vốn ngoại tệ của phòng giao dịch số 1 – ngân hàng BIDV chi nhánh ThăngLong nói riêng từ đó đưa ra những giải pháp đối với phòng giao dịch số 1 –ngân hàng bidv chi nhánh Thăng Long và nhữ
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG CHUYÊN ĐỀ
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1 Vốn của ngân hàng thương mại 3
1.1.1 Khái niệm về vốn của ngân hàng thương mại 3
1.1.1.1 Quan niệm về vốn trong nền kinh tế 3
1.1.1.2 Vốn của NHTM 3
1.1.2 Vai trò của nguồn vốn đối với hoạt động kinh doanh của NHTM 4
1.1.2.1 Vốn giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành NHTM 4
1.1.2.2 Vốn quyết định khả năng thanh toán của ngân hàng 5
1.1.2.3 Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng 5
1.1.2.4 Nguồn vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng 6
1.1.3 Phân loại vốn của NHTM 7
1.1.3.1 Vốn của ngân hàng ( Bank capital) 7
1.1.3.2 Vốn huy động 9
1.1.3.3 Vốn đi vay 10
1.1.3.4 Các nguồn vốn khác 12
1.2 Hoạt động huy động vốn ngoại tệ của ngân hàng thương mại 13
1.2.1 Khái niệm về ngoại tệ và huy động vốn ngoại tệ 13
1.2.1.1 Ngoại tệ 13
1.2.1.2 Huy động vốn ngoại tệ 13
1.2.2 Vai trò của vốn ngoại tệ đối với NHTM 13
Trang 21.2.3 Đặc trưng của huy động vốn ngoại tệ 15
1.2.4 Điều kiện đảm bảo cho công tác huy động vốn ngoại tệ của NHTM 15
1.2.4.1 Về pháp lý 15
1.2.4.2 Về nhân sự 17
1.2.4.3 Về cách thức huy động 17
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN NGOẠI TỆ TẠI PHÒNG GIAO DỊCH SỐ 1 – NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT( BIDV) NAM CHI NHÁNH THĂNG LONG .19
2.1 Giới thiệu về Ngân hàng BIDV chi nhánh Thăng Long 19
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Ngân hàng BIDV chi nhánh Thăng Long 19
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 20
2.1.3 Thực trạng hoạt động kinh doanh của phòng giao dịch số 1 – Ngân hàng BIDV chi nhánh Thăng Long 20
2.1.3.1 Thuận lợi 20
2.1.3.2 Khó khăn 22
2.2 Thực trạng huy động vốn ngoại tệ tại phòng giao dịch số 1 ngân hàng BIDV chi nhánh Thăng Long 33
2.2.1 Quy mô và cơ cấu vốn ngoại tệ 33
2.2.2 Chi phí huy động vốn ngoại tệ 41
2.3 Đánh giá thực trạng huy động vốn ngoại tệ của phòng giao dịch số 1 – Ngân hàng BIDV chi nhánh Thăng Long 43
2.3.1 Những kết quả đạt được 43
2.3.2 Những mặt hạn chế và nguyên nhân 45
2.3.2.1 Hạn chế 45
Trang 32.3.1.2 Nguyên nhân 46
Trang 4CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT NHẰM TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN NGOẠI TỆ TẠI PHÒNG GIAO DỊCH SỐ1 NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ
VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM (BIDV) CHI NHÁNH THĂNG LONG
49
3.1 Định hướng huy động vốn ngoại tệ của chi nhánh Thăng Long 49
3.2 Đề xuất nhằm tăng cường huy động vốn ngoại tệ tại Phòng GD số 1 ngân hàng BIDV chi nhánh Thăng Long 50
3.2.1 Tập trung thực hiện chiến lược huy động vốn ngoại tệ theo chỉ đạo của chi nhánh Thăng Long 50
3.2.2 Luôn tạo sự an tâm đối với người gửi tiền 50
3.2.3 Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn ngoại tệ , đặc biệt là vốn trung và dài hạn 51
3.2.4 Đẩy mạnh chính sách khách hàng 52
3.2.5 Áp dụng công nghệ ngân hàng tiên tiến, hiện đại 55
3.2.6 Làm tốt công tác tiếp thị 55
3.2.7 Huy động qua các kên khác 56
3.2.8 Thường xuyên làm tốt công tác thi đua,khen thưởng để hỗ trợ tích cực cho công tác huy động vốn ngoại tệ 56
3.3 Kiến nghị 58
3.3.1 Kiến nghị với Chính Phủ 58
3.3.2 Kiến nghị với ngân hàng nhà nước 59
3.3.3Kiến nghị với ngân hàng BIDV 60
KẾT LUẬN 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG CHUYÊN ĐỀ
NHTW : Ngân hàng trung ương
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
BIDV : Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
NHTM : Ngân hàng thương mại
BĐS : Bất động sản
VND : Việt Nam đồng
USD : Đo la mỹ
TCKT – XH : Tổ chức kinh tế - xã hội
Trang 6DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn ngoại tệ tại phòng giao dịch số 1 –
ngân hàng BIDV chi nhánh Thăng Long 38Bảng 2.2: Kết quả huy động vốn ngoại tệ của phòng giao dịch số 1 –
Ngân hàng BIDV chi nhánh Thăng Long 40Bảng 2.3: Lãi suất huy động tiền gửi ngoại tệ 41Bảng 2.4: Biểu lãi suất huy động tiền gửi nội tệ 42
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài.
Để giải quyết mâu thuẫn giữa một bên là những tổ chức, cá nhân có nguồnvốn nhàn rỗi nhưng không biết đầu tư vào đâu và một bên là các tổ chức, cánhân có phương án kinh doanh, mong muốn mở rộng quy mô sản xuất nhưnglại không có vốn ngân hàng thương mại đã ra đời Cũng chính vì nguồn gốchình thành như thế đã quyết định tới đặc điểm cơ cấu nguồn vốn của ngânhàng, đó là: vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồnvốn Đến đây đặt ra cho các nhà ngân hàng một câu hỏi là làm thế nào để huyđộng được vốn, huy động ở đâu, như thế nào sao cho hiệu quả nhất?
Đây có lẽ đã trở thành một đề tài muôn thủa của các ngân hàng, tuynhiên câu trả lời của nó thì không bao giờ cũ Đặc biệt trong thời buổi hộinhập kinh tế quốc tế, khi mà hệ thống tài chính, tiền tệ giữa các quốc gia ảnhhưởng sâu rộng lẫn nhau, hoạt động thương mại phá vỡ đi biên giới địa lý thìhoạt động ngân hàng cũng ngày càng đa dạng, phức tạp, vấn đề cho vay, đivay không chỉ giới hạn ở đồng bản tệ mà mở rộng giao dịch bằng các đồngtiền khác
Nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của vấn đề này ở trên giảngđường đại học cộng với những thực tế đã nghiên cứu ở cơ quan thực tập -phòng GD số 1 Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh ThăngLong em mạnh dạn chọn đề tài “Tăng cường huy động vốn ngoại tệ tại phòng
GD số 1 ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Thăng Long.”Làm đề tài nghiên cứu cho chuyên đề thực tập của mình
Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở nghiên cứu nội dung, vai trò của hoạt động huy động vốnngoại tệ tại ngân hàng thương mại nói chung và những thực trạng huy động
Trang 8vốn ngoại tệ của phòng giao dịch số 1 – ngân hàng BIDV chi nhánh ThăngLong nói riêng từ đó đưa ra những giải pháp đối với phòng giao dịch số 1 –ngân hàng bidv chi nhánh Thăng Long và những kiến nghị đối với các cấpquản lý để có thể giúp phòng giao dịch số 1 – ngân hàng bidv chi nhánhThăng Long mở rộng huy động vốn ngoại tệ đáp ứng nhu cầu hoạt động kinhdoanh.
