1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BÀI GIẢNG HỌC PHẦN KINH TẾ QUỐC TẾ

127 485 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 903 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời, quan hệ thương mại giữa các quốc gia ngày càng phát triển về cả chiều sâu lẫn chiều rộng, sự phân công lao động diễn ra ở tầm quốc tế

Trang 1

BÀI GIẢNG HỌC PHẦN

KINH TẾ QUỐC TẾ

Trang 2

CHƯƠNG 1 Giới thiệu môn học kinh tế quốc tế

1.1 Nền kinh tế thế giới và các quan hệ kinh tế quốc tế

1.1.1 Nền kinh tế thế giới

1.1.1.1 Khái niệm nền kinh tế thế giới

Cùng với sự phát triển của lịch sử loài người, các hoạt động kinh tế diễn ra với quy mô ngày càng lớn, phạm vi các quan hệ kinh tế ngày càng rộng, tính chất của chúng ngày càng phức tạp, trình độ phát triển của chúng ngày càng cao Từ khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời, quan hệ thương mại giữa các quốc gia ngày càng phát triển về cả chiều sâu lẫn chiều rộng, sự phân công lao động diễn ra ở tầm quốc tế, các doanh nghiệp tìm cách mở rộng thị trường ra nước ngoài, các quan hệ kinh tế quốc tế diễn ra không những trên lĩnh vực thương mại mà cả trên lĩnh vực đầu tư, chuyển giao công nghệ, di chuyển quốc tế sức lao động và nhiều lĩnh vực khác Do sự phát triển của các hoạt động thương mại quốc tế và các hoạt động trao đổi quốc tế khác, thị trường thế giới được hình thành Nhưng không phải khi hình thành thị trường thế giới là đã xuất hiện khái niệm nền kinh tế thế giới Khái niệm nền kinh tế thế giới chỉ ra đời trên cơ sở sự phát triển đến một trình độ nhất định không những của các nền kinh tế quốc gia mà quan trọng hơn là sự phát triển đáng kể của các quan hệ kinh tế quốc tế, vì chính các quan hệ kinh tế quốc tế này mới làm cho các nền kinh tế quốc gia liên hệ

và phụ thuộc lẫn nhau, tác động qua lại và thúc đẩy lẫn nhau, tạo nên tính thống nhất, tính chỉnh thể của nền kinh tế thế giới

Nền kinh tế thế giới là tổng thể các nền kinh tế của các quốc gia trên trái đất có mối quan hệ hữu cơ và tác động qua lại lẫn nhau thông qua sự phân công lao động quốc tế cùng với các quan hệ kinh tế quốc tế của chúng.

Sự phát triển của nền kinh tế thế giới phụ thuộc trước hết vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của phân công lao động quốc tế và của việc phát triển quan hệ kinh tế quốc tế Ngày nay nền kinh tế thế giới là một thực thể kinh tế đặc thù, duy nhất, có cơ cấu nhiều tầng nấc, nhiều cấp độ quan hệ vơi snhững phạm vi hoạt động khác nhau Các bộ phận cấu thành nền kinh tế thế giới tác động qua lại, nhiều chiều trong sự vận động không ngừng cả

về mặt lượng và mặt chất

1.1.1.2 Cơ cấu của nền kinh tế thế giới

Nền kinh tế thế giới là một thực thể thống nhất hữu cơ của hai bộ phận nói trên, nó vận động theo những quy luật khách quan của quá trình phân công lao động quốc tế và của hoạt động đầu tư và thương mại quốc tế Cơ cấu của nền kinh tế thế giới biến đổi gắn liền với

Trang 3

các cuộc cách mạng công nghiệp Ngày nay với xu hướng khu vực hoá và toàn cầu hoá làm tăng dần tính đa dạng của các mối quan hệ kinh tế quốc tế và làm tăng tính chỉnh thể của nền kinh tế thế giới.

Cơ cấu của nền kinh tế thế giới có thể được xem trên nhiều góc độ

- Theo hệ thống kinh tế xã hội: người ta chia nền kinh tế thế giới ra thành

+ Hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa

+ Hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa

+ Hệ thống kinh tế của các nước thuộc thế giới thứ ba

Thực ra sự phân chia này chủ yếu có ý nghĩa về mặt nhận thức chính trị và tư tưởng, còn trên thực tế nó mang tính hết sức tương đối do sự biến đổi và đan xen giữa các mô hình kinh tế - xã hội khác nhau đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ trong thế giới hiện đại

Ngay trong các quốc gia tư bản chủ nghĩa phát triển cao cũng không phải chỉ tồn tại duy nhất loại hình kinh tế tư bản chủ nghĩa

Đối với các nước thuộc thế giới thứ ba cũng đang diễn ra sự phối hợp và đan xen giữa nhiều mô hình kinh tế - xã hội và mô hình phát triển khác nhau

Sự tan rã của mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Liên Xô (cũ) và Đông âu chỉ chứng minh

sự yếu kém và không phù hợp với thực tiễn của một mô hình cứng nhắc nào đó, còn phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa với tư cách là một chế độ xã hội ưu việt vẫn là mục tiêu hướng tới trong tương lai và trên thực tế người ta vẫn đang tìm cách biến nó thành hiện thực sao cho phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển ở một số quốc gia

- Theo trình độ phát triển kinh tế: người ta chia nền kinh tế thế giới thành 3 nhóm

quốc gia:

+ Các nước công nghiệp phát triển cao

+ Các nước đang phát triển

+ Các nước chậm phát triển

Theo cách phân chia này, thế giới ngày nay có khoảng 30 quốc gia được xếp vào nhóm các nước công nghiệp phát triển cao với đặc trưng là họ đã hoàn thành quá trình công nghiệp hoá nền kinh tế quốc dân, đạt được cơ cấu kinh tế hiện đại và có mức GDP bình quân đầu người một năm hàng chục ngàn USD Một số nước công nghiệp mới (NICs) đã dần dần được chuyển lên nhóm các nước công nghiệp phát triển cao này

Nhóm các nước đang phát triển chiếm đại bộ phận số lượng các quốc gia trong nền kinh tế thế giới Những quốc gia này đang thực hiện nhiều biện pháp khác nhau để tiến hành công nghiệp hoá đất nước họ và bước đầu cũng đạt được những kết quả nhất định trong việc đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế Trong số các nước đang phát triển, có một số nước đạt

Trang 4

được thành công với sự tăng trưởng kinh tế cao trong 3 – 4 thập kỷ gần đây và họ được xếp thành nhóm các nước công nghiệp mới (NICs)

Trên thế giới ngày nay, còn có một số quốc gia do điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội

và tự nhiên của họ không được thuận lợi, mặc dù đã giành được độc lập dân tộc nhưng vẫn ở tình trạng nghèo đói và tốc độ phát triển kinh tế rất thấp, nền kinh tế của các quốc gia này được xếp vào nhóm các nước chậm phát triển

Ngoài hai cách phân chí trên, người ta còn có thể xem xét kết cấu của nền kinh tế thế giới theo nhiều tiêu thức khác như theo khu vực địa lý, theo trình độ công nghệ, theo đặc điểm dân tộc – văn hoá - lịch sử…

1.1.1.3 Các giai đoạn phát triển của nền kinh tế thế giới

Theo tiến trình lịch sử vận động các quan hệ kinh tế quốc tế, nền kinh tế thế giới hình thành sau sự ra đời của thị trường thế giới Bởi vì chỉ khi phân công lao động quốc tế và các quan hệ kinh tế quốc tế phát triển đến một giai đoạn nhất định mới đạt tới điều kiện của sự hình thành nền kinh tế thế giới Ở hình thái ban đầu, nền kinh tế thế giới mới chỉ thể hiện qua mối quan hệ buôn bán diễn ra có tính chất tự phát, chủ yếu dựa trên sự khác biệt về điều kiện

tự nhiên sẵn có của từng quốc gia Đến cuối thế kỷ 15 và đầu 16, nhờ những phát kiến địa lý

vĩ đại của Christoph Colombo (1446-1506) nền sản xuất hàng hoá tư bản đã vượt qua biên giới quốc gia, hình thành các trung tâm thương mại quốc tế lớn trên thế giới Vào giai đoạn này, phân công lao động quốc tế đã dần dần chuyển sang tự giác trên cơ sở lợi thế so sánh của mỗi nước

Cơ cấu sản xuất và trao đổi quốc tế được biến đổi về chất theo các cuộc cách mạng CN

- Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (1820 – 1870) làm cho giao thông vận tải

PT nhanh chóng, công nghiệp được mở rộng và bước đầu hình thành một thị trường thế giới rộng lớn

- Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai (1870 – 1913) gây ra những biến đổi lớn trong các ngành điện lực, hoá chất, luyện kim… Những thay đổi cơ bản trong buôn bán quốc

tế tăng cường quá trình đầu tư quốc tế, hình thành những quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng bền vững Đây là thời kỳ đánh dấu sự xuất hiện nền kinh tế thế giới - Một thực thể thống nhất hữu cơ bao gồm cả hoạt động sản xuất, buôn bán, đầu tư, tài chính – tín dụng diễn ra giữa các quốc gia chủ đạo và các khu vực kinh tế chủ yếu trên thế giới

- Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba (1913 – 1950) làm xuất hiện và phát triển nhanh chóng các ngành năng lượng hạt nhân, hoá dầu, công nghệ vũ trụ và khai thác đáy đại dương, tin học, công nghệ sinh học… làm gia tăng dòng đầu tư và buôn bán quốc tế, thúc đẩy

sự phát triển của nền kinh tế thế giới lên một cơ sở vật chất kỹ thuật mới

Trang 5

- Hiện nay, nền kinh tế thế giới đang đi vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với các hướng chủ yếu như phát triển ngành vi điện tử, tin học, thông tin viễn thông và tự động hoá, năng lượng mới, vật liệu mới, công nghệ sinh học…cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đưa tới sự biến đổi sâu sắc về cơ cấu kinh tế của các quốc gia và đưa xã hội loài người bước sang một nền văn minh mới - nền văn minh thứ ba Phân công lao động quốc tế diễn ra phổ biến cả chiều rộng và chiều sâu với những mức độ và phạm vi khác nhau Quá trình khu vực hoá và toàn cầu hoá tác động đan xen lẫn nhau Các mối quan hệ kinh tế phát triển đa dạng với những cường độ khác nhau làm tăng tính chỉnh thể của nền kinh tế thế giới

1.1.1.4 Bối cảnh mới của nền kinh tế thế giới

Nền kinh tế thế giới đang bước vào thiên niên kỷ thứ ba với những đặc điểm mới trong tốc độ tăng trưởng, trong sự thay đổi cơ cấu và đặc biệt là sự sống động trong các quan hệ kinh tế QT

(1) Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế thế giới diễn ra không đều giữa các nước, giữa các khu vực, giữa các nhóm nước và giữa các thời kỳ Sau những năm trì trệ của đầu thập kỷ

90, kinh tế thế giới tăng trưởng khá cao trong 2 năm 1995 – 1996 (3,8%) song lại bị suy giảm nhẹ vào năm 1997 (3,5%) và tiếp tục tăng không đều ở các năm tiếp theo

Nền kinh tế các nước công nghiệp phát triển trong nhóm G7 được phục hội Riêng kinh tế Nhật đang đứng trước những vấn đề nan giải và đang đòi hỏi những cải cách đáng kể nếu như nó muốn trở lại tăng trưởng cao Kinh tế các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước công nghiệp hoá (NICs) vẫn đạt mức tăng trưởng khá cao, đặc biệt Trung Quốc giai đoạn này vẫn đạt tốc độ tăng trưởng 9%

Sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực Đông Nam Á năm 1997, tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế năng động Đông á đã giảm hẳn, làm ảnh hưởng chung đến tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế thế giới Tuy nhiên, nhờ vào tăng trưởng xuất khẩu, nhu cầu nội địa và một loạt các chính sách được áp dụng mà bước qua năm 2000 nền kinh tế Châu á đã có bước tăng trưởng khả quan là 6,7%

Kinh tế các nước Mỹ La Tinh cũng đang tiếp tục phục hồi với tốc độ GDP 3,3% sau cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Mêxico năm 1994 Đến năm 2000, kinh tế Mỹ - nền kinh tế lớn nhất thế giới đạt tốc độ tăng trưởng ngoạn mục là 5,2%

EU cũng đạt tốc độ tăng trưởng 3,4% Tất cả đã làm tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2000 đạt gần 4%

Tuy nhiên sau sự kiện 11/9/2001 tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới đã giảm hẳn, chỉ còn 1,3%, bước qua năm 2002 tăng trưởng đạt gần 2% Các chính sách kinh tế hiệu quả của nhiều nước đã góp phần tạo nên sự phục hồi của năm 2003 với tốc độ tăng trưởng là 3,2% và

Trang 6

năm 2004 là 4,5%, mặc dù trong thời gian đó có nhiều biến động về chính trị - xã hội như cuộc chiến ở Apganistan, ở Irac, bệnh SAR, dịch cúm gà…

Hiện nay, sự khủng hoảng tài chính thế giới xuất phát từ Mỹ đã làm cho nền kinh tế thế giới giảm một cách rõ rệt, hàng loạt các nhà máy công ty đã phải cắt giảm sản xuất

Như vậy tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước và nhóm nước diễn ra không đồng đều, làm mở rộng hơn hố sâu ngăn cách về sự giàu có và trình độ phát triển giữa các quốc gia

(2) Thương mại quốc tế tiếp tục gia tăng với tốc độ khá cao gấp khoảng hơn 2 lần so với tốc độ tăng trưởng GDP, thể hiện xu hướng tự do hoá thương maị trong quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới Tuy nhiên sự gia tăng thương mại không đồng đều giữa các nước

và nhóm nước đưa đến tình trạng thặng dư thương mại của một số nước này và sự thâm hụt của một số nước khác Sự cạnh tranh trong buôn bán quốc tế ngày càng gay gắt Đặc biệt, thặng dư thương mại giữa các nước Châu á và Mỹ cùng với sự căng thẳng chính trị nảy sinh trong quá trình đó trở thành những vấn đề tiềm ẩn của những nguy cơ trong nền thương mại thế giới

(3) Đầu tư nước ngoài trên thế giới vẫn tiếp tục gia tăng ở mức độ cao hơn mức độ gia tăng của thương mại quốc tế (trên 10%/năm) với những thay đổi đáng kể trong cơ cấu đầu

tư, cơ cấu lĩnh vực đầu tư cũng như tính đa phương và đa chiều, đa hình thức của hoạt động đầu tư quốc tế Sự thành công trong phát triển kinh tế của các nước tiếp nhận đầu tư phản ánh các dòng vốn ồ ạt đổ vào các thị trường đầu tư mới nổi lên trong những năm gần đây, đồng thời cũng thể hiện quá trình chuyển đổi mạnh mẽ sang hệ thống tài chính toàn cầu thông thoáng hơn Tuy nhiên các quốc gia nhất là các quốc gia đang phát triển cũng cần phải thận trọng hơn trước sự tiếp nhận với quy mô ngày càng lớn dòng vốn nói trên, vì bản thân sự vận động của chúng rất dễ bị tổn thương do sự nhạy cảm của thị trường vốn quốc tế, vì những ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phát triển bền vững cũng như những hậu quả tiêu cực khác

có thể xảy ra trong hoạt động đầu tư quốc tế

(4) Thị trường tài chính toàn cầu phát triển đang đặt ra những vấn đề hết sức nghiêm trọng đối với các quan hệ tài chính - tiền tệ quốc tế Các quan hệ tài chính - tiền tệ quốc tế

diễn ra với tốc độ vận hành tức thời của mạng lưới thông tin viễn thông hiện đại vừa thúc đẩy

sự phát triển nhanh chóng của những quan hệ thương mại và đầu tư quốc tế, vừa đặt ra những yêu cầu mới cho việc kiểm soát những rủi ro về hối đoái cũng như về khả năng thanh toán Sự cạnh tranh giữa các đồng tiền, trước hết là những ngoại tệ mạnh trong hệ thống tiền tệ quốc tế ngày càng gay gắt Các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực, khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới, sự chao đảo của thị trường chứng khoán thế giới, sự gia tăng của các khoản nợ nước ngoài, đặc biệt là những khoản nợ không có khả năng thanh toán có thể gây nên những biến động mạnh và sự thiệt hại to lớn cho không những một nhóm nước mà cả cho nền kinh tế

Trang 7

toàn cầu Bởi vậy cần thiết phải có những tổ chức và cơ chế phối hợp một cách nhạy bén trên phạm vi toàn cầu để dự báo và ngăn ngừa những rủi ro trên thị trường chứng khoán và tiền tệ thế giới Vai trò của các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế ngày càng trở nên quan trọng và đang đặt ra những yêu cầu mới đối với việc hình thành các tổ chức tài chính tiền tệ khu vực cũng như cải tổ các tổ chức hiện có này.

