Từ việc lý giải tại sao các công ty lại mở rộnghoạt động ra nước ngoài, các động cơ thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa, các hìnhthức kinh doanh quốc tế, các vấn đề chủ yếu bên ngoài mà bất
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tên em là : Lê Thị Phương Anh
Sinh viên lớp : Quản trị kinh doanh quốc tế 49A
Mã số sinh viên : CQ490025
Khoa : Thương mại và Kinh tế quốc tế
Sau thời gian thực tập làm nghiên cứu, em đã hoàn thành chuyên đề thực
tập tốt nghiệp với đề tài: “Thực trạng và giải pháp cho các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia hoạt động kinh doanh quốc tế giai đoạn 2007 -2010”.
Em xin cam đoan mọi nội dung được trình bày trong bản chuyên đề này
là do em tự tìm tòi, nghiên cứu tài liệu và tìm hiểu tình hình thực tế trong quá trình nghiên cứu thực tập mà có được, hoàn toàn không sao chép ở bất kỳ tài liệu nào khác
Em xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và chân thực của đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12 năm 2010
Sinh viên
Lê Thị Phương Anh
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau một thời nghiên cứu các vấn đề lý luận và tìm hiểu tình hình
thực tế, em đã hoàn thành chuyên đề thực tập với đề tài “Thực trạng và giải pháp cho các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia hoạt động kinh doanh quốc tế giai đoạn 2007 -2010”.
Trước hết em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Kinh tế quốc dân nói chung và các thầy cô giáo khoa Thương mại và Kinh
tế quốc tế nói riêng vì những kiến thức quý báu mà các thầy cô đã truyền đạt cho em trong suốt 4 năm học qua chính là nền tảng để em có đủ nhận thức về đề tài và thực hiện chuyên đề này.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Hường
đã rất tận tình giúp đỡ em trong quá trình tìm tòi nghiên cứu, triển khai thực hiện đề tài này một cách đầy đủ và hoàn thiện nhất.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc tìm hiểu và nghiên cứu tài liệu song do năng lực cũng như trình độ có hạn, nên đề tài nghiên cứu không thể không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được những ý kiến góp ý, bổ sung của các thầy cô và các bạn để chuyên đề của
em được hoàn thiện tốt hơn nữa
Hà Nội,tháng 12 năm 2010
Sinh viên
Trang 3Lê Thị Phương Anh
Trang 4MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH M C CÁC B NG VÀ HÌNHỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH ẢNG VÀ HÌNH
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KINH DOANH QUỐC TẾ 3
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH DOANH QUỐC TẾ 3
1.1.1 Kinh doanh quốc tế là gì? 3
1.1.2 Tại sao phải nghiên cứu kinh doanh quốc tế? 4
1.1.3 Tại sao các công ty lại tham gia kinh doanh quốc tế? 7
1.1.3.1 Tăng doanh số bán hàng 7
1.1.3.1.1 Cơ hội tăng doanh số bán quốc tế 7
1.1.3.1.2 Tận dụng công suất sản xuất dư thừa 9
1.1.3.2 Tiếp cận các nguồn lực nước ngoài 9
1.1.3.3 Phân tán rủi ro cạnh tranh 10
1.1.4 Các chủ thể tham gia vào kinh doanh quốc tế 10
1.1.4.1 Các doanh nghiệp vừa và nhỏ 12
1.1.4.2 Các công ty đa quốc gia 14
1.1.4.2.1 Vai trò quan trọng về mặt kinh tế của các công ty đa quốc gia 15
1.1.4.2.2 Các công ty đa quốc gia và GDP 16
1.1.4.2.3 Hội chứng sáp nhập: .19
1.1.5 Các hình thức kinh doanh quốc tế 20
1.1.5.1 Nhóm hình thức kinh doanh trên lĩnh vực ngoại thương 20
1.1.5.2 Nhóm hình thức kinh doanh thông qua các hợp đồng 21
1.1.5.3 Nhóm hình thức kinh doanh thông qua đầu tư nước ngoài 22
1.2 TOÀN CẦU HOÁ 22
1.2.1 Các loại toàn cầu hoá 22
Trang 51.2.1.1 Toàn cầu hoá thị trường 22 1.2.1.2 Toàn cầu hóa hoạt động sản xuất 23
1.2.2 Các xu hướng toàn cầu hoá 25
Trang 61.2.2.1 Giảm bớt các trở ngại đối với thương mại và đầu tư 25
1.2.2.1.1 GATT 25
1.2.2.1.2 Vai trò của các khối thương mại 26
1.2.2.2 Sự phát triển của công nghệ thông tin 26
1.2.2.3 Sự phát triển của giao thông vận tải 30
1.3 KINH DOANH: VIỄN CẢNH TOÀN CẦU 30
1.3.1 Môi trường kinh doanh quốc gia 32
1.3.2 Môi trường kinh doanh quốc tế 34
1.3.3 Quản trị kinh doanh quốc tế 35
1.3.3.1 Tiêu chuẩn hoá và thích nghi hóa 36
1.3.3.2 Đạo lý và trách nhiệm xã hội 37
1.3.3.2.1 Hành vi đạo lý 37
1.3.3.2.2 Trách nhiệm xã hội 38
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA MÔN HỌC 43
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu của môn học 43
1.4.2 Nội dung của môn học 43
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM KHI THAM GIA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH QUỐC TẾ GIAI ĐOẠN TỪ 2007 - 2010 48
2.1 THỰC TRẠNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM KHI THAM GIA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH QUỐC TẾ GIAI ĐOẠN TỪ 2007- 2010 48
2.1.1 Những thành tựu đạt được khi các doanh nghiệp Việt Nam tham gia hoạt động kinh doanh quốc tế giai đoạn từ 2007 - 2010 48
2.1.2 Những hạn chế còn tồn tại khi các doanh nghiệp Việt Nam tham gia hoạt động kinh doanh quốc tế giai đoạn từ 2007 – 2010 54
2.2 GIẢI PHÁP CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM KHI THAM GIA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH QUỐC TẾ 60
Trang 7KẾT LUẬN 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
NHẬN XÉT GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
APEC : Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương
DNVVN : Doanh nghiệp vừa và nhỏ
ĐTRNN : Đầu tư ra nước ngoài
EU : Liên minh Châu Âu
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
MNC’s : Các công ty đa quốc gia
VCCI : Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH
1 Danh mục bảng
Bảng 1.1: Khối lượng TMQT của 14 quốc gia hàng đầu năm 2008 4
Bảng 1.2: So sánh 500 công ty toàn cầu với một số nước lựa chọn 17
Bảng 1.3: Các công ty khác trong 500 công ty lớn nhất toàn cầu 18
Bảng 1.4: Sự phân bố của 500 công ty toàn cầu 19
Bảng 1.5: 15 nước hàng đầu thế giới thu hút các nhà quản trị Mỹ 24
2 Danh mục hình Hình 1.1: Viễn cảnh toàn cầu về kinh doanh 32
Hình 1.2: Kết cấu của cuốn giáo trình 46
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Việc phát triển ngày càng mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới đã thúc đẩycác doanh nghiệp Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung tham gia vàohoạt động kinh doanh quốc tế Từ việc lý giải tại sao các công ty lại mở rộnghoạt động ra nước ngoài, các động cơ thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa, các hìnhthức kinh doanh quốc tế, các vấn đề chủ yếu bên ngoài mà bất cứ một công tytham gia kinh doanh quốc tế nào đều phải quan tâm tới là văn hoá, kinh tế, chínhtrị, luật pháp và cạnh tranh cũng như các nhóm nhân tố khác cũng đóng một vaitrò quan trọng trong việc thực hiện các hoạt động kinh doanh quốc tế, bao gồmcác khách hàng, công nhân, các công ty, Chính phủ và các tổ chức tài chính đãtrả lời cho câu hỏi sự gia tăng hoạt động kinh doanh quốc tế của các doanhnghiệp Việt Nam Tất cả các yếu tố đó đều ảnh hưởng tới sự vận hành của nội
bộ công ty khi công ty quyết định phát triển ra toàn cầu Chính điều đó đòi hỏicác công ty phải có những chính sách, biện pháp phù hợp cũng như hết sức linhhoạt để đối phó với những thách thức mới khi kinh doanh ở một quốc gia cụ thể,chịu sự tác động mạnh mẽ từ quốc gia đó; do vậy buộc công ty hay doanhnghiệp đều phải có những thay đổi, vận hành trong khuôn khổ các đặc trưng vềđạo đức và tiêu chuẩn xã hội do chính quốc gia đó chi phối
Từ việc lý giải, hiểu bản chất về mọi vấn đề trong hoạt động kinh doanhquốc tế để thấy được thực trạng hoạt động kinh doanh quốc tế của các doanhnghiệp Việt Nam đã đạt được những thành tựu gì cũng như còn sự tồn tại củanhiều hạn chế nào khi các doanh nghiệp Việt Nam vươn mình ra thị trường toàncầu Qua đó để có những phân tích thấy được nguyên nhân vì sao vẫn còn nhữnghạn chế trong hoạt động kinh doanh quốc tế nhằm đề ra các giải pháp, các thay
Trang 12đổi hợp lý tạo ra nhiều điều kiện hơn nữa cho sự phát triển và nâng cao hoạtđộng của các doanh nghiệp Việt Nam trên phạm vi các quốc gia của thế giới.
