1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành bán lẻ Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO

82 442 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 807,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy cho nên các cửa hàng bán lẻ phải rất thận trọng trong việc chọn lưa những nhóm hàng hóa và dịch vụ thích hợp nhất cho từng cửa hàng, phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP CUỐI KHÓA:

Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành bán lẻ Việt Nam

trong điều kiện gia nhập WTO

LỜI ĐẦUSau khi bắt đầu chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, Việt Nam đã đạt được những bước tiến quan trọng, ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới và đỉnh cao là sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO vào Ngày 17/11/2006

Bên cạnh những lợi ích rõ ràng, trở thành thành viên của WTO cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam phải mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ và các ngành kinh tế nội địa nói chung, ngành bán lẻ nói riêng phải chịu sự cạnh tranhkhốc liệt mà trước đây chưa từng có

Ngành bán lẻ Việt Nam đang phải đối diện với những người khổng lồ mang tầm vóc quốc tế Đó là BigC với đại siêu thị của những núi hàng hóa chất đống,

đó là Parkson của những vị trí đắc địa và phong cách bài trí quyến rũ, hiện đại,

đó là những Unilever, Lotter, Louis Vuiton… và một Wallmart đang ngấp nghétấn công thị trường bán lẻ Việt Nam

Trước tình hình đó, để bảo vệ và phát triển ngành bán lẻ Việt Nam, vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành bán lẻ Việt Nam chưa bao giờ trở nên cấp thiết hơn lúc này

Vì vậy, em quyết định chọn đề tài:

“Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành bán lẻ Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO ”

làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình

Trang 2

Ngoài phần lời mở đầu và kết luận, đề tài nghiên cứu của em gồm 3 phần:

Chương I: Tổng quan về khả năng cạnh tranh của ngành bán lẻ Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO

Chương II: Thực trạng khả năng cạnh tranh của ngành bán lẻ Việt Nam sau khi gia nhập WTO

Chương III: Phương hướng và giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành bán lẻ Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO

Chương I: Tổng quan về khả năng cạnh tranh của ngành bán lẻ Việt Nam

trong điều kiện gia nhập WTO

1. Ngành bán lẻ và tầm quan trọng của ngành bán lẻ đối với nền kinh tế Việt Nam

1.1 Khái niệm bán lẻ và thị trường bán lẻ

1.1.1 Khái niệm và các hình thức bán lẻ

Về khái niệm hàng hóa, chúng ta cần phân biệt khái niệm hàng hóa tiêu dùng

và hàng hóa tư liệu sản xuất Hàng tiêu dùng là những hàng hóa phục vụ cho nhu cầu sống của cá nhân, gia đình Hàng tư liệu sản xuất là những hàng hóa phục vụ cho nhu cầu sản xuất, là yếu tố đầu vào của quá trình tái sản xuất

Về khái niệm bán lẻ, có nhiều khái niệm về bán lẻ hàng hóa Theo từ điển American Heritage định nghĩa: “Bán lẻ là bán hàng cho người tiêu dùng,

thường là bán với khối lượng nhỏ và không bán lại” Bán lẻ là hình thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân và gia đình Bán lẻ hàng hóa là khâu kết thúc quá trình lưu thông, hàng hóa đi vào lĩnh vực tiêu dùng và giá trị hàng hóa được thực hiện

Theo NAICS, US năm 2002, lĩnh vực thương mại bán lẻ bao gồm những cơ sở kinh doanh bán lẻ hàng hóa và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho bán hàng Quá

Trang 3

trình bán lẻ là khâu cuối cùng trong phân phối hàng hóa Các nhà bán lẻ tổ chức việc bán hàng theo khối lượng nhỏ cho người tiêu dùng.

Theo cuốn sách quản trị Marketing, Phillip Kotler đã định nghĩa: Bán lẻ bao gồm tất cả cá hoạt động liên quan đến việc bán hàng hóa hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sẻ dụng vào mục đích cá nhân, không kinh doanh

Như vậy, qua các khái niệm nêu trên, chúng ta có thể rút ra những điểm chung của khái niệm về bán lẻ là: hoạt động bán hàng với lượng nhỏ, bán trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng Ngoài ra, đây còn là công đoạn đoạn cuối cùng trong khâu lưu thông, hàng hóa đến trực tiếp với người mua để tiêu dùng chứ không phải kinh doanh

Các nhà bán lẻ thuộc đủ loại quy mô, hình thức và luôn xuất hiện thêm nhữngkiểu bán lẻ đa dạng Các chức năng phân phối do các nhà bán lẻ thực hiện có

sự phối hợp theo nhiều cách khác nhau để tạo ra các dạng mới của định chế

bán lẻ Có thể phân loại những nhà bán lẻ theo một số các tiêu thức sau:

Theo những mặt hàng mà nhà bán lẻ bán người ta chia ra thành:

cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng bách hoá, siêu thị, cửa hàng tiện dụng, vàcửa hàng cao cấp

- Cửa hàng chuyên doanh: bán các dòng sản phẩm hẹp và chuyên sâu

- Cửa hàng bách hoá: bày bán những mặt hàng khác nhau, mỗi mặt hàng

là một quầy riêng

- Siêu thị: là những trung tâm bán lẻ lớn, chi phí thấp, tự phục vụ, giáthấp, doanh số bán cao

- Cửa hàng tiện dụng: là cửa hàng bán lẻ nhỏ, bán một số mặt hàng phục

vụ nhu cầu thường xuyên của người tiêu dùng

Theo phương pháp hoạt động của nhà bán lẻ chia thành: Bán lẻ qua cửa

hàng và bán lẻ không qua cửa hàng Bán hàng không qua cửa hàng có nhiều

Trang 4

hình thức như: đặt hàng qua thư, máy bán hàng, mua hàng qua máy tính, quađiện thoại và bán lẻ tại nhà

Theo hình thức sở hữu chia ra thành: Bán lẻ độc lập, chuỗi tập đoàn, hợp tác

xã bán lẻ, hợp tác xã tiêu thụ và các đại lí độc quyền kinh tiêu,

- Của hàng độc lập do một cá nhân làm chủ và tự quản lí

- Chuỗi tập đoàn thường gồm nhiều cửa hàng bán lẻ thuộc cùng một chủ

sở hữu, bán những mặt hàng tương tự như nhau và việc mua bán có sự điềuhành tập trung

- Hợp tác xã bán lẻ gồm một số các nhà bán lẻ độc lập liên kết lại vàthành lập một tổ chức thu mua và có tổ chức tập trung và điều hành các côngviệc bán hàng và quảng cáo thống nhất

- Hợp tác xã tiêu thụ là tổ chức bán lẻ do chính khách hàng lập ra

- Các đại lí độc quyền kinh tiêu là những liên kết theo hợp đồng giữa cácbên chủ quyền (nhà sản xuất, nhà bán bán buôn hay tổ chức dịch vụ) và bênnhận quyền (các nhà bán lẻ) muốn mua quyền sở hữu và quyền kinh doanh sảnphẩm

Xét theo lĩnh vực phân phối ta có thể phân chia bán lẻ thành hai hình thức

kênh chính đó là: kênh phân phối truyền thồng và kênh phân phối hiện đại.Trong đó kênh phân phối truyền thống bao gồm: Các chợ, cửa hàng thực phẩm,người bán dạo… Đây là kênh phân phối của các cá nhân, tư nhân với hình thứckinh doanh nhỏ lẻ Còn kênh phân phối hiện đại thì bao gồm: Các trung tâmthương mại, các siêu thị, mạng lưới cửa hàng tiện lợi, khu thương mại-dịch vụ,trung tâm hội chợ- triển lãm… Đây là hình thức bán lẻ hàng hoá theo loại hìnhthương mại hiện đại

1.1.2 Thị trường bán lẻ

Thị trường bán lẻ là nơi diễn ra các hoạt động mua bán giữa các nhà bán lẻ vàngười tiêu dùng

Trang 5

Cung bán lẻ ở đây bao gồm tất cả các cá nhân và tổ chức mua hàng hoá đểbán lại hoặc cho thuê nhằm kiếm lời Danh mục và chủng loại hàng hoá mà họmua sắm rất phong phú và đa dạng

Cầu bán lẻ ở đây là những người tiêu dùng, họ có rất nhiều các nhu cầu vềhàng hoá và dịch vụ nhằm thoả mãn những mong muốn của mình

Trên thị trường bán lẻ, các nhà bán lẻ đóng vai trò là người bán Khi lựachọn mua hàng hoá từ nhà sản xuất, họ phải xem những sản phẩm ấy có thu hútđược khách hàng của họ hay không Và từ đó họ quyết định nên kinh doanhnhững mặt hàng nào nhằm đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của người tiêudùng Chính vị thế trên thị trường bán lẻ, người tiêu dùng là người chấp nhậngiá còn các nhà bán lẻ là ngưòi quyết định giá bán Mức giá mà họ đưa ra làdựa trên cơ sở: Mức giá mua vào, chi phí lưu thông và khả năng thanh toán củakhách hàng

1.2 Vai trò của hoạt động bán lẻ

Bán lẻ đóng vai trò quan trọng trong kênh phân phối, nó là cầu nối giữa nhàsản xuất và người tiêu dùng Nói đến vai trò của bán lẻ cũng chính là ta đangnói tới vai trò của các nhà bán lẻ, những chủ thể của tác động, nhờ có các nhàbán lẻ mà bánh xe lưu thông hàng hoá trở lên nhanh nhạy hơn

- Trước hết là vai trò tối thiểu hóa số làn tiếp xúc giữa nhà sản xuất và kháchhàng từ đó làm tăng hiệu quả của quá trình lưu thông hàng hóa, có thể thấy quacác sơ đồ lưu chuyển hàng hoá sau :

Sơ đồ 1: lưu chuyển hàng hóa trực tiếp từ nhà sản xuất –khách hàng

Khách hàngKhách hàng

Trang 6

Hàng hóa được sản xuất ra để đến được tay người tiêu dùng thì nhà sảnxuất phải thực hiện đến chín lần tiếp xúc Số lần tiếp xúc lớn sẽ gây rất nhiềunhững khó khăn như: Vấn đề tập trung được nguồn lực để mở rộng quy mô,những khó khăn trong quản lý kênh, trong hoạt động xúc tiến bán hàng Những vấn đề này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của họ.

Sơ đồ 2: Lưu chuyển hàng hóa từ nhà sản xuất- trung gian- khách hàng

Nhờ tối thiểu hóa số lần tiếp xúc thoả mãn thị trường lên các nhà bán lẻ đã giúpcho việc lưu thông hàng hoá trở nên dễ dàng hơn Bên cạnh đó, các nhà bán lẻcòn có những lợi thế về quan hệ tiếp xúc thị trường, kinh nghiệm, sự chuyênmôn hoá và quy mô hoạt động Chính vì thế trong rất nhiều lĩnh vực để các nhàbán lẻ phân phối sản phẩm đến tay khách hàng sẽ đem lại cho nhà sản xuất lợiích nhiều hơn so với khi tự nó làm lấy Vì vậy mặc dù lợi nhuận của mình sẽ bịchia sẻ nhưng các nhà sản xuất vẫn sử dụng các nhà bán lẻ trong kênh phânphối của mình

- Thứ hai , hoạt động bán lẻ cũng đóng vai trò quan trọng trong việcđem đến lợi ích tối đa cho người tiêu dùng Khi có các nhà bán lẻ tham giaphân phối hàng hoá thì khách hàng được hưởng rất nhiều lợi ích như: Họ có thểmua được hàng hoá một cách nhanh chóng, chủng loại hàng hoá đa dạng, đượchưởng các dịch vụ hậu mãi phong phú…Như vậy sẽ không còn khác biệt vềthời gian, địa điểm và quyền sở hữu giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng

Khách hàng

Khách hàngNhà bán

lẻ

Trang 7

Mặc dù vẫn còn có những hạn chế: Thông tin phản hồi từ phía khách hàng đếnnhà sản xuất đôi khi không được phản ánh đúng, nhà sản xuất phải bỏ ra mộtkhoản chi phí cho các nhà bán lẻ Tuy nhiên sự có mặt của các nhà bán lẻ như

là một nhu cầu tất yếu, làm cho cung và cầu thị trường thị trường phù hợp nhaumột cách trật tự và có hiệu quả Giúp doanh nghiệp đưa sản phẩm đến ngườitiêu dùng với đùng mức giá mà họ có thể mua, đúng chủng loại mà họ cần,đúng thời gian và địa điểm mà họ yêu cầu

- Thứ ba là vai trò định hướng, kích thích sự phát triển của hoạt độngsản xuất hàng hóa xã hội Như chúng ta biết, phân phối là khâu quan trọngtrong quá trình tái sản xuất hàng hóa xã hội Trong khâu này, các nhà bán lẻbằng các hoạt động của mình, thực hiện nhiệm vụ đưa hàng hóa đến tay ngườitiêu dùng cuối cùng, từ đó quá trình tái sản xuất hàng hóa có thể tiếp diễn mộtcách thông suốt Bởi vì trong nền kinh tế thị trường hướng đến người tiêudùng, lượng hàng hóa sản xuất phụ thuộc và nhu cầu và khả năng tiếp cận hànghóa của người tiêu dùng Trong hoạt động của mình, các nhà bán lẻ không chỉđơn thuần làm nhiệm vụ phân phối hàng hóa mà song song với đó, họ còn làmcho hàng hóa trở nên dễ tiếp cận hơn và làm phát sinh những nhu cầu mới chongười mua Chính điều này đã làm cho nền sản xuất xã hội ngày càng pháttriển

1.3 Chức năng của hoạt động bán lẻ

Chức năng của hoạt động bán lẻ có thể phân định trong phạm vi 4 chức năng chính là khai thác một số nhóm mặt hàng, dịch vụ nhất định; chia những lô hàng lớn thành những đơn vị nhỏ; lưu trữ sẵn hàng hóa; cuối cùng là trưng bàyhàng hóa và cung cấp dịch vụ cộng thêm

- Thứ nhất là chức năng khai thác một số nhóm hàng, dịch vụ nhất

định Cửa hàng bán lẻ cần phải khai thác một số lượng lớn các sản phẩm được

sản xuất bởi nhiều công ty khác nhau Điều nầy là cần thiết vì nó mang lại cho khách hàng sự thoải mái trong việc lựa chọn sản phẩm, nhãn hiệu, mùi vị, màu

Trang 8

sắc, qui cách bao bì đóng gói và cả các mức giá khác nhau Chính vì vậy cho nên các cửa hàng bán lẻ phải rất thận trọng trong việc chọn lưa những nhóm hàng hóa và dịch vụ thích hợp nhất cho từng cửa hàng, phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng ở khu vực mà cửa hàng tọa lạc.

Nếu nhiệm vụ chính của các nhà sản xuất là sản xuất ra sản phẩm tốt thì cửa hàng bán lẻ giúp tiếp thị những sản phẩm nầy đến người tiêu dùng Chẳng hạn như Vinamilk sản xuất các sản phẩm sữa, Daso sản xuất xà phòng, Mỹ Hảo sảnxuất ra nước rửa chén, Nam Dương sản xuất nước chấm và Bibica sản xuất bánh kẹo Cho dù các nhà sản xuất trên có tự đứng ra tổ chức cửa hàng bán lẻ

để phân phối sản phẩm của mình thì cũng khó lòng để người tiêu dùng có thể chấp nhận bỏ thời gian đi đến hàng chục cửa hàng khác nhau để mua cho đủ những thứ mà mình cần dùng trong ngày Đó là lý do vì sao cửa hàng bán lẻ là trở thành một điểm mua sắm được người tiêu dùng trên thế giới ưa chuộng.Tuy tất cả các cửa hàng bán lẻ đều cung cấp rất nhiều mặt hàng và thương hiệu khác nhau, nhưng mỗi cửa hàng đều có một xu hướng thiên về một nhóm sản phẩm làm nòng cốt

- Thứ hai là chức năng chia nhỏ lô hàng lớn thành những đơn vị nhỏ

Từ retailler bắt nguồn từ tiếng Pháp mang nghĩa là cắt nhỏ, chia nhỏ Chúng ta đều biết rằng bán sản phẩm trực tiếp đến người tiêu dùng là điều không hề đơn giản đối với đa số các nhà sản xuất và các nhà bán sỉ Do vậy các nhà sản xuất

và các nhà bán sỉ ưa thường thích bán từng lô lớn cho những nhà bán lẻ chuyênnghiệp để họ chia nhỏ ra rồi bán lại cho người tiêu dùng theo qui cách phù hợp với thói quen mua sắm của người tiêu dùng tại địa phương ấy

Chẳng hạn như nhà sản xuất nước bia cho nhà phân phối từng xe tải, nhà phân phối sau đó bán lại cho nhà bán lẻ mỗi lần có thể chỉ vài két, để nhà bán lẻ cuốicùng bán lại cho người tiêu dùng một vài chai

- Thứ ba là chức năng lưu trữ hàng hóa Một trong những chức năng chính của nhà bán lẻ là lưu trữ hàng hóa nhằm làm cho hàng hóa lúc nào cũng

có sẵn mỗi khi người tiêu dùng cần đến Người bán lẻ thông thường không

Trang 9

thích trữ chỉ một vài mặt hàng với khối lượng lớn, ngược lại họ thích trữ nhiều mặt hàng với khối lượng càng nhỏ càng tốt Vì như thế khách hàng luôn luôn

có nhiều sự chọn lựa hơn Hưởng lợi từ chức năng nầy của người bán lẻ, kháchhàng không phải mua trử nhiều sản phẩm không nhà Họ chỉ mua đủ dùng vì sản phẩm lúc nào cũng có sẵn ở cửa hàng bán lẻ

Không những thế, người bán lẻ còn dự đoán nhu cầu của khách hàng khi lên kếhoạch dự trữ hàng Đây là một lợi ích mà người bán lẻ tạo ra cho khách hàng, khi nhu cầu phát sinh khách hàng luôn dễ dàng tìm thấy thứ mà mình cần

- Cuối cùng là chức năng trưng bầy hàng hóa và cung cấp dịch vụ cộng

thêm Bên cạnh những chức năng trên, nhà bán lẻ còn tạo ra mặt bằng trưng

bày hàng hóa rộng lớn có thể trưng bày hàng hóa một cách đa dạng và phong phú, giúp khách hàng thoải mái xem, thử, chọn lựa trước khi quyết định mua.Không chỉ chấp nhận thanh toán bằng những loại thẻ tín dụng phổ biến, nhiều nhà bán lẻ còn phát hành thẻ tín dụng riêng của họ nhằm giúp cho khách hàng

có được một hạn mức tín dụng để mua hàng trước và trả tiền sau

1.4 Tầm quan trọng của ngành bán lẻ đối với nền kinh tế Việt Nam

Bảng 1.1: Doanh số bán lẻ Việt Nam so với tổng thu nhập quốc dân

Trang 10

Nguồn: CBRE (11-2008)

Trong những năm gần đây, xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế

đã mang đến cho ngành bán lẻ môi trường thuận lợi cho sự phát triển Cụ thể làtrong giai đoạn từ năm 2006-2010, tổng mức bán lẻ tăng trung bình khoảng 24% hàng năm và rất nhiều các trung tâm thương mại ra đời với những bước đột phá trong dịch vụ thương mại và cách thức cung cấp hàng hóa đến tay người tiêu dùng

Sự phát triển nhanh chóng của ngành bán lẻ đã tạo tiền đề quan trọng để thúc đẩy sản xuất, tái sản xuất phát triển trên quy mô lớn hơn Trong một thị trường đầy tiềm năng như Việt Nam, khi mà nhu cầu về hàng tiêu dùng của người dân rất lớn và không ngừng gia tăng, các nhà bán lẻ giúp cho người mua có thể tiếpcận hàng hóa một cách dễ dàng, thuận tiện hơn, làm cho quá trình tái sản xuất diễn ra thông suốt, doanh nghiệp có thêm động lực sản xuất

Bên cạnh đó, ngành bán lẻ cũng giúp giải quyết công ăn việc làm cho một lượng lớn lao động phổ thông, góp phần giảm gánh nặng do thất nghiệp gây ra cho nền kinh tế Do đặc điểm bán hàng với lượng nhỏ và cung cấp cho người tiêu dùng cuối cùng, hoạt động bán lẻ đòi hỏi một mạng lưới bán lẻ rộng khắp

để có sự hiểu biết hơn và dễ tiếp cận hơn với người tiêu dùng Bởi vây, ngành bán lẻ đòi hỏi phải có một lượng lao động lớn với những kĩ năng đơn giản Điều này giúp giải quyết tốt hơn tình trạng thất nghiệp trong một quốc gia có

Trang 11

nền giáo dục chưa được phổ cập rộng rãi và nhận thức một cách đầy đủ như nước ta.

Thực hiện chức năng đưa hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng, ngành bán lẻ làm cho người tiêu dùng dễ dàng tiếp cận và lựa chọn hàng hóa cho mình, góp phần nâng cao đời sống và mức sinh hoạt cho người dân Tiêu dùng nhiều hơn sẽ làm cho sản xuất phát triển, quay ngược trở lại nâng cao thu nhập cho người dân

Cuối cùng, hoạt động bán lẻ mang hàng hóa từ nước ngoài vào Việt Nam, điều này không chỉ giúp nâng cao mức sống cho người dân, mà đó còn là cơ hội để chúng ta có sự hiểu biết về văn hóa, đời sống, công nghệ của các nước tiên tiếntrên thế giới, từ đó tạo ra động lực cho nền kinh tế đất nước hội nhập sâu hơn

và tự ý thức để nâng cao tính cạnh tranh của chính mình Khi mà hàng hóa trong nước phải đối mặt với sự cạnh tranh đến từ những quốc gia có nền sản xuất mạnh hơn, để tồn tại, các nhà sản xuất trong nước buộc phải tự làm mới, tìm kiếm, phát triển năng lực cạnh tranh của mình Có thể nói, cùng với việc mang hàng hóa từ nước ngoài sang để thỏa mãn nhu cầu ngày càng phong phú của người tiêu dùng, các nhà bán lẻ đã đem đến cơ hội cạnh tranh và phát triển cho các doanh nghiệp sản xuất trong nước

Với những điểm đã phân tích ở trên, chúng ta có thể khảng định rằng hoạt độngbán lẻ đóng góp một vai trò quan trọng không thể thiếu cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong hiện tại cũng như tương lai

Tuy nhiên, trong điều kiện gia nhập WTO, Việt Nam theo lộ trình phải mở cửa thị trường bán lẻ Điều này đồng nghĩa với việc các nhà bán lẻ trong nước phải đối mặt với những đối thủ vốn lớn, có nguồn hàng ổn định và đầy kinh nghiệm đến từ các quốc gia khác

Và đặc biệt với một thị trường bán lẻ đầy tiềm năng như Việt Nam, sự cạnh tranh mà WTO đem lại hứa hẹn sẽ đầy thử thách

Trang 12

2 Sự cần thiết của việc nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành bán lẻ Việt Nam

2.1 Cam kết về mở cửa thị trường bán lẻ khi gia nhập WTO của Việt Nam

Theo cam kết, khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ mở cửa tất cả các phân ngành dịch vụ phân phối theo phân loại của WTO bao gồm: dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ(bao gồm cả hoạt động bán hàng đa cấp) và dịch vụ nhượng quyền thương mại

Cam kết về các hình thức phân phối của doanh nghiệp nước ngoài đầu tư tại Việt

- Thứ nhất là thành lập liên doanh với đối tác Việt Nam với điều kiện phần vốn nước ngoài trong liên doanh không quá 49%(từ ngày 1/1/2008 sẽ không hạn chế phần vốn nước ngoài trong liên doanh)

- Thứ hai là thành lập doanh nghiệp phân phối 100% vốn nước ngoài sau 1/1/2009

Lộ trình phân phối các sản phẩm theo cam kết của Việt Nam

1 Từ ngày 11/1/2007: được quyền phân phối tất cả các sản phẩm sản xuất tại Việt Nam và các sản phẩm nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam, ngoại trừ:

o Xi măng và clinke;

o Lốp (trừ lốp máy bay);

o Giấy;

o Máy kéo; phương tiện cơ giới;

o Ô tô con và xe máy;

o Sắt thép;

o Thiết bị nghe nhìn;

o Rượu và phân bón

Trang 13

2 Từ ngày 1/1/2009: Bổ sung thêm quyền phân phối thông qua dịch vụ đại

lý hoa hồng, bán buôn và bán lẻ đối với các sản phẩm máy kéo, phương tiện cơ giới, ô tô con và xe máy;

3 Từ ngày 11/1/2010: Không có bất kỳ hạn chế nào về sản phẩm được phép

phân phối (miễn là các sản phẩm đó được sản xuất tại Việt Nam hoặc được nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam)

Ví dụ đối với quyền phân phối ô tô nhập khẩu tại Việt Nam của doanh nghiệp FDI sản xuất, lắp ráp ô tô Chiếu theo cam kết trên của Việt Nam, doanh

nghiệp chỉ được quyền phân phối ô tô nhập khẩu khi hội tụ hai điều kiện là doanh nghiệp đó được cấp phép thực hiện hoạt động phân phối và việc phân phối ô tô nhập khẩu của họ được thực hiện sau ngày 1/1/2009

Quy định về việc mở thêm các điểm phân phối cho các doanh nghiệp nước ngoài

Tuy nhiên, cũng có hạn chế chung trong hoạt động của các doanh nghiệp nước ngoài khi muốn đầu tư vào thị trường phân phối bán lẻ Việt Nam là họ chỉ được phép cung cấp dịch vụ bán lẻ thông qua việc lập cơ sở bán lẻ(cửa hàng, siêu thị… ) và các doanh nghiệp này chỉ được tự động mở một địa điểm bán lẻ.Việc thành lập các cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở thứ nhất phải được sự cho phép của

cơ quan có thẩm quyền Theo cam kết gia nhập WTO, Việt Nam có quyền xemxét nhu cầu kinh tế để cho phép hay từ chối yêu cầu lập cơ sở bán lẻ thứ hai trở

đi của các doanh nghiệp phân phối có vốn đầu tư nước ngoài

Chính quy định này là lý do các doanh nghiệp nước ngoài chưa thể đầu tư ồ ạt vào thị trường bán lẻ Việt Nam, tạo cơ hội cho các nhà bán lẻ trong nước có cơhội tự hoàn thiện và nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trong bối cảnh mới

Đối với các hình thức phân phối qua mạng hoặc các hình thức thương mại điện tử khác

Trang 14

Đối với hình thức phân phối qua mạng hoặc dưới các hình thức thương mại điện tử khác, theo cam kết WTO, đối với các doanh nghiệp phân phối nước ngoài không có hiện diện thương mại tại Việt Nam (không thiết lập liên doanh,

doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài), Việt Nam chỉ cho phép họ phân phối

qua biên giới các sản phẩm sau:

• Các sản phẩm phục vụ nhu cầu cá nhân;

• Các chương trình phần mềm máy tính hợp pháp phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc vì mục đích thương mại

• Ngoài ra, các hình thức bán hàng qua mạng khác chưa được chính phủ Việt Nam cam kết

Những cam kết mở cửa thị trường đem đến cho ngành bán lẻ Việt Nam những tác động trái chiều Một mặt, kênh bán lẻ truyền thống cũng như hiện đại của chúng ta đứng trước nguy cơ sụp đổ bởi sự cạnh tranh đến từ các đối thủ quốc

tế Mặt khác, gia nhập WTO cũng đem đến một luồng gió mới cho thị trường bán lẻ còn đang sơ khai của Việt Nam Sự có mặt của các tập đoàn phân phối

đa quốc gia với thế mạnh về tài chính, công nghệ và mạng lưới sẽ đẩy hoạt động kinh doanh bán lẻ trên cả nước đi vào bước ngoặt mới của cuộc cạnh tranh

2.2 Mối đe dọa đến từ các tập đoàn bán lẻ đa quốc gia

Tính đến cuối năm 2006, thị trường phân phối ở Việt Nam đã có nhiều doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài của các tập đoàn phân phối lớn trên thế giới

Đó là các tên tuổi như Metro Cash & Carry(Đức), BigC, Parkson, Lotter với các siêu thị tại TP.HCM, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ và đang tiếp tục triển khai kế hoạch mở rộng thêm các siêu thị vừa và nhỏ tiếp theo trên các tỉnh thành phố khác

Với những ưu thế vượt trội về vốn, công nghệ, phương pháp quản lý và kinh nghiệm kinh doanh trong ngành phân phối ở các nước trên thế giới, các tập

Trang 15

đoàn phân phối đa quốc gia đã thực sự trở thành mối đe dọa cho các nhà bán lẻ trong nước.

Đầu tiên, các tập đoàn bán lẻ đa quốc gia với quy mô lớn và sức mạnh của vốn đầu tư đã tạo sức ép cho các nhà sản suất để hạ giá thành sản phẩm của họ khi đến tay người tiêu dùng Thực tế cho thấy, với cùng một mặt hàng, cùng một thời điểm nhưng được bán trong siêu thị của hệ thống siêu thị của chúng ta là đắt nhất so với Metro, BigC và các cơ sở đường phố Điều này là do khi ký hợpđồng với nhà sản xuất, các siêu thị Việt Nam thường quy định sau một thời gian bán được hàng, siêu thị mới thanh toán cho nhà sản xuất phần hàng bán được còn lượng hàng không bán được hoặc kém phẩm chất sẽ trả lại cho nhà sản xuất Như vậy, các siêu thị trong nước đã đẩy toàn bộ rủi ro trong lĩnh vực lưu thông lên nhà sản xuất cho nên nhà sản xuất sẽ nâng giá lên cộng với phần trăm siêu thị được hưởng đã đội giá sản phẩm lên cao

Khác với các siêu thị trong nước, các tập đoàn bán lẻ đa quốc gia lại làm theomột cách khác Lấy ví dụ cho trường hợp của Metro, Khi ký hợp đồng , nhàsản xuất được hưởng 4 ưu đãi, thứ nhất là dán lên nhãn hiệu của nhà sản xuấtbiểu tượng của Metro để nâng cấp sản phẩm đó lên; thứ hai là họ mua với khốilượng lớn để chi phí sản xuất giảm xuống; thứ ba là mua ổn định trong thờigian dài để nhà sản xuất hoạch định kế hoạch sản xuất cho phù hợp; thứ tư làthanh toán dứt điểm lượng hàng đã mua cho nhà sản xuất Vì được hưởng 4 ưuđãi đó nên nhà sản xuất phải chấp nhận điều khoản thứ năm là bán cho Metrotối thiểu thấp hơn 15% so với giá bán ngoài thị trường Như vậy là Metro cóđược mặt hàng rẻ, khối lượng lớn và ổn định để cung cấp cho người tiêu dùng

Do đó, khách hàng của Metro là những nhà bán lẻ, những hộ tiêu dùng lớn nhưkhách sạn, nhà hàng… Khi bán được càng nhiều hàng có nghĩa là nhà sản xuấtcũng tiêu thụ được nhiều hàng nên chi phí sản xuất sẽ giảm đi, giá thành sẽ lạicàng giảm, lãi càng nhiều

Hơn nữa, với kinh nghiệm và ứng dụng các phương pháp quả lý hiệu quả Cáctập đoàn bán lẻ đa quốc gia tỏ ra nhậy bén hơn trong việc nắm bắt nhu cầu của

Trang 16

người tiêu dùng và phản ứng kịp thời đối với những thay đổi về thị hiếu Cáchbài trí trong cửa hàng cũng được nghiên cứu kĩ lưỡng nhằm tạo cảm giác thoảimái và hứng thú mua hàng cho người tiêu dùng, khác hẳn với sự đơn điệu củacác siêu thị nội địa.

Bên cạnh đó, những chiến dịch khuyến mại, quảng cáo, quan hệ khách hàng…

mà các tập đoàn phân phối đa quốc gia tiến hành cũng đã bước đầu tạo nên vănhóa mua sắm mới cho người tiêu dùng Việt Nam Ngày nay, người Việt sống ở

đô thị ngày càng quen thuộc hơn với hình thức mua sắm trong các siêu thị lớn,háo hức trước những đợt khuyến mại được quảng cáo rầm rộ và giữ mối liên hệngày càng được cải thiện với các trung tâm mua sắm lớn

Chính những giá trị nổi trội mà các nhà bán lẻ quốc tế cung cấp đã làm cho họngày càng trở nên quen thuộc hơn trong mắt người tiêu dùng và làm giảm thịphần kinh doanh của các nhà bán lẻ nội địa

2.3 Sự non trẻ của ngành bán lẻ Việt Nam

Hệ thống phân phối tại Việt Nam hiện nay chủ đạo bởi hệ thống phân phối truyền thống với kênh phân phối chính là chợ và các tiệm bán lẻ rải rác khắp các địa phương Điều này đối chọi với hệ thống kinh doanh bán lẻ hiện đại và chủ yếu là siêu thị như Co.opMart, MaxiMark và các trung tâm bán sỉ lẻ lớn như Metro, BigC Tại các đô thị lớn - nơi có sức mua lớn nhất, nhịp sống dần dần được thay đổi trong các gia đình trẻ bởi thói quen cuối tuần đi siêu thị mua

đồ dùng cho cả gia đình trong một tuần Thêm nữa, sự chênh lệch về phương thức kinh doanh, sự đa dạng hàng hóa, giá cả, nhãn hiệu, an toàn thực phẩm

đã nghiêng cán cân lợi thế về phía hệ thống phân phối hiện đại Với sự phát triển nhãn tiền thì hệ thống phân phối hiện đại tất nhiên sẽ làm suy yếu kênh phân phối truyền thống trong thời gian tới

Đối với các nhà bán lẻ nội địa, việc thu hẹp hệ thống phân phối truyền thống thay bằng phân phối hiện đại sẽ làm ưu thế cạnh tranh của họ yếu đi do trong hàng chục năm qua họ đã phát triển các lợi thế cạnh tranh của mình dựa vào hệthống chợ và các cửa hàng bán lẻ nhỏ, phân bố rải rác

Trang 17

Bên cạnh đó, hệ thống bán lẻ hiện đại nước ta còn chưa nhiều, lại thiếu tính chuyên nghiệp và ít vốn, hệ thống hậu cần, nguồn hàng còn rời rạc, thiếu đồng

bộ Khó khăn với doanh nghiệp và hộ kinh doanh Việt Nam đó là năng lực cạnh tranh yếu vì đại bọ phận các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, trình độ quản

lý lạc hậu, cơ sở kinh doanh chưa hiện đại, chiến lược kinh doanh chưa được quan tâm đúng mức

Thêm vào đó, tuy chiếm giữ thị trường bán lẻ Việt Nam từ trước nhưng các nhà bán lẻ trong nước không chiếm được các vị trí đắc địa trong kinh doanh Thực tế cho thấy, hầu hết các siêu thị, trung tâm thương mại nước ngoài đều có

vị trí đẹp nhất, gần khu trung tâm, nơi tập trung dân cư, giao thông thuận tiện

và mặt bằng rộng

Trong phân phối bán lẻ, mối quan hệ tin tưởng giữa khách hàng và nhà kinh doanh là vô cùng quan trọng Đặc biệt, theo xu hướng của thế giới, người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến vấn đề an toàn thực phẩm và sự thoải mái trong quá trình mua sắm của mình Tuy nhiên, an toàn thực phẩm và sự minh bạch vềgiá cả, xuất xứ hàng hóa lại đang là một khâu yếu còn đang tồn tại trong hệ thống phân phối bán lẻ của chúng ta

Đối mặt với hoàn cảnh mới, cụ thể là 1/1/2009, nhà nước chính thức cấp phép kinh doanh cho các doanh nghiệp bán lẻ 100% vốn nước ngoài được hoạt độngtrong thị trường Việt Nam, điều quan trọng nhất đối với các nhà bán lẻ nội địa

là phải cải thiện năng lực cạnh tranh của mình để có thể thích ứng với điều kiệnmới mà không phải gánh chịu những cú sốc ngoài ý muốn Trong khoảng thời gian gần đây, do nền kinh tế thế giới suy thoái mà sự thiếu ổn định của thị trường Việt Nam, các công ty phân phối đa quốc gia cũng giảm dần tốc độ thâm nhập thị trường Tuy nhiên, Việt Nam vẫn là một thị trường đầy tiềm năng( xếp thứ 14 về thị trường bán lẻ tiềm năng trên thế giới vào năm 2010) vàcác nhà bán lẻ cần phải thấy được rằng đây là cơ hội để cải thiện sức cạnh tranh của mình chứ không phải là dịp để trì hoãn

3 Cơ hội và thách thức với ngành bán lẻ Việt Nam khi gia nhập WTO

Trang 18

có xu hướng đầu tư các siêu thị lớn, đáp ứng cho nhu cầu mua sắm có chấtlượng cao của người tiêu dùng Đây là các siêu có quy mô lớn, mặt hàng đadạng phong phú, áp dụng các phương tiện và kỹ thuật hiện đại trong cung cấpdịch vụ bán lẻ, phong cách phục vụ mới lạ, tạo nên sự văn minh hiện đại trongphục vụ, đáp ứng nhu cầu đa dạng phong phú và ngày càng nâng cao của ngườitiêu dùng Qua khảo sát siêu thị Big C ở Hải phòng, Hà nội, thành phố Hồ ChíMinh, Đồng nai, trong các ngày nghỉ, ngày tết, ngày lễ đã thu hút một lượngkhách hàng lớn đến tham quan và mua sắm

- Học tập được kinh nghiệm quản lý trong hệ thống bán lẻ hiện đại

Các siêu thị bán buôn, bán lẻ của các doanh nghiệp nước ngoài ở Việt namnhư Metro, Big C, Parkson, Lotte là những siêu thị áp dụng các công nghệquản lý và kinh doanh hiện đại, đặc biệt trong lĩnh vực khai thác và cung cấpnguồn hàng, chương trình quảng cáo khuyến mại, hệ thống logicstics, quản trịnhân sự, kỹ thuật bán hàng…đây là các vấn đề có tính then chốt trong hoạtđộng của siêu thị mà các doanh nghiệp Việt nam còn nhiều hạn chế Giám đốcBig C Hải phòng cho rằng hệ thống Big C có phương pháp khai thác nguồnhàng và cung cấp hàng hóa cũng như các chương trình khuyến mại, bán hàngrất linh hoạt, hiệu quả, tạo ra các mặt hàng, các dịch vụ khách hàng rất độc đáovới chi phí thấp và cạnh tranh có tác dụng thu hút khách hàng, tăng doanh sốbán hàng và rất đáng để các siêu thị khác học tập

- Tạo động lực nâng cao khả năng cạnh tranh cho các nhà bán lẻ Việt nam Trong hoạt động kinh doanh nói chung và trong dịch vụ bán lẻ nói riêng để phát triển phải tạo động lực cạnh tranh và cạnh tranh công bằng Các siêu thịnước ngoài với các ưu điểm có tính nổi trội là đối thủ cạnh tranh trực tiếp của

Trang 19

các siêu thị, các chuỗi cửa hàng tiện ích của các doanh nghiệp Việt nam Đểtồn tại, các doanh nghiệp buộc phải tự hoàn thiện mình, nâng cao khả năngcạnh tranh , đây là động lực để các doanh nghiệp phát triển

- Làm đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ trên thị trường

Các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài thường cung cấp dịch vụ có chất lượngcao, đáp ứng nhu cầu bậc cao của thị trường Các doanh nghiệp Việt nam chủyếu cung cấp các hình thức bán lẻ truyền thống, các chuỗi cửa hàng tiện ích,các siêu thị có chất lượng dịch vụ bậc trung Sự có mặt của các doanh nghiệpbán lẻ nước ngoài đã làm đa dạng hoá, tạo nên một chuỗi các sản phẩm dịch vụphủ đầy các phân khúc thị trường bán lẻ của Việt nam

- Tăng cơ hội hợp tác kinh doanh

Chỉ tính riêng phương thức 3, để tiếp cận thị trường bán lẻ Việt nam doanhnghiệp nước ngoài có thể thành lập chi nhánh, thành lập công ty 100% vốnnước ngoài, có thể góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp Việt nam, có thểmua cổ phần của các doanh nghiệp bán lẻ Việt nam, đồng thời các doanhnghiệp nước ngoài còn có nhu cầu thuê mặt bằng, nhu cầu về dịch vụ nghiêncứu thị trường, cung cấp hàng hóa, dịch vụ hỗ trợ….đây là cơ hội để các doanhnghiệp Việt nam hợp tác kinh doanh với các doanh nghiệp nước ngoài

- Nâng cao chất lượng giảm giá thành dịch vụ

Mở cửa thị trường phân phối sẽ tạo nên một sự cạnh tranh rất gay gắt, cácdoanh nghiệp trong nước và nước ngoài đều phải thường xuyên nâng cao khảnăng cạnh tranh của mình Một trong các giải pháp tạo nên khả năng cạnh tranhvượt trội là nâng cao chất lượng giảm giá thành dịch vụ, làm chất lượng dịch

vụ khách hàng thường xuyên được cải thiện, giá hàng hóa có tính cạnh tranh.Khảo sát thực tế tại siêu thị Intimex Hải phòng, Coop Mart Thành phố Hồ ChíMinh đều cho rằng để cạnh tranh với các siêu thị nước ngoài như Big C, cácsiêu thị này đều phải áp dụng các biện pháp nhằm nâng chất lượng dịch vụ tạonên sự văn minh, sang trọng trong phong cách phục vụ, giảm các chi phí nhằmgiảm giá hàng hóa nhằm thu hút khách hàng, điều này kích thích tiêu dùng vàtác động tích cực đển dòng vận động của hàng hóa để phát triển sản xuất

Trang 20

- Góp phần xuất khẩu hàng hóa cho Việt nam.

Các doanh nghiệp nước ngoài thường có hệ thống, bán buôn, bán lẻ toàn cầu,một số hàng hóa Việt nam được xuất khẩu để cung cấp cho hệ thống ở nướcngoài Ở Việt nam, Metro đã tham gia xuất khẩu các sản phẩm của Việt namcho hệ thống Metro toàn cầu, các doanh nghiệp khác hoạt động xuất khẩu cũngcòn hạn chế

3.2 Thách thức

- Tạo nên sự cạnh tranh gay gắt đối với các doanh nghiệp bản lẻ trong nước Tạo nên sự cạnh tranh vừa tác động tích cực, nhưng vừa là tác động tiêu cựcđến các doanh nghiệp bán lẻ trong nước Mở cửa thị trường áp lực cạnh tranhnên các doanh nghiệp trong nước ngày càng tăng cao, yêu cầu các doanhnghiệp trong nước phải thường xuyên đổi mới, tự hoàn thiện để phát triểntrong môi trường có tính cạnh tranh quốc tế, những doanh nghiệp không đủkhả năng cạnh tranh sẽ bị loại ra khỏi hệ thống hoặc chuyển sang các lĩnh vực kinh doanh khác phù hợp hơn

- Các doanh nghiệp bán lẻ trong nước bị mất dần thị phần

Khi mở cửa thị trường, các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài thường chọn cácphân khúc thị trường hấp dẫn để chiếm lĩnh, thường là các phân khúc thịtrường mà các doanh nghiệp Việt nam chưa có lợi thế Sự xuất hiện của cácdoanh nghiệp nước ngoài làm cho thị trường của các doanh nghiệp Việt nam bịthu hẹp, gây khó khăn cho sự phát triển của các doanh nghiệp bán lẻ trongnước

- Có một sự chuyển dịch nguồn nhân lực chất lượng cao từ các doanh nghiệpbán lẻ trong nước sang các doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài

Các doanh nghiệp nước ngoài thường có các điều kiện làm việc tốt và trả mứclương hấp dẫn hơn Khi các doanh nghiệp nước ngoài tham gia vào hệ thốngbán lẻ trong nước sẽ cần nguồn nhân lực trong nước, theo kinh nghiệm củaTrung quốc sẽ có một số cán bộ quản lý, bán hàng, phục vụ có chất lượng caođược chuyển dịch từ các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các doanhnghiệp Nhà nước sang các doanh nghiệp nước ngoài Qua khảo sát tại Coop

Trang 21

Mart, Maximark nhiều cán bộ quản lý và nhân viên bán hàng đã sang làm việctại các siêu thị nước ngoài Sự chuyển dich nguồn nhân lực, nhất là các nhàquản lý cấp cao có chất lượng sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp trongnước.

Chương II: Thực trạng khả năng cạnh tranh của ngành bán lẻ

Việt Nam sau khi gia nhập WTO

1 Thực trạng ngành bán lẻ Việt Nam sau khi gia nhập WTO

1.1 Tổng quan về thị trường bán lẻ hàng hóa và dịch vụ trong giai đoạn 2006-2010

Giai đoạn 2006- 2010 là một khoảng thời gian có đầy biến động đối với thị trường bán lẻ Việt Nam Tuy rằng cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2009phần nào ảnh hưởng đến mức độ hấp dẫn nhà đầu tư của thị trường bán lẻ Việt Nam và bằng chứng là chúng ta từ hạng nhất năm 2008 về mức độ hấp dẫn nhàđầu tư năm 2008 đã rớt xuống hạng 14 năm 2010 Mặc dù vậy, thị trường bán

lẻ Việt Nam vẫn là một thị trường đầy hấp dẫn đối với các nhà đầu tư

Trong khoảng thời gian gần đây, bất chấp sự suy thoái của nền kinh tế thế giới, Việt Nam vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng của mình và là một trong các nước có mức tăng trưởng cao nhất thế giới

Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng nền kinh tế Việt Nam 2010

Trang 22

Các nước phát triển

2.3%

Các nước đang phát triển

6.3%

Nguồn: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) Jan 2010

Trong khoảng thời gian 2006- 2010, tốc độ tăng trưởng bình quân của Việt Nam đạt khoảng 6%, tuy thấp hơn một chút so với mặt bằng các nước đang phát triển nhưng con số này cũng cho thấy sự hấp dẫn và tiềm năng của thị trường Việt Nam

- Việt Nam có một thị trường bán lẻ đầy tiềm năng với tốc độ tăng trưởng cao, ổn định và thị trường tiêu thụ lớn Quy mô thị trường bán lẻ VN năm 2007 khoảng 20 tỉ USD và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân

8%/năm.Kênh bán lẻ hiện đại có tỉ trọng 13%, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm rất cao - khoảng 30%.Riêng tại TPHCM và Hà Nội, kênh bán lẻ hiện đại có tỉ trọng khoảng 28% (năm 2008) và dự kiến lên đến 37% vàonăm 2010

Bảng 2.2: Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi, 2000- 2030(%)

Nguồn: Dự báo cơ cấu dân số Việt Nam World Bank

- Với một thị trường tiêu thụ rộng lớn khoảng 86 triệu dân,dân số trẻvới khoảng 65% dân số trong độ tuổi lao động, hơn một nửa dân số có độ tuổi

Trang 23

dưới 30 và thu nhập của người dân ngày càng cao.Mặt khác sức hấp dẫn của thịtrường bán lẻ VN còn do áp lực cạnh tranh giữa các hệ thống bán lẻ chưa nhiều

và VN có đến 65% dân số là người tiêu dùng trẻ, chi tiêu mạnh tay.Tầng lớptrung lưu với thu nhập 250USD/tháng trở lên đang tăng nhanh Riêng tầng lớptrung lưu thu nhập trên 500USD/tháng chiếm trên 1/3 số hộ gia đình ở thànhthị Chính vì thế, sức hút của thị trường bán lẻ VN tăng nhanh khi năm 2007,

VN xếp hạng 2 trên thế giới sau Ấn Độ, nhưng tháng 6.2008 - theo xếp hạngcủa Cty tư vấn Mỹ A.T.Keaney về chỉ số phát triển kinh doanh bán lẻ toàn cầu

RNCOS dự báo, đến năm 2012, Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn của các tập đoàn bán lẻ trên thế giới Các trung tâm bán lẻ hiện hữu như Big C, Lotte Mart… đang tận dụng thời cơ để nâng cao thị phần của mình rộng khắp cả nước Từ thực tế này, RNCOS cho rằng, thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ vượt qua con số 85 tỷ USD doanh thu vào năm 2012

Mặt khác, Việt Nam có vị trí địa lý gần với một số thị trường quan trọng như

Ấn Độ và Trung Quốc và các thị trường trung bình khác như Lào và

Campuchia Chính vị trí lý tưởng này hiện nay đã giúp cho Việt Nam thu hút rất nhiều nhà phân phối và bán lẻ trên thế giới tìm đến mở rộng và phát triển thị trường

- Tuy nhiên, dưới sự tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu,xếp hạng thị trường bán lẻ hấp dẫn đầu tư của Việt Nam liên tục tụt giảm.Theo đánh giá Global Retail Development Index của A.T.Kearney, thị trườngbán lẻ Việt Nam đứng thứ nhất năm 2008; số 6 năm 2009 và số 14 năm 2010

Trang 24

Đây thực sự là một sự tụt giảm gây sốc không chỉ với các nhà đầu tư mà cònđối với các nhà làm chính sách trong nước Điều đó chứng tỏ, bên cạnh nhữngtiềm năng và cơ hội lớn được phân tích ở trên, thị trường bán lẻ Việt Nam còn

có những hạn chế ngày càng trở nên rõ rệt làm cản bước nhà đầu tư Và bằngchứng là trong những năm gần đây các nhà phân phối lớn nước ngoài khôngcòn đổ bộ vào thị trường Việt Nam rầm rộ như trước nữa Thị trường nước tacòn chứa đựng những yếu tố khiến các nhà đầu tư trong và ngoài nước phảiquan ngại

+ Thứ nhất, thị trường Việt Nam vẫn còn ở dạng tiềm năng với đa

số dân vẫn ở nhóm thu nhập thấp và quy mô thị trường dù có tăng trưởngngoạn mục nhưng vẫn còn ở mức khá khiêm tốn

+ Thứ hai, tính minh bạch của thị trường còn chưa cao do thị trườngbán lẻ Việt Nam vẫn còn ở giai đoạn sơ khai mới hình thành và chưa có sự tậptrung hóa trong phân phối bán lẻ

+ Thứ ba, cơ sở hạ tầng nước ta nói chung còn cổ lỗ, yếu kém Cácnhà bán lẻ gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm mặt bằng bán lẻ, vấn đề quyhoạch đô thị và dịch vụ logistic…

Biểu 2.1: Đóng góp của các kênh mua sắm trên tổng chi tiêu của người

mua sắm

Trang 25

Nguồn: Nielsen Shopper trend 2010

- Về cơ cấu thị trường bán lẻ: siêu thị và đại siêu thị có tốc độ tăng trưởng nhanh, đóng góp của kênh bán lẻ truyền thống trên tổng chi tiêu của người tiêu dùng có xu hướng giảm rõ rệt

Trong giai đoạn 2008- 2009, có thể thấy cơ cấu đóng góp của các kênh phấn phối trên tổng chi tiêu cảu người tiêu dùng có xu hướng dịch chuyển mạnh Người tiêu dùng có xu hướng ngày càng sử dụng nhiều kênh phân phối hiện đại như siêu thị, đại siêu thị, trong khoảng thời gian này, tiêu dùng thông qua đại siêu thị tăng 150%, siêu thị tăng 100% và cũng chứng kiến sự giảm sút của các chợ truyền thống trong tổng chi tiêu của người tiêu dùng Điều này là do ảnh hưởng của hội nhập kinh tế quốc tế đã làm thay đổi phương pháp làm việc,quan niệm dẫn đến sự thay đổi hành vi của người tiêu dùng Mặt khác cũng là

do sự ưu việt của mạng lưới phân phối hiện đại so với các chợ truyền thống đã gây nên sự dịch chuyển này So với các chợ truyền thống, phong cách phục vụ của siêu thị chuyên nghiệp hơn, hàng hóa đa dạng hơn và an toàn hơn cho người tiêu dùng do xuất xứ rõ ràng Điều này phần nào cho thấy, bán lẻ thông qua các kênh phân phối hiện đại của Việt Nam là một phân khúc thị trường cònđang sơ khai nhưng đầy tiềm năng cho sự phát triển

Trang 26

Biểu 2.2: Thị phần của kênh phân phối hiện đại

Nguồn: Nielsen Retail Audit

- So với các nước trong khu vực Đông Nam Á, thị phần kênh phân phối hiện đại của Việt Nam thấp vào khoảng 10% năm 2008, so với các quốc gia khác trong khu vực, thị trường bán lẻ theo kênh phân phối hiện đại của ViệtNam còn đang ở giai đoạn sơ khai Nhưng, như đã phân tích ở biểu đồ trên, xu hướng dịch chuyển từ mua sắm thông qua kênh truyền thống sang mua sắm qua kênh hiện đại của người tiêu dùng tăng lên rõ rệt Điều này hứa hẹn sự tăngtrưởng nhanh chóng và lợi nhuận cho các nhà đầu tư nước ngoài

Về mô hình kinh doanh bán lẻ, các doanh nghiệp có xu hướng đầu tư xây dựng những siêu thị tổng hợp, có quy mô trung bình để phát huy khả năng tài chính mục tiêu kinh doanh nhiều mặt hàng tại cùng một địa điểm Nhà đầu tư sẽ cân bằng việc bán các loại hàng hóa, không chủ định tạo điểm nhấn hay chuyên doanh với loại hàng nào Đây là xu hướng kinh doanh phổ thông, được đánh giá là dễ thực hiện để nhà đầu tư có thể gia nhập thị trường Tiếp theo là kết hợp chức năng tổng hợp để tạo ra trung tâm thương mại kiêm trung tâm vui chơi giải trí Nhà đầu tư sẽ hút khách đến mua sắm kết hợp tham gia những trò

Trang 27

chơi, dịch vụ giải trí - văn hóa và ẩm thực, với trang thiết bị hiện đại nhằm tăngsức hấp dẫn Mô hình "nhiều trong 1" này tỏ ra hiệu quả và thành công tại các

đô thị lớn, đang có dấu hiệu lan ra một số đô thị hạt nhân và các khu vực khác Thực tế cho thấy, bộ phận dân cư có thu nhập khá trở lên thường đến đây, theo nhiều "gu" khác nhau, tập trung theo giới tính, nghề nghiệp hoặc giao lưu bạn

bè, gia đình, đối tác, nên người ta đến đây không chỉ vì mua sắm

Bên cạnh đó, cũng xuất hiện trào lưu xây dựng siêu thị quy mô nhỏ để chuyên bán hàng thiết yếu, "cắm" ở các vùng nông thôn, nhất là tỉnh, thành phố có mức sống từ trung bình trở lên

Đây cũng là một phân khúc thị trường hứa hẹn sẽ đem đến lợi thế cho những nhà bán lẻ nội địa do có thể cung cấp hàng chất lượng trung bình với chi phí thấp và sự thông hiểu tập quán mua sắm của nông thôn Kinh doanh theo thị trường này tuy thu được lợi nhuận tính trên đơn vị sản phẩm cao nhưng các nhà đầu tư rất tin tưởng vì đây là thị trường có số lượng người tiêu dùng lớn chiếm 74% dân số Việt Nam

Nói tóm lại, trong điều kiện gia nhập tổ chức thương mại quốc tế(WTO), thị

trường bán lẻ Việt Nam được mở ra với rất nhiều triển vọng mới cho sự phát triển Tuy trải qua sự sụt giảm về thứ hạng về độ hấp dẫn của thị trường cho các nhà đầu tư do sự khủng hoảng kinh tế toàn cầu và một số điểm hạn chế củanền kinh tế Nhưng nhìn chung, thị trường bán lẻ Việt Nam vẫn là điểm đến đáng quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài Sự cạnh tranh mà các tập đoàn phân phối đa quốc gia hứa hẹn sẽ đem lại diện mạo mới cho thị trường bán lẻ Việt Nam và khắc phục phần nào những điểm yếu về thị trường đang còn tồn tại

1.2 Thực trạng mạng lưới bán lẻ Việt Nam sau khi gia nhập WTO

Do những hạn chế về trình độ phát triển của sản xuất và tiêu dùng nên trình độ phát triển của mạng lưới phân phối còn thấp Bốn năm sau khi gia nhập WTO,

Trang 28

tình trạng đó phần nào được cải thiện nhờ sự xuất hiện của các tổ chức bán lẻ tiến bộ mang tầm cỡ quốc tế và sự cạnh tranh mà họ mang lại Tuy nhiên, mạng lưới phân phối bán lẻ nước ta vẫn còn kém phát triển, thể hiện là các loại hình phân phối hàng hóa truyền thống như chợ, cửa hàng bán lẻ nhỏ, kiot có xuhướng giảm nhưng vẫn còn tồn tại khá phổ biến; khả năng cung cấp của các dịch vụ trong và sau bán hàng của người bán lẻ thấp.

Sơ đồ 2.1: Các loại hình bán lẻ hàng hóa

Nguồn: Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam

1.2.1 Hệ thống các kênh bán lẻ truyền thống

Trên thị trường bán lẻ nước ta, các loại hình bán lẻ hiện đại mới bắt đầu phát triển nhanh trong vòng hơn 10 năm qua, tập trung ở các đô thị lớn Theo tổng hợp của vị thị trường trong nước từ báo cáo của sở công thương các tỉnh thì một số tỉnh như Hà Giang, Tuyên Quang, Cà Mau vẫn chưa có loại hình bán lẻ

là siêu thị Trên thực tế, tại nước ta, hàng hóa đến tay người tiêu dùng chủ yếu vẫn qua hệ thống chợ( khoảng 35%) và hệ thống các cửa hàng bán lẻ độc lập(40%), lượng hàng được phân phối qua siêu thị và hệ thống cửa hàng tiện lợi chỉ chiếm khoảng 20% còn lại là do nhà sản xuất trực tiếp bán hàng

Loại hình bán lẻ hàng hóa

Bán lẻ truyền thống

Bán lẻ hiện đại

Bán hàng

rong Các chợ

Kiot, cửa hàng bán lẻ

Trung tâm thương mại

Siêu thị Cửa hàng tiện ích

Trang 29

Hình thức bán lẻ truyền thống phổ biến của nước ta là chợ và cửa hàng tư nhân Thực trạng kết cấu hạ tầng các loại hình bán lẻ truyền thống tại nước ta như sau:

1.2.1.1 Hệ thống chợ:

Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu chủ yếu về mạng lưới chợ cả nước phân theo

vùng

ĐBsôngHồng

Trungdu-MNphíaBắc

Bắc

TB vàDHmiềnTrung

TâyNguyên

ĐôngNamBộ

ĐBsôngCửuLong

Nguồn: Số liệu Vụ thị trường trong nước- Bộ Công Thương, năm 2009

Trong khoảng thời gian 1993-2002, số lượng chợ trên pham vi cả nước tăng nhanh, bình quân lên đến 178% một năm, đặc biệt là Đông Nam Bộ và Đồng Bằng Sông Hồng Sau giai đoạn này, tốc độ tăng số lượng chợ cũng giảm dần Theo tổng hợp của Vụ Thị Trường Trong nước từ báo cáo của các Sở Công Thương, tính đến 31/12/2009, trên cả nước có 8.459 chợ các loại, trong đó chợ hạng 1 có 219, chiếm 2,58%, chợ hạng 2 có 954 chiếm 11,23%, chợ hạng 3 có 7.322 chiếm 86, 19% tổng số chợ trên cả nước Hầu hết các chợ hạng 1 là chợ buôn bán phát luồng ở các tỉnh, thành phố còn chợ hạng 3 là các chợ dân sinh, chợ bán lẻ ở cả đô thị và nông thôn

Trang 30

Số chợ bình quân trên một đơn vị hành chính(xã, phường, thị trấn) bình quân chung của cả nước là 0.76 chợ/ 1 đơn vị

Trên cả nước, bình quân khoảng 39km2 lãnh thổ có 1 chợ hay bán kính phục vụtrung bình của 1 chợ là 3,52 km2

Số lượng, mật độ, bán kính phục vụ của chợ phân theo vùng:

+ Vùng đồng bằng sông Hồng chiếm 20,54% tổng số chợ với mật độ 0,71 chợ/xã, phường, thị trấn và bán kính phục vụ trung bình là 1,96km2 /chợ

+ Vùng Trung du miền núi phía Bắc chiếm 16,4% tổng số chợ với mật độ 0,55chợ/ xã, phường, thị trấn và bán kính phục vụ trung bình là 4,67km2 / chợ + Vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ chiếm 29,13% tổng số chợ với mật độ 0,85 chợ/ xã phường, thị trấn và bán kính phục vụ trung bình là 3,51km2/ chợ

+ Vùng Tây Nguyên chiếm 4,14% tổng số chợ với mật độ 0,49 chợ/ xã,

Tình trạng cơ sở vật chất chợ: Một số chợ ở trung tâm các thành phố lớn đã

được đầu tư xây dựng lại cho phù hợp còn phần lớn các chợ ở khu vực nông thôn là chợ tạm, bán kiên cố

Tình hình hoạt động của các chợ: Khối lượng hàng hóa lưu thông qua chợ

chiếm 60-70% tổng hàng hóa mua bán Trên chợ, trung bình có khoảng 80% hộ kinh doanh các nhóm hàng chính là nông sản, thực phẩm, may mặc, giầy dép trong đó mặt hàng thực phẩm tươi sống chiếm 35-40 %

70-Lực lượng kinh doanh chủ yếu trên các chợ chủ yếu là các hộ tư thương và người sản xuất trực tiếp bán hàng, trong đó các hộ tư thương đóng vai trò quan

Trang 31

trọng Trung bình số lượng các hộ kinh doanh thường xuyên trên chợ ở khu vực nông thôn đồng bằng có khoảng 40-80 hộ một chợ.

- Các cửa hàng tư nhân chủ yếu bán các mặt hàng thiết yếu cho sinh hoạt của dân cư dưới hình thức đại lý hoặc các cửa hàng tự doanh của các hộ tư thương

- Quy mô của cửa hàng thường nhỏ, từ 3-10m2 / cửa hàng với thời gian hoạt động không quy định

1.2.1.3 Các loại hình bán lẻ khác

- Bán hàng rong của các tư thương, chủ yếu là tạp hóa, quần áo, rau củ quả

- Bán hàng lưu động của các doanh nghiệp thương mại, loại hình này thường mang tính chu kì và gắn liền với các phiên chợ trong vùng

1.2.2 Hệ thống các kênh bán lẻ hiện đại

Dưới tác động của hội nhập sâu rộng của nền kinh tế, người tiêu dùng Việt

Nam ngày càng giành nhiều thời gian hơn trong hoạt động mua sắm tại các trung tâm thương mại và siêu thị 70% thu nhập của người Việt Nam là giành cho mua sắm, do đó, chính người tiêu dùng với những tập quán của họ sẽ định hướng cho ngành công nghiệp bán lẻ và thị trường bán lẻ Việt Nam

Tuy rằng, kênh bán lẻ hiện đại chỉ chiếm khoảng 20% trong tống chi tiêu giànhcho mua sắm của người tiêu dùng, nhưng tốc độ tăng trưởng của kênh bán lẻ hiện đại tại Việt Nam là rất cao so với các nước trong khu vực

Trang 32

Sự tăng lên nhanh chóng của sức mua của người dân đã sức bật cho sự tăng trưởng của kênh bán lẻ hiện đại Sau mốc mở cửa thị trường bán lẻ đầu năm

2009 đã không có cuộc đổ bộ của các đại gia nước ngoài vào Việt Nam do khủng hoảng kinh tế thế giới Song theo các chuyên gia, với đà phục hồi trở lại của kinh tế thế giới và trong nước, năm 2010, ngành bán lẻ sẽ có nhiều triển vọng

Các cửa hàng tiện ích, siêu thị, trung tâm thương mại tại hai thành phố lớn là

Hà Nội, TP HCM tăng trưởng 16%, đặc biệt đóng góp giá trị tiêu thụ tới 26%

Tuy nhiên, nếu xét trong cả nước thì kênh bán lẻ hiện đại chỉ chiếm 12% giá trịtiêu thụ, trong khi con số tương tự tại các nước lân cận như Indonesia là 37%, Philippines là 44%, Thái Lan 44%, Singapore 91% Do vậy, nếu xét tương quan thì hơn 400 siêu thị tại Việt Nam chưa thấm vào đâu so với sức mua của

16 triệu dân Điều này cho thấy, kênh bán lẻ hiện đại còn rất nhiều đất cho các nhà đầu tư khai phá

1.2.2.1 Trung tâm thương mại

Thói quen tiêu dùng của người Việt Nam đang dần thay đổi Khi nhu cầu ngày càng tăng và sự phát triển nhanh của các khu đô thị, Trung tâm thương mại quy

mô lớn được dự báo sẽ trở thành mô hình bán lẻ phổ biến trong tương lai

Báo cáo thị trường bán lẻ của Công ty Trách nhiệm hữu hạn CB Richard Ellis (CBRE Việt Nam), trong vòng 5 năm trở lại đây, nguồn cung mặt bằng bán lẻ tại Hà Nội đã tăng gấp hai lần giai đoạn trước Hiện tổng nguồn cung diện tích cho thuê mặt bằng bán lẻ của Hà Nội đạt gần 120.000m2 với nhiều dự án Savico MegaMall (Long Biên), Trung Tâm thương mại chợ Mơ Ngoài ra, rấtnhiều dự án trung tâm thương mại đình đám của đại gia Vincom

Theo đó, trong vòng 5 năm tới Vincom sẽ phát triển chuỗi 10 trung tâm thươngmại với 2 tên gọi thống nhất Vincom Center và Vincom Mega Mall tại khắp các đô thị lớn của Việt Nam Hiện tại, Vincom đang chú trọng phát triển 2 TTTM trong hệ thống Mega Mall tại Hà Nội là Vincom Mega Mall – Times

Trang 33

City tại 458 Minh Khai và Vincom Mega Mall – Royal City tại 72A Nguyễn Trãi.

Theo xếp hạng của các công ty nghiên cứu thị trường thế giới, thị trường bán lẻViệt Nam đầy tiềm năng và đang có bước phát triển nhanh Hiện Việt Nam đang đứng thứ 14 về sự hấp dẫn đối với thị trường bán lẻ Người tiêu dùng Việthiện đang có xu hướng mua sắm tại các siêu thị, trung tâm thương mại cao cấp.Thói quen mua sắm hiện đại tăng từ 9% năm 2005 lên 14% vào năm 2007 và khoảng 24% vào năm 2010…

Điều này cho thấy, khi đời sống của người dân ngày càng tăng cao, cuộc sống ngày càng hiện đại thì thói quen mua sắm cũng thay đổi Trong nhịp sống hối

hả, nhiều người tiêu dùng không thể có nhiều thời gian đi khắp các chợ để tìm mua những hàng hóa cần thiết mà họ muốn tìm, do đó họ lựa chọn mua sắm tạicác siêu thị, TTTM

Bảng 2.4: Thị trường bán lẻ Hà Nội Q4 năm 2010

Departmentstore

Trang 34

% thay đổi theo

Nguồn: CB Richard Ellis Việt Nam

Theo thống kê của Công ty CBRE Việt Nam, hiện TP.HCM và Hà Nội có hơn 400.000 m2 diện tích bán lẻ hiện đại, trong đó TP.HCM chiếm 3/4 Diện tích này đã tăng gấp đôi so với 3 năm trước, tuy nhiên xu hướng xây trung tâm thương mại (TTTM) của các chủ đầu tư vẫn chưa dừng lại

Bên cạnh đó, mô hình kết hợp giữa chợ truyền thống và TTTM đang là xu hướng mới được các chủ đầu tư nhắm tới như một cách thu hút và thay đổi thóiquen mua sắm của người Việt Nam Xu hướng này hiện đang được triển khai tại Hà Nội với 4 dự án, trong đó TTTM Hàng Da (chuyển đổi từ chợ Hàng Da) đang trong giai đoạn hoàn thành 3 dự án khác được chuyển đổi từ chợ Trung Hòa, chợ Mơ và chợ Ngã Tư Sở đang trong giai đoạn thiết kế

Với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, ổn định trong thời gian dài, hội nhập kinh

tế quốc tế giúp cho người tiêu dùng tiếp cận khối lượng sản phẩm lớn hơn Sự gia tăng của thu nhập khiến cho nhu cầu trung tâm thương mại phát triển nhanhchóng và chưa có dấu hiệu sẽ dừng lại Tuy nhiên các trung tâm thương mại chủ yếu đòi hỏi số lượng vốn lớn, mặt bằng rộng cũng như trình độ quản lý

Trang 35

hiện đại Do vậy, phân khúc thị trường này các nhà bán lẻ nước ngoài chiếm ưuthế hơn các doanh nghiệp trong nước.

1.2.2.2 Siêu thị

Bảng 2.5: Hệ thống phân phối các loại nhu yếu phẩm 2009

Tiệm tạp hóa

Chợ Siêu

thị

Đại lý Cửa

hàng chuyên

Kênhkhác

Trang 36

Nguồn: Vụ thị trường trong nước- Bộ Công thương

Trong các kênh phân phối chính nêu trên, ngoài cửa hàng chuyên và đại lý mang tính chất chuyên biệt như cửa hàng vật liệu xây dựng, cửa hàng thời trang, đại lý xe máy, … thì chợ, tiệm tạp hóa phải cạnh tranh trực diện với siêu thị Thực phẩm chế biến, nhu yếu phẩm là loại hàng chủ lực của hệ thống siêu thị hiện nay

Tuy nhiên, có thể thấy rằng, trong những mặt hàng nhu yếu phẩm thì các cửa hàng chuyên doanh có lợi thế hơn với tổng cộng 35,4% lượng hàng hóa được phân phối tron khi đó siêu thị chỉ dừng lại ở con số 18% Mặt khác, các mặt hàng tươi sống cũng không phải là thế mạnh của các siêu thị Việt Nam khi chủ yếu chúng được phân phối ở các chợ truyền thống và ước tính lượng hàng hóa tươi sống chiếm đến 62% tổng mua sắm của người tiêu dùng Việt Nam

Hệ thống phân phối ở Việt Nam hiện nay chủ đạo bởi hệ thống phân phối truyền thống với kênh phân phối chính là chợ và các tiệm bán lẻ rải rác khắp các địa phương Điều này đối chọi với hệ thống kinh doanh bán lẻ hiện đại và chủ yếu là siêu thị như, MaxiMark và các trung tâm bán sỉ lẻ lớn như Metro, BigC

Theo thống kê, năm 2010 cả nước hiện có 400 siêu thị, 42 trung tâm thương mại, 150.000 cửa hàng bán lẻ và 8.751 chợ các loại, trong đó đã và đang hình thành trên 150 chợ đầu mối cấp tỉnh, 4 chợ đầu mối cấp vùng bán buôn hàng nông sản Bán lẻ hiện đại dưới hình thức siêu thị tự chọn, các cửa hàng, trung tâm thương mại tuy mới xuất hiện từ những năm 1994 nhưng đã phát triển mạnh trong những năm gần đây Và trên thực tế, các siêu thị, trung tâm thươngmại đang ngày càng trở nên quen thuộc với cả tầng lớp bình dân Đến nay các

Trang 37

cửa hàng theo kênh phân phối này không chỉ tập trung ở các thành phố lớn, như TP.HCM, Hà Nội, mà còn mở rộng đến các tỉnh có tiềm năng, các đô thị mới, ngoại thành

Tốc độ tăng trưởng hàng năm của kênh phân phối hiện đại này khoảng 20%, cao hơn tốc độ tăng trưởng của ngành bán lẻ khác 10% và của nền kinh tế7%-8% Từ chỗ chỉ chiếm dưới 3% thị phần bán lẻ, đã tăng lên khoảng trên 10%-25% và tốc độ này đang ngày càng tăng cao, đến 30%-40%

15%-Các nhà phân phối trong nước có thể kể đến như hệ thống siêu thị Co.opMart của Liênhiệp Hợp tác xã Thương mại TP.HCM, nhiều năm được Tạp chí bán

lẻ châu Á bìnhchọn là nhà bán lẻ hàng đầu tại Việt Nam; Maximark, Tax, Vinatex Mart và Satra.Trong các nhà phân phối nước ngoài, đi tiên phong là Metro & Carry (Ðức), nhà phânphối lớn thứ 5 trên thế giới Tiếp đó là Big C (Pháp) hiện đã được cấp phép 4 siêu thị,trong đó Big C Thăng Long (đã đi vàohoạt động) là siêu thị bán lẻ lớn nhất ViệtNam…

Sau khi gia nhập WTO, hệ thống siêu thị nước ta tăng nhanh chóng, chất lượng

cơ sở vật chất, thiết bị của siêu thị cũng được quan tâm đầu tư nhiều hơn: hạng mục phục vụ người tiêu dùng như hệ thống điều hòa nhiệt độ, quầy giữ hành

lý, giỏ, xe đẩy hàng đều được trang bị hơn 96%, cơ sở hậu cần như bốc dỡ hàng hóa, xe vận chuyển, nâng hàng chuyên dụng cũng được 60-80% doanh nghiệp quan tâm đầu tư

Trang 38

Số lượng và quy mô các siêu thị cũng thay đổi một cách nhanh chóng Riêng với thành phố Hồ Chí Minh, hệ thống siêu thị tăng từ 73 siêu thị năm 2006 lên

81 siêu thị năm 2008, quy mô đã được cải thiện đáng kể, chỉ còn 23,5% siêu thịhạng 3, siêu thị hạng 1 có 41 siêu thị, chiếm tỉ trọng 50,6%, siêu thị hạng 2 có