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là vốn ngoại tệ của ngân hàng.Trong đó trọng tâm là tăng cường huy động vốn ngoại tệ cho ngân hàng
Phạm vi nghiên cứu của chuyên đề là hoạt động huy động vốn ngoại tệcủa phòng giao dịch số 1 – Ngân hàng BIDV chi nhánh Thăng Long
Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vậtlịch sử của chủ nghĩa Mác-Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh kết hợp với các họcthuyết kinh tế, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp
Kết cấu của chuyên đề
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục chuyên đề được chia làm 3 chương
Chương 1: Hoạt động huy động vốn ngoại tệ của Ngân hàng thương mại Chương 2: thực trạng huy động vốn ngoại tệ tại phòng giao dịch số 1 – Ngân hàng BIDV chi nhánh Thăng Long
Chương 3: Đề xuất nhằm tăng cường huy động vốn ngoại tệ tại phòng giao dịch số 1 – ngân hàng bidv chi nhánh Thăng Long.
Trang 9CHƯƠNG I: HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN NGOẠI TỆ
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Vốn của ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm về vốn của ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Quan niệm về vốn trong nền kinh tế.
Vốn là các tài sản trong xã hội được đưa vào đầu tư nhằm mang lại hiệuquả trong tương lai Trong nền kinh tế thị trường, dù hoạt động trong lĩnhvực nào thì vốn cũng là một yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của nó.Hoạt động ngân hàng cũng vậy, muốn hoạt động kinh doanh có hiệu quả thìcông tác huy động vốn cần được hết sức quan tâm
Vốn phải được biểu hiện dưới hình thái giá trị của tài sản tức là vốn phảiđược đại diện cho một lượng giá trị thực của tài sản nhất định Mặt khác vốnkhông chỉ biểu hiện thành tiền và những giá trị tài sản hữu hình mà còn đượcbiều biện thành những giá trị vô hình ( uy tín, phát minh sáng chế, thông tin,công nghệ)
1.1.1.2 Vốn của NHTM
Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập thông qua việc huy động, đi vay để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác
Thực chất vốn của NHTM là một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thờinhàn rỗi trong quá trình xản suất, phân phối và tiêu dùng mà người chủ sởhữu gửi vào ngân hàng với các mục đích khác nhau, họ chỉ có quyền sở hữucòn quyền sử dụng vốn tiền tệ họ chuển nhượng cho ngân hàng , để rồi ngânhàng phải trả cho họ một khoản thu nhập
Như vậy, ngân hàng đã thực hiện vai trò trung gian tài chính, làm cầu nốigiữa cung và cầu vốn tiền tệ trong nền kinh tế, qua đó làm tăng quá trình luânchuyển vốn và thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển Đồng thời, chính các
Trang 10hoạt động đó lại quyết định tới lợi nhuận, tới việc tồn tại và phát triển hoạtđộng kinh doanh của các NHTM.
1.1.2 Vai trò của nguồn vốn đối với hoạt động kinh doanh của NHTM
Ngân hàng là một doanh nghiệp kinh doanh một loại hàng hóa đặc biệt–“tiền tệ” với đặc thù hoạt động kinh doanh là “đi vay để cho vay” nên nguồnvốn đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng có vai trò hết sức quantrọng, nó phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh củamỗi ngân hàng Vốn là yếu tố sống còn, nó quyết định khả năng sinh lời, khảnăng cạnh tranh cũng như khả năng phòng chống rủi ro của ngân hàng
1.1.2.1 Vốn giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành NHTM
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động sản suất kinh doanhđược thì phải có: Công nghệ + lao động +Tiền vốn; trong đó, vốn là nhân tốquan trọng hàng đầu, nó phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năngkinh doanh Riêng đối với NHTM, vốn lại càng là nhân tố không thể thiếu.Vốn là cơ sở để NHTM tổ chức hoạt động kinh doanh , bởi lẽ một trongnhững hoạt động knh doanh chủ yếu của ngân hàng là cho vay, nên ngân hàngkhông thể thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh nếu thiếu vốn Đối với ngânhàng, vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh mà còn là đối tượng kinhdoanh chủ yếu của ngân hàng Những ngân hàng có vốn chủ sở hữu lớn vàhuy động được nhiều vốn là những ngân hàng có nhiều thế mạnh trong kinhdoanh Hơn thế nữa, vốn là lợi thế đầu tiên trong việc chấp hành pháp luật,trước hết là chấp hành các quy định của NHTW, Chính phủ và luật các tổchức tín dụng Vốn tạo thế mạnh và thuận lợi trong kinh doanh tiền tệ Chính
vì thế, có thể nói vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của ngânhàng, là điều kiện sống còn đối với mỗi ngân hàng Do đó, ngoài vốn ban đầucần thiết, tức vốn điều lệ theo luật định thì ngân hàng phải thường xuyênchăm lo tới việc tăng trưởng vốn trong suốt quá trình hoạt động
Trang 11Từ đặc trưng kinh doanh của ngân hàng: vốn vừa là phương tiện kinhdoanh, vừa là đối tượng kinh doanh Các NHTM thực hiện kinhdoanh loạihàng hóa đặc biệt – tiền tệ trên thị trường tiền tệ ( thị trường vốn ngắn hạn) vàthị trường chứng khoán( thị trường vốn dài hạn) Vì vậy, ngoài vốn banđầukhi thành lập theo quy định của pháp luật các NH phải thường xuyên tìmmọi biện pháp để tăng trưởng vốn trong quá trình hoạt động kinh doanh.
1.1.2.2 Vốn quyết định khả năng thanh toán của ngân hàng.
Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và phát triển đòi hỏi các ngânhàng phải tạo dựng được thương hiệu, lòng tin, phải có uy tín trên thị trường
Uy tín đó phải được thể hiện trước hết ở khả năng sẵn sàng thanh toán, chi trảcho khách hàng Như đã biết, mọi bộ phận vốn của NH là vốn tiền gửi và tiền
đi vay, (vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng nguồn vốn) do
đó, phải trả cho khách hàng đúng theo cam kết và khi khách hàng có yêu cầu.Hoạt động của ngân hàng thực chất là hưởng chênh lệnh giữa lãi suất huyđộng và lãi suất cho vay, nếu ngân hàng có quy mô vốn nhỏ, hoạt động chovay sẽ bị hạn chế, nếu cho vay quá nhiều ngân hàng sẽ có thể roi vào tìnhtrạng mất thanh toán, ngược lại , một ngân hàng lớn vẫn có thể thực hiện dựtrữ đủ khả năng thanh toánđồng thời vẫn thỏa mãn nhu cầu vốn vay của nềnkinh tế, do đó họ có khả năng cạnh tranh cao hơn
Khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngânhàng càng lớn Vì vậy, nếu loại trừ khỏi các nhân tố khác,khả năng thanh toáncủa ngân hàng tỉ lệ thuận với vốn của ngân hàng nói chung và vốn khả dụngcủa ngân hàng nói riêng Với tiềm năng vốn lớn, ngân hàng có thể hoạt độngknh doanh với quy mô ngày càng mở rộng, tiến hành các hoạt động cạnhtranh có hiệu quả nhằm nâng cao vị thế của ngân hàng
1.1.2.3 Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng.
Vốn của ngân hàng quyết định việc mở rộng hay thu hẹp khối lượng tíndụng Thông thường, các ngân hàng nhỏ phạm vi hoạt động kinh doanh,
Trang 12khoản mục đầu tư, khối lượng cho vay ít và kém đa dạng hơn Do đó ảnhhưởng đến khả năng thu hút vốn của các tổ chức kinh tế và tầng lớp dân cư,thậm chí không đáp ứng được nhu cầu vốn vay của doanh nghiệp Họ sẽ mấtkhách hàng và không tận dụng được cơ hội kinh doanh Nếu là một ngân hànglớn, nguồn vốn dồi dào chắc chắn sẽ đáp ứng được nhu cầu về vốn của cácdoanh nghiệp lớn, có điều kiện để mở rộng quan hệ tín dụng với nhiều doanhnghiệp.
