Tuy nhiên trong điều kiện nước ta hiện nay, khoa học kĩ thuật và trang thiết bị còn rất khó khăn và thiếu thốn nên việc nghiên cứu và sản xuất ra một số loạidược phẩm còn nhiều hạn chế,
Trang 1Lời mở dầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay việc trao đổi buôn bán, xuấtnhập khẩu hàng hóa trên thế giới diễn ra hết sức sôi động và mạnh mẽ Việt Namcũng là một quốc gia tham gia vào trong quá trình này Nhất là trong giai đoạnhiện nay Việt Nam vẫn đang là nước nhập siêu rất nhiều các loại hàng hóa trên thếgiới Một trong số đó là các sản phẩm thuốc mà Việt Nam chưa thể sản xuất được
và tự cung cấp đủ được nhu cầu trên thị trường trong nước
Dược phẩm là một trong những mặt hàng thiết yếu của người dân nên cũngnhư các thị trường khác, thị trường dược phẩm ở nước ta đang phát triển rất mạnh.Hơn nữa khi mở cửa thị trường nền kinh tế đất nước ngày càng phát triển dời sốngcủa nhân dân ngày được nâng cao, sức khỏe của nhân dân được quan tâm nhiềuhơn thì thị trường dược phẩm của nước ta trở thành một thị trường hết sức tiềmnăng Tuy nhiên trong điều kiện nước ta hiện nay, khoa học kĩ thuật và trang thiết
bị còn rất khó khăn và thiếu thốn nên việc nghiên cứu và sản xuất ra một số loạidược phẩm còn nhiều hạn chế, đặc biệt là các loại thuốc kháng sinh thế hệ mới.Công ty Cổ phần dược Trung ương Mediplantex là công ty mới được cổ phầnhóa nhưng là công ty đã kinh doanh trong ngành dược tương đối lâu với các mặthàng kinh doanh chủ yếu là thuốc tân dược, thuốc được bào chế từ thiên nhiên vàcác loại thuốc nhập khẩu từ nước ngoài Một trong những sản phẩm được công tytiến hành nhập khẩu và phân phối trên thị trường Việt Nam hiện nay là các sảnphẩm thuốc kháng sinh, một loại thuốc vẫn đang có nhu cầu rất lớn trên thị trườngnước ta Nhưng song song với sự phát triển cũng có rất nhiều vấn đề cần phải giảiquyết mà Công ty Cỏ phần dược Trung ương Mediplantex đang tham gia hoạtđộng kinh doanh, cạnh tranh diễn ra hết sức gay gắt đòi hỏi để phù hợp với cơ chếthị trường Do đó hiện nay Công ty Dược phẩm Trung Ương Mediplantex đangđứng trước những thử thách hết sức khó khăn
Trong quá trình thực tập tại công ty Dược phẩm Trung Ương Mediplantex emnhận thấy được sự phức tạp và tầm quan trọng của việc nâng cao sức cạnh tranhcủa các sản phẩm thuốc kháng sinh nhập khẩu của công ty Do đó để duy trì vàphát triển trong tương lai thì một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Công tyhiện nay là làm thế nào để ngày càng hoàn thiện và nâng cao sức cạnh tranh chocác sản phẩm thuốc kháng sinh nhập khẩu của mình Vì vậy em đã chọn đề tài : ”
Trang 2Nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm thuốc kháng sinh nhập khẩu của Công ty Cổphần dược Trung Ương Mediplantex”
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Mục đích chủ yếu của chuyên đề là nhằm phân tích, đánh giá thực trạng
hoạt động nhập khẩu thuốc kháng sinh của Công ty Cổ phần dược Trung Ương Mediplantex, từ đó tổng kết đánh giá những thuận lợi và những hạn chế cần khắc phục Đóng góp ý kiến cho giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm thuốc kháng sinh nhập khẩu được kinh doanh và phân phối tại Công ty Cổ phần dược Trung Ương Mediplantex
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là sức cạnh tranh nhóm hàng kháng sinhnhập khẩu tại Công ty Cổ phần dược Trung Ương Mediplantex trên thị trườngViệt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của chuyên đề tập trung vào: Lĩnh vực nhóm hàng khángsinh nhập khẩu tại Công ty Cổ phần dược Trung Ương Mediplantex Địa điểmtrên lãnh thổ Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích tổng hợp,thống kê, so sánh Phương pháp dự báo trên cơ sở vận dụng phép biện chứng vàduy vật để luận giải các vấn đề đang đặt ra
Trang 35 Kết cấu của chuyên đề
Ngoài các phần Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và
Danh mục bảng biểu có những nội dung sau:
Chương 1: Giới thiệu về công ty Cổ phần Dược phẩm Trung ươngMediplantex và sự cần thiết phải nâng cao sức cạnh sản phẩm thuốc kháng sinhnhập khẩu tại công ty
Chương 2 : Thực trạng sức cạnh sản phẩm thuốc kháng sinh nhập khẩu tạicông ty Cổ phần Dược phẩm Trung ương Mediplantex
Chương 3 : Giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm thuốckháng sinh nhập khẩu tại công ty Dược Trung ương Mediplantex
Trang 4CHƯƠNG 1 : Giới thiệu về công ty Cổ phần Dược phẩm Trung ương Mediplantex VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH
CỦA SẢN PHẨM THUỐC NHẬP KHẨU 1.1 Giới thiệu về công ty
1.1.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của công ty
Tên công ty: Công ty Cổ phần Dược Trung ương Mediplantex
Tên giao dịch: Mediplantex National Pharmaceutical Joint Stock CompanyTên viết tắt: Mediplantex., JSC
Địa chỉ trụ sở chính: 358 đường Giải Phóng - quận Thanh Xuân – Hà Nội.Điện thoại: 04 38643368 – 04.38647416
Fax: 04.38641584b
Website: www.mediplantex.com
Email: mp@mediplantex.com hoặc mediplantex@mediplantex.com
Người đại diện theo pháp luật của công ty: Bà Đoàn Thị Hồng Thúy
Doanh thu: 500 tỷ VNĐ/năm
Từ năm 1958 trở về trước: Tiền thân là Công ty thuốc Nam – thuốc Bắc thuộc
Bộ nội thương
Năm 1958 - 1961: Công ty thuốc Nam – thuốc Bắc TW thuộc Bộ Y tế
Năm 1961 - 1968: Quốc doanh Dược liệu cấp 1 - thuộc Bộ y tế
Năm 1968 - 1970: Cục Dược liệu - Bộ y tế
Trang 5Năm 1971-1984: Công ty có tên là Công ty Dược liệu cấp I, là đơn vị kinh tếtrực thuộc khối trung ương có nhiệm vụ hướng dẫn trồng trọt, thu mua, chế biếndược liệu, phân phối thuốc Nam – thuốc Bắc để cung cấp nguyên liệu, dược liệucho các công ty, xí nghiệp, bệnh viện… trên toàn quốc theo kế hoạch của Nhànước
Năm 1984-2005: Công ty có tên là Công ty Dược liệu TW I Công ty được Bộ
y tế xếp là doanh nghiệp loại 1 với nhiệm vụ: Sản xuất, kinh doanh xuất nhậpkhẩu nguyên phụ liệu, thành phẩm Đông Nam dược, thành phẩm Tân dược, dụng
cụ y tế, hương liệu
Công ty Cổ phần dược Trung ương Mediplantex là đơn vị thành viên củatổng công ty Dược Việt Nam, thành viên Hiệp Hội Sản Xuất Kinh Doanh DượcPhẩm Việt Nam
Từ khi thành lập đến nay, với gần 50 năm hoạt động kinh doanh, sản xuất,phục vụ các tầng lớp người tiêu dùng trong nước và quốc tế, công ty Dược TW đãđược khách hàng trong và ngoài nước tin cậy và dánh giá cao chất lượng sảnphẩm cũng như phong cách phục vụ
Năm 2001, Công ty Cổ phần dược Trung ương Mediplantex chính thức đượccục sở hữu cộng nghiệp quyết định cấp giấy chứng nhận số 38265 ngày10/9/2001, công nhận và bảo hộ đối với thương hiệu mang tên công ty cho tất cảcác hàng hoá và dịch vụ của công ty tại Việt Nam
Hiện nay công ty đã và đang đăng kí bảo hộ thương hiệu của công ty tại cácnước: Lào, Myanma, Cộng Hoà Liên Bang Nga
Công ty Cổ phần dược Trung ương Mediplantex là đơn vị có thành tích cao
về kinh doanh, sản xuất, xuất nhập khẩu trong những năm vừa qua Công ty là mộtđơn vị kinh doanh có uy tín lớn, mạng lưới phân phối rộng khắp từ các tỉnh miềnnúi biên giới phía bắc đến các vùng xa Tây Nguyên, với các chi nhánh đại diện vàcác đại lí phân phối đảm bảo khả năng phân phối nhanh chóng và hiệu quả các sảnphẩm thuốc chữa bệnh đến mọi nơi khi có nhu cầu, với giá cả hợp lí
Công ty Cổ phần dược Trung ương Mediplantex là đơn vị đi đầu trong nghiêncứu, sản xuất tinh dầu với sản lượng lớn phục vụ cho sản xuất trong nước và xuấtkhẩu
Trang 6Công ty Cổ phần dược Trung ương Mediplantex cũng là đơn vị đầu tiên vàchủ lực đi tiên phong trong nghiên cứu và sản xuất thuốc sốt rét từ cây Thanh HaoHoa Vàng thành các thuốc Artermisinin, Artesunat, Artemether trị bệnh sốt rét cóhiệu quả cao Những công trình nghiên cứu và sản xuất thuốc trị bệnh sốt rét docông ty thực hiện là một bộ phận quan trọng trong cụm công trình nghiên cứu chếtạo thuốc sốt rét ở tay nguyên và các tỉnh miền núi Cụm công trình này đã đượcnhận giải thưởng Hồ Chí Minh của Nhà Nước.