(5) Bên cạnh các quá trình phát triển kinh tế, các vấn đề xã hội và môi trường sinh thái đặt ra ngày càng gay gắt Đó là các vấn đề giải quyết nạn thất nghiệp, vấn đề đói nghèo,

vấn đề bệnh tật của xã hội hiện đại, vấn đề thay đổi khí hậu, vấn đề dân số, lương thực, năng lượng…Đây chính là các vấn đề có tính chất toàn cầu, liên quan đến sự phát triển và sự sống còn của tất cả các quốc gia, đòi hỏi sự phối hợp liên quốc gia, thậm chí trên bình diện toàn cầu trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến sự phát triển bền vững của các dân tộc

(6) Trong các hoạt động kinh doanh quốc tế, sự cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt hơn đồng thời quá trình hợp tác cũng diễn ra ngày càng phong phú hơn ở nhiều cấp độ khác nhau, rộng và sâu hơn Các phương thức cạnh tranh mới xuất hiện Muốn đạt được thắng lợi

trong cạnh tranh đòi hỏi một sự năng động, một tầm nhìn rộng rãi, một sự thích ứng thường xuyên, một trình độ khoa học và công nghệ cao cũng như sự am hiểu về nền văn hoá, tâm lý của các dân tộc, một trình độ quản lý giỏi và khả năng hợp tác đầu tư quốc tế Đi đôi với cạnh tranh là sự hợp tác với các cấp độ khác nhau, các bình diện khác nhau, các hình thức khác nhau Sự hợp tác diễn ra trong hoạt động buôn bán, hoạt động đầu tư, hoạt động chuyển giao công nghệ cũng như trong các loại hình dịch vụ khác nhau Các khuôn khổ mới cho sự hợp tác phát triển giữa các quốc gia được hình thành theo khu vực cũng như trên phạm vi toàn cầu Sự hội nhập khu vực và quốc tế của các quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển diễn ra với quy mô ngày càng lớn và cường độ ngày càng mạnh mẽ Điều đó tạo nên cơ hội mới cho sự phát triển nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức mới cho tất cả các quốc gia trước hết là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam

(7) Các trung tâm kinh tế và cường quốc kinh tế mới được hình thành và phát triển,

chúng giữ vai trò ngày càng lớn trong sự vận động của các quan hệ kinh tế quốc tế, tác động ngày càng mạnh đến quá trình quốc tế hoá thể hiện trên các bình diện toàn cầu hoá và khu vực hoá nền kinh tế thế giới

Nền kinh tế thế giới đang chuyển từ trật tự cũ sang trật tự mới với một số nét đại lược sau:

* Ba liên minh kinh tế lớn chi phối các quan hệ kinh tế quốc tế

- Liên minh Châu âu (EU) đã mở rộng ra 27 quốc gia

- Khối NAFTA cũng mở rộng ra khỏi khuôn khổ Bắc Mỹ Đồng thời cũng sẽ hình thành khu vực mậu dịch tự do cho các nước Châu Mỹ La tinh

Trang 8

- APEC sẽ trở thành khối mậu dịch tự do từ năm 2020 với dân số và tiềm lực kinh tế

và kỹ thuật khổng lồ

* Các cường quốc thế giới mới nổi lên như Trung Quốc, Ấn Độ, CHLB Nga, CHLB

Đức… riêng khu vực Châu Á các nhân tố giữ vai trò quan trọng là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước NICs

* Hình thành trật tự kinh tế mới với các liên kết kinh tế khu vực và tiểu khu vực , các

trung tâm kinh tế lớn giữ vai trò quan trọng trong việc chi phối các quan hệ kinh tế quốc tế

Sự phân hoá giữa các nước giàu nghèo ngày càng nổi rõ Nguy cơ đối với các quốc gia đang phát triển tăng lên và càng ở vị trí bất lợi hơn trong giao lưu kinh tế quốc tế Vấn đề dân tộc

và quốc gia cũng nổi lên và chi phối các quan hệ kinh tế quốc tế

(8) Sự bùng nổ của khoa học công nghệ thông tin: Một trong những yếu tố làm thay

đổi về chất nền kinh tế toàn cầu vào cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 chính là sự phát triển mạnh

mẽ của khoa học công nghệ Con người đã liên tiếp phát minh ra những đột phá trong các lĩnh vực như tin học, sinh học, vũ trụ học, hải dương học, năng lượng, vật liệu, bảo vệ môi trường, khoa học quản lý… Chính sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ đã hình thành một nền kinh tế mới, đó là kinh tế tri thức, một nền kinh tế mà dựa vào tri thức của con người

là chủ yếu thay vì dựa vào các yếu tố sản xuất truyền thống là sức lao động và tiền vốn Sự phát triển nền kinh tế tri thức làm thay đổi cơ cấu kinh tế – xã hội toàn thế giới

Trong các lĩnh vực khoa học công nghệ, công nghệ thông tin có một bước phát triển mạnh mẽ nhất, trong đó phải kể đến lĩnh vực Internet, những ưu thế về tốc độ, giá thành chính

là nguyên nhân thành công của hệ thống siêu mạng này Công nghệ thông tin đã được ứng dụng rộng rãi trong mọi mặt hoạt động của con người, từ sản xuất đến đời sống, từ kinh tế đến

xã hội, từ công nghiệp đến dịch vụ

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, một mặt thúc đẩy nền kinh tế thế giới tăng trưởng, tạo ra cơ hội cho những nước có thế mạnh về tri thức đồng thời có thể đào sâu thêm

sự bất bình đẳng về kinh tế, đặt những nước chậm phát triển trước những thách thức mới

1.1.2 Các quan hệ kinh tế quốc tế

1.1.2.1 Khái niệm và nội dung các quan hệ kinh tế quốc tế

a Khái niệm

Quan hệ kinh tế quốc tế là tổng thể các quan hệ về vật chất và tài chính, các quan hệ diễn ra không những trong lĩnh vực kinh tế mà cả trong lĩnh vực khoa học – công nghệ có liên quan đến tất cả các giai đoạn của quá trình tái sản xuất, chúng diễn ra giữa các quốc gia với nhau cũng như giữa các quốc gia với các tổ chức kinh tế quốc tế

b Nội dung

Trang 9

Nội dung các quan hệ kinh tế quốc tế là rất phong phú và phức tạp Theo đà phát triển của khoa học công nghệ, với nhu cầu của con người ngày càng đa dạng, nội dung của các quan hệ kinh tế quốc tế nói trên tiếp tục phát triển về chiều rộng và chiều sâu Trong thực tế, nội dung của kinh tế quốc tế là các hoạt động sau:

* Thương mại quốc tế

- Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các nước thông qua buôn bán nhằm mục đích kinh tế và lợi nhuận Trao đổi hàng hoá, dịch vụ là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ riêng biệt của các quốc gia

- Hoạt động thương mại quốc tế ra đời sớm nhất trong các quan hệ kinh tế quốc tế và ngày nay nó vẫn giữ vị trí trung tâm trong các quan hệ kinh tế quốc tế

- Thương mại quốc tế bao gồm những nội dung sau:

+ Xuất và nhập khẩu hàng hóa hữu hình (máy móc, lương thực, ) Đây là bộ phận chủ yếu và giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia

+ Xuất và nhập khẩu hàng hóa vô hình (các bí quyết công nghệ, bằng sáng chế phát minh, phần mềm máy tính, các bảng thiết kế kỹ thuật, các dịch vụ lắp ráp thiết bị máy móc, dịch vụ du lịch, )

+ Gia công thuê cho nước ngoài và thuê nước ngoài gia công

Khi trình độ phát triển của một quốc gia còn thấp, thiếu vốn, thiếu công nghệ, thiếu thị trường thì các doanh nghiệp thường ở vào vị trí nhận gia công thuê cho nước ngoài

Khi trình độ phát triển ngày càng cao thì các quốc gia nên chuyển qua hình thức thuê nước ngoài gia công cho mình

+ Tái xuất khẩu và chuyển khẩu

Tái xuất khẩu là hoạt động tiến hành nhập khẩu tạm thời hàng hóa từ bên ngoài vào, sau đó lại tiến hành xuất khẩu sang nước thứ thứ ba

Hoạt động chuyển khẩu không có hành vi mua bán mà ở đây chỉ thực hiện các dịch

vụ như vận tải quá cảnh, lưu kho lưu bãi, bảo quản

+ Xuất khẩu tại chỗ: Hàng hóa và dịch vụ có thể chưa vượt ra ngoài biên giới quốc gia nhưng ý nghĩa kinh tế của nó tương tự như hoạt động xuất khẩu

Ví dụ: Cung cấp hàng hóa cho đoàn ngoại giao, khách du lịch quốc tế

* Đầu tư quốc tế

Đầu tư quốc tế là một hình thức của di chuyển quốc tế về vốn, trong đó vốn được di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác để thực hiện một hoặc một số dự án đầu tư nhằm đem lại lợi ích cho các bên tham gia

Trang 10

Trong Đầu tư quốc tế thường có hai hoặc nhiều bên có quốc tịch khác nhau cùng phối hợp với nhau để triển khai một dự án đầu tư nhằm đem lại lợi ích cho tất cả các bên Khác với hoạt động thương mại quốc tế có thể chỉ diễn ra theo từng vụ việc, đầu tư quốc tế là một quá trình được kéo dài, có trường hợp đến 30 năm, 50 năm hoặc lâu hơn nữa Vốn Đầu tư quốc tế

có thể được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, như bằng các loại tiền mặt hoặc giấy

tờ có giá trị, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, quyền sử dụng đất đai, các sáng chế, phát minh, bí quyết công nghệ, nhãn hiệu hàng hoá… Lợi ích do hoạt động đầu tư mang lại thường

là lợi ích kinh tế, đồng thời còn có cả lợi ích chính trị, lợi ích văn hoá – xã hội, lợi ích về bảo

vệ môi trường sinh thái

Vốn đầu tư quốc tế có hai dòng chính là đầu tư của tư nhân và hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của các chính phủ và các tổ chức quốc tế

- Đầu tư của tư nhân: Đầu tư của tư nhân được thực hiện dưới 3 hình thức

+ Đầu tư trực tiếp: Đó là việc chủ đầu tư nước ngoài mua toàn bộ hay phần lớn vốn đầu tư vào các dự án nhằm giành quyền điều hành hoặc tham gia điều hành các doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ thương mại

+ Đầu tư gián tiếp: Đó là việc chủ đầu tư nước ngoài mua cổ phần của các công ty ở nước sở tại (ở mức nhất định) để thu lợi nhuận mà không tham gia điều hành trực tiếp đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư

+ Tín dụng thương mại: Đó là việc cho vay vốn và thu lợi nhuận qua lãi suất tiền vay

- Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA): là hoạt động hợp tác phát triển giữa nhà nước hoặc chính phủ một nước với các chính phủ nước ngoài, các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia

Hỗ trợ phát triển chính thức bao gồm hình thức viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay vốn với những điều kiện ưu đãi đặc biệt (cho vay dài hạn, lãi suất thấp, cách trả nợ thuận lợi) nhằm giúp các nước chậm và đang phát triển đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và phúc lợi

xã hội của chính phủ, các hệ thống của tổ chức liên hợp quốc, các tổ chức phi chính phủ, các

tổ chức tài chính quốc tế như (ngân hàng thế giới WB, ngân hàng phát triển châu á – ADB, quỹ tiền tệ quốc tế IMF…) dành cho chính phủ và nhân dân các nước nhận viện trợ Các cơ quan và tổ chức hỗ trợ phát triển trên được gọi chung là đối tác viện trợ nước ngoài

- Các quan hệ hợp tác quốc tế về kinh tế và khoa học – công nghệ

Bao gồm việc chuyên môn hoá và hợp tác hoá ở tầm quốc tế giữa các tổ chức kinh tế thuộc các quốc gia khác nhau trong việc sản xuất một loại sản phẩm nào đó, hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, sáng chế, thiết kế, thử nghiệm, trong đào tạo cán bộ…

+ Việc chuyên môn hoá và hợp tác hoá quốc tế trong sản xuất

Trang 11

Việc chuyên môn hoá có thể diễn ra theo các ngành, trong nội bộ từng ngành (theo từng sản phẩm) theo chi tiết sản phẩm, theo quy trình công nghệ Chuyên môn hoá theo các ngành diễn ra khi có sự khác biệt lớn về điều kiện tự nhiên, sự chênh lệch đáng kể về trình độ công nghệ, trong đó mỗi quốc gia sẽ tập trung vào những ngành mà bản thân họ có điều kiện sản xuất thuận lợi và đạt được hiệu quả cao Việc chuyên môn hoá theo chi tiết sản phẩm và theo quy trình công nghệ đòi hỏi sự tương đồng về trình độ công nghệ, trong đó mỗi bên chiụ trách nhiệm chế tạo một số chi tiết sản phẩm nhất định hoặc từng giai đoạn nhất định trong quá trình tạo nên sản phẩm cuối cùng Đây là việc chuyên môn hóa có tính chất chiều sâu và

nó phát huy được thế mạnh công nghệ của từng quốc gia

Việc chuyên môn hoá thường gắn liền với việc hợp tác hoá vì đây là hai mặt của một vấn đề: việc chuyên môn hoá đòi hỏi việc hợp tác hoá và việc hợp tác hoá phải trên cơ sở chuyên môn hóa

Quá trình chuyên môn hoá và hợp tác hoá trong sản xuất gắn liền với sự phát triển của cách mạng khoa học – công nghệ và quá trình phát triển của các công ty xuyên quốc gia Những công ty lớn có chi nhánh ở hàng chục quốc gia có khả năng thực hiện quá trình chuyên môn hoá và hợp tác hoá một cách ăn khớp trên những phạm vi rộng lớn Đặc biệt, sự ra đời của các khối liên kết kinh tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển của việc chuyên môn hoá và hợp tác hoá quốc tế trong lĩnh vực sản xuất

