Đề tài được nghiên cứu bằng cách kết hợp một số các phương pháp nhưnghiên cứu tại chỗ, tổng hợp, phân tích, trọng số và hệ thống Kết cầu của đề tài gồm 3 phần chính: Phần I: Lý luận chun
Trang 1MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
NỘI DUNG 3
PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ RÀO CẢN, CẠNH TRANH, NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN THỦY SẢN 3
1 Khái niệm về cạnh tranh 3
1.1 Đặc điểm về sản phẩm thủy 3
1.2 Quan niệm về cạnh tranh 5
1.3 Vai trò của cạnh tranh 6
1.4 Phân loại cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường 8
1.4.1 Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường 8
1.4.2 Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế 9
1.4.3 Căn cứ vào thị trường 10
2.Khái niệm về năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm thủy sản 10
2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh 10
2.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của sản phẩm thủy sản 12
3.Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm thủy sản 12
3.1 Các tiêu chí mang tính định lượng 12
3.1.1 Chi phí sản xuất sản phẩm 12
3.1.2 Giá bán sản phẩm 13
3.1.3 Khả năng sinh lợi trên một đơn vị sản phẩm 13
3.1.4 Tốc độ tăng doanh thu, tăng thị phần 14
3.2 Các chỉ tiêu định tính 15
3.2.1 Chất lượng sản phẩm 15
3.2.2 Uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp trên thị trường 15
3.2.3 Mức độ hấp dẫn của sản phẩm: bao bì, nhẵn hiệu tới khách hàng 16
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm 17
Trang 23.3.1 Nhóm các yếu tốt khách quan 17
3.3.2 Nhóm các yếu tố chủ quan 19
3.3.3 Nhóm yếu tố về sản phẩm: 21
4.Khái quát về rào cản kĩ thuật trong thương mại quốc tế của Hoa Kì 21
4.1 Các rào cản phi thuế quan (NTBs) 21
4.2 Các rào cản kĩ thuật trong thương mại (TBTs) 22
PHẦN II: PHÂN TÍCH CÁC RÀO CẢN KĨ THUẬT, NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM CÁ TRA VÀ CÁ BASA TRÊN THỊ TRƯỜNG MỸ 24
1.Thực trạng xuất khẩu thủy sản nói chung, cá tra và cá basa sang thị trường Hoa Kỳ 24
1.1 Tổng quan về thị trường thủy sản Mỹ nói chung, và thị trường cá tra, cá basa nói riêng .24
1.2 Tình hình xuất khẩu thủy sản nói chung, cá tra và cá basa nói riêng sang thị trường Hoa Kỳ 25
1.2.1 Về kim ngạch xuất khẩu 25
1.2.2 Về cơ cấu sản phẩm xuất khẩu 29
2.Khái quát về các rào cản kĩ thuật của Hoa Kì đối với hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam 33
2.1 Rào cản của Hoa Kì đối với thủy sản nhập khẩu 33
2.1.1 Quy định của Hoa Kì về vệ sinh an toàn thực phẩm 33
2.1.2 Quy định của Hoa Kì về bảo vệ môi trường và nguồn lợi 36
2.1.3 Luật ghi nhãn xuất xứ đối với hàng thủy sản 37
2.1.4 Dự luật nông nghiệp 2008 37
2.1.5 Luật an toàn y tế công cộng và chuẩn bị phản ứng khủng bố sinh học 37
2.2 Ảnh hưởng của các rào cản kĩ thuật tới hàng thủy sản của Việt Nam 38
2.2.1 Ảnh hưởng tích cực 38
2.2.2 Ảnh hưởng tiêu cực 40
2.3 Thực trạng khả năng đáp ứng các rào cản của thủy sản Việt Nam 41
Trang 32.3.1 Về vệ sinh an toàn thực phẩm 41
2.3.2 Bảo vệ môi trường và nguồn lợi 42
3.Đánh giá kết quả cạnh tranh và vượt qua các rào cản kĩ thuật của thủy sản Việt Nam 45
3.1 Đánh giá kết quả cạnh tranh 45
3.1.1 Thành tựu 45
3.1.2 Thách thức 47
3.2 Đánh giá chung về việc vượt qua các rào cản kĩ thuật của Hoa Kỳ 49
3.2.1 Thành tựu 49
3.2.2 Những bất cập và tồn tại 50
PHẦN III: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM THỦY SẢN ĐỂ VƯỢT QUA CÁC RÀO CẢN KĨ THUẬT CỦA HOA KỲ 53
1 Dự báo nhu cầu trong những năm tới 53
2 Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh để vượt qua các rào cản kĩ thuật của Hoa Kì 53
2.1 Nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm 53
2.2 Giảm giá thành thông qua các giảm các chi phí sản xuất 54
2.3 Giải pháp xúc tiến thương mại 54
2.4 Giải pháp marketing 54
3.Điều kiện thực hiện 54
3.1 Kiến nghị với các cơ quan chức năng 54
3.2 Nguồn nhân lực 54
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, toàn cầu hóa kinh tế là một xu hướng nổi trội và do đó đã trở thànhmôi trường của các cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các nước trên phạm vi toàn thếgiới Tuy thế, giữa các nước và các bộ phận xã hội ở mỗi nước vẫn đang tồn tại sựkhác biệt đáng kể về nhận thức cũng như trong hành động trước toàn cầu hóa.Những nước và các nhóm xã hội yếu thế thường bị thua thiệt do tác động từ mặt tráicủa toàn cầu hóa và luôn phản đối nó hoặc trong tâm thế thích ứng bị động Trongkhi đó, những nước và những người có sức mạnh chi phối toàn cầu hóa lại coi là cơhội mang lại sự tiến bộ cho mình và ra sức tận dụng những mặt tích cực của nó Cho
dù vậy, toàn cầu hóa vẫn đã và sẽ diễn ra, chi phối dưới hình thức này hay khác, vớicác mức độ khác nhau đối với tất cả các lĩnh vực kinh tế và xã hội của hầu hết cácnước, nếu nhìn về dài hạn
Sau 4 năm gia nhập WTO chúng ta đã gặp không ít thuận lợi, cũng như nhữngkhó khăn đối với các doanh nghiệp Việt Nam cạnh tranh trên thị trường trong nước
và quốc tế Đứng trước tình hình này, các doanh nghiệp Việt Nam phải có nhữngbiện pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của mình để giành thế chủ động trênthương trường, tồn tại và phát triển lâu dài Việt Nam đã và đang phải cạnh tranhvới các quốc gia khác để giành vị thế của mình trên trường quốc tế Điều này đồngnghĩa với việc phải đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng của Việt Nam trên thị trườngthế giới
Nước ta là một nước nông nghiệp, khi hội nhập vào kinh tế quốc tế các sảnphẩm nông nghiệp càng phải cần chú trọng hơn nữa để nâng cao khả năng cạnhtranh Trong nhiều năm, xuất khẩu thủy sản nói chung và mặt hàng cá tra và cá basanói riêng trở thành mặt hàng mũi nhọn trong xuất khẩu nông sản của nước ta, vàluôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta
Tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập, tình hình cạnh tranh, các cuộctranh chấp thương mại giữa các doanh nghiệp, giữa các quốc gia ngày gay gắt hơnbao giờ hết, chúng không chỉ nằm trong giới hạn quốc gia mà còn vượt qua các vụkiện mang tính khu vực và thế giới như trong ngành thủy sản là các vụ kiện liênquan đến cá, tôm Có thể nói, thị trường Mỹ là một thị trường rất tiềm năng và luônhàm chứa tính cạnh tranh rất lớn, các vụ kiện thường xuyên xảy ra giữa phía Mỹ vàcác nhà xuất khẩu trong đó có Việt Nam Cùng với sự cạnh tranh đó, Chính phủ Mỹcòn đưa ra các rào cản phi thương mại và thương mại như các quy định khắt khe về
Trang 5an toàn vệ sinh thực phẩm, quy định về bảo vệ môi trường, các công ước lao động
…nhằm hạn chế nhập khẩu vào nước này Tuy thủy sản của Việt Nam đã có chỗđứng trên thị trường Mỹ nhưng vẫn còn rất nhiều khó khăn, thách thức tiềm ẩn đốivới các doanh nghiệp trong thời gian tới Chinh phục thị trường này là một điềukhông dễ, nhất là khi chúng ta phải cạnh tranh với hàng của các nước đang phát
triển khác Xuất phát từ vần đề này em chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm thủy sản để vượt qua các rào cản kĩ thuật trên thị trường Mỹ” làm
đề tài nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này, sẽ giúp chúng ta hiểu được rõ thực trạng năng lựccạnh tranh của sản phẩm cá trá và cá basa của Việt Nam trên thị trường Mỹ Từ đó,
sẽ giúp đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các mặthàng này, để ngày càng khẳng định được giá trị, chỗ đứng và nâng cao giá trị xuấtkhẩu cho Việt Nam
Đề tài được nghiên cứu bằng cách kết hợp một số các phương pháp nhưnghiên cứu tại chỗ, tổng hợp, phân tích, trọng số và hệ thống
Kết cầu của đề tài gồm 3 phần chính:
Phần I: Lý luận chung về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, rào cản và nâng caonăng lực cạnh tranh sản phẩm
Phần II: Phân tích năng lực cạnh tranh và các rào cản đối với sản phẩm thủysản trên thị trường Mỹ
Phần III: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm thủy sản trênthị trường Mỹ
Em xin trân thành gửi lời cảm ơn tới TS Vũ Thị Minh - Giảng viên khoa Kinh tế Bất động sản và tài nguyên và TS Lê Xuân Nhật; TS Nguyễn Thùy Dung – Viện kinh tế và quy hoạch thủy sản đã nhiệt tình, tận tâm giúp đỡ Em hoàn
thành chuyên đề này
Trang 6NỘI DUNG PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ RÀO CẢN, CẠNH TRANH, NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN
Các sản phẩm thủy sản nhiều dinh dưỡng, được dùng trong các bữa ăn của conngười, do vậy nó có một vai trò hết sức quan trọng là giúp con người tái sản xuấtsức lao động sau những giờ lao động mệt mỏi Hầu hết các sản phẩm thủy sản đều
là loại thực phẩm giàu đạm, dễ tiêu hóa, phù hợp với sinh lý dinh dưỡng ở mọi lứatuổi So với các loại thịt, cacds loại thực phẩm thủy sản có chứa ít chất mỡ hơn,nhiều chất khoáng hơn những đạm cũng khá cao Sản phẩm thủy sản ngày càngđược tin tưởng như một loại thực phẩm ít gây bệnh tật (tim mạch, béo phì, ungthư…) ngày càng xuất hiện như những món chính trong bữa ăn hàng ngày củangười dân
Cá tra và basa là hai trong số 11 loài thuộc họ cá tra (Pangasiidae) đã được xácđịnh ở sông Cửu long Tài liệu phân loại gần đây nhất của tác giả W.Rainboth xếp
cá tra nằm trong giống cá tra dầu Cá tra dầu rất ít gặp ở nước ta và còn sống sót rất
ít ở Thái lan và Campuchia, đã được xếp vào danh sách cá cần được bảo vệ nghiêmngặt (sách đỏ) Cá tra và basa của ta cũng khác hoàn toàn với loài cá nheo Mỹ(Ictalurus punctatus) thuộc họ Ictaluridae
Sản phẩm cá tra và cá basa giàu chất dinh dưỡng Cũng như các loài cá khác,thịt cá tra, basa là nguồn protein động vật chất lượng cao, cung cấp nhiều protein,các chất khoáng quan trọng và có chứa nhiều loại vitamin cần thiết rất tốt cho sứckhỏe Thịt cá có hàm lượng protein từ 23-28%, tương đối cao hơn so với các loài cánước ngọt khác (16-17%) Các protein trong cá nhìn chung dễ đồng hóa, dễ hấp thuhơn thịt và cung cấp dầy đủ các acid amin cần thiết cho sự phát triển của cơ thể con
Trang 7người Ngoài ra, người ta còn nhận thấy rằng tổng lượng chất béo có trong thịt cáthấp hơn so với thit và phần lớn chúng là các chất béo có lợi, đặc biệt là hai chấtdinh dưỡng quan trọng DHA và EPA Đáng lưu ý, những nghiên cứu gần đây chothấy, mỡ cá basa chứa một lượng DHA (Docosa Hexaenoic Acid) và EPA(eicosapentaenoic acid) (4.74% DHA và 0.31% EPA) mà trước đây, loại axit béoquan trọng này được xác định là chỉ có trong mỡ cá hồi, cá ngừ, cá sọc, một số loài
cá vùng biển sâu Tổng lượng chất béo được tìm thấy trong cá Tra từ 2.55 – 3.42%với tỉ lệ acid béo chưa bão hòa chiếm trên 50% tổng số acid béo Trong đó, acidoleic là acid chiếm thành phần cao nhất trong các acid béo chưa bão hòa đơn(30.93%) và acid linoleic chiếm thành phần cao nhất trong acid béo chưa bão hòa
đa (8.43%) Nhiều công trình nghiên cứu khoa cũng đã chứng minh về những lợiích của acid béo không bão hòa trong đó có vai trò làm giảm nguy cơ bệnh timmạch Những acid này gíup hạ mức cholesterol toàn phần và cholesterol LDL(cholesterol xấu) trong máu phòng xơ vữa động mạnh, nhồi máu cơ tim Cá tra,basa còn đặc trưng bởi hàm lượng cholesterol rất thấp (21-39 mg/100g) Đây là đặctính quan trọng đượ1.2 c khuyến cáo trong các chế độ dinh dưỡng nằm làm giảmlượng cholesterol tiêu thụ hằng ngày trong bữa ăn Cho đến nay, cá tra, basa đã thực
sự chinh phục người tiêu dùng trên thế giới nhờ vào giá trị dinh dưỡng cao, vị ngon
và vai trò quan trọng của các thành phần có trong thịt cá
Trang 8Hình ảnh minh họa sản phẩm cá tra cá basa
1.2 Quan niệm về cạnh tranh
Đặc trưng cơ bản và nổi bật của kinh tế thị trường là tính cạnh tranh, bất cứmột chủ thể nào tham gia vào thị trường đều phải chấp nhận cạnh tranh Khi nói tớicạnh tranh là nói tới nền kinh tế thị trường và ngược lại, nói tới kinh tế thị trường lànói tới cạnh tranh Ngược lại, thị trường mà không có cạnh tranh thì không còn làthị trường nữa Mặt tích cực của thị trường cũng là mặt tích cực của cạnh tranh Mặttiêu cực của thị trường, tồn tại theo quan niệm của nhiều người; cũng là mặt tiêucực của cạnh tranh
Cạnh tranh là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá bởi thực chất nó xuấtphát từ quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá Trong sản xuất hàng hoá sự tách biệttương đối giữa những người sản xuất, sự phân công lao động xã hội tất yếu sẽ dẫnđến sự cạnh tranh để giành những điều kiện thuận lợi hơn như gần nguồn nguyênliệu nhân công rẻ gần thị trường tiêu thụ, giao thông vận tải tốt, khoa học kỹ thuậtphát triển nhằm làm giảm mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động
xã hội cần thiết để thu được nhiều lãi khi còn sản xuất hàng hoá còn phân công laođộng thì còn cạnh tranh
Cạnh tranh là sức mạnh mà hầu hết các nền kinh tế thị trường tự do dựa vào đểđảm bảo rằng các doanh nghiệp thoả mãn được các nhu cầu và mong muốn của
Trang 9người tiêu dùng Khi có canh tranh không một chính phủ nào cần các doanh nghiệpsản xuất mặt hàng gì với số lượng chất lượng và giá như thế nào cạnh tranh trựctiếp quy định những vấn đề đó của doanh nghiệp.
Cạnh tranh là gì? Toàn bộ ý nghĩa của khái niệm này là người mua được
quyền chọn lựa trong số các nhà cung cấp khác nhau thì họ sẽ có nhiều khả năngmua được những sản phẩm chất lượng cao với giá cả hợp lý hơn
- Theo Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tưbản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá
để thu được lợi nhuận siêu ngạch”
- Còn theo cuốn từ điển kinh doanh (xuất bản 1992 ở Anh), cạnh tranh trong
cơ chế thị trường được định nghĩa là “sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinhdoanh nhằm tranh giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình”
- Theo kinh tế chính trị học: “ Cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các đốithử nhằm giành giật thị trường khách hàng cho Doanh nghiệp mình” Trong nền kinh tếthị trường cạnh tranh được hiểu là : “sự ganh đua giữa các Doanh nghiệp trên thịtrường nhằm giành giật được ưu thế hơn về cùng một loại sản phẩm hàng hoá dịch vụ,
về cùng một loại khách hàng so với đối thủ cạnh tranh.”
Như vậy, hiểu theo một nghĩa chung nhất: “Cạnh tranh là sự ganh đua, là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa những chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị trường hàng hóa cụ thể nào đó nhằm giành giật khách hàng và thị trường, thông qua đó mà tiêu thụ được nhiều hàng hóa và thu được lợi nhuận cao” ( Trần Sửu,
2005, tr.46 )
Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thểtham gia thị trường Đối với người mua, họ muốn mua được loại hàng hoá có chấtlượng cao, với một mức giá rẻ Còn ngược lại, người bán bao giờ cũng muốn tối đahoá lợi nhuận của mình Vì mục tiêu lợi nhuận, họ phải giảm chi phí và tìm cáchgiành giật khách hàng và thị trường về phía mình Và như vậy cạnh tranh sẽ xảy ra
Quy luật cạnh tranh là cơ chế vận động của thị trường hay có thể nói Thịtrường là vũ đài cạnh tranh, là nơi gặp gỡ của các đối thủ cạnh tranh, mà kết quả sẽ
là một số bị thua cuộc và bị gạt ra khỏi thị trường, trong khi một số khác vẫn tồn tại
và phát triển hơn nữa Quy luật chọn lọc nghiệt ngã thông qua cạnh tranh của thịtrường đã chia các chủ thể tham gia thị trường thành hai nhóm: nhóm năng động vànhóm trì trệ Quy luật của cạnh tranh là thải loại những thành viên yếu kém trên thị
Trang 10trường, duy trì và phát triển những thành viên tốt nhất và qua đó hỗ trợ đắc lực choquá trình phát triển của toàn xã hội Kết quả của cạnh tranh sẽ xác định vị thế củadoanh nghiệp trên thị trường, vì thế mỗi doanh nghiệp đều cố gắng tìm cho mìnhmột chiến lược cạnh tranh phù hợp để vươn lên tới vị thế cao nhất
1.3 Vai trò của cạnh tranh
Trong cơ chế thị trường, kinh doanh luôn gắn liền với cạnh tranh Kinh doanh
là cạnh tranh gay gắt không khoan nhượng Mỗi một doanh nghiệp không phân biệtthành phần kinh tế đều phải tự mình vận động thích nghi với cơ chế này Cạnh tranh
và quy luật cạnh tranh được thừa nhận Vai trò của cạnh tranh ngày càng được thểhiện rõ nét hơn
Đối với toàn nền kinh tế
Cạnh tranh là động lực phát triển kinh tế, nâng cao năng suất lao động xã hội.Đây cũng chính là sử dụng nguồn tài nguyên một cách hiệu quả hơn, tích cực ápdụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Chúng ta biết kết quả của cạnhtranh là loại bỏ các doanh nghiệp có chi phí cao trong sản xuất kinh doanh, không
có chiến lược cũng như chiến lược kinh doanh không hiệu quả Một nền kinh tếmạnh là khi có các công ty, các doanh nghiệp vững mạnh và có khả năng cạnh tranhcao Tuy nhiên cạnh tranh ở đây phải là cạnh tranh hoàn hảo thì nền kinh tế mới bềnvững được, còn cạnh tranh độc quyền làm cho nền kinh tế không ổn định, môitrường cạnh tranh không ổn định dẫn đến mâu thuẫn về lợi ích, quyền lợi
Cạnh tranh sẽ đảm bảo việc điều chỉnh quan hệ giữa cung và cầu (quyền tựchủ của người tiêu dùng ) Cạnh tranh sẽ điều khiển sao cho những nhân tố sản xuất
sẽ được sử dụng vào những nơi có hiệu quả nhất, làm giảm thiểu tổng giá thành củasản xuất xã hội Dưới điều kiện cạnh tranh là những tiền đề thuận tiện nhất làm chosản xuất thích ứng linh hoạt dưới sự biến động của cầu và công nghệ sản xuất Cạnhtranh sẽ tác động một cách tích cực đến việc phân phối thu nhập thông qua việc cảntrở sự bóc lột trên cơ sở quyền lực thị trường và việc hình thành thu nhập khôngtương ứng với năng suất Sự thúc đẩy đổi mới được coi là một chức năng cạnh tranhnăng động trong những thập kỷ gần đây
Đối với doanh nghiệp
Cạnh tranh là điều bất khả kháng đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế thịtrường Cạnh tranh có thể gọi là cuộc đua khốc liệt mà các doanh nghiệp không thểlẩn tránh mà cần tìm mọi cách vươn lên để chiếm ưu thế và chiến thắng
Trang 11Cạnh tranh buộc các nhà sản xuất kinh doanh phải vươn lên tìm cách nâng caochất lượng sản phẩm, giá cả sản phẩm, dịch vụ bán càng ngày càng hoàn thiện hơnđáp ứng nhu cầu khách hàng và bao giờ các đối thủ cũng tìm cách đưa ra mức giáthấp nhất và có thể chất lượng hoàn hảo nhất Chính điều này khiến các doanhnghiệp phải lựa chọn phương án chiến lược nội dung tối ưu như: chi phí nhỏ nhất,công nghệ hiện đại cạnh tranh khiến các doanh nghiệp áp dụng công nghệ mới tạosức ép cho các doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của mình đểgiảm giá thành, nâng cao chất lượng.
Mỗi doanh nghiệp không thể lẩn tránh cạnh tranh vì như vậy là cầm chắc sựthất bại, có thể dẫn tới phá sản Vì thế doanh nghiệp muốn vươn lên phải xây dựngcho mình một chiến lược cạnh tranh hợp lý Coi cạnh tranh như là một công cụ, làbàn đạp vươn lên Trong cơ chế thị trường và trong thương mại quốc tế, cạnh tranh
có vai trò làm cho giá cả của hàng hóa giảm xuống, chất lượng của hàng hóa khôngngừng tăng lên và các dịch vụ sau bán hàng ngày càng tăng lên Vì thế, trước hếtcạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải tối ưu hóa các yếu tố đầu vào của quá trìnhsản xuất, phải không ngừng áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất
Sự cạnh tranh khốc liệt làm cho các doanh nghiệp ngày càng vững mạnh, pháttriển đi lên, chỉ có cạnh tranh mới làm cho doanh nghiệp ngày thể hiện được khảnăng, bản lĩnh của doanh nghiệp trong quá trình tồn tại và phát triển
Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh là một quy luật tất yếu khách quan, cácdoanh nghiệp tham gia vào thị trường đều chấp nhận cạnh tranh, cạnh tranh thúcđẩy sản xuất và phát triển Cạnh tranh sẽ đào thải những doanh nghiệp hoạt độngyếu kém, giúp doanh nghiệp tìm tòi và khắc phục những yếu điểm để vươn lên nắmgiữ thị trường Doanh nghiệp nào có chính sách cạnh tranh hiệu quả sẽ tạo ra được
vị thế trên thị trường, tăng lợi nhuận và tăng thu nhập cho người lao động Tuynhiên, vị thế cạnh tranh chỉ mang tính tương đối, có thể là lớn ở điểm này nhưng lạiyếu ở điểm khác Như vậy, doanh nghiệp phải luôn nhìn nhận cạnh tranh, điều kiệncạnh tranh như là một trong các căn cứ quan trọng để xây dựng chiến lược pháttriển trước mắt cũng như lâu dài
Đối với khách hàng
Trên thị trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra càng gay gắt thingười được lợi nhiều nhất là khác hàng Khi có cạnh tranh thì người tiêu dùng(khách hàng) được tiêu dùng hàng hóa có chất lượng cao hơn với giá cả phải chăng,
Trang 12nhu cầu của người tiêu dùng được đáp ứng tốt hơn Có được điều đó là vì có cạnhtranh nên hàng hóa trong trao đổi quốc tế trở nên phong phú và đa dạng về chủngloại, bao bì, mẫu mã và đặc biệt là chất lượng ngày càng cao, giá thành hạ Bất kỳhàng hóa nào muốn tham gia vào thị trường thế giới đều phải kiểm tra chất lượng.Chẳng hạn, hàng thủy sản của Việt Nam muốn vào được thị trường EU phải đạttiêu chuẩn chất lượng theo HACCP (hệ thống phân tích mối nguy tại điểm kiểmsoát tới hạn).
1.4 Phân loại cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
1.4.1 Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường
- Cạnh tranh giữa những người bán với người bán: : Là cuộc cạnh tranh gay go
và quyết liệt nhất Cuộc cạnh tranh này thường diễn ra trong trường hợp cung lớnhơn cầu Thực chất cạnh tranh giữa những người bán là sự giành giật các lợi thếtrong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ nhằm thu được lợi nhuận lớn nhất
- Cạnh tranh giữa người mua với người mua: Là cuộc cạnh tranh trên cơ sởquy luật cung cầu Khi cung một loại hàng hoá dịch vụ nào đó nhỏ hơn mức cầu thìcuộc cạnh tranh sẽ diễn ra quyết liệt hơn Gía cả hàng hoá và dịch vụ đó sẽ tăngnhanh Kết quả cuối cùng là người bán thu được lợi nhuận cao, tuy nhiên người mualại phải chịu thiệt thòi
- Cạnh tranh giữa người mua với người bán: Là cuộc cạnh tranh diễn ra theoquy luật mua rẻ bán đắt Người bán luôn mong muốn bán hàng hoá của mình vớigiá cao nhất, còn người mua lại muốn mua ở mức giá thấp nhất
1.4.2 Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế.
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, cáccông ty cùng sản xuất một loại hàng hóa nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch, cạnh tranhdưới góc độ chi phí lao động cá biệt nhỏ hơn chi phí lao động xã hội cần thiết sẽ thuđược lợi nhuận siêu ngạch Do vậy để thu được lợi nhuận các doanh nghiệp thi đuacạnh tranh vệ khoa học kỹ thuật, phải luôn cải tiến công cụ sản xuất, máy móc thiết
bị để giúp giảm chi phí sản xuất, từ đó giúp giảm giá thành sản phẩm và nâng caochất lượng
- Cạnh tranh ngoài ngành: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hay đồng minhcác doanh nghiệp của một ngành với những ngành khác nhằm đạt được lợi nhuậncao và tìm kiếm nơi đầu tư có tỷ suất lợi nhuận cao hơn
Trang 13- Rõ ràng giữa các ngành kinh tế do điều kiện kỹ thuật và các điều kiện khácnhau như: nhu cầu, tính chất quan trọng hay không quan trọng, tâm lý nên cùng mộtlượng vốn đầu tư vào ngành này có thể mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn ngànhkhác Điều đó dẫn đến tình trạnh những người sản xuất tại những nơi có tỷ suất lợinhuận thấp có xu hướng chuyển nguồn lực sang đầu tư sản xuất tại những ngành có
tỷ suất lợi nhuận cao hơn, đó chính là biện pháp để thực hiện cạnh tranh giữa cácngành Kết quả là những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ thu hút các nguồn lực,quy mô sản xuất tăng Khi đó cung ứng hàng hóa vượt quá cầu của nó sẽ làm chogiá cả hàng hóa có tỷ suất lợi nhuận cao giảm xuống Điều đó làm giảm tỷ suất lợinhuận, ngược lại những ngành trước đây có tỷ suất lợi nhuận thấp khiến cho một sốnhà đầu tư chuyển sang lĩnh vực khác làm cho quy mô sản xuất của ngành giảm,cung nhỏ hơn cầu nên giá cả hàng hóa tăng nên tỷ suất lợi nhuận tăng
1.4.3 Căn cứ vào thị trường
- Cạnh tranh hoàn hảo:hay gọi là cạnh tranh thuần tuý là tình trạng cạnh tranh
mà giá cả của một loại hàng hoá là không đổi trong toàn bộ các nơi của thị trường
do có nhiều người bán và người mua, họ có đủ thông tin về các điều kiện của thị
trường Thực tế, rất ít tồn tại hình thái cạnh tranh này.
Đặc điểm của thị trường này:
+ Hàng hóa có tính đồng nhất cao, chúng dễ thay thế cho nhau trên thị trường.+ Người mua và người bán đều không ảnh hưởng đến giá cả, thị trường củasản phẩm, tức là phải chấp nhận giá của thị trường
+ Trong thị trường hoàn hảo người mua và người bán tự do tham gia hay rútlui khỏi thị trường mà không bị ràng buộc
- Cạnh tranh không hoàn hảo: là hình thái chiếm ưu thế trong các ngành sảnxuất kinh doanh Ở đó, các nhà sản xuất bán hàng đủ mạnh để chi phối giá cả các
sản phẩm của mình trên thị trường hoặc từng nơi, từng khu vực cụ thể.
Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo (gồm cạnh tranh độc quyền và cạnh
tranh tập đoàn) là loại thị trường mà trong đó chỉ có một số hãng cung ứng toàn bộmức cung ứng của toàn bộ thị trường về mọi loại hàng hóa và dịch vụ nào đó
+ Đặc trưng của thị trường cạnh tranh độc quyền là các doanh nghiệp cạnhtranh với nhau bằng việc bán các sản phẩm phân biệt, các sản phẩm này thay thếcho nhau ở mức độ cao nhưng không phải thay thế hoàn toàn Sự gia nhập hay rút
Trang 14lui vào thị trường dễ dàng.
+ Đặc trưng của thị trường cạnh tranh tập đoàn: Hàng hóa và dịch vụ có thểgiống nhau một ít, có thể khác nhau một ít, các hàng hóa mới khó ra nhập thịtrường Giá cả luôn cứng nhắc, khi chi phí giảm hay cầu thị trường giảm thì cácdoanh nghiệp không muốn giảm giá vì điều đó xảy ra thì cuộc chiến tranh giá sẽ xảy
ra giữa các doanh nghiệp; ngược lại cầu tăng, hay chi phí tăng các doanh nghiệpkhông muốn tăng giá vì các đối thủ cùng tập đoàn không tăng giá
2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh
sản phẩm thủy sản.
2.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Khi nói đến khái niệm năng lực cạnh tranh (sức cạnh tranh) người ta rất khó
có thể định nghĩa chung chung, thông thường định nghĩa về năng lực cạnh tranhthường sẽ định nghĩa cụ thể hơn về phạm vi cũng như cấp độ Khả năng cạnh tranh
là thuật ngữ được dùng để nói đến các đặc tính cho phép một doanh nghiệp cạnhtranh một cách có hiệu quả với các doanh nghiệp khác nhờ có chi phí thấp hoặc sự
vượt trội về công nghệ và kỹ thuật trong so sánh quốc tế Như vậy : “Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp chính là việc có được các lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp đối thủ Cạnh tranh để duy trì vị trí của nó một cách lâu dài trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo thực hiện mức lợi nhuận ít nhất là bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp.”
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triểnkinh tế (OECD) đã lựa chọn một định nghĩa cố gắng kết hợp cho cả doanh nghiệp,
ngành và quốc gia như sau: “Sức cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.” Định nghĩa này đã phản ánh được khái niệm cạnh tranh
quốc gia trong mối liên hệ gắn kết với hoạt động cạnh tranh của các doanh nghiệp,tạo việc làm, tăng thu nhập và mức sống nhân dân
Năng lực cạnh tranh (còn gọi là sức cạnh tranh) là khả năng giành được thịphần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một
phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp (Từ điển thuật ngữ kinh tế học, 2001, NXB Từ điển Bách khoa Hà Nội).
Khái niệm năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa là gì?
Trang 15Năng lực cạnh tranh của một sản phẩm là sự thể hiện thông qua các lợi thế sosánh đối với sản phẩm cùng loại
Lợi thế so sánh của một sản phẩm bao hàm các yếu tố bên trong và bên ngoàitạo nên, như năng lực sản xuất, chi phí sản xuất, chất lượng sản phẩm, dung lượngthị trường của sản phẩm Khi so sánh cùng một loại sản phẩm của hai doanhnghiệp sản xuất khác nhau A, B, và nói rằng sản phẩm A có năng lực cạnh tranhhơn sản phẩm của B là nói đến những lợi thế vượt trội của sản phẩm do A sản xuất,như doanh nghiệp A có năng lực sản xuất lớn hơn, có chi phí sản xuất trên một đơn
vị sản phẩm thấp hơn, dung lượng thị trường chiếm lĩnh được lớn hơn…
Còn nếu so sánh với sản phẩm cùng loại nhập khẩu thì yếu tố lợi thế được thểhiện cơ bản qua giá bán sản phẩm, giá trị sử dụng của sản phẩm và một phần khôngnhỏ là tâm lý tiêu dùng Có thể thấy rằng, khái niệm năng lực cạnh tranh là một kháiniệm động, được cấu thành bởi nhiều yếu tố và chịu sự tác động của cả môi trường
vi mô và vĩ mô Một sản phẩm có thể năm nay được đánh giá là có năng lực cạnhtranh, nhưng năm sau, hoặc năm sau nữa lại không còn khả năng cạnh tranh nếukhông giữ được các yếu tố lợi thế Nhìn chung, các sản phẩm nhóm may mặc, đặcbiệt là hàng may sẵn, hàng tơ tằm và vải dệt kim hiện nay đang có năng lực cạnhtranh cao và trong giai đoạn 2006 - 2010, cơ bản vẫn giữ được mức độ cạnh tranh
2.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của sản phẩm thủy sản
Từ những tìm hiểu về năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa và năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp nói trên, chúng ta có thể hiểu năng lực cạnh tranh củasản phẩm cá tra và cá basa là khả năng cạnh tranh của sản phẩm này trên thị trường
so với các mặt hàng cùng loại của những nước khác Nói đến năng lực cạnh tranh lànói đến những lợi thế của sản phẩm chúng ta, bên cạnh đó cũng không thể khôngnhắc đến những yếu điểm Từ đó, giúp cho năng lực cạnh của sản phẩm cá tra và cábasa trên thị trường ngày càng được nâng cao
Để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm cá tra và cá basa thì chúng tacăn cứ vào những tiêu chí riêng, phù hợp với đặc điểm của sản phẩm Cụ thể chúng
ta sẽ xem xét các tiêu chí đó trong phần sau
3 Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm thủy sản
3.1 Các tiêu chí mang tính định lượng.
3.1.1 Chi phí sản xuất sản phẩm
Trang 16Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí mà doanh nghiệpphải chi ra trong một thời kỳ nhất định để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh.Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm các chi phí sản xuất, muahàng, chi phí bảo quản, chi phí lưu thông, chi phí quản lý Chi phí có ảnh hưởng lớnđến giá thành sản phẩm, nếu chi phí sản xuất thấp, giá thành sản phẩm cũng giảm
đi, do đó chi phí sản xuất cũng có ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh của sảnphẩm, và chi phí sản xuất thấp cũng thể hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.Chi phí thấp chính là bước khởi đầu để có thể cạnh tranh, sự phát triển kinh doanhnăng động mới tận dụng được lợi thế so sánh chi phí để từ đó nâng cao khả năng vềchất, nhờ đó mà nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm Đánh giá năng lựccạnh tranh của sản phẩm dựa trên yếu tố chi phí là đánh giá các chỉ tiêu về chi phíliên quan đến sản phẩm ( giá thành sản phẩm)
3.1.2 Giá bán sản phẩm
Chất lượng và giá cả là hai yếu tố thường xuyên đi liền với nhau Chất lượngsản phẩm có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm, song một sảnphẩm có chất lượng rất tốt nhưng đồng thời giá của nó cao so với sự đánh giá củakhách hàng mục tiêu mà nó nhắm tới thì nó cũng không thể có sức cạnh tranh lớnkhi đưa ra thị trường Do vậy, doanh nghiệp cần có chính sách giá hợp lý mà sảnphẩm lại có chất lượng tốt có thể bán sản phẩm chất lượng tốt với giá rẻ Để đạtđược mục tiêu trên doanh nghiệp cần phải cắt giảm những chi phí không cần thiết,sao cho giá sản xuất sản phẩm thấp, như vậy doanh nghiệp mới có thể hạ giá thànhsản phẩm
Giá thành hàng hoá là giá trị của tất cả các yếu tố đầu vào hình thành nên hànghoá như chi phí nguyên vật liệu, chi phí lương công nhân sản xuất… trên cơ sở đóxác định giá cả của hàng hoá
Muốn giá cả thấp doanh nghiệp phải tìm cách hạ giá thành tức là phải tậndụng hợp lý các nguồn lực sẵn có, đồng thời đổi mới thiết bị và công nghệ sản xuất,nâng cao hiệu quả quản lý… có như vậy mới hạ giá thành từ đó nâng cao năng lựccạnh tranh của hàng hoá
Giá bán = Giá thành sản xuất + Chi phí liên quan + Lợi nhuận dự kiến
Trong nền kinh tế thị trường, khách hàng có quyền lựa chọn cho mình nhữnghàng hoá tốt nhất và cùng một loại hàng hoá thì chắc chắn họ sẽ lựa chọn hàng hoá
Trang 17có giá thấp hơn Vì vậy, giá là công cụ cạnh tranh hữu hiệu trên thị trường Đểchiếm ưu thế trong cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải có các chính sách giá thíchhợp cho từng loại hàng hoá, từng giai đoạn trong chu kỳ sống của hàng hoá hay tuỳthuộc vào đặc điểm của từng vùng thị trường.
3.1.3.Khả năng sinh lợi trên một đơn vị sản phẩm
Lợi nhuận một đơn vị sản phẩm đem lại là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểuhiện kết quả kinh doanh sản phẩm của doanh nghiệp Lợi nhuận không chỉ có ảnhhưởng lớn đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm mà nó còn là động lực, mục tiêucủa cạnh tranh, cạnh tranh chỉ là một trong những cách phổ biến nhất để đạt đượcmục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Năng lực cạnh tranh của sản phẩm bị chi phối bởinăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mà năng lực cạnh tranh của doanh nghiệpchính là khả năng duy trì được lợi nhuận và thị phần trên thị trường Không thể tồntại được lâu dài một sản phẩm có khả năng sinh lời thấp mà lại có năng lực cạnhtranh cao trên thị trường Một sản phẩm không có khả năng sinh lời hay khả năngsinh lời thấp thì sớm muộn cũng sẽ bị thay thế bởi các sản phẩm khác Đồng thời,một sản phẩm có khả năng sinh lời cao sẽ tạo nhiều điều kiện để góp phần cải tiếnsản phẩm, nâng cao chất lượng, hạ giá thành từ đó góp phần nâng cao năng lựccạnh tranh của sản phẩm
3.1.4 Tốc độ tăng doanh thu, tăng thị phần
Tốc độ tăng doanh thu:
Là một chỉ tiêu mang tính tuyệt đối thể hiện sức cạnh tranh của hàng hoá.Hàng hoá mà có sức cạnh tranh lớn sẽ bán được nhiều, làm tăng doanh thu hơnnhững hàng hoá có sức cạnh tranh yếu, sẽ bán được ít
Doanh thu của hàng hóa đạt mức cao trên thị trường chứng tỏ được thị trườngchấp nhận, khách hàng ưa chuộng Sự chấp nhận của khách hàng thể hiện hàng hóađáp ứng nhu cầu của khách hàng Như vậy, tăng doanh thu nghĩa là hàng hóa thoảmãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng, mức độ thoả mãn tốt hơn nhu cầu khách hàngphản ánh sức cạnh tranh của hàng hóa cao hơn
Tăng doanh thu của hàng hóa có thể đạt được thông qua tăng giá bán, trongkhi giữ nguyên số lượng hàng may mặc cung ứng trên thị trường Điều đó khó cóthể xảy ra đối với hàng hóa chưa có thương hiệu nổi tiếng trên thị trường và trongmôi trường tự do hóa thương mại Hơn nữa, khi tự do hoá thương mại diễn ra Xu
Trang 18hướng chung của hàng hóa trên thế giới đều giảm giá bán.
Tăng doanh thu bán hàng bằng cách bán giá thấp hơn và đưa ra thị trường sốlượng hàng hóa lớn hơn, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại Đây chính là
xu hướng chung của các nhà sản xuất và kinh doanh hàng hoá trên thế giới nhằmnâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá
Tốc độ tăng thị phần
Thị phần được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán hàng hóa củadoanh nghiệp so với tổng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loạihàng hóa đó trên một thị trường và trong một thời gian nhất định
Thị phần càng lớn thì nó biểu hiện hàng hoá của doanh nghiệp được nhiềungười tiêu dùng trên thị trường đó chấp nhận Khi đó, sức cạnh tranh của hàng hóa
đó là lớn Còn khi chỉ tiêu này nhỏ thì nó biểu hiện hàng hóa đó của doanh nghiệp
có sức cạnh tranh kém Điều đó buộc doanh nghiệp phải xem xét để cải tiến mặthàng hoặc đưa ra các chính sách sản phẩm khác để nâng cao sức cạnh tranh cho sảnphẩm đó hoặc có thể dừng sản xuất mặt hàng đó nếu không thể cạnh tranh nổi sovới đối thủ
3.2 Các chỉ tiêu định tính.
3.2.1. Chất lượng sản phẩm
Chất lượng của sản phẩm có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh củasản phẩm và cũng là yếu tố quan trọng đầu tiên được sử dụng để đánh giá năng lựccạnh tranh của sản phẩm Chất lượng sản phẩm chịu tác động của nhiều yếu tố nhưmáy móc thiết bị, nguyên vật liệu, trình độ tay nghề của người lao động
Chất lượng sản phẩm được nâng cao dẫn tới tăng tốc độ tiêu thụ tăng, tăngkhối lượng hàng hoá bán ra và kéo dài chu kỳ sống của hàng hoá, từ đó tăng lợinhuận cho doanh nghiệp Khi hàng hoá có chất lượng cao dẫn tới tăng uy tín củadoanh nghiệp từ đó mở rộng thị phần doanh nghiệp góp phần tăng sức cạnh tranhcủa hàng hoá
Vì vậy, chất lượng hàng hoá là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với một doanhnghiệp bởi vì, chất lượng hàng hoá thấp đồng nghĩa với việc giảm uy tín, mất kháchhàng và nhanh chóng phá sản
Để tăng cường khả năng cạnh tranh và thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm trong điềukiện nền kinh tế thị trường hiện đại cạnh tranh gay gắt cần hiểu rõ và đúng đắn hơn
Trang 19về sản phẩm Sản phẩm là sự thỏa mãn nhu cầu nào đó của khách hàng, một sảnphẩm được xác định theo cách nhìn của nhà doanh nghiệp chưa hẳn đã là một sảnphẩm mà khách hàng mong muốn Một sản phẩm tốt theo khách hàng là một sảnphẩm có chất lượng “vừa đủ” Khi đưa một sản phẩm nào đó ra thị trường doanhnghiệp cần nghiên cứu nhu cầu của khách hàng, để đưa ra những sản phẩm phù hợpvới nhu cầu của khách hàng mà doanh nghiệp muốn nhắm tới Bán cái thị trườngcần chứ không phải bán cái doanh nghiệp có Sản xuất một sản phẩm có chất lượngtốt phải theo đánh giá của khách hàng.
3.2.2.Uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp trên thị trường.
Uy tín thương hiệu được hình thành dựa trên chất lượng, các dịch vụ sau bánhàng, thời gian giao hàng,… Một thương hiệu có uy tín với khách hàng thì đồngnghĩa với việc có lợi thế trong cạnh tranh Khách hàng khi đó tin rằng họ đang tiêudùng một hàng hoá có chất lượng cao, các dịch vụ kèm theo tốt…Do đó, hàng hoáđưa ra thị trường có thể nhanh chóng thu hút được người tiêu dùng Điều này sẽgiúp doanh nghiệp giảm một phần chi phí cho việc thu hút khách hàng, khách hàng
sẽ trung thành với thương hiệu hàng hoá hơn Thương hiệu hàng hóa có ảnh hưởngrất lớn đến khả năng phát triển và năng lực cạnh tranh của một sản phẩm Thươnghiệu thường gắn với sản phẩm và được sử dụng để xác định sản phẩm của từngdoanh nghiệp nên khách hàng thường mua sản phẩm thông qua thương hiệu Mộtthương hiệu tốt đồng nghĩa với một sản phẩm tốt và ngược lại người tiêu dùng tìmmua sản phẩm trên cơ sở các mức đọ đánh giá khác nhau về hình ảnh của nhãn hiệutrên thị trường Mức độ chấp nhận thương hiệu tương ứng với mức độ chấp nhậnsản phẩm của doanh nghiệp Như vậy, thương hiệu có tầm quan trọng và ảnh hưởngngày càng lớn đến năng lực cạnh tranh của một sản phẩm
3.2.3 Mức độ hấp dẫn của sản phẩm: bao bì, nhẵn hiệu tới khách hàng
Một sản phẩm chỉ có chất lượng tốt chưa phải là một sản phẩm hoàn thiện, nó
sẽ chỉ đáp ứng, thỏa mãn một nhu cầu của khách hàng mà thôi, trong đó, nhu cầucủa khách hàng ngày càng phong phú đa dạng theo sự phát triển của xã hội Khikhách hàng mua sản phẩm ngoài mục đích giá trị sử dụng của sản phẩm, kháchhàng còn có nhu cầu thể hiện địa vị khi sử dụng sản phẩm Mẫu mã sản phẩm cũngnhư kiểu dáng giúp khách hàng thỏa mãn nhu cầu này, một chiếc xe sang trọng, mộtsản phẩm có bao bì trang trí bắt mắt sang trọng sẽ được khách hàng lựa chọn thay vìphải lựa chọn sản phẩm không được đẹp mặc dù chất lượng có thể hơn hoặc ngang
Trang 20bằng.Mức độ hấp dẫn tạo ra sức cạnh tranh của hàng hoá vì nó mang lại những đặcthù riêng biệt của hàng hoá này so với hàng hoá khác Nhu cầu con người càng đadạng, hàng hoá phải đáp ứng được tính đa dạng trong nhu cầu đó thể hiện những giátrị, yếu tố trong cuộc sống của khách hàng Đặc biệt, với sản phẩm may mặc tínhthời trang nhu cầu về kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm rất cao Chính sự khác biệt củahàng hoá này so với hàng hoá khác đã đem lại những giá trị khác nhau cho nhữnghàng hoá khác nhau Sự khác biệt này tạo ra sức cạnh tranh rất lớn cho hàng hoá Vìvậy, bên cạnh công tác nâng cao chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp cần chú ý tớikiểu dáng, mẫu mã hình thức bên ngoài của sản phẩm tạo nên tính độc đáo hấp dẫncủa sản phẩm, sự khác biệt hóa theo hướng tích cực nhằm nâng cao năng lực cạnhtranh so với sản phẩm của đối thủ.
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm
3.3.1 Nhóm các yếu tốt khách quan
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội thì môi trường bên ngoài doanhnghiệp luôn luôn biến đổi và đã ảnh hưởng không nhỏ đến sức cạnh tranh của hànghoá của doanh nghiệp.Theo M Porter thì có 5 lực lượng tác động đến cạnh tranhcủa doanh nghiệp đó là các nhân tố cạnh tranh liên quan đến cùng một ngành củadoanh nghiệp như về khách hàng, nhà cung ứng, hay đối thủ cạnh tranh trực tiếpđang và sẽ tham gia vào lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp như đối thủ cạnhtranh tiềm tàng, đối thủ cạnh tranh hiện tại và các sản phẩm thay thế
Đối thủ cạnh tranh hiện tại:
Các đối thủ cạnh tranh hiện tại là những công ty, doanh nghiệp đang hoạt độngkinh doanh trong một ngành công nghiệp nhất định, những công ty, doanh nghiệpnày đã vượt qua được những rào cản để xâm nhập vào ngành hoặc những hãngmuốn rút lui khỏi ngành nhưng chưa có cơ hội
Các lĩnh vực cần tìm hiểu về tiềm năng của đối thủ cạnh tranh bao gồm chủngloại sản phẩm, chính sách marketing, tiềm lực tài chính, nguồn nhân lực và trình độquản lý, khả năng về công nghệ, những cơ hội đầu tư, các quan hệ xã hội của đốithủ,…
Những điểm mạnh, điểm yếu; cơ hội và thách thức phản ánh khả năng thíchnghi của đối thủ cạnh tranh trước những thay đổi của môi trường kinh doanh Nếu
Trang 21đối thủ cạnh tranh nào có nhiều điểm mạnh hay cơ hội thì khả năng thích nghi của
họ với những thay đổi của môi trường kinh doanh càng lớn và ngược lại
Khách hàng:
Tất cả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều nhằm làm thỏa mãnnhu cầu của khách hàng Nếu doanh nghiệp nào càng đáp ứng tốt nhu cầu của ngườitiêu dùng so với các đối thủ cạnh tranh thì họ càng nhận được sự ủng hộ và sự trungthành từ phía khách hàng
Trong điều kiện một ngành có sự cạnh tranh gay gắt thì vai trò của khách hàngcàng trở nên quan trọng và cần được ưu tiên hơn Một doanh nghiệp không thể thỏamãn được tất cả nhu cầu của các loại khách hàng Cho nên, nhất thiết các doanhnghiệp phải phân loại khách hàng thành các nhóm khác nhau Trên cơ sở đó mớitiến hành phân tích và đưa ra các chính sách thích hợp để thu hút ngày càng nhiềukhách hàng về phía mình
Các nhà cung ứng:
Các nhà cung ứng bao gồm các nhà cung cấp các yếu tố đầu vào cho hoạtđộng của một số công ty, như các nhà cung cấp vốn, nguyên vật liệu cho sản xuất,nhân công, … Các nhà cung ứng có thể gây một áp lực khá mạnh tới hoạt động củacông ty Cho nên, việc phân tích và tìm hiểu các nhà cung ứng là vấn đề quan trọngtrong quá trình phân tích cạnh tranh
Các nhà cung cấp nguyên, vật liệu cho sản xuất: Những nhà cung ứng này cóthể gây khó khăn cho doanh nghiệp bằng cách tăng giá cung ứng hoặc giảm mạnhchất lượng các yếu tố cung ứng Yếu tố làm tăng thế mạnh của các nhà cung ứngcũng tương tự như yếu tố làm tăng thế mạnh của khách hàng Ví dụ như yếu tố sốlượng người cung cấp ít, không có mặt hàng thay thế khác và không có nhà cungứng chào bán sản phẩm có tính khác biệt Nếu nhà cung ứng có được điều kiệnthuận lợi như vậy thì các doanh nghiệp mua hàng cần cải thiện quan hệ của họthông qua việc tác động vào các yếu tố nói trên
Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn:
Khi một ngành có sự gia tăng thêm số lượng các đối thủ cạnh tranh mới thì hệquả có thể là tỷ suất lợi nhuận bị giảm và tăng thêm mức độ cạnh tranh Các đối thủcạnh tranh mới tham gia vào thị trường sau, nên họ có khả năng ứng dụng nhữngthành tựu mới của khoa học, công nghệ
Trang 22Khi đối thủ cạnh tranh mới xuất hiện thì vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp sẽthay đổi Vì vậy, doanh nghiệp cần phải tự tạo ra một hàng rào ngăn cản sự xâmnhập của các đối thủ mới Những hàng rào này là lợi thế sản xuất theo quy mô, đadạng hóa sản phẩm, sự đòi hỏi có nguồn tài chính lớn, chi phí chuyển đổi mặt hàngcao, khả năng hạn chế xâm nhập các kênh tiêu thụ.
