Thứ ba, hoạt động đầu tư giúp các DNBH kinh doanh BHNT thực hiện nghĩa vụ tài chính của mình đối với người tham gia bảo hiểm.. Đối với xã hội và nền kinh tếVai trò của hoạt động đầu tư t
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong các ngành dịch vụ, bảo hiểm là một trong những ngành có nhucầu đầu tư cao Bảo hiểm là một ngành dịch vụ có chu kỳ kinh doanh đảongược, đó là việc người tham gia bảo hiểm phải đóng phí trước và chỉ đượcchi trả tiền bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra Số phí thu được trướccủa khách hàng cùng với vốn điều lệ, lãi chưa sử dụng… đã tạo cho doanhnghiệp bảo hiểm luôn có một nguồn quỹ nhàn rỗi tương đối lớn Vấn đề đặt rađối với doanh nghiệp bảo hiểm là làm sao sử dụng nguồn quỹ này một cáchhiệu quả Từ đó đã nảy sinh hoạt động đầu tư quỹ bảo hiểm Với vai trò bảotồn và phát triển, đầu tư quỹ bảo hiểm đã dần trở thành một hoạt động chínhkhông thể thiếu đối với mỗi doanh nghiệp bảo hiểm Nó giúp các doanhnghiệp bảo hiểm phát triển và đứng vững trong thị trường cạnh tranh ngàycàng khốc liệt hiện nay
Với chức năng huy động số lượng tiền nhỏ từ nhiều cá nhân nhằm hìnhthành một quỹ bảo hiểm tập trung để đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau củanền kinh tế, công ty bảo hiểm, đặc biệt là công ty bảo hiểm phi nhân thọ đãtrở thành một tổ chức, một nhà đầu tư chuyên nghiệp chủ chốt trên thị trườngvốn của nhiều nước Hoạt động đầu tư vẫn là kênh mang lại lợi nhuận chínhcho các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nói chung và Công ty cổ phầnbảo hiểm bưu điện nói riêng Hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảohiểm phi nhân thọ ngày càng khẳng định vai trò của mình Đây thực sự là mộtkênh huy động vốn quan trọng, phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước Cơ cấu vốn đầu tư đã chuyển mạnh từ đầu tư ngắn hạn và chủyếu là gửi tại các tổ chức tín dụng nay chuyển sang đầu tư dài hạn theo cácdanh mục đầu tư như: mua trái phiếu chính phủ, đầu tư trực tiếp các kết cấu
hạ tầng, phát triển sản xuất kinh doanh và phục vụ đời sống…
Trang 2Để làm rõ hơn các vấn đề về hoạt động đầu tư của công ty cổ phần bảo
hiểm bưu điện người viết xin trình bày đề tài: “Hoạt động đầu tư nguồn vốn của công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện – Thực trạng và giải pháp”.
2 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lí luận về bảo hiểm và họat độngđầu tư trong doanh nghiệp bảo hiểm từ đó cho thấy vai trò của họat động đầu
tư đối với công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện PTI
Phân tích thực trạng hoạt động đầu tư nguồn vốn và đánh giá hiệu quảhoạt động đầu tư của công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện PTI nhằm chỉ ranhững điểm mạnh cũng như những khó khăn công ty đang gặp phải trongcông tác đầu tư Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quảđầu tư giúp PTI thể hiện tốt hơn nữa vai trò của một tổ chức trung gian tàichính trên Thị trường Tài chính Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu bám sát mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng họatđộng đầu tư nguồn vốn của công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện PTI, đi sâuvào nghiên cứu cơ cấu nguồn vốn đầu tư, qui trình đầu tư và hiệu quả đầu tưtài chính
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu hoạt động đầu tư của công ty cổ phầnbảo hiểm bưu điện PTI, chủ yếu trong giai đoạn 2006 đến năm 2010
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vậtlịch sử, luận văn đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu trong kinh
tế như: phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và đánh giá, phươngpháp tổng hợp và phân tích …
Trang 3Tất cả các phương pháp này đều được vận dụng tổng hợp để phân tíchthực trạng họat động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ViệtNam.
Nguồn số liệu được sử dụng trong phân tích và đánh giá họat động đầu
tư đảm bảo độ tin cậy và phù hợp với các phương pháp nghiên cứu mà luậnvăn sử dụng
5 Kết cấu luận văn
Tên luận văn: “ Hoạt động đầu tư nguồn vốn của công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện PTI – Thực trạng và giải pháp”.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần phụ lục và danh mục tài liệu thamkhảo, nội dung của luận văn được chia thành ba chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về hoạt động đầu tư của doanh
nghiệp bảo hiểm
Chương 2: Thực trạng hoạt động đầu tư của công ty cổ phần bảo
hiểm bưu điện PTI
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư của
công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện PTI
Trang 4CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG
ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM
1.1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM
1.1.1 Khái niệm về hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp bảo hiểm
Muốn hiểu như thế nào là hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp bảohiểm (DNBH), chúng ta cần phải hiểu đầu tư là gì Đầu tư nói chung là sự hisinh các nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu vềcác kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạtđược các kết quả đó
Như vậy, mục tiêu của hoạt động đầu tư là đạt được các kết quả lớnhơn so với những hi sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khitiến hành đầu tư Nguồn lực phải hi sinh đó có thể là tiền, là tài nguyên thiênnhiên, là sức lao động và trí tuệ Những kết quả tăng thêm là các tài sản tàichính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường sá, bệnh viện, trườnghọc…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, quản lý, khoa học kỹthuật…) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao độngcao hơn trong nền sản xuất xã hội
Bảo hiểm là một hoạt động tương trợ, tương hỗ, được hợp bởi sự tiếtkiệm của nhiều cá nhân nhằm bù đắp những hậu quả thiệt hại do những sựkiện ngẫu nhiên, không lường trước được tác động đến con người hoặc tài sảncủa con người Đặc điểm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm đó là “sự đảongược của chu kì sản suất kinh doanh” Việc tiêu thụ sản phẩm dựa trên quytrình: phí bảo hiểm – tiền bán sản phẩm bảo hiểm được thu trước, còn cam kếtbồi thường, trả tiền bảo hiểm được thực hiện sau khi mua một khoảng thờigian nhất định nào đó Như vậy, từ phí bảo hiểm các DNBH có trong tay một
Trang 5quỹ tài chính rất lớn, nhưng quỹ này cũng không phải là dùng để bồi thường,chi trả tiền bảo hiểm hết một lúc Nhà bảo hiểm có thể sử dụng một phần quỹnày để đem đi đầu tư.
Hoạt động đầu tư trong DNBH là việc DNBH sử dụng các nguồn lựctài chính hiện có trong doanh nghiệp để tiến hành các hoạt động đầu tư nhằmđem lại nguồn lợi nhuận trong tương lai cho doanh nghiệp Như vậy, mục tiêu
mà DNBH tiến hành đầu tư là nhằm thu được hiệu quả về mặt tài chính chodoanh nghiệp, thông qua đó gián tiếp mang lại lợi ích cho xã hội
1.1.2 Đặc điểm hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp bảo hiểm
1.1.3 Vai trò của hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp bảo hiểm
1.1.3.1 Đối với doanh nghiệp bảo hiểm
Ngành kinh doanh bảo hiểm không giống như các ngành sản xuất, kinhdoanh khác Khi một hợp đồng bảo hiểm được kí kết, nhà bảo hiểm tiến hànhthu phí trước của khách hàng Sau đó bằng sự cam kết của mình thông quahợp đồng bảo hiểm các công ty sẽ thực hiện trách nhiệm đối với khách hàng
Vì vậy người ta còn gọi ngành kinh doanh bảo hiểm là ngành có chu trình sảnxuất ngược Nói cách khác, cùng với hoạt động kinh doanh, các công ty bảohiểm luôn luôn phải quản lý một nguồn vốn lớn và ổn định Đây chính là cơ
sở hình thành nên các nguồn vốn nhàn rỗi của các công ty bảo hiểm, hay còngọi là các quỹ dự phòng nghiệp vụ trong các công ty bảo hiểm Theo luật kinhdoanh bảo hiểm thì các công ty bảo hiểm được phép sử dụng nguồn vốn nhànrỗi này để đem đi đầu tư Việc đầu tư các nguồn vốn này vừa là trách nhiệm,vừa là quyền lợi của các công ty bảo hiểm Theo xu hướng thì kết quả kinhdoanh của công ty bảo hiểm không chỉ là do lợi nhuận hoạt động bảo hiểmmang lại, mà chủ yếu là do kết quả hoạt động đầu tư Nhìn chung hoạt độngđầu tư đối với doanh nghiệp bảo hiểm có những vai trò cơ bản sau:
Trang 6Thứ nhất, hoạt động đầu tư ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh
tranh của các công ty bảo hiểm Tỷ suất lợi nhuận cao sẽ giúp công ty bảohiểm có điều kiện giảm phí bảo hiểm, từ đó dành khách từ các đối thủ cạnhtranh Cạnh tranh thông qua phí bảo hiểm chính là cạnh tranh giá của dịch vụbảo hiểm, đây chính là nhân tố được quan tâm hàng đầu đối với tầng lớp dân
cư có mức thu nhập thấp và trung bình Việc tạo ra các sản phẩm bảo hiểmvới mức phí linh hoạt, nhạy cảm với biến động của lãi suất đã làm nảy sinhmối quan hệ qua lại giữa hoạt động đầu tư và hoạt động bảo hiểm
Thứ hai, hoạt động đầu tư chi phối chiến lược thiết kế và bán sản phẩm
thông qua việc định giá các sản phẩm bảo hiểm, mở rộng phạm vi trách nhiệmhay tăng quyền lợi cho khách hàng Điều này cũng có ý nghĩa quan trọngtrong hoạt động cạnh tranh của DNBH
Thứ ba, hoạt động đầu tư giúp các DNBH kinh doanh BHNT thực hiện
nghĩa vụ tài chính của mình đối với người tham gia bảo hiểm Bởi vì BHNTkhông chỉ có tính rủi ro mà còn có tính tiết kiệm Do đó việc đầu tư có hiệuquả tiền phí bảo hiểm không chỉ đơn thuần là phát triển quỹ tài chính mà làtrách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm để đảm bảo trả lãi cho khách hàngnhư đã cam kết
Thứ tư, hoạt động đầu tư giúp các DNBH bù đắp sự mất mát giá của
đồng tiền, bảo toàn quỹ tài chính bảo hiểm trước rủi ro lạm phát
Thứ năm, hoạt động đầu tư đóng góp vào sự tăng trưởng thu nhập và
lợi nhuận của DNBH, từ đó giúp mở rộng quy mô doanh nghiệp, tăng cổ tứccho cổ đông, tăng lương, quỹ khen thưởng phúc lợi cho công nhân viên
Ngoài ra, hoạt động đầu tư còn có một số ý nghĩa khác đối với DNBH.Chẳng hạn như thông qua việc đầu tư bất động sản có thể giúp doanh nghiệpkhuếch trương, quảng cáo công ty Hay thông qua hoạt động cho vay có thểtạo thêm khách hàng cho công ty bảo hiểm (người vay tiền là khách hàng lớncủa bảo hiểm hoặc phải mua bảo hiểm của công ty…)
Trang 71.1.3.2 Đối với xã hội và nền kinh tế
Vai trò của hoạt động đầu tư trong các DNBH đối với nền kinh tế đượcthể hiện rõ nét nhất thông qua việc huy động vốn cho nền kinh tế quốc dân.Bảo hiểm thực chất là hoạt động dịch vụ tài chính và các DNBH thực chất làcác trung gian tài chính Cùng với các trung gian tài chính khác như ngânhàng thương mại, công ty chứng khoán… DNBH sử dụng tiền “nhàn rỗi” đầu
tư cho nền kinh tế DNBH thu hút, cung ứng vốn, góp phần đáp ứng các nhucầu về vốn, thúc đẩy sự luân chuyển, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trongnền kinh tế So với các trung gian tài chính khác, DNBH được coi là có vaitrò quan trọng và có nhiều ưu điểm như: huy động được những nguồn vốnnhỏ từ công chúng…
Ngoài ra, do lĩnh vực đầu tư của các DNBH rất đa dạng, như: mua tráiphiếu, công trái, đầu tư cổ phiếu hay hoạt động kinh doanh bất động sản… Do
đó hoạt động đầu tư của các DNBH có những tác động không nhỏ đến sự pháttriển của các ngành, các lĩnh vực khác trong nền kinh tế, tạo việc làm chongười lao động, làm tăng thu ngân sách nhà nước, tăng tích lũy cho nền kinh
tế quốc dân
1.1.4 Các nguyên tắc đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm
Hoạt động đầu tư luôn luôn phải đối mặt với những rủi ro, cho nên khitiến hành đầu tư phải luôn luôn tuân thủ những nguyên tắc Hoạt động kinhdoanh bảo hiểm, bản thân nó là một sự kinh doanh rủi ro, cho nên hoạt độngđầu tư của doanh nghiệp lại càng cần phải chú trọng vào các nguyên tắc, mộtmặt nhằm tránh cho doanh nghiệp những tổn thất không đáng có, mặt khácquan trọng hơn là đảm bảo được khả năng thanh toán cho khách hàng khi cócác sự kiện bảo hiểm xảy ra
1.1.4.1 Nguyên tắc đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên
Đây là nguyên tắc quan trọng nhất đối với hoạt động đầu tư của
Trang 8DNBH Việc đầu tư của DNBH phải đảm bảo có tính thanh khoản hợp lý.DNBH thu tiền phí của khách hàng trước, rồi mới chi trả tiền bảo hiểm sau.
Do vậy, DNBH có thể phải thanh toán tiền cho người tham gia bảo hiểm bất
kỳ lúc nào khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra Điều bắt buộc đối với mọi DNBH
là phải luôn duy trì khả năng thanh toán trong suốt quá trình hoạt động kinhdoanh bảo hiểm DNBH được coi là có đủ khả năng thanh toán khi đã tríchlập đầy đủ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm và có biên khả năng thanh toánkhông thấp hơn biên khả năng thanh toán tối thiểu Các lĩnh vực đầu tư phảiphù hợp với từng loại quỹ - đầu tư dài hạn hay ngắn hạn Tính thanh khoảncủa các khoản mục đầu tư của DNBH được pháp luật thể chế bằng việc quyđịnh danh mục đầu tư với những tỷ lệ nhất định
1.1.4.2 Nguyên tắc an toàn
Nguyên tắc này được đặt ra nhằm hạn chế tối đa rủi ro trong đầu tư,bảo toàn nguồn vốn sử dụng Hoạt động đầu tư trong DNBH cũng giống nhưbất kỳ hoạt động đầu tư nào, luôn đứng trước những rủi ro đầu tư sau :
Rủi ro lãi suất : Rủi ro này xuất phát từ chỗ giá trị của các khoản đầu tư
có lãi suất cố định chịu sự biến động khi lãi suất trên thị trường thay đổi và tỷsuất thu hồi thực ( tức là lãi suất đã điều chỉnh theo lạm phát ) có thể biến đổimột cách tương tự
Rủi ro tín dụng : Rủi ro này xảy ra khi bên vay vốn của DNBH bị phá
sản hay tái cơ cấu tổ chức, khiến họ không thể trả lại tiền đầu tư cho DNBHnhư đã cam kết
Rủi ro thị trường : Rủi ro này xuất phát từ sự thay đổi của thị trường
thuộc lĩnh vực mà DNBH đầu tư
Rủi ro tiền tệ : Tỷ giá của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ luôn thay
đổi làm cho giá trị của các khoản đầu tư không định giá bằng đồng ngoại tệ sẽthay đổi theo
Trang 9Những rủi ro này tác động rất lớn tới hoạt động đầu tư của DNBH,thông qua đó tác động gián tiếp tới toàn bộ quá trình kinh doanh của doanhnghiệp Việc đảm bảo nguyên tắc an toàn là rất quan trọng đối với DNBH, nóđảm bảo cho doanh nghiệp thực hiện các cam kết với khách hàng trong cáchợp đồng khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Nguyên tắc an toàn của các khoản mụcđầu tư được pháp luật thể chế bằng việc quy định danh mục đầu tư với nhữnglĩnh vực có mức độ rủi ro đầu tư thấp Ngoài ra, nguyên tắc này yêu cầuDNBH phải đa dạng hóa danh mục đầu tư của mình Nguyên tắc phân tán rủi
ro không chỉ áp dụng đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm trực tiếp, màcòn sử dụng đối với cả hoạt động đầu tư của DNBH, bởi vì mỗi danh mục đềumang trong mình những yếu tố rủi ro riêng Do đó để phân tán rủi ro, cách tốtnhất là đặt vốn vào nhiều danh mục khác nhau
1.1.4.3 Nguyên tắc sinh lời
Hoạt động đầu tư phải đảm bảo tạo ra lợi nhuận, đó là mục đích củahoạt động đầu tư Trong hầu hết các doanh nghiệp bảo hiểm, khoản tiền lãithu được từ hoạt động đầu tư đóng góp không nhỏ vào tổng lợi nhuận củatoàn doanh nghiệp Lợi nhuận rất cần thiết để đảm bảo cho DNBH tăng cườngsức mạnh tài chính, thực hiện các chiến lược của doanh nghiệp như: giảm phí,
mở rộng phạm vi bảo hiểm… Do đó người quản lý quỹ BH cần đầu tư vàonhững lĩnh vực đem lại mức lợi nhuận hợp lý, đồng thời đảm bảo nguyên tắc
an toàn Bởi vì theo nguyên lý đầu tư: “Khi rủi ro đầu tư càng cao, tỷ suất lợinhuận đầu tư cũng càng cao và ngược lại.”
Trong thực tế, việc đồng thời thực hiện các nguyên tắc trên đối vớiDNBH là một vấn đề rất phức tạp và mâu thuẫn với nhau Khi DNBH thựchiện nguyên tắc an toàn, khả năng sinh lời của khoản đầu tư bị giảm xuống.Ngược lại, nếu chỉ chú ý đến nguyên tắc sinh lời, rủi ro đầu tư sẽ tăng lên, ảnhhưởng đến khả năng thanh toán của DNBH Ngoài ra, các nguyên tắc đầu tư
Trang 10cần được áp dụng linh hoạt tuỳ thuộc vào vốn đầu tư được hình thành từnguồn nào So với hoạt động đầu tư từ các nguồn vốn tự có (như vốn điều lệ),hoạt động đầu tư từ các nguồn vốn nợ (như các quỹ DPNV) phải tuân thủ cácnguyên tắc trên là hết sức nghiêm ngặt Bởi vì đây không phải là tiền củaDNBH, mà là các khoản nợ của doanh nghiệp đối với khách hàng.