+ Sự hợp tác và trao đổi quốc tế về khoa học – công nghệ

Sự hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học – công nghệ: Là một loại hình hoạt động bao gồm các hình thức phối hợp giữa các nước để cùng nhau tiến hành nghiên cứu, sáng chế, thiết kế, thử nghiệm, trao đổi các kết quả nghiên cứu, thông tin về khoa học – công nghệ , áp dụng các thành tựu khoa học – công nghệ mới vào thực tiễn sản xuất Sự hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học – công nghệ là một đòi hỏi khách quan trong thời đại ngày nay, không một quốc gia nào có khả năng tự mình giải quyết mọi vấn đề khoa học – công nghệ mà thực tiễn đặt ra Khoa học – công nghệ ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và những thành tựu của khoa học – công nghệ phải trở thành tài sản chung của nhân loại Điều đó không loại trừ tình hình thực tế là vẫn có việc giữ bí mật những kết quả nghiên cứu và nhiều khi nó còn là phương tiện để khống chế lẫn nhau

Việc chuyển giao công nghệ: Hoạt động chuyển giao công nghệ không chỉ là hoạt động mua bán đơn thuần vì hàng hoá công nghệ có những đặc điểm riêng Quá trình chuyển giao công nghệ phải giải quyết các khía cạnh kinh tế, kỹ thuật và pháp lý thì mới bảo đảm cho việc chuyển giao đạt kết quả mong muốn Việc chuyển giao công nghệ không chỉ đơn thuần

là việc mua máy móc, thiết bị Đó mới chỉ là phần cứng của công nghệ đã được vật chất hoá,

có giá cả xác định và được mua bán theo mối quan hệ thương mại thông thường Công nghệ

Trang 12

còn có phần mềm bao gồm các kiến thức khoa học, các công thức và bí quyết kỹ thuật… Đó

là hàng hoá vô hình và không có giá cả xác định Các dạng khác nhau của công nghệ và quyền

sử dụng chúng vào sản xuất được phản ánh bằng các khái niệm như kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, sáng chế, bí quyết kỹ thuật, bằng bảo hộ sáng chế, giấy phép sử dụng…

+ Sự hợp tác và trao đổi các dịch vụ thu ngoại tệ: Các dịch vụ thu ngoại tệ bao gồm các hoạt động kinh tế quốc tế dưới dạng các dịch vụ quốc tế như du lịch quốc tế, giao thông vận tải quốc tế, thông tin liên lạc quốc tế, bảo hiểm quốc tế, thanh toán và tín dụng quốc tế, xuất và nhập khẩu sức lao động… Yếu tố quốc tế ở đây thể hiện ở phạm vi hoạt động hoặc chủ thể sản xuất và đối tượng tiêu dùng thuộc các quốc tịch khác nhau Để thuận tiện, người

ta quy ước tính quốc tế của các dịch vụ này đồng nhất với hình thức thanh toán là việc thu được ngoại tệ Các dịch vụ thu ngoại tệ có quy mô ngày càng lớn, nội dung ngày càng phong phú và hình thức ngày càng trở nên đa dạng

Như vậy, quan hệ kinh tế quốc tế có nội dung rộng lớn hơn nhiều so với thương mại quốc tế (theo nghĩa thông thường) Theo nghĩa rộng, người ta có thể sử dụng khái niệm thương mại quốc tế để chỉ toàn bộ các quan hệ kinh tế quốc tế nói chung, bởi vì hình thức biểu hiện phổ biến hiện nay trong các quan hệ kinh tế quốc tế là thông qua buôn bán hàng hoá

và dịch vụ

1.1.2.2 Tính chất của quan hệ kinh tế quốc tế

Việc làm rõ những tính chất cơ bản của các quan hệ kinh tế quốc tế giúp cho việc xác định rõ hơn đối tượng và phạm vi nghiên cứu của môn học kinh tế quốc tế

- Một là: quan hệ kinh tế quốc tế là các mối quan hệ thoả thuận, tự nguyện giữa các quốc gia độc lập, giữa các tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân

Nó chỉ có thể phát triển trên cơ sở giữ vững chủ quyền, thực hiện nguyên tắc bình đẳng và các bên cùng có lợi thông qua hợp đồng kinh tế với sự chấp nhận của các bên Có thể phát triển quan hệ kinh tế quốc tế giữa các quốc gia có chế độ chính trị - xã hội khác nhau nếu biết đáp ứng và khai thác các nhu cầu và lợi ích chính đáng của nhau, đảm bảo sự cân bằng lợi ích và giữ vững chủ quyền của các bên

Tuy nhiên, quan hệ kinh tế quốc tế chịu sự chi phối của các quan hệ chính trị quốc tế Cần phải sử dụng kết hợp để chúng làm tiền đề cho nhau và thúc đẩy nhau cùng phát triển Tuỳ từng trường hợp cụ thể, có thể phát triển các quan hệ chính trị và ngoại giao đi trước một bước để trên cơ sở đó thiết lập và mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại Ngược lại, cũng có trường hợp quan hệ kinh tế đối ngoại có thể và cần phải đi trước một bước Ngay cả khi quan

hệ chính trị và ngoại giao giữa các quốc gia còn vướng mắc nhưng vẫn có thể từng bước triển khai các quan hệ kinh tế đối ngoại và qua đó tạo điều kiện để thúc đẩy chúng khi có cơ hội thuận lợi

Trang 13

- Hai là: quan hệ kinh tế quốc tế diễn ra theo yêu cầu của các quy luật kinh tế, cho nên cần tôn trọng và vận dụng thành thạo các quy luật này để phát triển quan hệ kinh tế quốc tế

Trong điều kiện nền kinh tế thế giới vận hành theo cơ chế thị trường ngày càng phổ biến, việc am hiểu và vận dụng đúng các quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh… trong quan

hệ kinh tế giữa các các quốc gia là một đòi hỏi khách quan, mặc dù sự tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau cũng tồn tại trong quan hệ giữa các quốc gia Quyền lợi quốc gia và quyền lợi dân tộc chỉ có thể được xử lý một cách hài hoà và phu hợp trên cơ sở vận dụng đúng đắn yêu cầu của các quy luật kinh tế thị trường

- Ba là: quan hệ kinh tế quốc tế chịu sự tác động của các hệ thống quản lý khác nhau, của các chính sách, luật pháp, thể chế của từng quốc gia cũng như của các điều ước quốc tế

Do trình độ phát triển không đều giữa các quốc gia, do lợi ích chính trị và kinh tế khác nhau, do hoàn cảnh lịch sử và truyền thống dân tộc không giống nhau nên hệ thống quản lý cũng như chính sách, luật pháp và thể chế của từng quốc gia cũng khác nhau Khi tổ chức các hoạt động kinh tế quốc tế, tất yếu diễn tra sự gặp gỡ, va chạm giữa các hệ thống quản lý cũng như giữa các chính sách, luật pháp và thể chế của từng quốc gia Vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp là một mặt phải thực hiện đúng các yêu cầu của luật pháp và chính sách trong nước, mặt khác cũng phải biết tôn trọng và vận dụng phù hợp với yêu cầu của luật pháp và chính sách của các quốc gia có liên quan Chính vì vậy, việc am hiểu luật pháp của nước mình

và của các quốc gia có liên quan là hết sức cần thiết, đồng thời phải từng bước nâng cao tính tương thích giữa hệ thống luật pháp trong nước với luật pháp và thông lệ quốc tế Việc tích cực đóng góp vào xây dựng các điều ước quốc tế là một yêu cầu quan trọng trong việc phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế

- Bốn là: quan hệ kinh tế quốc tế được vận hành gắn liền với sự gặp gỡ và chuyển đổi giữa các loại đồng tiền

Sự phát triển của các quan hệ hàng hoá - tiền tệ trong một quốc gia được mở rộng ra phạm vi quốc tế Các quan hệ tiền tệ quốc tế, một mặt là phương tiện tất yếu để phục vụ cho các quan hệ vật chất và tài chính, cũng như các quan hệ trao đổi quốc tế vầ khoa học – công nghệ; mặt khác, vì mỗi đồng tiền có đời sống riêng với sự thăng trầm về sức mua và khả năng thanh toán của nó, cho nên các quan hệ tiền tệ quốc tế cũng là một lĩnh vực phong phú với quy luật vận động riêng của nó Như vậy, sự vận động của quan hệ tiền tệ quốc tế là một bộ phận quan trọng của các quan hệ kinh tế quốc tế Quan hệ tiền tệ quốc tế vừa là phương tiện phục vụ cho việc phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế nói chung, vừa tuân theo quy luật vận động riêng của thị trường tiền tệ quốc tế Bởi vậy, vấn đề tỷ giá hối đoái, cán cân thanh toán quốc tế và việc quản lý ngoại hối trở thành những nội dung quan trọng trong quá trình phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế Trong điều kiện quốc tế hoá mạnh mẽ nền kinh tế thế giới,

Trang 14

khủng hoảng tài chính - tiền tệ quốc tế trở thành vấn đề đáng quan tâm trong chính sách của các chính phủ cũng như của các tổ chức kinh tế quốc tế

- Năm là: các khoảng cách về không gian - địa lý tác động trực tiếp đến quá trình phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế vì nó ảnh hưởng đến thời gian và chi phí vận tải

Trong quan hệ kinh tế quốc tế, hàng hoá và dịch vụ thường vượt ra ngoài biên giới quốc gia và được di chuyển qua hàng ngàn cây số thông qua nhiều phương tiện vận tải khác nhau, với khoảng thời gian khá dài Tất cả những điều đó ảnh hưởng đáng kể đến quá trình tổ chức, triển khai các hoạt động kinh tế quốc tế, từ khâu nghiên cứu thử nghiệm đến khâu sản xuất và tiêu thụ Bởi vậy vấn đề khoảng cách không gian - địa lý cần phải được chú ý thoả đáng khi tham gia vào phân công lao động quốc tế, tiến hành chuyên môn hoá và hợp tác hoá,

tổ chức hoạt động đầu tư cũng như xâm nhập thị trường

1.1.2.3 Những cơ sở của việc hình thành và phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế

Các quan hệ kinh tế quốc tế xuất hiện từ hàng ngàn năm nay do yêu cầu tất yếu của việc giao lưu quốc tế và sự phát triển của lực lượng sản xuất vượt ra ngoài phạm vi biên giới của một nước Việc hình thành và phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế dựa trên những cơ sở thực tiễn và lý thuyết nhất định Ban đầu chủ yếu và trước hết là do thực tiễn đòi hỏi, người ta

tổ chức và triển khai các quan hệ kinh tế quốc tế một cách tự phát Càng về sau này, việc phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế đòi hỏi một cơ sở lý luận vững chắc với sự chứng minh về những lợi ích đem lại từ thương mại quốc tế cũng như các hoạt động kinh tế quốc tế khác

- Một là: sự khác biệt về điều kiện tự nhiên giữa các quốc gia, như đất đai, khí hậu,

khoáng sản… đưa đến tình trạng mỗi quốc gia có lợi thế trong việc sản xuất một số loại sản phẩm nào đó và họ phải trao đổi cho nhau nhằm cân bằng giữa phần dư thừa về loại sản phẩm này với sự thiếu hụt về loại sản phẩm khác Có những quốc gia rất nhỏ nhưng lại sản xuất ra một khối lượng sản phẩm khá lớn

Ví dụ Arabi Saudi và Kuwest chỉ chiếm 0,3% dân số thế giới nhưng lại sản xuất ra

11% dầu hoả Cu ba và Brazin chỉ chiếm 3% dân số thế giới nhưng lại chiếm tỷ trọng tới 18% sản lượng đường của thế giới…

- Hai là: do sự phát triển không đều về kinh tế và khoa học kỹ thuật giữa các quốc gia

đưa đến sự khác nhau về điều kiện tái sản xuất giữa chúng Như khác nhau về nguồn vốn, về trình độ kỹ thuật, về bí quyết công nghệ, về nguồn nhân lực và cả trình độ quản lý…Điều đó đòi hỏi các quốc gia phải mở rộng phạm vi trao đổi quốc tế sang các yếu tố nói trên Di chuyển về vốn, về sức lao động, về công nghệ… khi ấy đối tượng tham gia vào việc trao đổi quốc tế được mở rộng hơn nhiều

- Ba là: Sự phân công lao động quốc tế ngày càng sâu sắc và mở rộng Quá trình phát

triển kinh tế tất yếu dẫn đến phân công lao động Sự phân công này dần dần vượt ra ngoài

Trang 15

phạm vi biên giới quốc gia, đưa đến sự chuyên môn hoá và sự hợp tác hoá lẫn nhau giữa các công ty thuộc các quốc gia khác nhau Điều đó càng làm mở rộng đối tượng và phạm vi trao đổi quốc tế sang các bán thành phẩm, nguyên liệu, các chi tiết sản phẩm

- Bốn là: Đặc biệt xuất hiện một yêu cầu khách quan là cần phải tiến hành chuyên

môn hoá giữa các quốc gia nhằm đạt tới quy mô tối ưu cho từng ngành sản xuất Điều này có

nghĩa là không phải mỗi nước đều tự mình sản xuất mọi thứ hàng hoá để tự đáp ứng cho nhu cầu của mình kể cả trường hợp họ có đầy đủ các nguồn lực cần thiết cho điều đó Trái lại chính dung lượng của thị trường thế giới đòi hỏi mỗi quốc gia phải biết tập trung vào một số ngành và sản phẩm nhất định mà họ có lợi thế để đạt tới quy mô sản xuất tối ưu Ví dụ như ngành chế tạo máy bay chở khách đòi hỏi và cho phép chỉ nên tập trung chuyên môn hoá vào một số hãng nhất định, không thể dàn trải ra nhiều quốc gia được Đây cũng là một căn cứ quan trọng để các quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng phát triển theo chiều sâu

- Năm là: Sự đa dạng hoá trong nhu cầu tiêu dùng ở mỗi nước là cơ sở quan trọng của

việc phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế Ví dụ người Việt Nam mua ti vi SONY của Nhật, người Mỹ mua xe hơi Mercedes của Đức, người Anh uống rượu vang của Pháp… mỗi quốc gia có những sở thích tiêu dùng riêng của mình và vì những lý do khác nhau đó họ phải đáp ứng nhu cầu thông qua mậu dịch quốc tế Khi đời sống kinh tế ngày càng phong phú thì người tiêu dùng tìm đến các mặt hàng phù hợp với thị hiếu và khả năng thanh toán của họ Chính đều này giải thích nguồn gốc về quy mô trao đổi thương mại hết sức lớn giữa các nước công nghiệp phát triển (khoảng 70% tổng kim ngạch thương mại quốc tế)

1.2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của môn học kinh tế quốc tế

1.2.1 Đối tượng môn học kinh tế quốc tế

Đối tượng của môn kinh tế quốc tế là nghiên cứu tính quy luật phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế giữa các quốc gia, nghiên cứu sự vân động và phân phối lợi ích giữa các quốc gia trong quá trình trao đổi hàng hoá và dịch vụ, trong dòng chảy của các nguồn vốn, của sức lao động, của công nghệ cũng như tính quy luật và tác động của các hoạt động thanh toán, tín dụng giữa một quốc gia với phần còn lại của thế giới, trên cơ sở đó nghiên cứu cơ sở của các chính sách nhằm định hướng cho các dòng chảy này và phân tích ảnh hưởng của chúng đến phúc lợi của mỗi quốc gia

