Như vậy, xuất khẩu gạo năm 2010 đã đạt hai kỷ lục, cả về sản lượng và giá trị xuất khẩu khi tình hình lương thực toàn cầu đang phải đối mặt với tình trạng khan hiếm, nguyên nhân chủ yếu
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan chuyên đề cuối khóa của em được thực hiện dưới sựhướng dẫn nhiệt tình và tận tụy của ThS Nguyễn Thị Thúy Hồng và sự tìmtòi, tổng hợp của bản thân em qua các tài liệu Nội dung bài viết không hề có
sự sao chép từ bất kỳ một chuyên đề hay luận văn nào, mỗi trích dẫn đềuđược cho vào trong ngoặc kép và có chú thích rõ nguồn gốc Nếu có bất kì saiphạm nào em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Sinh viên Phạm Thị Quỳnh Trang
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn bộ các thầy cô giáo trongChuyên ngành Kinh tế quốc tế, Khoa Thương mại và Kinh tế quốc tế- TrườngĐại học Kinh tế quốc dân đã tận tình giảng dạy cho em trong suốt quá trìnhhọc tập tại trường, em cũng xin gửi lời cảm ơn tới PGS.TS Đỗ Đức Định-Viện trưởng Viện nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông cùng các cô chú cán
bộ, chuyên viên của Viện đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em họchỏi, thu thập số liệu và nghiên cứu trong suốt thời gian thực tập tại Viện.Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Cô giáo- ThS Nguyễn ThịThúy Hồng đã trực tiếp hướng dẫn tận tình giúp đỡ và chỉ bảo cho em trongsuốt quá trình thực hiện chuyên đề thực tập cuối khóa của mình
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên Phạm Thị Quỳnh Trang
Trang 3kỷ lục mới về khối lượng gạo xuất khẩu So với năm 2008, xuất khẩu gạo tăng
29,49% về lượng tương đương 1,38 triệu tấn, tuy nhiên giá trị xuất khẩu lại giảm 8,49% tương đương 226 triệu USD, do giá xuất khẩu năm 2009 thấp hơn so với năm
2008 nhưng giá trị xuất khẩu gạo năm 2009 vẫn cao hơn 27% so với mức giá trị xuất khẩu bình quân giai đoạn 2006- 2008 Đây cũng là năm đầu tiên Việt Nam đạt kỷ lục cao nhất về lượng gạo xuất khẩu trong 20 năm qua 13 Năm 2010, xuất khẩu gạo được đánh giá là đạt kỷ lục cả về khối lượng và giá trị Lượng gạo xuất khẩu cả năm 2010 ước đạt 6,88 triệu tấn, kim ngạch là 3,23 tỷ USD,
so cùng kỳ năm trước tăng 15,4% về lượng và tăng tới 21,2% về giá trị Bình quân giá gạo xuất khẩu đạt 468 USD/tấn, tăng 5,02% so với năm trước Đây là lần đầu tiên xuất khẩu gạo nước ta vượt con số 3 tỷ USD, trong khi mục tiêu đặt ra đầu năm nay chỉ khoảng 2,5- 2,8 tỷ USD Như vậy, xuất khẩu gạo năm 2010 đã đạt hai kỷ lục, cả
về sản lượng và giá trị xuất khẩu khi tình hình lương thực toàn cầu đang phải đối mặt với tình trạng khan hiếm, nguyên nhân chủ yếu là do một số nước đang gặp phải thiên tai, hạn hán, bão lụt kéo dài làm mất mùa, giảm năng suất nên nhu cầu lương thực ngày càng tăng cao đối với một số quốc gia 13 Theo nhận định của các chuyên gia thì năm nay tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam
sẽ tiếp tục đạt khả quan vì nhu cầu về gạo của các nước đang gia tăng, trong khi tình hình sản xuất lại không đáp ứng đủ nhu cầu lương thực, buộc các nước phải đẩy mạnh nhập khẩu gạo để dự trữ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đặt ra mục tiêu năm
2011 sẽ xuất khẩu ít nhất 6 triệu tấn gạo Như vậy, xuất khẩu gạo năm nay có thể thấp hơn khoảng 10- 15% so với năm 2010, sở dĩ chỉ đặt ra mục tiêu khiêm tốn trên là do còn cân đối việc đảm bảo an ninh lương thực và lượng tồn kho thấp gần một nửa so với mọi năm Nếu điều kiện mùa màng thuận lợi, Việt Nam sẽ xuất khẩu trên 6 triệu tấn, tập trung gạo chất lượng cao cho các thị trường khó tính 14 Các thị trường nhập khẩu gạo với số lượng lớn là Ghana, Angola, Cốt-đi-voa, Mô-dăm- bích, Nam Phi, Công-gô, Ni-giê-ri-a… Từ bảng số liệu ta thấy giá trị xuất khẩu mặt hàng gạo vào thị trường Châu Phi đều có xu hướng tăng trong các năm 2007- 2009 44
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT
Các ký
hiệu viết
tắt
Nghĩa đầy đủ
1 USAID The United States Agency for
International Development
Cục khảo sát dân số và Cơ quan hợp tác phát triển Hoa Kỳ
2 USDA The United States Department of
9 NEPAD The New Partnership for Africa's
chứng từ
kèm chứng từ
Trang 513 IUEMOA The IU Economic and Monetary of
West Africa
Khu vực Liên minh kinh tế và tiền tệ Tây Phi
Community of Central Africa
Cộng đồng kinh tế và tiền tệ Trung Phi
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Qua bảng số liệu trên ta thấy, trong giai đoạn 2004- 2010 hoạt động xuất khẩu gạo đã đạt được thành tựu rực rỡ cả về số lượng và giá trị xuất khẩu qua mỗi năm và đều có
xu hướng gia tăng với số lượng xuất khẩu luôn ở ngưỡng trên 4 triệu tấn/năm, giá trị xuất khẩu năm 2010 lên tới 3,23 tỷ USD tăng 2,76 lần tương đương 2,371 tỷ USD so
với mức 0,859 tỷ USD của năm 2004 12
Nếu năm 2008 là năm đánh dấu mốc kim ngạch xuất khẩu gạo vượt qua con số 2 tỷ USD thì năm 2009 là năm lập kỷ lục về số lượng gạo xuất khẩu với 6.052.586 tấn tăng 13,6% tương đương 708 ngàn tấn, so với mức 5,2 triệu tấn của năm 2005 và lập kỷ lục mới về khối lượng gạo xuất khẩu So với năm 2008, xuất khẩu gạo tăng 29,49% về lượng tương đương 1,38 triệu tấn, tuy nhiên giá trị xuất khẩu lại giảm 8,49% tương đương 226 triệu USD, do giá xuất khẩu năm 2009 thấp hơn so với năm 2008 nhưng giá trị xuất khẩu gạo năm 2009 vẫn cao hơn 27% so với mức giá trị xuất khẩu bình quân giai đoạn 2006- 2008 Đây cũng là năm đầu tiên Việt Nam đạt kỷ lục cao nhất về lượng gạo xuất khẩu trong 20 năm qua 13
Năm 2010, xuất khẩu gạo được đánh giá là đạt kỷ lục cả về khối lượng và giá trị Lượng gạo xuất khẩu cả năm 2010 ước đạt 6,88 triệu tấn, kim ngạch là 3,23 tỷ USD, so cùng kỳ năm trước tăng 15,4% về lượng và tăng tới 21,2% về giá trị Bình quân giá gạo xuất khẩu đạt 468 USD/tấn, tăng 5,02% so với năm trước Đây là lần đầu tiên xuất khẩu gạo nước ta vượt con số 3 tỷ USD, trong khi mục tiêu đặt ra đầu năm nay chỉ khoảng 2,5- 2,8 tỷ USD Như vậy, xuất khẩu gạo năm 2010 đã đạt hai kỷ lục, cả về sản lượng và giá trị xuất khẩu khi tình hình lương thực toàn cầu đang phải đối mặt với tình trạng khan hiếm, nguyên nhân chủ yếu là do một số nước đang gặp phải thiên tai, hạn hán, bão lụt kéo dài làm mất mùa, giảm năng suất nên nhu cầu lương thực ngày càng tăng cao đối với một số quốc gia 13
Theo nhận định của các chuyên gia thì năm nay tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam sẽ tiếp tục đạt khả quan vì nhu cầu về gạo của các nước đang gia tăng, trong khi tình hình sản xuất lại không đáp ứng đủ nhu cầu lương thực, buộc các nước phải đẩy mạnh nhập khẩu gạo để dự trữ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đặt ra mục tiêu năm 2011 sẽ xuất khẩu ít nhất 6 triệu tấn gạo Như vậy, xuất khẩu gạo năm nay có thể thấp hơn khoảng 10- 15% so với năm 2010, sở dĩ chỉ đặt ra mục tiêu khiêm tốn trên là do còn cân đối việc đảm bảo an ninh lương thực và lượng tồn kho thấp gần một nửa so với mọi năm Nếu điều kiện mùa màng thuận lợi, Việt Nam sẽ xuất khẩu trên 6 triệu tấn, tập trung gạo chất lượng cao cho các thị trường khó tính 14
Bảng 2.3: Các nước có GDP/người cao nhất Châu Phi năm 2008 30
Bảng 2.5 : Kim ngạch 7 loại gạo xuất khẩu lớn nhất sang Châu Phi 40
năm 2009 40
Các thị trường nhập khẩu gạo với số lượng lớn là Ghana, Angola, Cốt-đi-voa, Mô-dăm-bích, Nam Phi, Công-gô, Ni-giê-ri-a… Từ bảng số liệu ta thấy giá trị xuất khẩu mặt hàng gạo vào thị trường Châu Phi đều có xu hướng tăng trong các năm 2007- 2009 44
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Việt Nam đang hòa mình cùng dòng chảy chung của nền kinh tế thế giớitrong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Sau 25 năm đổi mới, mởcửa bước ra thị trường thế giới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn
và quan trọng trong phát triển kinh tế- xã hội, nền kinh tế luôn tăng trưởng ởmức cao và ổn định, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện tốt hơn Đểđạt được những thành công này chúng ta không thể không nhắc đến vai tròcủa hoạt động xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu trungbình 17,5%/năm giai đoạn 2006-2010(Nguồn: Bộ Thương mại); đóng gópmột phần không nhỏ trong thành tựu đó là ngành lúa gạo Đặc biệt, khi ViệtNam là một nước đi lên từ nông nghiệp, theo số liệu cuộc tổng điều tra dân số
Trang 8năm 2009 của Tổng cục thống kê, 70,4% dân số nước ta đang sống ở khu vựcnông thôn, lao động nông thôn chiếm 75% tổng lực lượng lao động cả nước,chủ yếu tập trung trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản Với những đặcthù về địa lý, thổ nhưỡng, điều kiện tự nhiên, Việt Nam đã tạo ra số lượng lúagạo không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn có giá trị xuấtkhẩu cao mang lại nguồn ngoại tệ lớn cho quốc gia Sự phát triển nhanh củangành nông nghiệp đã nâng vị thế của Việt Nam trở thành nước xuất khẩulượng gạo lớn thứ hai trên thế giới, góp phần đẩy nhanh quá trình Côngnghiệp hóa- Hiện đại hóa đất nước.