Nguồn vốn lớn còn giúp ngân hàng hoạt động kinh doanh với nhiều loạihình khách nhau như: Liên doanh liên kết, dịch vụ thuê tài chính, kinh doanhchứng khoán…Các hình thức kinh doanh này nhằm phân tán rủi ro và tạothêm vốn cho ngân hàng; đồng thời nó giúp ngân hàng nâng cao sức cạnhtranh trên thị trường
1.1.2.4 Nguồn vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng
Thực tế đã chứng minh : quy mô, trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỹthuật của ngân hàng là tiền đề cho việc thu hút nguồn vốn Đồng thời, khảnăng vốn lớn là điều kiện thuận lợi đối với ngân hàng trong việc mở rộngquan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế khác xét cả về quy mô, khốilượng tín dụng chủ động về thời gian, thời hạn cho vay, thậm chí quyết địnhmức lãi suất vừa phải cho khách hàng Điều đó sẽ thu hút ngày càng nhiềukhách hàng, doanh số hoạt động của ngân hàng sẽ tặng lên nhanh chóng vàngân hàng sẽ có kết quả kinh doanh tốt hơn Đây cũng là điều kiện để bổ sungthêm vốn tự có của ngân hàng , tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và quy môhoạt động của ngân hàng trên mọi lĩnh vực
Đồng thời vốn của ngân hàng lớn sẽ tạo ra thuận lợi cho việc sử dụngtổng hòa các nguồn vốn khác Trên cơ sở đó sẽ giúp ngân hàng có đủ khảnăng tài chính để kinh doanh đa năng trên thị trường, không chỉ đơn thuần làcho vay mà còn mở rộng các hình thức liên kết, kinh doanh dịch vụ thuê
Trang 13mua(leasing) mua bán nợ(phactoring), kinh doanh trên thị trường chứngkhoán Chính các hình thức kinh doanh đa năng này sẽ góp phần phân tán rủi
ro trong hoạt động kinh doanh và tạo thêm vốn và tăng sức cạnh tranh chongân hàng
Ngoài ra vốn của ngân hầng dồi dào sẽ tạo điều kiện cho NHNN đảmbảo khả năng thực hiện chính sách tiền tệ, góp phần ổn định lưu thông tiền tệ,cân đối tiền hàng trong nền knh tế
1.1.3 Phân loại vốn của NHTM
1.1.3.1 Vốn của ngân hàng ( Bank capital)
Vốn của ngân hàng là khoản vốn thuộc sở hữu của ngân hàng , nó baogồm vốn tự có và vốn coi như tự có
a Vốn tự có bao gồm:
Vốn điều lệ ( Charter capital): Là khoản vốn thuộc sở hữu của ngân hàngghi trong bản điều lệ của ngân hàng, được hình thành ngay từ khi NHTMđược thành lập Nguồn vốn này là lượng vốn tối thiểu mà ngân hàng cần phải
có để đáp ứng điều kiện thành lập cũng như hoạt động kinh doanh Các loạihình ngân hàng khác nhau thì có nguồn hình thành vốn ban đầu cũng khácnhau: Đối với các ngân hàng quốc doanh thì nguồn vốn hình thành ban đầu dongân sách nhà nước cấp, nếu là ngân hàng liên doanh thì do các bên liêndoanh đóng góp, nếu là ngân hàng cổ phần thì do các cổ đông sáng lập gópvốn; nếu là ngân hàng tư nhân thì đó là vốn chủ sở hữu của tư nhân
Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động
Vốn chủ sở hữu của ngân hàng có thể gia tăng theo nhiều phương thứckhác nhau tùy thuộc vào loại hình ngân hàng và điều kiện cụ thể trong quátrình sản xuất kinh doanh của ngân hàng Bao gồm:
Nguồn từ lợi nhuận: Khi hoạt động kinh doanh tạo ra lợi nhuận thì ngânhàng có thể chuyển một phần lợi nhuận thành nguồn vốn nhằm tái đầu tư
Trang 14Lượng vốn tích lũy từ lợi nhuậ tùy thuộc vào chiến lược kinh doanh của ngânhàng trong thời gian tới, cũng như cân nhắc của chủ ngân hàng về tích lũy vàtiêu dùng.
Cách thứ hai đó là tăng nguồn vốn chủ sở hữu bằng việc phát hành thêm
cổ phần đối với ngân hàng cổ phần, góp thêm vốn với các ngân hàng liêndoanh, xin cấp vốn từ ngân sách nhà nước với ngân hàng quốc doanh hay chủngân hàng tư nhân tự bỏ thêm vốn để có thể mở rộng quy mô hoạt động hayđáp ứng yêu cầu về vốn của ngân hàng Nhà nước Đặc điểm của hình thứcnày là không thường xuyên, song giúp ngân hàng có được lượng vốn chủ sởhữu lớn vào lúc cần thiết
Các quỹ dự trữ
Được hình thành từ hai quỹ là quỹ dự trữ để bổ sung vốn điều lệ và quỹ
dự trữ đặc biệt để bù đắp rủi ro ( Loan loss reserve ) Các quỹ này được trích
từ lợi nhuận ròng hàng năm của ngân hàng Việc hình thành các quỹ nàynhằm làm tăng vốn tự có của ngân hàng , đồng thời đảm bảo an toàn trongkinh doanh
b Vốn coi như tự có.
Vốn coi như tự có bao gồm các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của ngânhàng Đây là những khoản vốn tạm thời đã được phân bổ cho những mục đíchchi tiêu nhất định nhưng tạm thời chưa được sử dụng, ví dụ: lợi nhuận chưađược phân bổ, tiền lương chưa đến hạn thanh toán hoặc các quỹ chuyên dùngchưa sử dụng đến như quỹ phát triển nghiệp vụ ngân hàng, quỹ khen thưởng,quỹ phúc lợi, khấu hao tài sản cố định
Theo hiệp định Basel 1, vốn của ngân hàng chia thành hai loại là: Vốncấp 1 – vốn tự có cơ bản, gồm cổ phần thường, cổ phần ưu đãi dài hạn, thặng
dư vốn, lợi nhuận không chia, dự phòng chung các khoản dự trữ vốn khác,các phương tiện ủy thác có thể chuyển đổi và dự phòng lỗ tín dụng Vốn cấp 2
Trang 15– Vốn tự có bổ sung gồm cổ phần ưu đãi có thời hạn, các trái phiếu bổ sung
và giấp nợ
1.1.3.2 Vốn huy động
Đây là nguồn vốn quan trọng nhất trong số vốn thu hút từ bên ngoài củacác ngân hàng thương mại bao gồm:
a.Tiền gửi không kỳ hạn( demand deposit)
Là loại tiền gửi mà người gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào( nên còngọi là tiền gửi có thể rút ra theo yêu cầu – demand deposit)
Đối với loại tiền gửi này, người gửi không nhằm mục đích hưởng lãi màchủ yếu phục vụ thanh toán Chính vì vậy mà loại tiền gửi này còn gọi là tiềngửi thanh toán Loại tiền gửi này thường tồn tại dưới các hình thức:
- Tài khoản séc: tài khoản tiền gửi có khả năng phát séc
- Tài khoản NOW( negotiable oder Withdrawal account – Lệnh rút tiền
có thể chuyển nhượng): Về bản chất, đây là một dạng tài khoản tiền gửi chophép phát hành séc nhưng được hưởng lãi cao hơn tài khoản séc thôngthường
- Tài khoản tiền gửi thị trường tiền tệ( MMDA- Money market deposit
account): Tiền gửi loại này được dùng để đầu tư vào thị trường tiền tệ và chophép những người chủ tài khoản được phép phát séc Tiền gửi loại này khôngphải dự trữ bắt buộc
- Tài khoản ATS ( ATS account – Automatic transfer system account):
Tài khoản này cũng cho phép phát séc nhưng có thêm một đặc tính đặc biệt làkhi số dư trên tài khoản này vượt quá một mức nhất định thì phần tiền vượtquá sẽ tự động chuyển sang một tài khoản tiết kiệm có lãi suất cao hơn vàngược lại
b Tiền gửi có kỳ hạn ( Time deposit)
Là loại tiền gửi mà người gửi chỉ được rút ra sau một thời hạn nhất định
Trang 16từ một vài tháng đến vài năm Mứa lãi suất của tiền gửi có kỳ hạn thường caohơn tiền gửi không kỳ hạn nhưng những người gửi loại tiền này không đượchưởng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng Mục đích của những người gửi tiền
có kỳ hạn là để lấy lãi
Về nguyên tắc tiền gửi không kỳ hạn không được rút ra trước thời hạn,tuy nhiên để cạnh tranh các ngân hàng vẫn cho khách hàng rút ra trước hạnnhưng phải chịu một khoản phạt Ở Việt Nam tiền gửi có kỳ hạn thường dướihai dạng
- Tiền gửi có kỳ hạn theo tài khảon
- Tiền gửi có kỳ hạn dưới hình thức kỳ phiếu ngân hàng
c Tiền gửi tiết kiệm( Savings deposit)
Là khoản tiền gửi của cá nhân vào ngân hàng nhằm mục đích hưởng lãitheo định kỳ
Ở Việt Nam tiền gửi tiết kiệm bao gồm 3 loại :
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn : Người gửi tiền có thể gửi vào hay rút
ra theo nhu cầu sử dụng mà không cần báo trước cho ngân hàng
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là loại tiền gửi tiết kiệm có thời hạn gửi cố
định trước Người gửi chỉ gửi vào một lần và rút ra cả gốc và lãi khi đến hạn
- Tiền gửi tiết kiệm có mục đích:Là hình thức tiết kiệm trung và dài hạn
nhằm mục đích xây dựng nhà ở Ngoài mục đích hưởng lãi, người gửi cònđược ngân hàng cho vay nhằm mục đích xây dựng nhà ở Mức cho vay tối đa
bằng số dư tiền gửi.
