1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp tăng lợi nhuận tại công ty cổ phần kỹ thuật điện Sông Đà

68 209 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 790,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU ------Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, các doanh nghiệp tiếnhành hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm và cung cấp dịch vụ nhằmthoả mãn nhu cầu của th

Trang 1

DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU

Sơ đồ tổ chức quản lý bộ máy của công ty cổ phần kỹ thuật điện Sông Đà.Biểu tình hình sản xuất sản phẩm công nghiệp của công ty

Biểu tổng giá trị sản lượng đạt được qua các năm của công ty

Bảng cân đối kế toán hợp nhất năm 2009

Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2007-2009

Bảng so sánh sự thay đổi các nhân tố chính trong báo các kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh giai đoạn 2007-2009 của công ty

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

- -Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, các doanh nghiệp tiếnhành hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm và cung cấp dịch vụ nhằmthoả mãn nhu cầu của thị trường với mục tiêu là lợi nhuận Để đạt được mục tiêu

đó, doanh nghiệp phải thực hiện được giá trị sản phẩm, hàng hoá qua hoạt độngbán hàng Bán hàng là việc chuyển quyền sở hữu sản phẩm, hàng hoá gắn liềnvới phần lợi ích hoặc rủi ro cho khách hàng đồng thời được khách hàng thanhtoán hoặc chấp nhận thanh toán Bán hàng là giai đoạn cuối cùng của quá trìnhsản xuất kinh doanh, đây là quá trình chuyển hoá vốn từ hình thái vốn sản phẩmhàng hoá sang hình thái vốn tiền tệ hoặc vốn trong thanh toán Vì vậy, nếu làmtốt được các khâu này sẽ giúp doanh nghiệp rút ngắn chu kỳ sản xuất kinh doanh,tăng nhanh vòng quay của vốn, tạo ra lợi nhuận

Trong điều kiện kinh tế hội nhập hiện nay, sự cạnh tranh ngày càng trởnên gay gắt, quyết liệt thì việc đứng vững và khẳng định vị thế của một doanhnghiệp trên thị trường là một điều thực sự khó khăn

Bất cứ một doanh nghiệp nào khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinhdoanh trong cơ chế thị trường phải chịu tác động của các quy luật kinh tế kháchquan Theo quy luật này mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được trênthị trường thì phải không ngừng áp dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao chấtlượng sản phẩm Có như vậy doanh nghiệp mới thu hút được khách hàng đồngthời chiến thắng được các đối thủ cạnh tranh trên thị trường khi đó mới mong thuđược lợi nhuận

Trang 3

Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì mục tiêu lớn nhất là lợinhuận bởi nó đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp Để phấn đấu đạt được mức lợinhuận cao và ổn định đòi hỏi các doanh nghiệp phải cố gắng trên tất cả các mặthoạt động bao gồm tăng doanh thu, cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm, tiếtkiệm chi phí, hạ giá thành sản xuất, Do vậy nếu căn cứ vào việc phân tích đánhgiá lợi nhuận của một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, chúng ta có thể đánhgiá được một cách toàn diện về các mặt ưu nhược điểm trong hoạt động sản xuấtkinh doanh ở doanh nghiệp đó.

Xuất phát từ những lý do trên, trong thời gian thực tập tại công ty cổ phần

kỹ thuật điện Sông Đà, em đã chọn đề tài “một số biện pháp tăng lợi nhuận tại công ty cổ phần kỹ thuật điện Sông Đà” để làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp.

Kết cấu chuyên đề gồm 3 chương:

Chương I: Những vấn đề lý luận chung về lợi nhuận của doanh nghiệp Chương II: Thực trạng thực hiện lợi nhuận tại công ty cổ phần kỹ thuật

điện Sông Đà

Chương III: Phương hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm tăng lợi nhuận

cho công ty cổ phần kỹ thuật điện Sông Đà

Mặc dù có nhiều cố gắng, song do thời gian có hạn, chuyên đề tốt nghiệpcủa em còn những hạn chế, thiếu sót Em rất mong nhận được ý kiến đóng gópcủa Cô để bài thực tập tốt nghiệp của em hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ

LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHỆP

1.1 Khái niệm và vai trò của lợi nhuận đối với doanh nghiệp

Các nhà kinh tế học xã hội chủ nghĩa (XHCN) trước đây cho rằng lợinhuận dưới chế độ XHCN là thu nhập thuần tuý của xã hội XHCN Sau này họcoi “lợi nhuận của quá trình hoạt động sản xuất là phần chênh lệch giữa thu nhập

về tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ và chi phí bỏ ra để đạt được mức thunhập đó”

Các nhà kinh tế học như Samuelson và Nordhaus phát biểu “lợi nhuận làmột khoản dôi ra, bằng tổng số thu nhập trừ đi số chi” hay nói một cách cụ thểhơn, lợi nhuận được định nghĩa là “sự chênh lệch giữa tổng thu nhập của mộtdoanh nghiệp với tổng chi phí của nó” Còn theo Đavi Begg, Stanley Fiher thì

“lợi nhuận là lượng dôi ra của doanh thu so với chi phí”

Như vậy ta có thể đưa ra khái niệm tổng quát về lợi nhuận như sau:

Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí

Trong phần này, chúng ta chỉ quan tâm đến khái niệm lợi nhuận kế toáncủa công ty Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp, là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất đánh giáhiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong kì báo cáo

Trang 6

Tuy nhiên, đối với nhà quản lý doanh nghiệp họ thường chỉ quan tâm đếnkhái niệm lợi nhuận kế toán ở chỗ nó tính đến tất cả các khoản chi phí phát sinhtrong quá trình sản xuất và tiêu thụ hàng hoá.

1.1.2 Vai trò của lợi nhuận

1.1.2.1 Đối với bản thân doanh nghiệp

Trong cơ chế bao cấp cũ, đối với những người quản lý doanh nghiệp vaitrò của lợi nhuận không được đề cao Bản thân các doanh nghiệp không quan tâmđến lợi nhuận Đối với họ, việc tạo ra được lợi nhuận hay không không quantrọng, tất cả lợi nhuận đều phải nộp vào ngân sách nhà nước, nếu lỗ thì đã cóngân sách nhà nước bù Nhưng từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhiềuthành phần kinh tế mới ra đời, cùng với sự xoá bỏ cơ chế bao cấp, mọi doanhnghiệp đều phải cạnh tranh gay gắt Doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại khi tạo rađược lợi nhuận Hơn nữa lợi nhuận là chỉ tiêu tài chính cuối cùng phản ánh toàn

bộ kết quả và hiệu quả của quá trính sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Kể

từ lúc bắt đầu tìm kiếm và nghiên cứu thị trường, đầu tư máy móc tiến hành sảnxuất sản phẩm cho đến giai đoạn tiêu thụ sản phẩm, ban lãnh đạo doanh nghiệpphải tổ chức và quản lý có hiệu quả thì doanh nghiệp mới tạo ra được lợi nhuận.Chỉ khi quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tạo ra được lợi nhuận thìnhững người sở hữu nó mới có cơ sở để tiếp tục tái đầu tư, mở rộng sản xuất.Ngược lại, nếu doanh nghiệp làm ăn yếu kém, hoạt động không hiệu quả dẫn tớithua lỗ, các nhà đầu tư sẽ mất niềm tin và rời bỏ doanh nghiệp Kết cục phá sản

bị thay đổi chủ sở hữu là điều tất yếu

1.1.2.2 Đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân

Lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp là cơ sở để nhà nước tính thuế thunhập doanh nghiệp Chỉ khi doanh nghiệp làm ăn có lãi, nhà nước mới có thể thuthuế, đây chính là một trong những nguồn thu quan trọng của ngân sách nhànước, là cơ sở để nhà nước thực thi chính sách tài khoá Nhờ tạo ra được lợinhuận, các doanh nghiệp không những tạo ra được nguồn thu quan trọng chongân sách nhà nước thông qua nộp thuế thu nhập mà các doanh nghiệp còn có thể

Trang 7

tham gia đóng góp cho sự phát triển công bằng xã hội bằng việc thực hiện cáccông việc nhân đạo và từ thiện.

Ngoài ra, lợi nhuận của doanh nghiệp chính là một trong những nhân tốcấu thành nên tăng trưởng của tổng thu nhập quốc dân Thu nhập của doanhnghiệp càng cao thì mức đóng góp của nó vào tăng trưởng kinh tế càng lớn

Một yếu tố cuối cùng không thể bỏ qua chính là vai trò tái đầu tư mở rộngsản xuất của lợi nhuận đối với đất nước Khi doanh nghiệp làm ăn có lãi, họ sẽquyết định đầu tư vào việc nghiên cứu cải tiến kĩ thuật sản xuất, tìm tòi ra nhữngcông nghệ mới

1.1.2.3 Đối với người lao động

Người lao động chịu ảnh hưởng trực tiếp từ kết quả sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp Chúng ta có thể nhận thấy rằng, khi doanh nghiệp làm ăn phátđạt, tạo được một mức lợi nhuận ổn định thì đời sống của người lao động mớiđược ổn định Việc trích lập các quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi được thực hiệnmột cách nghiêm túc và đầy đủ Điều này sẽ đảm bảo ổn định đời sống người laođộng Ngược lại, nếu doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả chỉ đạt được mứclãi thấp hoặc thậm chí thua lỗ thì người chịu ảnh hưởng đầu tiên chính là ngườilao động Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp cùng mộtngành cạnh tranh nhau rất gay gắt Khi doanh nghiệp bị thua lỗ nó khó có thể cảithiện được tình hình tài chính đơn thuần chỉ bằng cách tăng sản lượng sản phẩmbán ra một cách nhanh chóng Do đó việc đầu tiên mà các nhà cải cách quản trịtài chính doanh nghiệp thường là cắt giảm chi phí Một trong những biện phápcắt giảm chi phí hiệu quả nhất chính là cắt giảm số lượng người lao động trongdoanh nghiệp Ban giám đốc phải tiến hành nghiên cứu nhằm tìm ra những bộphận, những người lao động hoạt động không còn hiệu quả nữa Hay nói theocách khác, họ đóng góp vào doanh nghiệp ít hơn những gì mà doanh nghiệp trảcho họ Như vậy cắt giảm nhân công thường là chiến lược mà các nhà quản lý tàichính doanh nghiệp chọn sử dụng khi tình hình kinh doanh trở nên khó khăn

Có lợi nhuận sẽ ổn định cuộc sống của người lao động, người lao độngyên tâm cống hiến sức lao động của mình, đời sống của người lao động từngbước được cải thiện và nâng cao

Trang 8

1.2 Xác định lợi nhuận của doanh nghiệp

Đối với doanh nghiệp, trong khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh,

nó cũng đồng thời phải tham gia các hoạt động khác như hoạt động tài chính Do

đó, chúng ta phải tìm hiểu từng bộ phận cấu thành nên tổng lợi nhuận mà doanhnghiệp tạo ra trong một kì kế toán

Tổng lợi nhuận trước thuế của một doanh nghiệp bao gồm lợi nhuận từhoạt động kinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận từ hoạt độngbất thường, đây chính là cơ sở để tính thuế thu nhập doanh nghiệp Cụ thể:

- Lợi nhuận hoạt động kinh doanh là khoản chênh lệch giữa tổng doanhthu bán sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ trừ đi chi phí hoạt động kinh doanh, bằnglợi nhuận trước thuế từ hoạt động kinh doanh trừ đi thuế thu nhập doanh nghiệp

- Lợi nhuận của hoạt động tài chính là chênh lệch giữa doanh thu hoạtđộng tài chính và chi phí hoạt động tài chính, bao gồm các hoạt động cho thuê tàisản, mua, bán trái phiếu, chứng khoán, mua bán ngoại tệ, lãi tiền gửi ngân hàng,lãi cho vay, lãi cổ phần và lãi do góp vốn liên doanh

- Lợi nhuận của hoạt động khác là chênh lệch giữa doanh thu từ hoạt độngkhác và chi phí từ hoạt động khác, bao gồm các khoản phải trả không có chủ nợthu hồi lại, các khoản nợ khó đòi đã được duyệt, nhượng bán tài sản sau khi đãtrừ đi chi phí tương ứng

Ngoài ra tuỳ theo yêu cầu cụ thể của phân tích tài chính mà các nhà quảntrị tài chính doanh nghiệp quan tâm đến các kết quả lợi nhuận khác nhau:

+ Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) = Doanh thu thuần – Giá vốnhàng bán – Chi phí bán hàng – Chi phí quản lý doanh nghiệp

+ Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế - Thuế TNDN

1.3 Ý nghĩa của chỉ tiêu lợi nhuận

Lợi nhuận giữ vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp, lợi nhuận được coi là đòn bẩy kinh tế quan trọng đồng thời còn làmột chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Lợi nhuận tác động đến tất cả mọi hoạt động của doanh nghiệp, có ảnhhưởng trực tiếp đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, việc thực hiện được chỉtiêu lợi nhuận là điều kiện quan trọng đảm bảo cho tình hình tài chính của doanhnghiệp được vững chắc

Trang 9

Lợi nhuận là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp, là chỉ tiêu quan trọng nhất

để đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Lợi nhuận là nguồn để mở rộng tái sản xuất xã hội

1.4 Các tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp

1.4.1 Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE)

Chỉ tiêu doanh lợi vốn chủ sở hữu là một trong những chỉ tiêu quan trọngnhất được dùng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong kì kếtoán

Chỉ tiêu này được xác định bằng cách chia thu nhập sau thuế của doanhnghiệp vốn chủ sở hữu (có thể là cuối năm trên bảng cân đối kế toán hoặc bìnhquân cả năm)

Lợi nhuận sau thuế ROE = X 100 (%)

Vốn CSH

ROE phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu và được các nhà đầu

tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn vào doanh nghiệp Nếu chỉ tiêudoanh lợi vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp quá thấp, các nhà đầu tư sẽ cảm thấykhông hài lòng với thực trạng tài chính của doanh nghiệp và có thể ra quyết địnhrút vốn đầu tư Chính vì vậy, tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu là một trongnhững hoạt động quan trọng nhất trong lĩnh vực hoạt động quản lý tài chính củadoanh nghiệp

1.4.2 Tỷ suất lợi nhuận tổng tài sản (ROA)

Chỉ tiêu doanh lợi tổng tài sản là một chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng đểđánh giá khả năng sinh lợi của một đồng vốn đầu tư vào hoạt động sản xuất kinhdoanh

EBIT ROA = X 100 (%)

Tổng tài sản

Trang 10

EBIT: Thu nhập trước thuế và lãi vay

Tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp được phân tích và phạm

vi so sánh mà các nhà tài chính lựa chọn thu nhập trước thuế và lãi vay hoặc thunhập sau thuế để tiến hành so sánh với tổng tài sản của doanh nghiệp ROA chochúng ta biết khả năng mang lại lợi nhuận trên tổng tài sản của nó trước khichúng ta quan tâm chi phí tài trợ của tài sản đó Tỷ suất lợi nhuận tổng tài sảncho chúng ta biết liệu rằng tài trợ bằng vay nợ có mang lại lợi nhuận hay không,chúng ta giả định rằng nếu lãi suất tiền vay của doanh nghiệp là x% thì lợi nhuậnmang lại từ tài sản được tài trợ bằng khoản đó cũng phải bằng x%

Ngoài ra, chúng ta có thể thấy rằng hai tỷ suất doanh lợi vốn chủ sở hữu(ROE) và tỷ suất doanh lợi tài sản có thể được so sánh với nhau trong quá trìnhphân tích Một tỷ suất ROE lớn hơn so với tỷ suất ROA cũng đồng nghĩa vớidoanh nghiệp đang có một đòn bẩy tài chính Sử dụng đòn bẩy tài chính là mộttrong những phương pháp tăng lợi nhuận phổ biến nhất hiện nay trên toàn thếgiới Khi sử dụng đòn bẩy tài chính, các doanh nghiệp có thể tăng lợi nhuận củamình miễn là tỷ suất lợi nhuận tổng thể của doanh nghiệp lớn hơn chi phí củaviệc vay mượn Tuy nhiên đòn bẩy tài chính cũng là một con dao hai lưỡi, nó cóthể có ảnh hưởng xấu đến tỷ suất lợi nhuận là âm hoặc dương nhưng rất thấp

Trang 11

1.4.3 Tỷ suất lợi nhuận doanh thu

Tỷ suất lợi nhuận doanh thu được tính bằng cách lấy thu nhập sau thuếchia cho tổng doanh thu bán hàng trong kì

Tỷ suất lợi nhuận này cho các nhà phân tích biết bao nhiêu phần trăm củadoanh thu đã tạo nên thu nhập sau thuế của doanh nghiệp Ví dụ, nếu tính toánđược rằng tỷ suất lợi nhuận của doanh thu là 0,1 (hay 10%), chúng ta có thể suy

ra rằng cứ bình quân 10 đồng lợi nhuận sau thuế phát sinh từ 100 đồng doanh thubán hàng

Tỷ suất lợi nhuận doanh thu là một trong những chỉ tiêu quan trọng trongviệc đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Bên cạnh đó, từ tỷ suất lợinhuận doanh thu các nhà phân tích tài chính có thể suy ra chiến lược định giá bánhàng của doanh nghiệp cũng như có thể biết được mức cạnh tranh trên thị trường.Xét một cách tổng thể, những người bán lẻ trong thị trường cạnh tranh thường có

tỷ suất lợi nhuận doanh thu thấp Trong khi những nhà tài chính có thể dự kiếnmột mức tỷ suất lợi nhuận doanh thu rất cao trên các thị trường thiểu quyền, ví

dụ như thị trường hoá dầu, khai thác và chế tác kim cương

1.4.4 Tỷ suất lợi nhuận giá thành

Tỷ suất lợi nhuận giá thành được tính bằng cách lấy lãi gộp chia cho tổngdoanh thu bán hàng

Tỷ suất này cung cấp cho chúng ta một cái nhìn đầy đủ và chính xác hơn

về chiến lược định giá sản phẩm của doanh nghiệp được nghiên cứu Ví dụ, một

tỷ suất lợi nhuận giá thành 0.33 (hay 33%) cho chúng ta biết rằng, doanh nghiệpđịnh giá sản phẩm của nó lên tới 150% chi phí sản xuất

Tuy nhiên, đây là một trong những chỉ số rất khó sử dụng, nhất là đối vớinhững doanh nghiệp cung cấp rất nhiều loại hàng hoá, chủng loại sản phẩm khácnhau hoặc đối với những thị trường hàng hoá luôn biến động

Tỷ suất doanh lợi bán hàng có thể bị hiểu hoặc suy diễn sai đơn giản chỉ vìtrong thực tế đối với nhiều loại hình kinh doanh, doanh nghiệp không tách biệtgiá vốn hàng bán với chi phí bán hàng và chi phí quản lý trong báo cáo tài chínhcủa nó Hơn nữa một khi chúng ta không xác định được giá vốn hàng bán củadoanh nghiệp, sẽ rất nguy hiểm nếu chúng ta lấy tỷ suất lợi nhuận giá thành làmchỉ tiêu chủ đạo để tiến hành phân tích tài chính

Trang 12

1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp

Lợi nhuận của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố, trong

đó có những nhân tố thuộc về chính bản thân doanh nghiệp nhưng cũng có nhữngnhân tố khách quan tác động vào quá trình hoạt động sản xuất của doanh nghiệplàm cho doanh nghiệp không đạt được lợi nhuận trong kỳ như dự tính Các nhân

tố đó bao gồm

1.5.1 Các nhân tố về phía doanh nghiệp

1.5.1.1 Tính chất của hàng hoá mà doanh nghiệp cung cấp

Theo quan điểm của kinh tế học, hàng hóa mà doanh nghiệp cung cấp rathị trường gồm 3 loại: Hàng xa xỉ, hàng thông thường và cấp thấp

- Doanh nghiệp cung cấp hàng hoá xa xỉ

Hàng hoá xa xỉ là những hàng hoá có độ co dãn cầu của thu nhập lớn hơn

1 Trong một nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định, mức tăng thu nhập khảdụng của người tiêu dùng cũng tăng nhanh Khách hàng sẽ tiêu thụ ít hàng hoácấp thấp trong khi chi tiêu nhiều hơn của các hàng hoá xa xỉ Như vậy doanh thucủa doanh nghiệp tăng lên nhanh chóng và kiếm được nhiều lợi nhuận hơn

Ngược lại, trong một nền kinh tế đang trên đà đi xuống, người dân sẽ tiêudùng ít hàng hoá xa xỉ trong khi dành một phần đáng kể thu nhập cho việc tiêudùng các chủng loại hàng hóa cấp thấp Tình trạng này xảy ra bởi vì thu nhập khảdụng giảm đi trong khi người dân có tâm lý bi quan về nền kinh tế trong tươnglai

- Doanh nghiệp cung cấp hàng hoá thông thường

Hàng hoá thông thường là những hàng hoá có độ co dãn giá của cầu lớnhơn 0 nhưng nhỏ hơn 1 Tăng trưởng kinh tế cũng có tác động cùng chiều lênhàng hoá thông thường như đối với hàng hoá cấp thấp Tuy nhiên tăng trưởngkinh tế không có ảnh hưởng mạnh mẽ lên việc tiêu thụ các loại hàng hoá thôngthường Do đó khi nền kinh tế tăng trưởng bùng nổ, doanh thu của các doanhnghiệp cung cấp hàng hoá thông thường sẽ tăng nhưng không mạnh Tương tựdoanh thu của các doanh nghiệp trên cũng giảm nhưng không mạnh khi nền kinh

tế rơi vào tình trạng suy thoái

- Doanh nghiệp cung cấp hàng hoá cấp thấp

Trang 13

Hàng hoá cấp thấp là những hàng hoá thiết yếu cho nhu cầu hàng ngàycủa con người và có hệ số co dãn giá của thu nhập nhỏ hơn 0 Hệ số co dãn giácủa cầu nhỏ hơn 0 hàm ý rằng khi thu nhập khả dụng của người tiêu dùng tănglên, người tiêu dùng sẽ tiêu thụ ít hơn những hàng hóa bị coi là cấp thấp như gạotấm, vải thô,

Trong trường hợp này doanh thu của doanh nghiệp bị ảnh hưởng theochiều ngược lại với chiều tăng trưởng kinh tế Cụ thể là trong nền kinh tế bùng

nổ, doanh thu của doanh nghiệp giảm mạnh do bán được ít sản phẩm hơn dẫn tớilợi nhuận giảm mạnh Khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái doanh thu vàlợi nhuận của doanh nghiệp đều tăng lên

1.5.1.2 Quá trình tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm hàng hoá và dịch vụ

Vấn đề được đặt ra ở đây là sau khi ban lãnh đạo doanh nghiệp lựa chọnđược qui mô sản xuất kinh doanh tối ưu, họ tiếp tục phải quyết định về một vấn

đề kinh tế cơ bản là sản xuất như thế nào để đảm bảo được giá thành sản xuất ởmức thấp chi phí không tăng lên quá cao trong khi chất lượng sản phẩm vẫn đượcduy trì hoặc chất lượng sản phẩm không ngừng được cải tiến trong khi tổng chiphí không tăng lên quá cao Các doanh nghiệp phải lựa chọn các nhân tố đầu vàosao cho phù hợp với nhu cầu sản xuất của đơn vị, ngành nghề mình Tổ chức quátrình sản xuất hàng hoá là quá trình thực hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa các yếu tốlao động đầu vào bao gồm nguyên, nhiên vật liệu, lao động khoa học côngnghệ, Đây là quá trình sử dụng đầu vào một cách tối ưu để ổn định quá trìnhsản xuất sản phẩm Quá trình này được thực hiện một cách đồng bộ, có khoa họchay không sẽ ảnh hưởng rất lớn đến năng suất lao động của người công nhân, đặcbiệt là chất lượng sản phẩm làm ra có đảm bảo tiêu chuẩn hay không Việc phấnđấu tìm mọi biện pháp để tổ chức tốt quá trình sản xuất sản phẩm hàng hoá lànhân tố có ý nghĩa quyết định để giảm chi phí sản xuất đối với từng yếu tố đầuvào, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm nhằm mục đích cuối cùng là tối đahoá lợi nhuận trong doanh nghiệp

1.5.1.3 Quá trình tổ chức tiêu thụ hàng hoá dịch vụ trên thị trường

Sau khi hàng hoá dịch vụ đã được sản xuất, vấn đề còn lại của doanhnghiệp chính là quá trình tiêu thụ sản phẩm Đối với các doanh nghiệp hoạt động

Trang 14

trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thì một trong các mục tiêu hàng đầu làphải tiêu thụ hết sản phẩm hàng hoá trong thời gian ngắn Doanh thu của doanhnghiệp chỉ có thể được ghi nhận khi người mua cam kết trả tiền Bên cạnh đóviệc tiêu thụ nhanh chóng các sản phẩm tồn kho sẽ làm giảm các chi phí củadoanh nghiệp như chi phí lưu kho, đảm bảo được chất lượng hàng hoá bán ra,tránh tình trạng thất thoát Để tổ chức tốt công tác tiêu thụ hàng hoá dịch vụ, cácdoanh nghiệp cần tổ chức tốt công tác Marketing bán hàng Marketing bán hàngbao gồm việc doanh nghiệp phải ra quyết định về phân phối sản phẩm và xúc tiếnbán hàng Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinhdoanh, việc sử dụng các kênh phân phối trung gian là điều gần như không thểtránh khỏi Các trung gian thương mại hoạt động có hiệu quả hơn vì nó có mạnglưới bán hàng rộng khắp trên thị trường tiêu thụ Các doanh nghiệp sản xuất sẽtối thiểu hoá số lần tiếp xúc bán cần thiết để thỏa mãn nhu cầu thị trường của họ.Nhờ có mối quan hệ tiếp xúc có sẵn, kinh nghiệm bán hàng đến người tiêu dùng,việc chuyên môn hoá và qui mô hoạt động mà những kênh phân phối hàng hoátrung tâm sẽ giúp doanh nghiệp sản xuất tiết kiệm thời gian tiêu thụ Trong một

số trường hợp nhà sản xuất có thể tiến hành phân phối sản phẩm trực tiếp nhưngphần lớn các loại sản phẩm hàng hoá cần phải phân phối qua các trung gianthương mại theo nguyên tắc chuyên môn hoá và phân công lao động xã hội

Ngoài việc phải tiến hành việc lựa chọn các kênh phân phối, các doanhnghiệp thường phải tiến hành hoạt động Marketing xúc tiến hỗn hợp chính làtruyền tin về sản phẩm hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp tới kháchhàng để thuyết phục họ mua và sử dụng Một số dạng chủ yếu của chiến lượcMarketing hỗn hợp thường được các doanh nghiệp sử dụng là: quảng cáo (baogồm mọi hình thức giới thiệu gián tiếp về những ý tưởng, hàng hoá hoặc dịchvụ), khuyến mại (những biện pháp tác động tức thời hay ngắn hạn để khuyếnkhích việc mua sản phẩm hay dịch vụ), tuyên truyền (quan hệ với công chúng),hay bán hàng cá nhân (giới thiệu về hàng hoá hay dịch vụ của người bán hàngqua cuộc đối thoại với một hoặc nhiều khách hàng), Marketing trực tiếp (sử dụngmột hay nhiều công cụ truyền thông Marketing để ảnh hưởng đến quyết định trựctiếp của khách hàng)

Trang 15

1.5.1.4 Đặc điểm về ngành nghề kinh doanh, tổ chức lao động và sản phẩm của doanh nghiệp.

Ta có thể thấy rằng đặc điểm kinh doanh có ảnh hưởng rất lớn tới công táctiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Trước kia, các doanh nghiệp chuyên sảnxuất và kinh doanh một loại sản phẩm nhưng hiện nay trong cơ chế thị trường,các doanh nghiệp không chỉ sản xuất kinh doanh một mặt hàng mà bên cạnh đó

có thể kinh doanh nhiều sản phẩm có những tính năng và công dụng khác nhau

- Về tổ chức lao động trong doanh nghiệp.

Việc sắp xếp lao động trong doanh nghiệp hợp lý tạo điều kiện thuận lợicho việc lưu thông hàng hoá, bố trí người lao động phù hợp với trình độ chuyênmôn, năng lực tạo điều kiện cho họ phát huy hết khả năng chuyên môn của mình

và có những sáng kiến hay cho doanh nghiệp

Trong quá trình kinh doanh, để người công nhân hiểu rõ được mục tiêuphấn đấu của doanh nghiệp mới có thể đồng tâm hiệp lực phấn đấu cho mục tiêu

đó, cho nên để doanh nghiệp phát triển bền vững cần phải kết hợp giữa sức mạnhtài chính và tình đoàn kết vì doanh nghiệp của đội ngũ công nhân

- Về sản phẩm.

Nhu cầu tiêu dùng rất đa dạng và phong phú, do vậy để đáp ứng nhu cầuhơn nữa và tăng được doanh thu thì doanh nghiệp cần có cơ cấu mặt hàng phùhợp Ngoài kinh doanh sản phẩm chính, doanh nghiệp còn có thể kèm theonhững sản phẩm phụ để tận dụng nguồn nguyên liệu và đáp ứng nhu cầu nào đócủa người tiêu dùng nhằm tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp Nhưnghơn bao giờ hết sản phẩm đó phải đảm bảo các yếu tố sau:

+ Giá cả sản phẩm

Một yếu tố quan trọng tạo nên giá cả sản phẩm là giá thành tiêu thụ Giáthành tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tất cả cácchi phí để sản xuất và tiêu thụ Giá thành là cơ sở để xác định giá bán sản phẩm

và doanh thu tiêu thụ Khi kinh doanh, mọi doanh nghiệp đều mong muốn có lãinên phải quan tâm đến giá thành tiêu thụ sản phẩm làm sao để giá thành thấp hơngiá bán sản phẩm trên thị trường Đây là một lợi thế cạnh tranh giúp cho doanhnghiệp có thể thu hút được khách hàng của đối thủ cạnh tranh Hơn nữa, giá cảsản phẩm tác động rất lớn đến quá trình tiêu thụ sản phẩm Tuỳ vào từng địa bàn

Trang 16

tiêu thụ sản phẩm có những mức giá cả khác nhau để phù hợp với giá trị sảnphẩm.

+ Chất lượng sản phẩm

Việc sản xuất sản phẩm hàng hoá phải gắn liền với việc đảm bảo và nângcao chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩm cũng là yếu tố quan trọng kìm hãmhay tăng trưởng lợi nhuận Trong cơ chế thị trường, chất lượng sản phẩm cũng là một

vũ khí cạnh tranh sắc bén có thể dễ dàng đè bẹp các đối thủ và ngược lại

Chất lượng sản phẩm phải thoả mãn nhu cầu người tiêu dùng trong nhữngđiều kiện và hoàn cảnh cụ thể về kinh tế, kỹ thuật của mỗi nước, mỗi vùng.Trong kinh doanh không thể có chất lượng như nhau cho tất cả các vùng mà cầncăn cứ vào hoàn cảnh cụ thể để đề ra các phương án chất lượng cho phù hợp

+ Chu kỳ sống của sản phẩm

Không một sản phẩm nào có thể tồn tại mãi mãi nếu như nó không có sựcải tiến theo xu hướng phát triển của thời đại Sở dĩ như vậy là vì sản phẩm cóchu kỳ sống Chu kỳ sống của sản phẩm được chia ra làm 4 giai đoạn: giai đoạnxuất hiện, giai đoạn phát triển, giai đoạn bão hoà, giai đoạn suy thoái Mỗi giaiđoạn tồn tại và phát triển nhanh hay chậm đều phải phụ thuộc vào những sảnphẩm cụ thể hay đặc tính, tính chất khác nhau

1.5.1.5 Tiềm lực tài chính

Mỗi doanh nghiệp đều có những thế mạnh nhất định và tiềm lực tài chínhcũng là một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh của doanh nghiệp Một nhàkinh doanh giỏi không thể làm gì nếu không có tài chính (tiền) Nguồn tài chínhtrong doanh nghiệp thường gồm:

- Vốn chủ sở hữu: (vốn tự có) là số tiền của các doanh nghiệp hay các cổđông góp vốn kinh doanh Là yếu tố chủ yếu tạo nên sức mạnh của doanhnghiệp

- Vốn nợ phải trả: là nguồn vốn vay từ bên ngoài thông qua các hình thứcvay dài hạn, ngắn hạn ngân hàng, phát hành trái phiếu,

1.5.1.6 Tiềm lực vô hình, vị trí cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp

Mỗi doanh nghiệp đều muốn có vị trí vững chắc trên thị trường và cơ sởvật chất kỹ thuật tốt Nhưng không phải khi mới bắt đầu thành lập mà đã có được

Trang 17

những cái đó, tiềm lực vô hình cũng vậy Để có được doanh nghiệp phải thể hiệnbằng chính những sản phẩm của mình Một khi những sản phẩm mang thươnghiệu của Công ty có uy tín với người tiêu dùng thì đương nhiên doanh nghiệp đãtạo được lòng tin với khách hàng Vì thế, những sản phẩm của doanh nghiệpmình sẽ ngày càng tiêu thụ được nhiều hơn đem lại doanh thu cao hơn.

1.5.2 Các nhân tố ngoài doanh nghiệp

1.5.2.1 Quan hệ cung cầu về hàng hoá của doanh nghiệp trên thị trường

Lợi nhuận của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp hoạt động tronglĩnh vực sản xuất kinh doanh chịu ảnh hưởng trực tiếp và tổng hợp của tất cả cácmặt, tất cả các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh như tìm hiểu nhu cầu thịtrường, nguồn cung cấp nguyên vật liệu đầu vào, công nghệ quy trình sản xuất để

ra quyết định về sản lượng hàng hoá sản xuất Nhưng trước hết lợi nhuận chịu sựtác động của cung cầu về chính hàng hoá của doanh nghiệp trên thị trường

Nhu cầu về hàng hoá mà doanh nghiệp cung cấp trên thị trường là nhân tốquan trọng trong vấn đề ra quyết định về sản lượng sản xuất Khi nắm bắt đượcnhu cầu thị trường, doanh nghiệp sẽ có khả năng để xác định qui mô tối ưu nhằmtối đa hoá lợi nhuận, hay tối đa hoá doanh thu, Nhu cầu có khả năng thanh toánđối với hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp tạo điều kiện thuận lợitrong việc tiến hành tận dụng tối đa công suất của máy móc, thiết bị Đồng thờisản phẩm của doanh nghiệp sẽ được tiêu thụ nhanh, mạnh trên thị trường, từ đólợi nhuận của doanh nghiệp sẽ tăng nhanh chóng Ngược lại, khi nhu cầu về hànghóa, dịch vụ của doanh nghiệp trên thị trường chỉ ở mức thấp, doanh nghiệp chỉ

có thể tiến hành hoạt động sản xuất cầm chừng Công nhân chỉ có thể làm việcthay phiên nhau trong khi máy móc hoạt động với công suất thấp Điều này sẽdẫn tới một sự lãng phí, doanh thu thấp và lợi nhuận không đạt được mức kếhoạch đề ra, thậm chí có thể xảy ra tình trạng thua lỗ kéo dài dẫn đến phá sản

1.5.2.2 Tỷ giá hối đoái

Trong xu thế toàn cầu hiện nay tỷ giá hối đoái đóng vai trò quan trọng đốivới sự tồn tại và quá trình phát triển của doanh nghiệp Trực tiếp hay gián tiếp nó

có ảnh hưởng rất lớn đến tổng doanh thu và tổng chi phí của doanh nghiệp, qua

đó tổng lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng theo Việc các

Trang 18

ngoại tệ khác lên giá sẽ làm lợi cho doanh nghiệp Hàng hoá xuất khẩu sẽ trở nêntương đối rẻ hơn so với hàng hoá cùng chủng loại ở nước ngoài Vì lý do nhưvậy, người nước ngoài mua nhiều hàng hóa của doanh nghiệp nước ta hơn, do đócác doanh nghiệp bán được nhiều hàng hóa hơn.

Ngoài ra, các doanh nghiệp nhập khẩu cũng bị ảnh hưởng bởi biến động tỷgiá trên thị trường ngoại hối, nhất là đối với các doanh nghiệp sử dụng hầu hếtcác nguyên vật liệu nhập khẩu Khi ngoại tệ lên giá so với đồng nội tệ, giánguyên vật liệu đầu vào tăng lên tương ứng dẫn tới giá thành sản xuất cũng tăngtheo Kết quả là chi phí sản xuất của doanh nghiệp tăng mạnh trong khi doanhnghiệp khó có thể tăng giá bán sản phẩm của mình Lợi nhuận của doanh nghiệp

sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng Khi ngoại tệ có xu hướng tăng giá mạnh, cáckhoản vay bằng ngoại tệ của doanh nghiệp để mua nguyên vật liệu và tài sản cốđịnh càng làm cho tình hình tài chính của doanh nghiệp trở nên tồi tệ Điển hình

là vụ phá sản của hãng hàng không Laker, hãng đã vay rất nhiều bằng đồng USDtrong khi hầu hết doanh thu của nó lại tính trên cơ sở của đồng bảng Anh Khiđồng USD lên giá mạnh so với đồng bảng Anh vào đầu những năm 1980, hãnghàng không Laker không chi trả được, và đã đi đến phá sản

1.5.2.3 Chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ

Chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ có tác động mạnh mẽ đến sự pháttriển của doanh nghiệp Nếu chính phủ cho rằng một ngành nào đó có vai tròquan trọng trong nền kinh tế, là đầu tàu trong phát triển kinh tế tương lai, ngành

đó sẽ được lợi từ chính sách mà chính phủ đề ra Các doanh nghiệp thuộc ngành

đó sẽ được chính phủ tạo điều kiện thuận lợi ưu đãi trong quá trình hoạt độngnhư giảm thuế, đảm bảo mua một lượng hàng hoá và dịch vụ cố định hàng năm,thậm chí chính phủ có thể áp dụng các chính sách bảo hộ như thuế nhập khẩu,hạn ngạch đối với hàng hoá cùng loại Tuy nhiên, điều này có thể dẫn đến một

hệ quả xấu là các doanh nghiệp của cùng một ngành vận động hành lang để đượcbảo vệ

1.5.2.4 Khách hàng của doanh nghiệp

Khách hàng là đối tượng mà doanh nghiệp phục vụ là yếu tố quyết định sựthành công hay thất bại của doanh nghiệp Vì quy mô hay số lượng khách hàngtạo nên quy mô của thị trường Các nhà marketing phải nghiên cứu, tìm hiểu về

Trang 19

phong tục tập quán, tâm lý… Để phân vùng thị trường tạo điều kiện cho việcphân phối sản phẩm một cách hợp lý Thông thường để theo dõi thông tin vềkhách hàng doanh nghiệp thường tập trung vào 5 loại thị trường sau:

- Thị trường người tiêu dùng: Là các cá nhân hộ gia đình mua hàng hoá,dịch vụ phục vụ cho mục đích cá nhân của mình

- Thị trường khách hàng: Là các tổ chức và các doanh nghiệp mua hànghoá, dịch vụ để gia công chế biến hoặc để sử dụng vào một quá trình sản xuấtkinh doanh

- Thị trường mua bán trung gian: Là các tổ chức cá nhân mua hàng hoá,dịch vụ bán lại nhằm mục đích kiếm lời

- Thị trường các cơ quan và tổ chức của Đảng, Nhà nước mua hàng hoádịch vụ sử dụng trong lĩnh vực quản lý và hoạt động công cộng

- Thị trường quốc tế: Là những khách hàng nước ngoài bao gồm ngườitiêu dùng, người sản xuất, người mua trung gian, chính phủ Nhu cầu và các yếu

tố tác động đến nhu cầu là khác nhau Vì vậy chúng ta cần nghiên cứu và đưa ranhững phương thức phù hợp nhất đối với khách hàng

1.5.2.5 Môi trường kinh tế, pháp luật, công nghệ

- Môi trường kinh tế: Khi một nền kinh tế tăng trưởng và phát triển với tốc

độ cao làm cho thu nhập của tầng lớp dân cư tăng lên Đây chính là cơ hội chocác doanh nghiệp đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm làm ra và mau chóng thuhồi vốn cũng như lãi Các yếu tố cơ bản của môi trường kinh tế tác động đến cơhội kinh doanh bao gồm:

+ Tiềm năng của nền kinh tế: Là yếu tố tổng quát có thể phản ánh cácnguồn lực có thể huy động

+ Các thay đổi về cấu trúc, cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân: Tácđộng đến sự thay đổi vị trí, vai trò và xu hướng phát triển của nền kinh tế quốcdân kéo theo sự thay đổi chiều hướng phát triển của doanh nghiệp

+ Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế: Xu hướng phát triển chung của nềnkinh tế, của tổng ngành liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến sự phát triển hay suyvong của doanh nghiệp

+ Lạm phát và khả năng kiểm soát lạm phát: Ảnh hưởng đến hiệu quả thunhập tích luỹ, kích thích hay kìm hãm lợi nhuận

Trang 20

+ Hoạt động ngoại thương: Xu hướng đóng mở của nền kinh tế tác độngđến cơ hội phát triển của doanh nghiệp, các điều kiện cạnh tranh, khả năng sửdụng lợi thế quốc gia và thế giới công nghệ, nguồn vốn, thị trường…

+ Hệ thống thuế, mức độ hoàn thiện và thực thi các chính sách thuế

+ Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế

- Môi trường chính trị: Một quốc gia có chế độ chính trị ổn định tạo điềukiện cho các doanh nghiệp yên tâm trong công tác sản xuất kinh doanh và mởrộng quan hệ buôn bán, trao đổi với nước ngoài, mở rộng thị trường xuất khẩu

- Môi trường pháp luật: Có ảnh hưởng rất lớn đến các doanh nghiệp Nóvừa tác động tích cực vừa tác động tiêu cực đến sự phát triển của doanh nghiệp

Vì vậy các doanh nghiệp một mặt hết sức tuân thủ pháp luật, một mặt cố gắngtìm kẽ hở để lách luật

- Môi trường công nghệ: Một doanh nghiệp có dây chuyền công nghệ sảnxuất hiện đại sẽ tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, kiểu dáng đẹp phù hợp với thịhiếu người tiêu dùng và tiêu thụ sản phẩm một cách nhanh chóng đem lại lợinhuận cao Ngược lại, một doanh nghiệp có công nghệ cũ kĩ, lạc hậu thì sảnphẩm làm ra có chất lượng kém không tiêu thụ được dẫn đến bị lỗ vốn và dầndần dẫn đến phá sản

1.5.2.6 Môi trường văn hoá, xã hội

Phong tục tập quán, lối sống, thói quen người tiêu dùng có ảnh hưởng sâusắc tới nhu cầu thị trường và do đó ảnh hưởng đến khả năng cung ứng sản phẩmcủa doanh nghiệp

1.5.2.7 Các đối thủ cạnh tranh

Trong cơ chế thị trường thì cạnh tranh là một quy luật tất yếu dễ tồn tại vàphát triển, các doanh nghiệp phải đương đầu với các đối thủ cạnh tranh Khi môitrường cạnh tranh khốc liệt thì bắt buộc các doanh nghiệp phải nâng cao chấtlượng về mọi mặt để có thể tiêu thụ sản phẩm (đó là ưu thế trong cạnh tranh).Nhưng mặt khác có một số doanh nghiệp cạnh tranh không lành mạnh, dùngnhiều thủ đoạn gây tổn thất cho những doanh nghiệp khác và khách hàng (đó làmặt trái của kinh doanh) Nhưng cạnh tranh là động lực phát triển của nền kinh tếthị trường với nguyên tắc ai hoàn thiện hơn, thoả mãn nhu cầu tốt hơn người đó

sẽ thắng

Trang 21

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KỸ THUẬT ĐIỆN SÔNG ĐÀ

2.1 Khái quát về công ty cổ phần kỹ thuật điện Sông Đà

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần kỹ thuật điện Sông Đà

Công ty cổ phần kỹ thuật điện Sông Đà được thành lập trên cơ sở góp vốncủa Tổng công ty Sông Đà và công ty cổ phần Sông Đà 11 Tiền thân là trungtâm thí nghiệm điện - Tổng công ty Sông Đà Là một doanh nghiệp nhà nướcđược thành lập theo quyết định số 34/TCT – TCĐT ngày 22/05/2002 của hộiđồng quản trị tổng công ty Sông Đà Hiện nay, công ty cổ phần kỹ thuật điệnSông Đà là đơn vị duy nhất của tổng công ty Sông Đà và là một trong bốn đơn vịcủa cả nước có khả năng thực hiện thí nghiệm hiệu chỉnh đưa vào vận hành cáccông trình điện của cả nước như nhà máy điện, trạm biến áp và đường dây tảiđiện có cấp điện áp đến 500KV, công suất đến 3000MW

Tên công ty: Công ty cổ phần kỹ thuật điện Sông Đà

Tên viết tắt: SEEC

Trung-Vốn điều lệ của Công ty: hơn 15 tỷ đồng

Qua quá trình xây dựng và trưởng thành, Công ty đã nhiều lần đổi tên, bổsung các chức năng, nhiệm vụ, Công ty đã không ngừng lớn mạnh về quy mô, tổchức sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển, đời sống vật chất, tinh thần củangười lao động luôn luôn được nâng cao

Trang 22

* Giai đoạn I (1988 – 2001)

Đây là giai đoạn rất khó khăn của Công ty, vừa phải ổn định tổ chức đểthích ứng với sự chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường, vừa phảikhắc phục những hậu quả của lịch sử để lại nhằm thích ứng được với cơ chế mới

và xây dựng cơ sở vật chất phát triển

Năm 1988 Công ty bước vào hoạt động và lấy tên là: “Trung tâm thínghiệm điện - tổng công ty Sông Đà” Với số vốn nhỏ nhoi, trang thiết bị làmviệc và cơ sở vật chất còn nghèo nàn, năng lực chuyên môn nghiệp vụ yếu nênhoạt động kém hiệu quả Trong khoảng thời gian này vấn đề sản xuất kinh doanhcủa công ty gặp rất nhiều khó khăn, giá trị sản lượng hàng năm chỉ khoảng 3 - 4

tỷ đồng Do hiệu quả kinh doanh không cao, chưa phát huy được những thế mạnhsẵn có nên đời sống của cán bộ công nhân viên công ty trong thời kỳ này hết sứckhó khăn Hoạt động của các đoàn thể chưa phát huy tác dụng trong việc thúc đẩysản xuất kinh doanh và nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên Công ty

Tuy nhiên, đến năm 1990 Công ty đổi tên thành “Công ty kinh doanh vật

tư Sông Đà 15” và đã bắt đầu tự tìm hướng đi đúng trên cơ sở tìm hiểu và nắmbắt, tích luỹ kinh nghiệm và đặc điểm của nền kinh tế thị trường, bước đầu đặtnền móng cho sự phát triển trong những năm tiếp theo

* Giai đoạn II (2001 – 2006)

Sau một thời gian bươn trải trong cơ chế thị trường đến năm 2001 Công tyđổi tên thành “Xí Nghiệp Kỹ Thuật Điện Sông Đà” Ban lãnh đạo Công ty cùngtập thể cán bộ, công nhân viên trong Công ty đã đoàn kết nhất trí, năng độngsáng tạo, đưa Công ty phát triển đi lên, liên tục làm ăn có lãi, tạo được uy tín trênthị trường

Có thể nhận thấy rõ ràng nhất trong thời kỳ này, đó là việc Công ty liêntục đầu tư cải tiến, thay thế các thiết bị cũ bằng hệ thống các thiết bị mới tiêntiến, hiện đại, phục vụ tốt cho quá trình thi công các công trình, các hạng mụclớn Có thể nói, đây là bước đi đúng đắn nhằm xác lập lại các định mức kinh tế -

kỹ thuật, cải tiến sản xuất, tiến hành quản lý khoán công việc – khoán tiền lương,giảm bớt chi phí quản lý, nhất là những chi phí trong hội họp, tiếp khách

Đối với những bộ phận kinh doanh kém hiệu quả, Công ty đã mạnh dạncho ngừng hoạt động để tìm hướng kinh doanh mới Mặt khác, ban lãnh đạo

Trang 23

Công ty đã chỉ đạo các phòng ban, chức năng kiểm tra việc tổ chức sản xuất ở cơ

sở theo dõi và thực hiện tốt các pháp lệnh thống kê kế toán, lên các kế hoạch sátthực để điều tiết và quản lý vốn Do đó, đảm bảo việc thu hồi vốn nhanh và bảotoàn vốn cho đơn vị Đối với từng bộ phận, thường xuyên duy trì chế độ báo cáothường xuyên lên ban giám đốc để đánh giá đúng việc thực hiện các kế hoạch sảnxuất kinh doanh, kịp thời chấn chỉnh, giải quyết các hiện tượng phát sinh

Bên cạnh đó, Công ty còn luôn lấy hiệu quả kinh tế để chỉ đạo sản xuấtkinh doanh là mục tiêu, phương hướng hoạt động, đồng thời triển khai mở rộng

đa dạng hoá ngành nghề, lấy đầu tư kinh doanh điện nước làm ngành mũi nhọn

Từ những giải pháp đồng bộ trong việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện trên,năm 2002 Công ty đã tiến hành cổ phần hoá và đổi tên thành “Công Ty Cổ Phần

Kỹ Thuật Điện Sông Đà” Lúc này Công ty đã hoạt động trong hầu hết các ngànhnghề, lĩnh vực có thể kể ra một số ngành nghề kinh doanh của Công ty như sau:

+ Xây lắp nhà máy điện, đường dây tải điện, trạm biến áp và các dâytruyền công nghệ có cấp điện áp đến 500KV

+ Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, thuỷ điện, thuỷ lợi,giao thông

+ Tư vấn thiết kế xây dựng, đầu tư hạ tầng và kinh doanh bất động sản.+ Kinh doanh vật tư, vận tải, sản xuất đồ gỗ gia dụng

+ Kinh doanh và đầu tư tài chính

+ San lấp, đào đắp, nạo vét bằng cơ giới các loại công trình xây dựng.+ Sản xuất vật liệu xây dựng, cấu kiện bê tông

+ Xây dựng các công trình kiến trúc hạ tầng đô thị và công nghiệp

+ Sửa chữa máy móc thiết bị và gia công cơ khí

+ Thí nghiệm hiệu chỉnh đưa vào vận hành, thí nghiệm hiệu chỉnh định

kỳ, duy tu bảo dưỡng định kỳ và xử lý sự cố bất thường các nhà máy điện, đườngdây tải điện, trạm biến áp, các dây chuyền công nghệ công nghiệp có điện áp đến500KV, công suất 3000MW

+ Lắp đặt, thí nghiệm hiệu chỉnh đưa vào vận hành, bảo trì và nâng cấpcác hệ thống thông tin viễn thông, hệ thống điều khiển phân tán, hệ thốngSCADA và các hệ thống khác trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ thông tin

Trang 24

+ Tư vấn chuyên ngành kỹ thuật điện cho quản lý xây dựng nhà máy điện,

hệ thống điện - điện tử và tự động hoá, bao gồm cả công tác đồng bộ thiết kế,đồng bộ thiết bị, lập sơ đồ khởi động và thử đồng bộ thiết bị cho các nhà máyđiện, trạm biến áp các dây chuyền công nghệ công nghiệp có công suất3000MW

+ Sản xuất công nghiệp và quản lý vận hành các lĩnh vực cơ khí điện, điện

tử, thông tin viễn thông và sản xuất năng lượng điện

+ Kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị điện - điện tử, công nghệthông tin, cơ khí, phương tiện vận tải cơ giới, phụ tùng cơ giới phục vụ thi côngxây lắp các công trình điện, kinh doanh điện thương phẩm theo luật điện lực

+ Đào tạo chuyên ngành điện kỹ thuật, điện tử, công nghệ thông tin, tinhọc,

2.1.2 Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

Công ty cổ phần kỹ thuật điện Sông Đà thực hiện chế độ tự chủ sản xuấtkinh doanh theo phương thức hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ trang trải về tàichính Công ty là một doanh nghiệp Xây Dựng Cơ Bản với ngành nghề chính làxây dựng dân dụng, công nghiệp, xây dựng các công trình thuỷ điện, thuỷ lợi,đầu tư hạ tầng Do đó đặc điểm sản xuất của Công ty là:

+ Thời gian thi công kéo dài, giá trị công trình lớn, sản phẩm được xâydựng theo đơn đặt hàng và các hợp đồng kinh tế

+ Tỷ trọng tài sản cố định và NVL chiếm 70-80% giá trị công trình

+ Thiết bị thi công không cố định một chỗ mà phải di chuyển liên tục từ vịtrí này sang vị trí khác dẫn đến việc quản lý rất phức tạp

+ Thiết bị thi công đa dạng, ngoài những thiết bị thông thường còn phải cónhững thiết bị rất đặc chủng mới thi công được

* Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm: Do sản phẩm của Công ty

được sản xuất theo đơn đặt hàng do đó quá trình sản xuất sản phẩm được tiếnhành theo công đoạn bao gồm các bước:

Bước 1: Chuẩn bị sản xuất, bao gồm: Lập dự toán công trình, lập kế

hoạch sản xuất, kế hoạch mua sắm nguyên vật liệu, chuẩn bị vốn và các điều kiệnkhác để thi công công trình và các trang thiết bị chuyên ngành để phục vụ choviệc thi công công trình

Trang 25

Bước 2: Khởi công xây dựng: Quá trình thi công được tiến hành theo

công đoạn, điểm dừng kỹ thuật, mỗi lần kết thúc một công đoạn lại tiến hànhnghiệm thu

Bước 3: Hoàn thiện quy trình sản xuất.

Công ty cổ phần kỹ thuật điện Sông Đà là doanh nghiệp cổ phần, có tưcách pháp nhân, quản lý chỉ đạo mọi hoạt động kinh tế phát sinh diễn ra tại 2 xínghiệp và 7 đội có bộ máy trực thuộc cơ quan Công ty Công ty tự đứng ra vayvốn Sau khi ký kết hợp đồng với các chủ đầu tư Công ty tiến hành giao khoáncho các xí nghiệp thông qua hợp đồng giao khoán Tiến độ sản xuất đến đâu đều

có biên bản nghiệm thu sản phẩm thực hiện Đến khi nào hoàn thành xong thìtiến hành quyết toán

Do có thời gian sản xuất khác nhau, lực lượng lao động của Công ty đượcchia thành 2 xí nghiệp và 7 đội thi công công trình Ở mỗi đội có đội trưởng, độiphó, các công nhân, thống kê kế toán đội Các đội theo dõi tình hình lao độngtrong đội, lập bảng chấm công, bảng thanh toán tiền công Các đội hạch toánriêng theo hình thức báo sổ lên xí nghiệp sau đó xí nghiệp báo cáo lên công ty

2.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy của công ty

Nguyên tắc tổ chức sản xuất: Bảo đảm sự chỉ đạo tập trung thống nhấttrong quản lý điều hành cũng như trong thực hiện các nhiệm vụ sản xuất ở tất cảcác lĩnh vực hoạt động của công ty

Bộ máy quản lý của công ty được tổ chức theo mô hình quản lý dựa vàochức năng, nhiệm vụ

Sơ đồ : Sơ đồ tổ chức quản lý bộ máy của Công ty

Trang 26

+ Thông qua định hướng phát triển của Công ty.

+ Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyềnchào bán: quyết định mức cổ tức hàng năm của từng loại cổ phần, trừ trường hợpđiều lệ Công ty có quy định khác

+ Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên hội đồng quản trị, thành viênban kiểm soát

+ Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50%tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của Công ty nếuđiều lệ Công ty không quy định một tỷ lệ khác

+ Quyết định sửa đổi, bổ sung điều lệ Công ty, trừ trường hợp điều chỉnhvốn điều lệ do bán thêm cổ phần mới trong phạm vi số lượng cổ phần đượcquyền chào bán quy định tại điều lệ Công ty

+ Quyết định mua lại trên 10% tổng số cổ phần đã bán của mỗi loại

+ Xem xét và xử lý các phạm vi của hội đồng quản trị, ban kiểm soát gâythiệt hại cho Công ty và cổ đông Công ty

+ Quyết định tổ chức lại, giải thể Công ty

Phòng

dự án

đầu tư

Phònghànhchính

Tổ chức

Phòng tàichính

kế toán

Phòngkinh tếkỹthuật

Phòngquản

lý cơgiới

Phòngkinhdoanh

Xí nghiệp 962 Các đội tổng

hợp

Xí nghiệp 961

Trang 27

+ Quyết định giá chào bán cổ phần và trái phiếu Công ty.

+ Quyết định mua lại cổ phần theo quy định của luật doanh nghiệp nhànước đối với Công ty cổ phần

+ Quyết định phương án đầu tư và dự án đầu tư trong thẩm quyền và giớihạn cho phép

+ Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ thôngqua hợp đồng mua, bán, vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớnhơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của Công

ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại điều lệ Công ty, trừ hợp đồng và giaodịch quy định

+ Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng đốivới Giám Đốc hoặc Tổng Giám Đốc và người quản lý quan trọng khác do điều lệCông ty quy định, quyết định mức lương và các lợi ích khác của những ngườiquản lý đó, cử người đại diện theo uỷ quyền thực hiện quyền sở hữu cổ phầnhoặc phần vốn góp ở Công ty khác, quyết định mức thù lao và lợi ích khác củanhững người đó

+ Duyệt chương trình, nội dung tài liệu phục vụ họp đại hội cổ đông, triệutập họp đại hội đồng cổ đông hoặc lấy ý kiến để đại hội cổ đông thông qua quyếtđịnh

Trang 28

- Ban kiểm soát:

Là người thay mặt các cổ đông để kiểm soát mọi hoạt động kinh doanhquản trị, điều hành của Công ty Chức năng nhiệm vụ của ban kiểm soát đã được

cụ thể hoá tại điều lệ của Công ty như:

+ Ban kiểm soát thực hiện giám sát hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổnggiám đốc trong việc quản lý và điều hành Công ty, chịu trách nhiệm trước đại hộiđồng cổ đông trong thực hiện các nhiệm vụ được giao

+ Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọngtrong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán,thống kê và lập báo cáo tài chính

+ Thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính hàng năm vàsáu tháng của Công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của hội đồng quản trị

+ Xem xét sổ kế toán và các tài liệu khác của Công ty, các công việc quản

lý, điều hành hoạt động của Công ty bất cứ khi nào nếu xét thấy cần thiết hoặctheo quyết định của đại hội đồng cổ đông hoặc theo yêu cầu của cổ đông hoặcnhóm cổ đông quy định

- Ban giám đốc:

+ Giám đốc là người lãnh đạo có thẩm quyền cao nhất trong Công ty, cótrách nhiệm quản lý, điều hành mọi hoạt động của Công ty trên cơ sở chấp hànhđúng đắn chủ trương, chính sách, chế độ của nhà nước, chịu trách nhiệm về kếtquả sản xuất kinh doanh của Công ty

+ Các phó giám đốc Công ty: gồm phó giám đốc công nghệ KH – TT, phógiám đốc phụ trách điều hành miền trung, phó giám đốc kiêm giám đốc chinhánh tại miền nam, phó giám đốc kiêm giám đốc xí nghiệp

+ Các phó giám đốc giúp giám đốc giải quyết các công việc được phâncông, có quyền ra lệnh cho các bộ phận thuộc quyền quản lý với quan hệ mangtính chất chỉ huy và phục tùng

Trang 29

Thực hiện công tác đào tạo và tuyển dụng lao động hàng năm cho Công ty.Thực hiện các chế độ chính sách đối với người lao động trong Công ty.Quản lý về mặt nhân sự.

+ Phòng kinh tế - kỹ thuật

+/ Bộ phận kỹ thuật: Tham mưu, giúp việc cho giám đốc Công ty - bộphận trực tiếp nghiên cứu, quản lý về lĩnh vực khoa học kỹ thuật công nghệ vàquản lý chất lượng công trình Là bộ phận quản lý tất cả các hoạt động về khoahọc, kỹ thuật, đổi mới công nghệ trong sản xuất kinh doanh của Công ty

+/ Bộ phận kế hoạch: Lập kế hoạch sản xuất tháng, quý, năm của Công tytrên cơ sở nhiệm vụ được giao và tiến độ công trình đồng thời lập và giao kếhoạch hàng tháng, quý, năm của Công ty và thường xuyên duy trì chế độ báo cáotình hình thực hiện nhiệm vụ đều đặn

Theo dõi công tác ký kết và thực hiện hợp đồng, thường xuyên cập nhậtđịnh mức đơn giá xây dựng một số chỉ tiêu khoán cho các đội

+ Phòng tài chính - kế toán

+/ Thực hiện tổ chức công tác kế toán phù hợp với đặc điểm của Công ty

và phù hợp với chế độ kế toán thống kê, pháp luật kế toán hiện hành

+/ Thực hiện việc tổ chức tốt công tác hạch toán kế toán

+/ Thông tin kế toán quản trị phục vụ lãnh đạo, lập kế hoạch tài chính, dựtrù ngân sách tài chính, các phương thức huy động vốn

+ Phòng kinh doanh vật tư

Tham mưu giúp cho giám đốc Công ty về các hoạt động kinh doanh, thựchiện triển khai các hoạt động xúc tiến bán hàng và triển khai hệ thống phân phốisản phẩm Tiến hành các hoạt động kiểm tra, kiểm soát tình hình kinh doanh trênthị trường nội địa Thực hiện triển khai các hoạt động giữ vững và ngày càng giatăng thị phần của Công ty ở thị trường trong nước Tiến hành các hoạt độngkhoán doanh thu cho các nhà phân phối thuộc Công ty nhằm đảm bảo doanh thu

đã đề ra Phòng kinh doanh có nhiệm vụ cung cấp ra thị trường các sản phẩmtheo đúng tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đảm bảo uy tín của Công ty trên thị trường.Trưởng phòng kinh doanh chịu trách nhiệm trước giám đốc về tình hình kinhdoanh của Công ty về việc phân phối sản phẩm trên thị trường Tham mưu cho

Trang 30

giám đốc về chính sách giá, phân phối và các hình thức xúc tiến bán hàng ở thịtrường trong nước.

+/ Tổ chức mua vật tư phụ tùng Cấp cho các đơn vị sau khi đầy đủ thủ tụchoàn vật tư về đến kho

+/ Theo dõi quản lý tình hình nhập xuất vật tư, dụng cụ thi công, tình hình sửdụng, quyết toán vật tư theo các quy định của nhà nước và quy chế của Công ty

+/ Thực hiện việc điều chuyển, xuất vật tư cho đơn vị thi công theo đúng

dự trù, định mức, dự toán đã được giám đốc Công ty phê duyệt

+ Phòng quản lý cơ giới

+/ Nghiệm thu phụ tùng trước khi nhập kho đưa vào sử dụng

+/ Tham mưu cho giám đốc về định mức nhiên liệu và quyết toán nhiênliệu theo định mức hàng tháng, kiểm kê đánh giá tài sản cố định, máy móc

+ Phòng dự án đầu tư

+/ Nghiên cứu thị trường, lập các dự án tiền khả thi, khả thi trình hội đồngquản trị duyệt để đầu tư Theo dõi tình hình thực hiện dự án theo quy định củapháp luật, nghị định của chính phủ, quy định của Công ty

+/ Tổ chức bộ máy quản dự án

+ Các đơn vị thi công trực tiếp

Lập biện pháp tổ chức thi công, biện pháp thi công và kế hoạch tiến độ thicông trình giám đốc của Công ty hoặc người được uỷ quyền quyết định, lập dựtrù yêu cầu vật tư, máy móc, nhân lực và các chi phí khác theo kế hoạch tiến độ

và dự toán thi công hợp đồng giao khoán trình giám đốc phê duyệt

Các phòng ban trong Công ty có mối quan hệ qua lại với nhau, có tráchnhiệm giúp đỡ, hợp tác với nhau để cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công

ty được tốt hơn

2.1.4 Đặc điểm mặt hàng sản phẩm kinh doanh của công ty

SEEC hiện có vốn điều lệ hơn 15 tỷ đồng, ngành nghề kinh doanh là xâylắp nhà máy điện, đường dây tải điện, trạm biến áp và các dây truyền công nghệ

có cấp điện áp đến 500KV

Sản xuất các loại xi măng, cột điện li tâm, vỏ bao xi măng

Kinh doanh các sản phẩm xi măng sản xuất trong nước và hàng nhậpkhẩu

Trang 31

Các sản phẩm dịch vụ kỹ thuật thí nghiệm hiệu chỉnh các nhà máy điện,đường dây tải điện, trạm biến áp, các dây chuyền công nghệ công nghiệp.

Kiểm định các phương tiện đo máy biến dòng, máy biến điện áp đo lường

Chất lượng sản phẩm:

- Công ty đã được BUREAU VERITAS CERTIFICATION chứng nhận

hệ thống quản lý chất lượng phù hợp tiêu chuẩn chất lượng quốc tế ISO 9001trong lĩnh vực xây lắp điện

- Văn phòng công nhận chất lượng - tổng cục tiêu chuẩn đo lường chấtlượng công nhận phòng thí nghiệm trung tâm thí nghiệm điện – công ty cổ phần

kỹ thuật điện Sông Đà đã được đánh giá và phù hợp với các yêu cầu của ISO/IEC17025:2005, lĩnh vực công nhận điện - điện tử, mã số VILAS162

- Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng công nhận khả năng kiểm địnhphương tiện đo máy biến dòng, máy biến áp đo lường cho trung tâm thí nghiệmđiện – công ty cổ phần kỹ thuật điện Sông Đà với dấu kiểm định mang ký hiệuN146

2.2 Tình hình sản xuất kinh doanh và kết quả đạt được của công ty

cổ phần kỹ thuật điện Sông Đà

2.2.1 Giới thiệu sản phẩm của công ty

Trước đây với sự cho phép của uỷ ban kế hoạch nhà nước, công ty kinhdoanh chủ yếu trong các ngành: thương nghiệp cung ứng vật tư thu mua, kinhdoanh vật tư - thiết bị - vật liệu xây dựng Ngành công nghiệp bao gồm: côngnghiệp vật liệu xây dựng, sản xuất các phụ kiện bằng kim loại cho xây dựng.Ngành xây dựng, thực hiện thi công xây lắp các công trình nhà ở, công trìnhcông cộng, công trình công nghiệp, san mặt bằng xây dựng Ngành giao thôngvận tải vận chuyển vật tư thiết bị bằng đường bộ, đường sông

Trang 32

Qua quá trình đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, khối lượng công việcgiảm đi cùng với sự khó khăn về vốn Công ty lại phải đối đầu với sự cạnh tranh.Nhất là khi chuyển đổi cơ chế quản lý, nền kinh tế thị trường tạo nên sức ép lớnđối với Công ty Nền kinh tế thị trường đã tạo cơ hội lớn cho nhiều Công ty khác

ra đời và tự do canh tranh, tự do đầu tư vốn vào các ngành nghề kinh doanh miễn

là đem lại lợi nhuận cho Công ty Trong khi đó các công trình lớn như nhà máythuỷ điện Hoà Bình, Vĩnh Sơn, YALY đã bước vào giai đoạn hoàn thành và đivào hoạt động

Các ngành nghề kinh doanh khác như vận tải, kinh doanh vật tư thiết bịxuất nhập khẩu gặp nhiều khó khăn về đầu ra, công tác kinh doanh vật tư thiết bịchịu sức ép do thị trường bị thu hẹp, tiêu thụ sản phẩm ngày càng gặp nhiều khókhăn Trước tình hình đó với sự kiến nghị của đội ngũ lãnh đạo Công ty và sựgiúp đỡ của Tổng Công Ty Bộ Xây Dựng đã liên tục bổ sung chức năng, nhiệm

vụ mở rộng phát triển sang các ngành nghề khác theo nhu cầu của thị trường nhưgia công cơ khí phi tiêu chuẩn và kết cấu thép xây dựng, sửa chữa trùng tu cácphương tiện vận tải thuỷ bộ và máy xây dựng

Đến cuối năm 1999 nhận thấy nhu cầu thị trường về vật liệu cho xâydựng, Công ty chú trọng đến sản xuất công nghiệp với các loại sản phẩm chính là

xi măng, vỏ bao xi măng và cột điện li tâm Công ty đã tập trung đầu tư đổi mớitrang thiết bị kỹ thuật, tăng cường huy động vốn cho nhà máy xi măng Sông Đà,

xí nghiệp sản xuất bao bì tại Ba La – Hà Đông, xưởng sản xuất cột điện li tâm tạiHoà Bình Nâng công suất sản xuất xi măng lên 82.000 tấn/năm với các sảnphẩm xi măng PC30 và PC40, công suất của sản phẩm bao bì 20 triệu vỏ/năm vàcột điện 2.500 cột các loại/năm

Đi liền với đầu tư mở rộng sản xuất công nghiệp Công ty tăng cường độingũ nghiên cứu thị trường, mở rộng thị trường ký kết các hợp đồng tiêu thụ lâudài với khối lượng lớn

2.2.2 Tình hình sản xuất và kết quả đạt được

Trong quá trình đi vào sản xuất kinh doanh, dựa vào những căn cứ từ thịtrường, xác định nhu cầu thị trường cũng như khả năng sản xuất sản phẩm củaCông ty cũng như trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ công nhân viên ngàycàng được nâng cao Hiện nay Công ty vẫn đang tiếp tục đầu tư các trang thiết bị

Trang 33

hiện đại để tăng năng suất lao động, năng cao chất lượng sản phẩm của Công tynhằm thu hút khách hàng tiêu dùng sản phẩm của Công ty Điều này được thểhiện qua kết quả sản xuất kinh doanh đã có xu hướng tăng dần qua các năm, sảnlượng tiêu thụ tăng nhanh Đó cũng là những tín hiệu thành công trong sản xuấtkinh doanh của Công ty Sau đây là những kết quả đạt được trong năm về một sốmặt hàng cũng như kết quả xây lắp:

Tính đến tháng 9/2009 công ty cổ phần kỹ thuật điện Sông Đà đã thực hiệnhoàn thành xây lắp phần điện, thí nghiệm hiệu chỉnh đưa vào vận hành các trạm biến

áp, nhà máy thủy điện và dây chuyền công nghệ công nghiệp do tổng công ty Sông

Đà, tập đoàn điện lực Việt Nam và các công ty khác làm chủ đầu tư:

- Cấp điện áp đến 35KV: Nhà máy thủy điện Nả lơi (9,3MW – 6,3/35KV),Nậm Ma (12MW – 6,3/35KV), Eakrongrou (28MW – 11/35KV), nhà máy thủyđiện Krông K’mar (12MW – 6,3/35KV)

- Cấp điện áp 110KV: Nhà máy thủy điện Cần Đơn (76MW – 11/110KV),Nậm Chiến 2 (32MW – 6,3/110KV), Hương Điền (81MW – 11/110KV),…

- Cấp điện áp đến 220KV: Nhà máy thủy điện Sê San 3 (260MW –15,75/220KV), Sê San 3A (108MW – 13,8/220KV), Tuyên Quang (342MW –13,8/220KV),…

- Trạm 110KV: khu công nghiệp dệt may Nhơn trạch (110/22KV –1*40MVA), Trạm biến áp thủy điện Tuyên Quang (63MVA – 220/110/35KV),

02 ngăn xuất tuyến 220KV – trạm 500KV Pleiku, trạm 110KV nhà máy xi măng

hạ long (110/6KV – 2*25 MVA), trạm 110KV nhà máy thép hòa phát (110/6KV– 2*45MVA),…

- Đường dây 110KV Kông chro, đường dây 110KV Hương Điền – Văn

Xá, đường dây 220KV Sê San 4 – pleiku, đường dây 220KV Dốc Sỏi – QuảngNgãi,…

- Dây chuyền công nghệ nhà máy xi măng Hạ Long, công suất đến 2 triệutấn/năm, dây chuyền công nghệ trạm nghiền xi măng Hiệp phước – TP HCM,…

Biểu 1: Tình hình sản xuất sản phẩm công nghiệp của Công ty

cổ phần kỹ thuật điện Sông Đà.

Trang 34

(Nguồn số liệu: phòng kế toán công ty)

Qua bảng trên cho ta thấy khối lượng sản phẩm tăng lên qua các năm Tuynhiên phần trăm thực hiện kế hoạch trong mỗi năm về mặt hàng xi măng luônnhỏ hơn 100% Thực hiện năm 2008 so với năm 2007 là 109,93% nhưng phầntrăm hoàn thành kế hoạch năm 2008 chi bằng 90% Năm 2009 so với năm 2008tăng lên đến 126,67% nhưng phần trăm hoàn thành kế hoạch mới là 96,5% Nhưvậy các tỷ lệ phần trăm hoàn thành kế hoạch sản xuất cho thấy năng lực sản xuấtcủa máy móc tương đối ổn định và Công ty còn chưa khai thác được hết năng lựcsản xuất này

Đối với vỏ bao xi măng tỷ lệ phần trăm hoàn thành kế hoạch tương đốitốt, sản lượng thực hiện tăng mạnh qua các năm Năm 2008 so với năm 2007 là231,95%, năm 2009 so với năm 2008 là 171,54% Tỷ lệ này cho thấy khả năng

mở rộng sản xuất tăng quy mô sản phẩm của Công ty rất tốt Công ty có khảnăng đáp ứng một lượng lớn các loại vỏ bao miễn là có nhu cầu tiêu thụ

Còn với mặt hàng cột điện thì phần trăm hoàn thành kế hoạch cũng chưacao lắm cụ thể là năm 2007 là 86,36%; năm 2008 là 98%; năm 2009 là 138,63%

Về mặt hàng này Công ty gặp một số khó khăn về công nghệ sản xuất giá thànhtương đối cao Chú trọng đổi mới công nghệ, giảm giá thành sản xuất, tăng sảnlượng sản xuất đạt công xuất thiết kế là vấn đề mà Công ty đang tổ chức thực hiện

Ngày đăng: 24/03/2015, 13:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình Quản trị Tài chính doanh nghiệp – NXB Thống kê 2000.TS Vũ Duy Hào - Phạm Văn Huệ - Phạm Long Khác
2. Quản trị Tài chính doanh nghiệp. Nguyễn Hải Sản – NXB Thống kê 1997 Khác
3. Phân tích báo cáo tài chính. PTS Nguyễn Văn Công – NXB Giáo dục 1996 Khác
4. Tài chính doanh nghiệp. PTS Lưu Linh Hương – NXB Thông kê 1996 Khác
5. Quy chế mới về mới về quản lý tài chính doanh nghiệp Nhà Nước.TCQLV và TSNN tại DN – NXB Tài chính 1998 Khác
6. Phân tích hoạt động kinh doanh. PTS Nguyễn Thị Gái – NXB Giáo dục 1996 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ : Sơ đồ tổ chức quản lý bộ máy của Công ty - Một số biện pháp tăng lợi nhuận tại công ty cổ phần kỹ thuật điện Sông Đà
Sơ đồ t ổ chức quản lý bộ máy của Công ty (Trang 25)
BẢNG SO SÁNH SỰ THAY ĐỔI CÁC NHÂN TỐ CHÍNH TRONG BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH - Một số biện pháp tăng lợi nhuận tại công ty cổ phần kỹ thuật điện Sông Đà
BẢNG SO SÁNH SỰ THAY ĐỔI CÁC NHÂN TỐ CHÍNH TRONG BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH (Trang 40)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w