1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM
Hoạt động đầu tư của các DNBH chịu sự tác động của nhiều nhân tố.Xét theo nguồn gốc phát sinh, các nhân tố đó được chia thành các nhân tố bêntrong và các nhân tố bên ngoài
1.2.1 Các nhân tố bên trong
1.2.1.1 Các nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm
Có thể nói nhân tố then chốt quyết định sự lựa chọn các hình thức đầu
tư của công ty bảo hiểm là các nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp, đặc biệt
là nghĩa vụ đối với người được bảo hiểm (khách hàng) Nghĩa vụ này đượcquy định tại các điều khoản hoạt động đầu tư một cách chặt chẽ và có hiệuquả, chính sách đầu tư sao cho thu được lợi nhuận cao nhất trên cơ sở các tàisản tài chính hiện có Đảm bảo khả năng chi trả cho khách hàng là nhân tốquan trọng nâng cao uy tín của doanh nghiệp bảo hiểm Nguồn vốn đem điđầu tư của DNBH phần lớn lấy từ các quỹ DPNV (hoặc nếu là nguồn vốn tự
có thì vốn này cũng nhằm mục đích đảm bảo trách nhiệm chi trả cho ngườiđược bảo hiểm), nên khi đầu tư DNBH không chỉ được tính đến lợi nhuận màđồng thời phải đảm bảo khả năng đáp ứng cao trách nhiệm của doanh nghiệpđối với người được bảo hiểm Bởi vậy, hình thức đầu tư của DNBH sẽ phụthuộc vào bản chất các nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với người được BH
Và mỗi hình thức đầu tư lại có khả năng gặp phải những rủi ro khác nhau Nóicách khác, xét trên quan điểm lựa chọn danh mục đầu tư, không có khái niệmchung về rủi ro đầu tư cho tất cả tiền doanh nghiệp đem đi đầu tư, rủi ro đầu
Trang 11tư tồn tại chỉ liên quan đến các trách nhiệm cụ thể theo hợp đồng BH DNBHcung cấp các loại hợp đồng BH tương tự nhau sẽ có xu hướng gặp phải cácrủi ro đầu tư giống nhau, trong khi đó các công ty bảo hiểm cung cấp các loạihợp đồng bảo hiểm khác nhau sẽ có các rủi ro đầu tư khác nhau Điều này là
do đặc điểm của từng loại hợp đồng bảo hiểm quy định hình thức đầu tư củadoanh nghiệp bảo hiểm, ví dụ như các DNBH nhân thọ thường cung cấp cáchợp đồng bảo hiểm có thời gian dài nên họ sẽ cùng hướng tới những loại hìnhđầu tư dài hạn, đương nhiên sẽ chịu tác động chung của những rủi ro dài hạnnhư : lạm phát, lãi suất…
Ảnh hưởng của nghĩa vụ tài chính đối với khách hàng đến hoạt độngđầu tư của DNBH được thể hiện rất rõ nét thông qua sự khác biệt giữa nghĩa
vụ tài chính của DNBH phi nhân thọ và DNBH nhân thọ
a Nghĩa vụ tài chính của DNBH phi nhân thọ
Nghĩa vụ tài chính của DNBH phi nhân thọ bao gồm 2 loại chủ yếu:
- Nghĩa vụ đối với người được bảo hiểm: thực hiện thông qua việc lập
các quỹ dự phòng nghiệp vụ bao gồm:
+ Dự phòng bồi thường: cho các khiếu nại đã xảy ra nhưng chưa giải
quyết, kể cả các khiếu nại đã xảy ra nhưng chưa có thông báo Những dự báo
về mức thanh toán khiếu nại trong tương lai thường không chắc chắn kể cả dựđoán về thời gian xảy ra khiếu nại lẫn số tiền phải trả cho việc giải quyếtkhiếu nại Chính sự không chắc chắn này là một nhân tố quan trọng ảnhhưởng đến chính sách đầu tư Do một DNBH phi nhân thọ có thể phải đối mặtvới tình trạng mức khiếu nại tăng cao một cách bất thường và do sức ép củacạnh tranh đòi hỏi công ty phải thanh toán các khoản khiếu nại trong thời gianngắn, nên thông thường DNBH phi nhân thọ phải đầu tư một tỷ lệ đáng kểvào những tài sản có tính thanh khoản cao để đảm bảo chi trả cho các khoảnbồi thường này
Trang 12Tính thanh khoản của tài sản đầu tư có 2 đặc điểm:
Thứ nhất: không bị biến động lớn về giá trong thời gian ngắn, từ đó làm
giảm rủi ro đầu tư
Thứ hai: Tồn tại một thị trường để có thể chuyển đổi tài sản đó thành
tiền mặt nhanh chóng khi phải bán gấp
Vì vậy, các DNBH phi nhân thọ có xu hướng nắm giữ trái phiếu ngắnhạn và dễ bán cũng như các công cụ của thị trường tiền tệ để đảm bảo chonhững trách nhiệm bồi thường sau này Yêu cầu về tính thanh khoản đặt racho các DNBH phi nhân thọ nhận bảo hiểm cho các rủi ro lớn sẽ cao hơn sovới các doanh nghiệp chủ yếu nhận tái bảo hiểm sẽ quan tâm nhiều hơn đếnrủi ro thanh khoản so với các doanh nghiệp bảo hiểm gốc
+ Dự phòng phí bảo hiểm cho các trách nhiệm chưa hoàn thành: Vì phíbảo hiểm thường được trả trước và trách nhiệm của DNBH với người đượcbảo hiểm chưa kết thúc ngay Dự phòng phí có thể dự tính được và tương đối
ổn định Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các DNBH phi nhân thọ kinhdoanh nhiều loại hình bảo hiểm, tạo sự ổn định cho chính sách đầu tư củadoanh nghiệp
+ Dự phòng cho các dao động lớn về tổn thất: Mục đích của dự phòngnày là dùng để bồi thường cho người được bảo hiểm trong trường hợp mức độtổn thất vượt ngoài dự kiến Dự phòng dao động lớn thường có mối liên hệvới quy mô số tiền bảo hiểm mà DNBH nhận bảo hiểm và được trích lại theoquy định của luật bảo hiểm của từng nước hay theo tập quán của thị trường.Trên thực tế, dự phòng này về hình thức gần giống với vốn của công ty Do
đó, ảnh hưởng của nó đối với hoạt động đầu tư của DNBH có đặc điểm mộtnửa giống trách nhiệm đối với người được bảo hiểm và một nửa giống tráchnhiệm đối với cổ đông góp vốn vào công ty BH
Trang 13Nghĩa vụ đối với cổ đông của DNBH: Vốn chủ sở hữu của một DNBH
phi nhân thọ thường được đầu tư vào các tài sản có tỷ suất lợi nhuận cao mặc
dù các tài sản này có thể có rủi ro thua lỗ và rủi ro thanh khoản cao hơn sơ vớicác tài sản khác Việc đầu tư từ nguồn vốn này ít bị hạn chế hơn so với đầu tư
từ quỹ của người được bảo hiểm Tuy nhiên, ở mức độ nào đó các DNBHcũng quan tâm đến rủi ro thanh khoản của các tài sản đầu tư mà doanh nghiệpnắm giữ vì vốn chủ sở hữu chính là chỗ dựa cuối cùng của DNBH để giảiquyết cho các vụ khiếu nại rất lớn có thể xảy ra trong tương lai Vốn chủ sởhữu cũng phục vụ mục tiêu tài trợ cho việc phát triển kinh doanh lâu dài, vìvậy nguồn vốn đó được ưu tiên sử dụng để đầu tư vào các tài sản có khả năngthu lợi nhuận cao, đảm bảo giá trị của vốn chủ sở hữu tăng lên theo thời gian,hay ít nhất cũng theo kịp với tốc độ tăng trưởng kinh doanh
Mối quan hệ qua lại giữa việc đầu tư vốn và các quỹ của người đượcbảo hiểm cũng cần được xem xét, vì trên thực tế việc đầu tư từ 2 nguồn quỹnày không hoàn toàn độc lập với nhau Tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu và quản lýdoanh nghiệp càng lớn thì những người quản lý doanh nghiệp càng ít lo ngại
có rủi ro Vì vậy họ sẽ ít thận trọng hơn trong chính sách đầu tư so với mộtDNBH có vốn chủ sở hữu tương đối nhỏ
Nhìn chung, hoạt động đầu tư các quỹ của DNBH phi nhân thọ cónhững đặc điểm cơ bản sau:
+ Quy mô quỹ bảo hiểm phi nhân thọ nhỏ hơn các quỹ bảo hiểm nhânthọ tính theo phí bảo hiểm Do đó, việc lựa chọn đầu tư của các DNBH phinhân thọ là rất hạn chế
+ Đầu tư ở nước ngoài của quỹ bảo hiểm phi nhân thọ thường quantrọng hơn so với bảo hiểm nhân thọ, vì quỹ bảo hiểm phi nhân thọ hình thành
từ phí bảo hiểm phi nhân thọ không mang tính tiết kiệm nên ít chịu sự kiểmsoát đầu tư ra nước ngoài hơn so với bảo hiểm nhân thọ Các DNBH phi nhân
Trang 14thọ có xu hướng đầu tư ở thị trường nước ngoài để tìm kiếm lợi nhuân đầu tưcao hơn.
+ Dù có tái bảo hiểm, nhưng các DNBH phi nhân thọ vẫn phải đềphòng thảm họa xảy ra, khi đó có thể cần một lượng tiền lớn trong một thờigian ngắn để thanh toán khiếu nại Điều này giải thích tại sao các quỹ củaDNBH phi nhân thọ thường được dùng để thực hiện những khoản đầu tư ngắnhạn và có tính thanh khoản cao
b Nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ
Tương tự như với DNBH phi nhân thọ, DNBH nhân thọ cũng có 2 loạinghĩa vụ tài chính chủ yếu:
Trách nhiệm đối với người tham gia bảo hiểm;
Trách nhiệm đối với cổ đông
Vốn chủ sở hữu của DNBH nhân thọ khác với vốn chủ sở hữu củaDNBH phi nhân thọ ở chỗ nó thuộc sở hữu của các cổ đông và cả nhữngngười tham gia bảo hiểm được quyền chia lãi Trong một DNBH tương hỗ sốvốn này hoàn toàn thuộc sở hữu của những người tham gia bảo hiểm đượcquyền chia lãi
Bản chất của nghĩa vụ tài chính đối với người tham gia bảo hiểm ởDNBH nhân thọ có ảnh hưởng lớn đến chính sách đầu tư của doanh nghiệp,đặc biệt là đến việc lựa chọn các tài sản được coi là đảm bảo cho các nghĩa vụ
đó Nhìn chung, nghĩa vụ tài chính với người tham gia bảo hiểm của DNBHnhân thọ có thời hạn dài hơn so với DNBH phi nhân thọ, đặc biệt là đối vớicác nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ có liên quan đến việc cung cấp sản phẩmtiết kiệm và hưu trí dài hạn Điều này có nghĩa là giới hạn thời gian cho việcđầu tư các quỹ của người tham gia bảo hiểm nhân thọ dài hơn nhiều so vớiquỹ của người tham gia bảo hiểm phi nhân thọ
Trang 15Ngoài ra, luồng tiền thu vào từ phí bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọcũng tương đối ổn định do phí đã được tính từ trước và thường được thu định
kỳ Việc trả tiền bảo hiểm và khoản chi khác trong bảo hiểm nhân thọ cũng cóthể được tính toán trước khá chính xác Chính sự kết hợp giữa tính dài hạncủa các trách nhiệm với tính ổn định của luồng tiền thu chi tạo điều kiện chocác DNBH nhân thọ yên tâm, không phải lo lắng quá nhiều về tính thanhkhoản của các tài sản trong danh mục đầu tư
Các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ truyền thống như bảo hiểm trọn đời,bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp và bảo hiểm niên kim thường đưa ra một lãi suấtđảm bảo khi thiết kế sản phẩm Những đảm bảo về lãi suất này thường đượcngầm định khi các chuyên viên định phí bảo hiểm xác định giá của sản phẩm,theo đó phí bảo hiểm đem đầu tư ít nhất phải thu đươc mức lãi xuất đảm bảonày Lãi suất đảm bảo càng gần với tỷ lệ lãi suất dự tính trong tương lai thì nócàng trở thành một nhân tố hạn chế sự lựa chọn đầu tư Khi bán những sảnphẩm bảo hiểm như vậy, rủi ro về lãi suất sẽ là mối quan tâm chính Vì vậy,các DNBH nhân thọ thường ấn định lãi suất cố định thông qua việc nắm giữcác chứng khoán có tỷ lệ lãi suất cố định, có thời hạn tương ứng với thời hạnbảo hiểm, nhằm giảm bớt nguy cơ xảy ra tình trạng lãi suất bị giảm trongtương lai, làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng các nghĩa vụ của doanhnghiệp theo hợp đồng ký với người tham gia bảo hiểm
Trong khi các DNBH nhân thọ ít nhất quan tâm đến tính thanh khoảncủa tài sản đầu tư (trừ các tài sản liên quan tới hợp đồng niên kim) thì trongmột số trường hợp, mối quan tâm này lại nảy sinh từ các cam kết khác củadoanh nghiệp đối với người tham gia bảo hiểm Đó là trường hợp khi DNBHdựa vào hợp đồng các giá trị hoàn phí (giá trị giải ước) ở mức cao có đảmbảo, đặc biệt là khi hợp đồng cho phép người tham gia bảo hiểm được vaytrong giới hạn giá trị hoàn phí với lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất thị trường
Trang 16trong tương lai Trên thực tế, các giá trị hoàn phí này chính là các đảm bảo vềvốn và khi hợp đồng có quy định về giá trị hoàn phí, công ty bảo hiểm buộcphải quan tâm đến rủi ro thanh khoản của tài sản đầu tư Đảm bảo về vốncàng cao dù theo thị trường thì mối quan tâm về tính thanh khoản sẽ càng lớn.