Xuất phát từ thực tế trên em đã lựa chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp cho
các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia hoạt động kinh doanh quốc tế giai đoạn 2007 -2010”.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Qua việc tìm hiểu về hoạt động kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệpViệt Nam giai đoạn 2007 – 2010 để thấy được những kết quả đạt được và nhữnghạn chế còn tồn tại nhằm đề xuất một số giải pháp để nâng cao hoạt động kinhdoanh quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan về hoạt động kinh doanh quốc tế.
- Đánh giá những thành tựu đạt được và hạn chế còn tồn tại của hoạt độngkinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam
- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hoạt động kinh doanh quốc tế củacác doanh nghiệp Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động kinh doanh quốc tế của cácdoanh nghiệp Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 13Nghiên cứu hoạt động kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp ViệtNam giai đoạn 2007 - 2010.
4 Kết cấu của đề tài
Ngoài lời mở đầu và kết luận, đề tài được chia làm 2 phần:
Chương 1: Tổng quan về kinh doanh quốc tế
Chương 2: Thực trạng và giải pháp cho các doanh nghiệp Việt Nam khitham gia hoạt động kinh doanh quốc tế giai đoạn 2007 - 2010
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KINH DOANH QUỐC TẾ 1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH DOANH QUỐC TẾ
1.1.1 Kinh doanh quốc tế là gì?
Kinh doanh quốc tế là tổng hợp toàn bộ các giao dịch kinh doanh vượt qua các biên giới của 2 hay nhiều quốc gia Những người tiêu dùng, các
công ty, các tổ chức tài chính và Chính phủ - tất cả đều có vai trò quan trọng đốivới hoạt động kinh doanh quốc tế Người tiêu dùng có nhu cầu về các sản phẩm
và dịch vụ có chất lượng cao của các công ty quốc tế Các công ty tạo ra môitrường kinh doanh năng động, cạnh tranh mạnh mẽ tác động tới các hoạt độngcủa các công ty khi thâm nhập thị trường quốc tế Các tổ chức tài chính giúp đỡcác công ty tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế thông qua đầu tư tàichính, trao đổi ngoại tệ, và chuyển tiền khắp toàn cầu Các Chính phủ điều tiếtdòng hàng hóa, dịch vụ, nhân lực, và vốn qua các đường biên giới quốc gia Sauđây là một số các giao dịch kinh doanh quốc tế có tính chất điển hình:
+Tập đoàn du lịch nổi tiếng The Kuoni Travel Holding của Switzerland
Trang 14muốn cung cấp tất cả về du lịch và các hoạt động liên quan đến dịch vụ du lịchcho du khách tới và từ Ấn Độ đó thành lập chi nhánh The Kuoni Travel GroupIndia thông qua việc mua thương hiệu SOTC ở Ấn Độ.
+Mở chi nhánh ở Việt Nam năm 2009 của tập đoàn bảo hiểm Generali (Ý)nhằm tăng cường hoạt động của tập đoàn tại thị trường Châu Á
+Để tài trợ cho các công ty thâm nhập vào thị trường Ba Lan, Tập đoànchứng khoán Daiwa của Nhật đã mở văn phòng ở Warsan (Ba Lan)
+Công ty vận tải biển Cheng Lie Navigation Co., Ltd (CNC) của Đài Loan
mở 3 tuyến mới bao phủ khắp các cảng châu thổ sông Ngọc qua Hồng Kông đểtăng cường hoạt động kinh doanh vận tải biển nội Á
Bảng sau đây cung cấp các số liệu về tổng giá trị hàng hoá và dịch vụ, baogồm cả xuất nhập khẩu được lưu chuyển qua biên giới của mỗi quốc gia Tổnggiá trị hàng năm của các nước trên thế giới đều cao hơn so với tổng doanh thuhàng năm của 500 công ty hàng đầu thế giới gộp lại Đơn cử như năm 2008,tổng giá trị của các nước đạt 31,9 nghìn tỷ USD - nhiều hơn 8,281524 nghìn tỷUSD so với tổng doanh thu của 500 công ty lớn nhất thế giới Giá trị thương mạinày lớn hơn gấp hơn 84 lần doanh thu của công ty lớn nhất thế giới là tập đoànWal – Mart Stores
Bảng 1.1: Khối lượng TMQT của 14 quốc gia hàng đầu năm 2008
n v : tri u USD Đơn vị: triệu USD ị: triệu USD ệu USD
1. Mỹ: 3.394.000 8 Hà Lan: 1.091.000
2 Đức: 2.730.000 9 Canada: 898.500
3 Trung Quốc: 2.563.300 10.Bỉ: 759.200
4 Pháp: 1.594.000 11.Hồng Kông: 753.600
Trang 155. Nhật Bản: 1.454.800 12.Tây Ban Nha: 699.900
6 Anh: 1.105.600 13.Hàn Quốc: 699.900
7 Italia: 1.094.000 14.Singapore: 562.200
(Nguồn: http://import-export.suite101.com)
1.1.2 Tại sao phải nghiên cứu kinh doanh quốc tế?
Kinh doanh quốc tế đang chứng minh vai trò ngày càng lớn trong việc xóa
bỏ rào cản thương mại giữa các quốc gia thông qua tốc độ mở rộng, phát triểnkinh doanh giữa các nước trong khu vực và trên thế giới Tại sao hoạt động kinhdoanh quốc tế lại có sự phát triển mạnh mẽ như thế? Hãy xem tác động của kinhdoanh quốc tế tới các chủ thể trong nền kinh tế Chính phủ các nước có nhữngthay đổi tích cực trong các chính sách ở nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tếnhằm tạo ra môi trường kinh doanh toàn cầu thống nhất Các nhà quản trị kinhdoanh tìm thấy nhiều cơ hội kinh doanh đồng thời có những hành vi, ứng xử trảlời thị trường tăng thêm ưu điểm, khắc phục nhược điểm để phát triển Ngườitiêu dùng được đáp ứng nhu cầu về sản phẩm và dịch vụ với chất lượng tốt hơn,
đa dạng, phong phú với giá thành ngày càng giảm
Mỗi người trong số chúng ta đang sử dụng những kết quả của hàng chụccác giao dịch quốc tế diễn ra hàng ngày Đồng hồ báo thức kèm radio của bạn
có thể được sản xuất tại Trung Quốc Những bản tin mà bạn đang nghe đượcphát đi từ đài BBC của Anh Bạn mặc áo phông Gap sản xuất tại Ai Cập,quần bò Levis sản xuất ở Băng-la-đét, và đi giày Nike được gia công ở ViệtNam với các phụ kiện được sản xuất ở một vài nước khác Bạn bước vàochiếc xeToyota của mình (được sản xuất ở Kentucky, Mỹ) và nghe nhạc pop
từ đĩa CD phát hành tại Hà Lan do một ban nhạc Thụy Điển trình bày Tạimột quán cà phê địa phương, bạn có thể thưởng thức cà phê được chế biến từ
Trang 16hạt cà phê trồng ở Colombia hay Kenia.
