SỰ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA ESCHERICHIA COLI TRÊN INVITROTẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUẢNG NAM TỪ THÁNG 01/2010- 9/2011 KTV Trần Thị Kim Loan I.. Vì vậy trên lâm sàng, nhiễm khuẩn do Escherichia c
Trang 1SỰ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA ESCHERICHIA COLI TRÊN INVITRO
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUẢNG NAM TỪ THÁNG 01/2010- 9/2011
KTV Trần Thị Kim Loan
I ĐẶT VẤN ĐỀ:
Escherichia coli (E.coli) thuộc họ vi khuẩn đường ruột (Enterobacteriaceae), là thành
phần cơ bản trong phân vật chủ chúng chỉ gây bệnh khi bị lạc vị trí hoặc cơ thể bị suy giảm
miễn dịch hoặc có vật cản như sỏi mật, u xơ tiền liệt tuyến vv E coli có thể gây nên bất cứ
nhiễm khuẩn nào như: nhiễm khuẩn ở đường tiêu hóa, nhiễm khuẩn tiết niệu, sinh dục, nhiễm
khuẩn huyết, nhiễm khuẩn vết mổ, viêm màng bụng, màng phổi…E coli đề kháng với nhiều
loại kháng sinh
Vì vậy trên lâm sàng, nhiễm khuẩn do Escherichia coli gây ra thường điều trị kém đáp
ứng và sử dụng nhiều loại kháng sinh mạnh dẫn đến kết quả hạn chế, tốn kém
Escherichia coli thuộc loại trực khuẩn Gram âm Mọc được dễ dàng trên các môi trường
nuôi cấy thông thường không có chất ức chế, hiếu kị khí tùy tiện, làm đục canh thang sau 6-8h nuôi cấy Đường kính khuẩn lạc từ 1,5-2mm, dạng S nhưng cũng có thể dạng R hoặc M
Escherichia coli có một số tính chất sau:
Lên men đường glucoza có sinh hơi
Sinh indol
Đỏ methy (+)
Không sử dụng nguồn cacbon của citrat (Không mọc trên môi trường Simmon Citrat)
Voges- Proskauer (-)
H2S (-)
Có men decarboxylaza nên có khả năng khử carboxyl của lysin, ornithin, arginin và axit glutamic
Betagalactosidaza (+)
Về mặt sinh học, việc đánh giá tác nhân gây bệnh dựa vào kết quả nuôi cấy mọc
Escherichia coli khi bệnh phẩm lấy đúng qui cách.
Đề tài này chúng tôi tiến hành với các mục tiêu:
1 Đánh giá sự kháng kháng sinh của Escherichia coli.
2 Thực hiện chức năng cần thiết của một khoa vi sinh bệnh viện tuyến tỉnh như Bộ Y tế
đã đề cập trong qui chế kiểm tra bệnh viện hàng năm
3 Hỗ trợ lâm sàng lựa chọn kháng sinh và điều trị bệnh nhân trong những trường hợp
nghi ngờ tác nhân gây bệnh là E coli Cùng với khoa chống nhiễm khuẩn hạn chế nhiễm khuẩn bệnh viện do Escherichia coli gây ra.
Trang 2II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1 Đối tượng nghiên cứu:
Tất cả các mẫu bệnh phẩm nuôi cấy đúng qui cách có mọc Escherichia coli từ tháng
01/2010 đến 09/2011
2 Chất liệu và phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu
Escherichiae coli được phân lập xác định theo kỹ thuật nuôi cấy thường qui của Tổ
chức Y tế thế giới (WHO)
Kỹ thuật kháng sinh đồ: theo phương pháp của ông Kirby Bauer
Môi trường nuôi cấy và tem đặt kháng sinh của hãng Biorad (Pháp), một số hãng Nam Khoa
3 Kỹ thuật thu thập và xử lí số liệu:
Dùng phương pháp thống kê thông thường
III KẾT QUẢ:
Thời gian : 21 tháng (từ 01/2010 đến 09/2011); Gồm : 80 trường hợp
1 Về mặt sinh học:
Bảng 1: Số loại vi khuẩn trên một mẫu bệnh phẩm trong đó có E.Coli:
Số loại vi khuẩn 01 loại 02 loại 03 loại
Số trường hợp 65 10 5
Tỷ lệ ( % ) 81.23 12.50 6.25
Biểu đồ 1:
Trang 3Bảng 2: Tỷ lệ Esscherichia coli so với tổng số các loại vi khuẩn gây bệnh:
Tổng số mẫu XN Số mẫu cóE.Coli
Số lượng mẫu 12000 80
Tỷ lệ ( % ) 100% 66%
Biểu đồ 2:
2 Tình hình đề kháng kháng sinh của E coli tại BVĐK Quảng Nam (từ 01/2010 – 9/2011): 2a Bảng liệt kê các trường hợp khảo sát với kháng sinh đã đặt:
STT Tên kháng sinh
Tổng số trường hợp
Nhạy cảm (S)
Giới hạn (I)
Đề kháng (R)
Trang 49 Chloramphenicol 60 34 3 9