Sản phẩm thay thế:
Nếu không chú ý đến các sản phẩm thay thế tiềm ẩn, doanh nghiệp có thể bịtụt lại ở các thị trường nhỏ bé Vì vậy, các hãng không ngừng nghiên cứu và tung racác mặt hàng thay thế
Phần lớn các sản phẩm thay thế là kết quả của sự phát triển bùng nổ về côngnghệ trong vài thập kỷ trở lại đây Muốn đạt được thành công, các hãng phải luônứng dụng các công nghệ mới vào sản xuất
Chính sách của các cấp chính quyền
Ở mỗi nước có những chính sách riêng biệt để giúp tạo thuận lợi cho khảnăng phát triển ngành nghề, sản phẩm đó ở nước Và các chính sách thì liên tụcđược thay đổi, chỉnh sửa theo từng giai đoạn, thời kì Do đó, việc kịp thời nắm bắt
và hiểu đúng các chính sách sẽ giúp sản phẩm không bị cách chính sách đó làmgiảm khả năng cạnh tranh trên thị trường đó
3.3.2 Nhóm các yếu tố chủ quan
Ngoài các nhân trên ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của doanh nghiệp thì cácnhân tố thuộc bên trong doanh nghiệp cũng ảnh hưởng không nhỏ tới sức cạnh tranhcủa hàng hoá Các nhân tố bên trong doanh nghiệp bao gồm nguồn nhân lực, nănglực tài chính, năng lực về vật chất kỹ thuật, trình độ tổ chức quản lý và một loạt cáchoạt động Maketing, mạng lưới phân phối để đưa sản phẩm tới khách hàng mộtcách tốt nhất
Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là tài sản quý giá của doanh nghiệp, nó ảnh hưởng rất lớn tớikhả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Nguồn nhân lực của công ty bao gồm từ cácnhà lãnh đạo, các nhân viên, người lao động Nếu ban lãnh đạo có trình độ quản lýcao, có nhiều kinh nghiệm kinh doanh trên thương trường, có khả năng đánh giá vàquan hệ đối ngoại tốt thì doanh nghiệp đó sẽ có sức cạnh tranh cao và ngược lạiĐội ngũ nhân viên, người lao động: Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Trang 23chịu sự chi phối của đội ngũ này thông qua các yếu tố: năng suất lao động, trình độtay nghề, ý thức trách nhiệm, kỷ luật lao động, sự sáng tạo…bởi vì các yếu tố nàychi phối tới việc nâng cao chất lượng hàng hoá, giảm giá thành cũng như tạo thêmtính ưu việt, độc đáo, mới lạ của hàng hoá.
Năng lực tài chính
Khả năng tài chính được hiểu là quy mô tài chính của doanh nghiệp và tìnhhình hoạt động Các chỉ tiêu tài chính hàng năm như tỷ lệ thu hồi vốn, khả năngthanh toán… Nếu một doanh nghiệp có tình hình tài chính tốt, khả năng huy độngvốn lớn sẽ cho phép doanh nghiệp có nhiều vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh,đổi mới công nghệ máy móc thiết bị, tăng khả năng hợp tác đầu tư về liên doanhliên kết Tình hình sử dụng vốn cũng sẽ quyết định chi phí về vốn của doanhnghiệp so với đối thủ cạnh tranh
Năng lực về vật chất kỹ thuật
Năng lực về vật chất kỹ thuật thể hiện trình độ công nghệ hiện tại và khả năng
có được các công nghệ đó đồng thời nó thể hiện qui mô, năng lực sản xuất củadoanh nghiệp
Nếu quy mô và năng lực sản xuất lớn sẽ giúp doanh nghiệp tạo ra khối lượnghàng hoá lớn hơn từ đó giảm giá thành tạo thỏa mãn nhu cầu của những khách hàngnhạy cảm về giá, có năng lực vật chất kỹ thuật doanh nghiệp có khả năng đáp ứngnhững nhu cầu của khách hàng nhanh chóng, kịp thời những đòi hỏi mang tính kỹthuật Doanh nghiệp có khả năng chiếm lĩnh thị trường, tăng thị phần và xâm nhậpthị trường sâu hơn đối thủ cạnh tranh.Vì vậy, để đạt hiệu quả cao trong sản xuấtkinh doanh doanh nghiệp phải có được những công nghệ tiên tiến hiện đại, đồngthời tránh lãng phí công suất thiết bị nếu không lúc đó chi phí cố định vào giá thànhcao từ đó làm giảm sức cạnh tranh của hàng hoá
Trình độ tổ chức quản lý
Trình độ tổ chức quản lý thể hiện thông qua cơ cấu tổ chức, bộ máy quản trị,
hệ thống thông tin quản lý, bầu không khí và đặc biệt là nề nếp hoạt động của doanhnghiệp Một doanh nghiệp biết tập hợp sức mạnh đơn lẻ của các thành viên và biếnthành sức mạnh tổng hợp thì doanh nghiệp đó sẽ vững mạnh Doanh nghiệp cầnphải xây dựng cơ cấu phòng ban hợp lý, quyền hạn và trách nhiệm được xác định rõràng Một nề nếp tốt có thể dẫn dắt mọi người tích cực hơn trong công việc và lôikéo họ vào quá trình đạt tới mục tiêu chung của doanh nghiệp Tạo một bầu không
Trang 24khí thoải mái, thân thiện, trách nhiệm có chế độ khen thưởng hợp lý sẽ tạo cho nhânviên có niềm tin vào doanh nghiệp và từ đó có thể giúp họ có nên gắn bó doanhnghiệp, trung thành với công ty hay không Buộc doanh nghiệp phải có chính sáchthu hút nhân tài, cũng như giữ chân nhân tài để họ có thể tự nguyện cống hiến sứcmình cho sự phát triển của doanh nghiệp.
Hoạt đông Marketing, mạng lưới phân phối, công tác bán hàng
Nhiệm vụ chính của Marketing là nghiên cứu, phát hiện các nhu cầu thị hiếu,
nhu cầu thị trường và hoạch định các chiến lược hữu hiệu về sản phẩm, giá cả, phânphối phù hợp với thị trường mà doanh nghiệp đang vươn tới Từ đó, xây dựng mạnglưới phân phối phù hợp để đưa hàng hóa tới người tiêu dùng một cách nhanh nhất
Để tiêu thụ hàng hoá, doanh nghiệp cần lựa chọn các kênh phân phối, từ đó cócác chính sách phân phối sản phẩm hợp lý, hiệu quả đúng nhu cầu của khách hàng.Đối với từng mặt hàng khác nhau doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống phân phốiphù hợp với từng mặt hàng để đạt hiệu quả tối ưu
3.3.3 Nhóm yếu tố về sản phẩm:
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm trước hết phụ thuộc vào chính các đặc tínhcủa sản phẩm như : chất lượng của sản phẩm, kiểu dáng, màu sắc, bao bì nhãn hiệu,tính độc đáo của sản phẩm
Một sản phẩm có năng lực cạnh tranh khi nó có khả năng đáp ứng được nhucầu của khách hàng, trong các loại nhu cầu thì nhu cầu về chất lượng thường là nhucầu được quan tâm đầu tiên khi quyết định mua sản phẩm
Đối với sản phẩm may mặc nhu cầu về hợp thời trang của sản phẩm đóng vaitrò quan trọng, ảnh hưởng không nhỏ tới quyết định mua hàng của người tiêu dùng.Tuy nhiên, bên cạnh chất lượng của sản phẩm thì các yếu tố kèm theo như bao bì,kiểu dáng, màu sắc, tính độc đáo của sản phẩm cũng đóng vai trò rất quan trọngtrong việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của người tiêu dùng, tức đồngnghĩa với việc nó có ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Như vậy, chất lượng của sản phẩm, các yếu tố đi kèm bao gồm kiểu dáng, màusắc, bao bì nhãn hiệu, tính độc đáo của sản phẩm là những yếu tố quan trọng đầutiên có ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của một sản phẩm trên thị trường
4 Khái quát về rào cản kĩ thuật trong thương mại quốc tế của Hoa Kì 4.1 Các rào cản phi thuế quan (NTBs)
Trang 25Rào cản phi thuế quan tthực chất là những biện pháp kỹ thuật hiện đã được rấtnhiều nước phát triển đã áp dụng trong đó quốc gia sử dụng nhiều nhất phải kể đến
là Mỹ, Mỹ đã sử dụng các rào cản phi thuế quan nhằm để thay thế cho các quy địnhcắt giảm thuế quan của WTO Các rào cản thuế quan ngày nay rất đa dạng, các ràocản này bao gồm
- Các biện pháp kỹ thuật
- Các loại thuế và phí trong nước