Hàng hoá nhập khẩu: Toàn bộ hàng hoá và dịch vụ được một nước mua
nữa thì bạn cũng sẽ luôn bị bao quanh bởi các hàng hoá nhập khẩu - tất cả hàng
hoá và dịch vụ được một nước mua từ các tổ chức ở các nước khác Các đối tác
của bạn trên toàn thế giới cũng sẽ tiêu dùng các hàng hoá xuất khẩu của nước bạn - tất cả hàng hoá và dịch vụ được một nước bán sang các nước khác
Nhưng kinh doanh quốc tế không chỉ đơn thuần là việc các công ty bán sảnphẩm của mình cho khách hàng ở nước khác, mà còn bao gồm các giao dịchkhác vượt qua biên giới quốc gia để mua các hàng hoá được sản xuất ở nơi xuất
xứ ban đầu Điều này đặc biệt đúng trong thời đại thông tin ngày nay Giả sửrằng bạn là một nhà lập trình máy tính của hãng IBM tại Seatle Bạn có thểkhông bao giờ rời khỏi bang Washington, nhưng bạn sẽ làm việc với các đồngnghiệp ở các địa điểm khác như Trung Âu hoặc Ấn Độ Hãy xem xét một ví dụthực tế sau đây:
Một nhóm các nhà lập trình máy tính ở trường Đại học Tsignhua (BắcKinh) soạn thảo một phần mềm sử dụng công nghệ JAVA cho IBM Vào cuốimỗi ngày, họ gửi công việc thực hiện được qua mạng internet cho một cơ sởcủa IBM ở Seatle Ở đấy các lập trình viên kiểm tra phần mềm này trước khigửi nó tới Viện khoa học máy tính ở Belarus và Tập đoàn phần mềm ở Latvia
Từ những nơi này, phần công việc trên được chuyển đến Tập đoàn Tata của
Trang 17Ấn Độ, và sau đó được chuyển trở lại cho Tsignhua vào sáng hôm sau Quátrình này lặp đi lặp lại cho đến khi dự án kết thúc Phó chủ tịch IBM phụtrách công nghệ Internet gọi cuộc chạy tiếp sức toàn cầu này là “ Công nghệJAVA chạy quanh đồng hồ” và nó nhanh chóng trở thành cách thức để thựchiện nhiều công việc khác
Ngay cả một nhà sản xuất truyền thống như General Motors cũng đangnghiên cứu việc tổ chức lại một nhóm phát triển sản phẩm toàn cầu Khi đó thìnhững kỹ năng trong kinh doanh quốc tế - từ sự hiểu biết và giao tiếp văn hóa đaquốc gia tới những kiến thức về các hệ thống tiền tệ quốc tế và hoạt động phânphối - là đặc biệt quan trọng nếu bạn muốn được đánh giá cao hơn trong nhómlàm việc toàn cầu của bạn
Các hãng như Solid State Measurements Inc - một hãng có trụ sở tạiPittsburgh (một thành phố của Mỹ) với hơn 65% doanh số bán được thực hiện ởnước ngoài, đang gặp khó khăn trong việc bố trí các nhà các nhà quản trị có kinhnghiệm quốc tế thích hợp Khi ngày càng có nhiều công ty tổ chức các hoạtđộng của mình ở nước ngoài thì các công ty đó sẽ thuê những người được trang
bị kiến thức tốt nhất để quản lý các hoạt động quốc tế của mình, bất kể họ làcông dân của nước nào Chẳng hạn, ở Tokyo công ty Sony gần như trở thànhmột công ty “không phải của Nhật” Trên thực tế đội ngũ nhân công của Sonytrên toàn thế giới được chia theo tỷ lệ gần như là 50/50 giữa người Nhật vàngười nước khác Khi Sony tiếp tục bố trí nhiều nhà máy của mình tới Mexicothì đa số nhân công của công ty sẽ không phải là người Nhật Bản
1.1.3 Tại sao các công ty lại tham gia kinh doanh quốc tế?
Tại sao các công ty lại tham gia kinh doanh quốc tế? Sở dĩ các công tytham gia vào kinh doanh quốc tế là do xuất phát những nguyên nhân giống như
khi họ quyết định mở rộng hoạt động trên thị trường nội địa: Đó là tăng doanh
Trang 18số bán hàng, tiếp cận các nguồn lực nước ngoài và phân tán rủi ro.
1.1.3.1 Tăng doanh số bán hàng
Mục tiêu tăng doanh số bán tỏ ra hấp dẫn khi một công ty phải đối mặt với 2
vấn đề: cơ hội tăng doanh số bán hàng quốc tế hoặc năng lực sản xuất dư thừa.
1.1.3.1.1 Cơ hội tăng doanh số bán quốc tế
Các công ty thường tham gia kinh doanh quốc tế nhằm tăng doanh số bánhàng do các yếu tố như thị trường trong nước bão hòa hoặc nền kinh tế đang suythoái buộc các công ty phải khai thác các cơ hội bán hàng quốc tế
Một lý do khác thúc đẩy các công ty tăng doanh số bán hàng quốc tế là domức thu nhập bấp bênh Các công ty có thể ổn định nguồn thu nhập của mìnhbằng cách bổ sung doanh số bán hàng quốc tế vào doanh số bán hàng trongnước Nhờ đó mà có thể tránh được những dao động thất thường (quá tải hoặckhông hết công suất) của quá trình sản xuất Đặc biệt, các công ty sẽ nhảy vàothị trường quốc tế khi họ tin rằng khách hàng ở các nền văn hoá khác có thái độtiếp nhận sản phẩm của mình và có thể mua chúng
Hãy xem xét chiến lược hiện tại của Mc Donald Mặc dù trung bình gần24.000 người dân Mỹ mới có một cửa hàng Mc Donald, nhưng ở Trung Quốcthì con số tương ứng là hơn 4triệu người/ một cửa hàng Do vậy không có gìngạc nhiên khi Mc Donald đang mở rộng hoạt động ở thị trườngTrung Quốc(cũng như khắp Châu Á), nơi có tiềm năng tăng trưởng dài hạn là rất lớn
Hãy xem xét một ví dụ khác: Mặc dù có diện tích gần như tương đương vớinước Mỹ, nhưng Australia chỉ có 17,7 triệu dân so với 260 triệu ở Mỹ Vì vậyHội đồng thương mại Australia đã giúp các công ty vừa và nhỏ phát huy tiềmnăng của mình bằng cách hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu của họ Một số doanh
Trang 19nghiệp xuất khẩu nhỏ đó thu được những thành công đáng kể Hãng DuncanMac Gillivray ở Adelaide đó tung ra sản phẩm nước chanh có ga hiệu Two Dogsbằng cách sử dụng lượng chanh dư thừa của một trang trại bên cạnh, cho thêmđường và làm lên men hỗn hợp này cùng với men bia Sau khi nhanh chóngchiến lĩnh thị trường Australia, Two Dogs đó vươn sang Hồng Kông, NewZealand, Singapore, Nam Phi, Anh và Mỹ Người tiêu dùng Châu Á đón nhận
đồ uống này một cách nhiệt tình vì chanh là nguồn cung cấp vitamin C để chốnglại khí hậu lạnh phổ biến ở đây Two Dogs hiện được sản xuất ở 4 châu lục vàđược tiêu thụ ở 44 nước Doanh số hàng năm vượt quá 39 triệu USD, chủ yếu làthu được từ nước ngoài
Các công ty đang tăng doanh số bán hàng quốc tế thông qua đa dạng hoáthị trường về hai lĩnh vực là nguồn bán hàng và nguồn cung cấp Khi tiến hànhhoạt động kinh doanh ra nhiều nơi trên thế giới đồng nghĩa với việc cải tiến, đổimới về sản phẩm cho phù hợp với các yếu tố của từng thị trường hoạt động điều
đó làm tăng chu kì sống của sản phẩm Việc tiếp cận nhiều thị trường với nhữngthế mạnh riêng tạo ra nhiều lĩnh vực hoạt động mới - không những bảo vệ, pháthuy sản phẩm hiện có mà còn tạo ra những sản phẩm, lĩnh vực mới làm tăngdoanh số và mở rộng phạm vi các thị trường hoạt động Nhật Bản là một nước
có lợi thế cạnh tranh về việc sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng ô tô, thiết bịđiện tử, phụ kiện máy tính tới hầu khắp các nước trên thế giới ngay cả nhữngnước phát triển mạnh như: Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc….Năm 2009 kim ngạchxuất khẩu sang Mỹ của Nhật Bản đạt 95,9 triệu USD trong đó ôtô chiếm 31,5triệu USD, máy móc chiếm 19,5 triệu USD
1.1.3.1.2 Tận dụng công suất sản xuất dư thừa
Đôi khi các công ty sản xuất nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn mức thịtrường có thể tiêu thụ Điều đó xảy ra khi các nguồn lực bị dư thừa Nhưng nếu
