1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá mối quan hệ tương quan giữa ERPT, chỉ số giá sản xuất (MPI) và chỉ số giá bán lẻ (RPI)

42 367 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 684,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở CROATIA MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU • Bài nghiên cứu này nhằm làm rõ khái niệm truyền dẫn tỷ giá hối đoái ERPT vàảnh hưởng truyền dẫn của tỷ

Trang 2

DANH SÁCH NHÓM 3



STT Họ và tên (Dịch bài + Tổng hợp phần dịch) Phân công công việc Đánh giá

1 Đinh Thế Dũng Phần V A/ A Recursive Approach Tốt

2 Vũ Đức Long Phần V.B/ A CointegrationApproach Tốt

3 Ngô Thị Thu Ngân VI – ConclusionPhần 5: Liên hệ thực tế tại Việt Nam Tốt

5 Dương Thị Thanh Thảo When the exchange rate "noise to

6 Nguyễn Thị Kim Uyên Introduction - Table 1Phần 5: Liên hệ thực tế tại Việt Nam Tốt

7 Huỳnh Thúy Vy : V - Data issue IV & C/Stationarity at all levels Tốt

Trang 3

TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở CROATIA



MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

• Bài nghiên cứu này nhằm làm rõ khái niệm truyền dẫn tỷ giá hối đoái (ERPT) vàảnh hưởng truyền dẫn của tỷ giá hối đoái đến lạm phát và chỉ số giá cả nội địacủa Croatia

• Đánh giá mối quan hệ tương quan giữa ERPT, chỉ số giá sản xuất (MPI) và chỉ số giábán lẻ (RPI)

• Từ những phân tích thực nghiệm về mức độ ảnh hưởng truyền dẫn của tỷ giá hốiđoái ở Croatia phân tích tác động truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến chính sách tiền

tệ ở Croatia

• Bài nghiên cứu còn đề cập đến sự ảnh hưởng truyền dẫn của tỷ giá hối đoái đến lạmphát và chỉ số giá ở Việt Nam

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

• Mối tương quan giữa những biến đổi trong tỷ giá hối đoái và sự biến đổi trong chỉ sốgiá sản xuất (MPI) và chỉ số giá bán lẻ (RPI)

• Tác động của truyền dẫn tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng như thế nào đến lạm phát vàchính sách tiền tệ của Croatia

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Sử dụng hai phương pháp định lượng:

- Phương pháp tiếp cận hồi quy: Sử dụng mô hình VAR, sử dụng kiểm định số nhân

Larange, kiểm định thuyết nhân quả Granger để kiểm định mối tương quan giữa sựbiến động của tỷ giá, giá cả nhập khẩu và sự biến động của chỉ số RPI, chỉ số MPI,khoảng cách sản lượng đầu ra, giá cả nguyên liệu thô…

- Phương pháp tiếp cận đồng liên kết: Sử dụng mô hình hồi quy VAR đồng liên kết để

kiểm định mối tương quan dài hạn giữa sự thay đổi tỷ giá và sự thay đổi của chỉ sốRPI và MPI

Trang 4

CẤU TRÚC TỔNG QUÁT

• Tìm hiểu khái niệm truyền dẫn tỷ giá hối đoái, tình trạng đô la hóa, tổng quan vềchính sách tiền tệ ở Crotia

• Tìm hiểu một vài nghiên cứu trước đây về truyền dẫn tỷ giá hối đoái

• Kiểm định mức độ ảnh hưởng truyền dẫn của tỷ giá hối đoái đến lạm phát, chỉ số giá

cả ở Croatia trong ngắn và dài hạn

• Từ kết quả nghiên cứu, kết luận về những ảnh hưởng của truyền dẫn tỷ giá hối đoáiđến hiệu quả của chính sách tiền tệ ở Croatia

• Liên hệ các bằng chứng thực nghiệm ở Việt Nam về sự ảnh hưởng của truyền dẫn tỷgiá hối đoái và chính sách tiền tệ

Trang 5

PHẦN 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

1. Khái niệm truyền dẫn của tỷ giá hối đoái

Có nhiều khái niệm về truyền dẫn tỷ giá hối đoái ERPT (Exchange Rate Through) từ các nhà kinh tế bởi góc độ nghiên cứu của họ khác nhau.

Pass-Theo Goldberg và Knetter (1997) thì truyền dẫn tỷ giá hối đoái là phần trămthay đổi trong giá nhập khẩu do 1% thay đổi tỷ giá hối đoái danh nghĩa gây ra

Mc.Carthy, J (2000) thì xem xét dưới góc độ là mức chuyển của tỷ giá và giánhập khẩu đến giá cả sản xuất nội địa PPI và giá tiêu dùng CPI

Theo các nghiên cứu của Lian (2006) và Nkunde Mwase (2006), khái niệm vềtruyền dẫn tỷ giá hối đoái được hiểu rộng hơn, đó là mức chuyển của cú sốc tỷ giá vàotrong các chỉ số giá, bao gồm chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá sản xuất và chỉ số giátiêu dùng, được sử dụng rộng rãi trong bài nghiên cứu của các tác giả ở nhóm nướcđang phát triển Trong bài nghiên cứu này, chúng ta sẽ sử dụng góc độ nghiên cứu này

để tìm hiểu về ERPT

Vậy: truyền dẫn tỷ giá hối đoái (ERPT) được hiểu là mức % thay đổi chỉ số giá

trong nước tính bằng đồng tiền của nước nhập khẩu khi TGHĐ danh nghĩa thay đổi 1%