Công ty Cổ phần dược Trung ương Mediplantex trong những năm vừa qua
đã có nhiều nỗ lực cố gắng trong đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp cơ sở sảnxuất, mua sắm trang thiết bị mới hiện đại phục vụ sản xuất và nâng cao chất lượngsản phẩm, cơ sở sản xuất dược phẩm của công ty đã 2 lần Cục Quản Lí Dược ViệtNam cấp giấy chứng nhận chất lượng thực hành sản xuất thuốc GNP - ASEAN Công ty Cổ phần dược Trung ương Mediplantex chú trọng đầu tư đáng kểcho nghiên cứu chế tạo sản phẩm mới, nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mớimẫu mã, kiểu dáng công nghiệp, ngoài các sản phẩm mới tiên tiến và hiện đạicông ty cũng quan tâm phát triển các sản phẩm truyền thống kết hợp lí luận Y học
cổ truyền với công nghệ bào chế hiện đại, công tác nuôi trồng, chế biến DượcLiệu trong nước, thay thế dần hàng nhập khẩu, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh
tế, xoá đói giảm nghèo tại các vùng nông nghiệp và nông thôn tham gia phát triểnnguyên liệu và dược liệu cho công ty Công ty đã trực tiếp làm chủ nhiệm nhiều
dự án phát triển và đề tài nghiên cứu cấp Nhà Nước trong những năm qua
Công ty cũng là một trong những đơn vị có thành tích cao về giá trị xuất nhập khẩu, theo đó công ty có quan hệ xuất nhập khẩu với trên 20 Quốc Gia ở các Châu Lục, công ty nhiều lần được Bộ Y Tế, Bộ Thương Mại, Uỷ Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội tặng bằng khen về thành tích xuất khẩu từ năm 1998 đến nay
và 5 năm liên tục 1998-2002 là đơn vị dẫn đầu các doanh nghiệp trong ngành Y
Tế về kim ngạch xuất nhập khẩu Với những thành tích đã đạt được, Công ty CP dược TW Mediplantex đã được nhà nước và Chính phủ tặng thưởng:
- Huân chương lao động hạng Ba - năm 1980
- Huân chương lao động hạng Hai - năm 1985
- Huân chương lao động hạng Hai - năm 2001
- Bằng khen của Thủ tướng chính phủ - năm 2001
- Giải thưởng Hồ chí Minh - năm 2003
Trang 7- Chứng nhận thương hiệu uy tín - năm 2004
- Chứng nhận thương hiệu mạnh - năm2004
- Thương hiệu nổi tiếng - năm 2005
- Sao vàng đất Việt - năm 2005
- Cúp vàng phát triển bền vững - năm 2006
- Cúp vàng Uy tín thương mại quốc tế - năm 2007
và quản lý thương hiệu toàn cầu
Nhiều bằng khen của Bộ Y tế, Tổng công ty dược Việt Nam, UBNDTP Hà Nội vềthành tích sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu và nhiều huy chương và bằng khen về chất lượng sản phẩm tại các hội chợ trong nước và quốc tế
Hệ thống phân phối của Công ty đã bao trùm trên lãnh thổ không những trong nước mà cả một số nước bạn đáp ứng mọi nhu cầu của người tiêu dùng với ý thứctrách nhiệm cao và phương châm "Vì sức khoẻ và vẻ đẹp con người''
Với những cố gắng và những thành tựu đã đạt được, Mediplantex luôn là điểm đến của các khách hàng trong và ngoài nước
Bảo vệ môi trường là một bộ phận quan trọng gắn liền với phương án sảnxuất kinh doanh của công ty Cổ phần dược Trung ương Mediplantex, phương ánbảo vệ môi trường của công ty đã được Sở Khoa Học, Công Nghệ và Môi Trường
Hà Nội kiểm tra và công nhận Tất cả khí thải, bãi thải sản xuất của công ty đềuđược xử lí, làm sạch và kiểm tra trước khi thải vào môi trường tự nhiên
Công ty Cổ phần dược Trung ương Mediplantex có hệ thống kỉ thuật đảmbảo an toàn sản xuất đến từng tổ đội lao động, trang bị đầy đủ phương tiện phòngchống cháy nổ, bảo hộ lao động, đảm bảo an toàn cho người và các tài sản trongcác dây chuyền sản xuất kinh doanh
Công ty có hệ thống dịch vụ chăm sóc khách hàng trước, trong và sau khibán hàng có chất lượng tốt nhất, thể hiện “Văn hoá, văn minh thương nghiệp caonhất trong kinh doanh” Đội ngũ cán bộ công nhân viên của công ty có trình độkhoa học kỉ thuật nhiệt tình, có trách nhiệm cao, sẵn sang đáp ứng yêu cầu phục
vụ của mọi khách hàng
Năm 2005 cho đến nay: Ngày 25/04/2005 căn cứ vào quyết định số BYT ngày 7/12/2004 của bộ y tế, công ty chuyển đổi hình thức sở hữu từ DNNNthành công ty cổ phần và thay đổi tên gọi từ Công ty Dược liệu TW I thành Công
4410/QĐ-ty Cổ phần Dược Trung ương Mediplantex, với 28% vốn nhà nước Công 4410/QĐ-ty chính
Trang 8thức hoạt động sang mô hình công ty cổ phần từ tháng 4/2005, với chức năng kinhdoanh, sản xuất, xuất nhập khẩu các mặt hàng dược phẩm, dược liệu, nguyên liệuhoá dược, tinh dầu, mỹ phẩm, máy móc thiết bị, bao bì cao cấp ngành dược phẩm,
mỹ phẩm
Với tinh thần lao động sáng tạo không mệt mỏi và liên tục của các thế hệ lãnhđạo và cán bộ công nhân viên công ty, từ ngày thành lập đến nay, công ty luônđứng vững và phát triển với vai trò là một công ty đầu ngành trong lĩnh vực sảnxuất và phân phối dược phẩm, đóng góp tích cực cho sự nghiệp chăm sóc sứckhoẻ nhân dân và phát triển kinh tế xã hội của đất nước
1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và năng lực của công ty
Công ty Cổ phần dược Trung ương Mediplantex là một tổ chức kinh tế hoạtđộng độc lập, theo đó công ty hoạt động trong phạm vi luật doanh nghiệp, có tưcách pháp nhân, có tài khoản tại ngân hàng, có con dấu riêng theo quy định củaNhà Nước Phạm vi hoạt động kinh doanh là khắp địa bàn cả nước và được quyềnkinh doanh ở nước ngoài
1.1.2.1 Chức năng của công ty:
Công ty có chức năng kinh doanh sản xuất, xuất nhập khẩu các mặt hàngDược phẩm; Dược liệu; Nguyên liệu hoá dược; Tinh dầu; Mĩ phẩm; Máy móc vàthiết bị; Bao bì ngành dược phẩm và mĩ phẩm
Ngoài ra công ty còn trực tiếp thực hiện bào chế nuôi trồng các sản phẩm liênquan đến dược liệu từ đó phát huy lợi thế so sánh nguồn nguyên liệu dược liệuphong phú và quý báu, tăng sức cạnh tranh cho hàng hoá trong nước, thay thếhàng nhập khẩu bằng hàng hoá trong nước góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế,xoá đói giảm nghèo và tham gia vào việc phát triển vùng kinh tế nông thôn
Công ty trong những năm qua đã trực tiếp làm chủ nhiệm nhiều dự án pháttriển và công trình nghiên cứu cấp Nhà Nước như:
- Chủ nhiệm cấp Nhà Nước về hoàn thiện quy trình bán tổng hợp Artemethenlàm thuốc chữa trị sốt rét ác tính đã nghiệm thu 2001
- Chủ nhiệm đề tài cấp Nhà Nước về nghiên cứu đột biến gen di truyền để tạogiống cây Thanh Hao Hoa Vàng mới có hàm lượng Artemisimin cao và ổn định
để sản xuất thuốc sốt rét 2006-2009
Trang 9- Chủ nhiệm dự án cấp Bộ về hoàn thiện quy trình tinh chế bột thô vàng đắng
để có Berberin hàm lượng cao 98% xuất khẩu 2000-2002
- Chủ nhiệm đề tài cấp Nhà Nước nghiên cứu và đưa ra ứng dụng và sản xuấtthuốc cảm cúm Comazin, thuốc hỗ trợ ung thư và chống lão hoá Mediphylamin,tinh dầu Bạc Hà có hàm lượng Methal tăng hơn so với giống Việt Nam trước đây30% với nhiều đặc tính ưu việt v.v
Và còn chủ nhiệm và đưa ra nhiều công trình mang tính thực tiễn cao, gópphần vào công tác phòng và chữa bệnh cho dân trong và ngoài nước
1.1.2.2 Nhiệm vụ chủ yếu của công ty:
- Tuân thủ các chính sách của Nhà Nước
Xây dựng và tiến hành sản xuất dựa trên cơ sở kế hoạch kinh doanh mà công
ty đã đề ra và thích ứng với nhu cầu của thị trường về mặt hàng tân dược cũng nhưmặt hàng đông dược
Thực hiện công tác bảo hộ và an toàn lao động, trật tự xã hội và bảo vệ môitrường Thực hiện đầy đủ các quyền lợi của cán bộ công nhân viên theo luật laođộng và tham gia các hoạt động có ích cho xã hội
Ngày càng đa dạng hoá các hình thức kinh doanh nhằm nắm bắt kịp nhữngthay đổi của thị trường Hoàn thiện hệ thống dịch vụ chăm sóc khách hàng trước,trong và sau khi bán hàng Thể hiện văn hoá văn minh thương hiệu cao nhất trongkinh doanh
Nâng cao trình độ của cán bộ công nhân viên, tạo điều kiện cho việc sản xuấtkinh doanh tốt nhất
1.1.2.3 Năng lực kinh doanh
- Kinh doanh nhập khẩu:
Trong những năm qua, mặc dù có sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp với nhau, nhưng toàn thể cán bộ công nhân viên của Công ty CP Dược Trung ương Mediplantex đã có rất nhiều cố gắng trong việc duy trì bạn hàng cũ và tìm kiếm bạn hàng mới Hiện nay, công ty đã thiết lập được mối quan hệ với các Công
ty ở trên 20 nước từ châu Âu tới châu Á như: Pháp, Anh, Áo, Đức, Tiệp, Trung Quốc, Ấn độ Kim nghạch nhập khẩu của công ty trong các năm gần đây đạt khoảng 16.000 000 USD mỗi năm trên 6 thị trường trọng điểm: Pháp, Úc, Đức,
Ấn độ, Nhật, Hàn Quốc Sản phẩm thuốc nhập khẩu có số Visa của Cục quản lý
Trang 10dược với số lượng trên 200 loại thuốc khác nhau với các nhóm đặc thù như: nhóm thuốc kháng sinh, hạ sốt, đường ruột, tim mạch, thần kinh, bổ dưỡng.