Trang 20các công ty khám phá được nhu cầu tiêu thụ quốc tế mới thì chi phí sản xuất cóthể được phân bổ cho số lượng nhiều hơn các sản phẩm làm ra, vì thế mà giảmbớt chi phí cho mỗi sản phẩm và tăng được lợi nhuận Nếu lợi ích này đượcchuyển sang người tiêu dùng dưới hình thức hạ giá bán thì các công ty vẫn cóthể chiếm được thị phần của các đối thủ cạnh tranh Một vị trí thống trị trên thịtrường có nghĩa là sức mạnh thị trường lớn hơn, và do đó mang lại cho công ty
vị thế mạnh hơn trong quá trình thương thảo với cả người bán lẫn người mua
1.1.3.2 Tiếp cận các nguồn lực nước ngoài
Các công ty còn tham gia kinh doanh quốc tế nhằm tiếp cận các nguồn lực
mà trong nước không có sẵn hoặc đắt đỏ hơn Điều thúc đẩy các công ty gia
nhập thị trường quốc tế là nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên - những sản phẩm
do thiên nhiên tạo ra và hữu ích về mặt kinh tế hoặc công nghệ
Chẳng hạn, Nhật Bản là một quốc đảo có mật độ dân số cao, nhưng lại córất ít tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là rừng Vì vậy hoạt động của công ty sảnxuất giấy lớn nhất của Nhật Bản là Nippon Seishi không chỉ đơn thuần phụthuộc vào việc nhập khẩu bột gỗ Công ty này nắm quyền sở hữu các khu rừngrộng lớn và các cơ sở chế biến gỗ ở Australia, Canađa và Mỹ Bằng cách kiểmsoát các giai đoạn đầu của quá trình sản xuất giấy, công ty đảm bảo được chomình một nguồn cung ứng đầu vào (bột gỗ) ổn định và ít gặp phải những bất trắcnhư trong trường hợp phải mua bột gỗ trên thị trường tự do Tương tự, để tiếpcận được các nguồn năng lượng rẻ hơn dùng trong các ngành sản xuất côngnghiệp khác, một loạt các công ty của Nhật Bản đang đặt cơ sở sản xuất tạiTrung Quốc, Mexico, Đài Loan và Việt Nam - những nơi có mức chi phí nănglượng thấp hơn
Các thị trường lao động cũng là nhân tố thúc đẩy các công ty tham gia vào
kinh doanh quốc tế Có một phương pháp được các công ty sử dụng để duy trì
Trang 21mức giá có tính cạnh tranh quốc tế là tổ chức sản xuất ở những nước có chi phílao động thấp Nhưng nếu chi phí lao động thấp là lý do duy nhất để một quốcgia cuốn hút các công ty quốc tế thì khi đó các nhà kinh doanh có lẽ sẽ chỉ đổ xô
vào những nơi như Afghanistan hay Somalia Để có sức hấp dẫn, một quốc gia
phải có mức chi phí thấp, có đội ngũ công nhân lành nghề và một môi trường với mức độ ổn định về kinh tế, chính trị và xã hội có thể chấp nhận được Khi
các điều kiện nói trên được thỏa món thì một quốc gia sẽ thu hút được dòng đầu
tư dài hạn cần thiết cho công cuộc phát triển kinh tế của mình Chúng ta sẽ bàn
về những yếu tố thu hút các nhà kinh doanh quốc tế một cách đầy đủ hơn ở cácchương sau của giáo trình
1.1.3.3 Phân tán rủi ro cạnh tranh
Mỗi thị trường có những mặt thuận lợi cũng như khó khăn luôn song hànhvới nhau đặc biệt là từ cạnh tranh của các đối thủ Trong hoạt động ở bất kỳ đâu
mà đặc biệt tại thị trường nội địa thì một Công ty luôn đối mặt với các đối thủcạnh tranh hiện tại, tiềm ẩn rất khốc liệt nên khi tham gia kinh doanh quốc tế sẽlàm giảm thiểu rủi ro cao độ này Do đó để tối thiểu hóa rủi ro từ cạnh tranh cáccông ty tham gia kinh doanh quốc tế nhằm tạo cho mình có một lá chắn phòngthủ vững chắc Bằng cách chiếm lợi thế mà các đối thủ cạnh tranh hoặc đối thủcạnh tranh tiềm năng thì công ty có thể có được từ kinh doanh quốc tế để chốnglại trên thị trường nội địa
1.1.4 Các chủ thể tham gia vào kinh doanh quốc tế
Kinh doanh quốc tế đó tạo ra những bước tiến lớn đối với nền kinh tế,điều đó lý giải vì sao có nhiều chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc
tế Ở các góc độ khác nhau để xem xét thì các chủ thể trong từng góc độ đó thayđổi Do đó có nhiều cách phân loại chủ thể tham gia kinh doanh quốc tế như:
Trang 22- Phân loại theo phạm vi, quy mô của các loại hình doanh nghiệp gồm có:Các công ty đa quốc gia và các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Phân loại theo các thành phần kinh tế, gồm có: Các tổ chức, thể chế kinh
tế, Chính phủ các quốc gia và các công ty
Trong phạm vi tìm hiểu của Chương này sẽ sử dụng cách phân loại theoquy mô các loại hình doanh nghiệp hiện nay trên thế giới
Các công ty thuộc tất cả các loại hình, các loại quy mô và ở tất cả cácngành đều tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế Tất cả các công ty sảnxuất, công ty dịch vụ và công ty bán lẻ đều tìm kiếm khách hàng ngoài biên giớiquốc gia mình
Một công ty quốc tế là công ty tham gia trực tiếp vào bất kỳ hình thức
nào của hoạt động kinh doanh quốc tế như xuất khẩu, nhập khẩu, hay sản xuất quốc tế Vì vậy sự khác nhau giữa các công ty là ở phạm vi và mức độ tham gia
của chúng vào kinh doanh quốc tế Chẳng hạn, mặc dù một công ty nhập khẩuchỉ mua hàng từ các nhà cung cấp nước ngoài, nhưng nó vẫn được coi là mộtcông ty quốc tế
Tương tự, một công ty lớn có các nhà máy phân bổ trên khắp thế giới
cũng là một công ty quốc tế, nhưng còn được gọi là công ty đa quốc gia (MNC)
- một công ty có tiến hành đầu tư trực tiếp (dưới hình thức các chi nhánh sản
xuất hoặc marketing) ra nước ngoài ở một vài hay nhiều quốc gia Như vậy,
mặc dầu tất cả các công ty có liên quan đến một khía cạnh nào đó của thươngmại hoặc đầu tư quốc tế đều được coi là công ty quốc tế, nhưng chỉ có các công
ty có đầu tư trực tiếp ra nước ngoài mới được gọi là các công ty đa quốc gia
Các công ty đa quốc gia này đôi lúc còn được gọi là các công ty toàn
cầu nếu chúng hoạt động ở hầu hết các nước trên thế giới Tuy nhiên, các chiến
Trang 23lược được các công ty sử dụng trong các hoạt động kinh doanh quốc tế lại là một
vấn đề khác - chúng ta sẽ bàn về các chiến lược đa quốc gia chiến lược toàn cầu
ở chương 10 Bây giờ chúng ta xem xét cụ thể hơn các loại hình công ty quốc tếkhác nhau
1.1.4.1 Các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang ngày càng tham gia tích cực vào hoạtđộng thương mại và đầu tư quốc tế Một nghiên cứu gần đây đó cho thấy cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia vào hoạt động xuất khẩu nhiều hơn và tăngtrưởng một cách nhanh hơn Như đó đề cập ở trên, sự đổi mới công nghệ đó gỡ
bỏ nhiều trở ngại thực tế đối với hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa
và nhỏ
Trong khi các kênh phân phối truyền thống thường chỉ cho phép các công
ty lớn thâm nhập vào các thị trường ở xathì phân phối qua mạng điện tử lại làgiải pháp ít tốn kém và có hiệu quả đối với nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ Mộtvài doanh nghiệp vừa và nhỏ gần như "cư trú" thường xuyên trong không gianmạng, và tiếp cận tới các khách hàng trên thế giới qua hệ thống World WideWeb (WWW) Ví dụ, công ty Weekend a Firenze của Alessandro Naldi, cótrang Web tại địa chỉ www.waf.it/mall, mời chào các khách hàng trên khắp thếgiới những sản phẩm được coi là đích thực của vùng Florence, chứ không phải