Cụ thể hơn kinh tế học quốc tế nghiên cứu các học thuyết về thương mại quốc tế, chính sách thương mại quốc tế, học thuyết về đầu tư quốc tế, chính sách đầu tư quốc tế, thị trường ngoại hối và hệ thống tiền tệ quốc tế, tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tế Trên giác độ tổng quát kinh tế học quốc tế nghiên cứu những vấn đề nói trên một cách chung nhất, nhưng để thấy rõ tác động của các nhân tố trên đến phúc lợi của một quốc gia, người ta thường phân thế giới thành hai bộ phận: một bên là từng quốc gia và một bên là phần còn lại

Trang 16

của thế giới Thông thường một quốc gia chỉ đóng một vai trò nhất định, nói chung là tương đối nhỏ trong nền kinh tế thế giới Khi ấy tác động của các quan hệ kinh tế quốc tế giữa quốc gia này với phần còn lại của thế giới không làm thay đổi mặt bằng chung về giá cả hàng hoá

và dịch vụ, tỷ giá hối đoái cũng như các chỉ số kinh tế quốc tế khác Ngược lại, chính những mặt bằng chung về các chỉ số kinh tế quốc tế sẽ gây ảnh hưởng lớn đến các chỉ số kinh tế trong từng quốc gia

Tuy nhiên trong thực tế cũng có một số quốc gia lớn, chúng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giới, cũng như gây ảnh hưởng lớn đến các quan hệ kinh tế quốc tế Trong trường hợp này, tác động của các quan hệ kinh tế quốc tế giữa quốc gia ấy với phần còn lại của thế giới sẽ gây ra những thay đổi đáng kể đến mặt bằng chung của các chỉ số kinh

tế quốc tế Bởi vậy, khi phân tích tác động của các quan hệ kinh tế quốc tế, người ta thường chia ra trường hợp nước lớn và trường hợp nước nhỏ, bởi trong mỗi trường hợp chiều hướng tác động sẽ khác nhau

Cần phân biệt môn học kinh tế quốc tế với kinh tế đối ngoại Kinh tế quốc tế dựa vào

lý thuyết của kinh tế học để phân tích các mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia chủ yếu về mặt định lượng Còn kinh tế đối ngoại lại phân tích ở khía cạnh định tính nhiều hơn Kinh tế quốc tế trang bị cho người học cơ sở lý luận để hiểu được bản chất của các mối quan hệ kinh

tế quốc tế chứ không đi vào tác nghiệp, giải quyết từng vấn đề cụ thể Vì lẽ đó kinh tế quốc tế

đã trang bị một nền tảng lý luận cơ bản để nghiên cứu sâu hơn ở kinh tế đối ngoại

1.2.2 Phương pháp nghiên cứu môn học

Nghiên cứu kinh tế quốc tế được dựa trên phương pháp luận cơ bản là duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, cũng như các phương pháp quy nạp và diễn giải, so sánh và lịch sử Đặc biệt phương pháp mô hình hoá và các phương pháp phân tích của kinh tế học vĩ mô, vi

mô được sử dụng khá phổ biến khi tiếp cận các vấn đề kinh tế cụ thể Việc sử dụng phương pháp trừu tượng hoá được kết hợp với phân tích thực tiễn phát triển các quan hệ kinh tế quốc

tế của mỗi quốc gia

Trang 17

CHƯƠNG 2 Thương mại quốc tế 2.l Nội dung, chức năng và đặc điểm của thương mại quốc tế

2.1.1 Khái niệm và nội dung của thương mại quốc tế

2.1.1.1 Khái niệm thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các chủ thể kinh tế có quốc tịch khác nhau (trong đó đối tượng trao đổi thường là vượt ra ngoài phạm vi địa lý của một quốc gia, các chi phí vận chuyển thường là rất lớn) thông qua hoạt động mua bán, lấy tiền

tệ làm môi giới

2.1.1.2 Nội dung của thương mại quốc tế

- Xuất và nhập khẩu hàng hóa hữu hình (máy móc, lương thực, ) Đây là bộ phận chủ yếu và giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia

- Xuất và nhập khẩu hàng hóa vô hình (các bí quyết công nghệ, bằng sáng chế phát minh, phần mềm máy tính, các bảng thiết kế kỹ thuật, các dịch vụ lắp ráp thiết bị máy móc, dịch vụ

du lịch, )

- Gia công thuê cho nước ngoài và thuê nước ngoài gia công

+ Khi trình độ phát triển của một quốc gia còn thấp, thiếu vốn, thiếu công nghệ, thiếu thị trường thì các doanh nghiệp thường ở vào vị trí nhận gia công thuê cho nước ngoài

+ Khi trình độ phát triển ngày càng cao thì các quốc gia nên chuyển qua hình thức thuê nước ngoài gia công cho mình

- Tái xuất khẩu và chuyển khẩu

+ Tái xuất khẩu là hoạt động tiến hành nhập khẩu tạm thời hàng hóa từ bên ngoài vào, sau đó lại tiến hành xuất khẩu sang nước thứ thứ ba

+ Hoạt động chuyển khẩu không có hành vi mua bán mà ở đây chỉ thực hiện các dịch

vụ như vận tải quá cảnh, lưu kho lưu bãi, bảo quản

- Xuất khẩu tại chỗ: Hàng hóa và dịch vụ có thể chưa vượt ra ngoài biên giới quốc gia nhưng

ý nghĩa kinh tế của nó tương tự như hoạt động xuất khẩu

2.1.2 Chức năng của thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế có hai chức năng cơ bản:

- Làm biến đổi cơ cấu giá trị sử dụng của sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân được sản xuất trong nước thông qua việc xuất và nhập khẩu nhằm đạt tới cơ cấu có lợi cho nền kinh tế trong nước

- Thương mại quốc tế góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế quốc dân, nâng cao hiệu suất sử dụng và hạ giá thành

Trang 18

2.1.3 Đặc điểm của thương mại quốc tế

- Thương mại quốc tế những năm gần đây có xu hướng tăng nhanh, cao hơn so với tốc độ tăng trưởng của nền sản xuất, điều đó đưa đến tỷ trọng kim ngạch ngoại thương trong tổng sản phẩm quốc dân của mỗi quốc gia ngày càng lớn, thể hiện mức độ mở gia tăng của nền kinh tế mỗi quốc gia ra thị trường thế giới

- Tốc độ tăng trưởng của thương mại “vô hình” nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của thương mại

“hữu hình”

- Cơ cấu mặt hàng trong thương mại quốc tế có những thay đổi sâu sắc

- Tỷ trọng buôn bán những mặt hàng chứa đựng hàm lượng vốn lớn, công nghệ cao tăng nhanh

- Sự phát triển của nền thương mại thế giới ngày càng mở rộng phạm vi và phương thức cạnh tranh với nhiều công cụ khác nhau

- Chu kỳ sống của từng loại sản phẩm được rút ngắn, việc đổi mới thiết bị, đổi mới công nghệ, đổi mới mẫu mã hàng hóa diễn ra liên tục, đòi hỏi phải năng động, nhạy bén khi tham gia vào thị trường thế giới

- Sự phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế một mặt thúc đẩy tự do hóa thương mại, song mặt khác, giữa các liên kết kinh tế cũng hình thành những hàng rào mới, yêu cầu bảo hộ mậu dịch ngày càng tinh vi hơn

- Vai trò của GATT/WTO ngày càng quan trọng trong điều chỉnh thương mại quốc tế (WTO

là tổ chức thay thế GATT Các nguyên tắc của GATT được WTO kế thừa, quản lý và mở rộng)

2.2 Một số lý thuyết về thương mại quốc tế

2.2.1 Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith (1723-1790)

a Đặc điểm tình hình

Bắt đầu từ giữa thế kỷ 18, nền kinh tế các nước Tây Âu đã có những thay đổi đáng kể

- Từ một xã hội nông nghiệp đơn giản phát triển thành một xã hội kinh tế phức tạp, bao gồm nhiều ngành nghề khác nhau

- Công nghiệp phát triển

- Mậu dịch từ nội bộ địa phương đã được mở rộng ra toàn quốc và toàn cầu

- Hệ thống ngân hàng phát triển, hệ thống thương phiếu ra đời và bắt đầu phát hành tiền tệ

- Quốc gia đã mạnh không cần dùng các biện pháp tăng cường quyền lực như giai đoạn trước

mà chuyển vai trò đó vào tay cá nhân

b Quan điểm kinh tế cơ bản của Adam Smith về lợi thế tuyệt đối

- Khẳng định vai trò của cá nhân và hệ thống kinh tế tư nhân

Trang 19

- Khẳng định nguyên tắc phân công lao động để tạo ra nhiều lợi nhuận là cơ sở cho sự ra đời của lý thuyết lợi thế tuyệt đối Theo ông, hai quốc gia tham gia mậu dịch với nhau là tự nguyện và cả hai đều cùng phải có lợi.

- Theo ông, cơ sở mậu dịch giữa hai quốc gia chính là lợi thế tuyệt đối Lợi thế tuyệt đối ở đây

là chi phí sản xuất thấp hơn

c Minh họa bằng số của lợi thế tuyệt đối

Để đơn giản hoá việc giải thích lý thuyết lợi thế tuyệt đối Mô hình thương mại đơn giản được xây dựng với hai quốc gia Mỹ và Anh và với hai mặt hàng là lúa mỳ và vải, cùng với với những giả định được đặt ra là:

1 Thế giới chỉ chỉ bao gồm hai quốc gia và sản xuất hai sản phẩm

2 Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất và được di chuyển tự do giữa các ngành sản xuất trong nước, nhưng không di chuyển được giữa các quốc gia;

2 Chi phí vận chuyển không đáng kể có thể coi như bằng không;

4 Tất cả các thị trường đều là thị trường cạnh tranh hoàn hảo;

5 Không sử dụng tiền trong trao đổi

Trong điều kiện tự cung tự cấp, mỗi nước tự sản xuất hai mặt hàng để tiêu dùng trong nước Giả sử một giờ lao động ở Mỹ được 6 giạ lúa mỳ (1 giạ = 36 lít), ở Anh được 1 giạ Trong khi đó 1 giờ lao động ở Anh sản xuất được 5m vải, còn ở Mỹ chỉ được 4m Các số liệu được biểu thị qua bảng như sau:

Bảng 2.1: Lợi thế tuyệt đối của Mỹ và Anh trong sản xuất lúa mỳ và vải

Trong điều kiện có trao đổi thương mại quốc tế, theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối Anh sẽ chuyên môn hoá vào sản xuất vải còn Mỹ chuyên môn hoá vào sản xuất lúa rồi tiến hành trao đổi cho nhau

- Tỷ lệ trao đổi quốc tế giữa lúa mỳ và vải sẽ nằm trong khoảng tỷ lệ trao đổi nội địa

của từng nước Cụ thể là 1/5<tỷ lệ trao đổi lúa và vải<6/4

Trang 20

Như vậy thông qua chuyên môn hoá sản xuất và trao đổi, sản lượng của toàn thế giới

đã tăng lên lớn hơn mức sản xuất của mỗi nước trong trường hợp tực túc

Tóm lại, lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith có thể kết luận mấy vấn đề sau

Thứ nhất: Đề cao vai trò của cá nhân và các doanh nghiệp, ủng hộ một nền thương

mại tự do, không có sự can thiệp của chính phủ Mậu dịch tự do sẽ làm cho thế giới sử dụng tài nguyên có hiệu quả hơn, mang lại nhiều lợi ích hơn

Thứ hai: Thấy được tính ưu việt của chuyên môn hoá Tuy nhiên lý thuyết này lại

đồng nhất hoá sự phân công lao động quốc tế với sự phân công lao động trong nước mà không tính tới sự khác biệt giữa các quốc gia là rất lớn về thể chế chính trị, về phong tục tập quán

Thứ ba: Mô hình về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith chỉ có thể giải thích được một

phần của thương mại quốc tế Tuy nhiên, mô hình này chưa giải thích được trường hợp tại sao thương mại vẫn có thể diễn ra khi một quốc gia có mức bất lợi tuyệt đối (hoặc lợi thế tuyệt đối) về tất cả các sản phẩm làm ra Trên thực tế, thương mại quốc tế có thể diễn ra mà không nhất thiết đòi hỏi các nhà xuất khẩu phải có lợi thế tuyệt đối so với các đối thủ cạnh tranh nước ngoài

2.2.2 Lý thuyết về lợi thế tương đối hay lợi thế so sánh của David Ricardo (1772-1823)

Lợi thế tương đối được xác định trên cơ sở so sánh các mức giá tương quan của hai hàng hoá Giá tương quan giữa hai mặt hàng được định nghĩa một cách đơn giản là giá của mặt hàng này được tính bằng số lượng mặt hàng kia

a Bản chất của quy luật lợi thế so sánh

Để xây dựng quy luật lợi thế so sánh, David Ricardo đã đưa ra một số giả thiết làm đơn giản hoá mô hình trao đổi mậu dịch, các giả thiết đó là:

1 Thế giới chỉ chỉ bao gồm hai quốc gia và sản xuất hai sản phẩm

2 Lao động là yếu tố sản xuất duy nhất và được di chuyển tự do giữa các ngành sản xuất trong nước, nhưng không di chuyển được giữa các quốc gia;

3 Mậu dịch tự do

4 Chi phí sản xuất là cố định, được đồng nhất với tiền lương

5 Chi phí vận chuyển không đáng kể có thể coi như bằng không;

Vẫn sử dụng mô hình giản đơn về thương mại giữa Mỹ và Anh, nhưng với sự khác biệt về năng suất sản phẩm làm ra giữa hai quốc gia được cho trong bảng sau:

Bảng 2.2: Lợi thế so sánh của Mỹ và Anh trong sản xuất Lúa mỳ và vải

Trang 21

Theo số liệu ở bảng 2.2 trên thì Anh bây giờ một giờ lao động họ chỉ làm ra 2 m vải,

và như vậy Anh không có lợi thế tuyệt đối so với Mỹ trong việc sản xuất cả hai mặt hàng lúa

mỳ và vải

Còn ở Mỹ chi phí sản xuất cả hai sản phẩm đều thấp hơn ở Anh, nhưng như thế không

có nghĩa là Mỹ sẽ sản xuất cả hai mặt hàng trên Nói cách khác là nếu theo lý thuyết về lợi thế tuyệt đối thì Mỹ sẽ chỉ xuất khẩu và Anh sẽ chỉ nhập khẩu Kết luận này là không thực tế, vì

sẽ không thể tồn tại trao đổi thương mại lâu dài giữa một nước chỉ xuất khẩu còn nước kia chỉ nhập khẩu

Tuy nhiên, theo lý thuyết lợi thế tương đối, thì việc Anh không có lợi thế tuyệt đối so với Mỹ ở cả hai mặt hàng, sẽ không cản trở trao đổi thương mại giữa hai nước Bởi vì, nếu so sánh giữa lúa mỳ và vải thì Anh có lợi thế so sánh về sản xuất vải, vì năng suất lao động sản xuất vải của Anh chỉ bằng nửa (1/2) năng suất lao động sản xuất vải của Mỹ (2 so với 4) Trong khi đó năng suất lao động sản xuất lúa mỳ của Anh lại nhỏ hơn những 6 lần so với năng suất sản xuất lúa mỳ của Mỹ (1 so với 6) Còn ở Mỹ tuy có lợi thế tuyệt đối cả về hai sản phẩm nhưng lợi thế về sản xuất lúa mỳ lớn hơn (6 so với 1) so với sản xuất vải (4 so với 2)