Năm 1989, lần đầu trong lịch sử, nước ta xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo, đạtkim ngạch 310 triệu USD Kể từ đó tới nay hạt gạo Việt Nam đã được bạn bètrên khắp các châu lục biết tới, đặc biệt khi Việt Nam gia nhập WTO đã mở ranhững cơ hội thuận lợi cho xuất khẩu lương thực của Việt Nam nói chung vàxuất khẩu gạo nói riêng vào các thị trường mới đầy tiềm năng, trong đó phải
kể đến thị trường Châu Phi, Châu Phi hiện là thị trường nhập khẩu gạo lớnthứ hai của Việt Nam chỉ sau Châu Á và gạo là mặt hàng quan trọng nhấttrong các loại hàng hoá Việt Nam xuất khẩu sang Châu Phi Nhưng hiện nayViệt Nam mới chỉ là nhà xuất khẩu gạo lớn thứ năm vào thị trường này- vị trínày chưa tương xứng với tiềm năng của một đất nước xuất khẩu gạo hàng đầunhư Việt Nam Với tiềm năng thực tế vẫn còn dư địa rất lớn và khả năng xuấtkhẩu gạo của Việt Nam có đủ sức cạnh tranh trên thị trường tiềm năng này,Việt Nam xuất khẩu gạo sang Châu Phi là một hướng đi đúng trong tương laiđồng thời đẩy mạnh xuất khẩu gạo vào thị trường này là một việc làm cấpthiết đối với hoạt động thương mại nước ta
Nhận thấy được vai trò của hoạt động xuất khẩu gạo vào thị trường ChâuPhi trong thời gian tới và nhằm đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu gạo trong nhữngnăm tiếp theo cần phải có những hiểu biết đầy đủ và toàn diện về hoạt động xuất
Trang 9khẩu mặt hàng gạo của Việt Nam vào các thị trường nói chung và thị trườngChâu Phi nói riêng, đồng thời tìm kiếm các biện pháp nhằm thúc đẩy hoạt độngxuất khẩu gạo sang thị trường Châu Phi Với những lý do đó, em đã lựa chọn đề
tài: “” làm đề tài cho chuyên đề cuối khóa của mình.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Đề tài được chọn với mục đích nghiên cứu phân tích và đánh giá tìnhhình xuất khẩu mặt hàng gạo của Việt Nam vào thị trường Châu Phi trongnhững năm gần đây Từ đó rút ra các thành tựu đã đạt được và các hạn chếcòn tồn tại nhằm đưa ra các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng gạo củaViệt Nam sang thị trường này trong thời gian tới
Việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động xuất khẩumặt hàng gạo của Việt Nam sang thị trường Châu Phi trong thời gian qua, từ
đó biết được những ưu và nhược điểm, thuận lợi và khó khăn để đưa raphương hướng nhằm đẩy mạnh xuất khẩu gạo sang thị trường Châu Phi
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Là hoạt động xuất khẩu mặt hàng gạo của Việt NamPhạm vi nghiên cứu:
Không gian: Đề án tập trung nghiên cứu hoạt động xuất khẩu mặt
hàng gạo của Việt Nam sang thị trường Châu Phi trong điều kiện hội nhập Tổchức thương mại thế giới(WTO) trên cả tầm vĩ mô và vi mô
Thời gian: Chuỗi số liệu nghiên cứu từ năm 2006 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu:
Đề án sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như: Phươngpháp tổng hợp, phân tích, quy nạp, thống kê những thông tin thu thập được trênInternet, thư viện, tạp chí và bằng những hiểu biết của bản thân về vấn đề này
5 Kết cấu của đề tài:
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danhmục bảng biểu và danh mục các chữ viết tắt chuyên đề được kết cấu thành bachương như sau:
Chương 1 Tổng quan hoạt động xuất khẩu mặt hàng gạo của Việt Nam
Trang 10Chương 2 Thực trạng hoạt động xuất khẩu mặt hàng gạo của Việt Nam sang thị trường Châu Phi
Chương 3 Định hướng và giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu mặt hàng gạo của Việt Nam sang thị trường Châu Phi
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU MẶT
HÀNG GẠO CỦA VIỆT NAM
1.1 Khái quát tình hình xuất khẩu mặt hàng gạo của Việt Nam
1.1.1 Đánh giá chung về hoạt động xuất khẩu mặt hàng gạo của Việt Nam
Sau 25 năm thực hiện đường lối đổi mới(1986-2011), Việt Nam từ mộtnước thiếu đói lương thực triền miên, mỗi năm phải nhập khẩu hàng triệu tấnlương thực, song sau hơn 2 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứVI(1986) và 1 năm thực hiện Nghị quyết 10 NQ/TW của Bộ Chính trị “Vềđổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”(1988), năm 1989 Việt Nam khôngnhững sản xuất đủ lương thực đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còndành cho xuất khẩu số lượng 1,42 triệu tấn gạo đạt kim ngạch 310 triệu USD.Tiếp nối những thắng lợi đó năm 2007, sau 21 năm kể từ khi Việt Nam chínhthức gia nhập thị trường xuất khẩu gạo thế giới Việt Nam đã vượt qua Ấn Độtrở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 trên thế giới chỉ đứng sau Thái Lan.Giai đoạn 1989- 2010, Việt Nam xuất khẩu bình quân hàng năm trên 5 triệu
Trang 11tấn gạo sang 128 quốc gia, đạt mức 6,754 triệu tấn vào năm 2010, lượng gạochúng ta xuất khẩu chiếm gần ¼ lượng gạo bán trên thị trường thế giới Hạtgạo Việt Nam đã góp phần đưa vị thế của nước ta ngày càng cao trên thế giớigiữ một vai trò quan trọng trong việc duy trì nguồn cung gạo cho thế giới
Trang 121.1.2 Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng gạo của Việt Nam
Bảng 1.1: Số liệu sản lượng và giá trị xuất khẩu gạo của Việt Nam năm 2004- 2010
1 Tổng lượng gạo xuất
khẩu
Triệu tấn 4,06 5,2 4,64 4,56 4,68 6,06 6,754
4 Tốc độ tăng/giảm
(%) so năm trước % 21,63 48,89 -0,23 16,77 78,72 -8,49 19,49
Nguồn: Theo tính toán tổng hợp của tác giả từ số liệu Hiệp hội Lương thực Việt Nam
Nguồn: Theo tính toán tổng hợp của tác giả từ số liệu Hiệp hội Lương thực Việt Nam
Biểu đồ 1.1: Sản lượng và giá trị xuất khẩu gạo của Việt Nam 2004- 2010
Qua bảng số liệu trên ta thấy, trong giai đoạn 2004- 2010 hoạt động xuấtkhẩu gạo đã đạt được thành tựu rực rỡ cả về số lượng và giá trị xuất khẩu quamỗi năm và đều có xu hướng gia tăng với số lượng xuất khẩu luôn ở ngưỡngtrên 4 triệu tấn/năm, giá trị xuất khẩu năm 2010 lên tới 3,23 tỷ USD tăng 2,76lần tương đương 2,371 tỷ USD so với mức 0,859 tỷ USD của năm 2004
Trang 13Nếu năm 2008 là năm đánh dấu mốc kim ngạch xuất khẩu gạo vượt quacon số 2 tỷ USD thì năm 2009 là năm lập kỷ lục về số lượng gạo xuất khẩu
với 6.052.586 tấn tăng 13,6% tương đương 708 ngàn tấn, so với mức 5,2 triệu
tấn của năm 2005 và lập kỷ lục mới về khối lượng gạo xuất khẩu So với năm
2008, xuất khẩu gạo tăng 29,49% về lượng tương đương 1,38 triệu tấn, tuynhiên giá trị xuất khẩu lại giảm 8,49% tương đương 226 triệu USD, do giáxuất khẩu năm 2009 thấp hơn so với năm 2008 nhưng giá trị xuất khẩu gạonăm 2009 vẫn cao hơn 27% so với mức giá trị xuất khẩu bình quân giai đoạn2006- 2008 Đây cũng là năm đầu tiên Việt Nam đạt kỷ lục cao nhất về lượnggạo xuất khẩu trong 20 năm qua