2. Cơ chế truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến lạm phát

Câu hỏi được đặt ra là tại sao tỷ giá có thể tác động đến giá trong nước của mộtquốc gia? Năm 1953 Milton Friedman đã lập luận rằng cơ chế tỷ giá thả nổi có thểlàm thay đổi nhanh chóng giá tương đối giữa các quốc gia: “Tăng tỷ giá làm giá hànghóa nước ngoài trở nên rẻ hơn khi tính bằng nội tệ, ngay cả khi giá của chúng tínhbằng ngoại tệ không thay đổi, và hàng hóa trong nước trở nên đắt hơn khi tính bằngngoại tệ, ngay cả khi giá của chúng không thay đổi nếu tính bằng nội tệ Điều này làmtăng nhập khẩu và giảm xuất khẩu”

Trong học thuyết Goldberg và Knetter (1997) đã chỉ ra rẳng sự thay đổi trong

tỷ giá hối đoái có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ lạm phát qua các chỉ số giá theo hai kênh làtrực tiếp và gián tiếp

Trang 7

Tác động trực tiếp Tác động gián tiếp

Đầu vào nhập khẩu đắt hơnHàng hóa nhập khẩu đắt hơnNhu cầu nội địa cho các hàng hóa thay thếNhu cầu xuất khẩu tăng

Chi phí sản xuất tăng

Hàng hóa thay thế vào hàng hóa xuất khẩu trở nên đắt hơnNhu cầu lao động tăng

Giá tiêu dùng tăng

Tiền lương tăng

Nguồn: Felix P.Hufner và Michael Schroder (2002)

- Kênh truyền dẫn trực tiếp: khi một cú sốc trong tỷ giá làm mất giá đồng nội

tệ, nghĩa là tỷ giá tăng Điều này khiến giá cả hàng hóa nhập khẩu trở nên mắc hơn, tức

ảnh hưởng đến chỉ số giá nhập khẩu Nếu hàng hóa đó được dùng cho mục đích tiêu

dùng cuối cùng, giá nhập khẩu sẽ ảnh hưởng lên chỉ số giá tiêu dùng; hoặc nếu hàng

hóa nhập khẩu là nguyên nhiên vật liệu dùng cho quá trình sản xuất, sẽ khiến chi phí

sản xuất tăng cao và như một hệ quả đẩy giá tiêu dùng tăng, gây ra áp lực lạm phát

- Kênh truyền dẫn gián tiếp: khi có sự mất giá của đồng nội tệ, sẽ khiến hàng

hóa trong nước rẻ hơn, dẫn đến cầu xuất khẩu của quốc gia tăng Điều này sẽ gây ra

một gia tăng trong cầu lao động, tiền lương và sau đó là tổng cầu, như một hệ quả, có

thể khiến lạm phát tăng Tuy nhiên, ảnh hưởng này chỉ có thể diễn ra trong dài hạn, vì

tính chất cứng nhắc của giá cả trong ngắn hạn Bên cạnh đó, tình trạng đô la hóa ngày

càng tăng trong nền kinh tế có thể là một nhân tố làm khuếch đại hiệu ứng truyền dẫn

gián tiếp này Một khi tỷ giá biến động tăng, đồng nội tệ mất giá sẽ khiến cho giá cả

các tài sản được định giá bằng đồng ngoại tệ (như bất động sản, hàng hóa xa xỉ như ô

tô…) sẽ tăng lên Và đây là nguyên nhân khiến giá cả tiêu dùng tăng

Ngoài ra, các quyết định về FDI cũng có thể gây ra tác động truyền dẫn của tỷ

giá hối đoái: Khi đồng nội tệ của một nước giảm mạnh làm cho cầu của hàng hóa

nhập khẩu giảm và giảm mạnh tiền lương danh nghĩa tính bằng ngoại tệ Điều này làm

cho các tập đoàn xuyên quốc gia đã mở chi nhánh và dịch chuyển cơ sở sản xuất vào

nước nội địa Tăng trưởng sản xuất làm tăng cầu lao động và tăng tiền lương, khiến

Trang 8

cho sản xuất hàng hóa nội địa thay thế hàng nhập khẩu tăng thông qua FDI Kết quảlàm cho giá tiêu dùng bị đẩy lên cao.

3. Truyền dẫn tỷ giá hối đoái hoàn toàn và truyền dẫn tỷ giá hối đoái không hoàn toàn

Truyền dẫn tỷ giá hối đoái hoàn toàn (hệ số truyền dẫn bằng 1): nghĩa là khi tỷ giáthay đổi 1%, thì lạm phát thay đổi đúng bằng 1%

Truyền dẫn tỷ giá hối đoái không hoàn toàn (hệ số truyền dẫn nhỏ hơn 1): nghĩa là

tỷ giá thay đổi 1% thì tỷ lệ lạm phát thay đổi ít hơn 1%

4. Những nhân tố ảnh hưởng đến mức truyền dẫn tỷ giá vào lạm phát

Có nhiều nhân tố quan trọng khác nhau – cả vĩ mô và vi mô – quyết định mứctruyền dẫn tỷ giá hối đoái Theo bài nghiên cứu của Lian, An (2006):

Các nhân tố vi mô bao gồm:

 Việc định giá theo thị trường và điều chỉnh tăng giá (phần thêm vào giá vốn gồm chiphí và lãi)

 Những đặc tính phân khúc thị trường như vận tải và chi phí phân phối, rào cản phithuế quan và vai trò của các công ty đa quốc gia

 Mức độ lợi tức theo quy mô (Là tỷ lệ mà theo đó sản lượng thay đổi khi số lượng củatất cả các đầu vào thay đổi.)