Như vậy, theo lý thuyết lợi thế tương đối, nếu Anh thực hiện chuyên môn hoá hoàn toàn vào sản xuất vải (mặt hàng có lợi thế so sánh), và Mỹ thực hiện chuyên môn hoá hoàn toàn vào sản xuất lúa mỳ và sau đó trao đổi với nhau, thì cả hai quốc gia sẽ thu được lợi ích từ thương mại Và như vậy lợi thế tuyệt đối theo cách hiểu của Adam Smith thực ra chỉ là trường hợp riêng của lợi thế so sánh

b Phân tích lợi ích mậu dịch

Trong mô hình giản đơn trên, giá cả tương quan giữa lúa mỳ và vải được xác định thông qua chi phí lao động Từ số liệu ở bảng 2.2 ta có thể tính được các mức giá tương quan của lúa mỳ và vải như sau

Bảng 2.3 Giá cả tương quan giữa hai sản phẩm ở hai quốc gia

Như vậy, giá tương quan giữa lúa mỳ và vải ở Anh là 1 lúa mỳ = 2 m vải và 1 m vải = 1/2 giạ lúa Còn ở Mỹ là 1 lúa mỳ = 4/6 m vải và 1 m vải = 6/4 giạ lúa

Nếu giả sử Mỹ trao đổi 6 W lấy 6C đối với Anh thì Mỹ sẽ có lợi 2 W (tức là tiết kiệm được ½ giờ lao động) vì Mỹ chỉ có thể đổi 6W lấy 4C nếu sản xuất trong nước Còn đối với Anh để có 6W thì nước này phải bỏ cả 6 giờ lao động để sản xuất lúa Nhưng khi tiến hành chuyên môn hoá thì Anh chỉ sản xuất vải do vậy trong 6 giờ Anh sản xuất được 12C và trao đổi 6C để lấy 6W và Anh vẫn còn lợi 6C (tương đương với 3 giờ lao động vì 1 giờ lao động

Trang 22

của Anh sản xuất được 2C).Và như vậy cả hai nước (thế giới) đều có lợi nhờ chuyên môn hoá

Nói cách khác là tỷ lệ trao đổi quốc tế giữa lúa mỳ và vải sẽ nằm trong khoảng tỷ lệ trao đổi nội địa của từng nước

Nếu như tỷ lệ trao đổi quốc tế đúng bằng mức giá tương quan của một trong hai quốc gia, thì quốc gia đó sẽ không có lợi gì, còn toàn bộ lợi ích từ thương mại quốc tế sẽ thuộc về quốc gia kia (nếu như hai nước tiến hành trao đổi thương mại, bởi vì ở tỷ lệ này có thể sẽ không có thương mại giữa hai nước)

Ngược lại, nếu Anh là nước lớn và Mỹ là nước nhỏ thì mức giá quốc tế sẽ bằng mức giá tương quan của Anh và toàn bộ lợi ích thương mại sẽ thuộc về Mỹ

- Nếu mức giá trao đổi quốc tế vượt ra khỏi giới hạn nói trên thì một trong hai nước sẽ từ chối tham gia buôn bán vì nhận thấy rằng điều đó không những không có lợi mà ngược lại còn gây thiệt hại cho quốc gia đó

Căn cứ vào khung mậu dịch tương đối của hai quốc gia 4m vải<6 giạ lúa<12 m vải,

chúng ta có thể giả sử các mức giá trao đổi quốc tế của hai sản phẩm trên như sau

- Xét về mặt lý thuyết có thể tồn tại trường hợp ngoại lệ đối với quy luật lợi thế so sánh Điều này xảy ra khi lợi thế tuyệt đối (hay mức bất lợi tuyệt đối) của một quốc gia là như nhau đối với cả hai mặt hàng Và được gọi là trường hợp lợi thế “cân bằng”

Bảng 2.5: Trường hợp lợi thế “cân bằng”

c Quy luật lợi thế tương đối

Trang 23

- Một cách tổng quát, quy luật lợi thế so sánh có thể được phát biểu như sau: Một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng có giá cả thấp hơn một cách tương đối so với quốc gia kia

Cụ thể, nếu quốc gia I có lợi thế tuyệt đối (hay bất lợi tuyệt đối) trong sản xuất cả hai sản phẩm X và Y thì quốc gia I sẽ chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu sản phẩm X khi và chỉ khi:

Hoặc

Như vậy lợi thế so sánh là lợi thế thể hiện ở hàng hoá có tỷ lệ chi phí sản xuất nhỏ hơnLưu ý: Trong mô hình giả định thế giới chỉ bao gồm hai quốc gia, sản xuất hai sản phẩm thì khi quốc gia I có lợi thế so sánh về sản phẩm thứ nhất, thì quốc gia II sẽ có lợi thế so sánh về sản phẩm còn lại

- Dù có những tiến bộ quan trọng so với lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith Lý thuyết của David Ricardo vẫn bộc lộ nhiều hạn chế:

+ Trong chi phí sản xuất mới chỉ tính đến có một yếu tố duy nhất, đó là lao động (Lý thuyết của ông được xây dựng trên học thuyết giá trị của lao động) Còn các yếu tố khác như vốn, kỹ thuật, đất đai và trình độ của người lao động thì không được đề cập đến

+ Mặc dù học thuyết này có chứng minh được lợi ích của thương mại quốc tế, nhưng vẫn không xác định được tỷ lệ trao đổi quốc tế, tức là giá cả quốc tế, căn bản vẫn là hàng đổi

hàng.

2.2.3 Một số lý thuyết khác

2.2.3.1 Lý thuyết của Haberler về lợi thế tương đối

a Lợi thế tương đối xem xét từ góc độ chi phí cơ hội

Theo Haberler, chi phí cơ hội của một hàng hoá là khối lượng các hàng hoá khác phải

cắt giảm (hy sinh) để dành đủ số nguồn lực sản xuất thêm 1 đơn vị hàng hoá thứ nhất.

Quốc gia nào có chi phí cơ hội thấp trong việc sản xuất một loại hàng hoá nào đó thì

họ có lợi thế tương đối (lợi thế so sánh) trong việc sản xuất hàng hoá đó và không có lợi thế

Hay

Trang 24

tương đối trong việc sản xuất hàng hoá thứ hai Do đó sự khác nhau về chi phí cơ hội trong sản xuất là nguyên nhân của sự hình thành thương mại quốc tế

Việc xác định và giải thích quy luật lợi thế so sánh dưới góc độ chi phí cơ hội sẽ tránh được giả thiết cho rằng lao động là yếu tố duy nhất hay đồng nhất để tạo ra sản phẩm

b Đường giới hạn khả năng sản xuất với trường hợp chi phí cơ hội không đổi

Chi phí cơ hội có thể được minh hoạ bằng đường giới hạn khả năng sản xuất

Đường giới hạn khả năng sản xuất của một quốc gia là một đường tập hợp tất cả những điểm biểu thị cho mức sản lượng của 2 mặt hàng có thể sản xuất ra khi quốc gia đó sử dụng tất cả mọi nguồn lực với công nghệ sẵn có tốt nhất của mình

Với chi phí cơ hội không đổi đường giới hạn khả năng sản xuất đó là một đường thẳng chỉ ra sự kết hợp thay thế nhau của hai sản phẩm mà quốc gia có thể sản xuất khi sử dụng toàn

bộ tài nguyên với kỹ thuật là tốt nhất

Tuy nhiên, trên thực tế, chi phí cơ hội rất ít khi là một hằng số Phần lớn các quốc gia đều gặp phải tình trạng chi phí cơ hội tăng dần

c Lợi ích thu được qua thương mại trong điều kiện chi phí cơ hội không đổi

Khi có thương mại quốc tế, mỗi nước chuyên môn hoá sản xuất hoàn toàn mặt hàng

mà mình có lợi thế tương đối

Những điểm ở trong đường giới hạn khả năng sản xuất là những điểm mà nền sản xuất có thể đạt tới, nhưng hiệu quả thấp vì chưa sử dụng hết tài nguyên hiện có Những điểm nằm ngoài đường khả năng sản xuất là những điểm không thể nào đạt tới trong nền kinh tế đóng

2.2.3.2 Lý thuyết của Heckscher - Ohlin

Lý thuyết tương quan các nhân tố, của hai nhà kinh tế học người Thuỵ Điển là Eli Heckscher và Bertil Ohlin, là lý tiêu biểu về thương mại quốc tế, lý thuyết giải thích nguồn gốc của thương mại quốc tế thông qua việc xem xét hai khái niệm, là hàm lượng các yếu tố sản xuất cần thiết để sản xuất ra một hàng hoá nào đó, và mức độ dồi dào các yếu tố sản xuất của một nước

a Những giả thiết của Học thuyết Heckscher – Ohlin (H – O)

1- Thế giới gồm 2 quốc gia (1 và 2), 2 yếu tố sản xuất (Lao động-L và Vốn-K); 2 hàng hoá X và Y

2- Hai quốc gia sử dụng cùng một công nghệ như nhau, cùng trình độ kỹ thuật

3- Sản phẩm X là sản phẩm thâm dụng lao động và sản phẩm Y là sản phẩm thâm dụng tư bản ở cả hai quốc gia

4- Lợi suất theo quy mô không đổi trong sản xuất cả hai loại sản phẩm ở cả hai quốc gia

5- Chuyên môn hoá là không hoàn toàn trong sản xuất ở cả hai quốc gia

Trang 25

6- Hai quốc gia có cùng thị hiếu

7- Thị trường hàng hoá và thị trường các yếu tố sản xuất là cạnh tranh hoàn hảo

8- Các yếu tố sản xuất có thể di chuyển tự do trong phạm vi một nước nhưng không thể di chuyển giữa các nước

9- Thương mại là hoàn toàn tự do, chi phí vận chuyển bằng không, không có thuế quan và các rào cản khác

b Hàm lượng các yếu tố sản xuất trong các hàng hóa và đường giới hạn tiềm năng sản xuất

* Hàm lượng các yếu tố sản xuất - Yếu tố thâm dụng

Xem xét một mô hình đơn giản chỉ bao gồm hai nguồn lực cơ bản là lao động (L) và vốn (K), sử dụng để sản xuất ra hai hàng hoá X và Y

Ta nói rằng hàng hoá X được coi là sử dụng nhiều một cách tương đối (thâm dụng) lao động, nếu tỷ lệ giữa lượng lao động và vốn sử dụng để sản xuất ra một đơn vị mặt hàng X, lớn hơn tỷ lệ tương ứng các yếu tố đó để sản xuất ra một đơn vị mặt hàng Y Nói cách khác, hàng hoá X được coi là có hàm lượng lao động cao nếu:

y

y x

x

K

L K

L

>

Trong đó:

- Lx và Ly là lượng lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hoá X và hàng hoá Y

- Kx và Ky là lượng vốn cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hoá X và hàng hoá Y

Tương tự nếu tỷ lệ giữa vốn (tư bản) và lao động là lớn hơn thì X được coi là hàng hoá

có hàm lượng vốn cao (thâm dụng tư bản)

* Mức độ dồi dào các yếu tố sản xuất

Khái niệm mức độ dồi dào các yếu tố sản xuất chỉ ra sự dồi dào của một quốc gia về một yếu tố sản xuất nào đó, có thể là lao động hay tư bản Để xác định được yếu tố dư thừa của một quốc gia có thể theo hai cách

- Cách thứ nhất là đo bằng những đơn vị vật chất cụ thể toàn bộ số lượng lao động và tư bản

để dùng vào sản xuất của quốc gia đó

Xem xét một mô hình giản đơn với hai nước 1 và 2 chỉ gồm hai yếu tố sản xuất là K

và L Quốc gia 1 sẽ được coi là dồi dào về yếu tố lao động nếu

B

B A

A

TK

TL TK

Trang 26

Cần lưu ý rằng, trong khái niệm ở trên, một quốc gia được coi là dồi dào tương đối về lao động (hay vốn) nếu tỷ lệ giữa lượng lao động (hay lượng vốn) và các yếu tố sản xuất khác của quốc gia đó, lớn hơn tỷ lệ tương ứng của các quốc gia khác Cũng tương tự như trường hợp hàm lượng các yếu tố, mức độ dồi dào của một yếu tố sản xuất của một quốc gia, được đo không phải bằng số lượng tuyệt đối, mà bằng tương quan giữa số lượng yếu tố đó với các yếu

tố sản xuất khác của quốc gia Do đó rất có thể xảy ra trường hợp một quốc gia có ít tư bản hay lao động hơn quốc gia kia vẫn là một quốc gia thừa tư bản hay lao động

- Cách thứ hai là thông qua giá cả yếu tố Chúng ta cũng có thể xác định được quốc gia nào

được coi là dư thừa lao động hay tư bản thông qua việc xác định tỷ số giữa giá cả tư bản và giá cả lao động (PK/PL) Một quốc gia được coi là thừa tư bản nếu tỷ số (Pk/PL) là thấp hơn tỷ

số này của nước khác, và một quốc gia được coi là dư thừa lao động nếu tỷ số giữa (PL/PK) là thấp hơn tỷ số này của nước khác Hơn nữa chúng ta biết giá tư bản chính là lãi suất r (the interest rate) và giá cả lao động chính là tiền lương w (The wage rate), cho nên PK/PL=r/w

Như vậy, xác định yếu tố dư thừa theo cách thứ nhất chỉ quan tâm đến cung của yếu

tố Còn xác định yếu tố dư thừa theo cách thứ hai là quan tâm cả cung lẫn cầu

* Định lý Heckscher – Ohlin

Với những giả thiết như trên, Định lý Heckscher – Ohlin được phát biểu như sau: Một

quốc gia sẽ xuất khẩu sản phẩm thâm dụng yếu tố mà quốc gia đó dư thừa tương đối và nhập khẩu sản phẩm thâm dụng yếu tố mà quốc gia khan hiếm tương đối.