Năm 2010, xuất khẩu gạo được đánh giá là đạt kỷ lục cả về khối lượng
và giá trị Lượng gạo xuất khẩu cả năm 2010 ước đạt 6,88 triệu tấn, kimngạch là 3,23 tỷ USD, so cùng kỳ năm trước tăng 15,4% về lượng và tăng tới21,2% về giá trị Bình quân giá gạo xuất khẩu đạt 468 USD/tấn, tăng 5,02%
so với năm trước Đây là lần đầu tiên xuất khẩu gạo nước ta vượt con số 3 tỷUSD, trong khi mục tiêu đặt ra đầu năm nay chỉ khoảng 2,5- 2,8 tỷ USD Nhưvậy, xuất khẩu gạo năm 2010 đã đạt hai kỷ lục, cả về sản lượng và giá trị xuấtkhẩu khi tình hình lương thực toàn cầu đang phải đối mặt với tình trạng khanhiếm, nguyên nhân chủ yếu là do một số nước đang gặp phải thiên tai, hạnhán, bão lụt kéo dài làm mất mùa, giảm năng suất nên nhu cầu lương thựcngày càng tăng cao đối với một số quốc gia
Năm 2011, tính đến ngày 24/2/2011, lượng gạo xuất khẩu đạt 944.224tấn, tăng 39,12% so với cùng kỳ năm 2010 là 678.691 tấn, trị giá xuất khẩuđạt 463,142 triệu USD tăng 43,79% tương đương 141,054 triệu USD so vớicùng kỳ năm 2010 Số lượng hợp đồng đăng ký ở mức cao, chủ yếu là 2 hợpđồng tập trung với Malaysia và Indonesia, chiếm trên 400.000 tấn Đặc biệtđây là lần đầu tiên lượng gạo xuất khẩu vào đầu năm lại cao như vậy, dù thị
Trang 14trường truyền thống Philippines chưa đàm phán mua gạo hợp đồng Chínhphủ, nhưng Việt Nam đã xuất bán cho Indonesia với khối lượng gấp 9 lần vàgiá trị gấp 7 lần cùng kỳ năm ngoái Hiệp hội Lương thực Việt Nam dự kiếnquý 1, các doanh nghiệp sẽ xuất khẩu khoảng 1.600.000 tấn gạo tăng 300.000tấn so với kế hoạch
Theo nhận định của các chuyên gia thì năm nay tình hình xuất khẩu gạocủa Việt Nam sẽ tiếp tục đạt khả quan vì nhu cầu về gạo của các nước đanggia tăng, trong khi tình hình sản xuất lại không đáp ứng đủ nhu cầu lương
thực, buộc các nước phải đẩy mạnh nhập khẩu gạo để dự trữ Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn đặt ra mục tiêu năm 2011 sẽ xuất khẩu ít nhất 6 triệu tấn gạo Như vậy, xuất khẩu gạo năm nay có thể thấp hơn
khoảng 10- 15% so với năm 2010, sở dĩ chỉ đặt ra mục tiêu khiêm tốn trên
là do còn cân đối việc đảm bảo an ninh lương thực và lượng tồn kho thấp
gần một nửa so với mọi năm Nếu điều kiện mùa màng thuận lợi, Việt Nam
sẽ xuất khẩu trên 6 triệu tấn, tập trung gạo chất lượng cao cho các thị trường khó tính
1.1.3 Cơ cấu mặt hàng gạo xuất khẩu của Việt Nam
Để tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu gạo thì ngoài việc tăng khối lượnghàng hóa xuất khẩu, việc cải tiến chất lượng để tăng giá thành là vấn đề hết
sức quan trọng Trước đây hoạt động xuất khẩu mặt hàng gạo của Việt Nam
định hướng vào các thị trường tập trung, phẩm cấp gạo trung bình với cơ cấuchủng loại gạo giá thấp chiếm tỷ trọng lớn dẫn đến kết cấu loại gạo trong cơcấu xuất khẩu cố định Nhưng hiện nay để phù hợp với yêu cầu thị trường, cơcấu mặt hàng gạo xuất khẩu Việt Nam đã và đang có những thay đổi rõ rệtđược thể hiện trong bảng dưới đây
Bảng 1.2: Cơ cấu mặt hàng gạo xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn
Trang 15Nguồn: Theo tính toán tổng hợp của tác giả từ số liệu Tổng cục Hải quan Việt Nam
Nguồn: Theo tính toán tổng hợp của tác giả từ số liệu Tổng cục Hải quan Việt Nam
Biểu đồ 1.2: Cơ cấu mặt hàng gạo xuất khẩu của Việt Nam trung bình
năm 2010
Từ bảng số liệu trên ta thấy trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2010,các loại gạo xuất khẩu chính của chúng ta bao gồm: Gạo cao cấp, gạo cấptrung bình, gạo cấp thấp, gạo thơm, nếp, tấm và các loại khác Chất lượng gạo
đã được cải thiện một bước đáng kể, trong đó các loại gạo cao cấp có tỷ trọngxuất khẩu trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2009 tăng gần hai lần từ29,56% lên 40,27% và tính trung bình năm 2010 đã đạt 33,46%, loại gạo cấp
Trang 16trung bình và gạo cấp thấp lại có xu hướng giảm dần tỷ trọng của mình trong
cơ cấu xuất khẩu từ 25,47% năm 2006 xuống còn 20,49% năm 2009, năm
2010 đạt 14,34% đối với loại gạo cấp trung bình và từ 36,19% xuống 27,3%đối với loại gạo cấp thấp Các loại gạo khác như gạo thơm, tấm và các loạikhác đều có chiều hướng tăng dần, riêng gạo nếp lại đang có xu hướng giảmdần từ 4,16% năm 2006 xuống còn 0,79% năm 2009 và chỉ chiếm 0,57%trong cơ cấu gạo xuất khẩu năm 2010 Điều này cho thấy ngành lúa gạo ViệtNam đã và đang có những bước phát triển trong việc nâng cao chất lượnggạo, đặc biệt chất lượng gạo xuất khẩu theo xu hướng phù hợp với nhu cầucủa thị trường thế giới đồng thời nâng cao được uy tín gạo Việt trên trườngthế giới
1.1.4 Cơ cấu thị trường gạo xuất khẩu của Việt Nam
Về thị trường xuất khẩu, hiện thị phần gạo Việt Nam chiếm lĩnh ở hầuhết những thị trường nhập khẩu gạo lớn trên thế giới bao gồm Châu Á, ChâuPhi, Châu Mỹ, Trung Đông và Châu Âu Đây là các thị trường đầu ra quantrọng cho hạt gạo Việt Nam và là những mảng thị trường xuất khẩu cần đượccủng cố và giữ vững lâu dài
Định hướng kinh doanh xuất khẩu gạo của Việt Nam theo đuổi một cơcấu thị trường tập trung và ổn định Hợp đồng xuất khẩu gạo tập trung baogồm các hợp đồng xuất khẩu gạo trắng các loại vào các thị trường do Chínhphủ nước nhập khẩu ủy quyền cho một tổ chức thực hiện Các thị trường tậptrung thông thường như Philipine, Iraq, Cuba Hiện nay, 10 thị trường xuấtkhẩu gạo lớn nhất của Việt Nam chiếm đến trên 80% tổng kim ngạch xuấtkhẩu; trong các thị trường lớn không phải tập trung thì đáng lưu ý cóSingapore chiếm đến 7,6% tổng kim ngạch xuất khẩu, chủ yếu để tái xuất.Như vậy, xuất khẩu gạo Việt Nam thể hiện định hướng nhắm đến sự ổn địnhvới các bạn hàng lớn
Trang 17so với năm ngoái Số liệu trên đã đưa quốc gia này trở thành thị trường lớnthứ 3 của Việt Nam sau Philippines và Châu Phi Tương tự, Bangladesh trongnăm 2010 nhập 400.000 tấn gạo, vượt ngoài tính toán từ đầu năm Trong nămnay, hai thị trường này dự kiến có thể sẽ nhập khoảng 700.000 tấn gạo củaViệt Nam Bên cạnh đó, một số thị trường truyền thống như Philippines cũng
có những thay đổi về chính sách lương thực nên nhu cầu của thị trường
Trang 18Philippines cũng thay đổi Hiện Việt Nam chiếm 78% thị phần thị trường này,sau đó mới đến Thái Lan 17%, Pakistan 5%, Mỹ dưới 1%.