 Tính co giãn cầu của hàng hóa nhập khẩu

Các nhân tố vĩ mô bao gồm:

 Mức độ lạm phát và tính kéo dài của những biến động tỷ giá

 Môi trường chính sách tiền tệ

 Quy mô và độ mở của nền kinh tế

5. Hiện tượng đô la hóa

Đô la hóa là: tình trạng ngoại tệ được sử dụng rộng rãi thay thế cho đồng bản tệtrong toàn bộ hoặc một số chức năng tiền tệ

Trang 9

Đô la hóa là 1 thuật ngữ kinh tế diễn tả tình trạng lượng tiền gửi bằng ngoại tệchiếm 30% trong tổng số lượng tiền tệ mở rộng bao gồm: Tiền mặt trong lưu thông,tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi ngoại tệ

Tại sao lại xảy ra tình trạng đôla hoá?

Lo ngại bất ổn về kinh tế vĩ mô, quản lý của chính phủ, quyền với bất động sản,

hệ thống pháp lý người dân đổ xô đi mua các loại hình dự trữ tích luỹ khác Để giữ giátrị tài sản, người dân thường quy đổi bằng vàng hoặc đô la vì cơ bản 2 loại hình tiền tệnày có tính ổn định cao Thêm vào đó việc đồng nội tệ mất giá đã làm tăng lạm phát;giá cả của tất cả các mặt hàng tăng cao làm khuyếch đại tác hại của việc đôla hóa

Đô la hóa được phân ra làm 3 loại như sau:

- Đô la hóa không chính thức: là trường hợp đồng đô la được sử dụng rộng rãi

trong nền kinh tế, mặc dù không được quốc gia đó chính thức thừa nhận Ở nhữngnước có nền kinh tế bị đô la hóa không chính thức, phần lớn người dân đã quen vớiviệc sử dụng đồng đô la nhưng Chính phủ vẫn cấm niêm yết giá hàng hóa bằng dollar,cấm dùng đô la đối với hầu hết giao dịch trong nước

- Đô la hóa bán chính thức hay còn gọi là đô la hóa từng phần là tình trạng

đồng đô la được sử dụng như một đơn vị kế toán, phương tiện trao đổi, dự trữ giá trị

và phương tiện thanh toán trong khi đồng nội tệ vẫn tồn tại và lưu thông Đồng đô la

có chức năng như một đồng tiền hợp pháp thứ hai của nền kinh tế Các nước ở tìnhtrạng này vẫn duy trì một NHTW để thực hiện chính sách tiền tệ của họ

- Đô la hóa chính thức hay còn gọi là đô la hóa hoàn toàn xảy ra khi đồng

ngoại tệ là đồng tiền hợp pháp duy nhất được lưu hành Nghĩa là đồng ngoại tệ khôngchỉ được sẻ dụng hợp pháp trong các hợp đồng giữa các bên tư nhân mà còn hợp pháptrong các khoản thanh toán của Chính phủ Nếu đồng nội tệ còn tồn tại thì nó chỉ cóvai trò thứ yếu và thường chỉ là đồng tiền xu hay các đồng tiền mệnh giá nhỏ

Thông thường, các nước chỉ áp dụng đô la hóa chính thức khi đã thất bại trong việc thực thi các chương trình ổn định kinh tế

PHẦN 2: TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG TRUYỀN DẪN

TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở CROATIA

Trang 10

1. Tổng quan về Croatia

Lịch sử hình thành của Croatia

Croatia tên chính thức Cộng hoà Croatia là một quốc gia ở Đông Nam Âu.Nước này có hình dáng giống một vành trăng lưỡi liềm hay một chiếc yên ngựa, Lãnhthổ lục địa của nó được chia thành hai phần không liền nhau chia cắt bởi đoạn bờ biểnngắn của Bosnia và Herzegovina quanh Neum Thủ đô (và thành phố lớn nhất) nướcnày là Zagreb Croatia giáp biên giới với Slovenia và Hungary ở phía bắc, Bosnia vàHerzegovina ở phía đông nam và Serbia và Montenegro ở phía đông

Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, Ngày 25 tháng 6 năm 1991, Croatia tuyên

bố độc lập và trở thành một quốc gia có chủ quyền

Croatia định hướng theo một nền kinh tế thị trường, là quốc gia có thu nhậpcao và là một thành viên của Liên hiệp quốc, Hội đồng châu Âu, Tổ chức An ninh vàHợp tác châu Âu, NATO, Tổ chức Thương mại Thế giới, CEFTA và là một thànhviên được bầu của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc cho nhiệm kỳ năm 2008–09.Nước này cũng là một thành viên của liên minh Châu Âu vào ngày 01-07-2013 và làmột thành viên sáng lập của liên minh Địa Trung Hải khi nó được thành lập năm2008

Chính sách tiền tệ ở Croatia

Chính sách tiền tệ (CSTT) ở Croatia đã rất thành công trong việc cắt giảm lạmphát bằng cách sử dụng tỷ giá hối đoái (TGHĐ) như một cái neo danh nghĩa Chính sáchnày, có thể được xem như là “một mục tiêu TGHĐ nghiêm ngặt”, đặc trưng bởi mứcdịch chuyển rất thấp của TGHĐ và dấu ấn tích cực của ngân hàng trung ương (NHTW)đến thị trường ngoại hối Mục tiêu TGHĐ nghiêm ngặt đã rất thành công trong cuối thời

kỳ siêu lạm phát và ổn định nền kinh tế vào giữa thập niên 1990 và mang lại tỷ lệ lạmphát thấp trong suốt giai đoạn sau chiến tranh vào đầu những năm 1990

Luật mới của Ngân hàng quốc gia Croatia (CNB), xác định rõ ràng sự ổn địnhgiá cả là một mục tiêu cơ bản của CSTT, giảm đi sự chú trọng vào TGHĐ Việc tự dohóa tài khoản vốn được đòi hỏi như là một phần của tiến trình hội nhập liên minh châu

Âu (EU) đang kiểm nghiệm khả năng của CNB trong việc duy trì kiểm soát chặt chẽTGHĐ Sự phát triển của thị trường tài chính cung cấp những công cụ chính sách mới,

Trang 11

và tiến trình giảm dần vai trò của dự trữ bắt buộc đã mở ra những cơ hội mới cho việcvận hành một thị trường mở theo một cách năng động hơn cho CNB Vì vậy, thật hợp

lý để mong đợi rằng sự dao động TGHĐ sẽ trở nên dứt khoát hơn trong tương lai vàCNB sẽ có khả năng chịu đựng tốt hơn trước những biến động này

Bên cạnh đó, chuyển biến trong hướng đi này sẽ mang lại lợi ích cho việc hiểubiết nhiều hơn về cơ chế truyền dẫn, về cách thức mà TGHĐ truyền dẫn đến tỷ lệ lạmphát nội địa Sự đánh giá cao hay thấp TGHĐ tạo ra một tác động trực tiếp lên lạmphát bằng việc thay đổi mức giá giao dịch thương mại bằng đồng tiền nội địa Bằngcách thay đổi giá tương đối của hàng hóa trong nước và nước ngoài, TGHĐ cũng ảnhhưởng gián tiếp đến lạm phát thông qua những thay đổi trong hoạt động kinh tế.Những nền kinh tế mở, nhỏ vốn phải chấp nhận giá trên thị trường thế giới trông chờnhững biến động trong TGHĐ để đưa vào mức giá trong nước, mức giá ở những giaiđoạn khác nhau của quy trình sản xuất chịu những ảnh hưởng khác nhau Trong điềukiện các yếu tố khác không đổi, giá cả nhập khẩu sẽ biến động theo tỷ lệ một - mộtvới TGHĐ, do bị chi phối bởi quy luật một giá Khi những yếu tố đầu vào khác đượcthêm vào, thước đo của mức giá tương ứng sẽ phản ánh tầm quan trọng của nhập khẩutrong tiến trình sản xuất Tuy nhiên, tác động truyền dẫn ước tính có thể đi chệch khỏitiêu chuẩn này vì một vài lý do Mức giá mục tiêu trên thị trường ngoại hối có thểkhiến cho truyền dẫn trở về mức 0 Sự tồn tại của chi phí thực đơn kết hợp với sự điềuchỉnh giá đảm bảo rằng sự nhiễu giá trong TGHĐ sẽ không được phản ánh trong sựthay đổi của mức giá khi nó ổn định và nhỏ tương đối trong một ngưỡng nào đó Mức

kỳ vọng và những dạng khác nhau của chỉ số có thể ảnh hưởng lớn đến quả cuối cùng

Tuy nhiên, TGHĐ có thể ảnh hưởng đến lạm phát thông qua nhiều kênh,những bằng chứng thực nghiệm sẵn có từ các nền kinh tế còn hạn chế cho đến c á c

n ề n k i n h t ế phát triển, đã chỉ ra tác động dẫn truyền l à thấp và giảm dần(McCathy 2000) Hiệu ứng này dường như là nội sinh trong các cơ chế khác nhau và

có xu hướng nhỏ dần khi lạm phát thấp, xác nhận một cách gián tiếp tầm quan trọngcủa kỳ vọng trong cơ chế lan truyền (Chouri and Hakura 2001) Các bằng chứng vềtác động lan truyền thấp dường như không kéo dài ở những nền kinh tế đang ở giaiđoạn chuyển tiếp (Ross 1998; Kuijs 2001); điều này có thể là do sự thiếu tín nhiệm

Trang 12

của các nhà chức trách về tiền tệ và những nhân tố cấu trúc, chẳng hạn như đặc tínhchấp nhận giá của những doanh nghiệp nội địa trên thị trường quốc tế Một số đặctrưng của nền kinh tế Croatia dường như ảnh hưởng đến cường độ của tác động dẫntruyền Croatia tạo thành một trường hợp trung gian có thể so sánh với các Quốcgia đang chuyển tiếp trong thời kỳ mở cửa Quan trọng hơn, Croatia là một nước màtình trạng Dollar hoá trong nền kinh tế rất mạnh, với sự thay thế tài sản trên diệnrộng Chính điều này sẽ giải thích cho một tác động truyền dẫn lớn.

2. Nỗi lo sợ về việc thả nổi và tình trạng dollar hoá

Hầu hết những nền kinh tế thị trường mới nổi đều cho thấy một triệu chứng màClavo và Reinhart (2000) đã gọi là “nỗi lo sợ thả nổi” Do tác động mạnh mẽ của tỷgiá mậu dịch và lạm phát kỳ vọng, NHTW ở các nền kinh tế nhỏ, mở khó có thể thờ ơtrước những biến động của chúng Trong nền kinh tế thị trường mới nổi, những mối longại này thường đi kèm với rủi ro cao về việc không có bảo hiểm tỷ giá - điều này làmcho hệ thống tài chính có thể bị lung lay trước những biến động của TGHĐ Kết quả

là NHTW ở những nền kinh tế này nói chung cảm thấy không thoải mái với sự biếnđộng của TGHĐ và can thiệp thường xuyên vào tỷ giá để bình ổn Mặc dù vậy, không

có một cột mốc rõ ràng nào và NHTW buộc phải cho tỷ giá của họ “thả nổi”, nhưngvẫn có thể có những sự can thiệp đáng kể và do đó, tỷ giá tương đối thiếu linh hoạt