1.1.3.3 Vốn đi vay
a Vay từ NHTW
Bất kỳ ngân hàng thương mại nào khi được NHTW cho phép thành lậphoạt động đều hưởng quyển vay tiền tại NHTW khi thiếu hụt dự trữ hay quáthiếu tiền mặt NHTW cấp tín dụng cho các NHTM chủ yếu dưới 2 hình thức:
Trang 17- Chiết khấu hay tái chiết khấu các giấy tờ có giá
- Cho vay thế chấp hay ứng trước.
Do vậy, tiền vay NHTW còn gọi là tiền chiết khấu hay ứng trước
Hiện nay NHNN Việt Nam áp dụng 3 hình thức cấp tín dụng sau:
-Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạnkhác
- Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giángắn hạn khác
- Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng :Thường là các hồ sơ tín dụng hỗ trợtheo yêu cầu của nền kinh tế, như thu mua lương thực, nông sản, dự trữ vật tư,nguyên liệu, dự trữ vật tư…
b Vay ngắn hạn các khoản dự trữ tù các TCTD khác
Mục đích của loại vay này là nhằm đảm bảo dự trữ bắt buộc theo quyđịnh của NHTW Trong quá trình hoạt động, một số NHTM có những ngàycho vay quá nhiều khiến cho thiếu hụt dự trữ bắt buộc tại NHTW, trong khi
đó lại có một số ngân hàng khác thừa dự trữ Để đảm bảo dự trữ theo quyđịnh của NHTW, các ngân hàng thiếu dự trữ sẽ vay của các ngân hàng cóthừa dự trữ
c Vay từ các công ty
Ở các nước phát triển NHTM có thể vay trực tiếp từ các công ty qua một
số hình thức
- Vay ngắn hạn bằng các Hợp đồng mua lại: Là hợp đồng mà trong đó
các ngân hàng bán các tín phiếu kho bạc mà mình đang nắm giữ cho các tổchức kinh tế đang tạm thời thừa tiền mặt có kèm theo điều khoản mua lại sốtín phiếu đó sau một thời gian nhất định với một giá cao hơn
- Vay từ công ty mẹ: Các công ty hay các tập đoàn kinh doanh có thể là
chủ của một ngân hàng hay nhiều ngân hàng thương mại Khi ngân hàng phát
Trang 18hành trái phiếu hay giấy nợ để vay tiền từ thị trường nó sẽ chịu sự quản lý vàrằng buộc của NHTW về dự trữ, lãi suất và thủ tục Trong khi đó nếu công ty
mẹ cho vay ngân hàng sẽ không phải chịu những thủ tục này
d Vay từ thị trường tài chính trong nước
Các NHTM có thể vay trong nước bằng hình thức phát hành các giấy tờ
có giá như:
- Chứng chỉ tiền gửi có khả năng chuyển nhượng: Đây là các chứng chỉ
tiền gửi có mệnh giá lớn, có thể mua đi bán lại trên thị trường khi chưa đáohạn, thời gian đáo hạn của loại chứng chỉ này thường không quá 6 tháng kể từngày phát hành
- Trái phiếu ngân hàng: Đây là một công cụ vay nợ dài hạn của NHTM
trên thị trường chứng khoán Thời hạn từ 2 năm trở lên
e Vay nước ngoài
Các NHTM cũng có thể huy động vốn bằng cách vay tiền ở nước ngoàithông qua việc phát hành trái phiếu Euro Dollars Tiền vay chủ yếu là USD
Đó là những khoản tiền gửi bằng USD thuộc các ngân hàng ở nước ngoàihoặc các chi nhánh ở nước ngoài của các ngân hàng Mỹ
Nguồn vốn vay này đã trở thành nguồn vốn quan trọng hơn đối với cácngân hàng trong thời gian qua Tuy nhiên ở Việt Nam, chỉ có một số ngânhàng có thể phát hành trái phiếu Euro Dollars để huy động vốn nước ngoài
Trang 191.2 Hoạt động huy động vốn ngoại tệ của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm về ngoại tệ và huy động vốn ngoại tệ
Tiền gửi bằng ngoại tệ của các tầng lớp dân cư: Tiền gửi bằng ngoại tệcủa các tầng lớp dân cư chiếm tỷ trọng nhỏ Việc huy động vốn bằng ngoại tệluôn bị tác động mạnh bởi lãi suất ngoại tệ trên thị trưởng quốc tế, và tìnhtrạng khan hiếm đồng VND
Tiền gửi bằng ngoại tệ của các TCKT-XH: Đây chủ yếu là các khoảntiền gửi trong thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn ngắn từ 1 – 3 tháng
Tiền gửi bằng ngoại tệ của các tổ chức tín dụng khác Nguồn tiền nàychiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số vốn huy động bằng ngoại tệ Tại ViệtNam đối tượng cho vay chủ yếu là NHNN
Tiền vay bằng ngoại tệ: Cũng giống tiền vay bằng nội tệ, chỉ khi thật sựcần thiết NHTM mới đi vay nhất là bằng ngoại tệ với lãi suất cao và đầy biếnđộng Do vậy lượng vay này nhỏ
1.2.2 Vai trò của vốn ngoại tệ đối với NHTM
Phục vụ hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng: Một trongnhungwc mảng kinh doanh quan trọng của ngân hàng chính là hoạt động knhdoanh ngoại tệ Nguồn vốn ngoại tệ dồi dào giúp ngân hàng có lợi thế, luônchủ động trong hoạt động kinh doanh của mình
Trang 20Đáp ứng nhu cầu vay ngoại tệ của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân:Các doanh nghiệp có nhu cầu về vốn ngoại tệ để nhập khẩu nguyên liệu, máymóc thiết bị Các cá nhân dùng ngoại tệ để du học, du lịch… Những nhu cầunày ngày càng nhiều, do đó ngân hàng cần huy động vốn ngoại tệ để đáp ứngnhu cầu của nền kinh tế.