Philippines, Indonesia hay Malaysia là những thị trường xuất khẩu gạotruyền thống của Việt Nam Chủng loại gạo mà những quốc gia này muathường là loại gạo 25% tấm nên Việt Nam có nhiều cơ hội bán gạo cho nhữngnước này Hơn nữa, các nước này mua gạo từ Việt Nam không chỉ có giá cảcạnh tranh hơn Thái Lan, Pakistan, hay Myanmar mà còn lợi thế về cước vậnchuyển rẻ do khoảng cách địa lý gần
Bảng 1.3: Tỷ trọng các thị trường xuất khẩu chính mặt hàng gạo của
Trang 19Nguồn: Theo tính toán tổng hợp của tác giả từ số liệu Hiệp hội Lương thực Việt Nam
Biểu đồ 1.4: Thị trường xuất khẩu chính mặt hàng gạo của Việt Nam
2006- 2010
Bắt đầu từ cuối tháng 3 năm 2008 là khoảng thời gian đáng nhớ với tất
cả các nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, tình hình thiếu lương thực- đặcbiệt là gạo- trên toàn thế giới diễn ra hết sức nhanh chóng Nhưng đó cũng lànăm mà thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam được mở rộng Nếu như trongnăm 2007, mặt hàng gạo của Việt Nam được xuất khẩu đến 63 quốc gia/vùnglãnh thổ thì đến năm 2008, con số này đã tăng lên gấp đôi là 128 quốcgia/vùng lãnh thổ Riêng năm 2010 có tới 10 thị trường có kim ngạch nhậpkhẩu gạo từ Việt Nam trên 1 USD; trong đó các thị trường có tốc độ tăngtrưởng kim ngạch lớn nhất như: Kiribati(tăng 10.608%), LiBăng(tăng2.124%), Hồng Kông(tăng 758%), Mỹ(tăng 714%), Nigeria(tăng 614%)
Trang 20Trong số các thị trường có tỷ trọng xuất khẩu gạo tăng thì thị trường ChâuPhi là tăng mạnh nhất, tăng hơn gấp đôi so với năm 2007 từ 16% năm 2007 lên22% năm 2008; tiếp tục đạt 29,64% trong năm 2009 và 23,55% năm 2010 Bên cạnh hai thị trường xuất khẩu gạo chính của Việt Nam là Châu Á vàChâu Phi thì các thị trường khác đang ngày càng thể hiện rõ vai trò của mìnhthông qua tỷ trọng xuất khẩu gạo đến các châu lục này trong giai đoạn 2006-
2010 liên tục tăng Trong đó phải kể đến khu vực Trung Đông có tỷ trọngxuất khẩu gạo tăng từ 3,85% năm 2006 lên 5,81% năm 2010, Châu Úc có tỷtrọng xuất khẩu gạo tăng từ 0,11% năm 2006 lên 0,79% năm 2009 trong tổnglượng gạo xuất khẩu của Việt Nam Ngoài ra, mặt hàng gạo xuất khẩu của ta
đã từng bước thâm nhập và khẳng định uy tín của mình trên một thị trườngkhó tính như thị trường Châu Âu với tỷ trọng xuất khẩu tăng từ 1,02% năm
2006 lên 4,25% năm 2010 Riêng khu vực Châu Mỹ lại có tỷ trọng xuất khẩugiảm với mức giảm cụ thể từ 13,3% năm 2006 xuống còn 7,52% năm 2009.Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ(USDA) dự báo tổng nhu cầu nhập khẩu gạotại khu vực Châu Á năm 2011 ở mức khoảng 15,3 triệu tấn, tăng tới 8% sovới năm 2010 Do đó, trong năm 2011 Châu Á với những thị trường truyềnthống như Philippines, Malaysia sẽ vẫn là những thị trường tiềm năng choxuất khẩu gạo của Việt Nam
Ngoài ra, được biết nguồn gạo tồn kho ở Cuba, các quốc gia Châu Phi,Trung Đông còn không nhiều khiến họ phải đẩy mạnh việc mua gạo dự trữ.Indonesia và Malaysia cũng được dự báo là hai thị trường trường gạo khá sôiđộng vào đầu năm tới Indonesia, sau hai năm nỗ lực tự túc bằng cách tăngcường sản xuất thì đến cuối năm nay, quốc gia này cũng nhập hơn nửa triệutấn gạo và dự kiến nhập thêm khoảng 70.000 tấn trong quý 1 năm 2011 Quốcgia nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới- Philippines ước tính nhập khẩu năm
2011 từ 1,1- 1,5 triệu tấn gạo, mặc dầu nhu cầu có thể đến 2 triệu tấn
Trang 211.1.5 Giá mặt hàng gạo xuất khẩu của Việt Nam
Bảng 1.4: Giá mặt hàng gạo xuất khẩu bình quân năm 2006- 2010
Tốc độ tăng/giảm(%) so năm trước 1,45 7,17 16,14 72,88 -20,08 5,74
Nguồn: Theo tính toán tổng hợp của tác giả từ số liệu Tổng cục Hải
quanViệt Nam
Nguồn: Theo tính toán tổng hợp của tác giả từ số liệu Tổng cục Hải quan
Việt Nam
Biểu đồ 1.5: Giá mặt hàng gạo xuất khẩu bình quân năm 2006- 2010
Từ bảng số liệu trên ta thấy, giá xuất khẩu gạo bình quân của Việt Namgiai đoạn 2006- 2010 có xu hướng tăng thể hiện vị thế của hạt gạo Việt Namđang từng bước được khẳng định trên thị trường thế giới Bên cạnh đó giá gạo
có xu thế giảm nhẹ kể từ khi đạt kỷ lục mọi thời đại năm 2008 đến nay
Bình quân giá gạo xuất khẩu trong năm 2007 đạt 295 USD/tấn, tăng 41
Trang 22USD/tấn so với năm 2006 là 254 USD/tấn và tăng so với năm trước đó lầnlượt bằng 16,14% và 7,17% Nhiều loại gạo cao cấp của Việt Nam đã có giábán ngang với giá gạo Thái Lan
Năm 2008 giá gạo xuất khẩu được đánh giá là cao nhất trong các nămvới đơn giá xuất khẩu gạo cả năm đạt 510 USD/ tấn, tăng 72,88% so với cùng
kỳ năm 2007 Sau khi tăng đột biến hồi trong năm 2008, giá gạo xuất khẩucủa Việt Nam đã giảm và ổn định trở lại
Giá xuất khẩu trung bình của các loại gạo năm 2009 dao động trongkhoảng 390- 450 USD/tấn, giảm mạnh so với năm 2008, nhưng đơn giá bìnhquân xuất khẩu gạo vẫn ở mức cao đạt 407,6 USD/ tấn, giảm 20,08% so vớinăm 2008, tương ứng giảm 102,4 USD/ tấn
Năm 2010 là năm thắng lợi “kép” của các doanh nghiệp xuất khẩu gạo,nhất là trên phương diện giá trị và giá cả bởi lẽ:
Năm 2010, giá gạo xuất bình quân đạt 431 USD/tấn So cùng kỳ năm
2009 giá xuất khẩu tăng bình quân 23,4 USD/tấn tương ứng tăng 5,74%, vớigiá gạo xuất khẩu Việt Nam là 475 USD/tấn loại 5% tấm, bằng với giá gạoThái Lan Tuy chưa thể sánh được 3,362 tỷ USD và 506 USD/tấn của cườngquốc xuất khẩu gạo số 1 thế giới, nhưng với 2,912 tỷ USD và 431 USD/tấn,chúng ta không chỉ vượt qua được chính mình, mà còn thu hẹp được một phầnkhoảng cách so với Thái Lan
Đó là trong năm 2009, tuy khối lượng xuất khẩu đạt 6,053 triệu tấn,nhưng chỉ thu được 2,464 tỷ USD, do giá bình quân chỉ đạt 407 USD/tấn, trongkhi Thái Lan cũng chỉ xuất khẩu xấp xỉ 5,9 triệu tấn gạo trắng, nhưng thu về2,98 tỷ USD, do giá bình quân đạt 505 USD/tấn Như vậy, khoảng cách về giábình quân năm 2009 đã lên tới 98 USD/tấn, tức là giá của chúng ta thấp hơn19,4% của Thái Lan, còn năm 2010 vừa qua chỉ là 75 USD/tấn và 14,8%
Nói cách khác, trong khi giá xuất khẩu của Thái Lan hầu như vẫn“giậm