Như vậy, một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng mà việc sản xuất đòi hỏi sử dụng nhiều một cách tương đối yếu tố sản xuất dồi dào của quốc gia Nói vắn tắt là một quốc gia tương đối giàu lao động, sẽ xuất khẩu hàng hoá sử dụng nhiều lao động và nhập khẩu hàng hoá sử dụng nhiều vốn

Dựa trên lý thuyết H-O thì có thể hình dung rằng những nước giàu tài nguyên thiên nhiên sẽ là những nước xuất khẩu chúng trên thị trường thế giới như Arap Xê út xuất khẩu dầu mỏ, Zambia xuất khẩu đồng, Jamaica xuất khẩu quặng bô xít những nước có nguồn nhân công lớn và tương đối rẻ thì sẽ tập trung vào sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng chế biến sử dụng nhiều lao động

2.2.3.3 Một số lý thuyết hiện đại

a Lý thuyết về đầu tư

Đầu tư nước ngoài là một hiện tượng phổ biến, nó là một vấn đề có tính chất quy luật chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau Dòng vốn đầu tư nước ngoài diễn ra dưới nhiều hình thức và khối lượng vốn di chuyển giữa các quốc gia ngày càng tăng lên nhanh chóng, đặc biệt trong điều kiện toàn cầu hoá và khu vực hoá

Trang 27

Nói chung, theo các lý thuyết về đầu tư động lực để một công ty bước ra nước ngoài

có thể xuất phát từ mong muốn mở rộng sản xuất và những lý do bên trong đó là cho phép khai thác các lợi thế một cách đầy đủ và triệt để hơn bao gồm: Thứ nhất là nguồn lực; Thứ hai

là công nghệ; Thứ ba là thị trường; Thứ tư là uy tín, danh tiếng, nhãn hiệu, kinh nghiệm quản

lý để thu lợi ích từ thị trường nước ngoài và vượt qua các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, do đó có thể nói đầu tư quốc tế là sự thay thế tốt hơn thương mại quốc tế

Chủ nghĩa chiết trung lập luận rằng, hoạt động đầu tư nước ngoài chỉ diễn ra khi có đủ

3 yếu tố hội tụ là nợi thế về địa điểm để thực hiện hoạt động đầu tư; lợi thế về sở hữu và lợi thế về việc khai thác các quan hệ nội bộ công ty (lợi thế của việc nội bộ hoá các hoạt động và các giao dịch)

Lý thuyết về đầu tư được các công ty đa quốc gia vận dụng để xây dựng và thực hiện các hoạt động đầu tư quốc tế trên phạm vi toàn thế giới Các công ty đa quốc gia với tiềm lực lớn về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý và uy tín cao khai thác các yếu tố trên một cách tổng hợp và đối với những thị trường thiếu những yếu tố cần thiết, các công ty này là công ty thực hiện đi đầu trong việc tạo lập nên những yếu tố đó

b Lý thuyết chu kỳ sống quốc tế của sản phẩm

Lý thuyết này đưa ra cách giải thích khác về động cơ buôn bán giữa các nước Lý thuyết chu kỳ sống quốc tế của sản phẩm xem xét khả năng xuất khẩu tiềm năng của sản phẩm gắn liền 4 pha trong chu kỳ sống của nó: giai đoạn đổi mới sản phẩm, giải đoạn tăng trưởng sản phẩm, giai đoạn chín muồi bão hòa và giai đoạn suy giảm triệt tiêu

Theo lý thuyết này, khi một sản phẩm mới được đưa ra giới thiệu trên thị trường, quá trình sản xuất ra nó đòi hỏi công nhân có trình độ tay nghề cao Khi ở giai đoạn chín muồi, sản phẩm đã tiêu chuẩn hoá và có sự chấp nhận rộng rãi của thị trường Lúc này sản phẩm có thể được sản xuất bằng nhiều phương pháp và có thể sử dụng lao động có kỹ năng thấp Do

đó, lợi thế tương đối trong sản xuất sản phẩm mới chuyển từ nước phát triển, nơi đưa sản phẩm và công nghệ ra thị trường sang các nước kém phát triển, nơi có giá nhân công thấp Hình thức chuyển dịch có thể thông qua đầu tư trực tiếp từ nước phát minh ra sản phẩm sang nước có chi phí lao động thấp Như vậy theo lý thuyết chu kì sống sản phẩm thì khi sản phẩm

ở vào giai đoạn suy giảm, triệt tiêu trên vòng đời của nó, thì nó được xuất khẩu (bán ra nước ngoài) để kéo dài vòng đời, bảo đảm lợi nhuận cho doanh nghiệp Đây chính là nguyên nhân của hoạt động thương mại quốc tế

Hầu hết các sản phẩm công nghệ cao được phát triển ở các nước công nghiệp hoá sau

đó được chuyển giao công nghệ sang các nước có trình độ phát triển thấp hơn Theo Vernon điều đó do một số nguyên nhân sau:

- Thứ nhất chi phí cơ hội để làm ra sản phẩm là rất lớn

Trang 28

- Thứ hai việc phát triển sản phẩm mới đòi hỏi có thị trường, có thu nhập cao hỗ trợ lại nhằm tiếp tục tao ra thị trường mới.

- Thứ ba khả năng cung cấp dịch vụ cho các sản phẩm ở các nước phát triển tốt, đồng bộ

2.3 Chính sách thương mại quốc tế

“Chính sách thương mại quốc tế là một hệ thống các quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc, công cụ và biện pháp thích hợp mà nhà nước sử dụng để điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế của mỗi quốc gia trong một thời kỳ nhất định, nhằm đạt được các mục tiêu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đó”

2.3.1 Vai trò của chính sách thương mại quốc tế

- Chính sách thương mại quốc tế phục vụ cho sự phát triển kinh tế của đất nước, hỗ trợ mạnh

mẽ cho quá trình tái sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước, hình thành quy mô và phương thức tham gia vào phân công lao động quốc tế của nền kinh tế mỗi nước

- Ngoài ra, chính sách thương mại quốc tế còn có vai trò to lớn trong việc khai thác triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế, phát triển các ngành sản xuất và dịch vụ đến quy mô tối ưu, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế nâng cao hiệu quả của các hoạt động kinh tế

2.3.2 Các xu hướng cơ bản chi phối chính sách thương mại quốc tế

2.3.2.1 Xu hướng tự do hóa thương mại

Tự do hoá thương mại là nới lỏng, mềm hoá sự can thiệp của nhà nước hay chính phủ vào lĩnh vực buôn bán quốc tế

Xu hướng này bắt nguồn từ quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới với những cấp độ toàn cầu hóa và khu vực hoá, lực lượng sản xuất phát triển vượt ra ngoài phạm vi biên giới của mỗi quốc gia, sự phân công lao động quốc tế phát triển cả về bề rộng lẫn chiều sâu, vai trò của các công ty đa quốc gia được tăng cường, hầu hết các quốc gia chuyển sang xây dựng mô hình “Kinh tế mở” với việc khai thác ngày càng triệt để lợi thế so sánh của mỗi nước Tự do hoá thương mại đều đưa lại lợi ích cho mỗi quốc gia dù trình độ phát triển có khác nhau và nó phù hợp với xu thế phát triển chung của nền văn minh nhân loại

Nội dung của tự do hoá thương mại là nhà nước áp dụng các biện pháp cần thiết để từng bước giảm thiểu những trở ngại trong hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan trong quan hệ mậu dịch quốc tế, nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc phát triển các hoạt động thương mại quốc tế cả bề rộng lẫn chiều sâu Đương nhiên tự do hoá thương mại trước hết nhằm mục đích thực hiện việc mở rộng quy mô xuất khẩu của mỗi nước cũng như đạt tới điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động nhập khẩu Kết quả của tự do hoá thương mại là tạo điều kiện mở cửa thị trường nội địa để hàng hoá, công nghệ nước ngoài cũng như những hoạt

Trang 29

động dịch vụ quốc tế được xâm nhập dễ dàng vào thị trường nội địa, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng hoá dịch vụ ra nước ngoài Điều đó có nghĩa là cần phải đạt tới một sự hài hoà giữa tăng cường xuất khẩu với lới lỏng nhập khẩu

Các biện pháp để thực hiện tự do hoá thương mại bao gồm việc điều chỉnh theo chiều hướng nới lỏng dần nhập khẩu với bước đi phù hợp trên cơ sở các thoả thuận song phương và

đa phương giữa các quốc gia đối với các công cụ bảo hộ mậu dịch đã và đang tồn tại trong quan hệ thương mại quốc tế Quá trình tự do hoá thương mại gắn liền với những biện pháp có

đi có lại trong khuôn khổ pháp lý giữa các quốc gia

2.3.2.2 Xu hướng bảo hộ mậu dịch

“Bảo hộ mậu dịch chính là sự gia tăng can thiệp của nhà nước hay chính phủ vào lĩnh vực buôn bán quốc tế Trong điều kiện hiện nay của nền kinh tế thế giới, sự can thiệp của nhà nước mang tính chọn lựa và giảm thiểu phạm vi, quy mô… can thiệp, nâng cao hiệu lực, hiệu

quả của sự can thiệp”

Cơ sở khách quan của xu hướng này là sự phát triển không đều và sự khác biệt trong điều kiện tái sản xuất giữa các quốc gia

Mục tiêu của bảo hộ mậu dịch là để bảo vệ thị trường nội địa trước sự thâm nhập ngày càng mạnh mẽ của các luồng hàng hoá từ bên ngoài, cũng tức là bảo vệ lợi ích quốc gia

Các luận điểm cho vấn đề bảo hộ mậu dịch

- Một là luận điểm về bảo vệ ngành công nghiệp non trẻ

Một hình thức thuế quan tạm thời đánh vào hàng nhập khẩu sẽ cho phép họ trưởng thành cho tới độ “chín muồi” và được bảo vệ để chống lại sự cạnh tranh từ nước ngoài

- Hai là luận điểm tạo nên nguồn tài chính công cộng

Theo đó các loại thuế nhập khẩu là cần thiết để đảm bảo nguồn thu cho chính phủ đáp ứng các chi phí trong việc cung cấp các hàng hoá công cộng, để tiến hành việc trả nợ và giải quyết các khoản chi phí khác

- Ba là luận điểm về khắc phục một phần tình trạng thất nghiệp thông qua việc thực hiện chế

độ thuế quan bảo hộ

Thảo luận về vấn đề thuế quan làm giảm thất nghiệp chung được thể hiện như sau Giả định rằng một đất nước có thất nghiệp, việc đưa ra thuế quan sẽ dẫn đến một sự dịch chuyển trong nhu cầu bởi những người tiêu dùng trong nước từ việc tiêu dùng hàng hóa nước ngoài đến tiêu dùng hàng hóa trong nước

- Bốn là luận điểm về việc thực hiện “phân phối lại thu nhập” thông qua việc áp dụng chế độ bảo hộ

Trang 30

Các loại thuế nhập khẩu sẽ làm dịch chuyển một phần thu nhập của những người tiêu dùng giàu có hơn sang cho những người sản xuất các loại hàng hoá được sản xuất trong nước tương ứng các hàng hoá nhập khẩu Điều đó sẽ có lợi về mặt xã hội

2.3.2.3 Mối quan hệ giữa xu hướng tự do hoá thương mại và bảo hộ mậu dịch

Về nguyên tắc thì hai xu hướng này đối nghịch nhau vì chúng gây nên tác động ngược chiều nhau đến hoạt động thương mại quốc tế Nhưng chúng không bài trừ nhau mà trái lại chúng thống nhất với nhau - một sự thống nhất giữa hai mặt đối lập

Về mặt lịch sử chưa khi nào có tự do hoá thương mại một cách hoàn toàn đầy đủ và trái lại chưa khi nào lại có bảo hộ mậu dịch dày đặc đến mức làm tê liệt các hoạt động thương mại quốc tế (trừ trường hợp có sự bao vây cấm vận kinh tế hoặc chiến tranh xảy ra)

Về logic thì tự do hoá thương mại là một quá trình đi từ thấp đến cao, từ cục bộ đến toàn thể, thậm trí có trường hợp nó có ý nghĩa trước hết như một xu hướng tự do hoá thương mại và bảo hộ mậu dịch là hai mặt nương tựa nhau, làm tiền đề cho nhau

Với những điều kiện thực tiễn của thương mại quốc tế ngày nay không thể cực đoan khẳng định sự cần thiết của một trong hai xu hướng này, mặc dù về mặt lý thuyết có thể chứng minh những mặt tiêu cực của các công cụ bảo hộ mậu dịch, nhất là trường hợp bảo hộ quá dày đặc Trong thực tế các quốc gia đều sử dụng các công cụ bảo hộ mậu dịch với những mức độ khác nhau

Một sự vận dụng phù hợp các công cụ bảo hộ mậu dịch là bảo hộ có chọn lọc và có điều kiện, gắn liền với các điều kiện về thời gian và không gian nhất định

2.3.4 Các công cụ chủ yếu của chính sách thương mại quốc tế

2.3.4.1 Biện pháp thuế quan

a Khái niệm

Thuế quan là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng xuất khẩu hay nhập khẩu của 1

QG Đó là những khoản tiền tệ mà người chủ hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu hoặc quá cảnh phải nộp cho hải quan là cơ quan đại diện cho nước sở tại

Như vậy, thuế quan bao gồm thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu Thuế nhập khẩu là loại thuế đánh trên hàng hoá nhập khẩu, còn thuế xuất khẩu là thuế đánh trên hàng hoá xuất khẩu Trong đó, thuế nhập khẩu là quan trọng hơn và được áp dụng phổ biến trên thế giới

b Phân loại thuế quan

* Căn cứ theo đối tượng đánh thuế

- Thuế quan xuất khẩu: Thuế quan xuất khẩu áp đặt vào hàng hoá dịch vụ xuất khẩu của

một quốc gia hay vùng lãnh thổ ra nước ngoài Thuế quan xuất khẩu có thể đánh vào thành phẩm hay đầu vào xuất khẩu

Trang 31

Ví dụ: Nga đánh thuế xuất khẩu dầu thô, Indonexia đánh thuế xuất khẩu các sản phẩm chè Việc đánh thuế xuất khẩu làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa, nhưng các quốc gia vẫn phải áp dụng để hạn chế việc bớt việc xuất khẩu những sản phẩm thô sơ chế, để bảo vệ các nguồn tài nguyên và nhằm tăng thu ngân sách (đặc biệt đối với sản phẩm dầu thô)

- Thuế quan nhập khẩu: Thuế quan nhập khẩu đánh vào các hàng hoá, dịch vụ nhập

khẩu từ bên ngoài vào một quốc gia hay vùng lãnh thổ Thuế nhập khẩu có thể đánh vào thành phẩm hoặc đầu vào nhập khẩu Như việc VN đánh thuế đối với mặt hàng ô tô, Nhật Bản đánh thuế đối với sản phẩm gạo (có thời kỳ mức thuế đối với gạo lên tới 490%)

- Thuế quan quá cảnh: Đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá được vận chuyển quá cảnh qua

một lãnh thổ hải quan thứ ba Ví dụ như hàng hóa của Lào muốn vận chuyển ra biển Đông thì phải quá cảnh qua Việt Nam, hoặc việc vận chuyển hàng hóa qua Kênh đào Panama

Hiện nay trên thế giới, Thuế quan xuất khẩu được sử dụng rất ít (vì ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của hàng hóa) chỉ trong một số trường hợp nhất định

Ở nhiều nước phát triển không có thuế xuất khẩu, nên khi nói thuế quan tức là đồng nhất với thuế nhập khẩu Tuy nhiên thuế xuất khẩu vẫn được áp dụng ở các nước đang phát triển, đặc biệt đánh vào các sản phẩm truyền thống nhằm thu được giá cao hơn và tăng lợi tức cho quốc gia Trong khi đó ở các nước phát triển, họ đánh thuế nhập khẩu và áp dụng các hình thức khác để bảo vệ một vài ngành trong nước, còn muốn tăng lợi tức quốc gia, tăng phúc lợi dân cư thì người ta sử dụng nguồn thu chủ yếu từ những khoản thuế khác

Trong xu hướng chung tự do hóa thương mại thì mức thuế nhập khẩu trung bình trên thế giới có xu hướng giảm xuống, vai trò thuế quan nhập khẩu trong các công cụ quản lý nhập khẩu sẽ giảm đi Muốn thu hút hàng hóa của nước ngoài đi qua lãnh thổ của nước chủ nhà thì mức thuế quan quá cảnh phải ngày càng được giảm đi, nhà nước sẽ bù đắp lại nguồn thu bằng cách cung cấp các dịch vụ (như hàng hóa qua Kênh đào Panama thì phải cần tới nhiên liệu, nước ngọt)