Đáp ứng nhu cầu thanh toán quốc tế: Hiện nay, thế giới đang tiến hànhhội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam cũng nằm trong chịu sự ảnhhưởng đó, hơn nữa các doanh nghiệp Việt Nam muốn phát triển thì càngphải mở rộng hoạt động kinh doanh không chỉ trong mà còn bên ngoài nước,đồng thời phải học hỏi công nghệ, nhập khẩu máy móc của nước ngoài Tất
cả những vấn đề đó đòi hỏi các doanh nghiệp nguồn ngoại tệ dồi dào chothanh toán quốc tế Việc huy động vốn ngoại tệ của ngân hàng cũng nhằmmục đích này
Giảm tình trạng đola hóa: Tình trạng đo la hóa ở nước ta trong nhữngnăm qua ở mức cao, dự tính gần 30%, đây là một con số đáng lo ngại Tìnhtrạng này diễn ra là do người dân ngày càng mất niềm tin vào đồng nội tệ.Huy động vốn ngoại tệ tốt không chỉ góp phần vào hoạt động kinh doanh củangân hàng mà nó còn làm giảm lượng ngoại tệ trong dân chúng, làm giảmtình trạng đola hóa, giúp NHNN, Chính phủ có những chính sách điều chỉnhkinh tế đúng đắn hơn, hệ thống tiền tệ dễ kiểm soát hơn Đồng thời huy độngtốt nguồn ngoại tệ nhàn rỗi giúp ngân hàng trở thành kênh huy động tốt nhất,duy nhất với các đối tượng có nhu cầu ngoại tệ, từ đó ngân hàng có thể tiếpcận các khách hàng vay vốn một cách dễ dàng
Nói tóm lại: nguồn vốn ngoại tệ có vai trò rất quan trọng đối với hoạt
động ngân hàng Ngoài những vai trò chung như nguồn vốn nội tệ thì nó còn
có vai trog quan trọng trong việc thanh toán quốc tế, giúp ngân hàng đa dạnghóa các sản phẩm dịch vụ từ đó đạt được kết quả kinh doanh tốt nhất
Trang 211.2.3 Đặc trưng của huy động vốn ngoại tệ
Huy động vốn ngoại tệ có những đặc điểm riêng, khác với huy động vốnnội tệ:
Nguồn ngoại tệ huy động không nhiều: So với đồng nội tệ, nguồn ngoại
tệ huy động được không nhiều Điều này cũng dễ hiểu, bởi lẽ, nội tệ là đồngtiền của Việt Nam, người dân tạo ra thu nhập, sinh hoạt đều sử dụng đồng tiềnnày, đồng nội tệ có thể huy động từ nhiều đối tượng khác nhau do đó quy môhuy động cũng dồi dào hơn
Đối tượng huy động nội tệ không đa dạng: Đối tượng có đồng ngoại tệ
chủ yếu là các doanh nghiệp, mà chủ yếu là doanh nghiệp xuất khẩu, các giađình có người thân ở nước ngoài Vì vậy việc tiếp cận nguồn ngoại tệ cũngkhó khăn
Huy động vốn ngoại tệ thường mang tính thời vụ cao: Đây có lẽ là đặc
trưng khách biệt nhất giữa huy động vốn ngoại tệ và huy động vốn nội tệ.Tiền gửi của các doanh nghiệp chiếm đa số trong tổng nguồn vốn ngoại tệngân hàng huy động được Các doanh nghiệp thường có nhu cầu về ngoại tệvào cuối năm, nên nguồn vốn này thường khan hiếm vào cuối năm
Huy động vốn ngoại tệ chịu nhiều rủi ro:Việc huy động vốn ngoại tệ
không chỉ chịu những biến động kinh tế trong nước, mà nó còn chịu tác động
từ những nền kinh tế khác trên thế giới Những chính sách tài chính, tiền tệcủa các nước khác trực tiếp ảnh hưởng tới lãi suất huy động của đồng ngoại tệ
mà ngân hàng huy động
1.2.4 Điều kiện đảm bảo cho công tác huy động vốn ngoại tệ của NHTM
1.2.4.1 Về pháp lý
Đây là điều kiện tiên quyết đảm bảo công tác huy động vốn ngoại tệ Bất
kỳ một hoạt động kinh tế nào cũng đều chịu sự điều tiết của pháp luật, hoạt
Trang 22ddoongjhuy động vốn ngoại tệ của ngân hàng cũng vậy Huy động thành cônghay không một phần quan trọng chịu ảnh hưởng của các chĩnh sách điều tiếtcủa Chính phủ, của NHNN Ví dụ như gần đây, khi Chính phủ nghiêm cấmcác hoạt động giao dịch ngoại tệ trện thị trường tự do, kiến nghị về việc minhbạch hóa nguồn ngoại tệ gửi vào các ngân hàng và kiến nghị việc bán lạingoại tệ cho ngân hàng thay vì gửi tiền vào ngân hàng thì nguồn ngoại tệ chảyvào ngân hàng tăng mạnh.
Đồng thời các quy định về hạn mức tín dụng ngoại tệ của NHNN cũngảnh hưởng tới công tác huy động vốn ngoại tệ của ngân hàng Như đã biết,hoạt động huy động vốn ngoại tệ cần đi đôi với hoạt động tín dụng bằng ngoại
tệ của ngân hàng Việc NHNN hạn chế tăng trưởng tín dụng ngoại tệ trongnhững ngày qua lại đi đôi với những biện pháp kích thích huy động ngoại tệcủa ngân hàng thực chẳng khác NHNN làm khó NHTM
Những chính sách của NHNN còn ảnh hưởng tới hoạt động huy độngvốn ngoại tệ ở chỗ, trong những lúc khó khăn về thanh khoản ngoại tệ,NHNN buộc các doanh nghiệp quốc doanh phải bán lại, gửi ngoại tệ vào ngânhàng Đây là một biện pháp giúp ngân hàng thực hiện huy động ngoại tệnhưng không mang tính lâu dài
Bên cạnh đó, những điều hành về chính sách tỷ giá cũng là một tác nhânkhông nhỏ ảnh hưởng tới huy động ngoại tệ của ngân hàng Rồi tình trạngđôla hóa đang diễn ra ngày một nghiêm trọng cũng làm giảm nguồn ngoại tệ
mà ngân hàng huy động được
Ngoài ra, NHNN nên có những chính sách đảm bảo sông bằng hơn giữacác ngân hàng Việt Nam và ngân hàng nước ngoài, tránh tình trạng lợi nhuận
từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ rơi vào các ngân hàng nước ngoài như năm
2009 Đồng thời cũng tạo ra môi trường cạnh tranh giúp các ngân hàng ViệtNam phát triển
Trang 23Những quy định về huy động vốn ngoại tệ thông qua phát hành các giấy
tờ có giá trên thị trường quốc tế cũng cần được xem xét một cách ling độngphù hợp với thực trạng hoạt động kinh doanh của từng ngân hàng, cũng nhưnhu cầu phát triển kinh tế của đất nước
Tóm lại , hành lang pháp lý là một điều kiện rất quan trọng đảm bảo chocông tác huy động vốn ngoại tệ của ngân hàng NHNN và Chính phủ cần cónhững chính sách tốt hơn nữa đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho phát triển kinh tế,thúc đẩy huy động vốn ngoại tệ của Ngân hàng
1.2.4.2 Về nhân sự
Vấn đề huy động vốn ngoại tệ đòi hỏi ngân hàng phải có đội ngũ cán bộ
có trình độ chuyên môn cao, đạo đức nghề nghiệp, am hiểu sâu sắc về quytrình, thủ tục huy động vốn, về điều kiện kinh tế trong nước cũng như trên thếgiới, am hiểu pháp luật, và thông hiểu nhiều ngôn ngữ khác nhau
Đồng thời, cán bộ ngân hàng, đặc biệt là cán bộ huy động vốn ngoại tệphải năng động, sáng tạo, chủ động tìm kiếm khách hàng mới, duy trì quan hệvới khách hàng cũ Trong bối cảnh rất nhiều ngân hàng nước ngoài vào ViệtNam, với lợi thế về vốn, công nghệ và kinh nghiệm lâu năm trong ngàng ngânhàng trên thế giới, ngân hàng càng cần quan tâm tới đội ngũ nhân viên mộtcách thích đáng hơn nữa để có thể giữ được nhân tài
1.2.4.3 Về cách thức huy động
Đặc điểm của nguồn vốn ngoại tệ kể cả về huy động và cho vay chính là
về tính thời vụ Nguồn ngoại tệ thường khan hiếm vào các tháng cuối năm donhu cầu thanh toán của các daonh nghiệp nhập khẩu về cuối năm thường cao.Đây là một bài toán khó cho công tác huy động vốn ngoại tệ
Để có thể đáp ứng yêu cầu này, ngân hàng cần phải tạo ra những phươngthức huy động vốn một cách linh động, đa dạng, đáp ứng yêu cầu của độngđảo khách hàng Đồng thời cần tạo ra khoảng cách về lãi suất giữa lãi suất
Trang 24huy động kỳ hạn ngắn và dài hạn để đảm bảo quyền lợi cho khách hàng, thuhút nguồn vốn có kỳ hạn dài.