21 siêu thị chiếm 25,9%

Về nguồn hàng, trước đây, doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh siêu thị chủ yếutập trung tìm kiếm các nhà sản xuất, phân phối hàng hóa để đưa hàng vào siêu thị nhưng ngày nay, các doanh nghiệp phân phối quan tâm nhiều hơn đến lĩnh vực sản xuất, từng bước củng cố liên kết với các nhà sản xuất và tham gia vào sản xuất một số loại mặt hàng mang thương hiệu riêng Ví dụ, Saigon Co.op cónhãn hiệu Co.opMart đối với một số loại thực phẩm, BigC có nhãn hàng Wow,Metro có các nhãn hàng Quality, Select Horeca…

Xu hướng đo dẫn đến sự thay đổi trong cơ cấu nguồn hàng của các doanh nghiệp: 66,8% lượng hàng mua từ các doanh nghiệp sản xuất và phân phối trênđịa bàn nội thành, 20,4% mua từ các tỉnh, doanh nghiệp tự sản xuất và liên kết sản xuất được 4,9% lượng hàng, nguồn hàng nhập khẩu ước đạt 7,9% Như vậy, siêu thị đã không còn đơn thuần là mua đi bán lại mà còn tham gia vào khâu sản xuất nên chủ động hơn về nguồn hàng và có ảnh hưởng nhất định đối với các nhà cung ứng

Hệ thống dịch vụ trong các siêu thị ngày càng hoàn thiện, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng Điều này do nguồn cán bộ quản lý siêu thị có trình độ học vấn khá cao, tỷ lệ nhân sự làm trong hệ thống siêu thị có trình độ đại học, cao đẳng đạt 20% và tỷ lệ này trong cán bộ quản lý là 29% Về ngoại ngữ, 29% cán bộ quản lý siêu thị có thể dùng ngoại ngữ giao tiếp

1.3 Thực trạng các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam sau khi gia nhập WTO

1.3.1 Thực trạng về nhãn hiệu bán lẻ Việt Nam

Trang 39

1.3.1.1 Thực trạng nhãn hiệu ngoại tại thị trường Việt Nam

Một trong những yêu cầu bức thiết nhất đối với các doanh nghiệp trong nước nói chung và doanh nghiệp bán lẻ nói riêng trong bối cảnh ra nhập WTO là xâydựng thương hiệu cho mình Sau khi ra nhập WTO, rất nhiều các thương hiệu bán lẻ nổi tiếng nước ngoài đã vào thị trường Việt Nam đem đến sức ép không nhỏ cho các doanh nghiệp trong nước vốn trước đây chưa quan tâm đến vấn đề thương hiệu một cách đúng mức

Hiện diện trên thị trường bán lẻ Việt Nam với tư cách là các đại gia trong nghành có thể kể đến các tên tuổi như BigC, Metro, Lotte, Parkson… Tuy hiện diện trên thị trường Việt Nam chưa lâu nhưng với chính sách giá rẻ, thanh toán linh hoạt, mở nhiều kênh khuyến mãi hấp dẫn, các nhà bán lẻ nước ngoài đã tạo dựng cho mình ấn tượng tốt trong lòng người tiêu dùng trong nước Các siêu thị nước ngoài thường có lợi thế hơn các doanh nghiệp trong nước về tính

đa dạng của các mặt hàng Trung bình mỗi siêu thị nước ngoài ở VN hiện kinh doanh 40.000-50.000 mặt hàng khác nhau, trong khi tại các siêu thị trong nước con số này chỉ 25.000-30.000 mặt hàng Sự đa dạng trong chủng hàng của các siêu thị ngoại thường nhỉnh hơn siêu thị trong nước ở ngành hàng lẫn nhãn hàng Điển hình như mặt hàng gia vị hạt tiêu

Trên quầy gia vị của siêu thị Big C có đến gần 10 loại tiêu khác nhau như tiêu

sọ, tiêu xanh, tiêu hạt mịn, tiêu cay, tiêu nhập khẩu Ngay trong cùng một loạitiêu cũng có đến 2-3 nhà cung cấp khác nhau Trong khi đó, tại siêu thị Co.op Mart khách hàng chỉ có hai sự lựa chọn: tiêu sọ hoặc tiêu đen đóng gói sẵn.Các siêu thị ngoại cũng làm phong phú thêm chủng hàng hóa kinh doanh bằng nguồn hàng nhập khẩu từ công ty mẹ ở nước ngoài Tại Lotte Mart, ngoài các mặt hàng sản xuất tại VN, siêu thị còn bán nhiều mặt hàng nhập từ các nước Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Trong đó, có hẳn khu vực riêng bày bán hàng Hàn Quốc từ mì gói, gia vị đến đồ dùng gia đình

Các nhà bán lẻ nước ngoài cũng đã rất thành công trong việc tạo dựng nết đặc biệt trong thương hiệu của mình, tạo dựng ấn tượng cho người tiêu dụng Khi

Trang 40

mới bắt đầu vào thị trường Việt Nam, BigC mang theo công nghệ bánh mì Pháp và bây giờ cái tên bánh mì BigC đã trở nên rất quen thuộc với người tiêu dùng trong nước, một điểm nhấn của thương hiệu Người ta có thể đơn giản đến BigC chỉ để mua một ổ bánh mì và sau đó lạc vào thế giới hàng hóa của

họ

Có thể thấy các nhà bán lẻ nước ngoài rất biết có kinh nghiệm trong việc giúp cho thương hiệu của mình trở nên đơn giản và phổ biến với người tiêu dùng Người ta nhớ đến BigC với những ổ bánh mì Pháp, Metro với những dẫy hàng hóa phong phú, đa dạng với giá cả cạnh tranh, nhớ đến Lotte với những mặt hàng thủy sản phong phú và khu vui chơi trẻ em

1.3.1.2 Thực trạng nhãn hiệu nội tại thị trường Việt Nam

Các thương hiệu bán lẻ nội địa trong thời gian qua cũng có sự phát triển đa dạng về chủng loại và có bước tiến về chất lượng thương hiệu Xét trên quan điểm cạnh tranh, các thương hiệu bán lẻ trong nước cũng có những lợi thế mà doanh nghiệp nước ngoài không có được

- Thứ nhất, các siêu thị nước ngoài thường có diện tích lớn nên khó có thể kiếm được các vị trí ở trung tâm dân cư Điều này làm hạn chế người tiêu dùngđến với họ Trong khi đó, các nhà bán lẻ nội địa thường có các vị trí gần khu dân cư, tạo nên sự thuận tiện trong tiếp cận cho người tiêu dùng Đây cũng là nết nổi bật khi nhắc đến các nhãn hiệu bán lẻ Việt

- Thứ hai, Các nhà bán lẻ nước ngoài tỏ ra không có lợi thế về các mặt hàng hoa quả hay thực phẩm tươi sống, trong khi đó các kênh bán lẻ truyền thống lại

có lợi thế hơn về loại sản phẩm này Mặt khác, 60% hàng hóa tiêu dùng của người Việt là sản phẩm tươi sống, điều này cũng ảnh hưởng tới việc mở rộng thương hiệu cho các nhà bán lẻ nước ngoài

Các thương hiệu bán lẻ nổi tiếng trong nước có thể kể đến như:

Ngày đăng: 24/03/2015, 13:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
(2) Báo cáo tình hình kinh tế xã hội hàng năm của tổng cục thống kê (3) Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ -TS. Nguyễn Thị Nhiễu, năm2007 “Nghiên cứu dịch vụ bán buôn bán lẻ ở một số nước và vận dụng vào thị trường Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu dịch vụ bán buôn bán lẻ ở một số nước và vận dụng vào thị trường Việt Nam
(4) Đề tài khoa học cấp bộ: “Thực trạng và giải pháp phát triển hệ thống siêu thị của Việt Nam hiện nay”- Viện nghiên cứu thương mại 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp phát triển hệ thống siêu thị của Việt Nam hiện nay
(6) “Chợ có còn tồn tại trong thị trường bán lẻ hiện đại” TS.Nguyễn Mạnh Hùng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chợ có còn tồn tại trong thị trường bán lẻ hiện đại
(7) Đề tài khoa học cấp bộ “Nghiên cứu giải pháp phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn Việt Nam thời kỳ 2010- 2020 ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giải pháp phát triển thị trường bán lẻ hàng tiêu dùng ở nông thôn Việt Nam thời kỳ 2010- 2020
(8) Tài liệu diễn đàn “Toàn cảnh phân phối bán lẻ Việt Nam 2011”- Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cảnh phân phối bán lẻ Việt Nam 2011
(9) Báo cáo kết quả nghiên cứu “Đánh giá tác động của việc gia nhập WTO đối với hệ thống phân phối trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”- Sở Công Thương Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động của việc gia nhập WTO đối với hệ thống phân phối trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
(1) A.T.Kearney:”Những cánh cửa sổ hi vọng cho bán lẻ toàn cầu- Chỉ số bán lẻ toàn cầu 2009 A.T.Kearney”. 2009 Khác
(5) Giáo trình kinh tế thương mại Đại học Kinh Tế Quốc Dân- GS.TS. Đặng Đình Đào, TS. Trần Văn Bão Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: lưu chuyển hàng hóa trực tiếp từ nhà sản xuất –khách hàng - Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành bán lẻ Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO
Sơ đồ 1 lưu chuyển hàng hóa trực tiếp từ nhà sản xuất –khách hàng (Trang 5)
Sơ đồ 2: Lưu chuyển hàng hóa từ nhà sản xuất- trung gian- khách hàng - Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành bán lẻ Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO
Sơ đồ 2 Lưu chuyển hàng hóa từ nhà sản xuất- trung gian- khách hàng (Trang 6)
Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng nền kinh tế Việt Nam 2010 - Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành bán lẻ Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO
Bảng 2.1 Tốc độ tăng trưởng nền kinh tế Việt Nam 2010 (Trang 21)
Bảng 2.2: Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi, 2000- 2030(%) - Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành bán lẻ Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO
Bảng 2.2 Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi, 2000- 2030(%) (Trang 22)
Sơ đồ 2.1: Các loại hình bán lẻ hàng hóa - Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành bán lẻ Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO
Sơ đồ 2.1 Các loại hình bán lẻ hàng hóa (Trang 28)
Hình thức bán lẻ truyền thống phổ biến của nước ta là chợ và cửa hàng tư  nhân. Thực trạng kết cấu hạ tầng các loại hình bán lẻ truyền thống tại nước ta  như sau: - Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành bán lẻ Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO
Hình th ức bán lẻ truyền thống phổ biến của nước ta là chợ và cửa hàng tư nhân. Thực trạng kết cấu hạ tầng các loại hình bán lẻ truyền thống tại nước ta như sau: (Trang 29)
Bảng 2.5: Hệ thống phân phối các loại nhu yếu phẩm 2009 - Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành bán lẻ Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO
Bảng 2.5 Hệ thống phân phối các loại nhu yếu phẩm 2009 (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w