- Kinh doanh trong nước:
Công ty CP Dược TW Mediplantex đã tham gia cung cấp thuốc cho nhiều chươngtrình thuốc của nhà nước và của Bộ Y tế cũng như cung cấp thuốc cho các bệnh viện lớn như Bạch Mai, Việt Đức, Viện 108, Viện 103 , Hữu nghị, Viện 198, ViệnNhi Thuỵ Điển, Viện Da liễu và hầu hết các tỉnh, thành trên cả nước Chính từ
sự nỗ lực của Ban lãnh đạo công ty cùng sự đoàn kết của tập thể cán bộ công nhânviên – cùng với sự ủng hộ của đông đảo bạn hàng mà tổng doanh số hàng năm đạt trên 500 tỉ đồng Việt Nam, thu nộp thuế vào ngân sách nhà nước mỗi năm khoảng
15 tỉ đồng Việt Nam Và chúng tôi nghĩ rằng doanh số không phải là điều mà chúng tôi mong mỏi, điều mà chúng tôi hướng tới là mọi người có nhu cầu thuốc đều được sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả
Công ty có các chi nhánh khu vực : Chi nhánh TPHCM phục vụ thành phố HCM
và các tỉnh đồng bằng nam bộ, Chi nhánh Đắc Lắc phục vụ các tỉnh miền trung, Tây nguyên và Đông nam bộ, Ngoài ra còn có các Chi nhánh Bắc Giang, Chi nhánh Thái Bình, Chi nhánh tại nước Lào
- Kinh doanh xuất khẩu:
Công ty CP Dược TW- Mediplantex không chỉ sản xuất , kinh doanh phục vụ thị trường trong nước mà còn xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới như : Nga, Lào,Campuchia, các nước Châu Âu, Myanma , Nhật Bản, Ấn Độ
+ Các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là nguyên liệu, thành phẩm thuốc chữa sốt rét được chiết xuất từ Thanh Hao Hoa Vàng, các loại thành phần tân dược, đông dược, tinh dầu
2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy
Sơ đố 2.1 : Sơ đồ tổ chức
Trang 11Lực lượng lao động trong công ty cổ phần Dược Trung ương Mediplantex làmviệc với đúng chuyên môn (98%) và phù hợp với năng lực của từng các nhântrong phòng ban họ làm việc Với lực lượng lao động có trình độ đại học và trênđại học chiếm tỷ trọng lớn cùng với tay nghề cao của công nhân viên là nguồn lựcrất lớn giúp công ty thực hiện kế hoạch của mình.
Đối với phòng thực hiện chức năng marketing của công ty và phòng thị trường
có 80 người, chiếm 15.9% trong tổng số cán bộ công nhân viên chức của công ty
Số nhân lực này được phân bổ ở nhiều khu vực thị trường của công ty Làm việctại khu hành chính của công ty có 9 người, trong đó có một trưởng phòng, 3 phó
Trang 12phòng, 1 tổ nghiên cứu và phát triển thị trường gốm 5 người Ngoài ra làm việc tạithị trường Hà Nội có thêm 28 người ỏ đội bán hàng
Bảng 2.1 : Phân bổ nhân lực tại các bộ phận trong công ty cổ phần Dược
Trung ương Mediplantex
Trang 131.1.3.1 Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận trong công ty
- Đại Hội Cổ Đông: Đại hội cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết,
là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần
Đại hội cổ đông có các quyền và nghĩa vụ sau:
+ Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từngloại; Quyết định mức cổ tức hàng năm của từng loại cổ phần
+ Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểmsoát gây thiệt hại cho công ty và cổ đông của công ty
+ Quyết định tổ chức lại và giải thể công ty
+ Quyết định sửa đổi, bổ sung điều lệ của công ty, trừ trường hợp điều chỉnhvốn điều lệ do bán thêm cổ phần mới trong phạm vi số lượng cổ phần được phépchào bán tại điều lệ của công ty
+ Thông qua báo cáo tài chính hàng năm
+ Thông qua định hướng phát triển của công ty, quyết định bán số tài sản cógiá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong sổ kế toán củacông ty
- Hội Đồng Quản Trị: là cơ quan quản lí công ty, có toàn quyền nhân danh
công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công tytrừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội cổ đông
Hội đồng quản trị có các quyền và nghĩa vụ sau:
+ Quyết định chiến lược phát triển công ty
+ Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từngloại
+ Quyết định chào bán cổ phần mới trong phạm vi số cổ phần được quyền chàobán của từng loại; Quyết định huy động thêm vốn theo hình thức khác
+ Quyết định phương án đầu tư
+ Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ, thông quahợp đồng mua bán và cho vay, vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn50% tổng giá trị tài sản được ghi trong sổ kế toán của công ty hoặc tỉ lệ khác nhỏhơn được quy định tại điều lệ của công ty
Trang 14+ Bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm, cách chức Giám đốc( Tổng giám đốc) và cán bộquản lí quan trọng khác của công ty; Quyết định mức lương và lợi ích khác củacán bộ quản lí đó.
+ Quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế quản lí nội bộ của công ty, quyết địnhthành lập công ty con, lập chi nhánh, văn phòng đại diện và việc góp vốn, mua cổphần của doanh nghiệp khác
+ Trình bày báo cáo quyết toán tài chính hàng năm lên Đại hội đồng cổ đông + Kiến nghị mức cổ tức được trả, quyết định thời hạn và thủ tục trả cổ tứchoặc xử lí các khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh
+ Quyết định giá chào bán cổ phần và trái phiếu của công ty; Định giá tài sảngóp vốn không phải là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi vàng
+ Duyệt chương trình, nội dung tài liệu phục vụ cho cuộc họp của Đại hộiđồng cổ đông, triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông hoặc thực hiện các thủ tục hỏi ýkiến để Đại hội đồng cổ đông thông qua quyết định
+ Quyết định mua lại không quá 10% cổ phần đã bán của từng loại
+ Kiến nghị việc tổ chức lại hoặc giải thể công ty
- Ban Kiểm Soát: Ban kiểm soát chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông
về những sai phạm gây thiệt hại cho công ty trong khi thực hiện nhiệm vụ
Ban kiểm soát có các quyền và nghĩa vụ sau:
+ Kiểm tra tính hợp lí, hợp pháp trong quản lí, điều hành hoạt động kinhdoanh, trong ghi chép sổ kế toán và báo cáo tài chính
+ Thẩm định báo cáo tài chinh hàng năm của công ty, kiểm tra từng vấn đề cụthể liên quan đến quản lí, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiếthoặc theo quyết định của đại hội đồng cổ đông, theo yêu cầu của cổ đông, nhóm
cổ đông
+ Thường xuyên thông báo với Hội đồng quản trị về kết quả hoạt động; Thamkhảo ý kiến của Hội đồng quản trị trước khi trình các báo cáo, kết luận và kiếnnghị lên đại hội đồng cổ đông
+ Báo cáo Đại hội đồng cổ đông về tính xác thực, chính xác, trung thực hợppháp của việc ghi chép, lưu giữ chứng từ và lập sổ kế toán, báo cáo tài chính, vàcác báo cáo khác của công ty; tính trung thực hợp pháp trong quản lí, điều hànhhoạt động kinh doanh của công ty
Trang 15+ Kiến nghị biện pháp bổ sung, sửa đổi, cải tiến cơ cấu tổ chức, quản lí, điềuhành hoạt động kinh doanh của công ty
Lưu ý: Việc kiểm tra không được gây cản trở hoạt động bình thường của Hội
đồng quản trị, không gây gián đoạn trong điều hành hoạt động kinh doanh hàngngày của công ty
Ban giám đốc của công ty: bao gồm tổng giám đốc; phó tổng giám đốc; giámđốc của các nhà máy sản xuất xí nghiệp chịu trách nhiệm cho mọi hoạt động quản
lí hàng ngày của công ty Cụ thể:
- Tổng Giám Đốc (trực thuộc ban giám đốc): là người điều hành hoạt động
hàng ngày của công ty và chiu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việc thựchiện các quyền và nghĩa vụ được giao
Tổng giám đốc có các quyền và nhiệm vụ sau:
+ Quyết định về tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất, kinhdoanh hàng ngày của công ty
+ Tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị
+ Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty + Kiến nghị phương án bố trí cơ cấu tổ chức, quy chế quản lí nội bộ, hoạtđộng đối ngoại của công ty
+ Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lí trong công ty, trừcác chức danh do Hội đồng quản trị bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm, cách chức + Quyết định lương và phụ cấp nếu có đối với người lao động trong công ty,
kể cả cán bộ quản lí thuộc thẩm quyền bổ nhiệm của tổng Giám đốc
+ Quản lí các phòng: Nhà Máy Dược Phẩm Số 2 Mê Linh Vĩnh Phúc, NhàMáy Dược Phẩm Số 1 358 Giải Phóng Hà Nội, Xưởng Hóa Dược Mĩ Đình - HàNội, phòng Tổ Chức Hành Chính, phòng Kế Toán Tài Vụ, phòng Xuất Khẩu,phòng Nghiên Cứu Phát Triển, phòng Đảm Bảo Chất Lượng
- Phó Tổng Giám Đốc ( trực thuộc ban giám đốc): Là người thừa hành, thay
mặt cho Tổng giám đốc công ty thực hiện một số việc nhất định khi không có mặtTổng giám đốc Phó tổng giám đốc có các chức năng và quyền hạn sau:
+ Thực hiện kí kết hợp đồng trong điều kiện cho phép của quyền hạn, ở công
ty Dược Phó tổng giám đốc thực hiện kí kết các hợp đồng liên quan đến bộ phậnmình phụ trách hay các mảng quản lí của mình
Trang 16+ Có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức vụ nhân viên trong bộ phậnmình phụ trách cũng như tổ chức lại hệ thống các phòng mà mình quản lí.