Croatia là một ví dụ điển hình về nỗi lo sợ thả nổi TGHĐ Chính sách của CNB

để giải quyết vấn đề siêu lạm phát thời kì chiến tranh trong những năm đầu thập niên

90 là cột chặt tỷ giá với đồng Mark Đức Sau khi sự ổn định đạt được năm 1994,CSTT vẫn được điều khiển bằng sự chú trọng mạnh đến TGHĐ Khả năng chịu đựngcủa CNB trước những biến động về tỷ giá là tương đối thấp và những can thiệp là khámáy móc Về điểm này, thật thú vị để so sánh Croatia với những nền kinh tế đangchuyển tiếp khác, với sự sắp đặt TGHĐ tương tự, tất cả các nước CH Séc, Slovakia,Slovenia, Romania đều giống Croatia: “thả nổi có quản lí” theo sơ đồ phân loại củaIMF_ và một neo lỏng TGHĐ giống như Hungary Trong khi 3 nước sau (Slovenia,Romania, Hungary) có lịch sử sụt giảm giá liên tục kể từ năm 1994; Đồng tiền Croatia

có nét tương đồng với đồng tiền của CH Séc và Slovakia: đó là tương đối ổn định quathời gian, và trong nhóm những nước này, những biến động của tỷ giá là khá phẳng

Trang 13

lặng (Dữ liệu 1) Sự ấn tượng trực quan này được xác định bằng phương pháp đolường biến động của TGHĐ được trình bày ở Bảng 1 Trong đó Croatia có tỷ giá biếnđộng kém linh hoạt nhất Trong giai đoạn tháng 1/1994 đến tháng 7/2001, phần trămthay đổi hàng tháng trong tỷ giá đồng Kuna/DM vượt quá biên độ 2,5% một khoảngnhỏ là 1.1 %, thấp hơn nhiều so với các đồng tiền khác trong mẫu.

Hình 1: Tỷ giá DM ở một số quốc gia, 1994-2001 (trung bình theo tháng)

Khi cố định tỷ giá hối đoái, những cú sốc về cầu tiền và kỳ vọng sẽ được điềutiết bởi NHTW thông qua việc mua hoặc bán dự trữ ngoại hối Vì vậy, đối với một cúsốc cho trước, sự biến động của dự trữ ngoại hối và cơ sở tiền luôn tỉ lệ nghịch với sựlinh hoạt của TGHĐ Bảng 1 cho thấy dự trữ ngoại hối và cơ sở tiền ở Croatia là bất

ổn nhất trong nhóm các loại tiền tệ "ổn định", điều này cho thấy sự thiếu linh hoạttương đối trong tỷ giá đồng kuna/DM trên thực tế có thể là kết quả của một chính sách

có chủ đích của CNB Khả năng chịu đựng thấp trước biến động của TGHĐ, và hệquả của biến động trong cơ sở tiền, sẽ được phản ánh trong tỷ lệ lạm phát Thực tế,biến động trong tỷ lệ lạm phát xuất hiện tương đối cao ở cộng hòa Séc và Slovakia,

Trang 14

trong khi tỷ giá hối đoái ổn định và chính sách thắt chặt tiền tệ đã dẫn tới tỷ lệ lạmphát thấp ở Croatia.

Điều gì làm người ta lo sợ về việc thả nổi tỷ giá? Điều quan trọng nhất là mối

lo ngại về hậu quả của đô la hóa, tình trạng này là phổ biến ở Croatia Tiền gửi ngoại

tệ chiếm hơn 60% trong lượng tiền mở rộng, một tỷ lệ lớn hơn rất nhiều so với phầncòn lại của mẫu (Hình 2) Nguồn căn của hiện tượng này xảy ra vào đầu những năm

90 ở Croatia và nước láng giềng Slovenia Trên thực tế, mức độ đô la hóa của cả 2nước là tương đối lớn vào năm 1994, khi ngoại tệ cũng được sử dụng như một phươngtiện thanh toán Tình trạng này đã sớm diễn ra ở Slovenia và có một sự gián đoạntương đối nhỏ Chiến tranh ở Croatia kéo dài cho đến năm 1995 và kèm theo là sự bất

ổn kinh tế trầm trọng và hiện tượng siêu lạm phát Ngay cả sau khi đạt được sự ổnđịnh trong kinh tế vĩ mô vào năm 1994, tình trạng đô la hóa vẫn tiếp diễn đến năm

1998, và kể từ đó thì nó cũng không có bất cứ sự sụt giảm đáng kể nào

Trang 15

Hình 2: Tình trạng dollar hóa ở một số quốc gia, 1994 - 2001

Trong tình huống này, bất kỳ chính sách tiền tệ độc lập nào cũng phải đối mặtvới những rủi ro nghiêm trọng từ sự bất ổn tài chính và mức độ hiệu quả của nó trongkiểm soát lạm phát có thể sẽ bị hạn chế nghiêm trọng Một sự thay đổi đột ngột trong

tỷ giá hối đoái có thể phá vỡ bảng cân đối kế toán của các công ty và cá nhân, làm giatăng nợ xấu và gây nguy hiểm cho sự ổn định của hệ thống ngân hàng Hơn nữa, tácđộng của chính sách thắt chặt tiền tệ có thể bị suy yếu nếu sự đánh giá tỷ giá hối đoáigiúp cải thiện tình hình tài chính của người dân với một tỷ lệ nợ ngoại tệ cao Trongtrường hợp xấu nhất khi “thực sự bị đô la hóa” ("đô la hóa hoàn toàn"), giá cả và tiềnlương được thiết lập bằng ngoại tệ, chính sách tiền tệ trở nên hoàn toàn mất hiệu quả

và chỉ còn duy nhất một chiến lược có thể thực hiện là hướng tới mục tiêu TGHĐ (Ize

và tiền Yeyati, 2001)

Ngày nay, tình trạng đô la hóa ở Croatia chủ yếu được thúc đẩy từ sự thay thếtài sản, vì dân chúng duy trì một tỷ lệ tiền tiết kiệm bằng ngoại tệ lớn và các ngânhàng cung cấp cả các khoản cho vay bằng ngoại tệ và lập chỉ mục bằng ngoại tệ Quan

Trang 16

sát ngẫu nhiên cho thấy nhiều loại giá cả, chủ yếu là bất động sản và hàng tiêu dùnglâu bền, là một vài loại tài sản được tính theo giá ngoại tệ Điều này sẽ giúp giải thíchcho một hệ số truyền dẫn lớn.