Trang 23chân tại chỗ”, thì các doanh nghiệp nước ta đã có được bước tiến đáng kể Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam có xu hướng tăng lên trong những nămqua do một số những nguyên nhân sau:
- Các mặt hàng gạo có chất lượng cao của Việt Nam ngày càng đượcxuất khẩu với số lượng lớn giúp nâng cao gía trị xuất khẩu của mặt hàng này
- Nhu cầu về mặt hàng gạo của thế giới ngày càng gia tăng: Trong mườinăm qua dân số thế giới đã tăng hai lần, nhiều hơn mức tăng sản lượng lúa gạo
- Sự biến đổi bất thường của khí hậu gây ra những thiên tai như hạn hán,mưa lũ… nghiêm trọng khiến thị trường lúa gạo đảo lộn trong khi đó nguồncung lúa gạo của chúng ta lại khá ổn định và ở mức cao
- Giá dầu thế giới tăng vọt đẩy giá phân bón và phí vận chuyển hàngnông nghiệp lên gây áp lực tăng giá các sản phẩm nông nghiệp nói chung vàmặt hàng lúa gạo nói riêng
- Xuất hiện nhiều loại bệnh dịch gây hại cho cây trồng làm giảm năngxuất cây trồng, ảnh hưởng đến vụ mùa tại các nước như Pakistan, Ấn Độ,Châu Phi… gây ra tình trạng thiếu lương thực ở các quốc gia, buộc các quốcgia phải nhập khẩu lương thực nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước
1.2 Sự cần thiết phải đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng gạo của Việt Nam sang thị trường Châu Phi
1.2.1 Thị trường Châu Phi là một thị trường tiềm năng
Châu Phi với diện tích 30 triệu km2, dân số khoảng 800 triệu người làmột lục địa rộng lớn với 54 quốc gia, tất cả đều là những nước đang pháttriển Đây là lục địa rất giàu tài nguyên khoáng sản
Trong những năm vừa qua, Châu Phi đã có nhiều chuyển biến tích cực
về kinh tế- chính trị nhờ có chính sách cải cách nền kinh tế và mở cửa ra thếgiới bên ngoài Tình hình đã đi vào ổn định và bắt đầu phát triển, tỷ trọngGDP hàng năm tăng trưởng đạt trên 5%(2000- 2008), từ khi cuộc khủng
Trang 24hoảng kinh tế toàn cầu trở nên trầm trọng hơn vào cuối năm 2008, tăngtrưởng kinh tế tại Châu Phi lập tức cũng bị ảnh hưởng và tốc độ tăng đangchậm đi đáng kể với dự báo cho năm 2009 và 2010 lần lượt ở mức 2% và
3,9%(Nguồn: Viện nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông) nhưng nhu cầu về
công nghệ và hàng hóa của thị trường Châu Phi vẫn rất lớn Xuất khẩu đãtăng từ 141,2 tỷ USD năm 2001 lên tỷ USD năm 2001 và nhập khẩu tăng từ94,7 tỷ USD năm 1991 lên 136 tỷ USD năm 2001
Với tình hình tăng trưởng kinh tế như trên thì các nước Châu Phi đang cónhu cầu rất lớn về các chủng loại hàng hóa, đặc biệt là hàng nông sản mà lạikhông quá khắt khe về chất lượng hàng hóa và mẫu mã Trong khi đó, nguồncung trong nước mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu, nhu cầu còn lại chủyếu phải phụ thuộc vào hoạt động nhập khẩu Đối với Việt Nam thì mặt hànggạo là thế mạnh của nước ta do vậy chúng ta cần có các chiến lược cũng nhưnhững biện pháp cụ thể, hiệu quả để thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa vào thịtrường đầy tiềm năng này Với những đặc điểm như trên Nhà nước và Chínhphủ đã coi Châu Phi là thị trường tiềm năng lớn đối với hoạt động xuất khẩugạo của nước ta
1.2.2 Yêu cầu mở rộng thị trường xuất khẩu của Việt Nam
Hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan của nềnkinh tế thế giới, hội nhập kinh tế quốc tế có nghĩa là thực hiện tự do hóathương mại đưa các hàng hóa tham gia vào quá trình cạnh tranh quốc tế Điềunày đã thực sự mang lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp, các quốc gia trêntoàn thế giới đồng thời nó cũng gây không ít khó khăn trong việc thâm nhậpthị trường quốc tế đặc biệt là việc thâm nhập và mở rộng thị trường nướcngoài đối với các nước phát triển như: Việt Nam Với điều kiện hiện nay việchàng hóa của chúng đang phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt của cácnước như: Thái Lan, Camphuchia, Myanma… đặc biệt đối với hai thị trường
Trang 25trọng điểm của nước ta là Mỹ và EU Từ đó ảnh hưởng đến tình hình sản xuất
và xuất khẩu của nước ta, buộc chúng ta phải có các giải pháp tìm kiếm vàphát triển xuất khẩu sang các thị trường mới mà chúng ta có khả năng cạnhtranh nhiều hơn đó chính là thị trường Châu Phi
Thị trường Châu Phi hiện có nhu cầu lớn về nhập khẩu nhiều loại hànghóa mà trong đó chúng ta lại có thế mạnh về những mặt hàng đó Do vậy việcphát triển thị trường Châu Phi là hoàn toàn hợp lý để đẩy mạnh xuất khẩu củanước ta
Trang 26CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU MẶT HÀNG GẠO CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG CHÂU PHI
2.1 Đặc điểm thị trường Châu Phi
Châu Phi là châu lục đứng thứ hai trên thế giới về dân số, sau Châu Á,
và lớn thứ ba trên thế giới theo diện tích sau Châu Á và Châu Mỹ Với diệntích khoảng 30.244.050km² bao gồm cả các đảo cận kề thì nó chiếm 20,4%tổng diện tích đất đai của trái đất Dân cư Châu Phi rất đa dạng, bao gồm trên1.000 nhóm nhỏ khác nhau Ở Bắc Phi chủ yếu là người A- rập, ở phía NamSahara chủ yếu là các tộc người Phi da đen
Năm 2008, dân số Châu Phi đạt 967 triệu người, chiếm khoảng 1/7 dân
số thế giới đứng thứ hai sau Châu Á, mật độ dân số là 32,27 người/km², sinhsống ở 54 quốc gia Dân số Châu Phi tăng trưởng nhanh, hiện nay đạt khoảng
1,8% năm, với mức tăng thêm 24 triệu người mỗi năm, dân số Châu Phi sẽ
sớm đạt đến con số 1 tỷ người vào năm 2011- đây là thông báo mới nhất đượcUSAID đưa ra tại Washington Bản báo cáo cũng dự báo dân số của châu lụcnày sẽ tăng gấp đôi ở mức 2 tỷ người vào năm 2050
Châu Phi hiện là khu vực lạc hậu và chậm phát triển nhất của thế giới,tuy nhiên bằng những nỗ lực của Chính phủ và người dân các nước Châu Phicùng với sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, nhiều nước Châu Phi đã và đangđạt được những thành công bước đầu trong nỗ lực phát triển
Bảng 2.1: Số liệu về tốc độ lạm phát và tốc độ tăng trưởng của nền
kinh tế Châu Phi giai đoạn 2006- 2010
6
200 7
200 8
200 9
Trang 27Nguồn: IMF, World Economic Outlook, November 2010
Nguồn: IMF, World Economic Outlook, November 2010
Biểu đồ 2.1: Tốc độ lạm phát và tăng trưởng của nền kinh tế Châu Phi
giai đoạn 2006- 2010