+ Không có quyền thay đổi các chức vụ trưởng và các phó phòng có liênquan
+ Quản lí các phòng: Marketing, phòng Kế Hoạch Kinh Doanh Nhập Khẩu
và Sản Xuất, phòng Kinh Doanh Dược Liệu, Hệ Thống Chi Nhánh, phòng VậnChuyển Và Kho Vận
+ Thực hiện thay mặt Tổng giám đốc giám sát các hoạt động sản xuất kinhdoanh của các phòng ban trong công ty
1.1.3.2 Vai trò của các phòng ban trong công ty :
- Phòng Tổ Chức- Hành Chính: là đơn vị hành chính tổng hợp của công ty, có
chức năng đảm nhiệm các công tác quản lí sản xuất kinh doanh và quản lí các hoạtđộng hành chính xã hội Đây là bộ phận có chức năng tham mưu giúp việc choBan giám đốc về vấn đề ngoại giao, công tác cán bộ, vấn đề tiền lương của cán bộcông nhân viên, hành chính chính trị, y tế, giáo dục, bảo vệ và kiểm tra cũng nhưthực thi các hoạt động chính sách cũng như các văn bản pháp luật hiện hành
- Phòng Kế Toán- Tài Vụ: Là phòng có chức năng tham mưu giúp việc cho
Ban giám đốc quản lí các vấn đề liên quan đến tài chính, kế toán của công ty, vớinhiệm vụ sử dụng vốn một cách có hiệu quả, hợp lí, đúng chế độ, chính sách, phục
vụ cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả
- Phòng Nghiên Cứu và Phát Triển: Là phòng tham mưu cho Ban giám đốc,
thực hiện các chức năng bao gồm: Công tác xây dựng kế hoạch hoàn thiện cải tiếncác sản phẩm để nâng cao tính cạnh tranh, định hướng nghiên cứu, phát triển cácsản phẩm mới theo nhu cầu của thị trường
- Phòng Đảm Bảo Chất Lượng: Là phòng có chức năng kiểm tra chất lượng
cũng như số lượng của các lô hàng sản xuất ra Khi phát hiện các lỗi của các sảnphẩm phòng còn có chức năng thông báo cho bộ phận tổ chức yêu cầu ngừngngay việc tiêu thụ cũng như thu hồi mặt hàng bị lỗi cũng như có quyền yêu cầu bộphận kiểm tra ngừng ngay việc sản xuất lô hàng đó Ngoài ra phòng còn đảm nhậnchức năng kiêm kỉ thuật máy móc trong công ty
Trang 17- Nhà máy sản xuất thuốc số 1- 358 Giải Phóng - Hà nội: Có chức sản xuất
các mặt hàng thuốc như: Artesunat; Artemisimin; Mediphylamin; Conmazin;Atexsick;…
- Xưởng Hoá Dược Mĩ Đình- Hà Nội: Có chức năng sản xuất thuốc: Conmafil;
kem bôi da Metid; thuốc ho Bổ Phế; Becberinclorid;…
- Nhà máy Dược Phẩm Số 2 Mê Linh Vĩnh Phúc: có chức năng sơ chế và trực
tiếp sản xuất thuốc như: Bào chế tinh dầu Bạc Hà; Sản xuất thuốc kẽm Pokysan;
Sơ chế Thanh Tao Hoa Vàng phục vụ cho việc sản xuất thuốc chống sốt rét; Sảnxuất thuốc chữa bệnh ung thư Mediphylamin,…
- Phòng Marketting: thực hiện các hoạt động Marketting, đây là phòng có chức
năng đặc biệt bởi nó đảm nhiệm nhiều công việc vì thế phòng này còn được chialàm nhiều bộ phận khác nhau như: Tổ Marketting, Tổ Nghiên Cứu Thị Trường,
Tổ Bán Hàng, Các Cửa Hàng Trong đó: Tổ Marketting có chức năng thực hiệncác hoạt động marketing, quảng bá thuốc ở thị trường trong nước; Tổ Nghiên CứuThị Trường có chức năng nghiên cứu nhu cầu của thị trường đồng thời phát hiện
và liên hệ để mở rộng thị trường mới ngoài các thị trường truyền thống; tổ BánHàng Và Cửa Hàng thực hiện chức năng đảm nhiệm bán sản phẩm thuốc ra thịtrường và liên hệ với các bộ phận khác để thực hiện tốt phần việc của từng tổ
- Phòng Kế Hoạch sản xuất và xuất nhập khẩu: Đây làm phòng có vai trò đảm
nhiệm tham mưu cho Ban giám đốc cũng như trưởng các chi nhánh kinh doanhcủa công ty trong việc kinh doanh ở thị trường trong nước các mặt hàng nhậpkhẩu cũng như thực hiện liên hệ giữa bộ phận nghiên cứu thị trường với bộ phậnsản xuất trong việc sản xuất thuốc cung ứng đúng và đủ ra thị trường trong nước
từ đó xây dựng kế hoạch nhập khẩu thuốc cũng như sản xuất thuốc Bên cạnh đótham mưu, tư vấn cho Ban giám đốc các vấn đề liên quan đến việc xuất khẩuthuốc sang các thị trường như Lào, Mianma, Liên Bang Nga… Đồng thời nghiêncứu tìm kiếm các thị trường mới và là nơi giải quyết các vấn đề liên quan đến việckhiếu nại cho các thị trường xuất khẩu
- Phòng Kinh Doanh Dược Liệu: Tư vấn và tham mưu cho Ban giám đốc trong
vấn đề quản lí nguồn dược liệu và đồng thời đảm nhận việc kinh doanh dược liệuvới các công ty thuốc cũng như người tiêu dùng cần mua dược liệu về mà mới chỉqua sơ chế chưa qua sản xuất
Trang 18- Hệ Thống Chi Nhánh: Đây là bộ phận không thể thiếu của một công ty sản
xuất và kinh doanh nói chung và công ty dược phẩm trung ương MEDIPLANTEXnói riêng Hệ thống này liên quan đến kênh phân phối của công ty, trong mỗi hệthống có tổ chức khác nhau đảm nhận nhiệm vụ kinh doanh ở thị trường nhất địnhtheo yêu cầu của công ty Bao gồm các hê thống ở các tỉnh: Hải Phòng; Hà Tĩnh;
Hà Nội; BẮc Giang; Thanh Hoá; Vĩnh Phúc, Thái Bình; Thành Phố Hồ Chí Minh;Đắc Lắc
- Phòng Vận Chuyển Và Kho Vận: Là bộ phận chịu trách nhiệm trước Ban
giám đốc trong việc trong việc bảo quản hàng hoá, thuốc men Cũng như chiutrách nhiệm trong việc vận chuyển hàng hoá từ công ty và các cơ sở sản xuất củacông ty tới hệ thống chi nhánh cũng như các dược liệu chưa qua sơ chế về các cơ
Bảng 2.3 : Tổng kết kinh doanh của công ty 2006– 2010
Trang 19T
1 Sản xuất công nghiệp
Giá trị xuất xưởng
Giá trị thương phẩm
Nghìn đồng Nghìn đồng
59.172,888 70.209,100 84.369,625 100.734,000
162.103,0
130.000.000 186.692.057.