là những mặt hàng mà khách du lịch có thể tìm thấy tại các cửa hàng bán đồ lưuniệm với giá cắt cổ ở thành phố Florence Bản thân Naldi là người xứ Florence
và ông đó thiết lập lập trang Web của mình để bán những mặt hàng Italia chínhhiệu với chất lượng cao được sản xuất tại các nhà máy nhỏ ở Tuscany Hiện tại,trung bình hàng tháng Weekend a Firenze thu hỳt được 20.000 du khách, trong
đó 40% số khách đến từ Nhật Bản, 30% từ Mỹ và số còn lại đến từ Hy lạp,Australia, Canada, Mexico, Ả rập Xêut, và Italia
Trang 24Đáng tiếc là có nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng xuất khẩunhưng lại chưa bắt đầu làm điều đó Chẳng hạn, trong một năm gần đây chỉ có10% các công ty Mỹ có số công nhân dưới 100 người đó tiến hành xuất khẩu,trong khi tất cả các công ty còn lại chiếm 18% Mặc dù trên thực tế còn cónhững trở ngại nhất định đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chẳng hạn nhưthiếu vốn đầu tư, nhưng nhiều quan niệm sai lầm cũng đang tạo ra những trởngại giả tạo Để nắm rõ hơn một vài quan niệm sai lầm đó và những lý lẽ phản
bác chúng, hãy xem phần Góc doanh nghiệp với tựa đề "Tiềm năng chưa được
khai thác: Bốn quan niệm sai lầm cản trở hoạt động xuất khẩu của các doanhnghiệp nhỏ"
Góc doanh nghiệp Tiềm năng chưa được khai thác: Bốn quan niệm sai lầm cản trở hoạt động
xuất khẩu của các doanh nghiệp nhỏ Quan niệm 1: Chỉ các công ty lớn mới có thể xuất khẩu thành công
Xuất khẩu làm tăng doanh số bán và lợi nhuận của các công ty nhỏ , đồngthời có thể giúp cho các nhà sản xuất và người phân phối ít bị phụ thuộc hơn vàotrạng thái của nền kinh tế trong nước Xuất khẩu còn giúp các doanh nghiệptránh được những dao động có tính thời vụ trong quá trình bán hàng Hơn nữa,bán hàng ra nước ngoài mang lại cho các doanh nghiệp nhỏ lợi thế cạnh tranh
với các công ty từ các nước khác trước khi các công ty đó gia nhập vào thị
trường nội địa
Quan niệm 2: Các doanh nghiệp nhỏ không thể tiếp cận được dịch vụ tư vấn xuất khẩu
Chính phủ liên bang luôn có chương trình hỗ trợ để đáp ứng các nhu cầucủa các công ty, bất kể công ty mới bắt đầu tham gia hoặc đó tiến hành hoạt
Trang 25động xuất Trung tâm thông tin thương mại (TIC) của Phòng thương mại Mỹ làmột nguồn cung cấp thông tin toàn diện về tất cả các chương trình hỗ trợ xuấtkhẩu của chính phủ liên bang Các công ty có thể nhận được chỉ dẫn của cácchuyên gia thương mại về việc nên phân bổ và sử dụng như thế nào các chươngtrình hỗ trợ của chính phủ liên bang, của chính quyền các bang, các địa phương
và của khu vực tư nhân Các công ty cũng nhận được các thông tin miễn phí về
nguồn tư liệu nghiên cứu thị trường, các sự kiện về tài trợ và thương mại
Quan niệm 3: Buộc phải xin giấy phép xuất khẩu.
Theo một chuyên gia kinh doanh quốc tế, thì “Hầu hết các sản phẩm
không cần đến giấy phép xuất khẩu Những người xuất khẩu chỉ cần viết "NLR"
trên tờ khai báo xuất khẩu của hãng vận tải trong trường hợp không cần đến giấyphép là không có thủ tục giấy tờ phiền hà nào phát sinh” Giấy phép chỉ cần đếntrong với các trường hợp xuất khẩu các mặt hàng bị hạn chế (như công nghệ caohoặc hàng hoá liên quan đến lĩnh vực quân sự) hàng hóa được chở đến một nướcđang chịu lệnh cấm vận thương mại của Mỹ hoặc các hạn chế khác Để có đượccác thông tin về yêu cầu đối với giấy phép xuất khẩu, các công ty có thể liên hệCục quản lý xuất khẩu (BXA) thuộc Phòng thương mại
Quan niệm 4: Không tài trợ xuất khẩu cho các doanh nghiệp nhỏ
Chính phủ Việt Nam từng năm có những bước tiến rõ ràng trong chínhsách hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việc ban hành Nghị định56/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/6/2009 “Về trợ giúp phát triển doanhnghiệp nhỏ và vừa” đã giúp đỡ rất nhiều cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa cónhững hướng dẫn cụ thể giúp đỡ phát triển về nhiều lĩnh vực, vấn đề mà doanhnghiệp vừa và nhỏ thường xuyên gặp phải như các vấn đề về vốn vay, máy móc,thiết bị, khoa học công nghệ…
Trang 261.1.4.2 Các công ty đa quốc gia
Các công ty đa quốc gia rất khác nhau về qui mô, có thể nhỏ như công tychứng khoán Pinkerton với doanh số hàng năm khoảng 900 triệu USD, và có thểlớn như Mitsubishi với doanh số hơn 128 tỷ USD Các công ty đa quốc gia nổitiếng khác là Boeing (Mỹ) Sony (Nhật Bản), Volvo (Thụy Điển), Coca-Cola(Mỹ), và Samsung Electronics (Hàn Quốc)
Các đơn vị kinh doanh của những công ty quốc tế lớn có thể hoạt động mộtcách độc lập hoặc như là những bộ phận của một mạng toàn cầu liên kết chặtchẽ Hoạt động độc lập được lựa chọn khi công ty có sự am hiểu về văn hoá địaphương và có khả năng thích ứng nhanh chóng đối với những biến động trên thịtrường địa phương Mặt khác, các công ty hoạt động với tư cách là một hệ thốngtoàn cầu thường cảm thấy dễ dàng hơn trong việc phản ứng lại những biến độngbằng cách di chuyển sản xuất, tiến hành marketing, và các hoạt động khác giữacác đơn vị kinh doanh ở các nước Việc xác định cơ cấu tổ chức nào được coi làphù hợp sẽ tùy thuộc vào hình thức kinh doanh Như đã đề cập ở trên, chúng ta
sẽ bàn về những chiến lược và cơ cấu tổ chức khác nhau một cách chi tiết hơnhơn ở chương 12
1.1.4.2.1 Vai trò quan trọng về mặt kinh tế của các công ty đa quốc gia
Như chúng ta đó thấy, nếu các công ty vừa và nhỏ có vai trò đặc biệt quantrọng đối với nền kinh tế một nước thì tại sao các bản tin về kinh doanh lại chủyếu tập trung vào các công ty đa quốc gia lớn? Ở đây có hai nguyên nhân chính:
- Ưu thế về kinh tế và chính trị khiến cho vai trò của các công ty này càng
nổi bật hơn Các công ty lớn tạo ra nhiều việc làm, bỏ vốn đầu tư lớn, và mang
lại nguồn thu nhập quan trọng cho nước sở tại từ thuế Tương tự, những thôngbáo về việc đóng cửa các nhà máy của những công ty quốc tế lớn được phát đi
Trang 27như là những bản tin chính bởi vì điều đó dẫn đến việc hàng trăm, thậm chí hàngngàn người bị mất việc làm
- Các giao dịch của những công ty này thường liên quan tới lượng tiền
tệ rất lớn Thông thường mức thu nhập và các giao dịch của các công ty lớn,
chẳng hạn các công ty được sáp nhập và thôn tính, có thể đạt tới con số hàngtrăm triệu, có khi tới hàng trăm tỷ USD Năm 1998, công ty Daimler- Benzcủa Đức đó tuyên bố nhập với Chrysler Corporation thành một công ty mớivới số vốn 40 tỷ USD; vào tháng 12 cùng năm đó, 2 công ty dầu khí toàn cầu
là Exxon và Mobil cũng đó thỏa thuận tạo lập một công ty sáp nhập với sốvốn lên tới 86 tỷ USD
1.1.4.2.2 Các công ty đa quốc gia và GDP
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): Toàn bộ giá trị thị trường của tất cả hàng
hoá và dịch vụ được sản xuất ra trong giai đoạn một năm trên cơ sở sử dụng các nguồn lực sẵn có trong phạm vi một quốc gia.