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân Châu Phi giai đoạn 2001- 2007 đạt6%/năm, nhiều quốc gia có tốc độ tăng GDP cao như Nam Phi, Ăng-gô-la,Xu-đăng, Ma-rốc, Ai Cập, Ni-giê-ria… Do những tác động của cuộc khủnghoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu làm giảm tốc độ tăng trưởng củakhu vực từ mức trung bình khoảng 6% giai đoạn 2006- 2007 xuống 5,2% năm
2008 và chỉ còn 2,9% năm 2009, GDP tăng trưởng bình quân đầu người trênthực tế của Châu Phi chỉ đạt 1%
Trong báo cáo "Toàn cảnh kinh tế Châu Phi" do IMF công bố tháng11/2010 cho thấy, tăng trưởng GDP của Châu Phi trong năm 2010 ước đạt5%, cao hơn so với mức dự báo 4,75% Đáng chú ý, IMF cũng đưa ra mức dự
Trang 28báo tăng trưởng của Châu Phi giai đoạn 2010- 2013 sẽ đạt khoảng 5,5%/năm,Châu Phi là châu lục sẽ đạt mức tăng trưởng cao chỉ sau Châu Á Dù mứctăng trưởng này chưa đủ để đưa Châu Phi thoát khỏi đói nghèo nhưng nềnkinh tế của châu lục này đã lấy lại đà tăng trưởng mà họ đã đạt được từ đầunhững năm 2000, vượt bậc so với mức tăng trưởng thấp của năm 2009(2,9%);Châu Phi đang ở giai đoạn tốt nhất của phát triển kinh tế
Theo số liệu thống kê mới nhất, các nước có GDP lớn nhất Châu Phinăm 2008 là: Nam Phi, Ni-giê-ria, Algeri, Ai Cập, Marốc, Ăngôla, Libi, Xu-đăng, Tuynidy và Kênya
Bảng 2.2: Các nước có GDP lớn nhất Châu Phi năm 2008
(tỷ USD)
Tỷ trọng trong GDP châu Phi (%)
Xếp hạng thế giới năm 2007
Nguồn: Viện nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông
Lý giải thành công này, để đạt được khả năng tăng trưởng như vậy lànhờ những chính sách kinh tế lành mạnh, lạm phát thấp, cán cân tài chính bềnvững, dự trữ ngoại hối tăng và nợ công giảm của các nước Châu Phi Nhiềucâu chuyện thất bại đã trở thành những câu chuyện thành công của Châu Phi.Một trong những yếu tố quan trọng khiến kinh tế Châu Phi tăng trưởng mạnhtrong những năm qua là giá dầu và các tài nguyên khác như vàng, bạch kim,
Trang 29quặng sắt trên thế giới tăng vọt Trong khi kinh tế Châu Á, Châu Âu luôngặp khó khăn vì khan hiếm và giá nguyên, nhiên liệu tăng cao thì Châu Phithu được nhiều lợi nhuận nhờ xuất khẩu nguyên liệu thô Do có thu nhập lớn
từ xuất khẩu nguyên liệu, các nước Châu Phi đã có thêm vốn đầu tư, đẩymạnh phát triển kinh tế Đồng thời, Chính phủ các nước Châu Phi vẫn duy trìchính sách cởi mở của mình bất chấp kinh tế trong tình trạng suy thoái, điềunày giúp cho khu vực này vẫn là “miền đất hứa” cho việc thu hút vốn đầu tư
và phát triển kinh tế vào năm nay
Điều bất lợi là mặc dù vẫn tăng trưởng vào năm tới song cuộc khủnghoảng tài chính vừa qua có thể sẽ làm cho các Chính phủ khó khăn hơn trongviệc thực hiện mục tiêu Thiên niên kỷ là giảm một nửa số người nghèo khổ tạiChâu Phi từ nay đến năm 2015 Nhưng việc phục hồi kinh tế sẽ không đồngđều trên toàn châu lục, khu vực Nam Phi bị tác động mạnh nhất năm 2009 sẽphục hồi chậm hơn phần còn lại của Châu Phi với mức tăng trưởng gần 4%năm 2010/2011 Đông Phi, khu vực chống chọi với cuộc khủng hoảng tốt nhất
sẽ một lần nữa vượt lên vào năm 2010/2011 với mức tăng trưởng trung bìnhtrên 6% năm 2010/2011 Khu vực Bắc và Tây Phi sẽ tăng trưởng khoảng 5%trong khi Trung Phi tăng trưởng 4%
Bên cạnh đó các nước Châu Phi cũng đã và đang có những nỗ lực vượtbậc trong vấn đề kìm chế lạm phát, khả năng khống chế lạm phát của Chínhphủ các nước tại đây cũng dần dần được cải thiện, lượng dự trữ quốc tế cũngkhông ngừng tăng cao và mức lạm phát đã giảm từ 10,8% năm 2001 xuốngcòn 6% năm 2007 Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế, lương thực, vàng,nguyên nhiên liệu vừa qua đã tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế của khu vựcnày đẩy mức lạm phát trung bình lên 9,33%/năm trong giai đoạn 2008- 2009.Mặc dù có mức lạm phát trung bình cao hơn giai đoạn trước nhưng có xuhướng giảm dần từ 10,3% năm 2008 xuống 9% năm 2009 và chỉ còn 8,7%
Trang 30năm 2010; với những dự báo lạc quan về nền kinh tế của lục địa đen chúng tacùng hy vọng rằng mức lạm phát của Châu Phi sẽ là 8% trong năm 2011.Năm 2008, GDP của toàn Châu Phi đạt 1.283 tỷ USD, chiếm khoảng 2%GDP thế giới, trong khi dân số chiếm 14%, mức GDP bình quân đầu ngườiđạt 1.318 USD Tuy nhiên, chỉ có 20 trong tổng số 54 quốc gia Châu Phi cóthu nhập bình quân đầu người trên 1.000 USD/năm Nhiều quốc gia có tốc độtăng GDP cao như Ăng-gô-la, Xu-đăng, Ma-rốc, Ai Cập, Ni-giê-ria…
Bảng 2.3: Các nước có GDP/người cao nhất Châu Phi năm 2008
(người)
GDP (tỷ USD)
GDP/người (USD/người)
Nguồn: Viện nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông
Châu Phi là vùng đất giàu tài nguyên, đất đai phì nhiêu, thuận lợi chophát triển nông nghiệp Vùng đất rộng lớn này có một số khoáng sản quý cótrữ lượng lớn như kim cương(chiếm tới 90% tổng trữ lượng của cả thế giới),vàng, uranium, dầu mỏ Châu Phi cũng có tiềm năng lớn về thủy điện(35,4%của thế giới) và có nguồn thủy- hải sản dồi dào
Nông nghiệp được coi là hoạt động kinh tế chính của Châu Phi, chiếm28,6% GDP nhưng phần lớn lạc hậu, sử dụng số lượng lao động lớn Nguồn
Trang 31lợi chính đóng góp vào thu nhập quốc dân là cacao, hạt điều, chà là, hạtvanilla, cà phê, cừu, bò… Khoảng 3/5 diện tích đất trồng trọt đuợc sử dụng đểsản xuất lương thực nhưng do thiên tại, dịch họa triền miên, cộng với hệthống canh tác lạc hậu nên người dân Châu Phi thường xuyên trong tình trạngthiếu đói.
Để đối phó với nguy cơ tụt hậu, bị gạt ra bên lề trong xu thế toàn cầu hóa,hội nhập kinh tế quốc tế và để giải quyết tình trạng nợ nần, nghèo đói, bất bìnhđẳng, tạo môi trường hòa bình, ổn định, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển
kinh tế, tháng 07/2001, các nhà lãnh đạo Châu Phi đã đưa ra“Sáng kiến mới về
Châu Phi” với mục tiêu đưa Châu Phi thoát khỏi khủng hoảng và đi vào quỹ
đạo phát triển chung của thế giới Tại Hội nghị cấp cao Châu Phi tại Abuja,
Ni-giê-ria ngày 23/10/2001 các nguyên thủ châu lục quyết định đổi tên“Sáng kiến
mới về Châu Phi” thành“Chương trình đối tác mới vì sự phát triển Châu Phi”- NEPAD và tất cả 54 quốc gia Châu Phi đều tham gia vào NEPAD.