* Căn cứ theo mục đích đánh thuế

- Thuế quan tài chính (doanh thu): nhằm tăng thu cho ngân sách nhà nước Rất quan

trọng đối với những quốc gia đang phát triển vì hệ thống thuế chưa được hoàn chỉnh, mà thuế quan tài chính có ưu điểm là rất dễ mở rộng cửa khẩu nên các nước đang phát triển phải dựa nhiều vào thuế này – Những nước phát triển có hệ thống thuế rất hoàn chỉnh (thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp v.v ) do vậy thuế quan tài chính không quan trọng đối với những nước này

- Thuế quan bảo hộ: Nhằm bảo hộ thị trường và nền sản xuất nội địa thông qua việc

đánh thuế cao đối với hàng hoá nhập khẩu

* Căn cứ theo phương pháp tính thuế

Trang 32

- Thuế quan tính theo số lượng hàng hóa (Specific tariff)

Ðây là một loại thuế xuất, nhập khẩu được tính theo giá trị cố định bằng tiền trên một đơn vị hàng hóa xuất, nhập khẩu Đây là hình thức thuế đơn giản nhất, dễ tính toán vì nó không phụ thuộc vào giá cả của hàng hoá thường có biến động Người ta còn gọi nó là loại thế quan cố định, thuế quan tuyệt đối, hay thuế đặc trưng

P 1 = P w + T s

Trong đó: + P1 là giá cả hàng hoá sau khi có thuế

+ Pw là giá cả hàng hoá trước khi có thuế+ Ts là thuế tính theo đơn vị hàng hoáThí dụ như, một tấn hàng hóa nhập khẩu sẽ phải chịu một mức thuế là 25 USD Hóa đơn thuế nhập khẩu do vậy sẽ phụ thuộc vào lượng hàng nhập khẩu mà không phụ thuộc vào giá cả, hoặc giá trị của những hàng hóa nhập khẩu

Thuế quan tuyệt đối chiếm vào khoảng 1/3 biểu thuế quan của Mỹ; 1/10 biểu thuế quan đối với các quốc gia ngoài Liên minh Châu Âu (EU) và hầu như toàn bộ biểu thuế quan của Thuỵ Sỹ

+ Ưu điểm: Thuế quan tuyệt đối có ưu điểm dễ áp dụng hơn và ngăn chặn được hiện

tượng làm hoá đơn giả cũng như định ra các loại giá nội doanh nghiệp Thuế tuyệt đối cũng

dễ áp thuế khi thông quan hàng hoá xuất, nhập khẩu, chống được các hiện tượng gian lận thuế Những nhân viên thuế quan có thể thu thuế này dễ dàng, bởi vì họ chỉ cần biết lượng hàng hóa nhập vào mà không quan tâm đến giá trị tiền tệ của nó

+ Nhược điểm: Tuy nhiên, loại thuế này có một nhược điểm cơ bản như là một công

cụ bảo hộ cho những nhà sản xuất trong nước, bởi vì mức thuế bảo vệ này sẽ thay đổi trái ngược với giá cả của hàng nhập khẩu Thuế cố định thường bị xói mòn bởi lạm phát, vì lý do này, các biểu thuế mới thường tín theo giá trị hàng hoá

Ví dụ: Nếu giá cả của hàng hóa nhập khẩu từ những nhà sản xuất nước ngoài là 5USD

và mức thuế quan là 1 USD trên một đơn vị sản phẩm, mức thuế này tương đương với 20% Tuy nhiên, nếu như lạm phát xảy ra và giá cả của hàng hóa nhập khẩu gia tăng lên 10 USD, thì mức thuế này bây giờ tương đương với chỉ có 10% trên giá trị hàng hóa nhập khẩu Những nhà sản xuất trong nước do vậy xem đây không phải là một chính sách bảo hộ cho họ, mặc dù phúc lợi của người tiêu dùng gia tăng

Thuế cố định còn có nhược điểm là rất nặng, ví dụ 2 USD tiền thuế cho 1 áo sơ my sẽ nặng hơn rất nhiều đối với áo sơ mi rẻ tiền so với những áo sơ mi mốt và đắt tiền Vì vậy những người tiêu dùng nghèo hơn thường chịu thuế nặng hơn, hàng nhập khẩu ở các nước đang phát triển có chất lượng thấp hơn trên thị trường, thường chịu thuế nặng hơn và bị cản trở nhiều hơn

Trang 33

- Thuế quan tính theo giá trị hàng hóa

Thuế quan theo giá trị hàng hoá được tính bằng tỷ lệ % so với giá trị hàng hoá xuất, nhập khẩu Thuế quan theo giá trị hàng hoá được sử dụng phổ biến ở các nước hiện nay

P t = Pw + Pw.t

Trong đó: Pt là giá cả hàng hoá sau khi có thuế

Pw là giá cả hàng hoá trước khi có thuế:

t là tỷ lệ phần trăm thuế

+ Ưu điểm: phương pháp đánh thuế quan này gắn với giá trị hàng hoá nhập khẩu của

doanh nghiệp, không bị xói mòn bởi lạm phát, thuế suất dễ điều chỉnh nên mang tính linh hoạt, dễ hài hoà khi tham gia các liên kết kinh tế quốc tế

+ Nhược điểm: thuế quan theo giá trị hàng hoá là khó chống lại nạn khai man giá trị

tính thuế, khai báo hải quan thiếu chính xác, gian lận thương mại, nhất là đối với hàng hoá nhập khẩu

Loại thuế này nhằm đến việc bảo hộ mậu dịch cho những nhà sản xuất trong nước, nhưng vẫn có những khó khăn đi cùng nó bởi vì những nhân viên thuế quan cần có những nghiệp vụ chuyên môn để đánh giá giá trị tiền tệ của những hàng hóa nhập khẩu Biết được thực tế này, những nhà xuất khẩu thường ghi giá thấp trên hóa đơn Mặt khác, những nhân viên hải quan lại có xu hướng đánh giá trị cao cho những hàng hóa nhập khẩu Tuy vậy, loại thuế này đã và đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới

c Mục đích thực hiện

- Điều tiết TMQT

Thuế quan có tác động trực tiếp tới giá cả hàng hoá ngoại thương, mà giá cả hàng hoá ngoại thương sẽ có tác động đến cầu của hàng hoá ngoại thương trên thị trường nội địa, đồng thời cầu hàng hoá ngoại thương sẽ có tác động ảnh hưởng trực tiếp tới cung của hàng hoá ngoại thương trên thị trường nội địa

Trang 34

Thuế quan tăng → giá cả hàng hoá ngoại thương tăng lên → cầu hàng hoá ngoại thương giảm xuống (cầu hàng hoá nội địa tăng lên)→ cung hàng hoá ngoại thương cũng giảm xuống (cung hàng hoá nội địa sẽ tăng lên) Và ngược lại thuế quan giảm → giá cả hàng hoá ngoại thương giảm đi → cầu hàng hoá ngoại thương tăng lên (cầu hàng hoá nội địa giảm đi)→ cung hàng hoá ngoại thương cũng tăng lên (cung hàng hoá nội địa sẽ giảm xuống)

Như vậy việc tăng giảm thuế quan sẽ có tác động điều chỉnh quan hệ cung cầu hàng hoá ngoại thương và đồng thời cả quan hệ cung cầu hàng hoá nội địa trong nước

- Nguồn thu của NSNN

Thuế quan được biết đến như một hình thức lâu đời nhất của chính sách mậu dịch và

là một công cụ mang tính chất truyền thống để làm tăng nguồn thu cho chính phủ.Ngày nay, ở nhiều nước đang phát triển thuế quan vẫn còn chiếm tỷ trọng rất cao trong phần thu ngân sách của chính phủ

Ví dụ: ở Mỹ trước đây khi chưa có thuế thu nhập, nguồn thu chính phủ tăng lên chủ

yếu nhờ vào thuế quan

- Bảo hộ sản xuất trong nước

Thuế quan còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ trong nước, chưa đủ sức mạnh cạnh tranh trên thị trường thế giới Ngay từ đầu thế kỷ 19, ở Anh đã sử dụng thuế quan để bảo hộ sản phẩm nông nghiệp, cạnh tranh với hàng nhập khẩu Vào cuối thế kỷ 19 cả Mỹ và Đức đều dùng thuế nhập khẩu đánh vào các hàng hoá công nghiệp nước ngoài để bảo hộ các ngành công nghiệp mối của họ Rất nhiều quốc gia như Nhật

và Tây âu cũng dùng thuế nhập khẩu để bảo hộ ngành nông nghiệp chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, trong khi cần giữ vững sự an toàn cho thị trường lương thực và thực phẩm nội địa Ngoài ra, thông qua các loại mức mà thuế quan còn được dùng như là một công cụ

để phân biệt đối xử giữa các bạn hàng mậu dịch khác nhau

- Phân biệt đối xử và gây áp lực với đối tác

Hiện nay ở các quốc gia thuế quan xuất khẩu rất ít được sử dụng vì nó sẽ làm hạn chế quy mô xuất khẩu của hàng hoá Thuế quan quá cảnh được áp dụng đối với các quốc gia có điều kiện, vị trí đặc biệt thực hiện các nghiệp vụ trung chuyển hàng hoá (tái xuất khẩu và chuyển khẩu) Thuế quan nhập khẩu được áp dụng khá phổ biến và rộng rãi ở tất cả các quốc gia trên thế giới

Thuế quan tăng sẽ làm cho giá cả quốc tế của hàng hoá bị đánh thuế vượt giá cả trong nước hay nói cách khác, nó làm hạ thấp tương đối mức giá cả trong nước của hàng hoá có thể xuất khẩu xuống so với mức giá cả quốc tế (điều này phù hợp với thực tiễn thương mại của các nước nhỏ) Ở nhiều nước phát triển người ta không sử dụng thuế xuất khẩu cho nên khi nói tới thuế quan là đồng nhất nói tới thuế nhập khẩu Tuy nhiên ở các nước đang phát triển

Trang 35

người ta vẫn sử dụng khá phổ biến thuế xuất khẩu, đặc biệt là để đánh vào các sản phẩm truyền thống nhằm tăng thêm cho lợi ích quốc gia

Ví dụ Zambia đã đánh thuế đồng xuất khẩu của mình theo nhiều mức thuế khác nhau,

hoặc Brazil đánh thuế xuất khẩu cà phê, các nước thuộc tổ chức OPEC tăng mạnh giá dầu mỏ xuất khẩu vào những năm 1974 và 1979 thực chất là đánh thuế xuất khẩu dầu mỏ (mặc dù nó không được gọi như vậy) và đây chính là công cụ chủ yếu trong chính sách thương mại của OPEC Nhìn chung nhiều nước kém phát triển đánh thuế các mặt hàng khoáng sản và nông sản, các mặt hàng truyền thống của họ đưa vào xuất khẩu

Như vậy thuế quan nhập khẩu tạo điều kiện cho các nhà sản xuất trong nước mở rộng sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm, tăng thêm nguồn thu cho ngân sách, tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước Chính vì vậy, thuế quan nhập khẩu được áp dụng phổ biến ở mọi nước tuy rằng mức thuế là khác nhau Tuy nhiên kết quả kinh tế của thuế nhập khẩu làm cho giá trị hàng hoá trong nước cao hơn mức giá nhập khẩu và chính người tiêu dùng trong nước phải trang trải cho gánh nặng thuế quan này Điều đó đưa đến tình trạng giảm mức cầu của người tiêu dùng đối với hàng hoá nhập khẩu và làm hạn chế mức nhập khẩu Đây chính là một khía cạnh trong mục tiêu của chính sách thương mại quốc tế nhưng đôi khi việc thực hiện mục tiêu này lại đi quá mức cần thiết đưa đến những hạn chế cho quá trình trao đổi thương mại quốc tế Bởi vậy, việc quy định tỷ lệ thuế nhập khẩu luôn luôn là một đề tài được quan tâm từ nhiều phương diện

Xuất khẩu được xem là tốt cho đất nước do nó làm cải thiện được cán cân thương mại, cung cấp thêm việc làm, v.v nhưng tại sao đất nước này lại đưa ra thuế xuất khẩu? Đặc biệt là thuế xuất khẩu được áp dụng phổ biến trong những quốc gia đang phát triển Chúng ta

có thể chỉ ra một cách tóm tắt một vài lý do sau

- Thứ nhất, với những nước đang phát triển để tạo ra thu nhập chính phủ thông qua thuế thu nhập hay thuế tài sản là điều rất khó khăn, do vậy thuế xuất khẩu được đưa ra

- Thứ hai, thuế xuất khẩu là để chống lại áp lực lạm phát trong nước

- Thứ ba, thuế xuất khẩu có thể được sử dụng để tái phân phối thu nhập trong nước Nếu như hàng hóa được xuất khẩu là hàng hóa nông nghiệp được canh tác bởi những chủ đất lớn và giàu có và được tiêu dùng bởi những cư dân thành phố có thu nhập thấp, lúc đó việc giảm giá cả trong nước bằng thuế xuất khẩu có thể làm thay đổi sự phân phối thu nhập hướng tới sự công bằng lớn hơn

Thuế quan xuất khẩu cũng làm tăng nguồn thu cho ngân sách của chính phủ, nhưng nó lại làm cho giá cả quốc tế của hàng hoá bị đánh thuế cao hơn mức giá cả trong nước Tuy nhiên tác động của thuế quan xuất khẩu nhiều khi lại trực tiếp đưa đến bất lợi cho khả năng xuất khẩu Do quy mô xuất khẩu của một nước thường là nhỏ so với dung lượng của thị trường thế giới, cho nên thuế xuất khẩu sẽ làm hạ thấp tương đối mức giá cả trong nước của

Trang 36

hàng hoá có thể xuất khẩu xuống so với mức giá cả quốc tế Điều đó sẽ làm cho sản lượng trong nước của mặt hàng có thể xuất khẩu giảm đi và sản xuất trong nước có thể thay đổi bất lợi cho những mặt hàng này Trong một số trường hợp, việc đánh thuế xuất khẩu không làm cho khối lượng xuất khẩu giảm đi nhiều và vẫn có lợi nhiều cho nước xuất khẩu nếu như họ

có thể tác động đáng kể đến mức giá quốc tế Ví dụ sự độc quyền xuất khẩu Sâm của Triều Tiên

Một mức thuế xuất khẩu cao và duy trì quá lâu có thể làm lợi cho các địch thủ cạnh tranh Chính vì vậy mà các nước công nghiệp phát triển hiện nay hầu như không áp dụng thuế xuất khẩu

d Tính toán mức thuế quan trung bình

Một vấn đề đáng được quan tâm ở đây là việc xác định mức thuế quan bình quân của một quốc gia, bởi vì hầu hết các quốc gia đều có một lượng lớn những mức thuế khác nhau đối với những hàng hóa nhập khẩu Do có vô số các mức thuế quan khác nhau trong biểu thuế của một quốc gia nên rất khó khăn cho việc dự đoán sự thay đổi thặng dư của người sản xuất

và thặng dư người tiêu dùng tương ứng với mỗi một mức thuế quan cụ thể, từ đó tìm ra sự tăng giảm thiệt hại khi sử dụng hàng rào thuế quan Hơn nữa, sử dụng các mức thuế quan cụ thể cũng rất khó khăn cho việc phân tích và khẳng định hàng rào thuế quan của một quốc gia nào đó là cao hay thấp và đưa ra được những thoả thuận trong các cuộc thương lượng song phương, hay đa phương Vấn đề đặt ra là làm thế nào tổng quát được các tỷ lệ thuế quan cá biệt

 Mức thuế quan bình quân không tính đến tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu

Nó được tính bằng cách chia trung bình các mức thuế quan của các loại hàng hoáTuy nhiên, con số này không có ý nghĩa lắm bởi vì không phải tất cả các loại thuế đều quan trọng như nhau Nói cách khác là nó không tính toán đến mức độ quan trọng tương đối của những hàng hóa nhập khẩu: Nếu quốc gia nhập khẩu phần lớn sản phẩm A, thì mức thuế bình quân này quá cao Còn nếu nhập khẩu nhiều hàng hoá C thì tỷ lệ này là thấp hơn

 Mức thuế quan bình quân có tính đến tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu

Nó được tính bằng cách nhân mức thuế của mỗi hàng hóa với giá trị hàng hóa đó sau

đó chia trung bình

Cách tính này cũng có nhược điểm liên quan đến qui luật cầu hàng hóa Giả sử những

độ co giãn cầu giống nhau với tất cả những hàng hóa, lúc đó việc mua những hàng hóa với mức thuế quan tương đối cao có xu hướng giảm xuống, trong khi việc mua những hàng hóa với mức thuế quan thấp có xu hướng giảm ít hơn Do vậy, mức thuế quan chính nó sẽ làm thay đổi lượng nhập khẩu do việc đưa ra tầm quan trọng cao hơn đối với những hàng hóa có mức thuế quan thấp

Trang 37

Mức thuế quan được tính theo cách này có thể được chứng minh trong một hình thức

đặc biệt với những thuế quan ngăn cấm nhập khẩu, một thuế quan ngăn cấm nhập khẩu có

một mức thuế cao để ngăn chặn việc nhập khẩu

Tuy nhiên, do mức độ sai khác là nhỏ nhất và có những ưu điểm là xem xét đến cơ cấu hàng hoá, dịch vụ xuất, nhập khẩu phản ánh được vai trò của hàng rào thuế quan nên thuế quan trung bình tính theo tỷ trọng hàng hoá, dịch vụ xuất, nhập khẩu thường sử dụng đo lường sự thay đổi mức thuế quan của một nước theo thời gian hoặc so sánh mức thuế quan giữa các nước, hoặc giữa các khu vực với nhau Thuế quan trung bình theo tỷ trọng hàng hoá, dịch vụ xuất, nhập khẩu cũng được sử dụng để đánh giá hàng rào thuế quan của một quốc gia khi tham gia đàm phán song phương, hoặc đa phương và đề ra các mức thuế thoả thuận

e Thuế quan danh nghĩa và tỷ lệ bảo hộ thực tế (Lý thuyết về cơ cấu thuế quan)

Một vấn đề đáng được quan tâm khác là sự lựa chọn một tỷ suất thuế quan hợp lý khi đánh giá ảnh hưởng của thuế quan Vấn đề này rất quan trọng khi những quốc gia đang thương thuyết việc cắt giảm tỷ suất thuế quan, bởi vì trong thương thuyết thường tập trung vào việc lựa chọn một tỷ suất thuế quan hợp lý Vì vậy, trong thương mại quốc tế khái niệm

“Hệ số bảo hộ thực tế” đã được sử dụng để đo lường tác động của thuế quan

Thuế quan danh nghĩa là thuế được áp dụng đối với sản phẩm cuối cùng nhập khẩu hoặc xuất khẩu, làm gia tăng giá cung cấp của ngoại quốc

Trong thực tế ngoài các sản phẩm cuối cùng được đưa vào buôn bán thương mại quốc

tế thì có rất nhiều loại hàng hoá trung gian cũng được đưa vào mua bán quốc tế, nếu áp dụng thuế quan đối với hàng hoá trung gian thì lợi nhuận của ngành sử dụng các nguyên liệu này có thể sẽ giảm xuống và toàn ngành trở lên không được bảo hộ Bởi vậy, nhiều trường hợp người

ta không đánh thuế hoặc đánh thuế rất ít các sản phẩm được xác định là sản phẩm trung gian

để sản xuất ra sản phẩm cuối cùng nhằm khuyến khích sản xuất trong nước

Ví dụ: không đánh thuế bông sợi nhưng đánh thuế cao quần, áo nhập khẩu để khuyến

khích ngành may trong nước và góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp

Khi thuế quan đánh trên các sản phẩm trung gian (nguyên liệu) sẽ làm giá cung sản phẩm trong nước gia tăng Mối tương quan giữa thuế quan đánh trên sản phẩm cuối cùng (thuế quan danh nghĩa) và sản phẩm trung gian được xác định bằng tỷ lệ bảo hộ thực sự

Hệ số bảo hộ thực tế đó là tỷ lệ % giữa thuế quan danh nghĩa với phần giá trị gia tăng nội địa Chính tỷ lệ này sẽ nâng cao thêm giá của một đơn vị sản phẩm cuối cùng Tỷ lệ

này nói lên mức bảo hộ thực tế cao hay thấp cho các ngành sản xuất trong nước

Như vậy: Hệ số bảo hộ thực tế = Thuế quan danh nghĩa X 100

Giá trị gia tăng nội địa

Trang 38

Thuế quan danh nghĩa là quan trọng đối với người tiêu dùng, vì nó chỉ định giá cả sản phẩm cuối cùng là bao nhiêu do thuế quan làm tăng lên Còn mức độ bảo hộ thực tế lại có ý nghĩa đối với nhà sản xuất, vì nó cho biết việc bảo hộ ở mức độ nào để họ có thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu.

a

t a t fi

a

t a

- t0 là tỷ lệ thuế quan danh nghĩa đối với sản phẩm cuối cùng

- ti là tỷ lệ thuế quan đối với sản phẩm trung gian trường hợp thứ i

- ai là tỷ lệ giữa giá trị sản phẩm trung gian với giá trị sản phẩm cuối cùng khi không có thuế

Hệ số bảo hộ thực tế đo lường mức độ bảo hộ của thuế quan đối với các doanh nghiệp tốt hơn thuế quan danh nghĩa, bởi vì giá trị gia tăng là chỉ tiêu quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Và vì vậy, hệ số bảo hộ thực tế sẽ tác động đến phân phối các nguồn lực tốt hơn thuế quan danh nghĩa

Chú ý:

- Khi ai = 0 thì f = t, Ở đây có nghĩa là trong trường hợp tỷ lệ thuế đánh vào nguyên vật liệu nhập khẩu bằng tỷ lệ đánh vào thành phẩm nhập khẩu thì mức độ bảo hộ danh nghĩa bằng mức độ bảo hộ thực sự Có nghĩa là khi ấy không nhập nguyên liệu, mức độ bảo hộ thực sự chính là thuế quan danh nghĩa

- Khi ti = 0 tức là không đánh thuế vào sản phẩm trung gian, mức độ bảo hộ thực tế là cao nhất, người sản xuất sẽ có lợi cao nhất

- Khi ti càng tăng thì mức độ bảo hộ thực tế ngày càng giảm Nói cách khác, tỷ lệ bảo hộ thực

sự cho ngành công nghiệp giảm đi khi thuế nhập khẩu nguyên, vật liệu, bán thành phẩm tăng

- Khi ti >t thì f mang giá trị âm (Bảo hộ ngược)

f Tác động kinh tế của thuế quan

* Phân tích cân bằng tổng quát của thuế quan

Thuế quan được áp đặt lên nhiều loại hàng hoá, dịch vụ với các mức thuế khác nhau,

do đó tác động kinh tế cũng khác nhau Sử dụng mô hình cân bằng tổng thể để phân tích tác động kinh tế của thuế quan cho thấy thuế quan tạo ra khoảng cách giữa giá cả thế giới và giá

cả nội địa Với hàng hoá hoặc dịch vụ nhập khẩu, thuế quan làm cho hàng hoá nhập khẩu trở

Trang 39

nên đắt hơn trên thị trường nội địa, và làm cho sản lượng sản xuất nội địa hàng hoá đó tăng lên, giảm chuyên môn hoá và lợi ích thương mại quốc tế ở mức giá cả thế giới hiện tại

Cho đến nay, thuế quan nhập khẩu là công cụ được sử dụng rộng rãi nhất trong chính sách thương mại Vấn đề đặt ra là cần xem xét mối tương quan giữa các loại sản phẩm khác nhau để đánh giá khả năng bảo vệ cho toàn bộ khu vực cần cạnh tranh với hàng nhập khẩu Bởi vậy, sự phân tích các tác động của thuế quan nhập khẩu đến hoạt động thương mại quốc

tế và hoạt động kinh tế nói chung là cơ sở quan trọng để hiểu rõ các công cụ bảo hộ mậu dịch

và toàn bộ chính sách thương mại của một quốc gia

Ví dụ: Một quốc gia đánh thuế khá cao một loại sản phẩm A thì mức giá về sản phẩm

này sẽ tăng lên ở thị trường nội địa và mức sản xuất trong nước về sản phẩm A sẽ tăng lên Song điều đó sẽ gây tác động đến việc sản xuất các sản phẩm khác như B, C, D… ở quốc gia này, vì nguồn lực của quốc gia là có hạn Do đó sẽ ảnh hưởng đến việc chuyên môn hoá theo lợi thế so sánh và làm giảm lợi ích từ thương mại quốc tế Nếu sản phẩm A bị đánh thuế rất cao thì các nhà kinh doanh nước ngoài sẽ không đủ khả năng tiếp tục buôn bán, khi đó thế giới sẽ có nguy cơ quay về tình trạng tự cung tự cấp

Khi một nước nhỏ đánh thuế quan vào sản phẩm nhập khẩu, điều đó không ảnh hưởng đến giá cả thế giới, nhưng giá cả nội địa của sản phẩm đó sẽ tăng lên đúng bằng toàn bộ phần thuế quan đối với các nhà sản xuất và tiêu dùng trong nước

Chúng ta sử dụng mô hình hai quốc gia 1 và 2, với hai sản phẩm X và Y, quốc gia 2 là quốc gia dư thừa tư bản, có lợi thế so sánh về sản xuất sản phẩm Y (sản phẩm thâm dụng tư

Io w

Hình 3.1: Tác động cân bằng tổng quát của thuế quan- Trường hợp nước nhỏ

Trang 40

bản) Giá cả thế giới trong trao đổi hai sản phẩm X và Y ở điều kiện thương mại tự do thịnh hành là Px/Py = 1 (Hình 3.1)

- Giả sử với thương mại tự do, quốc gia 2 sản xuất tại điểm G (140 Y và 40 X) khi đó quốc gia 2 xuất khẩu 60Y để đổi lấy 60X và tiêu dùng tại điểm J (80 Y và 100X) trên đường bàng quan I0 (theo mô hình thương mại với chi phí cơ hội tăng dần)

- Khi đánh thuế quan 100% vào hàng hoá nhập khẩu X, làm giá cả nội địa của sản phẩm X tăng lên gấp đôi, tức Px/Py = 2, trong khi ở thị trường thế giới Px/Py = 1 Ở mức giá cả nội địa mới này (đã bao gồm cả thuế), sản xuất của quốc gia 2 sẽ dịch xuống tại điểm A (90Y

và 60X) Làm cho đường giá cả nội địa dốc hơn đường giá cả thế giới (chi phí cơ hội của X tăng lên)

Tuy nhiên do có lợi thế về sản phẩm Y, mặc dù sản lượng Y đã bị cắt giảm để sản xuất sản phẩm X, quốc gia 2 sẽ xuất khẩu Y theo giá cả thế giới và nhập khẩu X Do giá cả thế giới

là không đổi nên thương mại quốc tế có thể thực hiện dọc theo đường WW song song với đường giá thế giới Pw=1

Giả sử quốc gia xuất khẩu 30Y và nhập khẩu 30X lúc này tiêu dùng sẽ tại điểm C trên đường bàng quan I1 (60Y và 90X) Như vậy thấp hơn điểm J, nên các nước có quy mô nhỏ luôn bị chịu thiệt thòi do hàng rào thuế quan

Quốc gia hai tiêu dùng tại điểm C thì tổng nhập khẩu là BC, trong đó BE được trao đổi bởi xuất khẩu AB ở mức giá nội địa (điểm A và E cùng nằm trên đường giá cả nội địa Pw=2 (với Px/Py = 2), còn EC thuộc về thu nhập của chính phủ do thuế quan

Trên hình tam giác thương mại khi có thuế sẽ là ABC nhỏ hơn tam giác thương mại trước thuế quan là GHJ, do nhập khẩu giảm đi Thuế quan được áp đặt lên nhiều loại hàng hoá, dịch vụ với các mức thuế khác nhau, do đó tác động kinh tế cũng khác nhau Phân tích tác động kinh tế của thuế quan cho thấy thuế quan tạo ra khoảng cách giữa giá cả thế giới và giá cả nội địa Với hàng hoá hoặc dịch vụ nhập khẩu, thuế quan làm cho hàng hoá nhập khẩu trở nên đắt hơn trên thị trường nội địa, và làm cho sản lượng sản xuất nội địa hàng hoá đó tăng lên, giảm chuyên môn hoá và lợi ích thương mại quốc tế ở mức giá cả thế giới hiện tại

Giả sử quốc gia đánh thuế sản phẩm X là 300%, tức làm cho Px/Py = 4, quốc gia 2 sẽ trở về điểm sản xuất và tiêu dùng F, tức điểm tự cung tự cấp Với mức thuế này sẽ thủ tiêu luôn mậu dịch quốc tế Thuế như vậy người ta gọi là thuế quan ngăn cấm

* Sự thiệt hại lợi ích do đánh thuế bao gồm

- Trên góc độ sản xuất và tiêu dùng:

Đối với một quốc gia nhỏ, khi đánh thuế nhập khẩu làm cho giá cả trong nước cao hơn, người tiêu dùng phải trả giá cao hơn, mức độ thoả dụng giảm đi Về sản xuất làm cho tỷ

lệ chuyển đổi cận biên giữa các loại hàng hoá bị bóp méo, người sản xuất phải chi phí cơ hội

Ngày đăng: 24/03/2015, 17:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Lợi thế so sánh của Mỹ và Anh trong sản xuất Lúa mỳ và vải - BÀI GIẢNG HỌC PHẦN  KINH TẾ QUỐC TẾ
Bảng 2.2 Lợi thế so sánh của Mỹ và Anh trong sản xuất Lúa mỳ và vải (Trang 20)
Bảng 2.5: Trường hợp lợi thế “cân bằng” - BÀI GIẢNG HỌC PHẦN  KINH TẾ QUỐC TẾ
Bảng 2.5 Trường hợp lợi thế “cân bằng” (Trang 22)
Hình 3.1: Tác động cân bằng tổng quát của thuế quan- Trường hợp nước nhỏ - BÀI GIẢNG HỌC PHẦN  KINH TẾ QUỐC TẾ
Hình 3.1 Tác động cân bằng tổng quát của thuế quan- Trường hợp nước nhỏ (Trang 39)
Hình 3.3: Ảnh hưởng của thuế quan nhập khẩu - BÀI GIẢNG HỌC PHẦN  KINH TẾ QUỐC TẾ
Hình 3.3 Ảnh hưởng của thuế quan nhập khẩu (Trang 42)
Hình 3.4: Ảnh hưởng phúc lợi của thuế quan nhập khẩu - BÀI GIẢNG HỌC PHẦN  KINH TẾ QUỐC TẾ
Hình 3.4 Ảnh hưởng phúc lợi của thuế quan nhập khẩu (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w