Ngân hàng cũng cần có những dự báo về nhu cầu ngoại tệ trong tươnglai để có chính sách huy động một cách tối ưu, đạt được kết quả kinh doanhtốt Bên cạnh đó, việc dự trữ nguồn ngoại tệ một cách thích hợp là vô cùngcần thiết để có thể đảm bảo cấp tín dụng cho khách hàng trong mọi thời điểm
Có như vậy, mới góp phần làm tăng chữ tín của ngân hàng, tăng mối quan hệgiữa ngân hàng và khách hàng
Trang 25CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ HUY ĐỘNG VỐN NGOẠI TỆ TẠI PHÒNG GIAO DỊCH SỐ 1 – NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT( BIDV) NAM CHI NHÁNH THĂNG LONG
2.1 Giới thiệu về Ngân hàng BIDV chi nhánh Thăng Long
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Ngân hàng BIDV chi nhánh Thăng Long
Chi nhánh BIDV Thăng Long được thành lập trên cơ sở số HĐQT của Chủ Tịch hội đồng quản trị Ngân hàng Đầu tư và phát triển ViệtNam ngày 19/09/2008 BIDV Thăng Long lúc mới thành lập có 80 cán bộ,được trang bị đầy đủ thiết bị công nghệ tin học, viễn thông, thiết bị an ninh antoàn trong tác nghiệp theo đúng chuẩn mực quy định của Ngân hàng Nhànước và Hội sở chính của BIDV BIDV Thăng Long được thành lập với mụcđích tận dụng lợi thế nơi nhiều nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước đặt nhiềucông ty, khách sạn, nhà hàng, cơ sở kinh doanh, trường học, phù hợp với xuhướng mở rộng bán lẻ của BIDV
708/QĐ-Là một trong những chi nhánh mới của BIDV ra đời vào năm 2008, vớiđiểm xuất phát rất thấp, trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và quốc tế chịuảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, liên tục diễn biến phức tạp, tráichiều, chi nhánh BIDV Thăng Long gặp rất nhiều khó khăn trước sức ép củathị trường, mức độ cạnh tranh gay gắt đến từ các ngân hàng khác hoạt độngcùng địa bàn, do quy mô nhỏ bé, thị trường hẹp, nền khách hàng mỏng… Bêncạnh đó, các chi phí cho hoạt động kinh doanh lớn, các nguồn thu khác lạigiảm mạnh so với dự kiến kế hoạch tài chính ban đầu khi thành lâp Tuynhiên sau hơn 2 năm hoạt động, với sự nỗ lực đáng khen,chi nhánh đã hoànthành kế hoạch được giao, vượt qua giai đoạn đầy chông gai và vững bướctrên con đường phát triển chung của BIDV BIDV Thăng Long đã và đang
Trang 26từng bước khẳng định được vị thế,tầm quan trọng của mình không chỉ trong
hệ thống BIDV toàn quốc mà còn trong toàn bộ hệ thống ngân hàng
Trang 27Chính sách tiền tệ tương đối ổn định
Năm 2008, việc thắt chặt tiền tệ đầu năm và nới lỏng dần cuối năm đãtạo nên tần suất điều chỉnh chính sách nhiều chưa từng có trong lịch sử Đó là
8 lần điều chỉnh lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu; 5lần điều chỉnh dự trữ bắt buộc và lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc; 3 lần nớibiên độ tỷ giá, 2 lần tăng mạnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng Xét về tầnsuất điều chính đó, năm 2009 chính sách tiền tệ có sự ổn định hơn
Cụ thể, trong nãm Ngân hàng Nhà nýớc chỉ một lần giảm lãi suất cơ bản
từ 8,5% xuống 7%/năm và duy trì đến hết tháng 11 để rồi tăng trở lại 8% từ1/12 đến cuối năm Riêng lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu có 3lần điều chỉnh, 2 lần giảm trong tháng 1 và 4, 1 lần tăng đầu tháng 12 Tỷ lệ
dự trữ bắt buộc có 1 lần điều chỉnh giảm từ tháng 3 Biên độ tỷ giá có 2 lầnđiều chỉnh, lần nới rộng từ +/-3% lên +/-5% từ 24/3 và thu hẹp lại từ +/-5%xuống +/-3% từ ngày 26/11 Tỷ giá bình quân liên ngân hàng ghi nhận mộtlần điều chỉnh trực tiếp, tăng mạnh 5% trong ngày 26/11
Sự ổn định của chính sách tiền tệ giúp phòng giao dịch chủ động đượctrong hoạt động kinh doanh, tránh được những tổn thất như năm 2008
Trọng tâm hỗ trợ lãi suất
Tháng 2, Chính phủ bắt đầu triển khai gói kích cầu, trong đó chính sách
hỗ trợ lãi suất là một trọng tâm Phòng giao dịch đón chính sách hỗ trợ lãisuất hồ hởi, nhưng triển khai thận trọng Đây là chính sách chưa có trong tiền
lệ, tạo điều kiện thuận lợi cho phòng giao dịch số 1tiếp cận khách hàng vàtăng trưởng tín dụng tốt hơn (lãi suất thấp, khả năng trả nợ của doanh nghiệptốt hơn)
Tăng trưởng tín dụng vượt định hướng
Từ cuối năm 2008, chính sách tiền tệ bắt đầu có sự chuyển hướng, từthắt chặt sang dần nới lỏng Cùng với chủ trương kích cầu và ngăn chặn suy
Trang 28giảm kinh tế, sự chuyển hướng trên là một yếu tố tạo điều kiện để tín dụngcủa phòng giao dịch tăng trưởng mạnh trở lại trong năm 2009.
Cụ thể, đầu năm, tăng trưởng tín dụng dự kiến từ 21% - 23%; nhungthực tế con số này lên tới trên 38%, tăng mạnh so với năm 2008 (25%) và ởmức cao nhất kể từ khi thành lập
- Mặc dù chịu ảnh hưởng của cuộc đại suy thoái nhưng nền kinh tế ViệtNam vẫn tăng trưởng vào loại cao hàng đầu thế giới trong mấy năm qua, điềunày góp phần lớn vào hoạt động kinh doanh của phòng giao dịch
- Phòng giao dịch số 1 – Ngân hàng BIDV chi nhánh Thăng Long nằmtại địa điểm dân cư phát triển của thành phố Hà Nội nên thuận lợi cho việchuy động vốn cũng như cho vay Đồng thời là một bộ phận của ngân hàngBIDV vốn có nhiều khách hàng thân thiết cũng như đây là một ngân hàng có
uy tín nên việc hoạt động của phòng giao dịch cũng thuận lợi hơn so với cácngân hàng khác
Tuy có được một số thuận lợi như vậy nhưng trong những năm vừa qua,cùng chung hoàn cảnh với các doanh nghiệp khác hoạt động kinh doanh củaphòng giao dịch số 1 gặp rất nhiều khó khăn
2.1.3.2 Khó khăn
Năm 2008:
Chóng mặt với thay đổi của các công cụ điều hành
Chính sách tiền tệ từ định hướng thắt chặt và linh hoạt nửa đầu năm
2008 chuyển dần sang nới lỏng một cách thận trọng những tháng cuối năm
Đi cùng với quá trình này là tần suất điều chỉnh các công cụ điều hành chưatừng có của Ngân hàng Nhà nước, tập trung ở các lãi suất chủ chốt, tỷ lệ dựtrữ bắt buộc và biên độ tỷ giá
Tính chung cả năm, Ngân hàng Nhà nước đã 3 lần tăng và 5 lần giảm lãisuất cơ bản Lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu cũng có tần suất điều
Trang 29chỉnh tương ứng Tỷ lệ dự trữ bắt buộc có 1 lần tăng trong tháng 2, 4 lần giảmtrong 3 tháng cuối năm (2 lần giảm đối với dự trữ bằng ngoại tệ) Lãi suất tiềngửi dự trữ bắt buộc có 5 lần điều chỉnh (3 lần tăng, 2 lần giảm).