Mục tiêu của NEPAD là thiết lập quan hệ chặt chẽ giữa Châu Phi với cácnước phát triển và các tổ chức tài chính quốc tế để biến mối quan hệ nàythành đối tác bình đẳng vì sự an ninh và phồn vinh của Châu Phi cũng nhưtoàn cầu Mục tiêu cụ thể là đến năm 2015 sẽ giảm 50% số người nghèo, thuhút đầu tư nước ngoài đạt trên 60 tỷ USD/năm và đạt mức tăng trưởng GDPbình quân của toàn châu lục trên 7%/năm
2.2 Đánh giá về thị trường Châu Phi
2.2.1 Thuận lợi
- Thuận lợi cơ bản là hàng hoá của Việt Nam đã bước đầu có chỗ đứng
và tạo được uy tín đối với người tiêu dùng Châu Phi Thị trường xuất khẩuđược mở rộng đến toàn bộ 54 quốc gia ở Châu Phi Kim ngạch thương mạităng bình quân 45%/năm, mức tăng trưởng xuất khẩu đạt 20% mỗi năm Năm
2003, quan hệ thương mại Việt Nam- Châu Phi mới đạt 360 triệu USD con số
Trang 32này đã tăng lên 2,1 tỷ USD vào năm 2010, gấp đôi mục tiêu đặt ra trong
“Chương trình hành động quốc gia thúc đẩy hợp tác Việt Nam- Châu Phi giaiđoạn 2004-2010” của Chính phủ nhằm thúc đẩy và đưa kim ngạch thươngmại Việt Nam- Châu Phi tăng trưởng ít nhất 20%/năm
- Nhờ các chính sách cải cách kinh tế, điều chỉnh cơ cấu, chuyển sangkinh tế thị trường, đẩy mạnh hội nhập khu vực và quốc tế, kinh tế các nướcChâu Phi tăng trưởng tương đối nhanh trong thời gian vừa qua, thu nhập củangười dân từng bước được cải thiện, môi trường kinh doanh đã từng bước đượcminh bạch hoá, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp
- Kim ngạch buôn bán Việt Nam- Châu Phi tăng trưởng nhanh, năm
2007 đạt 684 triệu USD, tăng 12% so với năm 2006 Năm 2008, đánh dấumốc cho sự phát triển này khi lần đầu tiên Việt Nam xuất khẩu sang ChâuPhi 1,33 tỷ USD hàng hoá các loại, tăng 95% so với năm 2007 và nhập khẩu
756 triệu USD; năm 2009 đạt 1,62 tỷ USD, tăng 22% so với năm 2008 cònnhập khẩu 450 triệu USD Năm 2010, nền kinh tế Việt Nam cũng như thếgiới đã có những bước chuyển khởi sắc xuất khẩu của Việt Nam sang ChâuPhi đạt đến 2,1 tỷ USD, tăng 22% so với năm 2009(Nguồn: Bộ CôngThương) Thị trường xuất khẩu vào Châu Phi được mở rộng Đáng chú ý làtrong quan hệ thương mại với các nước Châu Phi, Việt Nam thường xuấtsiêu, giá trị xuất khẩu sang Châu Phi thường cao trên gấp hai lần giá trị nhậpkhẩu từ Châu Phi
- Với sức mua lớn và nhu cầu nhập khẩu hàng hóa cao, đa dạng, ChâuPhi là thị trường hấp dẫn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam.Trước hết là nhu cầu về các loại máy móc thiết bị, nguyên vật liệu để phục vụphát triển kinh tế Tiếp đó là nhu cầu về lương thực thực phẩm, hàng tiêudùng phục vụ đời sống nhân dân, đặc biệt trong bối cảnh dân số Châu Phiđang tăng với tốc độ rất nhanh Châu Phi với khả năng nhập khẩu 9 triệu tấn
Trang 33gạo mỗi năm, với mức tăng trưởng 5%/năm là thị trường tiềm năng của ViệtNam Trong cơ cấu hàng hoá xuất khẩu, gạo là mặt hàng xuất khẩu chủ lựccủa ta vào thị trường Châu Phi, chiếm hơn 40% tổng kim ngạch xuất khẩuhàng năm Trong tổng số 6 triệu tấn gạo xuất khẩu trong năm 2009 thì có đến1,8 đến 2 triệu tấn được xuất khẩu vào Châu Phi Thời gian qua, những sảnphẩm gạo của Việt Nam chất lượng cao như loại 5% tấm và gạo thơmJasmine đã có mặt tại nhiều nước Châu Phi và trở thành sản phẩm tin cậy củacác nhà nhập khẩu trên thị trường này.
- Bên cạnh đó chúng ta gặp thuận lợi lớn khi Ấn Độ- quốc gia thườngcung cấp gạo sang Châu Phi và Trung Đông Từ năm 2008, nước này đã cấmxuất khẩu gạo sau khi giá tăng mạnh Việc Ấn Độ cấm xuất khẩu gạo đã mở
ra cơ hội cho các nhà xuất khẩu trong khu vực tăng thị phần ở thị trườngChâu Phi, trong đó phải kể đến hai cường quốc xuất khẩu gạo là Việt Nam
và Thái Lan
- Dự báo trong khoảng năm năm tới, gạo vẫn là mặt hàng xuất khẩu sốmột của Việt Nam do nhu cầu của Châu Phi cao trong khi nguồn cung hạnchế Mặc dù ở Châu Phi, gần như toàn bộ 38 nước đều trồng lúa, song diệntích lúa ở Madagascar và Nigeria chiếm 60% tổng diện tích lúa tương đương8,5 triệu hecta của châu lục này Năng suất lúa của Châu Phi thấp, khoảng 1,5tấn/ha và chỉ bằng 40% năng suất của Châu Á Mỗi năm, Châu Phi phải nhậpkhẩu hơn 1 tỷ USD mặt hàng gạo, các thị trường nhập khẩu gạo với số lượnglớn là Bờ biển Ngà, Senegal, Ghana, Angola, Kenya, Mozambique
Cũng theo báo cáo của USDA cho thấy, đến cuối năm 2010 tồn kho gạoChâu Phi ước tính giảm 14% so với cuối năm trước Trong đó Ai Cập giảm23,3%; Nigeria tăng 14,3%; Madagasca tăng 8% Đây cũng chính là mộtthuận lợi cho xuất khẩu gạo của Việt Nam trong năm nay khi Chính phủ cácnước Châu Phi phải tăng cường nhập khẩu lương thực nhằm đảm bảo an ninh
Trang 34lương thực cho quốc gia cũng như cho khu vực này.
- Mặt khác, Châu Phi là thị trường chưa đặt ra nhiều yêu cầu khắt khe vềchất lượng sản phẩm hay về mẫu mã, vệ sinh, hàng rào kỹ thuật chưa có nhiềunhư ở các khu vực thị trường khác
- Không chỉ xuất khẩu, Châu Phi còn là nguồn cung cấp nhiều loạinguyên liệu quan trọng cho sản xuất trong nước Năm 2009, Việt Nam mua từChâu Phi 550 triệu USD hàng hóa các loại và năm 2010 khoảng 700 triệuUSD với các thị trường nhập khẩu chính là Nam Phi, Bờ Biển Ngà, Tanzania,Nigiêria và Ghana…
2.2.2 Khó khăn:
- Về mặt khách quan, tình hình chính trị xã hội của các nước Châu Phimặc dù có nhiều tiến bộ với xu thế chung là đi dần vào ổn định nhưng tại từngquốc gia vẫn tồn tại nhiều mâu thuẫn, xung đột nội bộ tiềm ẩn có nguy cơbùng phát bất cứ lúc nào Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng của Châu Phi còn lạchậu, hệ thống giao thông kém phát triển, gây nên tình trạng cô lập cho cácvùng sâu vùng xa, cản trở nhiều đến các hoạt động giao thương Ngoài ra,năng lực tài chính của các doanh nghiệp Châu Phi thường rất kém và phảithông qua trung gian với bên thứ ba, phương thức thanh toán thường là trảchậm, không phù hợp với xu thế hiện đại, gây khó khăn cho các đối tác nướcngoài khi muốn hợp tác kinh doanh với Châu Phi
- Về quy mô thị trường, có thể nói nhu cầu của phần lớn các nước ChâuPhi còn khá nhỏ, sức mua của người dân thấp, các chính sách kinh tế thươngmại của nhiều nước thiếu minh bạch, không hiệu quả, gây ra nhiều tác độngtiêu cực lên thị trường, đặc biệt là chính sách thay thế nhập khẩu, bảo hộ cácngành sản xuất kém hiệu quả trong nước bằng mức thuế nhập khẩu cao
- Một điều cũng cần được quan tâm là cạnh tranh trên thị trường ChâuPhi sẽ trở nên quyết liệt hơn vì các nước đều coi Châu Phi là thị trường tiềm
Trang 35năng cần được khai thác trong bối cảnh nhu cầu ở các thị trường tiêu thụ lớnnhư Mỹ, Châu Âu suy giảm nghiêm trọng Các mặt hàng xuất khẩu của ViệtNam hiện nay đang chịu sự cạnh tranh quyết liệt từ phía các nước trong khuvực như Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ và nhất là Trung Quốc do giá rẻ hơn vàphù hợp với sức mua tiêu dùng bình dân ở Châu Phi.