Trang 17

PHẦN 3: CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và mức giá cả đã thu hút sự chú ý đáng kể kề

từ khi hệ thống Bretton Woods sự sụp đổ Dưới hệ thống Bretton Woods, các NHTWcủa các nước trừ Hoa Kỳ phải có nhiệm vụ duy trì TGHĐ cố định giữa các đồng tiềncủa họ với đồng đôla Họ làm điều này bằng việc can thiệp vào các thị trường ngoạihối Nếu đồng tiền của một nước quá cao so với đồng đôla thì NHTW của nước đócần phải bán tiền của mình để đổi lấy đôla, đẩy giá trị của đồng tiền đó xuống Ngượclại, nếu giá trị đồng tiền của một nước quá thấp thì nước đó cần phải mua vào tiền củachính mình, do vậy sẽ đẩy giá của đồng tiền đó lên Có rất ít bài viết phân tích cơ chếtruyền dẫn hoàn toàn, chẳng hạn, tác động của tỷ giá lên các loại giá nội địa khác nhau

- đo lường theo các phân đoạn khác nhau của dây chuyền sản xuất (bao gồm giá xuấtkhẩu/nhập khẩu và chỉ số giá tiêu dùng) Thay vào đó, hầu hết các nghiên cứu tậptrung vào phân đoạn cụ thể, chẳng hạn như cơ chế truyền dẫn tỷ giá hối đoái (ERPT)trong nhập khẩu/xuất khẩu, hoặc đồng bộ hóa việc đo lường các mức giá cả khácnhau

Nghiên cứu tại các nước phát triển

Mc Carthy (2000) tiến hành phân tích những khác biệt về cơ chế truyền dẫn tỷ

giá hối đoái giữa các nước và những biến động của cơ chế truyền dẫn tỷ giá này theothời gian Tác giả đi sâu phân tích trong mô hình VAR ổn định (kết hợp một đệ quychuỗi phân phối theo giá) tác động của sự thay đổi tỷ giá hối đoái và giá nhập khẩulên giá sản xuất và tiêu dùng Dựa trên cơ sở dữ liệu quý trong giai đoạn từ 1976 đến

1998 và kiểm định mẫu của 9 quốc gia phát triển (Mỹ, Nhật Bản, Đức, Pháp, Anh, Bỉ,

Hà Lan, Thụy Điển và Thụy Sỹ), ông thấy rằng tác động của tỷ giá hối đoái phần nào

bị giới hạn và không ảnh hưởng đối với giá tiêu dùng trong khi giá nhập khẩu có ảnhhưởng mạnh hơn

Murgasova (1996) áp dụng phương pháp ước lượng khả năng tối đa Johansen

(ML) để phân tích những tác động của sự phá giá đồng Pesata Tây Ban Nha trongcuộc khủng hoảng đồng tiền châu Âu (ERM) 1992-93 Tác giả tìm thấy một truyềndẫn hoàn toàn tới giá nhập khẩu nhưng chỉ có 10% truyền dẫn tới CPL Tốc độ truyềndẫn thấp được giải thích do được bù đắp bởi tính chu kỳ của nền kinh tế

Trang 18

Kim (1998) đưa ra bằng chứng ở Mỹ để ủng hộ một mối quan hệ nhân quả

chạy từ tỷ giá hối đoái đến giá cả trong 1 mô hình VAR đồng liên kết Ông nhận thấy

hệ số truyền dẫn tỷ giá dài hạn đạt 0.24, nhưng không đề cập đến vấn đề điều chỉnhtrong ngắn hạn

Dellmo (1996) tập trung vào mối quan hệ giữa việc đo lường các mức giá cả ở

Thụy Điển trong khung I(1), bao gồm các yếu tố có thể làm hạn chế những khía cạnhtương tự, chẳng hạn như sự thay đổi tỷ suất lợi nhuận biên và năng suất

Juselius (1999) phân tích mức độ hội tụ giá trong khung I chính thức(2).

Nghiên cứu ở thị trường mới nổi

Ross (1998) đưa ra nhận định về Slovenia, bằng việc sử dụng một mô hình đệ

quy của nền kinh tế để phân tích

Nghiên cứu giải thích tại sao ERPT không hoàn toàn

Goldberg và Knetter (1997) đã nghiên cứu tài liệu về cơ chế truyền dẫn tỷ giá

đối với giá nhập khẩu Và câu hỏi quan trọng phát sinh trong bối cảnh này là tại sao

cơ chế truyền dẫn không hoàn toàn

Dornbusch (1987) và Krugman (1987) cho thấy sự truyền dẫn nhỏ hơn tỉ lệ

1-1 có thể được giải thích bởi môi trường cạnh tranh không hoàn hảo, hoặc "định giátheo giá thị trường" Theo đó trong thị trường cạnh tranh không hoàn hảo sẽ có cáchình thức độc quyền và người bán hoặc người mua có tác động đáng kể lên giá cả thịtrường Nhà sản xuất nước ngoài điều chỉnh tăng giá để duy trì một thị phần ổn địnhtrong nền kinh tế nội địa Hành vi chiến lược này có thể là nguồn căn điều khiển tỷ lệtruyền dẫn tiến về 0

