn Ngân hàngkhông dám mở rộng đối tượng cho vay trung và dài hạn với lãi xuất coa hơn bởinếu không huy động kịp thời vốn cho những khoản trả nợ ngắn hạn khi đến kỳ đáohạn thì uy tín của ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng Đó là một ví dụ cơ bản

về ảnh hưởng của cơ cấu nguồn vốn đối với chất lượng tín dụng

Số vốn sử dụng

Số vốn huy động x 100%

Trang 17

Chỉ tiêu lợi nhuận:

Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ nên mục tiêu lợi nhuận luônphải đặt lên hàng đầu, ngân hàng thu được lợi nhuận tín dụng từ khoản chênh lệchlãi xuất đi vay và lãi suất cho vay Chỉ tiêu này đặc biệu quan trọng đối với nhữngngân hàng chưa phát triển dịch vụ ngân hàng, nguồn thu từ hoạt động tín dụng làchủ yếu Nếu tín dụng không đạt chất lượng tốt thì không những thu được nợ gốc

và lãi mà còn tăng về chi phí và ngân hàng, làm giảm lợi nhuận

Tuy nhiên, đối với một số dự án theo kế hoạch của Nhà nước thì chỉ tiêu nàyđôi khi không đây đủ để phản ánh chất lượng tín dụng Vì mục tiêu kinh tế xã hộihay chiến lược phát triển các ngành khoa học kỹ thuật còn non trẻ, phát triển cácngành mũi nhọn, xuất khẩu hay vì các mục tiêu xã hội khác thì đôi khi lợi nhuậnkhông được đặt ra và nó không phản ánh thực chất, chất lượng khoản tín dụng

Được tính bằng tỉ số giữa số thu nợ và tổng dư nợ Chỉ tiêu này cho biết sốtín dụng đã hoàn thành và được thu lại để tiếp tục cho vay Qua đó có thể thấy đượcngân hàng đã cho vay đúng đối tượng nên đã thu được cả vốn lẫn lãi, không có rủi

ro và quan hệ khách hàng và ngân hàng là tốt đẹp Số lợi nhuận thu nhập được trênmỗi đồng vốn vay tăng tỷ lệ với số vòng quay của vốn

2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tới lượng tín dụng ngân hàng

Để có thể nâng cao được chất lượng tín dụng ngân hàng đối với doanhnghiệp (cả về ngân hàng và doanh nghiệp sản xuất kinh doanh) ta phải hiểu rõ cácnhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng để từ đó phát huy những ảnhhưởng tích cực cũng như hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực Mặt khác cả ngân hàng

và doanh nghiệp phải cố gắng linh hoạt để phù hợp với quy định của Nhà nướctrong hoạt động tín dụng Có như thế thì cả ngân hàng và doanh nghiệp mới để racác biện pháp đúng đắn, cụ thể, linh hoạt để đạt được mục tiêu hoạt động của mình

Trang 18

một cách tốt nhất Sau đây chúng ta lần lượt nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đếnchất lượng tín dụng ngân hàng thuộc về ngân hàng và doanh nghiệp.

2.2.3.1 Các nhân tố thuộc về ngân hàng

- Chính sách tín dụng.

Đây là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của Ngân hàng, nó có ý nghĩaquyết định sự thành công hay thất bại của Ngân hàng Chính sách tín dụng phải phùhợp với đường lối phát triển kinh tế của đảng và nhà nước, đồng thời kết quả hàihòa giữa quyền lợi của người gửi tiền, của ngân hàng và người sử dụng vốn vay.Muốn vậy, chính sách tín dụng phải được xây dựng trên cơ sở khoa học và thựctiễn

- Thông tin tín dụng.

Nhờ có thông tin tín dụng mà người quản lý có thể đưa ra những quyết địnhcần thiết liên quan đến việc cho vay, quản lý đảm bảo tiền vay, giảm thiểu rủi ro tíndụng, nâng cao hiệu quả tín dụng Thông tin tín dụng có thể thu thập được từ nguồnthông tin sẵn có của ngân hàng từ thông tin tín dụng(CIC), từ khách hàng, từ đốithủ cạnh tranh hoặc nói cách khác từ nguồn trực tiếp hay gián tiếp, từ các nguồnthông tin của cơ quan pháp luật

- Công tác tổ chức Ngân hàng

Nhân tố này không chỉ tác động đến chất lượng tín dụng mà tác động đếnmọi hoạt động của Ngân hàng Một Ngân hàng có cơ cấu tổ chức đựơc sắp xếp mộtcách khoa học, sự phân công công việc được tiến hành một cách cụ thể, có sự liênkết giữa các bộ phận thì việc đáp ứng các yêu cầu của khách hàng sẽ được thựchiện kịp thời, không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh, quản lý có hiệu qủa và an toàn cáckhoản tín dụng

- Chất lượng nhân sự.

Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanhnói chung, còn nói đến hoạt động Ngân hàng thì nó lại càng quan trọng Vì cán bộ

Trang 19

công nhân viên của Ngân hàng là bộ mặt, hình ảnh của Ngân hàng đối với kháchhàng Hơn nữa nghiệp vụ ngân hàng càng ngày càng phát triển đòi hỏi chất lượngnhân sự ngày càng cao Việc tuyển dụng nhân viên có đạo đức tốt, giỏi chuyên mônnghiệp vụ sẽ giúp ngân hàng ngừa tối đa những sai phạm có thể xẩy ra để đem lạimột khoản tín dụng có chất lượng.

- Công tác kiểm soát nội bộ.

Đây là công tác mà Ngân hàng nào cũng cần tiến hành thường xuyên, liêntục nhằm duy trì chất lượng, hiệu quả kinh doanh của mình phù hợp với các chínhsách, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu đã đề ra Để làm tốt công tác này, Ngân hàng cầnsắp xếp một đội ngũ cán bộ giỏi chuyên môn, nghiệp vụ, trung thực làm nhiệm vụnày và có chế độ thưởng, phạt nghiêm minh Có như thế, công tác tín dụng mớiđược thực hiện đúng quy trình nhằm nâng cao chất lượng tín dụng

2.2.3.2 Nhân tố thuộc về doanh nghiệp

- Năng lực của doanh nghiệp.

Không một doanh nghiệp nào đi vay lại không muốn món vay đem lại hiệu

quả Nhưng nhiều khi do năng lực có hạn chế, họ không thực hiện được mục đíchcủa mình và làm ảnh hưởng đến khoản tín dụng mà họ đã nhận từ ngân hàng

- Trình độ quản lý của các nhà doanh nghiệp.

Do trình độ của nhiều nhà lãnh đạo còn nhiều hạn chế về học vấn, kiếm thứccũng như kinh nghiệm thực tế nên nhiều khi họ không dự đoán được những biếnđộng của thị trường, yếu kém Marketing sản phẩm Do sự bảo thủ của nhiều nhàquản lý không dám đổi mới khiến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không

có hiệu quả, dẫn đến tình trạng không thu hôi hết được vốn và làm ảnh hưởng đếnhiệu quả của doanh nghiệp từ đó ảnh hưỏng đến chất lượng của khoản tín dụng đã

sử dụng

- Đạo đức của người đi vay.

Trang 20

Ngân hàng chỉ quyết định cho vay sau khi đã phân tích kỹ các yếu tố có liênquan đến khả năng của người vay trong việc hoàn trả nợ và cách thức sử dụng vốnvay Nhưng thông tin này có thể bị thay đổi sau khi doanh nghiệp nhận được tiềnvay Thực tế, nhiều doanh nghiệp đã sử dụng vốn vay không hợp lý dẫn đến khôngđạt đựơc hiệu quả sản xuất kinh doanh Còn có nhiều ngừơi có ý tham nhũng và kếtquả là hiệu quả sử dụng vốn vay Ngân hàng kém thậm chí không thu hồi được Vìvậy, công tác kiểm tra, giám sát của ngân hàng là rất quan trọng

2.2.3.3 Các nhân tố khách quan khác

Ngoài những nhân tố chủ quan trên còn nhiều nhân tố khách quan mà tácđộng của nó cũng không nhỏ đến chất lượng của các khoản tín dụng ngân hàng

- Tác động của môi trường kinh tế.

Đây là nhân tố luôn ảnh hưởng đến khả năng tài chính của người vay hay nói

rõ hơn là nếu môi trường kinh tế xấu làm cho hoạt động của doanh nghiệp gặp khókhăn, ảnh hưởng đến thời hạn trả nợ và khả năng hoàn trả món vay cho ngân hàng

đo đó ảnh hưởng đến chất lượng của khỏan tín dụng đó của ngân hàng Ngược lạinếu môi trường kinh tế thuận lợi sẽ giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp thuận lợi, thu hồi được vốn nhanh đồng thời lợi nhuận thu được sẽcao và từ đó khả năng trả nợ của doanh nghiệp, khỏan vay sẽ được trả đúng hạn,khoản tín dụng ngân hàng sẽ có chất lượng tốt

- Tác động của môi trường pháp lý.

Ngân hàng là một doanh nghiệp luôn phải hoạt động trong hành lang pháp lýhẹp hơn bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất hay thương mại nào Vì vậy, một hệthống pháp lý càng hoàn chỉnh, đồng bộ thì sẽ càng đem lại hiệu quả hoạt động củangân hàng, của các doanh nghiệp và đảm bảo đựơc chất lượng tín dụng của cácdoanh nghiệp đó với ngân hàng Còn nếu môi trường pháp lý không hoàn chỉnh, cónhiểu lỗ hổng thì kết quả sẽ ngược lại cho cả ngân hàng và các doanh nghiệp từ đó

Trang 21

làm cho chất lượng của các khỏan tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp sẽ xấu

và khó có thể thu hồi

- Chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước.

Trong nền kinh tế thị trường các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước baogồm các chính sách tài chính tiền tệ, chính sách lãi suất, chính sách đối ngoại cóvai trò quan trọng đối với hoạt động của nền kinh tế nói chung và hoạt động củacác ngân hàng, các doanh nghiệp nói riêng Chính sách kinh tế trong hoàn cảnh nàythì có tác dụng cho cả ngân hàng và doanh nghiệp nhưng trong hoàn cảnh khác thìlại ngược lại Các chính sách này nhằm ưu tiên phát triển hay hạn chế một ngànhnào đó để đảm bảo cân đối cho nền kinh tế Do vậy các chủ trương, chính sách củaNhà nước phải đúng đắn thì mới thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, là điềukiện cần để đạt được chất lượng và hiệu quả của các khoản tín dụng ngân hàng

- Các yếu tố thiên tai gây lên.

Chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhiều khi mang tín thời vụ.Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của Nhà nước có thành phần kinh tế Nhànước, trong đó doanh nghiệp trong các ngành nông – lâm – ngư nghiệp lại chiếmmột tỷ lệ không nhỏ thì yếu tố này rất quan trọng Khi thiên tai xẩy ra như: lũ lụt,hạn hán, mưa bão, hỏa hoạn, làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp bị đổ bể, dẫn đến khả năng hoàn trả các khoản nợ là khó khăn hoặckhông thể, làm cho chất lượng của các khoản tín dụng bị giảm sút

Trang 22

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HSX TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

HUYỆN BÌNH GIANG TỈNH HẢI DƯƠNG

1 Khái quát về chi nhánh Ngân hàng No & PTNT BG - HD

1.1 Sự hình thành và phát triển

Trang 23

Chi nhánh Ngân hàng No&PTNT huyện Bình Giang được tái lập vào năm

1997 Ban đầu thiếu vốn, chi phí kinh doanh cao, dư nợ quá hạn lớn, cơ sở vật chất

kỹ thuật lạc hậu, trình độ nghiệp vụ non kém Nhờ kiên trì khắc phục khó khăn,quyết tâm đổi mới Chi nhánh Ngân hàng No&PTNT huyện Bình Giang khôngnhững khẳng định mình mà còn vươn lên phát triển trong cơ chế thị trường

Hiện nay Ngân hàng là chi nhánh cấp 2, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ngânhàng No&PTNT tỉnh Hải Dương Chi Nhánh bao gồm một trụ sở chính là Chinhánh Ngân hàng No&PTNT huyện Bình Giang đóng tại thị trấn Sặt huyện BìnhGiang tỉnh Hải Dương, một Ngân hàng cấp 3 ở xã Thái Học và một Phòng GiaoDịch tại Long Xuyên

1.2 Tình hình hoạt động

1.2.1 Tình hình tín dụng của Chi nhánh

Nguồn vốn là yếu tố quan trọng trong hoạt đông kinh doanh của ngân hàng Nóquyết định khả năng đáp ứng vốn của nền kinh tế tỷ trọng cơ cấu nguồn vốn phảnánh mức lãi suất đầu vào, đảm cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả

Chính vì vậy NHNo huyện Bình Giang luôn quan tâm đến vấn đề huy độngmọi nguồn vốn nhàn rỗi của các thành phân kinh tế trên địa bàn đặc biệt chú ý đếnviệc huy động vốn có lãi suất thấp ổn định

Công tác huy động vốn 6 tháng cuối năm 2005 đã đạt được kết quả đáng kể

có thể thấy rõ tình hình huy động vốn qua bảng số liệu sau:

Biểu 1:

Cơ cấu nguồn vốn Năm: 2003, 2004, 2005.

n v : tri u ngĐơn vị: triệu đồng ị: triệu đồng ệu đồng đồng

Chỉ tiêu 31/12/03 31/12/04 +,- so

03(%) 31/12/ 05

+,- so 04(%) Tổng Ng vốn huy động tại ĐP 39.002 41.626 106,7% 52.892 135,6%

I Ng.vốn phân theo kỳ hạn 39.002 41.626 106,7% 52.892 135,6%

Trang 24

Trong đó: tiền gửi kho bạc 17.450 13.681 78,4% 14.060 80,5%

II Ng vốn phân theo TP kinh tế 39.002 41.626 52.892

Đơn vị: triệu đồngn v : t ị: triệu đồng ỷ đồng đồngng

Cho vay

Thu nợ

Dư nợ

Cho vay

Thu nợ

Dư nợ

Cho vay

Thu nợ

Dư nợ

Trang 25

- Cho vay trung hạn 28 18 21.5 30.7 19.9 32.3 61.6 26.6 67.3

(Nguồn số liệu báo cáo Tổng kết năm: 2003 - 2004- 2005)

Tóm lại: Nhìn vào tổng thể công tác sử dụng vốn của NHNo&PTNT huyện

Bình Giang ta thấy NHNo Bình Giang đã không ngừng mở rộng về quy mô và đãđạt được mục tiêu của Ngân hàng TW đề ra tăng dư nợ từ 20 - 25% và mục tiêucủa NHNo & PTNT Tỉnh Hải Dương giao cho huyện là tăng dư nợ từ 25 - 30%bên cạnh đó chất lượng tín dụng đã có chuyển biến tích cực hơn hiệu quả đồng vốn,tạo đà cho sự phát triển của ngân hàng trong những năm tới

2 Khái quát về Hộ Sản Xuất tại huyện Bình Giang

Bình Giang là một huyện nông nghiệp nên kinh tế Hộ Sản Xuất được coi lànhân tố chủ chốt để phát triển kinh tế trong huyện

Hộ Sản Xuất chiếm đa số là các hộ nông dân, trình độ về khoa học kĩ thuậtcòn chưa cao Chủ yếu là làm kinh tế trang trại, do đó các sản phẩm sản xuất ra cóhiệu quả kinh tế không cao Song đây lại là nhân tố vô cùng cần thiết đối với nềnkinh tế huyện Bình Giang Nó giúp các hộ nông dân dần dần thích nghi và nắm bắtdược các tiến bộ khoa học trong nông nghiệp Thực hiện mục tiêu xoá đói giảmnghèo, nâng cao đời sống của nhân dân trong huyện, từng bước thú đẩy sự nghiệpcông nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn tại huyện Bình Giang

Trang 26

Một số Hộ Sản Xuất tập trung tại các làng có nghề truyền thống (Thôn Cậylàm nghề gốm sứ, xã Bình Xuyên làm nghề mộc ) Tuy chỉ tập trung tại các làngnghề truyền thống, song các Hộ Sản Xuất này thường có nhu cầu về vốn cao, thuhút và giả quyết được nhiều việc làm cho nhân dân trong huyện Đây được coi làthành phần kinh tế thúc đẩy sự phát triển và bảo tồn các làng nghề truyền thống có

từ lâu đời trong huyện

Các Hộ Sản Xuất tại thị trấn Kẻ Sặt, chuyên sản xuất các loại may phục vụcho nông nghiệp Đây là thành phần kinh tế có trình độ khoa học kĩ thuật tiên tiến,thu hút được lượng nhân công lớn Đây cũng là thành phần kinh tế có nhu cầu vềvốn lớn nhất trên địa bàn huyện Do có trình độ và sự phát triẻn mạnh mẽ nên BìnhGiang coi thành phần kinh tế này là mũi nhọn trong công cuộc phát triển kinh tếcủa huyện Và thực tế đã khẳng định được điều này, khi liên tục trong những nămgần đây thành phần kinh tế này đã đóng góp vào ngân sách của huyện trên 60%mỗi năm

Có thể nói trong những năm qua kinh tế Hộ Sản Xuất tại huyện Bình Giang

đã có những bước phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng Đóng góp phầnlớn vào công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế tại địa bàn huyện BìnhGiang

3 Thực trạng chất lượng tín dụng đối với HSX tại NHNo&PTNT huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương

3.1 Quy định cho vay đối với hộ sản xuất

Cho vay hộ sản xuất là hoạt động cung ứng vốn tín dụng chủ yếu củaNHNo&PTNT Việt Nam ở địa bàn nông thôn Loại cho vay này là cho vay cả hộgia đình để làm kinh tế chung của hộ, loại cho cho vay này có đặc trưng cơ bản vềmục đích sử dụng tiền vay, đối tượng người vay, về tài sản thế chấp và về hồ sơvay vốn khiến nó khác hẳn với các loại cho vay khác

3.1.1 Về mục đích cho vay

Trang 27

Trong hộ gia đình có thể có nhiều hoạt động kinh tế, nhiều mục đích sử dụngtiền vay khác nhau của các thành viên trong hộ Vì vậy, xác định rõ nội dung kinh

tế của cho vay hộ sản xuất có ý nghĩa quan trọng tránh trường hợp khách hàng sửdụng vốn sai mục đích, nâng cao chất lượng và bảo đảm an toàn vốn trong lĩnh vựcnày Như trên đã nói mục đích cho vay là cho vay cả hộ gia đình làm kinh tế

3.1.2 Về đối tượng cho vay

Đối tượng vay là cả hộ gia đình làm chủ trong quan hệ vay vốn do chủ hộhoặc đại diện hợp pháp vay tiền Quan hệ vay vốn này là quan hệ dân sự và đượcđiều chỉnh bằng bộ luật dân sự

3.1.3 Về tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay

Hộ gia đình có tài sản chung đồng thời mỗi thành viện cũng có tài sản riêng,theo qui định của bộ luật dân sự thì cho phép hộ gia đình lấy tài sản chung và cáctài sản riêng của các thành viên trong hộ để bảo đảm trách nhiệm dân sự của hộmình, mà không phụ thuộc vào loại hình thức tài sản của các thành viên trong hộ đểđảm bảo trách nhiệm vô hạn của gia đình, điều này có ý nghĩa trong việc mở ra khảnăng miễn giảm tài sản thế chấp, cầm cố khi vay vốn và khả năng giãn nợ đối với

hộ vay

3.1.4 Điều kiện vay vốn

Ngân hàng No&PTNT nơi cho vay xem xét và quyết định cho vay khi kháchhàng có đủ điều kiện sau:

- Có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự, chịu trách nhiệmdân sự theo qui định của pháp luật

- Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp

- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết

- Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và cóhiệu quả, hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi

Trang 28

- Thực hiện các qui định về bảo đảm tiền vay theo qui định của Chính phủ,NHNN Việt Nam và hướng dẫn của NHNo Việt Nam

3.1.5 Phương thức cho vay

Ngân hàng No&PTNT nơi cho vay thoả thuận với khách hàng về phươngthức vay phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn và khả năng kiểm tra, giám sát việckhách hàng sử dụng vốn vay theo một trong các phương thức sau:

- Cho vay từng lần: Phương thức cho vay này áp dụng đối với khách hàng cónhu cầu vay vốn từng lần Mỗi lần vay vốn, khách hàng và NHNo nơi cho vay lậpthủ tục vay vốn theo qui định và ký hợp đồng tín dụng

- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Phương thức này áp dụng với khách hàngvay ngắn hạn có nhu cầu vay vốn thường xuyên, kinh doanh ổn định Phương thứcnày có ưu điểm là giảm được thủ tục giấy tờ và tạo cho khách hàng chủ động trongkinh doanh, giảm chi phí

- Cho vay theo dự án đầu tư: Ngân hàng cho vay trên cơ sở tiến độ thực hiện

dự án

- Ngoài ra còn có các phương thức cho vay như : Cho vay hợp vốn, Cho vaytrả góp, Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, Cho vay thông qua nghiệp vụphát hành và sử dụng thẻ tín dụng, Cho vay theo hạn mức thấu chi, Cho vay khác,Cho vay lưu vụ

3.1.6 Các hình thức cho vay Hộ sản xuất

- Cho hộ gia đình, cá nhân vay vốn trực tiếp :

- Cho hộ gia đình, cá nhân vay trực tiếp thông qua tổ vay vốn

Ngày đăng: 02/04/2013, 15:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.2.2. Tình hình sử dụng vốn - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp phát triển nông thôn huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương
1.2.2. Tình hình sử dụng vốn (Trang 24)
Tình hình sử dụng vốn đến cuối các năm 2003- 2005 - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp phát triển nông thôn huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương
nh hình sử dụng vốn đến cuối các năm 2003- 2005 (Trang 24)
triển hơn nhiều lần góp phần hình thành lên vùng hồ, ao và cây ăn quả với diện tích đầu tư là 2.000 ha, tăng thu hàng năm cho vay tiêu dùng đã được quan tâm nhằm  thực hiện chủ trương kích cầu của Nhà Nước - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp phát triển nông thôn huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương
tri ển hơn nhiều lần góp phần hình thành lên vùng hồ, ao và cây ăn quả với diện tích đầu tư là 2.000 ha, tăng thu hàng năm cho vay tiêu dùng đã được quan tâm nhằm thực hiện chủ trương kích cầu của Nhà Nước (Trang 32)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w