2b Mức độ đề kháng với kháng sinh đã đặt của E.coli tại Bệnh viện Đ K Quảng Nam
(từ 01/2010-9/2011):
STT Tên kháng sinh
Tỷ lệ (%) Nhạy cảm (S)
Tỷ lệ (%) Giới hạn (I)
Tỷ lệ (%)
Đề kháng (R)
Trang 5Loại kháng sinh BV HM- ĐN(%) Bệnh viện ĐK Quảng Nam(%)
Ceftriaxone 30.00 22.50 Gentamycine 27.00 25.50 Amo+ Axit
Ciproploxacin 45.50 38.16 Nalidicid acide 45.50 28.75
Biểu đồ 3:
Bảng 4: Phân chia theo nguồn gốc nhiễm khuẩn:
Nguồn gốc Số lượng Tỷ lệ (%) Nhiễm khuẩn đường ruột 39 48.75%
Nhiễm khuẩn tiết niệu 20 25.00%
Nhiễm khuẩn ngoại khoa 18 22.50%
Nhiễm khuẩn huyết 3 3.75%
Biểu đồ 4:
Trang 6IV NHẬN XÉT VÀ BÀN LUẬN:
Qua 21 tháng khảo sát (từ tháng 01/2010 đến tháng 9/2011) với 80 mẫu thử chúng tôi có một
số bàn luận về sự kháng kháng sinh của E coli trên in vitro tại Bệnh viện đa khoa Quảng Nam
như sau:
Với kết quả trên, Ampicillin đề kháng cao 50,00% Nalidixic axit đề kháng30,00%
Các kháng sinh nhóm Quinolone như Ciprofloxacin, Norfloxacine… đều bị đề kháng ở mức độ cao 27,63%; 21,5762% Đáng chú ý là các kháng sinh nhóm Quinolon thế hệ mới được xem như điều trị hiệu quả hơn các thuốc khác trong nhóm Quinolon, nhưng vẫn bị đề kháng tương tự như Ciprofloxacine
Các thuốc nhóm cephalosporine thế hệ 1 (cephalexine ) và thế hệ 2 (cefuroxime ) cũng
bị đề kháng tương đối cao : 23,75% 22,97%
Cephalosporine thế hệ 3 thường dùng như ceftriaxone bị đề kháng 16,00% Đặc biệt các thuốc kháng sinh kinh điển nhưng ít dùng trong bệnh viện lại ít bị đề kháng như : chloramphenicol : 09,00%
Các kháng sinh mới (Imipeneme) chưa thấy tỉ lệ đề kháng và thường dùng (Amikacine) hoặc không dùng (Tobramycine) tại BVĐQN thì vẫn còn nhạy cảm rất tốt, chưa bị đề kháng Amoxicillin+ Acide clavulanic và Gentamicine được dùng thường xuyên và tương đối nhiều tại BVĐKQN nhưng tỷ lệ bị đề kháng là 28,75% và 08,75%
V BIỆN PHÁP CAN THIỆP:
Nên nuôi cấy và làm kháng sinh đồ trước khi điều trị kháng sinh ở các trường hợp nhiễm khuẩn nếu có thể
Trang 7Để phát huy hiệu quả điều trị nhiễm khuẩn của kháng sinh cần phải thận trọng khi kê đơn, điều trị kháng sinh Chỉ điều trị thuốc kháng sinh khi có dấu hiệu nhiễm khuẩn Xem xét phổ tác dụng và tình hình kháng thuốc để lựa chọn đúng kháng sinh có hiệu quả Ưu tiên lựa chọn kháng sinh phổ hẹp Không điều trị kháng sinh theo kiểu bao vây Hạn chế điều trị ngay từ đầu trong điều trị ngoại trú các kháng sinh phổ rộng, tác dụng mạnh như : ciprofloxacine,…để giảm thiểu sự đề kháng thuốc của vi khuẩn trong cộng đồng với các kháng sinh đó
Việc lựa chọn kháng sinh phải khách quan và khoa học, nên quan tâm đến danh mục tất
cả kháng sinh, không nên chỉ kê đơn kháng sinh mới, phổ rộng, đắt tiền mà quên rằng vẫn có nhiều kháng sinh tuy ra đời rất lâu, rẽ tiền, nhưng vẫn còn hiệu lực tốt Chú ý nhất là các loại kháng sinh có dấu"*" mà Ban lãnh đạo thường hay nhắc nhở
Trong thời gian gần 10 năm qua, ngành dược chưa phát minh thêm thuốc kháng sinh mới nào ngoài những kháng sinh hiện có Vì vậy bảo vệ hiệu lực của kháng sinh bằng cách kê đơn, điều trị kháng sinh hợp lý là biện pháp duy nhất và tối ưu mà chúng ta có thể làm được
VI TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1 Vi sinh vật y học -Bộ Y tế năm 2000
2 Tài liệu tập huấn vi sinh lâm sàng - Bộ Y tế tháng 3/2000
3 Chương trình tập huấn kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện năm 2009 -Bệnh viện Trung Ương Huế
4 Đề tài kháng kháng sinh của E Coli Bệnh viện Hoàn Mỹ Đà Nẳng năm 2008 - Ths.Ds Nguyễn Thị Thu Ba
5 Sổ lưu kết quả nuôi cấy vi sinh vật tại khoa vi sinh
6 Một số bệnh án lưu tại phòng KHTH có liên quan