Gosh và Wolf (2001) cho thấy rằng truyền dẫn không hoàn toàn trong ngắn

hạn cũng có thể phát sinh từ chi phí thực đơn Vài bài nghiên cứu cũng xem xét mộtmẫu với số lượng các quốc gia lớn hơn Giả dụ có một cú sốc dẫn tới mất cân đối giữatổng cung và tổng cầu khiến cho mức giá chung của nền kinh tế tăng lên, nghĩa là lạmphát Trong ngắn hạn, mức tăng giá là không lớn Nhưng việc sửa lại (in ấn, phân phátlại, ) các thực đơn, các báo giá để phản ánh sự tăng giá cả nhỏ nói trên lại không

Trang 19

nhỏ Các doanh nghiệp phải chịu chi phí lớn hơn những lợi ích mà họ thu được nếutăng giá bán sản phẩm của mình Vì vậy, các doanh nghiệp có xu hướng trong ngắnhạn sẽ không thay đổi giá cả Và vì vậy, họ cũng không thay đổi mức tiền công trả cholao động và cũng không thay đổi số lao động trong doanh nghiệp của mình

Nghiên cứu vai trò của Chính sách tiền tệ và ERPT

Clark (1999) xem xét phản ứng giá cả ở các giai đoạn sản xuất khác nhau

trong bối cảnh khác nhau, cụ thể là những phản ứng với một cú sốc chính sách tiền tệtrong nước

Kuijs (2001) phân tích việc truyền tải chính sách tiền tệ ở Slovakia bằng việc

sử dụng mô hình VAR đồng liên kết

Nghiên cứu mức độ mở cửa của thương mại và ERPT

Theo Goldfajn và Werlang (2000) - đưa ra khung lý thuyết rằng yếu tố chính

quyết định mức độ truyền dẫn là chu kỳ của nền kinh tế, sự đánh giá quá cao hay quáthấp tỷ lệ lạm phát lúc đầu, và mức độ mở cửa của nền kinh tế Họ cũng thấy rằngtruyền dẫn tỷ giá đạt đỉnh sau 12 tháng

Trang 20

PHẦN 4: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ

Dữ liệu của bài nghiên cứu là chuỗi thời gian hàng tháng được lấy từ nguồn

dữ liệu IFS của IMF hoặc được cung cấp bởi CNB Mặc dù các quan sát thường bắtđầu từ tháng 1- 1992, nhưng mẫu quan sát này sẽ được giới hạn bắt đầu từ tháng 1-

1994 do sự ổn định chỉ đat được vào cuối năm 1993 Các quan sát cho M4 bắtđầu từ tháng 6-1994 Thời k ỳ ước lượng bị giới hạn bởi các chỉ số giá nguyênnhiên liệu thô sẵn có kết thúc vào cuối tháng 1-2001 Trong mục này, đầu tiênchúng ta sẽ làm nổi bật các lập luận ước lượng cố định liên quan đến tác động dẫntruyền của tỷ giá vào lạm phát ở Croatia Sau đó, chúng ta sẽ chuyển sang nhữngvấn đề của tính dừng Hầu hết các chuỗi thời gian bên dưới được sử dụng làkhông dừng (ở các mức ý nghĩa khác nhau) Cuối cùng các vấn đề của quan hệnhân quả sẽ được thảo luận

1 Mô tả dữ liệu:

Trong biểu đồ 3 và A1 chúng ta đưa ra bằng chứng sơ bộ cho giả định hồiquy Biểu đồ 1 thể hiện chuỗi thời gian (dưới dạng logarit) của tỷ giá hối đoái bìnhquân hàng tháng đồng Kuna trên đồng Mác Đức (HKR/DEM) và tỷ giá hối đoáidanh nghĩa hiệu lực đa phương (NEER, được tính toán bởi IMF) cùng với 2 chuỗigiá, chỉ số giá sản xuất (MPI) và chỉ số giá bán lẻ (RPI) tất cả đều được điềuchỉnh về trung bình và được phân vùng

Kiểm tra trực quan cho thấy rằng chỉ số RPI thì khó thay đổi theo tỷ giá vàchuỗi này có xu hướng ổn định Chỉ số giá sản xuất phản ánh ngành công nghiệp và

vì vậy nên có xu hướng đi ngược lại, dường như thay đổi theo tỷ giá, mặc dù rấtchậm Sự tăng lên đáng kể trong tỷ giá của nửa sau năm 1995 dường như được phảnánh lại trong giá cả sản xuất (MPI) một năm sau đó Sự giám giá kéo dài của đồngKuna bắt đầu vào đầu năm 1998 dường như lại dẫn đến sự gia tăng trong mức giá,một lần nữa diễn ra gần 12 đến 15 tháng sau đó Sự đánh giá sơ bộ này được xác nhậnbởi biểu đồ A1 trong Phụ lục, nơi những mối tương quan chéo giữa sự thay đổi trong

tỷ giá và những thay đổi kế tiếp sau trong các chỉ số giá được giới thiệu

Trang 21

Biểu đồ A1: Sự tương quan chéo giữa sự thay đổi trong tỷ giá và

RPI (thanh trên) và MPI (thanh dưới)