Nếu các DNBH nhân thọ phát hành hợp đồng bảo hiểm hưu trí mà quyđịnh quyền lợi BN gắn với tiền lương cuối cùng trong thời hạn dài thì phải hếtsức quan tâm đến tỷ suất lợi nhuận từ tài sản đầu tư ít nhất tương đương với tỷ
lệ lạm phát của tiền lương Bởi vì trong hợp đồng bảo hiểm không có điềukhoản nào cho phép nâng phí bảo hiểm lên trong tương lai nếu tỷ suất lợinhuận đầu tư không đạt được như mục tiêu đề ra
Trong những năm gần đây, ở một số thị trường bảo hiểm xuất hiện một
xu hướng mới là các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ gắn với đầu tư Những hợpđồng này có đặc điểm tương đối khác so với các hợp đồng bảo hiểm nhân thọhiện đang được bán Ở đây, DNBH không chịu rủi ro đầu tư vì người thamgia bảo hiểm đứng ra cam kết chịu những rủi ro đó Những người tham giabảo hiểm muốn tự mình gánh chịu rủi ro để mong nhận được lợi nhuận đầu tưcao hơn cũng như để có thể lựa chọn danh mục đầu tư có những đặc tính khácvới danh mục đầu tư của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thông thường
Nhìn chung, hoạt động đầu tư các quỹ bảo hiểm nhân thọ có những đặcđiểm sau đây:
- Các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thường có thời gian dài, cho nênchịu ảnh hưởng lớn về sự thay đổi của lãi suất và lạm phát Do vậy hoạt độngđầu tư quỹ phải đặc biệt chú ý đến đặc điểm này
- Do tính chất dài hạn của các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và nhu cầuchi trả có thể dự đoán khá chính xác, nên các quỹ bảo hiểm nhân thọ thườngđược đầu tư vào các loại chứng khoán dài hạn
Trang 17- Thu tiền mặt của DNBH nhân thọ thường lớn hơn các khoản chi.Ngoài ra, các khiếu nại phát sinh có thể được thanh toán đủ từ phí bảo hiểm
và thu nhập từ đầu tư trong năm Do đó, DNBH nhân thọ ít có nhu cầu đầu tưvào chứng khoán ngắn hạn
- Theo nghiên cứu của các chuyên gia tính phí, một hợp đồng bảo hiểmphù hợp với DNBH nhân thọ là một hợp đồng mà thanh toán đáo hạn của hợpđồng trùng hoặc gần trùng với ngày đáo hạn của các khoản đầu tư
1.2.1.2 Quy mô của doanh nghiệp bảo hiểm
Quy mô của doanh nghiệp bảo hiểm cũng có ảnh hưởng đến sự lựachọn hình thức đầu tư :
- Các DNBH có quy mô lớn sẽ có vốn đầu tư lớn, có khả năng đầu tưvào nhiều danh mục khác nhau, đặc biệt là khi có quy định tỷ lệ đầu tư tốithiểu với một số lĩnh vực như bất động sản, trái phiếu Chính phủ
- Tương tự như vậy, mức độ thanh khoản của các tài sản tài chính sẽphụ thuộc vào quy mô đầu tư vào tài sản đó của DNBH so với quy mô củatoàn thị trường Ví dụ, đối với một DNBH nhỏ, do tài sản đầu tư có giá trịnhỏ, khi cần họ có thể bán ngay ra thị trường mà không lo làm rối loạn thịtrường (bán ít nên khó có thể bị giảm giá), đảm bảo tính thanh khoản để cótiền mặt chi tiêu Trong khi đó, đối với một DNBH lớn nắm giữ một giá trịlớn cùng loại tài sản đầu tư đó, khi cần nếu bán hết ra thị trường có thể bị ảnhhưởng đáng kể, do khi bán với số lượng lớn thường bị giảm giá Trong trườnghợp này, tài sản đầu tư có thể coi là không có đủ tính thanh khoản cần thiết
Do vậy, khi tiến hành hoạt động đầu tư, DNBH phải lựa chọn danh mục đầu
tư phù hợp cũng như phải duy trì khả năng thanh toán nhanh của mình, đảmbảo luôn có một số lượng tiền mặt đủ lớn để chi tiêu
1.2.1.3 Chính sách phân phối lợi nhuận
Nhân tố này chỉ ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư của các DNBH kinhdoanh BHNT, khi DNBH ký kết những hợp đồng có cam kết chia lãi:
Trang 18- Nếu thị trường bảo hiểm địa phương có tập quán phân chia lợi nhuậncho người tham gia BH dưới hình thức chia lãi tiền mặt hàng năm, thì DNBH
sẽ chú trọng hơn vào mức thu nhập ngắn hạn từ việc đầu tư
- Ngược lại, nếu việc phân phối lợi nhuận cho người tham gia BHNTđược thực hiện chủ yếu dưới hình thức bổ sung vào số tiền được bảo hiểmhoặc trả luôn khi hết hạn hợp đồng, DNBH ít quan tâm đến lợi nhuận đầu tưngắn hạn mà sẽ tập trung vào đầu tư dài hạn
1.2.1.4 Các quan điểm đầu tư của người quản lí đầu tư
Hoạt động đầu tư của DNBH chịu tác động của nhiều nhân tố, nhưngsuy cho cùng, quyết định đầu tư cuối cùng: Đầu tư vào đâu, giá trị đầu tư làbao nhiêu… là do người chịu trách nhiệm quản lý hoạt động đầu tư quyếtđịnh trong khuôn khổ Pháp luật cho phép Nếu người quản lý đầu tư là nhữngngười thận trọng, họ thiên về lựa chọn những danh mục đầu tư có mức độ rủi
ro thấp Ngược lại, nếu người quản lý đầu tư là người mạo hiểm, họ có thểlựa chọn những danh mục đầu tư có mức độ rủi ro cao hơn như cổ phiếu công
ty, để tìm kiếm tỷ suất lợi nhuận cao
Thực tế cho thấy quan điểm quản lý đầu tư ở các thị trường bảo hiểmkhác nhau là khác nhau Do cùng chịu một sức ép, các chính sách đầu tư nhìnchung có xu hướng tương tự nhau giữa các DNBH hoạt động trên cùng mộtthị trường
Thực tế cũng cho thấy các quan điểm đầu tư không tách biệt với bốicảnh quy mô và mức độ phát triển của thị trường vốn Các thị trường có quy
mô lớn thường có sự tham gia tích cực của các công ty bảo hiểm Các khuvực tài chính tự do hơn và năng động hơn sẽ tạo ra các tập quán quản lý đầu
tư thiếu thận trọng hơn
1.2.2 Các nhân tố bên ngoài
Hoạt động đầu tư của DNBH cũng như bất kỳ họat động kinh tế nào
Trang 19luôn chịu tác động của các nhân tố môi trường bên ngòai, bao gồm: Môitrường pháp lý, môi trường kinh tế xã hội, thị trường tài chính trong nước vàquốc tế Trong đó, phải kể đến một số nhân tố cụ thể sau:
1.2.2.1 Sự quản lý của Nhà Nước
Việc DNBH được phép đầu tư vào những lĩnh vực nào, giá trị đầu tư làbao nhiêu, thông thường đều bị pháp luật các nước khống chế Sự quản lý củanhà nước đối với hoạt động đầu tư của DNBH cũng phải thông qua pháp luật.Ngoài ra, Nhà nước còn định hướng đầu tư, đưa ra những danh mục đầu tư đểDNBH lựa chọn Thậm chí còn giới hạn mức đầu tư tối đa, tối thiểu
Nhà nước phải quản lý chính sách đầu tư của các DNBH vì :
- Bảo vệ người tham gia bảo hiểm : Việc quản lý của Nhà nước đối vớicác DNBH trong việc lựa chọn hình thức đầu tư nhằm giảm bớt khả năng cácdoanh nghiệp này lâm vào tình trạng phá sản và để đảm bảo nếu xảy ra phásản thì người tham gia bảo hiểm sẽ bị thiệt hại ít nhất
- Định hướng sự lưu chuyển của các quỹ đầu tư : Ở những nước kinh tếphát triển, các DNBH đặc biệt là các DNBH nhân thọ, quản lý một tỷ lệ khálớn cổ phiếu và tiền tiết kiệm cá nhân dài hạn Vì vậy, đôi khi Chính phủ cácnước này thấy họ cần phải định hướng sự luân chuyển của số cổ phiếu và tiềntiết kiệm này để phục vụ cho mục tiêu kinh tế cao hơn của Chính phủ Địnhhướng nhằm mục tiêu sau:
+ Đảm bảo có đủ nguồn vốn để tài trợ cho các chương trình chi dùngvốn cá nhân và công cộng
+ Đảm bảo để các quỹ được đầu tư vào nền kinh tế trong nước
+ Bổ sung vào thâm hụt ngân sách của Chính phủ
- Giảm nguy cơ tập trung quyền lực trong lĩnh vực tài chính Chính phủ
cố gắng đưa ra giới hạn đối với chiến lược đa dạng hóa đầu tư của DNBHnhằm ngăn chặn doanh nghiệp này sử dụng các nguồn lực tài chính của họ đểkiểm soát các tổ chức tài chính khác
Trang 20Hiện nay ở Việt Nam, Nghị định 46/2007/NĐ - CP quy định giới hạnđầu tư trong các DNBH như sau:
+ Đối với DNBH nhân thọ :
Mua trái phiếu, cổ phiếu, trái phiếu doanh ngiệp có bảo lãnh, gửi tiềntại tổ chức tín dụng không hạn chế
Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp không có bảo lãnh, góp vốnvào DN khác tối đa là 50% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ BH
Kinh doanh bất động sản, cho vay tối đa 40% vốn nhàn rỗi từ dựphòng nghiệp vụ bảo hiểm
+ Đối với DNBH phi nhân thọ :
Mua trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh, gửitiền tại các tổ chức tín dụng không hạn chế
Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh ngiệp không có bảo lãnh, góp vốn vào
DN khác tối đa là 35% vốn nhàn rỗi từ DPNV BH
Kinh doanh bất động sản, cho vay tối đa 20% vốn nhàn rỗi từ dựphòng nghiệp vụ BH
1.2.2.2 Thị trường tài chính trong nước
Quy mô thị trường vốn và thị trường tài chính trong nước có tác độngquan trọng đối với lựa chọn đầu tư Các thị trường vốn được tổ chức tốt có thểcung cấp một phạm vi rộng rãi các tài sản tài chính và điều này được thể hiệntrong danh mục đầu tư của các công ty bảo hiểm Nếu thị trường vốn chưaphát triển đầy đủ, sự lựa chọn hình thức đầu tư sẽ bị hạn chế Điều này đượcthể hiện rất rõ ở thị trường Việt Nam trong những năm qua Có thể nói nhữngnăm trước đây, các DNBH ở Việt Nam gần như không có các cơ hội đầu tưcho mình ngoài gửi tiền tại ngân hàng và một phần nhỏ kinh doanh bất độngsản Hiện nay, chúng ta đã có thị trường chứng khoán, nhưng quy mô thịtrường này vẫn còn rất khiêm tốn Đây là một thực tế tác động bất lợi tới hoạt
Trang 21động đầu tư của các DNBH trong nước, ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranhcủa doanh nghiệp trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt của thị trường bảo hiểmhiện nay.
1.2.2.3 Chế độ thuế
Thuế là một nhân tố bên ngoài quan trọng có ảnh hưởng đáng kể đếnhoạt động đầu tư của DNBH, cụ thể :
- Để khuyến khích tăng đầu tư cho nền kinh tế, các Chính phủ thường
ưu đãi không đánh thuế đối với lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp nếu lợinhuận được đem tái đầu tư Khi Nhà nước áp dụng chính sách thuế này, cácDNBH sẽ có xu hướng để lại nhiều lợi nhuận sau thuế, bổ sung vốn điều lệ,tăng vốn đầu tư cho doanh nghiệp
- DNBH sẽ tăng giá trị đầu tư vào những lĩnh vực được Nhà nướckhuyến khích thông qua việc cắt giảm thuế Thông thường, để thu hút vốn đầu
tư vào những lĩnh vực phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội củađất nước, Nhà nước thường sử dụng công cụ thuế
Thuế sẽ ảnh hưởng đặc biệt tới việc lựa chọn hình thức đầu tư khi Nhànước có những ưu đãi thuế riêng cho các DNBH so với các nhà đầu tư khác
1.3 TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ VÀ CÁC HÌNH THỨC ĐẦU
TƯ CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM
1.3.1 Nguồn vốn đầu tư
Trong bất cứ hoạt động đầu tư nào, bao giờ vấn đề vốn đầu tư cũngđược đặt lên hàng đầu, bởi vì chỉ khi có nguồn vốn đầu tư thì hoạt động đầu
tư mới được tiến hành Với vai trò quyết định quy mô của hoạt động đầu tư,nguồn vốn này được cấu thành từ nhiều bộ phận Đối với doanh nghiệp bảohiểm, nguồn vốn đầu tư cũng được huy động từ nhiều nguồn, mang đặc trưngcủa hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Trang 221.3.1.1 Vốn điều lệ
Vốn điều lệ của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảohiểm là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong mộtthời hạn nhất định và được ghi vào điều lệ doanh nghiệp bảo hiểm, doanhnghiệp môi giới bảo hiểm
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môigiới bảo hiểm phải luôn duy trì mức vốn điều lệ đã góp không thấp hơn mứcvốn pháp định và phải được bổ sung tương xứng với nội dung, phạm vi và địabàn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trong hoạt động kinh doanh, DNBH thu tiền phí BH từ khách hàngtrước, sau đó mới dùng tiền này để chi trả bồi thường khi có sự kiện BH xảy
ra Như vậy, họ có thể không cần nguồn vốn trước hoặc cần nhưng rất ít chohoạt động kinh doanh Tuy nhiên, trong thực tế, pháp luật lại quy định vốnpháp định cho các DNBH là tương đối lớn Ở Việt Nam hiện nay, theo Nghịđịnh số 46/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 3 năm 2007 quy định vốn pháp địnhnhư sau :
- Kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ là 300 tỷ VNĐ
- Kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là 600 tỷ VNĐ
- Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm mức vốn pháp định là 4 tỷ VNĐ
Sở dĩ nhà nước yêu cầu vốn pháp định của các DNBH cao như vậy lànhằm bảo vệ quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm Giống như các tổ chứctrung gian tài chính khác, khi DNBH làm ăn không có hiệu quả, không còn đủtiền để trả cho khách hàng, Nhà nước sẽ lấy tiền từ vốn điều lệ của doanhnghiệp để giải quyết cho họ
DNBH thường phải ký quỹ một phần vốn điều lệ của doanh nghiệp tuỳtheo quy định của pháp luật (ở Việt Nam hiện nay là 2% vốn pháp định), phầncòn lại họ có thể đem đầu tư để sinh lời Trong DNBH, nguồn vốn đầu tư này
Trang 23chiếm tỷ trọng chưa phải là lớn nhất nhưng cũng khá quan trọng Nó là vốn tự
có của doanh nghiệp nên không chịu sự kiểm soát chặt chẽ của pháp luật, tạođiều kiện cho DNBH đầu tư vào những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận cao
1.3.1.2 Quỹ dự trữ bắt buộc và quỹ dự trữ tự nguyện
DNBH cũng như các trung gian tài chính khác có chức năng quan trọnglưu chuyển vốn từ nơi dư thừa đến nơi thiếu thông qua việc thu phí bảo hiểmcủa người tham gia bảo hiểm và đầu tư nguồn phí đó một cách có hiệu quả.Nhưng trong quá trình hoạt động kinh doanh, bản thân doanh nghiệp bảohiểm cũng có thể gặp những rủi ro, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán củadoanh nghiệp và suy cho cùng là ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham giabảo hiểm Chính vì vậy để quản lý DNBH và đảm bảo khả năng thanh toáncho doanh nghiệp, Nhà nước yêu cầu DNBH phải trích lập các quỹ dự trữ bắtbuộc Ở Việt Nam, Luật bảo hiểm quy định các DNBH phải trích 5% lợinhuận sau thuế hàng năm để lập quỹ dự trữ bắt buộc Mức tối đa của quỹ dựtrữ bắt buộc bằng 10% vốn điều lệ của DNBH
Trong quá trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm, DNBH phải luôn duytrì được khả năng thanh toán của mình Ngoài quỹ dự trữ bắt buộc theo yêucầu của pháp luật, DNBH có thể tự thành lập quỹ dự trữ tự nguyện nhằm tăngkhả năng thanh toán của doanh nghiệp Nguồn hình thành quỹ dự trữ tựnguyện được lấy từ lợi nhuận sau thuế chưa phân phối và phải được ghi trongđiều lệ hoạt động của doanh nghiệp
Các quỹ dự trữ bắt buộc và tự nguyện là một nguồn vốn đầu tư chiếm
tỷ trọng nhỏ, nhưng cũng góp phần làm tăng doanh thu và lợi nhuận choDNBH
1.3.1.3 Nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm
Dự phòng nghiệp vụ (DPNV) là khoản dự trữ liên quan đến từngnghiệp vụ bảo hiểm, được trích lập và hạch toán vào chi phí kinh doanh nhằm
Trang 24mục đích thanh toán các trách nhiệm đã được xác định trước và phát sinh từhợp đồng bảo hiểm đã được ký kết Các quỹ DPNV là một đặc thù của hoạtđộng kinh doanh bảo hiểm DNBH phải lập ra các quỹ DPNV để chi trả, bồithường cho khách hàng khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra Các quỹ DPNV củaDNBH gồm:
CP ngày 27/03/2007, nguồn vốn từ dự phòng nghiệp vụ của doanh nghiệp bảohiểm là tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm trừ đi các khoản tiền mà doanhnghiệp bảo hiểm dùng để bồi thường bảo hiểm thường xuyên trong kỳ đối vớibảo hiểm phi nhân thọ (BH PNT), trả tiền bảo hiểm thường xuyên trong kỳđối với bảo hiểm nhân thọ Khoản tiền dùng để bồi thường bảo hiểm thườngxuyên trong kỳ đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọkhông thấp hơn 25% tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm và được gửi tại các
Trang 25tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam Khoản tiền dùng để trả tiền bảohiểm thường xuyên trong kỳ đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhânthọ không thấp hơn 5% tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm và được gửi tạicác tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam.
Trong các nguồn vốn đầu tư trên, nguồn vốn nhàn rỗi từ DPNVBHluôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn đầu tư của DNBH, đặc biệt làDNBH nhân thọ (có thể lên tới trên dưới 90%) và việc đầu tư nguồn vốn nàycũng chịu sự kiểm soát chặt chẽ của pháp luật
1.3.1.4 Các khoản lãi những năm trước chưa sử dụng
Cuối mỗi năm tài chính, lợi nhuận sau thuế của DNBH được phân phốicho các cổ đông dưới hình thức cổ tức, trích lập các quỹ đầu tư phát triển, quỹkhen thưởng, quỹ phúc lợi… Phần còn lại chưa sử dụng sẽ bổ sung vào nguồnvốn đầu tư của doanh nghiệp Ngoài ra, trong kinh doanh BHNT, DNBH còn
có các quỹ đầu tư hình thành từ lợi tức để lại, đảm bảo cho những hợp đồng
có cam kết chia lãi
1.3.2 Tổ chức hoạt động đầu tư
Tổ chức hoạt động đầu tư của DNBH là việc DNBH lựa chọn mô hình,cách thức quản lý hoạt động đầu tư để phù hợp với quy mô của DNBH vànghiệp vụ bảo hiểm mà doanh nghiệp thực hiện
Tổ chức hoạt động đầu tư của các DNBH phụ thuộc vào nhiều nhân tố,trong đó có ba nhân tố chủ yếu là : Quy mô của DNBH, tính chất nghiệp vụbảo hiểm (tức là BHNT hay BH PNT) và quy định của Pháp luật nơi DNBHhoạt động
Để tiến hành hoạt động đầu tư, các DNBH trên thế giới phổ biến ápdụng ba mô hình sau :
Mô hình 1 : Phòng đầu tư trực thuộc DNBH Mô hình này thường
được áp dụng đối với những DNBH có quy mô nhỏ hoặc doanh nghiệp bảo
Trang 26hiểm mới thành lập Do đó hoạt động đầu tư còn hạn chế, hoặc chưa pháttriển Theo mô hình này, Phòng đầu tư được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp củamột phó giám đốc doanh nghiệp phụ trách về đầu tư Phòng này có tráchnhiệm thực hiện chương trình đầu tư của DNBH mà Hội đồng quản trị đã đề
ra Ngoài việc thông qua các tiêu chuẩn đầu tư của doanh nghiệp để trìnhtrước Ban tài chính của doanh nghiệp phê chuẩn, Phòng đầu tư còn là nơi lưugiữ các loại cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ đầu tư khác của DNBH Đồngthời Phòng đầu tư cũng được giao trách nhiệm thu lãi cổ tức từ các khoản đầu
tư, được trực tiếp tham gia vào việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu, bất độngsản và các khoản thế chấp…Bên cạnh đó, Phòng đầu tư còn hoạt động với tưcách cố vấn cho Tổng giám đốc và Hội đồng quản trị khi có hoạt động sápnhập hoặc mua lại một công ty khác Nhìn chung, hoạt động đầu tư trong cácDNBH đòi hỏi cán bộ chuyên môn làm trong lĩnh vực này phải có những kỹnăng và kiến thức rộng về các loại hình đầu tư mà doanh nghiệp được phép
Mô hình này có ưu điểm là : do nằm ngay trong DNBH nên DNBH cóthể quản lý chặt chẽ các hoạt động đầu tư Song hạn chế của nó là hoạt độngđầu tư sẽ không được chuyên trách, các chuyên viên Phòng đầu tư ngoài việcthực hiện đầu tư còn phải phụ trách thêm về quản lý cổ đông, do vậy hoạtđộng đầu tư sẽ không đạt hiệu quả cao
Mô hình 2 : Thành lập một tổ chức đầu tư độc lập dưới hình thức công
ty đầu tư hay quỹ đầu tư do công ty bảo hiểm sở hữu toàn bộ hoặc nắm cổphần chi phối Đây là mô hình được áp dụng khá phổ biến ở các doanh nghiệpbảo hiếm trên thế giới, bởi vì mô hình này phù hợp với các doanh nghiệp cóquy mô lớn và phát triển Nó giúp các DNBH tập trung các nguồn lực củamình, nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động đầu tư Các quỹ này cóthể chỉ tập trung vào một khu vực địa lý hay nhóm ngành nghề nhất định hoặc
có phạm vi hoạt động rộng và có lĩnh vực đầu tư tổng hợp
Trang 27Mô hình này có ưu điểm là : hoạt động đầu tư được tách bạch hẳn rakhỏi công ty bảo hiểm, việc đầu tư được thực hiện một cách chuyên trách sẽđem lại hiệu quả cao hơn hẳn Tuy nhiên việc quản lý đầu tư từ công ty mẹ(DNBH) đối với tổ chức đầu tư này sẽ gặp khó khăn
Mô hình 3 : Mua cổ phần ở mức không chi phối của các tổ chức đầu tư
khác Ngoài việc thành lập một tổ chức đầu tư độc lập dưới hình thức công tyđầu tư hay quỹ đầu tư do DNBH sở hữu toàn bộ hoặc nắm cổ phần chi phối,các DNBH còn có thể mua cổ phần ở mức không chi phối của các tổ chức đầu
tư khác nhằm mở rộng và đa dạng hóa hoạt động đầu tư của mình Mô hìnhnày chỉ có tác dụng hỗ trợ cho hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểmkhi doanh nghiệp bảo hiểm đã áp dụng một trong hai mô hình trên
1.3.3 Các hình thức đầu tư
DNBH khi tiến hành hoạt động đầu tư luôn luôn phải tuân thủ cácnguyên tắc đầu tư chung của mình Danh mục đầu tư của doanh nghiệp bảohiểm phải đa dạng hóa, đảm bảo được yêu cầu an toàn cũng như khả năngthanh toán thường xuyên, đồng thời mang lại lợi nhuận tối đa cho doanhnghiệp Nhìn chung, DNBH trên thị trường thường áp dụng các hình thứcđầu tư sau :
1.3.3.1 Đầu tư chứng khoán
Đầu tư chứng khoán là một công cụ đầu tư được các DNBH sử dụngrộng rãi nhất Thu nhập từ các khoản đầu tư chứng khoán bao gồm lãi cổ phần
và lãi vốn đem lại cho DNBH rất lớn Ngoài ra đầu tư vào chứng khoán cótính thanh khoản cao, vì DNBH có thể nhanh chóng bán các loại chứng khoántrên thị trường để đáp ứng nhu cầu chi trả tiền mặt của doanh nghiệp Chứngkhoán mà DNBH đầu tư chủ yếu gồm có: Cổ phiếu và Trái phiếu
a Cổ phiếu
Cổ phiếu (CP) là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán
Trang 28ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó KhiDNBH đầu tư vào cổ phiếu, họ được hưởng các quyền đối với công ty với tưcách là người sở hữu, với mức độ tương ứng với tỷ lệ cổ phiếu nắm giữ Theotính chất của các quyền lợi mà cổ phiếu mang lại cho cổ đông, có hai hoại CP
cơ bản: CP thường và CP ưu đãi
- Cổ đông nắm giữ CP thường có 3 quyền: Quyền hưởng cổ tức, quyềnđặt mua CP mới và quyền bỏ phiếu Lãi cổ tức của CP thường được chi trảvào cuối năm Tuỳ theo tình hình hoạt động kinh doanh của công ty phát hành
CP mà thu nhập cổ tức cao hay thấp hay là không có So với việc đầu tư vào
CP ưu đãi, việc đầu tư vào CP thường là rủi ro cao hơn, đồng thời có tỷ suấtlợi nhuận lớn hơn
- Cổ đông nắm giữ CP ưu đãi có quyền hưởng cổ tức, như tỷ lệ cổ tức này
đã được ấn định cố định từ trước Trong điều kiện bình thường cổ đông ưu đãi sẽnhận được cổ tức theo tỷ lệ ấn định Trong trường hợp công ty không có đủ lợinhuận để trả theo tỷ lệ đó, nó sẽ trả theo khả năng có thể Một khi cổ đông ưu đãichưa được trả cổ tức thì cổ đông thường cũng chưa được trả Người nắm giữ CP
ưu đãi không được quyền bỏ phiếu như người nắm giữ CP thường
Khi đầu tư vào CP, ngoài phần lãi thu được từ thu nhập cổ tức, DNBHcòn có thể thu được lãi vốn Đó là thu nhận mà DNBH có được do có sựchênh lệch giữa giá thị trường hiện tại và giá mua vào của CP Các DNBH khiđầu tư vào CP cần nghiên cứu thị trường kỹ lưỡng để quyết định khi nào mua,khi nào bán để thu được lợi nhuận cao nhất
b.Trái phiếu
Trái phiếu (TP) là một loại chứng khoán được phát hành dưới hình thứcchứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận nghĩa vụ trả nợ của tổ chức pháthành trái phiếu đối với người sở hữu trái phiếu Trái phiếu là một công cụ nợ
do chính phủ hoặc các doanh nghiệp phát hành
Trang 29- TP chính phủ: Là những trái phiếu do chính phủ phát hành nhằm mục
đích bù đắp thâm hụt ngân sách, tài trợ cho các công trình công ích hoặc làmcông cụ điều tiết tiền tệ Là loại chứng khoán có thể được coi có rủi ro thanhtoán bằng không vì nó có nguồn đảm bảo khả năng thanh toán lớn nhất là thuế
và quyền lực phát hành Trái phiếu chính phủ thường cho Bộ tài chính hoặcKho bạc Nhà nước được chính phủ uỷ nhiệm phát hành có thời hạn khácnhau: ngắn, trung và dài hạn Chỉ có các trái phiếu trung và dài hạn là đượcgiao dịch trên thị trường chứng khoán
- Trái phiếu công ty: Là những trái phiếu do các công ty phát hành để
vay vốn dài hạn Trái phiếu công ty có các đặc điểm chung như sau:
+ Người nắm giữ trái phiếu được trả lãi định kỳ và trả gốc khi đáo hạn,song không được tham dự vào các quyền quyết định của công ty
+ Khi công ty giải thể hoặc thanh lý, trái phiếu được ưu đãi thanh toántrước các cổ phiếu
+ Có những quy định cụ thể kèm theo hoặc những hình thức đảm bảokhoản cho vay
Trái phiếu công ty có 2 loại:
+ Thứ nhất, trái phiếu có bảo đảm: là những trái phiếu được bảo đảmbằng những tài sản thế chấp cụ thể Người nắm giữ trái phiếu này được bảo vệ
ở mức độ cao trong trường hợp công ty phá sản vì họ có quyền đòi nợ đối vớimột loại tài sản cụ thể
+ Thứ hai, trái phiếu không bảo đảm: là những trái phiếu không đượcbảo đảm bằng tài sản cụ thể mà được bảo đảm bằng uy tín của công ty Nếucông ty bị phá sản, người nắm giữ trái phiếu không đảm bảo được giải quyếtquyền lợi sau người nắm giữ trái phiếu có bảo đảm, nhưng trước các cổ đôngnắm giữ cổ phiếu
Trang 30Như vậy việc đầu tư vào trái phiếu công ty là rủi ro hơn nhưng đồngthời cũng có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với đầu tư vào trái phiếu chính phủ.Đầu tư vào trái phiếu chủ yếu chịu tác động của rủi ro lãi suất, do tỷ lệ lãi vay
đã được ấn định trước, còn lãi suất lại thường xuyên thay đổi cho phù hợp vớiđiều kiện kinh tế của đất nước trong từng thời kỳ
Trong những năm gần đây, xu hướng của các công ty bảo hiểm trên thếgiới là đầu tư vào trái phiếu công ty, vì so với cổ phiếu vì đầu tư vào tráiphiếu công ty an toàn hơn và so với trái phiếu chính phủ nó nó lãi suất đầu tưcao hơn Hay nó cách khác, đầu tư vài trái phiếu công ty có mức độ rủi rocũng như lãi suất đầu tư có thể chấp nhận được
Do đầu tư vào chứng khoán có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với cáchình thức đầu tư khác, các DNBH thường có xu hướng đầu tư giá trị lớn vàdanh mục này Chính vì vậy, để tránh rủi ro do đầu tư lớn vào chứng khoán vàđảm bảo sự đa dạng của hoạt động đầu tư, pháp luật ở các nước đều đặt ra cácgiới hạn tỷ lệ tối đa cho hoạt động đầu tư chứng khoán của DNBH Hạn chếnày ảnh hưởng đến lợi nhuận đầu tư của DNBH nhưng đảm bảo an toàn chonguồn vốn đầu tư
Trang 31- Cung cấp nơi làm việc thuận lợi cho khách hàng, từ đó thắt chặt thêmmối quan hệ với khách hàng.
Chính vì những đặc điểm trên mà hiện nay nhiều DNBH chiếm vị trívững chắc trên các thị trường bất động sản
Tuy nhiên, việc đầu tư vào lĩnh vực bất động sản có rủi ro thị trườngcao và tính thanh khoản thấp, khó chuyển đổi hoặc mất nhiều thời gianchuyển đổi khoản đầu tư ra tiền mặt Do đó, các hoạt động kinh doanh bấtđộng sản của DNBH luôn phải chịu những hạn chế nhất định
1.3.3.3 Cho vay
Hoạt động đầu tư thông qua cho vay có vai trò rất quan trọng đối vớicác DNBH, đặc biệt là các DNBH nhân thọ, thể hiện :
- Cho vay có tài sản thế chấp tuân thủ các tiêu chuẩn tài chính Các
quỹ của DNBH chủ yếu được hình thành từ nguồn phí BH của người tham gia
BH Vì vậy, các khoản vay có đảm bảo là cách sử dụng có hiệu quả nhấtnguồn quỹ này bởi nó đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của việc cho vay, đó
là tính an toàn, khả năng sinh lời và tính thanh khoản cao
- Cho vay có tài sản thế chấp tạo thu nhập ổn định cho DNBH, bởi vì
lãi suất vay đã được thoả thuận trước Người vay bắt buộc phải trả lãi theocam kết trong hợp đồng bất kể tình hình kinh doanh của họ tốt hay xấu Từ đólàm giảm rủi ro tín dụng cho DNBH
- Cho vay có tài sản thế chấp tạo ra một kênh huy động vốn cho nền kinh tế Bằng hình thức đầu tư này, DNBH thực sự hoạt động như một trung
gian tài chính, đem đến cho công chúng một sự lựa chọn tài chính tối ưu bêncạnh các ngân hàng thương mại và các tổ chức trung gian tài chính khác
- Cho vay có tài sản thế chấp góp phần khuyến khích việc tiêu thụ các sản phẩm BH Việc những DNBH cung cấp các khoản vay sẽ giúp tăng cường
việc khuyến mại, chẳng hạn như việc bán các hợp đồng BH cá nhân và bảo
Trang 32hiểm nhóm nhờ việc xây dựng những mối quan hệ tốt với khách hàng Nhữngkhoản vay kết hợp với bán các sản phẩm bảo hiểm sẽ mở rộng các dịch vụ cóthể cung cấp cho khách hàng Nhằm mục đích khuyến mại, các khoản vay sẽrất có ích đối với việc phát triển hoạt động kinh doanh BH thông qua việc thuđược thông tin từ khách hàng Ngược lại, các sản phẩm cho vay có thể đápứng những nhu cầu của khách hàng trong hoạt động bán bảo hiểm.
Hiện nay, các khoản cho vay có thế chấp của các DNBH chủ yếu đảmbảo bằng những bất động sản
Ngoài ra, các khoản vay theo đơn BH ngày càng có xu hướng gia tăng,đặc biệt là trong BH nhân thọ Đây cũng là một hình thức thu hút thêm kháchhàng cho DNBH
Với tính chất là một công cụ đầu tư, khi tiến hành hoạt động cho vay,các DNBH cũng phải chịu một số hạn chế nhất định
1.3.3.4 Các hình thức đầu tư khác
Ngoài những hình thức đầu tư phổ biến trên, các DNBH còn có thể đầu
tư ở một số hình thức khác tuỳ theo quy định của từng nước Ví dụ tại ViệtNam, các DNBH còn có thể đầu tư vào công trái, góp vốn liên doanh hay gửitiết kiệm tại các tổ chức tín dụng
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của các thị trường chứng khoántrong những năm qua, việc đầu tư vào thị trường chứng khoán của các DNBHPNT ngày một gia tăng Đầu tư vào chứng khoán không chỉ đảm bảo tínhthanh khoản, vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với các DNBH PNT, mà còncho phép các DN thu được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh và mua bánchênh lệch tỷ giá
Nhìn chung, ở các nước trên thế giới danh mục đầu tư dài hạn của cáccông ty BHNT là lớn hơn nhiều so với danh mục đầu tư của các công ty BHPNT Điều này xuất phát từ tính chất của BHNT là một khoản đầu tư dài hạn
và tiết kiệm
Trang 33Trước đây các khoản cho vay có đảm bảo bằng thế chấp là hình thứcđầu tư chủ yếu của các quỹ BHNT ở nhiều nước Những khoản đầu tư nàymang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với các khoản đầu tư vào trái phiếuchính phủ, mặc dù tính thanh khoản của các khoản đầu tư này là không caonhưng có thể chấp nhận được đối với các DNBH nhân thọ Rủi ro của cáckhoản đầu tư này cũng tương đối thấp do thị truờng bất động sản tương đối ổnđịnh Ngoài ra, rủi ro này còn có thể được giảm bớt bằng cách giới hạn cáckhoản cho vay không quá 2/3 hoặc 3/4 giá trị tài sản được dùng để thế chấp.
Ngoài ra, một xu hướng dễ nhận thấy trong hoạt động của các công tyBHNT là việc các công ty này ngày càng mở rộng việc đầu tư ra nước ngoài,đặc biệt là ở một số nước thực hiện việc phi điều tiết hoạt động BH và quản lýngoại hối
Trang 34CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN PTI
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của PTI
Thực hiện chủ trương đa dạng hoá thị trường bảo hiểm Việt Nam, ngaysau khi Nghị định 100/CP của Chính phủ được ban hành, các công ty bảohiểm khác (ngoài hệ thống bảo hiểm cũ) đã nhanh chóng được thành lập vàđóng góp tích cực vào việc phá bỏ độc quyền về kinh doanh bảo hiểm đã tồntại hàng chục năm trước đây Một trong số các công ty bảo hiểm mới đượcthành lập đã chiếm được vị trí tin cậy trên thị trường bảo hiểm Việt Nam làCông ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu Điện
Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (gọi tắt là PTI) được Ủy ban nhândân thành phố Hà nội cấp giấy phép thành lập số 3633/GP – UP ngày01/08/1998 và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/09/1998 Hoạt độngchính của PTI là kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm phi nhân thọ trongnước và quốc tế Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện là tập hợp của cácdoanh nghiệp lớn thuộc các lĩnh vực kinh doanh khác nhau tạo nên sự đa dạng
về ngành nghề cũng như vững chắc về tài chính Cổ đông sáng lập và chi phối
là Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) và các cổ đông sáng lập
khác là Tổng Công ty Cổ phần Tái Bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (VINARE), Tổng Công ty Cổ phần Bảo Minh, Tổng Công ty xây dựng Hà Nội (HACC), Tổng Công ty xuất nhập khẩu Xây dựng Việt Nam (Vinaconex), Ngân hàng
Thương mại cổ phần quốc tế (VIB), Công ty cổ phần Thương mại Bưu chínhViễn thông (COKYVINA) Sự hỗ trợ của các cổ đông lớn đã góp phần khôngnhỏ giúp PTI tăng trưởng ổn định những năm qua và trong tương lai
Trang 35Được thành lập trong cơ chế thị trường, PTI hiểu rõ hơn bao giờ hết làchấp nhận cạnh tranh và phải từng bước nghiên cứu thị trường, phát triển thậntrọng vững chắc Điều đó thể hiện ở việc PTI lấy con người làm trọng tâmphát triển, xây dựng và đào tạo một đội ngũ cán bộ chuyên viên giỏi vềnghiệp vụ, có tinh thần trách nhiệm nghề nghiệp cao
Với đội ngũ cán bộ trên 500 người, gần 80% cán bộ có trình độ đại học
và trên đại học, mạng lưới bán hàng tại 23 chi nhánh và trên 1.000 đại lýtrong toàn quốc, PTI đã đem đến cho khách hàng những dịch vụ có tínhchuyên nghiệp cao, có uy tín trên thị trường PTI cung cấp trên thị trường gần
100 sản phẩm trong đó các sản phẩm có thế mạnh là bảo hiểm thiết bị điện tử,bảo hiểm vệ tinh, bảo hiểm xây dựng - lắp đặt, bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểmcon người, bảo hiểm xe cơ giới…
Trong hơn 12 năm tham gia thị trường, PTI liên tục đứng ở vị trí thứ 5
về thị phần, có tốc độ tăng doanh thu khá cao, ổn định và kinh doanh hiệuquả Tổng doanh thu hàng năm tăng trưởng bình quân từ 25-30%; riêng năm
2008 tổng doanh thu của PTI vượt 40% kế hoạch, tăng 61% so với năm 2007
PTI xác định chấp nhận cạnh tranh với triết lý kinh doanh lấy kháchhàng là trung tâm, liên tục đổi mới, không ngừng sáng tạo Sản phẩm chấtlượng cao phải đi kèm với đội ngũ cán bộ chuyên viên giỏi về nghiệp vụ, cótinh thần trách nhiệm cao Hàng năm, PTI đều cử một số cán bộ chuyên viên
đi đào tạo chuyên sâu tại Singapore, Malaysia, Thuỵ Sỹ, HongKong hoặctham gia khoá học chuyên ngành bảo hiểm từ xa của Australia, NewZealand…
Xác định rõ quyền lợi của khách hàng luôn đi liền với sự phát triển củaTổng công ty, PTI rất chú trọng công tác chăm sóc và bồi thường cho kháchhàng Khi có sự cố, công tác giám định bồi thường được thực hiện theo tiêu chíkịp thời, chính xác và hợp pháp PTI có sự hợp tác với các công ty giám định
Trang 36độc lập, uy tín trong và ngoài nước như Cunningham Linshey, McLauren… đểgiải quyết những vụ tổn thất lớn, phức tạp Tỷ lệ bồi thường trung bình hàngnăm của PTI dưới 40% trên doanh thu bảo hiểm Đây là chỉ số tốt trên thịtrường bảo hiểm Việt Nam và quốc tế, thể hiện tính chuyên nghiệp trong khaithác bảo hiểm, mang lại hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh của PTI.