Chúng ta có thể nhận thấy ảnh hưởng kinh tế to lớn của các công ty đaquốc gia khi so sánh doanh số của các công ty trong số 500 công ty lớn nhất thếgiới với giá trị hàng hoá và dịch vụ sản xuất ra ở những nước khác nhau
Bảng 1.2 xếp 9 công ty đa quốc gia có doanh số hàng năm cao nhất vàodanh sách các quốc gia xếp thứ tự từ vị trí 25 đến 44 xét theo giá trị sản lượngquốc gia Chỉ tiêu đo sản lượng quốc gia là tổng sản phẩm quốc nội (GDP) -toàn bộ giá trị thị trường của tất cả hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra tronggiai đoạn một năm trên cơ sở sử dụng các nguồn lực sẵn có trong phạm vi mộtquốc gia Điều này có nghĩa là nếu Wal - Mart Stores là một nước thì nó sẽ làmột nước giàu và đứng trước cả Hy Lạp và Đan Mạch Thậm chí công ty lớn thứ
500 trên thế giới là Flour có doanh thu là 16,691 triệu USD cũn lớn hơn cả GDP
Trang 28của nhiều nước Tập đoàn Wal-Mart Stores có 2.055.000 nhân viên- đó là sốnhân viên của công ty lớn nhất trong 500 công ty hàng đầu thế giới Công tyđứng thứ 2 trong số 500 công ty hàng đầu là Exxon Mobil cú 107.100 nhân viên,cũn 104.400 là số nhân viên của công ty đứng vị trí thứ 3 trong 500 công ty lớnnhất thế giới Tất cả các ngành công nghiệp đều có mặt trong danh sách 500công ty toàn cầu ở mọi lĩnh vực Bảng 1.3 mở rộng danh sách các công ty đaquốc gia có doanh số hàng năm lớn nhất (từ thứ 10đến 29), và bảng 1.4 giớithiệu sự phân bố quốc tế của 500 công ty lớn nhất toàn cầu.
Bảng 1.2: So sánh 500 công ty toàn cầu với một số nước lựa chọn
n v : Tri u USD Đơn vị: triệu USD ị: triệu USD ệu USD
Trang 29Bảng 1.3: Các công ty khác trong 500 công ty lớn nhất toàn cầu
Đơn vị: Triệu USD
Trang 30Bảng 1.4: Sự phân bố của 500 công ty toàn cầu
1.1.4.2.3 Hội chứng sáp nhập: Các công ty sau khi thực hiện M&A (hội
chứng sáp nhập) sẽ trở thành những công ty đa quốc gia với hoạt động trải dài ranhiều thị trường quốc gia làm cho tổng sản lượng của một số quốc gia ngày càngtrở nên nhỏ bé, mà chúng còn đang ngày càng lớn thêm với năng lực cạnh tranhcao, phục vụ khách hàng tốt và đạt hiệu quả cao về chi phí, quản lý vận hành.Chỉ riêng trong năm 2007, giá trị các vụ mua bán và sáp nhập đạt 4.400 tỷ USD,tăng 21% so với mức 3.600 tỷ USD của năm 2006 Tuy nhiên đến năm 2008 thìtổng giá trị các vụ mua bán và sáp nhập giảm đạt 2.890 tỷ USD
Trang 311.1.5 Các hình thức kinh doanh quốc tế
1.1.5.1 Nhóm hình thức kinh doanh trên lĩnh vực ngoại thương
- Nhập khẩu là hoạt động mang các hàng hoá và dịch vụ vào một nước do
các Chính phủ, tổ chức hoặc cá nhân đặt mua từ các nước khác nhau
- Xuất khẩu là hoạt động bán hàng hoá và dịch vụ ra khỏi một nước sang các
quốc gia khác
- Gia công quốc tế là hoạt động Bên đặt gia công giao hoặc bán đứt nguyên
vật liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công Sau một thời gian thoảthuận, Bên nhận gia công nộp hoặc bán lại thành phẩm cho Bên đặt gia công vàBên đặt gia công phải trả cho Bên nhận gia công một khoản gọi là phí gia công
- Tái xuất khẩu là xuât khẩu trở lại ra nước ngoài nhưng hàng hoá trước đây
đó nhập khẩu nhưng không qua gia công chế biến
Tuy nhiên, trong thực tế có một số cách thức tái xuất khẩu khác nhau mà cáccông ty có thể lựa chọn tuỳ theo điều kiện cụ thể của mình
- Chuyển khẩu là hàng hoá được chuyển từ một nước sang một nước thứ ba
thông qua một nước khác
- Xuất khẩu tại chỗ là hành vi bán hàng hoá cho người nước ngoài trên lónh
địa của nước mình
- Buôn bán đối lưu là hoạt động xuất khẩu được kết hợp chặt chẽ với nhập
khẩu, người Bán đồng thời là người Mua, lượng hàng giao đi có giá trị tươngđương với lượng hàng nhận về
- Hội chợ quốc tế là hoạt động định kỳ, tổ chức vào một thời gian và địa
điểm cụ thể và trong một thời hạn cụ thể và tại đó người Bán đem trưng
Trang 32bày hành hóa của mình và tiếp xúc trực tiếp với người Mua để ký hợp đồngmua bán.
1.1.5.2 Nhóm hình thức kinh doanh thông qua các hợp đồng
- Hợp đồng cấp giấy phép (Hợp đồng li xăng) là một hợp đồng thông qua
đó một công ty (doanh nghiệp, người cấp giấy phép) trao quyền sử dụng nhữngtài sản vô hình của mình cho một doanh nghiệp khác trong một thời gian nhấtđịnh và người được cấp giấy phép (Li- xăng) phải trả cho người cấp giấy phépmột số tiền nhất định
- Hợp đồng đại lý đặc quyền là một hợp đồng hợp tác kinh doanh thông qua
đó là người đưa ra đặc quyền trao và cho phép người nhận đặc quyền sử dụngtên công ty rồi trao cho họ nhãn hiệu, mẫu mã và tiếp tục thực hiện sự giúp đỡhoạt động kinh doanh của đối tác đó, ngược lại công ty nhận đươc một khoántiền mà đối tác trả cho công ty
- Hợp đồng quản lý là hợp đồng qua đó một doanh nghiệp thực hiện sự giúp
đỡ của mình đối với một doanh nghiệp khác quốc tịch bằng việc đưa nhữngnhân viên quản lý của mình để hỗ trợ cho doanh nghiệp kia thực hiện các chứcnăng quản lý
- Hợp đồng theo đơn đặt hàng là loại hợp đồng thường diễn ra với các dự án
vô cùng lớn, đa dạng, chi tiết với những bộ phận rất phức tạp,cho nên các vấn đề
về vốn, công nghệ và quản lý, họ không tự đảm nhận dược mà phải ký hợp đồngtheo đơn đặt hàng từng khâu, từng giai đoạn của dự án đó
- Hợp đồng xây dựng và chuyển giao là những hợp đồng được áp dụng chủ
yếu trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, trong đó chủ đầu tư nước ngoài bỏvốn ra xây dựng công trình, kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất địnhsau đó chuyển giao lại cho nước sở tại trong tình trạng công trình còn đang hoạt
Trang 33động tốt mà nước sở tại không phải bồi hoàn tài sản cho bên nước ngoài.