- Các quy định và thủ tục hải quan
- Các hạn chế trong việc tiếp cận thị trường liên quan đến cạnh tranh
- Các hạn chế về định lượng nhập khẩu
- Các thủ tục và quy trình hành chính (nói chung)
- Các thực tiễn về mua sắm của Chính phủ
- Trợ cấp và các hỗ trợ của Chính phủ
- Các hạn chế về đầu tư hoặc các yêu cầu
- Quy định hoặc chi phí vận chuyển
- Các hạn chế về cung cấp dịch vụ (nói chung)
- Các hạn chế về sự dịch chuyển của các thương nhân hoặc người lao động
- Các công cụ bảo hộ thương mại ( chống bán phá giá, thuế đối kháng, quyền
tự vệ)
- Các quy định của thị trường trong nước
Các hàng rào phi thuế quan khác có thể thấy là Đạo luật chống khủng bố sinhhọc năm 2002 có quy định áp dụng các quy định nghiêm ngặt đối với công ty xuấtkhẩu thực phẩm sang Mỹ, theo đạo luật này, các nhà cung cấp phải đăng ký với cơquan thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) Tất cả các công ty nước ngoài sảnxuất, chế biến, đóng gói các thực phẩm phục vụ cho người và vật nuôi ở Mỹ phảiđăng ký với cơ quan này trước ngày 12/12/2004 Các doanh nghiệp nào không tuânthủ quy định thì hàng hoá của họ sẽ không được phép nhập vào các cảng của Mỹ vàcác nhà xuất khẩu này sẽ phải chịu các chế tài nhất định
4.2 Các rào cản kĩ thuật trong thương mại (TBTs)
Các hàng rào kỹ thuật đề cập tới tiêu chuẩn của hàng hóa mà mỗi nước quyđịnh khác nhau Những tiêu chuẩn này cũng có thể tác động đến việc hạn chế
Trang 26thương mại Các tiêu chuẩn bao gồm các thông số, đặc điểm cho mỗi loại hàng hóa
có thể do các cơ quan chính quyền hoặc các tổ chức tư nhân đặt ra Mặc dù đâykhông phải là quy định bắt buộc nhưng những ai không tuân thủ sẽ bị thị trường tẩychay Các tiêu chuẩn kỹ thuật có thể đòi hỏi các sản phẩm phải đạt được những yêucầu nhất định trước khi được đưa ra thị trường Các thông số kỹ thuật có thể đóngvai trò như các rào cản thương mại, đặc biệt khi nó được quy định khác nhau giữacác nước Và Mỹ đã sử dụng điều này để hạn chế rất nhiều đối với hàng hóa thủysản nhập khẩu từ Việt Nam
Hàng rào kỹ thuật trong thương mại có thể được chia làm 3 nhóm sau:
• Các quy định về dịch tễ vệ sinh an toàn để bảo vệ sức khoẻ cho người, vậtnuôi và cây trồng
• Các biện pháp đối với người tiêu dùng về chất lượng và an toàn thực phẩmbao gồm nhãn mác, đóng gói, dư lượng thuốc trừ sâu, hàm lượng dinh dưỡng và tạpchất
• Các biện pháp thương mại nhằm ngăn chặn gian lận thương mại bao gồm cácchứng từ vận chuyển và tài chính, các tiêu chuẩn nhận dạng và các tiêu chuẩn đo
lường
Trang 27PHẦN II PHÂN TÍCH CÁC RÀO CẢN KĨ THUẬT, NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM CÁ TRA VÀ CÁ BASA TRÊN THỊ TRƯỜNG MỸ
1 Thực trạng xuất khẩu thủy sản nói chung, cá tra và cá basa sang thị
trường Hoa Kỳ
1.1 Tổng quan về thị trường thủy sản Mỹ nói chung, và thị trường cá tra,
cá basa nói riêng.
Mỹ được biết đến là quốc gia đa sắc tộc, có sự đan xen hòa quyện giữa nhiềunền văn hóa khác nhau Chính điều đó đã tạo nên sự đa dạng trong nhu cầu và tậpquán tiêu dùng của người dân Dân tộc Mỹ là dân tộc được biết đến với đặc tínhchuộng mua sắm và tiêu dùng Họ có tâm lý là càng mua sắm và tiêu xài càng nhiềuthì càng kích thích sản xuất và dịch vụ tăng trưởng, do đó nền kinh tế sẽ phát triểnhơn Những đặc điểm riêng về địa lý và lịch sử đã hình thành nên một thị trườngngười tiêu dùng khổng lồ và đa dạng nhất trên thế giới
Đối với các hàng hoá thực phẩm tiêu dùng như thuỷ sản nhu cầu của ngườidân Mỹ cũng rất phong phú và đa dạng Trong những thập niên gần đây, người Mỹ
có khuynh hướng tiêu dung nhiều hải sản thay cho các loại thịt đỏ, vì họ sợ mắc cácbệnh béo phì, cao huyết áp, đột quỵ, mỡ trong máu và trong gan Họ ngày càngquan tâm đến các sản phẩm có chất lượng cao, và có lợi cho sức khỏe
Mỹ là thị trường tiêu thụ thuỷ sản lớn thứ 2 trên thế giới chỉ sau Nhật Bản.Đây là thị trường khổng lồ với mức tiêu thụ thuỷ sản lớn Theo nghiên cứu mới đâycủa Hiệp hội Tiếp thị Thực phẩm và Hiệp hội thịt ở Mỹ, người dân nước này ngàycàng ăn nhiều thuỷ sản để cải thiện sức khoẻ của mình Khi người tiêu dùng Mỹquan tâm nhiều hơn đến các bệnh về tim mạch, dự kiến họ sẽ tiêu thụ cá nhiều hơn
do trong cá có chứa hàm lượng Omega3 và Omega6 giúp bảo vệ tim mạch và trínão Nghiên cứu sức mua thịt hàng năm được tiến hành với 1170 người tiêu dùngtrên toàn quốc cho thấy, 28% người tiêu dùng thường xuyên mua thuỷ sản và 52%người tiêu dùng thỉnh thoảng mua thuỷ sản để cải thiện thói quen ăn uống của mình.Ngoài ra, ở độ tuổi khác nhau, người tiêu dùng cũng có cái nhìn khác nhau về lợiích của thuỷ sản: 40% người tiêu dùng ở độ tuổi 65 và trên 65 thích ăn thuỷ sản,trong khi đó chỉ có 16% người tiêu dùng ở độ tuổi 18 đến 24 thích ăn thuỷ sản Mặc
Trang 28dù tính phổ biến của thuỷ san gia tăng nhưng thịt bò và gia cầm vẫn là thực phẩmchính trong các bữa ăn tối của các gia đình Mỹ.
Người Mỹ ăn 4,1 pound tôm /người trong năm 2008 và 2007, cá ngừ đóng hộpxếp sau tôm với 2,8 pound tăng từ 2,7 pound trong năm 2007 Cá hồi giữ vị trí thứ 3với 1,84 pound giảm xuống từ 2,36 pound trong năm 2007 Ở vị trí thừ 4, cá pôlăcAlaska cũng giảm từ 1,73 pound trong năm 2007 xuống còn 1,34 pound trong năm
2008 Tuy nhiên, cá rô phi lại tăng lên 1,19 pound trong năm 2008 từ 1,14 poundtrong năm 2007 Tiếp theo cá rô phi là cá basa với 0,92 pound, cua 0,61 pound và cátuyết 0,44 pound Sự khác biệt duy nhất trong danh sách giữa 2007 và 2008 là vị trícủa cá bơn và trai tăng lên Cá bơn giữ vị trí thứ 9 với 0,43 pound khi trai giữ vị tríthứ 10 với 0,42 pound
Các mặt hàng thuỷ sản trong và ngoài nước được người tiêu dùng Mỹ ưuchuộng là tôm, cá nước ngọt như cá rô phi, philê tươi và đông lạnh, tôm hùm sống,tươi và ướp lạnh, cá ngừ nguyên con ướp đông lạnh, cá ngừ đóng hộp, cá nheo, cátra , cá basa
Năm 2009, có tới hơn 50 nước và vùng lãnh thổ xuất khẩu thủy sản sang Mỹtrong đó có 10 nước cung cấp hàng đầu gồm Thái Lan, Inđônêxia, Êcuađo, ViệtNam, Trung Quốc, Mêhicô, Malaixia, Ấn Độ, Bănglađét và Guyana (chiếm trên92% thị phần tổng nguồn cung này) Do có nhiều lựa chọn nhập khẩu, và với tậpquán tiêu dùng của mình, Hoa Kỳ có rất nhiều những tiêu chuẩn và rào cản thươngmại đối với các mặt hàng nhập khẩu vào Mỹ nói chung và các mặt hàng thủy sảnnói riêng
1.2.Tình hình xuất khẩu thủy sản nói chung, cá tra và cá basa nói riêng sang thị trường Hoa Kỳ
1.2.1 Về kim ngạch xuất khẩu
Năm 2001, Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kì với khối lượng 70.930 tấn thủysản các loại, trị giá 489.03 triệu USD
Năm 2002, khối lượng các mặt hàng thủy sản xuất khẩu sang Hoa Kì tăng lên98.664 tấn, đạt 654.98 triệu USD, chiếm khoảng32,4% tổng giá trị xuất khẩu củaViệt Nam Hiệp định thương mại song phương Việt Nam- Hoa Kì bắt đầu có hiệulực, theo đó thuế nhập khẩu hàng hóa Việt Nam vào Hoa Kì giảm 30-40 % tạo điềukiện thuận lợi nâng cao tính cạnh tranh về giá cả cho hàng hóa Việt Nam trên thịtrường Hoa Kì