Ý tưởng phương pháp này là trích chọn các đặc điểm dựa vào nội dung trực quan của ảnh như màu sắc, kết cấu, hình dạng và bố cục không gian của ảnh để làm cơ sở cho việc tra cứu, sắp xế
Trang 1DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6
MỞ ĐẦU 7 U CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRA CỨU ẢNH 11
1.1 VẤN ĐỀ TRA CỨU ẢNH 11
1.2 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP TRA CỨU ẢNH 12
1.2.1 Tra cứu ảnh theo nội dung 13
1.2.2 Tra cứu ảnh theo bản thể (ontology-based image retrieval) 15
1.2.3 Tra cứu ảnh theo đồ thị (graph based image retrieval) 17
CHƯƠNG 2: TRA CỨU ẢNH THEO NỘI DUNG 19
2.1 GIỚI THIỆU 19 U 2.2 MÔ HÌNH HỆ THỐNG TRA CỨU ẢNH THEO NỘI DUNG 20
2.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP MÔ TẢ NỘI DUNG ẢNH 21
2.3.1 Mô tả các đặc điểm màu sắc 22
2.3.2 Mô tả các đặc điểm kết cấu 29
2.3.3 Mô tả các đặc điểm hình dạng 40
2.3.4 Thông tin về không gian 55
2.4 ĐÁNH GIÁ ĐỘ TƯƠNG TỰ VÀ XÂY DỰNG SƠ ĐỒ ĐÁNH CHỈ SỐ 59
2.4.1 Đánh giá độ tương tự 59
2.4.2 Xây dựng sơ đồ đánh chỉ số 62
2.5 TƯƠNG TÁC VỚI NGƯỜI SỬ DỤNG 67
2.5.1 Đặc tả truy vấn 67
2.5.2 Xử lý phản hồi 69
2.6 HIỆU NĂNG CỦA HỆ THỐNG TRA CỨU ẢNH 70
CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG 73
3.1 GIỚI THIỆU BÀI TOÁN TRA CỨU CỔ VẬT 73
3.2 PHÂN TÍCH BÀI TOÁN 74
3.3 XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH QUERYIMAGE 75
3.3.1 Sơ đồ khối tổng quát 75
3.3.2 Tra cứu theo hình dạng 76
3.3.3 Tra cứu theo màu sắc 81
3.3.4 Sử dụng chương trình QueryImage 82
3.4 KHẢ NĂNG MỞ RỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH 84
3.4.1 Những hạn chế của chương trình 84
3.4.2 Khả năng mở rộng 84
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 2Chữ tắt Dạng đầy đủ Nghĩa tiếng Việt
PCA Principal Component Analysis Phân tích thành phần cơ bản
KL Karhumen-Loeve (transform)
Kullback-Leibler
Biến đổi Karhumen-Loeve
SAR Simultaneous Auto-Regressive Tự thoái lui đồng thời
MLE Maximum likelihood estimation Phép ước lượng khả năng tối đa LSE Least square error Sai số bình phương tối thiểu
Biến đổi dạng sóng kiểu hình cây
MRF Markov random field Trường ngẫu nhiên Markov
DC Direct Current Thành phần một chiều
SOM Self Organization Map Bản đồ tự tổ chức
AVR Average rank Thứ hạng trung bình
MRR Modified retrieval rank Thứ hạng tra cứu sửa đổi
NMRR Nomalized Modified
retrieval rank
Thứ hạng tra cứu sửa đổi chuẩn hoá
Trang 3MỞ ĐẦU
Những năm gần đây, ảnh số ngày càng thu hút được sự quan tâm của nhiều người, một phần là do các thiết bị thu nhận ảnh số ngày càng phổ biến và có giá cả phù hợp, cho phép nhiều người có thể sở hữu và sử dụng Mặt khác các công nghệ chế tạo thiết bị lưu trữ luôn được cải tiến để cho ra đời các thiết bị lưu trữ có dung lượng lớn và giá thành hạ làm cho việc lưu trữ ảnh dưới dạng các file trở nên phổ biến Thêm nữa là sự phát triển của mạng Internet làm cho số lượng ảnh số được đưa lên lưu trữ và trao đổi qua Internet là rất lớn
Tuy nhiên khi số lượng ảnh được lưu trữ trở nên rất lớn thì vấn đề là phải có những phương pháp tổ chức cơ sở dữ liệu ảnh tốt cùng với những kỹ thuật tìm kiếm, tra cứu ảnh hiệu quả, có độ chính xác cao và có hiệu năng tốt
Việc tìm kiếm được một bức ảnh mong muốn trong hàng triệu bức ảnh thuộc
đủ loại chủ đề khác nhau là rất khó khăn
Khi số lượng ảnh trong một bộ sưu tập còn ít, việc nhận diện một bức ảnh hay việc so sánh sự giống và khác nhau giữa nhiều bức ảnh có thể thực hiện được bằng mắt thường, tuy nhiên khi có số lượng rất lớn ảnh thì việc so sánh bằng mắt thường
là rất khó khăn, đòi hỏi phải có những phương pháp hiệu quả và chính xác hơn Trong thực tế, bài toán tra cứu ảnh số có rất nhiều ứng dụng quan trọng Ví dụ như trong lĩnh vực ngân hàng việc so sánh chữ ký của khách hàng với mẫu chữ ký
đã được lưu trữ sẵn có thể thực hiện rất nhanh và chính xác nếu có được một phần mềm so sánh mẫu chữ ký tốt Thực tế hiện nay tại các ngân hàng ở Việt nam người
ta vẫn phải sử dụng phương pháp so sánh bằng mắt thường vì việc so sánh chữ ký bằng phần mềm vẫn chưa thực hiện được Một ví dụ khác là bài toán quản lý biểu
Trang 4trưng (logo) trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ Khi một đơn vị muốn đăng ký logo riêng cho đơn vị của mình thì cơ quan quản lý phải tiến hành đánh giá xem mẫu logo đó
đã được sử dụng hay chưa hoặc có tương tự với mẫu logo nào đó đang được sử dụng hay không Trong trường hợp này nếu sử dụng mắt thường để duyệt thì sẽ tốn rất nhiều thời gian, nếu có các phần mềm cho phép tìm kiếm trong cơ sở dữ liệu ảnh
có sẵn những biểu trưng tương tự với biểu trưng mẫu thì việc đánh giá sự tương tự
sẽ dễ dàng hơn nhiều
Các ứng dụng phức tạp hơn như so sánh mẫu vân tay, tìm kiếm ảnh tội phạm v.v là những bài toán tra cứu ảnh được áp dụng trong ngành khoa học hình sự Đối với lĩnh vực bảo tồn, bảo tàng, vấn đề lưu trữ và tra cứu ảnh số có vai trò ngày càng quan trọng Ảnh của các tác phẩm hội hoạ, điêu khắc hoặc các cổ vật được lưu trữ dưới dạng các file ảnh sẽ đảm bảo được chất lượng tốt hơn, thời gian lưu trữ lâu dài hơn và việc trao đổi hay giới thiệu với công chúng cũng dễ dàng hơn Bài toán tra cứu cổ vật xuất phát từ một thực tế của ngành bảo tồn, bảo tàng là khi sưu tầm được một cổ vật mới, người ta cần xác định hàng loạt các thuộc tính như niên đại, chất liệu, nguồn gốc và có thể là chủ sở hữu của cổ vật đó Nếu có được sự trợ giúp của phần mềm tra cứu ảnh phù hợp thì người ta có thể dễ dàng xác định xem mẫu cổ vật đó đã được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu nào hay chưa, có những loại
cổ vật nào tương tự với nó trong kho tàng cổ vật của thế giới và phần mềm có thể đưa ra ảnh của các loại cổ vật có màu sắc, hình dạng, hoa văn tương tự với cổ vật vừa tìm thấy Những thông tin này sẽ giúp ích rất nhiều cho các chuyên gia trong quá trình phân loại, kiểm chứng một cổ vật
Vấn đề này chính là động lực để chúng tôi tìm hiểu các phương pháp tra cứu ảnh số đang được ứng dụng nhiều trong thực tế và tìm kiếm phương pháp phù hợp nhất để giải quyết bài toán này
Trước năm 1990, người ta thường sử dụng phương pháp tra cứu ảnh theo văn bản (Text Based Image Retrieval) Theo cách này người ta sẽ gán cho mỗi bức ảnh một lời chú thích phù hợp với nội dung hoặc một đặc điểm nào đó của ảnh, sau đó
Trang 5việc tra cứu ảnh được thực hiện dựa trên những lời chú thích này Phương pháp này khá đơn giản, tuy nhiên lại không thể áp dụng để tra cứu các cơ sở dữ liệu ảnh có số lượng ảnh lớn và kết quả tra cứu thì mang tính chủ quan và cảm ngữ cảnh [1]
Một trong những phương pháp được nhiều người quan tâm nghiên cứu hiện nay là phương pháp “Tra cứu ảnh dựa theo nội dung” (Content Based Image
Retrieval) Ý tưởng phương pháp này là trích chọn các đặc điểm dựa vào nội dung
trực quan của ảnh như màu sắc, kết cấu, hình dạng và bố cục không gian của ảnh
để làm cơ sở cho việc tra cứu, sắp xếp, tổ chức cơ sở dữ liệu ảnh [1, 6, 10]
Một số hệ thống tra cứu ảnh nổi tiếng như QBIC (IBM), Virage (Virage Inc.), Photobook (MIT), VisualSEEK (Columbia University) đã áp dụng khá thành công phương pháp tra cứu này [1, 6, 7, 12, 17]
Trên cơ sở của phương pháp tra cứu ảnh theo nội dung người ta còn tìm cách
bổ sung, cải tiến để cho ra đời một số phương pháp tra cứu ảnh khác như tra cứu ảnh theo bản thể, tra cứu ảnh theo đồ thị, tra cứu ảnh theo nhận thức v.v [8, 9] Nội dung của đề tài này giới thiệu cơ sở lý thuyết và các ứng dụng chính của
một số phương pháp tra cứu ảnh, trong đó đi sâu vào giới thiệu phương pháp tra
cứu ảnh theo nội dung Trên những cơ sở đó tiến hành thử nghiệm một phương
pháp cụ thể để xây dựng một chương trình phần mềm tra cứu cổ vật cho phép đọc vào một ảnh cổ vật mẫu và tìm kiếm những ảnh tương tự với ảnh mẫu trong một tập hợp các ảnh cho trước theo hai đặc điểm là hình dạng và màu sắc của cổ vật
Chương trình sẽ trợ giúp đắc lực cho công tác bảo tồn, bảo tàng cũng như có thể cải tiến để áp dụng cho một số lĩnh vực khác như giáo dục, sở hữu trí tuệ, y học, khoa học hình sự
Nội dung luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Trình bày tổng quan vấn đề tra cứu ảnh, giới thiệu sơ lược một số
phương pháp tra cứu ảnh và một số hệ thống tra cứu ảnh tiêu biểu
Trang 6Chương 2: Giới thiệu chi tiết về phương pháp tra cứu ảnh theo nội dung, trong
đó giới thiệu mô hình của một hệ thống tra cứu ảnh theo nội dung và một số kỹ thuật cơ bản được sử dụng để xây dựng hệ thống tra cứu ảnh theo nội dung
Chương 3: Giới thiệu một ứng dụng của phương pháp tra cứu ảnh theo nội
dung áp dụng vào bài toán tìm kiếm cổ vật; những hạn chế và khả năng mở rộng của chương trình ứng dụng đó
Trang 7CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRA CỨU ẢNH
1.1 VẤN ĐỀ TRA CỨU ẢNH
Những năm gần đây, vấn đề tra cứu ảnh số nhận được sự quan tâm ngày càng lớn Nguyên nhân một phần là do sự phát triển của công nghệ chế tạo thiết bị thu nhận và lưu trữ ảnh số cũng như sự phát triển mạnh mẽ của mạng Internet Người
sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau có cơ hội để truy cập và sử dụng các kho lưu trữ ảnh thuộc đủ loại chủ đề và với nhiều kiểu định dạng ảnh khác nhau Tuy nhiên người ta cùng nhận thấy rằng việc tìm được một bức ảnh mong muốn trong
bộ sưu tập ảnh đa dạng có kích thước lớn là rất khó khăn
Tra cứu ảnh là một quá trình tìm kiếm trong một cơ sở dữ liệu ảnh những ảnh thoả mãn một yêu cầu nào đó Ví dụ, người sử dụng có thể tìm kiếm tất cả các ảnh
về chủ đề về biển trong một cơ sở dữ liệu ảnh hoặc một người sử dụng khác lại muốn phân loại cơ sở ảnh của mình thành các bộ sưu tập có chủ đề khác nhau Một
ví dụ khác về tra cứu ảnh là một người muốn tìm tất cả các ảnh tương tự với một bức ảnh mẫu nào đó trong một cơ sở dữ liệu ảnh
Vấn đề tra cứu ảnh đã được nhìn nhận rộng rãi và việc tìm kiếm các giải pháp cho vấn đề này trở thành một lĩnh vực rất sôi động, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và phát triển
Những kỹ thuật tra cứu ảnh số đã được nghiên cứu từ cuối những năm 70 của thế kỷ 20 Năm 1979 một cuộc hội thảo chuyên đề về "Các kỹ thuật tổ chức cơ sở
dữ liệu cho các ứng dụng đồ hoạ" được tổ chức ở thành phố Florence, Italia Từ đó đến nay, khả năng ứng dụng cao của các kỹ thuật quản lý cơ sở dữ liệu ảnh đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu [1]
Trang 81.2 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP TRA CỨU ẢNH
Các phương pháp tra cứu ảnh được sử dụng đầu tiên không dựa trên các đặc điểm trực quan của ảnh mà dựa trên các chú thích bằng lời của các bức ảnh, đầu tiên người ta gán cho mỗi ảnh một câu chú thích bằng lời (text) dựa trên một đặc điểm nào đó của ảnh, sau đó sử dụng các kỹ thuật tìm kiếm văn bản thông thường để tìm kiếm ảnh
Phương pháp tra cứu ảnh dựa trên văn bản như trên sử dụng các kỹ thuật cơ sở
dữ liệu truyền thống để quản lý ảnh Dựa vào các lời chú thích, người ta có thể tổ chức cơ sở dữ liệu ảnh bằng các phân lớp theo chủ đề hay theo ngữ nghĩa và việc duyệt cơ sở dữ liệu ảnh chỉ dựa trên các truy vấn kiểu Bool thông thường Phương
pháp tra cứu ảnh dựa trên chú thích như trên còn được gọi là tra cứu ảnh theo từ
khoá Do việc xây dựng các thuật toán có khả năng tự động sinh ra các chú thích
cho một cơ sở dữ liệu ảnh có nhiều chủ đề là hết sức khó khăn nên nói chung các hệ thống tra cứu ảnh kiểu này vẫn yêu cầu phải chú thích ảnh một cách thủ công và trên thực tế việc chú thích ảnh như vậy tốn rất nhiều công sức và quan trọng hơn là
nó mang tính chủ quan, bị ảnh hưởng của hoàn cảnh và thường là không đầy đủ Vì vậy các hệ thống tra cứu ảnh dựa theo từ khoá không hỗ trợ được những kiểu truy vấn phụ thuộc tác vụ [1, 8, 9]
Phương pháp tra cứu ảnh theo nội dung ra đời đã khắc phục được những nhược điểm của phương pháp từ khoá Nội dung chính của phương pháp này là dựa trên sự tương tự của những đặc điểm trực quan của ảnh như màu sắc, hình dạng, kết cấu hay bố cục không gian của ảnh để phân loại, sắp xếp các ảnh trong một cơ sở
dữ liệu ảnh Tuy nhiên những đặc điểm mà phương pháp này trích chọn để tra cứu vẫn là những đặc điểm ở mức thấp, chưa phản ánh được nội dung mang tính ngữ nghĩa của một đối tượng ảnh Vì vậy người ta đã đưa ra một số cách tiếp cận mới phát triển phương pháp tra cứu ảnh theo nội dung thành các phương pháp tra cứu ảnh theo đồ thị [9] hay tra cứu ảnh theo bản thể [8]
Trang 9Phần sau đây giới thiệu sơ lược một số mốc phát triển quan trọng của phương pháp tra cứu ảnh theo nội dung và một số phương pháp tra cứu ảnh cải tiến đang được áp dụng trong các hệ thống tra cứu ảnh
Chi tiết về phương pháp tra cứu ảnh theo nội dung sẽ được đề cập trong chương 2
1.2.1 Tra cứu ảnh theo nội dung [1, 6, 10]
Đầu những năm 1990, do sự phát triển của Internet và các công nghệ ảnh số tiên tiến, số lượng ảnh số trong các lĩnh vực khoa học, giáo dục, y tế, công nghiệp được tung ra cho người sử dụng truy cập tăng lên một cách nhanh chóng Điều này làm cho những khó khăn của các hệ thống tra cứu ảnh dựa theo văn bản càng thêm khó giải quyết Sự cần thiết phải có một hệ thống quản lý hiệu quả các thông tin trực quan là vô cùng cấp bách Nhu cầu đó chính là động lực thúc đẩy các nhà nghiên cứu vào cuộc mạnh mẽ hơn và cũng là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của
phương pháp tra cứu ảnh theo nội dung
Năm 1992, Quỹ Khoa học Quốc gia (National Science Foundation) của Hoa
Kỳ đã tổ chức một buổi Hội thảo về các hệ thống quản lý thông tin trực quan để xác định hướng đi mới cho các hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu ảnh Tại buổi hội thảo này người ra phải công nhận với nhau rằng cách hiệu quả nhất để thể hiện và sắp xếp các thông tin trực quan của một bức ảnh là phải dựa trên các thuộc tính được trích chọn từ chính những bức ảnh đó Các nhà nghiên cứu từ các lĩnh vực khác nhau như thị giác máy tính (computer vision), quản lý cơ sở dữ liệu, giao diện người-máy và tra cứu thông tin đã cùng bị hấp dẫn bới hướng nghiên cứu này [1]
Từ đó đến nay, những công trình nghiên cứu về tra cứu ảnh theo nội dung được triển khai rất nhiều
Từ năm 1997 những kết quả nghiên cứu về tra cứu ảnh theo nội dung như các
kỹ thuật trích chọn thông tin trực quan, tổ chức, sắp xếp, thiết kế truy vấn, tương tác
Trang 10với người dùng, quản lý cơ sở dữ liệu được công bố ngày một nhiều Tương tự như vậy, một số lượng lớn các mô hình nghiên cứu cũng như sản phẩm thương mại các hệ thống tra cứu ảnh theo nội dung đã được các trường đại học, các cơ quan nghiên cứu và các công ty tin học cho ra đời
Một số hệ thống tra cứu ảnh theo nội dung tiêu biểu:
nghiên cứu Almaden hợp tác phát triển Hệ thống này cho phép người sử dụng dùng các công cụ đồ hoạ để mô tả và hiệu chỉnh truy vấn dựa trên nhiều thuộc tính trực quan như màu sắc, kết cấu và hình dạng của đối tượng ảnh QBIC hỗ trợ các kiểu truy vấn dựa trên ảnh mẫu, dựa trên hình phác thảo hoặc dựa trên các mẫu màu hoặc mẫu kết cấu [17]
o VIR Image Engine do Công ty Virage Inc phát triển, cũng giống như
QBIC, hệ thống này cho phép tra cứu ảnh dựa trên các thuộc tính màu sắc, kết cấu và cấu trúc [17]
o VisualSEEK và WebSEEK do trường Đại học Tổng hợp Columbia
(Mỹ) phát triển Cả hai hệ thống này đều hỗ trợ các cách tìm kiếm theo màu sắc, kết cấu và bố cục không gian [17]
o NeTra do trường Đại học Tổng hợp California (Mỹ) phát triển Hệ
thống này hỗ trợ tìm kiếm theo màu sắc, hình dạng, bố cục không gian và kết cấu cũng như theo sự phân mảnh của ảnh [17]
o MARS hay Multimedia Analysis and Retrieval System do trường Đại
học Tổng hợp Illinois phát triển, hỗ trợ tìm kiếm theo màu sắc, bố cục không gian, kết cấu và hình dạng [17]
o Viper hay Visual Information Processing for Enhanced Retrieval do
trường Đại học Geneva phát triển, tìm kiếm theo màu sắc và kết cấu [17]
Trang 11Ngoài ra người ta còn giới thiệu nhiều phương pháp tra cứu ảnh khác như tra cứu ảnh theo nhận thức (Perception based image retrieval), tra cứu ảnh theo phân đoạn (Segment based image retrieval), tra cứu ảnh theo đồ thị (Graph based image retrieval), tra cứu ảnh theo bản thể (Ontology based image retrieval) Tuy nhiên phần lớn trong số các phương pháp đó lại sử dụng các nguyên tắc cơ bản của tra cứu ảnh theo nội dung
1.2.2 Tra cứu ảnh theo bản thể [8]
1.2.2.1 Giới thiệu
Cách đơn giản nhất để xuất bản một ảnh lên kho lưu trữ là tạo một giao diện truy vấn dựa trên từ khoá cho một cơ sở dữ liệu Ở đó người sử dụng có thể chọn giá trị lọc hoặc sử dụng từ khoá cho các trường khác nhau của cơ sở dữ liệu, chẳng hạn như "người tạo" hoặc "thời gian" hoặc cho các mô tả nội dung bao gồm phân loại và nội dung văn bản Nhiều truy vấn có thể kết hợp bằng cách sử dụng các biểu thức logic [8]
Các phương pháp tìm kiếm theo từ khoá có rất nhiều hạn chế: một từ khoá trong văn bản không chỉ ra được văn bản đó có thích hợp hay không và các văn bản thích hợp lại có thể không chứa một từ khoá nhất định Các từ đồng nghĩa làm giảm
độ thu hồi, các từ đồng âm làm giảm độ chính xác và các quan hệ ngữ nghĩa như quan hệ thượng hạ vị, trái nghĩa, phản nghĩa chưa được đề cập đến
Việc tìm kiếm theo từ khoá có ích cho những người sử dụng đã những từ khoá nào được sử dụng để đánh chỉ số ảnh và do đó có thể dễ dàng tạo truy vấn Tuy nhiên cách tiếp cận này khá khó khăn khi người sử dụng chưa có mục đích rõ ràng, không biết có gì trong cơ sở dữ liệu và kiểu khái niệm ngữ nghĩa có liên quan đến lĩnh vực đang quan tâm Các vấn đề nảy sinh khi sử dụng phương pháp tìm kiếm bằng từ khoá:
Trang 12• Cấu thành thông tin cần thiết: người sử dụng không biết chính xác cần phải đặt câu hỏi gì
• Cấu thành truy vấn: người sử dụng không biết phải sử dụng từ khoá gì liên quan với thông tin mà họ muốn tìm kiếm
• Cấu thành kết quả: tạo danh sách các ảnh phù hợp với từ khoá có thể
bỏ qua mất một phương diện hay nhất của việc lưu trữ là quan hệ giữa các ảnh trong cơ sở dữ liệu rất đa dạng và phong phú
Công nghệ web ngữ nghĩa (semantic web) hứa hẹn có thể giải quyết được những khó khăn trên
1.2.2.2 Chú giải ngữ nghĩa
Các cách tiếp cận sau thường được sử dụng để chú giải ảnh:
- Từ khoá: danh sách các từ được phép sử dụng để chú giải ảnh được hạn chế
làm cho việc tìm kiếm dễ dàng hơn
- Phân loại: có nhiều hệ thống phân loại có khả năng phân loại theo nhiều
phương diện khác nhau thành các cây phân cấp theo chủ đề Một ảnh có thể chú thích bằng một tập các chủ đề mô tả ảnh đó Ví dụ, ảnh trên một chiếc phong bì vẽ một toà lâu đài có thể liên quan tới lớp “phong bì” và lớp “lâu đài”
- Mô tả ảnh: Sử dụng những câu mô tả các đối tượng ảnh có trong ảnh Hệ
thống tra cứu thông tin có nhiệm vụ đánh chỉ số các văn bản này để có thể tìm kiếm bằng từ khoá
1.2.2.3 Tra cứu ảnh ngữ nghĩa
Các bản thể tạo thành hạt nhân của của các hệ thống tra cứu ảnh ngữ nghĩa được sử dụng cho ba mục đích:
Trang 13o Thuật ngữ chú giải: mô hình bản thể cung cấp thuật ngữ và các khái niệm để diễn tả dữ liệu về dữ liệu (metadata) của các ảnh
o Tìm kiếm theo cách nhìn: các bản thể của một mô hình, chẳng hạn Sự kiện, Con người hoặc Vị trí cho ta các cách nhìn khác nhau vào cùng một nội dung giới thiệu Mỗi cách nhìn bao gồm các lớp và các trường hợp ví dụ biểu diễn bằng metaphor của một trình duyệt hệ thống file trong đó các lớp tương ứng với các thư mục và các trường hợp ví dụ tương ứng với các file
o Duyệt ngữ nghĩa: Sau khi tìm kiếm được tâm điểm chú ý là một ảnh nào đó, mô hình bản thể ngữ nghĩa cùng với dữ liệu ảnh ví dụ có thể được sử dụng để tìm ra mối quan hệ giữa ảnh được lựa chọn và các ảnh trong cơ sở dữ liệu ảnh Các ảnh này sẽ được đưa ra cho người sử dụng chọn Những ảnh đó có thể không phù hợp hoàn toàn với truy vấn
nhưng nói chung là tương đối phù hợp
1.2.3 Tra cứu ảnh theo đồ thị [9]
Hạn chế cơ bản của phương pháp tra cứu ảnh theo nội dung và phản hồi thích hợp là chúng dựa trên các đặc điểm mức thấp (màu sắc, kết cấu, hình dạng) của ảnh
mà những đặc điểm mức thấp lại rất hạn chế khi thể hiện không chỉ sự tương tự về mặt nội dung mà cả sự tương tự về mặt khái niệm và ngữ cảnh giữa các ảnh với nhau
Mặt khác, các công cụ tra cứu ảnh dựa trên văn bản (text-based) lại bị hạn chế bởi không phải lúc nào ảnh cũng được chú thích đầy đủ và những chú thích nếu có cũng rất khó mô tả đầy đủ được nội dung của một tấm ảnh
Phần sau đây giới thiệu một cách tiếp cận mới xây dựng một hệ thống tra cứu theo nội dung, khái niệm và ngữ cảnh cho phép sử dụng những phản hồi của người
Trang 14sử dụng về sự thích hợp giữa các ảnh chỉ sử dụng các liên kết giữa các ảnh mà không dựa vào các đặc điểm của ảnh hay các lời chú thích
Như đã giới thiệu ở phần 1.2.1, kỹ thuật tra cứu ảnh theo nội dung dựa vào những đặc điểm mức thấp như màu sắc, kết cấu và hình dạng của đối tượng ảnh Trong khi các phương pháp mô tả ảnh mức cao có khả năng mô tả gần gũi hơn với trực giác của người sử dụng nhưng việc phát triển những phương pháp đó mới dừng
ở mức thử nghiệm và đòi hỏi rất nhiều quá trình xử lý phức tạp
Mặc dù việc mô tả ảnh bằng các đặc điểm mức thấp có thể thực hiện khá hiệu quả và đơn giản nhưng nhược điểm lớn nhất của phương pháp này là không gần gũi với sự cảm nhận trực quan của hầu hết người sử dụng và do đó thường không đủ đáp ứng nhu cầu của người sử dụng Những ảnh mà ta cảm nhận được sự giống nhau bằng mắt thường nhưng đôi khi lại rất khác nhau nếu so sánh bằng các đặc điểm mức thấp
Động lực của phương pháp này dựa trên một thực tế là những ảnh thích hợp về mặt trực giác thường không có chung những đặc điểm mức thấp nhưng vẫn có sự tương tự về mặt khái niệm và về mặt ngữ cảnh đối với con người Ví dụ, những ảnh chụp người trong bộ đồ tắm thường có màu sắc, hình dạng và kết cấu rất đa dạng nhưng về mặt khái niệm thì lại được con người cảm nhận là tương tự nhau
Vì vậy phương pháp tra cứu ảnh theo đồ thị được giới thiệu ở đây không dựa trên các đặc điểm ở mức thấp (trừ giai đoạn khởi tạo) mà dựa vào những sự liên kết
có tính trực giác giữa các ảnh được thiết lập bởi người sử dụng bằng cách phản hồi thích hợp
Mục tiêu của phương pháp này là xây dựng một sơ đồ để tích luỹ thông tin do những tương tác với người sử dụng theo cách đơn giản hơn phản hồi thích hợp và
sử dụng những thông tin này để việc tra cứu ảnh cho những kết quả có ý nghĩa trực giác hơn [8, 9]
Trang 15CHƯƠNG 2: TRA CỨU ẢNH THEO NỘI DUNG
2.1 GIỚI THIỆU
Phương pháp tra cứu ảnh theo nội dung (Content-Based Image Retrieval) sử
dụng các nội dung trực quan của ảnh như màu sắc, hình dạng, kết cấu (texture) và
phân bố không gian để thể hiện và đánh chỉ số các ảnh [1, 6, 7, 11] Trong một hệ
thống tra cứu ảnh theo nội dung điển hình (hình vẽ 2.1) các nội dung trực quan của
ảnh được trích chọn và mô tả bằng những véc tơ đặc trưng nhiều chiều Tập hợp các vec tơ đặc trưng của các ảnh trong một cơ sở dữ liệu ảnh tạo thành cơ sở dữ liệu đặc
trưng Quá trình tra cứu ảnh được tiến hành như sau: người sử dụng cung cấp cho
hệ thống tra cứu một ảnh mẫu cụ thể hoặc hình vẽ phác thảo của đối tượng ảnh cần tìm Sau đó hệ thống sẽ chuyển những mẫu này thành các véc tơ đặc trưng và tính toán sự giống nhau (hay độ tương tự) giữa véc tơ đặc trưng của ảnh mẫu và véc tơ đặc trưng của các ảnh trong cơ sở dữ liệu Sau cùng việc tra cứu được tiến hành với
sự trợ giúp của các sơ đồ đánh chỉ số Sử dụng sơ đồ đánh chỉ số là cách hiệu quả để tìm kiếm trong các cơ sở dữ liệu ảnh Một số hệ thống tra cứu ảnh mới phát triển gần đây còn tích hợp cả chức năng xử lý phản hồi của người sử dụng để cải tiến các qui trình tra cứu để đưa ra những kết quả tra cứu tốt hơn
Trang 162.2 MÔ HÌNH HỆ THỐNG TRA CỨU ẢNH THEO
NỘI DUNG
Hình 2.1: Mô hình hệ thống Tra cứu ảnh theo nội dung
Trong mô hình này, người sử dụng sẽ tạo truy vấn bằng cách chọn một ảnh mẫu trong một cơ sở dữ liệu ảnh cho trước hoặc phác thảo một hình vẽ mô tả đối tượng ảnh cần tìm bằng cách sử dụng một giao diện đồ hoạ của hệ thống
Ảnh mẫu đó được đưa qua khối mô tả nội dung trực quan, trong đó người ta sử dụng một phương pháp mô tả nội dung trực quan nào đó để trích chọn một đặc điểm nội dung trực quan để xây dựng thành một véc tơ đặc trưng
Véc tơ đặc trưng của ảnh mẫu sẽ được so sánh với véc tơ đặc trưng tương ứng của các ảnh trong cơ sở dữ liệu ảnh Kết quả của phép so sánh là một chỉ số đánh giá độ tương tự giữa ảnh mẫu và ảnh lấy ra để so sánh
Dựa vào chỉ số độ tương tự tính toán được ở trên, hệ thống sẽ sắp xếp các ảnh tìm được trong cơ sở dữ liệu ảnh theo một sơ đồ đánh chỉ số nào đó Danh sách các ảnh tìm được (đã được sắp xếp) được đưa ra đầu ra của hệ thống
Tạo truy vấn
Mô tả Nội dung Trực quan
Các Vector Đặc trưng
Cơ sở Dữ liệu ảnh Nội dung Mô tả
Trực quan
Cơ sở Dữ liệu Đặc trưng
Đánh giá độ tương tự
Tra cứu và Đánh chỉ số
Phản hồi thích hợp
Kết quả tra cứu
Người
sử
dụng
Đầu ra
Trang 172.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP MÔ TẢ NỘI DUNG ẢNH
Nếu nhìn một cách tổng quát thì nội dung của một bức ảnh có thể bao gồm cả
nội dung trực quan và nội dung ngữ nghĩa [1]
Nội dung trực quan của ảnh lại được phân làm hai loại là nội dung tổng quan
và nội dung đặc tả Nội dung tổng quan bao gồm màu sắc, kết cấu, hình dạng và các
quan hệ không gian giữa các đối tượng ảnh hoặc giữa các vùng ảnh Nội dung đặc
tả thì tuỳ vào từng ứng dụng cụ thể, ví dụ với các ứng dụng tra cứu ảnh người thì mặt người hoặc con mắt là các nội dung đặc tả; với các ứng dụng tra cứu ảnh ô tô thì bánh xe là một nội dung đặc tả [1]
Nội dung ngữ nghĩa có thể phát hiện thông qua các chú thích hoặc sử dụng các phương pháp suy diễn từ nội dung trực quan
Trong khuôn khổ của luận văn này chúng tôi chỉ tập trung vào việc mô tả nội
dung trực quan tổng quan của ảnh
Một phương pháp mô tả nội dung trực quan được thiết kế tốt phải có tính bất biến đối với các biến đổi bất thường sinh ra trong quá trình xử lý ảnh (ví dụ như những biến đổi bất thường của độ sáng của cảnh vật) Tuy nhiên cũng cần phải chú
ý tới sự cân bằng giữa tính bất biến và khả năng đáp ứng những thay đổi tuỳ ý của các đặc trưng trực quan của ảnh, bởi vì một hệ thống có tính bất biến lớn thì thường
là không có tính nhạy cảm, mất khả năng phản ánh những thay đổi nhỏ nhưng rất quan trọng
Một phương pháp mô tả nội dung trực quan có thể là phương pháp toàn cục
hoặc phương pháp cục bộ Phương pháp mô tả nội dung toàn cục sử dụng các đặc trưng trực quan của toàn bộ bức ảnh còn phương pháp mô tả nội dung cục bộ lại sử
dụng những đặc trưng trực quan của các vùng ảnh hoặc các đối tượng ảnh để mô tả nội dung của ảnh
Để mô tả được nội dung cục bộ trước hết người ta phải chia ảnh thành các phần riêng biệt Cách đơn giản nhất để phân chia ảnh là sử dụng một bộ phân hoạch
Trang 18chia ảnh thành các ô có kích thước và hình dạng giống nhau Cách phân chia đơn giản như vậy không tạo ra được những vùng ảnh có ý nghĩa thực sự nhưng nó là cách đơn giản để biểu diễn nội dung toàn cục của ảnh với độ chính xác cao hơn Một phương pháp phân chia tốt hơn là phân chia ảnh thành các vùng đồng nhất dựa vào các tiêu chí sử dụng các thuật toán phân vùng ảnh đã được nghiên cứu và áp dụng trong ngành thị giác máy tính
Một cách phức tạp hơn để phân chia ảnh là thực hiện phân chia theo các đối tượng ảnh để tách ra các đối tượng ảnh có nghĩa thực sự (như quả bóng, cái ô tô hay con ngựa) [1, 10]
Phần tiếp theo giới thiệu một số một số kỹ thuật đang được sử dụng rộng rãi
để trích chọn các đặc điểm màu sắc, kết cấu, hình dạng và các quan hệ không gian của các đối tượng ảnh
2.3.1 Mô tả các đặc điểm màu sắc [1, 3, 6]
Trên thực tế thì màu sắc được sử dụng nhiều nhất để mô tả nội dung trực quan của ảnh Lý do là vì màu sắc của ảnh có tác động lớn đến nhận thức của con người
về nội dung của ảnh hơn là các đặc điểm khác như hình dạng của các đối tượng ảnh, kết cấu của ảnh hay sự phân bố không gian của các đối tượng ảnh
Màu sắc được biểu diễn thông qua một véc tơ 3 chiều sẽ có khả năng biểu diễn tốt hơn so với việc chỉ sử dụng giá trị độ xám của ảnh (1 chiều) Trước khi xem xét
kỹ hơn về các phương pháp mô tả nội dung màu sắc, chúng ta cùng tìm hiểu sơ lược
về các không gian màu
2.3.1.1 Không gian màu
Mỗi điểm ảnh trên một bức ảnh có thể được biểu diễn bằng một điểm trong một không gian màu 3 chiều Những không gian màu được sử dụng nhiều nhất
Trang 19trong các hệ thống tra cứu ảnh là RGB, CIE L*a*b, CIE L*u*v, HSV và không gian
màu đối lập
Người ta cũng chưa chỉ ra được rằng không gian màu nào được sử dụng tốt hơn cho việc tra cứu ảnh Tuy nhiên tính chất quan trọng nhất để một không gian màu phù hợp để sử dụng trong một hệ thống tra cứu ảnh là tính đồng nhất Một không gian màu được gọi là có tính đồng nhất nếu các cặp 2 màu tương tự nhau trong không gian màu thì cũng được con người cảm nhận như nhau Nói một cách khác, khoảng cách đo được giữa hai màu bất kỳ phải có liên quan trực tiếp với độ tương tự sinh học giữa hai màu đó
RGB là không gian màu được sử dụng phổ biến nhất để hiển thị ảnh Không gian RGB bao gồm 3 thành phần màu là Đỏ (Red), Xanh lá cây (Green) và Xanh lam (Blue) Các thành phần này gọi là màu cộng bởi vì các màu sắc trong không gian RGB đều có thể thu được bằng cách cộng 3 thành phần màu này lại với nhau Ngược lại, CMY là không gian màu thường sử dụng trong in ấn Ba thành phần màu của không gian CMY là màu xanh lơ (Cyan), hồng sẫm (Magenta) và vàng (Yellow) Ba thành phần này gọi là các thành phần màu trừ vì mỗi màu trong không gian CMY được sinh ra bởi sự hấp thụ các thành phần màu đó
Cả RGB và CMY đều phụ thuộc thiết bị và không có tính đồng nhất
Các không gian màu CIE L*a*b và CIE L*u*v là các không gian màu không phụ thuộc thiết bị và có thể coi là đồng nhất Bao gồm các thành phần độ sáng (L)
và hai thành phần độ kết tủa màu (sắc độ màu) là a và b hoặc u và v CIE L*a*b được thiết kế để làm việc với việc trộn các thành phần màu trừ còn CIE L*u*v được thiết kế để làm việc với việc trộn các thành phần màu cộng
Các không gian màu RGB và CIE có thể chuyển đổi với nhau, tức là chúng ta
có thể sử dụng các công thức để chuyển đổi một giá trị màu từ không gian màu này sang không gian màu khác
Trang 20Không gian màu HSV được sử dụng rộng rãi trong đồ hoạ máy tính và được coi là một phương pháp biểu diễn màu sắc trực quan hơn Ba thành phần màu là sắc màu (hue), độ bão hoà màu (s) và giá trị độ sáng (v) Thành phần sắc màu không thay đổi khi ta thay đổi độ chiếu sáng hay góc quan sát vì vậy thích hợp để sử dụng trong việc nhận dạng đối tượng ảnh Cũng có thể dễ dàng chuyển đổi các giá trị từ không gian HSV sang RGB và ngược lại
Không gian màu đối lập sử dụng các trục màu ngược (R-G, 2B-R-G, R+G+B), cách biểu diễn này có ưu điểm là tách được thông tin về độ sáng ra một trục riêng biệt (trục thứ ba) Bằng cách này, hai thành phần kết tủa màu sẽ không bị thay đổi khi thay đổi độ chiếu sáng
Các phần tiếp theo sẽ giới thiệu một số phương pháp mô tả nội dung màu sắc của ảnh: các moment màu, histogram màu, véc tơ gắn kết màu và biểu đồ tương quan màu
2.3.1.2 Các moment màu
Các moment màu đã được sử dụng rất thành công trong nhiều hệ thống tra cứu ảnh đặc biệt là khi ảnh chỉ chứa một đối tượng ảnh Các thành phần moment bậc nhất (trung vị), bậc hai (phương sai) và bậc ba (độ lệch) đã được chứng minh là có thể được sử dụng rất hiệu quả để biểu diễn sự phân bố màu sắc của ảnh
Công thức toán học để biểu diễn 3 moment này như sau:
∑
=
j ij
)(
1
i N
Trang 211
3
)(
N
Trong đó f ij là giá trị của thành phần màu thứ i của điểm ảnh thứ j và N là số
lượng điểm ảnh của ảnh đó
Sử dụng cả thành phần moment bậc ba s i sẽ giúp tăng cường hiệu năng tra cứu
so với khi chỉ sử dụng các moment bậc nhất μi và bậc hai σi Tuy nhiên đôi khi việc
sử dụng moment bậc 3 làm cho việc biểu diễn đặc trưng của ảnh nhạy cảm hơn đối với những thay đổi của cảnh nền và do đó làm giảm khả năng của hệ thống
Do chỉ sử dụng 9 giá trị (3 moment cho mỗi màu trong bộ ba màu) để biểu diễn nội dung màu của mỗi ảnh nên việc sử dụng moment màu để biểu diễn véc tơ đặc trưng màu là rất đơn giản nếu so sánh với các phương pháp biểu diễn khác Và cũng chính do sự đơn giản đó nên phương pháp này cho kết quả khá hạn chế
Thông thường, phương pháp biểu diễn bằng moment màu được sử dụng trong những bước đầu tiên của quá trình tra cứu ảnh với mục đích làm giảm kích thước không gian tìm kiếm trước khi áp dụng các phương pháp phức tạp hơn để tra cứu
2.3.1.3 Lược đồ màu (histogram màu)
Histogram màu là cách hiệu quả để biểu diễn nội dung màu của một bức ảnh trong trường hợp mẫu màu của bức ảnh đó là duy nhất trong tập hợp các ảnh trong
cơ sở dữ liệu Histogram màu dễ tính toán và rất hiệu quả để biểu diễn cả sự phân
bố màu tổng quan và sự phân bố màu cục bộ của ảnh Ngoài ra, histogram màu không bị ảnh hưởng bởi sự dịch chuyển hay sự quay của ảnh và rất ít bị ảnh hưởng của tỉ lệ và góc nhìn ảnh
Trang 22Do mỗi điểm ảnh được mô tả bằng ba thành phần trong một không gian ảnh xác định (ví dụ: ba thành phần Đỏ (R), Xanh lục (G) và Xanh da trời (B) trong không gian màu RGB hay ba thành phần là sắc màu (H), độ bão hoà màu (S) và giá trị màu (V) trong không gian HSV) nên có thể định nghĩa cho mỗi thành phần màu một histogram tức là một sự phân bố một số lượng điểm ảnh cho mỗi bin lượng tử màu Cụ thể hơn là càng sử dụng nhiều bin màu thì khả năng biểu diễn càng tốt Tuy nhiên việc sử dụng quá nhiều bin màu không chỉ làm tăng khối lượng tính toán
mà còn không thích hợp để xây dựng một sơ đồ đánh chỉ số hiệu quả cho cơ sở dữ liệu ảnh Hơn nữa việc lượng tử hoá quá mịn cũng không thật cần thiết trong nhiều trường hợp
Một cách để làm giảm số lượng bin màu là sử dụng không gian màu đối lập cho phép làm giảm số lượng mẫu độ sáng của ảnh Một cách khác là sử dụng các phương pháp phân cụm để xác định K màu tốt nhất trong một tập hợp ảnh xác định, mỗi một màu trong K màu tốt nhất đó được coi là một bin màu Do quá trình phân cụm tính toán sự phân bố màu của tất cả các ảnh trong cơ sở dữ liệu nên sẽ được giảm thiểu được số lượng các bin màu không chứa hoặc chứa rất ít điểm ảnh
Một cách khác là sử dụng các bin màu có chứa nhiều điểm ảnh nhất, khi đó chỉ cần một số lượng nhỏ bin màu cũng biểu diễn được đặc trưng quan trọng nhất của một bức ảnh Cách làm này không những không làm giảm hiệu năng của phương pháp so sánh histogram mà đôi khi còn làm tăng hiệu năng do các bin màu
có kích thước lớn sẽ tránh được ảnh hưởng của nhiễu
Khi cơ sở dữ liệu có chứa quá nhiều ảnh thì phương pháp so sánh histogram
có thể bị bão hoà, khi đó kết quả so sánh histogram màu chưa chắc đã phản ánh sự tương tự về nội dung của các ảnh, để khắc phục nhược điểm này người ta đưa ra kỹ
thuật histogram liên kết
Histogram liên kết có bổ sung thêm các thông tin khác mà không làm giảm sự đơn giản của histogram màu Để đạt được điều này, người ta phải lựa chọn rất cẩn thận các đặc trưng cục bộ sẽ bổ sung vào histogram liên kết Mỗi phần tử trong lược
Trang 23đồ histogram liên kết chứa số lượng điểm ảnh trong ảnh được mô tả bởi một bộ các giá trị đặc trưng Như vậy histogram liên kết là lược đồ histogram đa chiều
Mặt khác, do histogram màu không phản ánh được các thông tin mang tính không gian của các điểm ảnh, vì vậy về mặt lý thuyết, các ảnh rất khác nhau có thể
có sự phân bố màu tương tự nhau Vấn đề này rất dễ xảy ra đối với các cơ sở dữ liệu ảnh lớn Người ta đã đề xuất một vài cách khác nhau để khắc phục vấn đế này, một cách đơn giản nhất là chia các bức ảnh thành những phân vùng nhỏ hơn và tính histogram của từng phân vùng Có thể sử dụng phương pháp phân vùng đơn giản là phân thành các hình chữ nhật đồng đều hoặc phức tạp hơn là phân theo các vùng ảnh hoặc các đối tượng ảnh Ảnh được phân vùng càng nhỏ thì độ chính xác càng cao nhưng khối lượng tính toán cũng nhiều hơn
2.3.1.4 Véc tơ gắn kết màu
Một cách tiếp cận khác để đưa thông tin về không gian vào histogram màu là
sử dụng véc tơ gắn kết màu (Color Cohefeence Vector - CCV) Phương pháp này có thể tóm tắt như sau:
Mỗi bin màu được phân thành 2 loại: loại có gắn kết nếu như bin màu đó thuộc vào vùng có màu đồng nhất lớn, ngược lại thì gọi là không gắn kết Ký hiệu α i
là số lượng các điểm ảnh gắn kết của trong bin màu thứ i và β i là số lượng các điểm ảnh không gắn kết trong một bức ảnh Thế thì, CCV của một bức ảnh được định nghĩa là véc tơ:
<(α 1 , β 1 ),(α 2 , β 2 ), , (α N , β N )>
Chú ý là <α 1 + β 1 ,α 2 + β 2 , , α N + β N > chính là histogram màu của ảnh
Do có chứa các thông tin về không gian của các điểm ảnh nên sử dụng các véc
tơ gắn kết màu sẽ cho kết quả tra cứu tốt hơn so với sử dụng histogram màu, đặc biệt là đối với những ảnh có vùng đồng nhất màu lớn
Trang 24Đối với cả phương pháp dùng véc tơ gắn kết màu và phương pháp dùng histogram màu thì sử dụng không gian HSV sẽ cho kết quả tốt hơn là sử dụng không gian CIE L*u*v hay L*a*b
2.3.1.5 Sơ đồ tương quan màu
Sơ đồ tương quan màu không chỉ thể hiện sự phân bố màu của các điểm ảnh
mà còn thể hiện sự tương quan về mặt không gian của từng cặp màu Trong sơ đồ tương quan màu, thành phần thứ nhất và thứ hai của một histogram màu 3 chiều thể hiện màu sắc của một cặp màu nào đó và thành phần thứ 3 là khoảng cách không gian của chúng
Sơ đồ tương quan màu là một bảng được đánh chỉ số bởi các cặp màu, trong
đó đầu vào thứ k của cặp (i,j) thể hiện xác suất để tìm thấy điểm ảnh có màu j ở khoảng cách k so với điểm ảnh có màu i trong ảnh Giả sử I là tập hợp tất cả các điểm ảnh trong ảnh và I c(i) là tập hợp các điểm ảnh có màu là c(i) thì có thể định
nghĩa sơ đồ tương quan màu như sau:
Nếu so sánh với phương pháp dùng histogram màu và phương pháp dùng véc
tơ gắn kết màu thì phương pháp dùng sơ đồ tương quan màu cho kết quả tra cứu tốt nhất, tuy nhiên độ phức tạp cao nhất do sử dụng số chiều nhiều hơn (3 chiều)
Trang 252.3.1.6 Các đặc điểm bất biến màu
Màu sắc không chỉ phụ thuộc vào chất liệu của bề mặt vật thể mà còn ảnh hưởng bởi sự thay đổi của độ chói, phương hướng, góc chụp ảnh Cần phải chú ý đến những yếu tố này Tuy nhiên, sự bất biến của các yếu tố môi trường này đã không được tính đến trong khi trích chọn các đặc điểm màu sắc đã trình bày ở trên Việc biểu diễn các yếu tố màu bất biến đã được giới thiệu trong một số hệ thống tra cứu ảnh theo nội dung gần đây
2.3.2 Mô tả các đặc điểm kết cấu [1, 7]
Kết cấu (texture) là một tính chất quan trọng khác của ảnh Kết cấu là một thành phần có ảnh hưởng rất quan trọng đối với sự nhận thức trực quan của con người Tất cả mọi người đều có thể nhận ra kết cấu nhưng lại rất khó có thể định nghĩa chính xác nó là gì
Không giống như màu sắc, kết cấu “xảy ra” trên một vùng chứ không phải tại một điểm ảnh và thường được định nghĩa bằng các mức xám
Rất nhiều cách thể hiện kết cấu đã được nghiên cứu trong lĩnh vực nhận dạng
và thị giác máy tính Xét một cách cơ bản, các phương pháp biểu diễn kết cấu có thể
được chia thành hai loại: các phương pháp cấu trúc và các phương pháp thống kê Các phương pháp cấu trúc bao gồm các toán tử hình thái và đồ thị liền kề, mô
tả kết cấu bằng cách định nghĩa các nguyên thuỷ cấu trúc và luật sắp đặt của chúng Các phương pháp này tỏ ra có hiệu quả khi áp dụng trong trường hợp kết cấu thông thường
Các phương pháp thống kê bao gồm: Phương pháp phổ năng lượng Fourier,
ma trận đồng khả năng, Tamura, Phân tích Wold, trường ngẫu nhiên Markov, mô hình fractal, các bộ lọc đa phân giải như biến đổi Gabor và biến đổi dạng sóng thể hiện kết cấu bằng sự phân bố thống kê của độ sáng của các điểm ảnh
Trang 26Phần tiếp theo sẽ trình bày một số phương pháp biểu diễn kết cấu được sử dụng rộng rãi và có hiệu quả trong các hệ thống tra cứu ảnh theo nội dung
2.3.2.1 Các đặc trưng Tamura
Các đặc trưng Tamura bao gồm độ thô, độ tương phản, độ định hướng, độ
tuyến tính, độ đồng đếu và độ gồ ghề, được thiết kế phù hợp với sự cảm nhận của
thị giác con người đối với kết cấu
Ba thành phần đầu tiên của các đặc trưng Tamura là độ thô, độ tương phản và
độ định hướng được dùng nhiều nhất trong các hệ thống tra cứu ảnh nổi tiếng như QBIC, Photobook
Cách tính toán các đại lượng đặc trưng này như sau:
Độ thô
Độ thô được dùng để đo tính chất hạt của kết cấu Để tính toán độ thô, tại mỗi điểm ảnh (x,y) ta tính toán một trung bình động (average moving) Ak(x,y) sử dụng một cửa sổ kích thước 2kx2k (k = 0, 1, , 5):
k y
y j
x
x i k
k
k k
k
j i g y
x
2
1 2 2
2 / ) , ( )
,
(
1
1 1
Trong đó g(i,j) là độ sáng của điểm ảnh ở vị trí (i,j)
Bước tiếp theo là tính toán sự khác nhau giữa các cặp trung bình động không chồng lấn lên nhau theo chiều dọc và chiều ngang của các điểm ảnh:
) , 2 ( ) , 2 (
| ) ,
| ) ,
v x y A x y A x y
Trang 27Sau đó, giá trị k nào làm cho E lớn nhất theo bất kỳ chiều nào sẽ được sử dụng
để đặt cho kích thước tốt nhất cho mỗi điểm ảnh, nghĩa là:
i
n m
F
1 1
) , (
Trang 28Để tính toán độ định hướng, ta nhân chập ảnh với 2 ma trận kích thước 3×3 là
và sau đó tính toán véc tơ gradient cho mỗi điểm ảnh
0 0 0
1 1 1
Cuối cùng, tính toán histogram tổng hợp của cả ảnh để xác định độ định hướng tổng thể dựa trên độ sắc của các đỉnh:
∑
∑
∈ Φ
ΦΦ
−Φ
p
Trang 29Trong công thức này, p chạy trên tất cả các đỉnh n p , và đối với mỗi đỉnh p, w p
là tập các bin phân bố trên đỉnh đó còn Φp là bin đạt giá trị tại đỉnh đó
2.3.2.2 Các đặc trưng Wold
Một cách tiếp cận khác để biểu diễn kết cấu là sử dụng phân tích Wold Phân
tích Wold có 3 thành phần độ hài hoà, độ phai mờ và độ bất định tương ứng với các đặc điểm tính chu kỳ, tính định hướng và tính ngẫu nhiên của kết cấu
Các kết cấu có tính chu kỳ có thành phần độ hài hoà cao, các kết cấu có tính định hướng cao có thành phần độ phai mờ lớn còn các kết cấu có tính cấu trúc ít hơn thì thành phần độ bất định lớn hơn
Đối với trường ngẫu nhiên đồng đều thuần nhất {y(m,n), (m,n)∈Z 2 } thì phép
phân tích Wold 2D sẽ cho 3 thành phần trực giao từng đôi một:
y(m,n) = u(m,n) + d(m,n) = u(m,n) + h(m,n) + e(m,n)
trong đó u(m,n) là thành phần bất định còn d(m,n) là thành phần tất định Thành phần tất định lại được phân tích thành các thành phần độ hài hoà h(m,n) và
độ phai mờ e(m,n)
Trong miền tần số ta cũng xây dựng được các công thức tương ứng:
),(),(),(),(),()
,
(ξ η u ξ η d ξ η u ξ η h ξ η e ξ η
trong đó F y(ξ,η),F u(ξ,η),F d(ξ,η),F h(ξ,η),F e(ξ,η) tương ứng là các hàm phân
bố phổ (SDF) của {y(m,n)}, {u(m,n)}, {d(m,n)}, {h(m,n)} và {e(m,n)} (2.15)
Trong miền không gian, 3 thành phần trực giao có thể tính toán được bằng phép ước lượng khả năng tối đa (MLE) liên quan đến việc điều chỉnh qui trình tự
Trang 30thoái lui (AR) bậc cao, tối thiểu hàm định giá và giải hệ các phương trình tuyến tính
Trong miền tần số, có thể tính toán được các thành phần Wold bằng cách đặt ngưỡng tổng thể cho các biên độ phổ Fourier của ảnh
2.3.2.3 Mô hình tự thoái lui đồng thời (mô hình SAR)
Mô hình SAR là một biến thể của trường ngẫu nhiên Markov (MRF), được sử dụng rất hiệu quả để mô hình hoá kết cấu ảnh trong những năm gần đây So với những mô hình MRF khác, SAR sử dụng ít tham số hơn Trong mô hình SAR, độ
chói của các điểm ảnh được coi như các biến ngẫu nhiên Độ chói g(x,y) của điểm ảnh (x,y) được coi như là một tổ hợp tuyến tính của đội chói của điểm ảnh liền kề
g(x’,y’) và mẫu nhiễu dương ε(x,y) tức là:
∑
∈
++
=
D y x
y x y
x g y x y
x
g
)' ,' (
),()','()','()
,
trong đó μ là giá trị sai lệch xác định bởi giá trị trung bình trên toàn ảnh; D là tập các điểm ảnh lân cận của (x,y); θ(x’,y’) là tập các trọng số của các điểm ảnh lân
cận; ε(x,y) là biến ngẫu nhiên Gauss độc lập với trung bình θ và biến thiên σ2
Các tham số θ và σ được sử dụng để đo kết cấu Ví dụ, giá trị σ cao hơn thể hiện kết cấu mịn hơn, đỡ thô hơn; các giá trị θ(x,y+1) và θ(x,y-1) lớn hơn cho biết
ảnh có tính định hướng theo chiều dọc Kỹ thuật sai số bình phương tối thiểu (LSE) hoặc phương pháp ước lượng khả năng tối đa (MLE) thường được sử dụng để ước lượng các tham số của mô hình SAR
Trang 312.3.2.4 Ma trận đồng khả năng (Co-occurrence matrix) [7]
Cách biểu diễn kết cấu bằng ma trận đồng khả năng thể hiện sự liên quan về mặt không gian của các mức xám Định nghĩa toán học của ma trận đồng khả năng như sau:
o Giả sử có một toán tử vị trí P(i,j)
o A là một ma trận kích thước n×n, phần tử A[i][j] biểu thị số lần mà các điểm có mức xám (độ chói) là g[i] và g[j] thoả mãn toán tử P
o Đặt C là ma trận kích thước n×n tính được bằng cách chia ma trận A cho tổng số cặp điểm thoả mãn toán tử P C[i][j] là xác suất để một cặp điểm thoả mãn toán tử P có cặp giá trị g[i], g[j]
o C được gọi là ma trận đồng khả năng định nghĩa bởi toán tử P
Một ví dụ về toán tử P: “i nằm phía trên j”, hoặc “i nằm ở cách j một vị trí về
phía phải và hai vị trí về phía dưới”
Cũng có thể diễn tả về ma trận đồng khả năng theo cách sau đây: giả sử t là một dịch chuyển, khi đó ma trận đồng khả năng C t của một vùng được định nghĩa
cho mỗi cặp mức xám (a,b) theo công thức:
C t (a,b) = card{(s, s+t) ∈ R 2 | A[s] = a, A[s+t] = b} (2.17)
Ở đây, C t (a, b) là số cặp điểm (ký hiệu là (s, s+t)) được xác định bới véc tơ
dịch chuyển t mà a là độ xám của s và b là độ xám của s+t
Ví dụ: với một ảnh có 8 mức xám và véc tơ t là một dịch chuyển một vị trí thì:
Với ảnh mẫu:
1 1 2
3
3
4 2 1
3
2
4 3 1
2
1
Trang 32Ta thu được một ma trận đồng khả năng như sau:
0000000
0
7
0000000
0
6
0000000
0
5
0001001
0
4
0000110
0
3
0000201
0
2
0000021
0
1
0000000
0
0
7654321
0
Trước hết người ta xây dựng những ma trận đồng khả năng dựa trên phương hướng và khoảng cách giữa các điểm ảnh Sau đó từ những ma trận đó có thể rút ra được các con số thống kê có nghĩa về kết cấu
Một số đặc trưng của kết cấu có thể tính được dựa vào phương pháp ma trận đồng khả năng là:
o Năng lượng: ∑ ∑
j i
j i
C2(, )
o Entropy: ∑ ∑
j i
j i C j i
C(, )log ( , )
o Độ tương phản: ∑ ∑ −
j i
j i C j
|
|1
),(
Ngoài ra còn có thể xây dựng được nhiều đặc trưng khác như độ tương quan, phương sai, tổng trung bình, tổng phương sai, tổng entropy, trung vị cục bộ
Như vậy với mỗi đặc trưng kết cấu chúng ta thu được một ma trận đồng khả năng Những ma trận đồng khả năng này thể hiện sự phân bố không gian và sự phụ
thuộc của các mức xám trong một vùng cục bộ nào đó Mỗi phần tử (i,j) của ma trận biểu diễn xác suất xuất hiện một điểm có mức xám i và một điểm có mức xám j ở
những vị trí có khoảng cách và tạo thành một góc đã được qui định trước Dựa vào
Trang 33những ma trận này có thể tính toán được các con số thống kê về ảnh hay chính là các véc tơ đặc trưng cho kết cấu của ảnh đó
2.3.2.5 Lọc Gabor [1, 7, 14]
Bộ lọc Gabor được sử dụng khá rộng rãi để trích chọn đặc điểm của ảnh số, đặc biệt là các đặc điểm kết cấu Lọc Gabor được coi là tối ưu xét về khả năng tối thiểu hoá những sự không chắc chắn liên kết trong không gian và tần số và thường được sử dụng như là bộ phát hiện hướng và phát hiện biên điều hướng được Có nhiều cách tiếp cận để phát hiện các đặc điểm kết cấu dựa vào bộ lọc Gabor Ý tưởng chính của việc sử dụng bộ lọc Gabor để trích chọn các đặc điểm kết cấu như sau:
Một hàm lọc Gabor hai chiều g(x,y) được định nghĩa là:
jWx y
x y
x
g
y x y
x
πσ
σσ
1 exp[
2
1 )
,
2 2
2
+ +
Trang 34(x y I x y g x x y y dx dy
Ở đây dấu * thể hiện liên hợp phức Sau đó trung vị μmn và độ lêch tiêu chuẩn
σmn của biên độ của W mn (x,y) là
f = [μ00, σ00 , , μmn, σmn , Λ, μS-1 K-1, σS-1K-1 ] (2.23)
có thể được sử dụng để biểu diễn các đặc điểm của một kết cấu thuần nhất
2.3.2.6 Biến đổi dạng sóng (wavelet transform)
Cũng giống như phương pháp lọc Gabor, phương pháp biến đổi dạng sóng là cách phân tích và phân loại áp dụng cho các kết cấu nhiều chiều
Biến đổi dạng sóng phân tích một tín hiệu thành một họ các hàm cơ sở ψmn (x)
bằng cách dịch chuyển và co giãn một hàm gốc ψ(x), tức là:
Trong đó m và n là tham số co giãn và tham số dịch chuyển Một tín hiệu f(x)
có thể được biểu diễn dưới dạng:
Trang 35=
n m
mn
mn x c
x
f
,
)()
Hai dạng biến đổi dạng sóng chủ yếu được dùng trong phân tích kết cấu ảnh là
biến đổi dạng sóng theo kiểu hình hình chóp (PWT) và biến đổi dạng sóng theo kiểu hình cây (TWT)
PWT phân tích một cách đệ qui dải tần số LL, tuy nhiên đối với một số loại kết cấu thì những thông tin quan trọng nhất thường xuất hiện ở các kênh tần số trung bình Để khắc phục nhược điểm này của PWT thì TWT còn có thể phân tích ở các dải tần số khác như LH, HL hoặc HH nếu cần
Sau quá trình phân tích, có thể xây dựng các véc tơ đặc trưng bằng cách sử dụng trung vị và độ lệch chuẩn của phân bố năng lượng của mỗi dải tần con (sub-band) tại mỗi mức đệ qui
Khi thực hiện phân tích mức thì PWT cho kết quả là một véc tơ đặc trưng có 3×4×2 thành phần Đối với TWT, véc tơ đặc trưng phụ thuộc vào thứ tự phân tích các dải tần số con Có thể xây dựng được một cây phân tích cố định bằng cách phân tích tuần tự các dải tần LL, LH và HH, kết quả cho ra sẽ là một véc tơ đặc trưng có 52×2 thành phần
Lưu ý là trong ví dụ này thì véc tơ đặc trưng kết quả của phân tích PWT chỉ là tập con của véc tơ do phân tích TWT sinh ra Ngoài ra qua so sánh sự khác nhau của véc tơ đặc trưng thu được khi sử dụng các phương pháp biến đổi dạng sóng
Trang 36khác nhau, người ta thấy rằng việc lựa chọn bộ lọc dạng sóng không ảnh hưởng lớn lắm đến các phân tích kết cấu ảnh
2.3.3 Mô tả các đặc điểm hình dạng [1, 12]
Các đặc điểm hình dạng của các vùng ảnh và các đối tượng ảnh được sử dụng trong rất nhiều hệ thống tra cứu ảnh So với các đặc điểm về màu sắc và các đặc điểm về kết cấu thì các đặc điểm về hình dạng thường chỉ được sử dụng sau khi ảnh
đã phân thành các vùng hoặc các đối tượng ảnh Nhưng do việc phân vùng và tách đối tượng ảnh khó thu được kết quả tốt nên việc sử dụng các đặc điểm hình dạng để tra cứu ảnh thường bị bó hẹp trong một số ứng dụng mà ở đó các vùng ảnh hoặc đối tượng ảnh đã được tách biệt rõ ràng
Các phương pháp trích chọn đặc điểm hình dạng thường được chia thành hai
loại là trích chọn dựa theo đường biên (xấp xỉ đa giác, mô hình phần tử hữu hạn,
mô tả hình dạng theo Fourier) và trích chọn dựa theo vùng ảnh (mô hình thống kê)
Một phương pháp trích chọn đặc điểm hình dạng tốt phải đảm bảo yêu cầu là phải không phụ thuộc vào vị trí, góc quay hay sự co giãn của đối tượng ảnh
Trước khi áp dụng các phương pháp trích chọn đặc điểm hình dạng, các đối tượng ảnh cần phải được tách ra khỏi ảnh Giả sử là trong mỗi ảnh chỉ có một đối tượng ảnh duy nhất, nhiệm vụ của hệ thống trước hết là phải tách được đối tượng ảnh ra khỏi nền ảnh
Cách biểu diễn hình dạng của đối tượng ảnh có thể chia thành hai kiểu: [1, 12]
o Theo đường bao quanh (biên)
o Theo vùng
Cách biểu diễn theo đường viền bao quanh chỉ sử dụng đường biên bên ngoài của hình dạng, điều này có thể thực hiện được bằng cách mô tả vùng đang quan tâm bằng cách đặc tính bên ngoài của nó tức là các điểm ảnh dọc theo đường viền bao
Trang 37quanh đối tượng ảnh Cách biểu diễn theo vùng sử dụng cả vùng ảnh bằng cách mô
tả vùng đang quan tâm bằng các đặc tính bên trong tức là các điểm ảnh ở bên trong vùng đó
Hình 2.2: Biểu diễn hình dạng theo đường biên và theo vùng
2.3.3.1 Biên và các phương pháp phát hiện biên
Nếu đã biết là một đối tượng có một biên rời rạc bao quanh và có thể tìm được một điểm nằm trên biên đó thì từ điểm đó có thể đi theo đường biên bao quanh đối tượng và quay trở lại điểm xuất phát Dò biên là một thao tác rất quan trọng, đặc biệt là khi cần xác định xem một điểm ảnh có nằm trong một vùng ảnh nào đó hay không
Một điểm ảnh được gọi là biên nếu ở đó có sự thay đổi đột ngột về mức xám Tập hợp các điểm biên tạo thành biên của ảnh
Phương pháp phát hiện biên trực tiếp [3]
Phương pháp này làm nổi biên dựa vào sự biến thiên độ xám của ảnh Kỹ thuật chủ yếu dùng để phát hiện biên là kỹ thuật đạo hàm
o Nếu lấy đạo hàm bậc nhất của ảnh ta có phương pháp Gradient Vì ảnh số là các tín hiệu rời rạc nên không tồn tại đạo hàm nên thực chất phương pháp này chỉ là mô phỏng và xấp xỉ đạo hàm bằng kỹ thuật nhân chập
Trang 3811
1 0 1
1 0 1
0 0 0
1 1 1
2 0 2
1 0 1
0 0 0
1 2 1
Hy
Các kỹ thuật Gradient làm việc khá tốt khi độ xám thay đổi rõ nét
o Nếu lấy đạo hàm bậc hai của ảnh ta có kỹ thuật Laplace
Một số dạng xấp xỉ đạo hàm bậc hai của ảnh:
1 4 1
0 1 0
1 4 1
0 1 0 1
2 4 2
1 2 1 2
1 8 1
1 1 1 3
H
Các kỹ thuật Laplace làm việc hiệu quả với ảnh có mức xám thay đổi chậm, miền chuyển tiếp trải rộng
Trang 39Phương pháp phát hiện biên gián tiếp [2]
Nếu bằng một cách nào đó ta phân được ảnh thành các vùng thì ranh giới giữa các vùng là đó chính là biên Kỹ thuật dò biên và kỹ thuật phân vùng ảnh là hai bài toán đối ngẫu nhau bởi vì dò biên để thực hiện phân lớp đối tượng mà khi đã phân lớp xong thì có nghĩa là đã phân vùng được ảnh và ngược lại khi đã phân vùng được ảnh tức là đã phân lớp được thành các đối tượng do đó ta có thể phát hiện được biên
¾ Kỹ thuật dò biên gián tiếp đơn giản
Giả sử đã tìm được một vị trí (x, y) nằm trên biên của một vùng ảnh hoặc đối tượng ảnh nào đó
Đánh dấu điểm đó là "đã sử dụng" (để điểm đó không bị sử dụng lại) và đánh giá tất cả giá trị gradient Sobel 3×3 (hoặc lớn hơn) có trung tâm lần lượt là các điểm trong 8 điểm lân cận với (x, y)
Chọn ra ba điểm có biên độ gradient tuyệt đối lớn nhất Đẩy vị trí của ba điểm
đó vào một mảng có 3 cột, mỗi cột tương ứng với vị trí của một điểm, sắp xếp thành từng hàng theo độ lớn của biên độ gradient Chọn điểm có biên độ gradient lớn nhất
Bây giờ điểm này sẽ là một trong 8 hướng từ 0 đến 7 xung quanh điểm (x, y) sắp xếp theo mô hình sau (trong đó * là vị trí điểm (x, y)):
Trang 40gradient nào đủ lớn thì loại bỏ điểm đó ra khỏi danh sách và chọn một trong ba điểm đã được sắp xếp Nếu tất cả ba điểm đều bị loại bỏ ra khỏi danh sách thì dịch chuyển lên một hàng và chọn điểm tốt nhất tiếp theo từ hàng trước Việc dò biên kết thúc khi gặp lại điểm xuất phát hoặc việc dò đã diễn ra quá lâu hoặc số hàng trong danh sách là quá lớn
Đây là một kỹ thuật dò biên đơn giản, tuy nhiên vấn đề có thể xảy ra là thời gian tiêu tốn khá lớn
¾ Kỹ thuật dò biên gián tiếp bằng cách xác định chu tuyến của đối
tượng ảnh
Kỹ thuật này chỉ xét với ảnh nhị phân vì mọi ảnh đều có thể đưa về ảnh nhị phân bằng kỹ thuật phân ngưỡng
Ký hiệu F là tập các điểm vùng (điểm đen), F' là tập các điểm nền
- Định nghĩa chu tuyến:
Chu tuyến của một đối tượng ảnh là dãy các điểm ảnh của đối tượng p0, p1, ,
pn sao cho:
+ ∀i, ∃Q không thuộc đối tượng ảnh là 4-láng giềng của pi
+ pi và pi+1 là các 8-láng giềng của nhau
+ p0 trùng với pn
- Định nghĩa chu tuyến đối ngẫu
Chu tuyến c = <p1, p2, , pn>, c⊥ = <Q1, Q2, , Qm> được gọi là đối ngẫu của nhau nếu:
+ ∀i, ∃j, k sao cho:
1 Qj là 4-láng giềng của pi
2 Qk là 8-láng giềng của pi+1
3 Qj và Qk là 8-láng giềng của nhau