- Hợp đồng phân chia sản phẩm là loại hợp đồng mà hai bên hoặc nhiều bên
ký kết với nhau cùng nhau góp vốn để tiên hành các hoạt động kinh doanh vàsản phẩm thu được sẽ được chia cho các bên theo tỷ lệ góp vốn hoặc thoả thuận
1.1.5.3 Nhóm hình thức kinh doanh thông qua đầu tư nước ngoài
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức chủ đầu tư mang vốn hoặc tài sản
sang nước khác để đầu tư kinh doanh và trực tiếp quản lý và điều hành đốitượng mà họ bỏ vốn, đồng thời chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả kinhdoanh của dự án
- Đầu tư gián tiếp nước ngoài là hình thức chủ đầu tư nước ngoài mang vốn
sang nước khác để đầu tư nhưng không trực tiếp tham gia quản lý và điều hànhđối tượng bỏ vốn đầu tư hoặc thông qua việc mua cổ phiếu ở nước ngoài hoặccho vay Thực tiễn kinh doanh quốc tế sẽ còn xuất hiện nhiều hình thức mới đểcác công ty lựa chọn như kinh doanh tổng hợp và các dich vụ quốc tế Trên đây
là các hình thức phổ biến nhất và cơ bản nhất mà các chủ thể kinh doanh quốc tế
có thể lựa chọn cho phù hợp với điều kiện của mình
1.2 TOÀN CẦU HOÁ
1.2.1 Các loại toàn cầu hoá
Toàn cầu hóa: Là quá trình hội nhập của các nền kinh tế quốc gia.
Mặc dù chính phủ các nước đều đang duy trì sự kiểm soát chặt chẽ đối vớihàng hóa, nhân công, và luồng vốn lưu chuyển trên thị trường của mình, nhưng
nền kinh tế toàn cầu đang ngày càng trở thành một chỉnh thể thống nhất Quá
trình hội nhập của các nền kinh tế quốc gia được gọi là toàn cầu hoá Sau đây
chúng ta sẽ xem xét quá trình toàn cầu hóa một cách chi tiết:
Trang 341.2.1.1 Toàn cầu hoá thị trường
Quá trình toàn cầu hóa các thị trường (nơi người mua và người bán gặp
gỡ để trao đổi hàng hoá và dịch vụ) là rất quan trọng đối với việc nghiên cứu củachúng ta về kinh doanh quốc tế Ví dụ, sở thích của người tiêu dùng đối với một
số sản phẩm đang có xu hướng đồng hóa với nhau trên toàn thế giới Sony, L.LBean, Nike, The Gap, Calvin Klein, Coca-Cola, và Mc Donald’s chỉ là số ít
công ty đang bán ra những sản phẩm toàn cầu - những sản phẩm được đưa ra
thị trường ở tất cả các nước mà hầu như không cần sự thay đổi nào Đôi khi
các công ty thực hiện một số thay đổi nhỏ để đáp ứng sở thích của dân chúng địaphương Ở vùng phía nam Nhật Bản, hãng Coca-Cola đã tăng độ ngọt trongcông thức truyền thống của mình để cạnh tranh với mặt hàng Pepsi có vị ngọthơn Ở Ấn Độ, nơi bò được coi là con vật linh thiêng và việc ăn thịt bò bị cấm,hãng Mc Donald đưa ra thị trường món “Malaraja Mac”- loại bánh bao gồm chảbằng thịt cừu kẹp bên trong có rắc vừng hạt
1.2.1.2 Toàn cầu hóa hoạt động sản xuất
Ngày nay, nhiều hoạt động sản xuất đang biến thành những hoạt động
mang tính toàn cầu Công nghệ cho phép một sản phẩm bất kỳ có thể được sản xuất ở nơi nào mà việc sản xuất được coi là rẻ nhất Chính phủ và chính
quyền các địa phương đều đưa ra rất nhiều quy định nhằm khuyến khích cáccông ty xây dựng các nhà máy ở đất nước hoặc địa phương của mình Chiếnlược này sẽ mang lại việc làm cho quốc gia nơi được lựa chọn để xây dựng nhàmáy, nhưng có thể tạo ra tình trạng thất nghiệp đối với quốc gia khác nếu nhàmáy ở quốc gia đó sẽ bị đóng cửa
Chẳng hạn, các trung tâm kinh doanh ở Châu Á như Kuala Lumpur(Malaixia), Singapore, Thượng Hải (Trung quốc) và Vịnh Xubich của Philipin,đang lôi cuốn các công ty toàn cầu bằng các mức thuế và trợ cấp ưu đãi và công
Trang 35nhân được đào tạo tốt Chính phủ Philippine, vốn từng nổi tiếng về việc tróibuộc các nhà đầu tư nước ngoài với lề thói làm việc quan liêu, hiện đang mởđường cho Federal Expsess và ba công ty chuyển phát khác chuyển đổi căn cứhải quân của Mỹ trước đây tại vịnh Xubich thành một trung tâm kinh doanh ởChâu Á Một quan chức của Fedex nói rằng "Chính quyền địa phương này mongmuốn biến chúng tôi thành người chủ tại Vịnh Xubich Điều này có ảnh hưởnglớn tới các quyết định của chúng tôi”.
Do vai trò của các quốc gia có chi phí thấp ngày càng tăng, các nhà quản trị sẽ cần phải hiểu biết nhiều hơn về môi trường kinh doanh ở các nước này Để có được thông tin chi tiết hơn về những nước mà các nhà quản trị
được gửi đến, hãy xem mục Điều tra kinh doanh thế giới với nội dung “Mười
lăm nước đứng đầu thế giới".
Điều tra Kinh doanh thế giới
Một cuộc điều tra gần đây đã chỉ ra những quốc gia hàng đầu thế giớitrong việc thu hút các nhà quản trị Mỹ Trong cuộc khảo sát số liệu gần đây thìcác nước Châu Mỹ La tinh có thứ hạng cao hơn các nước Châu Á nhưng lượngthu hút ở các nước của Châu Mỹ Latinh lại không đồng đều bằng các nước ởChâu Á Dưới đây là 15 nước đứng đầu thế giới trong việc thu hút các nhà quảntrị Mỹ
Bảng 1.5: 15 nước hàng đầu thế giới thu hút các nhà quản trị Mỹ
Trang 361.2.2 Các xu hướng toàn cầu hoá
Có hai yếu tố chính đang thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa các thị trường
và hoạt động sản xuất là: các trở ngại đối với thương mại và đầu tư và sự đổi
mới công nghệ tăng lên cũng như sự phát triển của giao thông vận tải.
Sau đây chúng ta sẽ xem xét từng yếu tố này một cách chi tiết:
1.2.2.1 Giảm bớt các trở ngại đối với thương mại và đầu tư
1.2.2.1.1 GATT
Vào năm 1947, 23 quốc gia đã làm nên sự kiện lịch sử khi họ sáng lập
Hiệp định chung về và thuế quan và thương mại (GATT) GATT là một hiệp
định quốc tế có chức năng thiết lập những quy tắc cụ thể đối với thương mại
quốc tế nhằm mở cửa các thị trường quốc gia thông qua việc cắt giảm thuế quan (thuế đối với các hàng hoá trao đổi) và các trở ngại phi thuế quan như hạn ngạch
(những hạn chế đối với khối lượng hàng hoá được phép đưa vào một nước).Ngày nay GATT có 153 thành viên
Do hàng hoá chiếm phần lớn tổng giá trị thương mại thế giới vào thời bấygiờ nên hiệp định GATT năm 1947 chỉ tập trung vào thương mại hàng hoá Hiệpđịnh này đó tỏ ra khá thành công: Năm 1988, thương mại hàng hoá thế giới đó
Trang 37tăng hơn 20 lần so với năm 1947, và thuế suất trung bình giảm từ 40% xuốngcòn 5% Nhưng vào cuối những năm 1980, mâu thuẫn thương mại đã làm tăngcác trở ngại phi thuế quan lên tới 45% Hơn nữa, các ngành công nghiệp dịch vụphát triển nhanh chóng và chiếm từ 25% đến 30% tổng thương mại thế giới.Hiệp định GATT sau lần sửa đổi năm 1994 có những điểm khác với hiệp địnhban đầu ở một số nội dung quan trọng như sau:
- Thuế suất trung bình đối với thương mại hàng hóa sẽ giảm hơn nữa
- Trợ cấp (trợ giá) đối với nông sản được giảm đáng kể.
- Quyền sở hữu trí tuệ được định nghĩa rõ ràng, và thực hiện bảo hộ đối với
bản quyền (bao gồm các chương trìnhmáy tính, cơ sở dữ liệu, các bản sao âmthanh, phim ảnh), nhãn hiệu thương mại và nhãn hiệu dịch vụ và bằng sáng chế(bao gồm bí quyết thương mại và know-how)
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) được thành lập với chức năng tăng
cường hiệu lực của hiệp định GATT mới - một cơ quan đại diện mà hiệp địnhGATT năm 1947 chưa có - với chức năng giám sát các hiệp định thương mạigiữa các nước thành viên với nhau theo các quy tắc thương mại Hoạt động củaWTO nhằm mục đích loại bỏ hay giảm thiểu các rào cản thương mại để tiến tới
tự do thương mại Vòng đàm phán tiếp theo của GATT năm 2000 - vòng đàmphán Doha về mục tiêu giảm bớt các rào cản thương mại trên toàn thế giới, vớitiêu điểm là thực hiện thương mại công bằng đối với các nước đang phát triểnvẫn đang gặp bế tắc do bất đồng quan điểm của các nước phát triển giàu có vớicác nước nghèo đang phát triển
1.2.2.1.2 Vai trò của các khối thương mại
Các quốc gia đang liên kết các nền kinh tế của mình thành cãc khối chưabao giờ tồn tại trước đây Chẳng hạn, Hiệp định tự do thương mại Bắc Mỹ
Trang 38(NAFTA) liên kết quốc gia (Canađa, Mexico và Mỹ) thành một khối thương mại
tự do Một khối có tham vọng lớn hơn nữa là Liên minh Châu Âu (EU) bao gồm
27 nước Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC) tập hợp 21quốc gia đó cam kết thành lập một khu vực mậu dịch tự do dọc theo vòng cung
Tất cả các hiệp định trên đều đặt mục tiêu giảm bớt các trở ngại đối với thương mại quốc tế Nhờ có những sáng kiến như vậy nên thương mại quốc tế ngày nay
có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng của sản xuấttrên toàn thế giới
1.2.2.2 Sự phát triển của công nghệ thông tin
Trong khi việc giảm bớt các trở ngại đối với thương mại và đầu tư kích
thích quá trình toàn cầu hóa, thì sự gia tăng đổi mới công nghệ đang thúc đẩy
mạnh hơn quá trình đó Những tiến bộ đạt được trong công nghệ thông tin và
vận tải đang làm cho quá trình chuyển tải số liệu hàng hóa, thiết bị,và con ngườitrên toàn thế giới diễn ra dễ dàng hơn, nhanh hơn và với chi phí thấp hơn
Nhiều hoạt động kinh doanh như quản lý lao động và lập kế hoạch sản xuất
ở một vài địa điểm trở nên khó khăn và tốn kém hơn, khi chúng được tổ chức ởngoài phạm vi biên giới quốc gia và những vùng có múi giờ khác nhau Nhưngcác công nghệ máy tính mới có thể đẩy nhanh dòng thông tin, từ đó làm cho quátrình phối hợp và kiểm soát trở nên dàng và ít tốn kém hơn Chẳng hạn, bằng thưđiện tử (email) các nhà quản trị có thể tiếp cận tới các giao dịch quốc tế và phảnứng nhanh chóng đối với các vấn đề quan trọng nảy sinh Kỹ thuật hội thảo quamàn hình cho phép các luật sư gặp gỡ nhau trong khi họ vẫn ngồi tại các vănphòng của các chi nhánh khác nhau và cho phép các kỹ sư cộng tác với nhautrong việc thiết kế sản phẩm từ nhiều địa điểm xa xôi Kết quả là doanh số báncủa toàn thế giới về thiết bị hội nghị qua màn hình đó tăng từ 1,6 tỷ USD năm
1996 lên khoảng 7 tỷ USD năm 1998
Trang 39Mạng toàn cầu, mạng nội bộ và mạng mở rộng: Cỏc công ty còn sử dụng
mạng toàn cầu (Internet) và WWW (World Wide Web) để tiếp cận với các hoạtđộng sản xuất và phân phối quốc tế Một công trình nghiên cứu gần đây chothấy 61% các nhà quản trị cảm thấy rằng kiến thức về Internet sẽ giúp họ trởthành những nhà quản trị theo sát thị trường hơn ; 76% tin rằng sự hiểu biết vềmạng (Net-savvy) sẽ có lợi cho nghề nghiệp của họ trong vòng 5 năm
Nhiều mạng riêng của các trang Web nội bộ công ty và những nguồn thôngtin khác (gọi là mạng cục bộ - Intranet) cho phép các nhân viên truy cập thôngtin của công ty mình từ những địa điểm xa xôi thông qua máy tính để bàn vàModem Hãng Microsoft thông báo rằng các dữ liệu phân tích bán hàng đượctruy cập nhiều hơn 5 lần bình thường khi chúng được đưa vào mạng Intranet của
công ty Ngày nay, cái gọi là các mạng mở rộng (Extranet) đương được phát
triển để giúp các nhà phân phối và những người cung cấp có thể truy cập vào cơ
sở dữ liệu của một công ty, và do vậy họ có thể đặt hàng hoặc nhập lại hàng tồnkho theo hệ thống điện tử và tự động Tất cả các công nghệ mới đó cho phép cácnhà quản trị có thể phản ứng một cách nhanh chóng hơn bao giờ hết đối với cácđiều kiện bên trong lẫn bên ngoài
Công nghệ và kinh doanh nhỏ Công nghệ máy tính có thể làm tăng khả
năng cạnh tranh của các công ty nhỏ thông qua việc giảm chi phí tiếp cận thịtrường quốc tế Trên thực tế các công ty nhỏ thuộc diện những người đầu tiên sửdụng trang Web như là một công cụ Marketing toàn cầu, và nhiều công ty còn
có thể phản ứng nhanh hơn các công ty lớn trước những điều kiện thị trườngluôn biến động
Những “doanh nghiệp kinh doanh trên mạng” đang nhanh chóng vượt lêncác đối thủ cạnh tranh lớn hơn nhưng lại không nhanh nhạy và hiểu biết vềmạng Một nhà thiết kế trang Web ở Caracas, Veneznela là Jim Macintyre thuộc
Trang 40TJR Shop nói rằng: “Tôi cho rằng trường hợp của chúng tôi là khá điển hình.Hãng của chúng tôi đã ở tình trạng báo động cho đến khi chúng tôi bắt đầu bánhàng vào thị trường Mỹ Hiện giờ 90% những khách hàng của chúng tôi làngười Mỹ” Đối với Jonathan Strum, một khách hàng của TJ ở Los Angeles, thìtrang Web dường như làm cho Caracas nằm ngay bên cạnh Ông nói thêm:
“Cách đây không lâu, tôi đã từng có ý nghĩ rằng việc phụ thuộc vào một công ty
ở Caracas để có được những dịch vụ cần thiết cho hoạt động kinh doanh củachúng tôi là điều xa vời Nhưng giờ đây tôi đang nhập khẩu toàn bộ thiết kế đồhọa và phần lớn chương trình của chúng tôi từ nước ngoài.”
Một số thuận lợi và bất lợi của công nghệ Một số nhà kinh doanh cảm thấy
rất khó tồn tại được trên Internet Phần lớn các thuê bao Internet đều phải chịu lỗ
ít nhất 3 năm trước khi bắt đầu có được lợi nhuận - và thời gian đó là quá lâu đốivới đa số các công ty nhỏ Những công ty tồn tại được lại có xu hướng chỉ báncác loại hàng hoá giá thấp và có nhu cầu lớn Nhưng ngay cả những mặt hàngbán chạy nhất cũng khó có thể bán được trên Internet, đặc biệt khi người muavẫn còn do dự khi chuyển những thông tin của thẻ tín dụng qua không gianmạng (cyberspace) Một cuộc điều tra gần đây cho thấy chỉ có 15% số người sửdụng Internet đó từng mua một thứ gì đó qua mạng “Mua bán qua cửa sổ mạng”
và thu thập thông tin là những hoạt động ngày càng trở nên phổ biến hơn
Kỹ thuật hội thảo qua màn hình- hình thức cho phép giao tiếp "mặt đối mặt" tại cùng một thời điểm, đang giúp cho vấn đề giao tiếp trong cộng đồng toàn cầu trở nên dễ dàng hơn Diễn đàn kinh tế thế giới, một tổ chức phi lợi nhuận toàn cầu với 2.000 thành viên từ các chính phủ, các giới học thuật, kinh doanh
và truyền thông, gần đây đó tiếp nhận kỹ thuật hội thảo qua màn hình như là một công cụ giao tiếp nhanh và thuận tiện với các thành viên trên toàn thế giới Tương tự, các bác sĩ tại hai bệnh viện trẻ em, Sri Ramachandra Medical College ở Ấn Độ và Bệnh viện dành cho trẻ em khuyết tật ở Toronro, đó sử