Cơ chế điều hành tỷ giá cũng ghi nhận những điều chỉnh chưa từng cótrong lịch sử Biên độ có 3 lần nới rộng, từ +/-0,75% lên +/-3%; tỷ giá bìnhquân liên ngân hàng có 2 lần điều chỉnh mạnh, vŕo tháng 6 vŕ cuối tháng 12 Một công cụ được Ngân hàng Nhà nước sử dụng đến nữa là đợt pháthành 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc (17/3) Đi cùng với kế hoạch này, nhàđiều hành đã 2 lần điều chỉnh lãi suất cho tín phiếu, 1 lần tăng từ 7,8% lên13%, tháng 12 giảm xuống còn 4,5%
Chính những thay đổi liên tục, đột ngột trong chính sách tiền tệ củaChính phủ đã khiến cho phòng giao dịch gặp rất nhiều khó khăn kể về huyđộng cũng như cho vay Đặc biệt là đợt phát hành tín phiếu bắt buộc củaNgân hàng Nhà nước đã khiến cho phòng giao dịch khó khăn lại càng thêmchồng chất, làm giảm lợi nhuận kinh doanh
Lãi suất huy động và cho vay biến động chưa từng có
Chính sách thắt chặt tiền tệ đầu năm của Ngân hàng Nhà nước gắn liềnvới sự căng thẳng về thanh khoản của các ngân hàng thương mại Lãi suất huyđộng VND có kỳ biến động mạnh nhất từ trước tới nay Cuộc chạy đua bùngphát trong tháng 5 và tạo những đỉnh điểm nóng sốt trong tháng 6 Trên thịtrường liên ngân hàng, lãi suất ghi nhận kỷ lục “treo” tới 43%/năm; nhiềuthành viên đồng loạt đẩy mức huy động trong dân cư lên tới trên 19%/năm, cábiệt có trường hợp áp tới 20%/năm
Đó cũng là thời điểm mà hoạt động cho vay của phòng giao dịch cầmchừng, tín dụng tiêu dùng gần như bị cắt bỏ, tốc độ tăng trưởng tín dụng bướcvào vùng thấp nhất trong năm (liên tục tăng dưới 1%/tháng)
Ngược lại, từ cuối tháng 7, cùng với cơ chế cho vay mới, sự hỗ trợ của
Trang 30Ngân hàng Nhà nước với nguồn vốn khả dụng của hệ thống tăng mạnh lên, lãisuất trên thị trường bắt đầu có đợt thoái trào Đặc biệt từ tháng 9 đến cuốinăm, gắn với những điều chỉnh các lãi suất chủ chốt của Ngân hàng Nhànước, cả lãi suất huy động và cho vay dồn dập giảm; ít nhất có 8 đợt điềuchỉnh trên diện rộng Từ đỉnh điểm trên 19%/năm, lãi suất huy động VND rút
về quanh mốc 8%/năm; lãi suất cho vay tối đa từ 21%/năm về còn12,75%/năm Sự thoái trào của lãi suất đã khiến cho những nguồn vốn huyđộng của phòng giao dịch từ đầu năm trở thành gánh nặng trong nửa cuối năm
và các năm tiếp theo Đồng thời việc giảm lãi suất một cách đột ngột khiếncho các cá nhân không thiết tha với việc gửi tiền như trước nữa, khiến việchuy động của phòng giao dịch trở nên khó khăn hơn
Tỷ giá USD/VND tăng đột biến
Năm 2008 là năm đặc biệt của cơ chế điều hành tỷ giá cũng như nhữngbiến động trên thực tế So với cuối năm 2007, tỷ giá USD/VND mua vào –bán ra của các ngân hàng thương mại đã tăng khoảng 9%, một mức tăng độtbiến so với thay đổi quen thuộc quanh 1% những năm trước
Năm 2008 cũng là năm biên độ tỷ giá liên tiếp 3 lần nới rộng, 2 lần đượctăng mạnh trực tiếp ở tỷ giá bình quân liên ngân hàng, những điều chỉnh chưatừng có trong lịch sử
Tính chất đặc biệt của tỷ giá năm 2008 cũng thể hiện ở những biến độngtrái chiều Trong những tháng đầu năm, thị trường có hiện tượng ứ đọngngoại tệ, tỷ giá có lúc xuống “đáy” 15.300 VND; nhiều doanh nghiệp, ngànhhàng xuất khẩu phải thông qua các hiệp hội yêu cầu ngân hàng đẩy mạnh muavào USD, tháo gỡ khó khăn Nhưng từ tháng 5, “cơn sốt” khan hiếm ngoại tệlại diễn ra căng thẳng trên cả thị trường chính thức lẫn thị trường tự do Mỗilúc khó khăn như vậy ngân hàng lại chịu rất nhiều sức ép từ phía các doanhnghiệp và nhà nước, hoạt động kinh doanh không được hoàn toàn linh hoạttheo cơ chế thị trường
Trang 31Chính thức cấp phép cho các ngân hàng mới
Sau cả thập kỷ, năm 2008 ghi nhận những giấy phép lập ngân hàng mớiđầu tiên được cấp Thị trường đón nhận 2 thành viên mới chính thức đi vàohoạt động là Ngân hàng Liên Việt và Ngân hàng Tiên Phong Tháng 12, Ngânhàng Nhà nước cấp thêm giấy phép mới cho Ngân hàng Bảo Việt, dự kiến đivào hoạt động đầu năm 2009
Cũng trong năm 2008, Ngân hàng Nhà nước chính thức cấp những giấyphép lập ngân hàng con 100% vốn ngoại đầu tiên cho HSBC, ANZ vàStandard Chartered, mở đầu một thời kỳ mới cho hoạt động của các ngânhàng nước ngoài tại Việt Nam: được đối xử bình đẳng hơn, cạnh tranh toàndiện hơn
Đây có thể nói là những thách thức hơn là những khó khăn của phònggiao dịch số 1 nói riêng cũng như Ngân hàng BIDV nói chung, bởi sự cạnhtranh khốc liệt từ những ngân hàng mới thành lập này, đặc biệt là từ nhữngngân hàng danh tiếng từ nước ngoài
Nợ xấu ngân hàng có xu hướng gia tăng
Nợ xấu tăng có lẽ là một trong những khó khăn nhất của phòng giaodịch Nếu trong năm 2007, tỉ lệ nợ xấu ở mức 2% thì năm 2008 tỉ lệ này lêntới 5%
Liên quan đến vấn đề nợ xấu, sự suy giảm mạnh của thị trường bất độngsản và chứng khoán là những lo ngại nổi bật của phòng giao dịch số 1 trongnăm 2008, ảnh hưởng đến chất lượng và quan hệ tín dụng của phòng Riênglàn sóng giải chấp chứng khoán cầm cố cũng là một điểm nổi bật trong nămkhó khăn này
Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
Tháng 9/2008, cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu bùng phát tại Mỹ vàloang rộng trên thế giới với một loạt định chế tài chính lớn sụp đổ
Trang 32Một ảnh hưởng cụ thể từ cuộc khủng hoảng này được xét đến ở nhữngbiến động trên thị trường ngoại tệ và xu hướng tăng lên của tỷ giá USD/VND.Trong tháng 10, cầu ngoại tệ của phòng giao dịch tăng mạnh, trong đó cónguyên nhân từ hoạt động chuyển vốn của nhà đầu tư nước ngoài Một số ngânhàng nước ngoài cũng có hiện tượng bán lại nợ cho các ngân hàng nội địa…
Ở những ảnh hưởng gián tiếp, cuộc khủng hoảng tài chính, và nối tiếp làsuy thoái kinh tế toàn cầu, đẩy nhiều doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu trongnước vào khó khăn, dẫn đến quan hệ tín dụng với phòng giao dịch bị ảnhhưởng nhất định
Một loạt nghiệp vụ cho vay bị siết chặt
Năm 2007, thị trường ngân hàng chứng kiến sự bùng nổ về tăng trưởngtín dụng (tăng 51,39%), trong đó tăng trưởng mạnh ở các nghiệp vụ cho vayđầu tư bất động sản, chứng khoán và tín dụng tiêu dùng Bước sang năm
2008, đây là những nghiệp vụ chính bị siết chặt
Chính sách thắt chặt tiền tệ và khó khăn thanh khoản trong nửa đầu năm
là nguyên nhân đầu tiên khiến nhiều ngân hàng buộc phải “đóng cửa” đối vớinhững nghiệp vụ này Bên cạnh đó, sự sụt giảm nhanh và mạnh của thị trườngchứng khoán, bất động sản dẫn đến nguy cơ rủi ro tín dụng, các ngân hàngthận trọng; lãi suất cho vay quá cao cũng là một rào cản đối với các nhu cầu.Riêng với tín dụng tiêu dùng, cơ chế cho vay theo lãi suất trần là một trở ngại,bởi cho vay loại này thường có lãi suất cao hơn
Năm 2009:
Chính sách điều hành lãi suất, tỷ giá tương đối ổn định, nhưng thực tế
thị trường có nhiều biến động và căng thẳng.