Biểu đồ A1 chỉ ra rằng mối tương quan giữa thay đổi trong tỷ giá và thay đổitrong MPI (thanh phía dưới) là dương từ tháng thứ 9 mãi đến tháng thứ 26 (có độ trễ),với một cao điểm giữa tháng 13 và 16, tức là, sau đó khoảng một năm Tuy nhiên, đỉnhcủa hệ số tương quan không quá cao (0, 22), và nó chỉ nhỉnh hơn đáng kể Điều này cóthể là do MPI đã chứa đựng ít các khoản phụ thuộc vào sự thay đổi trong TGHĐ hơnnhững chỉ số khác Ở Croatia, chưa có sự phá giá một cách đột ngột nào xảy ra, và do

đó, việc quy những thay đổi trong giá cả cho những sự biến động của tỷ giá càng khókhăn Sử dụng mối tương quan chéo cho RPI xác nhận ấn tượng trực quan được truyềntải qua biểu đồ 3: Giá bán lẻ ít bị ảnh hưởng bởi sự biến động tỷ giá, sự tương quanthường thay đổi dấu hiệu, và ít khi cao hơn 0, 10 (trong các điều kiện tuyệt đối)

Ngày đăng: 24/03/2015, 15:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Time-series Econometrics:Cointegration and Autoregressive Conditional Heteroskedasticity , Advanced information on the Bank of Sweden Prize in Economic Sciences in Memory of Alfred Nobel-8 October 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Time-series Econometrics: Cointegration and Autoregressive Conditional Heteroskedasticity
Nhà XB: Advanced information on the Bank of Sweden Prize in Economic Sciences in Memory of Alfred Nobel
Năm: 2003
4. Price-setting and exchange rate pass-through: theory and evidence ,michael b.devereux and james yetman* Sách, tạp chí
Tiêu đề: Price-setting and exchange rate pass-through: theory and evidence
Tác giả: michael b.devereux, james yetman
5. Pass-through of exchange rates and import prices to domestic inflation in some industrialized economies jonathan mccarthy, federal reserve bank of new york, june 29, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pass-through of exchange rates and import prices to domestic inflation in some industrialized economies
Tác giả: Jonathan McCarthy
Nhà XB: Federal Reserve Bank of New York
Năm: 2006
6. Pinelopi Koujianou Goldberg & Michael M. Knetter, 1997. "Goods Prices and Exchange Rates: What Have We Learned?” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Goods Prices and Exchange Rates: What Have We Learned
Tác giả: Pinelopi Koujianou Goldberg, Michael M. Knetter
Năm: 1997
9. “Cơ chế truyền dẫn tiền tệ dưới góc độ phân tích định lượng”, tác giả Nguyễn Phi Lân, SBV, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế truyền dẫn tiền tệ dưới góc độ phân tích định lượng
Tác giả: Nguyễn Phi Lân
Nhà XB: SBV
Năm: 2009
10. “Các nhân tố vĩ mô quyết định lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2000 – 2010 các bằng chứng và thảo luận”, tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành, website chương trình phát triển liên hợp quốc tại Việt Nam: undp.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố vĩ mô quyết định lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2000 – 2010 cácbằng chứng và thảo luận
11. “Sự chuyển dịch tỷ giá hối đoái vào các mức giá tại Việt Nam” (2012) của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Trang và Lục Văn Cường, tạp chí Phát triển và hội nhập, số 7(17) tháng 11-12/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự chuyển dịch tỷ giá hối đoái vào các mức giá tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Trang, Lục Văn Cường
Nhà XB: tạp chí Phát triển và hội nhập
Năm: 2012
12. “Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam tiếp cận theo mô hình SVAR”, tác giả Trần Ngọc Thơ và Nguyễn Hữu Tuấn, tạp chí Phát triển và hội nhập, số 10(20), tháng 05-06/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Việt Nam tiếp cận theo mô hình SVAR
Tác giả: Trần Ngọc Thơ, Nguyễn Hữu Tuấn
Nhà XB: tạp chí Phát triển và hội nhập
Năm: 2013
1. Pass-Through of Exchange Rates and Import Prices to Domestic Inflation in Some Industrialized Economies,Jonathan McCarthy (2000) Khác
3. Exchange rate pass-through inemerging markets by michele ca’ zorzi, elke hahnand marcelo sánchez Khác
7. Goldfajn, Ilan and Werlang, Sergio R. da C., The Pass-Through from Depreciation to Inflation: A Panel Study (July 2000) Khác
8. E x c h a n g e Rate Pass-Through and Its Implications For Inflation in Vietnam” Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Tỷ giá DM ở một số quốc gia, 1994-2001 (trung bình theo tháng) - Đánh giá mối quan hệ tương quan giữa ERPT, chỉ số giá sản xuất (MPI) và chỉ số giá bán lẻ (RPI)
Hình 1 Tỷ giá DM ở một số quốc gia, 1994-2001 (trung bình theo tháng) (Trang 13)
Hình 2: Tình trạng dollar hóa ở một số quốc gia, 1994 - 2001 - Đánh giá mối quan hệ tương quan giữa ERPT, chỉ số giá sản xuất (MPI) và chỉ số giá bán lẻ (RPI)
Hình 2 Tình trạng dollar hóa ở một số quốc gia, 1994 - 2001 (Trang 15)
Bảng 3: Kiểm định sơ bộ - Đánh giá mối quan hệ tương quan giữa ERPT, chỉ số giá sản xuất (MPI) và chỉ số giá bán lẻ (RPI)
Bảng 3 Kiểm định sơ bộ (Trang 30)
Bảng 5: Ước lượng không giới hạn ( Unrestricted Estimate) - Đánh giá mối quan hệ tương quan giữa ERPT, chỉ số giá sản xuất (MPI) và chỉ số giá bán lẻ (RPI)
Bảng 5 Ước lượng không giới hạn ( Unrestricted Estimate) (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w