Để đảm bảo an toàn tài chính của Tổng công ty, khả năng bồi thườngcho khách hàng và năng lực nhận bảo hiểm cho các dự án đầu tư lớn, PTI cóquan hệ hợp tác lâu dài, tốt đẹp và đã ký kết những hợp đồng tái bảo hiểm cốđịnh với các công ty, tập đoàn tái bảo hiểm có uy tín trên thị trường quốc tếnhư: Swiss Re, Munich Re, CCR, Mitsui Sumitomo, Tokio Marine, Hannover
Re, Vinare… và các công ty môi giới hàng đầu như: Marsh, Aon, Willis,Arthur J Gallagher… Nhờ vậy, PTI có khả năng nhận và thu xếp tái bảo hiểm
ra thị trường quốc tế các dịch vụ bảo hiểm có giá trị tới hàng trăm triệu USD,đặc biệt là các dự án xây dựng quy mô lớn như: thuỷ điện, xi măng, cầu,đường…
Năm 2009 là một năm khá thành công của PTI Đây là năm PTI bắt đầu
áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000 để tạo dựngmột hệ thống quản lý tốt, có chất lượng trong toàn đơn vị, qua đó cải tiến chấtlượng các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp Đây là năm PTI có kế hoạchtăng Vốn điều lệ từ 300 tỷ đồng lên 450 tỷ đồng để nâng cao năng lực tài chínhcủa Tổng công ty Đây cũng là năm PTI đặc biệt chú trọng phát triển kênh bán
lẻ thông qua mạng lưới bưu cục của VNPost trog toàn quốc, đồng thời cho ramắt một số sản phẩm được thiết kế đặc biệt có tính cạnh tranh cao như "PhúcLưu Hành" dành cho người sử dụng xe môtô, "Phúc Vạn Dặm" dành cho xe ô
tô, " Phúc Học Đường" dành cho đối tượng là học sinh các cấp và sinh viên.Đặc biệt, sự đổi mới hệ thống nhận diện thương hiệu của PTI được công bố vàođầu tháng 11/2009 đã đưa PTI với tầm nhìn mới: trở thành doanh nghiệp bảo
Trang 37hiểm phi nhân thọ hàng đầu trong lĩnh vực bán lẻ, thực sự trở thành "Công tybảo hiểm của Cộng đồng".
Với những nỗ lực được ghi nhận, tháng 12/2008, PTI được Bộ CôngThương tặng danh hiệu “Doanh nghiệp phát triển bền vững”, được Thời báokinh tế Việt Nam bình chọn và trao tặng danh hiệu “Thương hiệu mạnh” năm
2008, 2009
Bước vào năm 2010, trên tinh thần quyết tâm giữ vững vị trí thứ 5 vàrút dần khoảng cách so với đơn vị thứ 4 trên thị trường Bảo hiểm phi nhân thọViệt Nam, PTI đã xây dựng nhiều chỉ tiêu quan trọng định hướng cho sự pháttriển của Công ty trong thời gian tới, đưa ra mục tiêu, biện pháp và chươngtrình hành động cụ thể của từng đơn vị Mục tiêu kinh doanh năm 2010 củaPTI với tổng doanh thu phấn đấu đạt từ 745 - 815 tỷ đồng (tăng trưởng từ 29 -41% so với 2009), trong đó doanh thu qua đại lý VNPost đạt tối thiểu 95 tỷđồng; lợi nhuận kế toán đạt từ 84 - 81 tỷ đồng (tăng trưởng từ 27 - 39%); cổtức trả cổ đông dự kiến thấp nhất 12%/năm; hoàn thành thủ tục tăng vốn điều
lệ lên 450 tỷ đồng, đưa cổ phiếu của PTI lên sàn giao dịch chứng khoán vàonăm 2010 Để đạt được mục tiêu đã định, PTI đề ra 6 nhóm giải pháp cơ bản:Tăng trưởng doanh thu; Nâng cao hiệu quả kinh doanh; Tập trung phát triểnkênh khai thác qua VNPost; Tăng cường năng lực quản trị doanh nghiệp; Tinhọc hóa công tác quản lý; Đẩy mạnh công tác phát triển thương hiệu
Giai đoạn 2010 2015, với định hướng kinh doanh: “Tăng trưởng Hiệu quả - Phát triển bền vững”, trở thành doanh nghiệp bảo hiểm có kênhphân phối dịch vụ lớn nhất thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, tập trung khảnăng sinh lời và tối ưu hoá cổ tức, đảm bảo quyền lợi của cổ đông, thực hiệnnhiệm vụ một doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cộng đồng, trên cơ sởtạo ra sự khác biệt với đối thủ cạnh tranh bằng chất lượng phục vụ kháchhàng, PTI phấn đấu trở thành doanh nghiệp bán lẻ sản phẩm bảo hiểm phinhân thọ với hệ thống phân phối lớn nhất thị trường, duy trì vị trí top 3 các
Trang 38-DNBH Việt Nam có tỷ suất lợi nhuận / vốn cao nhất thị trường bảo hiểm Phinhân thọ.
2.1.2 Phạm vi hoạt động của PTI
2.1.2.1 Kinh doanh bảo hiểm trực tiếp
Do có định hướng kinh doanh đúng đắn nên mặc dù ra đời muộn hơncác công ty bảo hiểm gốc khác PTI đã tạo được chỗ đứng khá vững chắc trênthị trường bảo hiểm phi nhân thọ Với gần 90 sản phẩm bảo hiểm được triểnkhai rộng khắp trong phạm vi cả nước thông qua Văn phòng chính đặt tại HàNội, Hội sở giao dịch tại Hà nội và hơn 21 chi nhánh ở TP.Hồ Chí Minh, HảiPhòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Vinh, Phú Thọ, Huế, Thanh Hoá, Bình Dương,Đồng Nai, Cà Mau, Đắc Lắc, Khánh Hoà, Bình Định, Bắc Ninh, Lào Cai Ngoài ra còn có hệ thống các văn phòng khu vực và mạng lưới đại lý tại 64tỉnh thành, hoạt động kinh doanh bảo hiểm của PTI đã đáp ứng nhu cầu phongphú của khách hàng, duy trì khả năng cạnh tranh trên thị trường Trong số cácnghiệp vụ bảo hiểm có tốc độ tăng trưởng cao của PTI phải kể đến bảo hiểmthiết bị điện tử, bảo hiểm xây dựng - lắp đặt, bảo hiểm cháy, bảo hiểm conngười và xe cơ giới Ngoài những nghiệp vụ bảo hiểm truyền thống, trongthời gian qua PTI đã triển khai một số nghiệp vụ bảo hiểm mới như: bảo hiểm
vệ tinh, bảo hiểm bưu phẩm - bưu kiện khai giá Tăng trưởng về doanh thubảo hiểm gốc hàng năm đạt trung bình khoảng gần 30% năm
2.1.2.2 Kinh doanh tái bảo hiểm
Nhận và nhượng tái bảo hiểm liên quan đến các nghiệp vụ bảo hiểm phinhân thọ cho các công ty bảo hiểm - tái bảo hiểm trong và ngoài nước
PTI có quan hệ hợp tác lâu dài và đã ký kết những hợp đồng tái bảohiểm cố định với hầu hết các công ty, tập đoàn tái bảo hiểm có uy tín và nănglực tài chính hàng đầu trên thế giới Nhờ đó, hiện nay PTI có khả năng nhận
và thu xếp tái bảo hiểm ra thị trường quốc tế các dịch vụ bảo hiểm có giá trịlên tới hàng trăm triệu USD, đặc biệt là các dự án xây dựng quy mô lớn như:thủy điện, xi măng, cầu, đường, khu đô thị, cao ốc văn phòng Doanh thu từ
Trang 39hoạt động kinh doanh nhận tái bảo hiểm tăng đều đặn hàng năm.
Bảng 2.1 : Danh sách các nhà tái bảo hiểm nhận tái từ PTI
1 Swiss Re (Leading) Thụy Sĩ AA
(Nguồn: Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện)
2.1.2.3 Giám định, điều tra, tính toán, phân bổ tổn thất, đại lý giám định, xét giải quyết bồi thường và đòi người thứ ba
PTI rất chú trọng tới công tác bồi thường cho khách hàng, công ty luônluôn đặt mục tiêu lợi ích của khách hàng trên hết Nhằm đưa công tác giám địnhbồi thường lên tính chuyên nghiệp, PTI đã thành lập phòng Giám định-Bồithường, chuyên xử lý giải quyết các vụ tổn thất, bên cạnh đó là sự hợp tác vớicác Công ty giám định độc lập uy tín trong và ngoài nước để giải quyết những
vụ tổn thất lớn, phức tạp Do vậy công tác giám định bồi thường đảm bảo đượctính chính xác, khách quan và trung thực và đáp ứng tốt yêu cầu của khách hàng
2.1.2.4 Đầu tư tài chính
- Đầu tư tài chính thông qua hệ thống kho bạc, ngân hàng (Quỹ tiết
Trang 40kiệm, tiền gửi, trái phiếu chính phủ, trái phiếu kho bạc).
- Đầu tư bất động sản
- Đầu tư liên doanh, liên kết, góp vốn cổ phần, uỷ thác đầu tư
- …
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của công ty
Sơ đồ 2.1 : Sơ đồ tổ chức Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện
BAN GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH
KHỐI KINH DOANH
B A N T B H
B A N B H T S K T
B A N B H H H
B A N B H X C G
B A N B H C N
B A N B H D A
B A N T C N S
&
Đ T
B A N K H T C K T
B A N C N T T
B A N P C
&
K S N B
B A N Đ Ầ U
T Ư
C T Y
C O N
C T Y
L K Ế T
CÁC ĐƠN VỊ THÀNH VIÊN