Thị trường ngoại hối căng thẳng
Năm thứ hai liên tiếp thị trường ngoại hối bộc lộ những khó khăn rõ nét
và những vấn đề nội tại chưa thể giải quyết Có thể xem căng thẳng ngoại tệ
Trang 33là một trong những điểm nổi bật nhất của kinh tế Việt Nam năm 2009, nhất làkhi xét đến những ảnh hưởng của nó đối với hoạt động doanh nghiệp và tâm
lý người dân
Căng thẳng trên thị trường bắt đầu xuất hiện từ quý 2, khi nhiều doanhnghiệp găm giữ ngoại tệ, không chịu bán lại cho ngân hàng dẫn đến mất cânđối cung – cầu Tình trạng này kéo dài cho đến cuối năm Bên cạnh đó, tíndụng ngoại tệ giảm rất mạnh trong nửa đầu năm (chủ yếu do doanh nghiệpngại vay vì lo rủi ro tỷ giá, đến tháng 5 giảm tới 9,55% so với cuối năm 2008)lại tạo ra hiện tượng đối ngược là ứ đọng vốn ngoại tệ tại các ngân hàng Từđây, năm 2009 có tình huống ít thấy: tháng 6, 5 ngân hàng lớn “bắt tay” giảmlãi suất huy động USD, áp tối đa 1,5%/năm và áp lãi suất vay cao nhất chỉ3%/năm để kích cầu
Tình trạng doanh nghiệp găm giữ ngoại tệ kéo dài, việc mua ngoại tệ khókhăn Thủ tướng Chính phủ phải có ý kiến yêu cầu các tập đoàn, tổng công tynhà nước có nguồn thu ngoại tệ lớn bán lại cho ngân hàng để góp phần giảitỏa nguồn cung Cùng với những điều chỉnh ngày 26/11 nói trên, chỉ đạo củaThủ tướng đã góp phần tạo ổn định hơn cho thị trường ngoại hối và tỷ giátrong tháng 12 này
Một diễn biến nổi bật khác là trong phần lớn thời gian của năm, các ngânhàng thương mại duy trì trạng thái niêm yết giá mua ngoại tệ ngang với giábán Giá USD của ngân hàng cũng chính thức vượt mốc 18.000 VND; trên thịtrường tự do có thời điểm lên gần mốc 20.000 VND; tỷ giá bình quân liênngân hàng cả năm dự kiến tăng 5,7% Và đáng chú ý là dự trữ ngoại tệ từ 20,7
tỷ USD (tháng 6/2008) đã giảm mạnh còn khoảng 16,5 tỷ USD hiện nay
Lãi suất huy động dồn ép
Sau năm 2008 biến động và leo thang chưa từng có trong lịch sử, năm
2009, lãi suất huy động và cho vay VND cùng ổn định, theo sự ổn định của
Trang 34lãi suất cơ bản Tuy nhiên, căng thẳng của lãi suất huy động bắt đầu bộc lộ từgiữa năm.
Từ tháng 7 đến tháng 11, các ngân hàng thương mại liên tục tăng lãi suấthuy động VND, tập trung từ các kỳ hạn dài và dồn ép các kỳ hạn ngắn Mứclãi suất cao nhất lần lượt tạo các “đỉnh” 9%, 10% và đỉnh điểm lên đến10,5%/năm Khái niệm “đường cong lãi suất” bị xóa nhòa khi nhiều thànhviên áp thống nhất một mức cao cho hầu hết các kỳ hạn
Ngay sau quyết định tăng lãi suất cơ bản từ 7% lên 8% có hiệu lực từ1/12, các ngân hàng thương mại đồng loạt đẩy lãi suất huy động lên mức cao,một số thành viên có tới 10,5%/năm (chưa tính các hình thức khuyến mại,cộng thưởng gián tiếp) Với diễn biến này, Ngân hàng Nhà nước phát thôngđiệp kiểm tra toàn diện các trường hợp có lãi suất huy động từ 10,5%/năm trởlên, các thành viên đồng loạt áp tối đa ở mức 10,49%/năm
Diễn biến lãi suất căng thẳng trong nửa cuối năm 2009 một phần phảnánh khó khăn thanh khoản của hệ thống Điều này dẫn đến một hệ quả ít thấy
là tỷ lệ lãi biên của các ngân hàng giảm rất mạnh; nếu trong năm 2008 chênhlệch lãi suất động và cho vay đạt khoảng 3,7%, thì năm 2009 chỉ xoay quanh1% (đối với cho vay sản xuất kinh doanh)
Ngân hàng ngoại chính thức mở rộng ảnh hưởng
Theo cam kết gia nhập WTO, từ 1/4/2007, các ngân hàng nước ngoàiđược thành lập ngân hàng con 100% vốn trực thuộc tại Việt Nam Nhưng phảiđến năm 2009, điều này mới chính thức hiện thực, các ngân hàng ngoại bắtđầu mở rộng tầm ảnh hưởng thực sự
Tập trung cấp giấy phép từ cuối năm 2008, bước sang năm 2009, hệthống ngân hàng Việt Nam bắt đầu đón nhận những ngân hàng 100% vốnngoại đầu tiên Những thành viên mới này được hoạt động đẩy đủ hơn, cạnhtranh toàn diện hơn thay vì phụ thuộc vào các điều kiện kinh doanh hạn chếtrước đó
Trang 35Trong năm 2009, 5 ngân hàng đầu tiên của khối này đã nhận giấy phép,thành lập và mở rộng hoạt động, gồm HSBC, Standard Chartered, ANZ,Shinhan và Hong Leong; trong đó, HSBC và ANZ đã nhanh chóng khaitrương nhiều điểm giao dịch mới Lợi thế của khối này và áp lực cạnh tranh
đã được đề cập nhiều từ năm 2007 và nay đang dần hiện hữu
Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, khối các tổ chức tín dụng nướcngoài tại Việt Nam hiện có 45 chi nhánh của 33 ngân hàng nước ngoài, 5ngân hàng liên doanh với hơn 20 chi nhánh phụ thuộc, 5 ngân hàng 100% vốnnước ngoài, 8 tổ chức tín dụng phi ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài; ngoài
ra còn có 56 văn phòng đại diện của các tổ chức tín dụng khác
Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước, nhóm thành viên này hiện đanghoạt động hiệu quả Dự tính, năm 2009, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài
và ngân hàng 100% vốn nước ngoài đạt mức thu nhập trước thuế đạt 2.612 tỷđồng, nguồn vốn huy động và dư nợ tín dụng tăng 17,8% và 10,8%, tổng tàisản có tăng 14% so với cuối năm 2008; các ngân hàng liên doanh đạt thu nhậptrước thuế 477 tỷ đồng, huy động vốn tăng 18,2%, dư nợ tín dụng tăng 34,3%,tổng tài sản có tăng 18,3% so với cuối năm 2008
Năm 2010:Một năm với những thay đổi pháp lý quan trọng, nhiều biến động trên thị trường, nhiều khó khăn đối với cả ngân hàng lẫn doanh nghiệp.
Lãi suất đột ngột đảo chiều
Từ tháng 6, nhiều lần Chính phủ nhấn mạnh đến định hướng hạ lãi suấtVND Nỗ lực theo hướng này ghi nhận ở điểm đến 11%/năm của lãi suất huyđộng Tuy nhiên, lạm phát gia tăng, cuộc đua lãi suất đột ngột bùng phát vàocuối năm và đỉnh điểm là sự kiện Techcombank “3 ngày vàng” khuyến mại,thị trường nhiều xáo trộn
Đi cùng với diễn biến trên, lãi suất trong năm 2010 có sự song hành củacác cam kết đồng thuận và sự mong manh của nó “Phá trần”, “giao dịch