463.866,646 35.157,408 428.709,238
536.207,000 11.351,424 524.855,576
418.325,000 26.340,000 391.985,000
499.458,000 39.931,288 463.526,712
442.474.330 44.790.528 397.683.802
Nguồn : Phòng kế toán tài chính
Theo bảng trên ta thấy rõ :
Năm 2008 công ty làm ăn chưa hiệu quả Do những nguyên nhân khác nhau
như điều kiện cơ sở vật chất, trình độ tổ chức quản lí cũng như tình hình khủng
hoảng nền kinh tế toàn cầu Điều này có ảnh hưởng rất nhiều đến tình hình kinh
doanh cũng như doanh thu và lợi nhuận của công ty Các chỉ số đều rất thấp và lợi
huận cuối cùng của năm không cao lắm Đây là tình trạng chung của các doanh
nghiệp ttrong nước cũng như trên thế giới đang trong thời kì khủng hoảng và suy
thoái kinh tế toàn cầu Nhưng từ năm 2009 trở về sau này khi công ty đã có
những thay đổi vế chiến lược và chính sách kinh doanh cũng như tình hình kinh tế
trên thế giới đã có nhiều khởi sắc hơn sau thời kì khủng hoảng kéo dài thì tỉ lệ lợi
nhuận so với doanh thu của công ty đều tăng Còn tỉ lệ vốn lưu động trên tổng tài
sản thay đổi thể hiện chính sách của công ty trong việc định hướng chiến lược
kinh doanh hàng năm
Năm 2010 vừa qua được xem là một năm thành công của công ty khi các chỉ
số đều tăng vượt bậc Đó chính là nhờ sự nỗ lực cố gắng của các thành viên trong
công ty trong việc đưa công ty phát triển đi lên
Trang 202.2 Khái quát về thị trường thuốc kháng sinh tại Việt Nam
2.2.1 Tổng quan thị trường thuốc Việt Nam
Thị trường thuốc ở Việt Nam là thị trường có tiềm năng tăng trưởng mạnh, vìdân số Việt Nam gần 90 triệu người Mỗi người Việt Nam tiêu thụ thuốc 10 - 12%mỗi năm và có thể tăng thêm nữa, đạt 15.5% vào năm 2010 Điều này có nghĩa làthị trường thuốc ước lượng sẽ trị giá 2.25 - 2.4 tỉ năm 2015 và 3.5 tỉ năm 2020
Thuốc là một trong những mặt hàng thiết yếu của người dân nên ngành dượcphụ thuộc nhiều vào diễn biến sức khỏe của người dân Ngành dược luôn là ngành
có tốc độ tăng trưởng và ổn định, tốc độ tăng trưởng khoảng 20% mỗi năm Đâychính là yếu tố hấp dẫn thu hút nhiều nhà đầu tư nước rót vốn vào thị trường nàycủa Việt Nam Hiện nay đã có 40 dự án đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực dượcphẩm với tổng số vốn đăng kí trên 300 triệu đô la Mỹ, trong đó có hơn 20 dự ánđầu tư sản xuất thuốc Tuy nhiên con số này vẫn còn nhỏ so với tiềm năng của thịtrường và nhu cầu chữa bệnh của gần 90 triệu dân ở Việt Nam
Biểu đồ 2.1: Trị giá sản xuất thuốc trong nước và tổng trị giá tiền
Trị giá thuốc nhập khẩu
Tổng trị giá tiền thuốc sử dụng
Nguồn : Cục thống kêTrị giá thuốc sản xuất trong nước, trị giá nhập khẩu và tổng trị giá tiền thuốc
sử dụng (đơn vị triệu USD)
Trang 21Chi tiêu tiền thuốc bình quân theo dầu người qua các năm đều tăng do đờisống của nhân dân ngày càng phát triển, nhất là trong các năm gần đây Năm
2009, chi tiêu tiền thuốc bình quân theo đầu người là 19,8 USD/người/năm tăng20% so với năm 2008 Năm 2010, chi tiêu tiền thuốc bình quân đầu người tăng lênmức 22,5 USD/người/năm Tuy nhiên, mức chi tiêu này vẫn còn thấp hơn rấtnhiều so với mức chi trung bình của thế giới là 40 USD/người/năm
Biểu đồ 2.2 : Chỉ tiêu tiền thuốc theo bình quân đầu người
Chỉ tiêu tiền thuốc theo bình quân đầu người
0510152025
Trang 22trị thấp như thuốc giảm đau – hạ sốt, kháng sinh, vitamin và thuốc bổ Trong khithuốc nước ngoài là các loại thuốc chuyên khoa đặc trị có giá trị cao như ung thư,tim mạch…
Tình hình nhập khẩu thuốc trong nước :
Hiện nay kim ngạch nhập khẩu thuốc tại nước ta vẫn đạt giá trị cao, kim ngạcnhập khẩu thuốc qua các năm vẫn tăng liên tục Đặc biệt năm 2010, kim ngạchnhập khẩu thuốc tăng mạnh và đạt 1,24 tỷ USD, tăng 13% so với năm trước, dogiá trị thuốc sản xuất trong nước từ năm 2009 đã chậm lại vì số doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài và chi nhành doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam đượcnhập khẩu thuốc trực tiếp gia tăng về số lượng Vì vậy, thị trường thuốc Việt Namvẫn phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu mới đảm bảo nhu cầu thuốc cho người dân
Biểu đồ 2.3 : Trị giá nhập khẩu thuốc qua các năm
0 200 400 600 800 1000 1200 1400
Những nguyên nhân khiến tốc độ nhập khẩu thuốc trong năm tăng nhanh là donhu cầu sử dụng thuốc trong nước cao hơn nhiều so với khả năng đáp ứng củathuốc nội Đặc biệt nhập nhiều loại thuốc mới và đặc trị để chữa nhiều loại bệnhnan y và khả năng trong nước chư sản xuất được
Kháng sinh vẫn là nhóm hàng thuốc dẫn đầu về kim ngạch và đạt 272 triệuUSD, chỉ tăng 3,2 % so với năm trước Hiện thị phần nhập khẩu của nhóm thuốcnày chiếm khoảng 21% trong tổng kim ngạch nhập khẩu thuốc Đây cũng là nhóm
Trang 23có nhiều mặt hàng mới được nhập trong năm 2010, nguồn cung chủ yếu là từ Ấn
Độ Giá nhập khẩu thuốc kháng sinh rất biến động do số lượng mặt hàng phongphú, lượng nhập lớn Đây cũng là nhóm hàng nhạy cảm, dễ bị chi phối do giánguyên liệu, phụ liệu, nhiên liệu… tác động
Đứng ở vị trí thứ hai là nhóm thuốc chuyển hóa dinh dưỡng với kim ngạch đạt
154 triệu USD trong năm 2010, tăng khá mạnh 19% so với năm trước và chiếm10,37% trong tổng kim ngạch nhập khẩu Đơn giá nhập khẩu nhóm thuốc này ổnđịnh hơn so với các nhóm hàng khác
Kim ngạch nhập khẩu nhóm thuốc chống viêm – giảm đau – hạ nhiệt vượt quanhóm thuốc tim mạch và đạt 101 triệu USD, tăng rất mạnh Nguyên nhân của sựtăng này là do mặc dù được đầu tư và phát triển chỉ sau nhóm kháng sinh (trongtổng số 10000 số đăng ký thuốc nhưng chỉ dừng lại ở 500 hoạt chất và tập trungchủ yếu vào thuốc kháng sinh, chống viêm – giảm đau – hạ nhiệt nhưng hiện naytrong tổng số 300 tên thuốc chống viêm – giảm đau – hạ nhiệt khác nhau thì cácdoanh nghiệp mới chỉ đầu tư sản xuất các loại thuốc có dạng bào chế thôngthường, trong khi các loại đặc trị gần như chưa có sổ đăng kí mà vẫn phải nhậpkhẩu
Nhiều mặt hàng có giá giảm, thị trường nhập khẩu thuốc mặc dù không biếnđộng mạnh như thị trường bán buôn bán lẻ Tuy nhiên, do những biến động của tỷgiá ngoại tệ tác động nên những năm gần đây giá nhập khẩu một số mặt hàngcũng có thay đổi Đáng chú ý năm 2010 thuốc có giá nhập khẩu giảm chiếm sốlượng nhiều hơn so với thuốc có giá nhập tăng, với tỷ lệ giảm giá ở mức trungbình là 9,56%/sản phẩm
Trong khi năm 2009, số thuốc có giá giảm này chiếm số lượng ít hơn (chiếm42%) tuy nhiên tỷ lệ giảm giá trung bình cao hơn 10,3%/ sản phẩm
Thị trường cung cấp thuốc đang có sự chuyển đổi Thuốc nhập ngoại gần nhưchiếm lĩnh toàn bộ thị trường thuốc tân dược của nước ta Một phần là do năng lựcsản xuất thuốc nội còn yếu thiếu cơ sở vật chất, vốn đầu tư hạn hẹp… Bên cạnh
đó yếu tố tâm lý của người tiêu dùng vẫn hướng tới thuốc ngoại nhiều Số thịtrường cung cấp thuốc là 64 thị trường, trong đó, kim ngạch nhập khẩu thuốc từcác thị trường truyền thống như Pháp, Ấn Độ, Hàn Quốc… vẫn chiếm ưu thế.Hiện nay các doanh nghiệp linh hoạt hơn trong việc nhập khẩu thuốc Nhiều loại
Trang 24thuốc có sự chuyển đổi thị trường cung cấp, cùng với đó là tăng cường nhập khẩuthêm nhiều mặt hàng thuốc mới.
Trong năm 2010, Pháp tiếp tục là thị trường dẫn đầu với kim ngạch cung cấpthuốc đạt 197 triệu USD, tăng 2,54% so với năm trước Tốc độ nhập khẩu thuốc từPháp chậm lại chủ yếu là do chịu ảnh hưởng của tỷ giá đồng Euro giảm so vớiđồng USD Nhập khẩu thuốc từ Ấn độ đạt 167 triệu USD, tăng 12,8% so cới nămtrước Hiện kim ngạch nhập khẩu từ thị trường này chiếm 13,5% tổng kim ngạchnhập khẩu thuốc của cả nước Dự báo trong tương lai gần, Ấn Độ sẽ thay thế thịtrường Pháp để trở thành thị trường cung cấp thuốc số một vào Việt Nam Cácdoanh nghiệp trong nước cũng đang đẩy mạnh nhập khẩu từ thị trường này bằngviệc liên tục nhập thêm các mặt hàng thuốc mới mới Nhập khẩu từ Hàn Quốc ổnđịnh với vai trò là nhà cung cấp thuốc lớn thứ ba vào nước ta Tính chung cả nướcnăm 2010, kim ngạch nhập khẩu thuốc từ thị trường này đạt 143 triệu USD, tăngrất mạnh 32,5% so với năm trước Bên cạnh những mặt hàng truyền thống vẫnđược các doanh nghiệp quan tâm nhập khẩu nhiều thì thị trường này cũng đang
mở rộng cung cấp thêm các loại thuốc mới và kim ngạch nhập khẩu ngày càngtăng Những thị trường cung cấp thuốc có kim ngạch đạt cao trong năm qua nổibật là nhóm thị trường thuộc khu vực EU như Đức, Bỉ, Italia… kim ngạch nhậpkhẩu từ các thị trường này đều tăng cao so với năm trước Tuy nhiên trong năm
2010 đây cũng là khu vực tập trung nhiều thị trường có kim ngạch cung cấp thuốcvào Việt Nam giảm như Anh, Ba lan, Hungary, Đan Mạch
2.2.2 Thị trường thuốc kháng sinh tại Việt Nam
2.2.2.1 Công dụng và vai trò của thuốc kháng sinh
Kháng sinh là những chất do vi sinh vật tiết ra hoặc những chất hóa học bántổng hợp, tổng hợp, với nồng độ rất thấp, có khả năng đặc hiệu kìm hãm sự pháttriển hoặc diệt được vi khuẩn" Thuốc kháng sinh là một nhóm hóa chất dùng để
ức chế hoặc tiêu diệt vi sinh vật như vi trùng, nấm và ký sinh trùng Ban đầu,thuốc kháng sinh được sản xuất từ sinh vật: Penicilline từ nấm mốc vàStreptomycine từ vi trùng
Thuốc kháng sinh được phân loại dựa theo tác dụng của thuốc (ví dụ:Penicillin tấn công lớp vỏ của vi trùng Azithromycine làm ngưng trệ việc sảnxuất protein bên trong vi trùng) Một số kháng sinh có phổ hẹp trong khi một sốkháng sinh khác có phổ rộng hơn
Trang 25Trước đây, kháng sinh được sản xuất từ các vi sinh vật như vi nấm Ngày nay,
nó được bào chế theo phương pháp tổng hợp Kháng sinh có tác dụng ức chế sựphát triển hoặc tiêu diệt các vi khuẩn gây bệnh Việc dùng kháng sinh không đúngbệnh sẽ gây nhờn thuốc
Kháng sinh chống lại vi khuẩn bằng cách làm hư hại thành phần cấu tạo củachúng như lớp vỏ bảo vệ, màng trao đổi chất Tuy nhiên, trong phương diện điềutrị, người ta quan tâm đến 2 loại tác dụng: diệt khuẩn và kìm khuẩn (chỉ làm cho
vi khuẩn ngưng phát triển, không sinh sản) Loại kìm khuẩn được dùng khi hệthống miễn dịch còn đủ mạnh để tiêu diệt vi khuẩn đã bị thuốc làm cho yếu đi.Nếu người bệnh quá yếu thì bắt buộc phải dùng loại diệt khuẩn
Thuốc kháng sinh được sử dụng điều trị nhiều loại bệnh khác nhau Điều đángquan tâm là hiện nay người dân có một thói quen nguy hiểm, bị bệnh thì tự đimua thuốc uống và loại thuốc thường không thể thiếu là kháng sinh.Khi dùngthuốc nói chung và thuốc Tây để cải thiện sức khoẻ, chữa bệnh…đó là mục đíchcuối cùng Tuy nhiên bất cứ loại thuốc nào đều có tác dụng phụ Trong Y khoangười ta sẽ cân nhắc giữa hai yếu tố này để quyết định cho thuốc, điều trị Vì vậy,kháng sinh có thể gây ra một số tác dụng phụ như: Dị ứng, nhẹ là nổi mề đay, ban
đỏ, ngứa; nặng có thể dẫn đến sốc phản vệ, gây tử vong Nhiễm độc các cơ quan,như gây độc đối với gan, thận (tetracyclin, sulfamid), các tế bào máu(cloramphenicol), thần kinh thính giác (streptomycin, gentamycin), xương răng(tetracyclin làm hại răng trẻ em)
Việc sử dụng kháng sinh không đúng (dùng không đủ liều hay thời gian) sẽdẫn đến tình trạng đề kháng kháng sinh, không tiêu diệt được hoàn toàn vi khuẩn.Một số còn sống sót sẽ đề kháng lại kháng sinh đã sử dụng Kháng sinh đó sẽkhông còn tác dụng ở những lần điều trị sau Vì vậy, nên dùng kháng sinh theo chỉđịnh của bác sĩ điều trị Đặc biệt, đối với trẻ em, khi nghi ngờ bị bệnh do nhiễmkhuẩn, nên đưa trẻ đến bác sĩ
Mặc dù, cả vi khuẩn hay vi rút đều có thể là thủ phạm khiến trẻ bị ốm nhưng
dù biểu hiện có thể giống nhau nhưng nếu cơ chế gây bệnh khác nhau thì mức độtác động của kháng sinh cũng rất khác nhau : Vi khuẩn là loại sinh vật có thể tồntại như những tế bào đơn lẻ với 2 dòng chính: có lợi và gây hại Khuẩn sữa là một
ví dụ, chúng sống trong ruột và có thể chống lại các vi sinh gây hại phát sinh trongquá trình tiêu hoá thức ăn Còn những vi khuẩn gây hại sẽ mang đến nhiều bệnh
Trang 26tật cho con người và trong trường hợp này, thuốc kháng sinh chính là vũ khí lợihại để tiêu diệt và không cho chúng phát triển trở lại.
Không giống với vi khuẩn, bản thân vi rút không thể tự sống và tồn tại được.Chúng là những phần tử nhỏ chứa các gien vật chất được bao bọc trong lớp vỏprotein Vi rút sống, phát triển chỉ khi chúng xâm nhập được vào các tế bào khácnên một số loại có khả năng chống lại hệ thống miễn dịch của cơ thể con ngườinhư vi rút gây bệnh cảm lạnh, cúm và thuỷ đậu Do cấu tạo như vậy nên khôngloại kháng sinh nào có thể “trị” được vi rút
Việc sử dụng thuốc kháng sinh tràn lan hiện nay cũng góp phần làm nhómthuốc kháng sinh ngoại được nhập khẩu ngày càng gia tăng
Với những tính năng ưu việt Lượng thuốc kháng sinh mà các quốc gia trên thếgiới sử dụng trong thời gian qua đã tăng mạnh Dù Bộ Y tế của nhiều quốc gia đãban hành những quy định cụ thể nhằm hạn chế việc lạm dụng thuốc kháng sinhnhưng thị trường thuốc kháng sinh của thế giới vẫn liên tục phát triển Thị trườngthuốc kháng sinh của Việt Nam không nằm ngoài quy luật này
Thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy trong 8 tháng đầu năm 2009, trị giánhập khẩu thuốc kháng sinh vào VN đạt mức cao nhất từ trước đến nay 154 triệuUSD, tăng 75% so cùng kỳ năm ngoái Đây là nhóm thuốc có lượng nhập khẩulớn nhất, chiếm 25% về lượng và 24% về trị giá trong tổng số thuốc được nhậphiện nay
Với việc sử dụng thuốc kháng sinh tràn lan tại các bệnh viện hiện nay trongkhi thuốc kháng sinh sản xuất trong nước cũng vẫn chỉ ở mức hạn chế thì nhómthuốc kháng sinh ngoại được nhập khẩu ngày càng gia tăng Dự báo của Tổng cụcHải quan vào các tháng cuối năm trị giá nhập khẩu thuốc kháng sinh sẽ khôngchững lại mà tiếp tục tăng, ước đạt 20 triệu USD/tháng
Thị trường cung cấp thuốc kháng sinh vào nước ta ngày càng được mở rộng.Tính đến hết tháng 8-2009, có khoảng 47 thị trường tham gia cung cấp, cùng kỳnăm trước chỉ có 38 thị trường Trong số các thị trường mới này có nước Cộnghòa Dominica có trị giá nhập khẩu tương đối cao trên 600.000 USD, với mặt hàngđiển hình là thuốc kháng sinh Zinnat; thị trường Greenland cung cấp mặt hàngRifampicin; hoặc Iceland cung cấp thuốc Pyrazinamide 500 mg…
Tuy nhiên, thị trường cung cấp nhiều mặt hàng kháng sinh nhất là Ấn Độ, trịgiá nhập khẩu từ thị trường này hiện đạt trên 37 triệu USD, tăng 85% so cùng kỳ
Trang 27năm trước Đây là thị trường cung cấp nhiều mặt hàng thuốc kháng sinh generic –thuốc kháng sinh phiên bản với giá thành khá cạnh tranh.
Tiếp đến là thị trường Hàn Quốc và Pháp, trị giá đạt lần lượt 19 và 15 triệuUSD Trị giá từ hai thị trường này đạt cao là do có nhiều loại kháng sinh thế hệmới được nhập với giá thành khá đắt… Như vậy, ngoài việc xuất hiện thêm một
số thị trường cung cấp mới thì nhập khẩu từ hầu khắp các thị trường cũ đều tăngkhá, do số lượng hàng được nhập nhiều hơn và có thêm các loại thuốc mới
Về giá nhập khẩu, có thể nói, thuốc kháng sinh là mặt hàng có giá dễ thay đổinhất do số lượng mặt hàng phong phú, lượng nhập lớn Bên cạnh đó, đây cũng lànhóm hàng nhạy cảm, dễ bị chi phối do giá nguyên liệu, phụ liệu, nhiên liệu tácđộng lên
Ghi nhận của Tổng cục Hải quan, trong 8 tháng đầu năm 2009, nước ta nhập
về gần trên 3.500 lô hàng thuốc kháng sinh chia thành khoảng 3.000 mặt hàng cácloại nhưng chiếm đến 30% trong số đó có giá nhập khẩu biến động
Đáng chú ý, có những mặt hàng được nhập liên tục nhưng giá mỗi lần nhậpđều thay đổi như: Alurix 250 mg của Ấn Độ dao động 12,26 – 13,22 USD/hộp;Amoksiklav của Slovenia dao động 2,5 – 2,7 USD/hộp; Ampicillin 500 mg của
Ấn Độ dao động 2,28 – 2,5 USD/hộp; Cefalexin 500 mg của Ấn Độ dao động3,20 – 3,83 USD/hộp…
Bên cạnh đó, đây cũng là nhóm hàng tập trung nhiều mặt hàng nhập khẩu songsong Thuốc kháng sinh nhập khẩu song song chủ yếu là các loại thuốc của Ấn
Độ, Hàn Quốc và Hồng Kông
Khảo sát các loại thuốc kháng sinh nhập về trong thời gian gần đây cho thấy tỉ
lệ chênh lệch về giá giữa các thị trường khá cao đối với một số mặt hàng như:Pyrazinamide, Cephalexin 500 mg, Cefuroxime 750 mg, Lenmital, Cefonen 1G,Cefixime 200 mg… có khoảng cách chênh lệch về giá trên 30% Nhìn chung,thuốc nhập khẩu song song từ Ấn Độ thường có đơn giá thấp hơn so thị trườngkhác
Thuốc kháng sinh chỉ dùng để điều trị bệnh do vi khuẩn gây nên Đối vớinhững bệnh không nguy hiểm (đặc biệt những căn bệnh do vi rút gây ra) nên dùngthuốc đặc trị ngay trong giai đoạn đầu nhiễm bệnh để tránh những biến chứngkhác như sự “trỗi dậy” của các vi khuẩn có hại
Trang 28Quy tắc sử dụng thuốc kháng sinh : Dùng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến dothuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng, do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làmgiải phóng một lượng lớn nội độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể (dotác động xấu đến các loại tế bào thẩm quyền miễn dịch, làm giảm lượng khángnguyên phòng bệnh và kháng sinh có thể tiêu diệt cả các vi khuẩn có ích cho cơthể) Dùng bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc làm giảm thấp tác dụngchữa bệnh của chất kháng sinh Vì vậy, khi dùng cần theo những nguyên tắc sauđây:
- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng thuốc Dùng hấp tấp thuốc không được lựachọn trên cơ sở kết quả chẩn đoán sẽ không chữa khỏi bệnh, mà còn làm cho việcchẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn
- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùngliều cao ngay từ đầu, những lần sau đó có thể giảm liều lượng Có thể sử dụngthuốc hấp thu chậm nhưng trước đó phải tiêm thuốc hấp thu nhanh cùng loại
- Không nên vội vàng thay kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tácdụng của kháng sinh
- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tínhcủa từng loại, làm phổ tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị vàhạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc Khi phối hợp thuốc, cần chọn nhữngthuốc có tác dụng tăng cường lẫn nhau (tác dụng hợp đồng) hoặc các thuốc cộnghợp, tránh phối hợp các thuốc đối kháng (về hoạt tính hóa học cũng như tác dụngđiều trị, tham khảo bảng tác dụng phối hợp thuốc)
- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể như nuôi dưỡng tốt, dùng thêmvitamin, tiêm nước sinh lý, phối hợp thuốc giảm đau, giảm sốt và an thần (trấntĩnh) và thuốc chống viêm khi cần thiết để làm giảm tác động gây stress của quátrình bệnh lý Tuy nhiên, cần chú ý rằng các thuốc chống viêm nhóm steroid(hydrocortisol, prednisolon, ) có tác dụng gây giảm bạch cầu nên dẫn đến giảmsức đề kháng của cơ thể nếu sử dụng kéo dài Chất kháng sinh chế khuẩn chỉ cóthể có tác dụng khi cơ thể có sức đề kháng: tiêu diệt và bài xuất mầm bệnh
- Một số hóa dược khi dùng có thể làm yếu sự hoạt động của tim và gây nênnhiều hiện tượng bệnh lý khác, một phần là do tác động của thuốc, một phần là do
Trang 29tác động của nội độc tố mầm bệnh Vì vậy, khi dùng các loại thuốc này cần phảitheo dõi hoạt động tim và có biện pháp can thiệp kịp thời.
2.2.3 Hình thức cung cấp thuốc nhập khẩu tại thị trường Việt Nam
2.2.3.1 Hình thức OTC và ETC
Theo phân loại của Cục quản lý dược Việt Nam và theo cách thức mà cácdoanh nghiệp đang áp dụng thì thị trường dược phẩm nói chung và thị trườngdược phẩm nói riêng được chi thành 2 loại: thị trường dược phẩm OTC và thịtrường dược phầm ETC
- Thị trường dược phẩm nhập khẩu OTC là thị trường mà trong đó các doanh nghiệp, các công ty tiến hành nhập khẩu và phân phối những sản phẩm thuốc và việc kinh doanh bán hang cho người tiêu dùng không cần đến kê đơn của bác sỹ chuyên môn mà chỉ cần sự hướng dẫn của dược sỹ bán thuốc Sự am hiểu thông tin của người tiêu dùng thông qua các hình thức quảng cáo, đọc tài liệu… là có thểmua và sử dụng được Thuốc OTC được chấp nhận dễ dàng hơn khi quảng cáo trên kênh truyền thông đại chúng, brochure, và các phương tiện truyền thông khácnhư báo, tạp chí, outlet vv…
- Thị trường nhóm hàng ETC là thị trường cung cấp các loại dược phẩm màngười sử dụng hay người bán (dược sỹ bán thuốc) đều phải tuân theo sự chỉ dẫn từđơn thuốc và pháp đồ điều trị của bác sỹ chuyên môn, do đó khách hàng trên thịtrường này là những bệnh nhân đi khám chữa bệnh nhưng quyết định vấn đề tiêudùng sản phẩm thuốc gì, số lượng thuốc bao nhiêu, sử dụng như thế nào là do bác
sỹ chuyên môn còn dược sỹ bán thuốc chỉ có vai trò giám sát, bảo đảm thuốc chongười tiêu dùng mua đúng với những gì bác sỹ chuyên môn đã kê đơn
Hàng hóa trên thị trường ETC luôn đề cao vai trò của bác sỹ chuyên môn, vì các loại thuốc trên thị trường này đều là những loại thuốc có hoạt chất, có tính chuyên môn cao, các phản ứng thuốc xảy ra nhanh và mạnh, có thể có phản ứng phụ không mong muốn, do vậy nếu người tiêu dùng không sử dụng hay sử dụng sai pháp đồ điều trị đó có thể gây phản ứng thuốc và phát sinh những triệu trứng mới không mong muốn Thuốc ETC bị giới hạn khá nhiều trong việc quảng bá sảnphẩm,chủ yếu thông qua các hình thức hội thảo,tham dự hội nghị,và các tài liệu quảng cáo đều phải thông qua sự chấp nhận của Bộ Y Tế
2.2.2.1 Hình thức cung cấp hàng hóa và dịch vụ trên thị trường đầu vào
Trang 30Hiện nay các quốc gia Pháp, Ấn Độ, Nhật, Hàn Quốc… là những quốc gia cóthế mạnh về dược phẩm và đều không ngừng gia tăng doanh số xuất khẩu vào thịtrường Việt Nam Nhập khẩu vào thị trường Việt Nam có hai hình thức:
Nhập khẩu trực tiếp: đây là hình thức các công ty có vốn nước ngoài thườngthực hiện, khi đó các doanh nghiệp này sẽ nhập khẩu trực tiếp từ công ty mẹ vàoViệt Nam mà không phải thông quan nhập khẩu ủy thác, hình thức này giúp cácdoanh nghiệp giảm thiểu chi phí và thời gian vận chuyển lưu kho Hìmh thức nàythường áp dụng với các công ty thuộc cùng tập toàn có chi nhánh tại Việt Nam,hoặc công ty có vốn nước ngoài như đã nói trên, hoặc số ít các công ty của ViệtNam có quy mô công ty lớn, tiềm lực kinh tế mạnh, đã có sự hợp tác và thỏa thuậnlâu dài với bên đối tác nhập khẩu thuốc
Nhập khẩu gián tiếp: là hình thức các doanh nghiệp kinh doanh dược phẩmtrong nước hiện nay đang bắt buộc phải thực hiện Dù dưới hình thức nào đi nữathì đối với mỗi mặt hàng của mỗi hãng cũng chỉ được phép xuất khẩu cho mộtcông ty ở Việt Nam Hình thức này thường có thể qua nhiều trung gian hơn, chiphí lưu kho bến bãi cũng như vận chuyển và phân phối sau lần nhập khẩu thuốccũng sẽ theo vậy tăng lên và cao hơn Các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nướchiện nay thường phải áp dụng hình thức này
2.2.2.2 Hình thức cung cấp hàng hóa và dịch vụ trên thị trường đầu ra
Hình thức phân phối trên thị trường thuốc Việt Nam rất đa dạng, cụ thể:
- Các doanh nghiệp phải nhập khẩu và tự phân phối: đây là hình thức phổ biếnhiện nay, đang có tới gần 90% số lượng các công ty áp dụng hình thức này Theo
đó, các doanh nghiệp khi nhập hàng hóa vào Việt Nam thì nhà sản xuất sẽ khôngcòn trách nhiệm và doanh nghiệp lúc này phải tự tổ chức kinh doanh, tự quảng cáo
và phân phối sản phẩm Hình thức này giúp các doanh nghiệp nắm được các côngviệc kinh doanh trong một đầu mối và lợi nhuận sẽ cao hơn Tuy nhiên đổi lại cácdoanh nghiệp lại chấp nhận rủi ro cao hơn
Nếu trong một thời gian nào đó doanh nghiệp gặp phải khó khăn trong kinhdoanh không thành công trên thị trường thì nhà sản xuất sẽ chuyển mối hàng đócho doanh nghiệp khác kinh doanh Như vậy mọi cố gắng và tài chính mà doanhnghiệp chi ra ban đầu, tạo dựng thị trường sẽ là vô ích và tạo ra lợi ích cho doanhnghiệp phân phối sau
- Phân phối độc quyền:
Trang 31Phân phối độc quyền ở cấp công ty: đây là hình thức mà một số công ty có hệ
thống phân phối chuyên nghiệp hay áp dung Với hình thức này doanh nghiệpphân phối có nhiệm vụ nhập khẩu và tiến hành tổ chức kênh phân phối theo môhình làm thị trường của hãng, các vấn đề thị trường, tổ chức kinh doanh hayquảng cáo sản phẩm thì hãng sẽ thuê công ty khác đảm nhiệm hoặc mở văn phòngđại diện có chuyên môn Theo hình thức này, doanh nghiệp đó sẽ an toàn và ít rủi
ro hơn về thị trường, tuy nhiên các doanh nghiệp cũng sẽ phải chịu nhiều áp lực
về mặt tài chính
Phân phối độc quyền tập đoàn: đây là hình thức mà các doanh nghiệp 100%
vốn nước ngoài thường hay áp dụng và nó đòi hỏi một lượng vốn cực kỳ lớn Vớihình thức này có một tập đoàn đứng ra đảm nhiệm việc phân phối hàng cho nhiềuhãng khác nhau và các hàng sẽ tự làm thị trường cho chính doanh nghiệp mình.Khi đó sự thành công hay thất bại của một hãng nào đó sẽ ít ảnh hưởng đến kếtquả kinh doanh của tập đoàn phân phối
1.3 Sự cần thiết phải nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm thuốc kháng sinh nhập khẩu
Nâng cao sức cạnh tranh giúp cho quá trình đổi mới diễn ra nhanh hơn Mộtdoanh nghiệp không thể tồn tại và phát triển nếu như doanh nghiệp không theo kịp
sự phát triển của thời đại, mất đi khả năng cạnh tranh so với các doanh nghiệpkhác
Tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm giúp thay đổi mối tương quan giữa thếvào lực của doanh nghiệp trên thị trường đối với các sản phẩm của doanh nghiệp
từ khâu tìm kiếm đến nhà cung cấp, nhập khẩu, đến khâu lưu thông hàng hóa trênthị trường Trong cơ chế thị trường hiện nay, cạnh tranh là điều kiện cần thiết đểdoanh nghiệp tồn tại và phát triển đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêudùng, nếu doanh nghiệp đáp ứng tốt, đáp ứng cao hơn được thị hiếu và sự tínnhiệm của khách hang thì sẽ dành thắng lợi, nếu doanh nghiệp nào không đáp ứngđược, chậm chân hơn thì sẽ làm ăn sa sút và có nguy cơ phá sản
Đối với các thuốc nhập khẩu, thì việc nâng cao sức cạnh tranh rất cần thiết cho
xã hội và cho các doanh nghiệp, điều đó thể hiện:
- Đối với doanh nghiệp: cạnh tranh thực sự cần thiết giúp doanh nghiệp đạtmục tiêu tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở chiếm lĩnh thị phần của các đối thủ, giatăng số lượng người bệnh sử dụng thuốc của doanh nghiệp mình
Trang 32- Đối với xã hội, cạnh tranh sẽ giúp người bệnh được tiêu dùng thuốc có chấtlượng tốt giá cả hợp lý, giúp người bệnh hiểu được những thông tin về loại thuốc
mà mình sử dụng Cạnh tranh cũng giúp cho thuốc được phân phối rộng rãi, tạođiều kiện cho những đối tượng trước đây ít được tiếp xúc với tân dược (vùng sâu,vùng xa, hải đảo, biên giới…) Cạnh tranh giúp cho ngành công nghiệp sản xuấtdược phẩm trong nước có động lực phát triển, khi một sản phẩm nào đó có sứctiêu thụ lớn sẽ khuyến khích các nhà sản xuất trong nước nghiên cứu sản xuất sảnphẩm thay thế, để từ đó góp phần thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển Cạnh tranhgiúp cho nhân dân được tiếp cận với các loại dược phẩm thế hệ mới, giúp họ cóthem thông tin để điều trị bệnh khi có triệu chứng tránh để ủ bệnh trong một thờigian quá lâu mới đi chữa Cạnh tranh tạo động lực phát triển và tạo thêm nhiềuviệc làm cho lao động xã hội
Trên mọi khía cạnh ta thấy được lợi thế của việc nâng cao sức cạnh tranh củatừng loại sản phẩm là rất cần thiết không chỉ đối với doanh nghiệp nói riêng màcho cả xã hội nói chung Ta thấy được sự cần thiết phẩi nâng cao sức cạnh tranhcho từng loại sản phẩm của doanh nghiệp, đặc biệt là các sản phẩm thuốc
Trang 33CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG SỨC CẠNH SẢN PHẨM THUỐC KHÁNG SINH NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM
TRUNG ƯƠNG MEDIPLANTEX
2.1 Khái quát về sản phẩm thuốc kháng sinh nhập khẩu của công ty Cổ phần dược Trung ương Mediplantex
2.1.1 Các sản phẩm thuốc kháng sinh nhập khẩu
Công ty Cổ phần dược Trung ương Mediplantex luôn sẵn sàng hợp tác sảnxuất, kinh doanh xuất nhập khẩu với tất cả các bạn hàng trong và ngoài nước.Công ty có quan hệ thương mại và hợp tác với hơn 26 Quốc Gia ở khắp Châu Lục Hiện nay tại Công ty Cổ phần dược Trung ương Mediplantex, công ty đãđầu tư rất nhiều vào nghiên cứu và dây chuyền sản xuất các sản phẩm thuốc nên
số lượng thuốc mà công ty nhập về cũng đã giảm về số lượng và chủng loại Tuynhiên vẫn còn một số sản phẩm thuốc và biệt dược công ty chưa tự sản xuất được
mà nhu cầu trên thị trường lớn nên công ty vẫn tiến hành nhập một số sản phẩmthuốc từ các nước trên thế giới Danh mục các sản phẩm thuốc nhập khẩu gồm :thuốc kháng sinh, thuốc cầm máu, vitamin, thuốc chống viêm, hạ nhiệt, hạ nhiệt,giảm đau Các sản phẩm này được nhập chủ yếu từ các nước Hàn Quốc, TrungQuốc, Ấn Độ và Đức Trong các sản phẩm thuốc nhập khẩu đó của công ty Cổphần dược Trung ương Mediplantex có thể nói thuốc kháng sinh là sản phẩm
thuốc quan trọng và có giá trị nhập khẩu lớn nhất tại công ty hiện nay
Trang 34Hình 2.1: Cơ cấu các loại thuốc nhập khẩu tại công ty công ty cổ phần
Dược Trung ương Mediplantex
Loại
thuốc
2010 Giá trị (tỷ
Giá trị (tỷ đồng)
Tỉ trọng
Giá trị (tỷ đồng) Trọng