2.3 Phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu mặt hàng gạo của Việt Nam sang thị trường Châu Phi
2.3.1 Giá trị kim ngạch xuất khẩu mặt hàng gạo của Việt Nam sang thị trường Châu Phi
Nền kinh tế Việt Nam là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thế giới,ngày nay kinh tế nước ta đã hội nhập đầy đủ với nền kinh tế thế giới, nhất làtrong điều kiện nền kinh tế đã rất mở với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vượtquá 160% GDP Do vậy, chúng ta không thể không nhắc đến những tác độngsâu xa, mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầuđối với Việt Nam Ảnh hưởng lớn nhất đối với Việt Nam trước hết là về xuấtkhẩu hàng hóa sang các thị trường Mỹ, EU và Nhật Bản do hơn 50% tổngkim ngạch xuất khẩu của Việt Nam là sang các thị trường này Đồng thời IMF
dự báo tăng trưởng GDP toàn cầu sụt từ 5% năm 2007 xuống 3,9% năm 2008
và 3% năm 2009 Suy thoái kinh tế sẽ kéo theo nhu cầu tiêu thụ sụt giảm trênphạm vi toàn cầu
Trong bối cảnh đó, thị trường Châu Phi lại nổi lên như một điểm sáng chohoạt động xuất khẩu của Việt Nam Vào năm 2008, lần đầu tiên kim ngạch xuấtkhẩu của Việt Nam sang Châu Phi vượt mốc 1 tỷ USD, tăng 95% so với năm
2007 Năm 2009, xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này đạt 1,56 tỷ USD,tăng gần 20% so với 2008, còn nhập khẩu đạt 508 triệu USD, ước tính năm
2010, xuất khẩu của Việt Nam sang Châu Phi có khả năng đạt đến 1,6 tỷ USD,tăng 3% so với năm 2009 (Nguồn: http://www.moit.gov.vn/web/guest/tintuc)
Trang 36Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Châu Phi tậptrung vào gạo, hàng điện tử và linh kiện, dệt may, sản phẩm cao su, giày dép,
cà phê, hải sản, thực phẩm chế biến, hàng tiêu dùng và chiếm khoảng 80%tổng kim ngạch xuất khẩu Trong đó, gạo vẫn là mặt hàng chủ lực, chiếm hơn40% kim ngạch xuất khẩu, đây là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủđạo đã tạo nên sự thành công của Việt Nam khi thâm nhập vào thị trườngChâu Phi Theo dự báo của các chuyên gia trong khoảng năm năm tới, gạovẫn là mặt hàng xuất khẩu số một của Việt Nam do nhu cầu của Châu Phi caotrong khi nguồn cung hạn chế Mỗi năm, Châu Phi phải nhập khẩu hơn 1 tỷUSD mặt hàng gạo, như vậy giá trị gạo xuất khẩu của Việt Nam chiếm xấp xỉ1/5 lượng gạo nhập khẩu của Châu Phi
Những điều này đã được chứng minh thông qua sản lượng và kim ngạchxuất khẩu gạo của Việt Nam sang Châu Phi qua các năm đặc biệt trong giaiđoạn từ năm 2006 đến năm 2010
Trang 37Bảng 2.4: Lượng và trị giá gạo xuất khẩu của Việt Nam sang thị
trường Châu Phi giai đoạn 2006- 2010
Nguồn: Theo tính toán tổng hợp của tác giả từ số liệu Hiệp hội Lương thực Việt Nam
Nguồn: Theo tính toán tổng hợp của tác giả từ số liệu Hiệp hội Lương thực Việt Nam
Biểu đồ 2.2: Lượng và trị giá gạo xuất khẩu của Việt Nam sang thị
trường Châu Phi giai đoạn 2006- 2010
Châu Phi là thị trường nhập khẩu gạo lớn thứ hai, chiếm 16% lượng xuất
Trang 38khẩu gạo ra thế giới của Việt Nam trong năm 2007, đạt 0,63 triệu tấn, trị giá0,21 tỷ USD tăng 12,5% về lượng và 31,25% về giá trị so với cùng kỳ năm
2006 Năm 2008, về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, gạo tiếp tục là mặt hàng xuấtkhẩu chủ lực của Việt Nam sang Châu Phi, đạt kim ngạch 725 triệu USD,tăng 0,515 tỷ USD chiếm 44% tổng kim ngạch xuất khẩu Trị giá xuất khẩu là1,273 triệu tấn, tăng 102,06% tương đương 0,643 triệu tấn so với năm 2007,chiếm 27,21% tổng lượng gạo xuất khẩu của cả nước
Bước sang năm 2009, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã cóảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu của nước ta, tuy nhiên đây lại lànăm thắng lợi trong việc xuất khẩu gạo sang thị trường Châu Phi khi nhu cầugạo của Châu Phi đang tăng cao và gạo Việt Nam là nguồn cung cấp quantrọng có thể đáp ứng nhu cầu này Năm 2009, Châu Phi- thị trường chính tiêuthụ gạo trung bình và thấp- chiếm đến 30% trong tổng lượng gạo xuất khẩu củaViệt Nam, đạt 1,79 triệu tấn, tăng 40,94%, trị giá 0,73 tỷ USD tăng 0,69% sovới cùng kỳ năm 2008 Nguyên nhân chính là do giá gạo xuất khẩu của ViệtNam ở mức thấp, có sức cạnh tranh hơn so với gạo Thái Lan; giá lúa mỳ tăngmạnh đã làm cho nhiều nước Châu Phi chuyển sang nhập khẩu gạo giá rẻ hơn Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam nhận định nếu không có giải pháptốt, Việt Nam có thể sẽ bị mất thị trường này trong những năm tới Điều nàymột phần cũng đã được phản ánh trong kim ngạch xuất khẩu gạo của ViệtNam sang thị trường Châu Phi trong năm 2010 vừa qua
Năm 2010, Việt Nam đã xuất khẩu gạo sang Châu Phi đạt 1,62 triệu tấnchiếm 22,55% tổng lượng gạo xuất khẩu của cả nước, trị giá 0,684 tỷ USD giảm9,49% về lượng và 6,31% về giá trị so với cùng kỳ năm 2008 Tuy lượng và giátrị xuất khẩu giảm nhưng xét về mặt giá gạo xuất khẩu trung bình thì năm 2010giá gạo xuất khẩu tăng 0,0144 USD/tấn tương đương tăng 3,54% so với năm
2009
Trang 39Có nhiều nguyên nhân dẫn đến lượng gạo xuất khẩu của nước ta sang thịtrường Châu Phi giảm xuống trong năm 2010, trong đó phải nhắc đến sự cạnhtranh gay gắt đang diễn ra trên thị trường này khi các đối thủ cạnh tranh củaViệt Nam tại thị trường gạo phẩm cấp thấp 25% tấm ở Châu Phi như Pakistan
và Myanmar đang nổi lên Bên cạnh đó, Thái Lan- đối thủ chính của ta khôngnhững trên thị trường Châu Phi mà còn trên rất nhiều thị trường khác cũng đã
và đang gây ra nhiều khó khăn trong việc xuất khẩu mặt hàng gạo vào thịtrường Châu Phi
2.3.2 Cơ cấu mặt hàng gạo xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Châu Phi
Gạo là một trong bốn loại lương thực quan trọng nhất của Châu Phi,cùng với kê, ngô và lúa miến Do sự tiện dụng của việc chế biến gạo so với kê
và những loại ngũ cốc khác, giá gạo cũng không còn quá cao so với thu nhậpcủa đại bộ phận người dân, gạo ngày càng trở nên phổ biến trong những bữa
ăn hàng ngày Người dân Châu Phi thường chế biến gạo theo nhiều cách nhưnấu thành cơm, nấu thành cháo hoặc bánh, tuy nhiên nấu thành cơm theo cáchtruyền thống vẫn là phương thức phổ biến ở nhiều nước Châu Phi Việt Nam
tự hào là một trong những nước hàng đầu trong hoạt động xuất khẩu gạo vàoChâu Phi và người dân Châu Phi từ lâu đã quen với việc dùng gạo Việt Nam.Hiện nay, các loại gạo Việt Nam xuất khẩu vào các nước Châu Phi phầnlớn là gạo tấm, chiếm đến 95% tổng khối lượng Trên thị trường quốc tế, gạotấm được xem là thứ phẩm do vậy giá rẻ hơn nhiều so với gạo nguyên hạt.Tuy nhiên, người tiêu dùng ở các nước Châu Phi lại thích gạo tấm hơn, họ cóthể chấp nhận mua gạo tấm với mức giá đắt hơn từ 10- 20% gạo nguyên hạtsản xuất trong nước Sự ưa chuộng này có thể do thay đổi thói quen ăn uốngcủa người dân sau thời kỳ thường xuyên ăn những loại sản phẩm sẵn có tronggiai đoạn thuộc địa và sau thuộc địa
Trang 40Bảng 2.5 : Kim ngạch 7 loại gạo xuất khẩu lớn nhất sang Châu Phi
Nam Phi (13,0), Ethiopia (9,8), Ăng-gô-la (7,8), Ni-giê-ri-a (6,2) Benin (5,9), Ma-đa-gát-xca (5,9), Mali (5,1)…
An-giê-ri (29,6), Ai Cập (16,5), Ma-rốc (14,0), Nam Phi (12,3), Tuy-ni-di (3,2)
Ma-rốc (5,6), Nam Phi (4,2)
Ai Cập (3,0)
Nguồn: Viện nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông