Đối với các cơ quan quản lý Nhà nướcCác cơ quan của Chính phủ cần các thông tin kế toán từ doanh nghiệp phục vụ cho việc phân tích tài chính, kiểm tra tình hình sản xuất kinh doanh của d
Trang 1MỤC LỤC
Danh mục các ký hiệu các chữ viết tắt……… 4
Danh mục các bảng………5
Danh mục các sơ đồ………6
Lời mở đầu
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại doanh nghiệp 7
1.1 Khái niệm về doanh nghiệp 7
1.1 Khái quát về doanh nghiệp 7
1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp 7
1.1.2 Các loại hình doanh nghiệp 7
1.2 Công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 7
1.2.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp 7
1.2.2 Khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp 8
1.2.3 Vai trò, vị trí của công tác phân tích tài chính trong hệ thống quản lý của doanh nghiệp 8
1.2.4 Mục tiêu của công tác phân tích tài chính 13
1.2.5 Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính 14
1.2.5.1 Nguồn thông tin bên trong doanh nghiệp 15
1.2.5.2 Nguồn thông tin bên ngoài doanh nghiệp 20
1.2.6 Quy trình tổ chức công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 21
1.2.6.1 Thu thập thông tin 21
1.2.6.2 Xử lý thông tin 21
1.2.6.3 Dự đoán quyết đinh 21
1.2.7 Các phương pháp phân tích 21
1.2.7.1 Phương pháp so sánh 22
1.2.7.2 Phương pháp tỷ số 23
1.2.7.3 Phương pháp phân tích theo thời gian 24
1.2.8 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 25
Trang 21.2.8.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp 25
1.2.8.2 Phân tích cân đối tài sản, nguồn vốn 26
1.2.8.3 Phân tích khái quát về kết quả hoạt động kinh doanh của DN 27
1.2.8.4 Phân tích khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp 28
1.2.8.5 Phân tích các nhóm tỷ số cơ bản 29
1.2.8.6 Các hệ số về khả năng sinh lời 36
1.2.9 Các nhân tố chủ quan 38
1.2.9.1 Các nhân tố chủ quan 38
1.2.9.2 Những nhân tố chủ quan 39
Chương 2: Thực trạng hiệu quả phân tích tài chính tại công ty cổ phần thương mại thiết bị công nghiệp và ô tô 42
2.1 Vài nét khái quát về quá trình hình thành và phát triển của công ty thương mại thiết bị công nghiệp và ô tô 42
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 42
2.1.2 Các sản phẩm hoạt động kinh doanh chính của công ty 43
2.1.3 Tổ chức hoạt động kinh doanh của công ty 44
2.1.4 Sơ đồ tổ chức 45
2.1.5 Kết quả kinh doanh chủ yếu trong những năm gần đây 47
2.1.6 Tình hình công tác phân tích tài chính tại công ty 46
2.2 Thực trạng phân tích tài chính tại công ty thương mại thiết bị công nghiệp ô tô 49
2.2.1 Thông tin sử dụng trong phân tích 49
2.2.2 Phương pháp phân tích 49
2.2.3 Nội dung phân tích 49
2.2.3.1 Phân tích tổng quát tình hình tài chính của công ty cổ phần thiết bị công nghiệp và ô tô 49
2.2.3.2 Phân tích các tỷ số tài chính 55
2.2.4 Đánh giá về hoạt động phân tích tài chính tại công ty CP TM thiết bị công nghiệp và ô tô 61
Trang 32.2.4.1 Những kết quả đạt được 61 2.2.4.2 Những mặt hạn chế 62 2.2.4.3 Những nguyên nhân đưa ra 63
Chương 3: Nâng cao hiệu quả công tác phân tích tại công ty Cổ phần thương mại thiết bị công nghiệp và ô tô 65 3.1 Định hướng phát triển của công ty CP TM thiết bị công nghiệp và ô
tô trong thời gian tới 65 3.2 Các giải pháp hoàn thiện công tác tài chính 65 Kết luận 76 Danh mục tham khảo
Trang 5Danh mục các bảng Bảng 2.1: Bảng tổng hợp kết quả kinh doanh năm 2008 – 2010 47 Bảng 2.2: Bảng kết cấu TTS của công ty CP thương mại thiết bị công nghiệp
và ô tô qua các năm 2008,2009,2010 50
Bảng 2.3: Bảng kết cấu tổng nguồn vốn của công ty CP thương mại thiết bị
công nghiệp và ô tô năm 2008 – 2010 52
Bảng 2.4: Tình hình doanh thu của công ty trong ba năm 54 Bảng 2.5: Tình hình lợi nhuận của công ty CP thương mại thiết bị công
nghiệp và ô tô năm 2008 – 2010 55
Bảng 2.6: Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh khoản của công ty CP thương
mại thiết bị công nghiệp và ô tô năm 2008 – 2010 57
Bàng 2.7: Nhóm tỷ số cơ cấu tài sản của công ty CP TM thiết bị công nghiệp
và ô tô năm 2008 – 2010 59
Bảng 2.8: Nhóm tỷ số cơ cấu nguồn vốn của công ty CP TM thiết bị công
nghiệp và ô tô năm 2008 – 2010 59
Bảng 2.9: Nhóm tỷ số về khả năng hoạt động của công ty CP TM thiết bị
công nghiệp và ô tô năm 2008 – 2010 60
Bảng 2.10: Nhóm tỷ số về khả năng sinh lãi của công ty CP TM thiết bị công
nghiệp và ô tô năm 2008 – 2010 62
Bảng 3.1: Phân tích các chỉ tiêu theo phương pháp Dupont tại công ty năm
2008 – 2010 69
Bảng 3.2: Hệ số thanh toán lãi vay của công ty từ năm 2008 – 2010 70
Trang 6Danh mục các biểu đồ Biểu đồ 1: Biểu đồ tình hình tài sản của công ty từ năm 2008 – 2010 51 Biểu đồ 2: Cơ cấu nguồn vốn của công ty TM thiết bị CN và ô tô giai đoạn
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Trên lý thuyết cũng như thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, phân tích tài chính đóng vai trò hết sức cần thiết Mục đích của việc phân tích tài chính là giúp người sử dụng thông tin đánh giá được sức mạnh tài chính, khả năng sinh lời và triển vọng của doanh nghiệp Bước sang thế kỷ 21, nền kinh tế Việt Nam đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ với xu thế hội nhập, toàn cầu hóa Do vậy, phân tích tài chính càng có ý nghĩa quan trọng, nó có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp mà các thông tin từ việc phân tích tài chính mang lại còn hữu ích đối với các nhà đầu tư, nhà cung cấp, nhà cho vay, người lao động trong doanh nghiệp, các cơ quan quản lý nhà nước về kinh
tế Đặc biệt, đối với các công ty Cổ phần, công tác này đặc biệt chiếm vị trí nổi bật bởi nó ảnh hưởng rất lớn tới việc ra quyết định của các nhà đầu tư - một nhân tố giữ vai trò quan trọng trong doanh nghiệp
Song, vì những nguyên nhân khác nhau, trên thực tiễn, công tác phân tích tài chính tại các doanh nghiệp vẫn chưa thực sự trở thành công cụ hữu ích cho các đối tượng liên quan, do vậy chưa thực sự phát huy được vai trò, ý nghĩa tích cực của nó.Công ty Cổ phần thương mại Cổ phần thiết bị công nghiệp và ô tô là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh các mặt hàng thiết bị ô tô và công nghiệp, ngoài ra còn kinh doanh những thiết bị máy móc khác Trong lĩnh vực này, doanh nghiệp chịu sự cạnh tranh khá lớn của nhiều doanh nghiệp trong cùng lĩnh Muốn tồn tại và phát triển trong bối cảnh cạnh tranh, một nhân tố quan trọng là doanh nghiệp cần phải đánh giá chính xác thực trạng tài chính và tiềm năng của doanh nghiệp để có thể ra những quyết định đúng Bên cạnh đó, doanh nghiệp có nhận được sự quan tâm của các nhà đầu tư, các nhà cho vay, các nhà cung cấp… hay không cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ công tác phân tích tài chính của doanh nghiệp Nhận thức được tầm quan trọng của phân tích tài chính doanh nghiệp, Công
ty Cổ phần thương mại thiết bị công nghiệp và ô tô cũng quan tâm tới công tác này Nhưng công tác phân tích tài chính của Công ty vẫn chưa thực sự có hệ thống, chưa
có chiều sâu, chưa thực sự là công cụ đắc lực cho việc ra quyết định của các nhà quản lý và chưa trở thành đòn bẩy để thu hút sự quan tâm của các đối tượng liên
Trang 8quan khác Để khắc phục những tồn tại trong công tác phân tích tình hình tài chính
tại Công ty CP TM thiết bị CN và ô tô, tôi đã chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại công ty Cổ phần thương mại thiết bị công nghiệp và ô tô”.
Hoàn thiện công tác phân tích tài chính là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng, nó không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà có ý nghĩa về mặt thực tiễn cao đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Kết cấu chuyên đề gồm 3 chương
Lời mở đầu
Chương I: Một số vấn đề cơ bản về hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại doanh nghiệp
Chương II: Thực trạng hiệu quả phân tích tại công ty cổ phần thương mại thiết
bị công nghiệp và ô tô
Chương III: Hoàn thiện hiệu quả công tác phân tích tại công ty CP TM thiết bị
CN và ô tô
Kết luận
Thời gian thực tập tại công ty ngắn, cộng với kiến thức còn hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong sự đóng góp ý kiến của các anh chị tại Công ty Cổ phần thương mại thiết bị công nghiệp và ô tô và của các thầy cô giáo
Trang 9CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN
TÍCH TÀI CHÍNH TẠI DOANH NGHIỆP
1.1 Khái quát về doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu
Doanh nghiệp là một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá nhân
Có nhiều hoạt động kinh tế chỉ có thể thực hiện được bởi các doanh nghiệp chứ không phải là các cá nhân
Ở Việt Nam, theo Luật doanh nghiệp: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh- tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
1.1.2 Các loại hình doanh nghiệp
Doanh nghiệp tư nhân: Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp
Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên.
-Hình thức sở hữu chung của công ty là thuộc hình thức sở hữu chung của các thành viên
-Thành viên của công ty có thể là cá nhân, hay tổ chức Số lượng thành viên không được ít hơn hai và nhiều hơn 50
-Công ty không được phát hành cổ phần, và tự chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp
Công ty trách nhiễm hữu hạn một thành viên.
-Chủ sở hữu công ty phải là một tổ chức hoặc cá nhân
Trang 10-Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác theo quy định về chuyển đổi doanh nghiệp.-Công ty không được phát hành cổ phần.
-Công ty có tư cách pháp nhân và chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm hữu hạn đối với kết quả kinh doanh của công ty trong phạm vi vốn điều lệ của công ty
Công ty cổ phần
-Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cổ đông
có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế tối đa.-Có quyền phát hành chứng khoán để huy động vốn, theo quy định của pháp luật về chứng khoán
-Công ty có tư cách pháp nhân và là doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn
Cổ đông của công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi vốn góp vào doanh nghiệp
-Công ty hợp danh có tư cánh pháp nhân và không được phát bất kỳ một loại chứng khoán nào
1.2.Công tác phân tích tài chính doanh nghiệp.
1.2.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền
tê phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm góp phần đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp
Bản chất của tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính, được thực hiện thông qua quá trình huy động và sử dụng các loại vốn, quỹ tiền tệ nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các mối quan hệ chủ yếu ở đây là :
Trang 11Mối quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà Nước
Mối quan hệ này phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, khi Nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp
Mối quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính
Thông qua việc tìm kiếm các nguồn tài trợ trên thị trường tài chính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, có thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn Bù lại đó, doanh nghiệp buộc phải trả lãi vay và vốn vay, trả lãi cổ phần cho các nhà tài trợ Ngoài ra doanh nghiệp có thể gửi tiền vào ngân hàng, đầu tư chứng khoán bằng số tiền tạm thời chưa sử dụng
Mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các thị trường khác
Trong thời kỳ kinh tế mở cửa, doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên thị trường hàng hóa, dịch vụ, và thị trường sức lao động Tại thị trường này, doanh nghiệp có thể mua sắm được máy móc, thiết bị, và tìm kiếm nhân công lao động.Thông qua thị trường, doanh nghiệp sẽ biết được nhu cầu hàng hóa và dịch vụ cần thiết cung ứng là bao nhiêu Dựa vào đó, doanh nghiệp sẽ hoạch định ngân sách, kế hoạch hoạt động phù hợp cho doanh nghiệp mình
Mối quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp
Có thể kể ra các mối quan hệ ở đây: quan hệ giữa các bộ phận sản xuất – kinh doanh, giữa cổ đông và người quản lý, giữa cổ đông và chủ nợ, giữa người sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn Những mối quan hệ này được thể hiện thông qua các chính sách của doanh nghiệp như : chính sách cổ tức, chính sách về cơ cấu vốn, chi phí, đầu tư…
Việc quản lý tài chính luôn luôn giữ một vị trí trọng yếu trong hoạt động quản
lý của doanh nghiệp, nó quyết định tính độc lập, sự thành bại của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh, đặc biệt trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, trong điều kiện cạnh tranh đang diễn ra khốc liệt trên phạm vi toàn thế giới, quản lý tài chính càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết
Nghiên cứu phân tích tài chính là khâu quan trọng trong quản lý doanh nghiệp.Phân tích tài chính được các nhà quản lý bắt đầu chú ý từ cuối thế kỷ thứ XIX Từ đầu thế kỷ XX đến nay, phân tích tài chính thực sự được phát triển và
Trang 12được chú trọng hơn bao giờ hết bởi nhu cầu quản lý doanh nghiệp có hiệu quả ngày càng tăng, sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống tài chính, sự phát triển của các tập đoàn kinh doanh và khả năng sử dụng rộng rãi công nghệ thông tin.
1.2.2 Khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp
Theo Giáo Trình tài chính doanh nghiệp < của NXB Thống kê> phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các khái niệm, phương pháp và các công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó.
Phân tích tài chính được áp dụng rộng rãi trong mọi đơn vị kinh tế được tự chủ nhất định về tài chính như các doanh nghiệp thuộc mọi hình thức được áp dụng trong các tổ chức xã hội, tập thể và các cơ quan quản lý, tổ chức công cộng Với sự phát triển của nền kinh tế hiện nay thì phân tích tài chính ngày càng chứng tỏ sự có ích và vô cùng cần thiết của mình
1.2.3 Vai trò, vị trí của công tác phân tích tài chính trong hệ thống quản lý của doanh nghiệp
Thường xuyên tiến hành phân tích tài chính sẽ giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp và cơ quan cấp chủ quản thấy rõ bức tranh về thực trạng hoạt động tài chính, xác định đầy đủ đúng đắn những nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính của công ty, từ đó có những giải pháp hữu hiệu để ổn định
và tăng cường tình hình tài chính của doanh nghiệp
Trong điều kiện sản xuất và kinh doanh theo cơ chế thị trường, có sự quản lý
vĩ mô của Nhà nước, các doanh nghiệp theo loại hình kinh tế khác nhau đều bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh, nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, như: các nhà đầu tư, các nhà cho vay, nhà cung cấp, khách hàng,…Mỗi đối tượng này đều quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp dưới những góc độ khác nhau, sử dụng chỉ số và các thông tin thu được để ra quyết định khác nhau
Đối với doanh nghiệp
Với các nhà quản lý doanh nghiệp
Trang 13Chính doanh nghiệp là những người phân tích tài chính doanh nghiệp tốt nhất,
do có thông tin đầy đủ và hiểu rõ hơn về doanh nghiệp so với các đối tượng khác.Hơn ai hết các nhà quản lý doanh nghiệp cần thông tin để kiểm tra, kiểm soát
và chỉ đạo tình hình sản xuất và kinh doanh, hiểu rõ hơn về tình trạng sức khỏe của doanh nghiệp Đó là cơ sở để đánh giá điểm mạnh yếu ,từ đó tiến hành cân đối tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, trả nợ và rủi ro tài chính của doanh nghiệp Đồng thời cũng giúp định hướng các quyết định của Ban giám đốc cũng như giám đốc tài chính: quyết định về đầu tư, tài trợ, phân chia lợi tức cổ phần Ngoài ra cũng là cơ sở cho các dự báo tài chính: kế hoạch đầu tư, phần ngân sách tiền mặt
Đối với những người trong doanh nghiệp
Khoản tiền lương nhận được từ doanh nghiệp luôn là nguồn thu nhập đáng kể của những người lao động trong doanh nghiệp vì vậy kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ có tác động lớn đến tiền lương và thu nhập khác của Họ quan tâm đến các thông tin về tình hình tài chính của doanh nghiệp để đánh giá triển vọng của công ty trong tương lai Những người đi tìm việc đều có nguyện vọng là được vào làm việc ở những doanh nghiệp có triển vọng sang sủa với tương lai lâu dài để hy vọng có mức lương xứng đáng và chỗ làm việc ổn định Do vậy một doanh nghiệp có tình hình tài chính ảm đạm đang đứng trên bờ vực của sự phá sản sẽ không thu hút được những lao động đến làm việc Và ngược lại một doanh nghiệp có tình hình tài chính tốt sẽ là cơ sở thu hút được nhiều người lao động với chất lượng tốt
Đối với những người sở hữu
Các cổ đông với mục tiêu đầu tư vào công ty để kiếm lời nhuận nên quan tâm nhiều đến khả năng sinh lời của công ty Họ chính là các chủ sở hữu của công ty nên sử dụng các thông tin kế toán để theo dõi tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của công ty nhằm mục đích bảo vệ tài sản của mình đã đầu tư vào công ty Tình trạng tài chính và kết quả kinh doanh của công ty có ảnh hưởng đến giá cả của các cổ phiếu do công ty phát hành Để bảo vệ tài sản của mình, các cổ đông phải thường xuyên phân tích tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của các công ty
Trang 14mà họ đầu tư để quyết định có tiếp tục nắm giữ các cổ phiếu của các công ty này nữa không.
Đối với các chủ thể khác
Với các nhà đầu tư
Mục đích của nhà đầu tư là tìm kiếm lợi nhuận thông qua đầu tư mua cổ phiếu của các công ty cổ phần Do vậy, họ luôn mong đợi tìm kiếm đầu tư vào những cổ phiếu của các công ty có khả năng sinh lời cao Tuy nhiên trong thời buổi nền kinh
tế thị trường đang cạnh tranh gay gắt hiện nay, rủi ro luôn hiện hữu, vì vậy các nhà đầu tư phải tìm cách bảo vệ cho đồng vốn họ bỏ ra.Vì thế trên thị trường chứng khoán các nhà đầu tư sử dụng nhiều chỉ số để đánh giá về tình hình công ty cũng như giá trị và khả năng sinh lãi của cổ phiếu cũng như các xu hướng của thị trường trước khi đưa ra các quyết định đầu tư hay chấp nhận giao dịch mua bán Các báo cáo tài chính chứa đựng các thông tin tốt đẹp, hứa hẹn nhiều lợi nhuận sẽ làm cho giá cổ phiếu của doanh nghiệp trên thị trường tăng vọt Ngược lại, báo cáo cho thấy tình trạng xấu và nguy cơ có các khoản lỗ sẽ kéo giá cổ phiếu của doanh nghiệp trên thị trường xuống thấp
Đối với chủ nợ của doanh nghiệp
Người cho vay luôn phải phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp để nhận biết khả năng vay và trả nợ của khách hàng Chủ nợ của doanh nghiệp là chủ ngân hàng, và các nhà cung cấp tín dụng Bằng việc so sánh số lượng và chủng loại tài sản với số nợ phải trả theo kỳ hạn, những người này có thể xác định được khả năng thanh toán của doanh nghiệp và quyết định có nên cho doanh nghiệp vay hay không Các chủ ngân hàng thì sẽ quan tâm đến vốn chủ sử hữu của doanh nghiệp, coi đó như là một nguồn đảm bảo cho ngân hàng khi doanh nghiệp không có khả năng trả nợ Doanh nghiệp sẽ hạn chế cho vay đối với các doanh nghiệp khi có dấu hiệu khó có thể thanh toán các khoản nợ khi đáo hạn Cũng như ngân hàng thì các nhà cung cấp tín dụng cũng cần biết thông tin để xem có cho doanh nghiệp trả chậm được hay không
Trang 15Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước
Các cơ quan của Chính phủ cần các thông tin kế toán từ doanh nghiệp phục vụ cho việc phân tích tài chính, kiểm tra tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và xây dựng các kế hoạch quản lý vĩ mô
Ngoài ra còn phải kể đến các đối thủ cạnh tranh cũng quan tâm đến khả năng sinh lợi, doanh thu bán hàng và các chỉ tiêu tài chính khác trong điều kiện có thể để tìm các biện pháp cạnh tranh Các thông tin về tình hình tài chính doanh nghiệp cũng được các nhà nghiên cứu, các sinh viên kinh tế quan tâm, phục vụ cho việc nghiên cứu học tập của họ
1.2.4 Mục tiêu của công tác phân tích tài chính
- Một là, cung cấp đầy đủ các thông tin hữu ích, cần thiết cho các nhà đầu tư, các nhà cho vay và những người sử dụng thông tin tài chính khác để giúp họ có những quyết định đúng đắn khi ra các quyết định về đâu tư, về cho vay,…
- Hai là, phân tích tài chính phải cung cấp cho các chủ công ty, các nhà đầu tư, các nhà cho vay và những người sử dụng thông tin khác trong việc đánh giá khả năng và tính chắc chắn của dòng tiền mặt vào ra và tình hình sử dụng có hiệu quả nhất vốn kinh doanh, tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp
- Ba là, phải cung cấp đầy đủ thông tin về nguồn vốn chủ sở hữu, các khoản
nợ, kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh, sự kiện và các tình huống làm biến đổi các nguồn vốn và các khoản nợ của doanh nghiệp
Tóm lại rằng, công tác phân tích tài chính là một công việc cực kỳ quan trong,
ý nghĩa cần thiết Cần thiết ở đây không chỉ với riêng bản thân doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa đối với các chủ thể khác quan tâm, liên quan tới doanh nghiệp Phân tích tài chính sẽ giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp khắc phục đước những thiếu sót, phát huy những mặt tích cực và dự đoán được tình hình phát triển của công ty trong tương lai Trên cơ sở đó, quản trị của doanh nghiệp sẽ đưa ra được những giải pháp hữu hiệu nhằm đưa ra những phương án kinh doanh tối ưu cho doanh nghiệp Còn đối với các chủ thể khác, các thông tin lấy từ công tác phân tích tài chính có vai trò quan trọng trong việc đưa ra các quyết định tài chính như đầu tư, cho vay…
Trang 161.2.5 Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính
Thu thâp, xử lý thông tin là những vấn đế hàng đầu trong phân tích tài chính
Có thu thập được đầy đủ thông tin, chất lượng thông tin đảm bảo đáng tin cậy thì mới đưa ra được những chỉ số, những chỉ tiêu tài chính phục vụ cho các đối tượng quan tâm Sự tồn tại, phát triển của một doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố,
đó có thể là những yếu tố khách quan, chủ quan, hay những yếu tố từ bên trong doanh nghiệp, hay ngoài doanh nghiệp Trong phân tích tài chính, nhà phân tích phải thu thập sử dụng mọi nguồn thông tin: Từ những thông tin nội bộ doanh nghiệp đến những thông tin bên ngoài doanh nghiệp, từ thông tin số lượng đến chất lượng thông tin Những thông tin đó đều giúp cho nhà phân tích có thể đưa ra được những nhận xét, kết luận tinh tế, và thích đáng
1.2.5.1.Nguồn thông tin bên trong doanh nghiệp
Đây là những nguồn thông tin cơ bản, phong phú và cũng dễ dàng thu nhập được nhất, có thể giúp đánh giá cơ bản tình hình tài chính của doanh nghiệp Trong các thông tin từ nội bộ doanh nghiệp thì thông tin kế toán là nguồn thông tin căn bản Các doanh nghiệp có nghĩa vụ cung cấp những thông tin kế toán cho các đối tác bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Thông tin kế toán được phản ánh đầy đủ trong các báo cáo kế toán, bao gồm:
Bảng cân đối kế toán:
Bảng báo cáo kết quả kinh doanh
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo thuyết minh
Các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện trên các báo cáo tài chính một cách toàn diện, khái quát Cho biết rõ về tình hình tài sản, nguồn vốn hiện thời của doanh nghiệp, các hoạt động kinh doanh chủ yếu của doanh nghiệp thời gian qua, tình trạng sử dụng nợ như thế nào, ngân quỹ của doanh nghiệp hiện đang ở trạng thái ra sao…
Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một bảng báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát toàn bộ giá trị tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định ( cuối tháng, cuối quý, hoặc cuối năm).
Trang 17Đây là một cách để xem xét một công ty kinh doanh dưới dạng một khối tài sản được bố trí trên nguồn vốn ( nợ và vốn cổ đông) Tài sản tương đương với nợ và vốn cổ đông nên bản cân đối tài khoản là bản liệt kê các hạng mục sao cho hai bên đều bằng nhau Nó là một ảnh chụp tĩnh chứ không phải động, và được phân tích dựa trên so sánh với các bản cân đối kế toán trước đây và các báo cáo hoạt động khác.
Bảng cân đối kế toán có vai trò quan trọng đối với bất kỳ doanh nghiệp nào,
và những bên có quan hệ tài chính-kinh tế-pháp lý đối với doanh nghiệp Nó vừa khái quát vừa chi tiết tình trạng tài sản và vốn của doanh nghiệp mà còn là minh chứng cụ thể, thuyết phục đối với ngân hàng, và cũng đồng thời là căn cứ đáng tin cậy để các đối tác xem xét khi muốn hợp tác với doanh nghiệp
Kết cấu của bảng cân đối kế toán:
-Tài sản cố định
-Nợ phải trả-Nguồn vốn chủ sở hữu
Mặt pháp lý Phản ánh giá trị của
toàn bộ tài sản hiện có đến thời điểm lập báo cao
Thể hiện trách nhiệm pháp lý về mặt vật chất của doanh nghiệp đối với các đối tượng cấp vốn ( Nhà nước, ngân hàng, các bên liên doanh…)Mặt kinh tế Cho phép đánh giá
tổng quát về quy mô vốn,
cơ cấu vốn, quan hệ năng lực sản xuất và trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp
Thể hiện các nguồn hình thành tài sản, từ đó cho biết tỷ lệ, kết cấu của từng loại nguồn vốn, đồng thời phản ánh được tình hình tài chính của DNNhìn vào bảng cân đối kế toán, nhà phân tích có thể nhận biết được loại hình doanh nghiệp, quy mô, mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp Bảng cân đối kế
Trang 18toán là một tư liệu quan trọng bậc nhất giúp cho các nhà phân tích đánh giá được tình hình, khả năng thanh toán và khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp.
Báo cáo kết quả kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ kinh doanh.
Khác với bảng cân đối kế toán, phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh tình hình tài chính tại một thời điểm nhất định, thì báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh một thời kỳ, cho biết sự dịch chuyển của tiền trong quá trình sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp và cho phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai Báo cáo kết quả kinh doanh cũng giúp nhà phân tích so sánh doanh thu với số tiền thực nhập quỹ, so sánh chi phí phát sinh với số tiền thực xuất quỹ để vận hành doanh nghiệp Từ đó xác định được kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Kết cấu của báo cáo kết quả kinh doanh: Gồm 3 phần
Phần I : Lãi lỗ: Các chỉ tiêu cần thiết về tình hình hoạt động của doanh
nghiệp: Doanh thu, Chi phí, Lợi nhuận từ
Hoạt động sản xuất kinh doanh
Hoạt động tài chính
Hoạt động bất thường
Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước: Thuế, Các khoản phải
nộp khác…, tổng số thuế của năm trước chuyển sang
Phần III: Thuế VAT được khấu trừ, được hoàn lại, được miễn giảm
Báo cáo kết quả kinh doanh được lập trên cơ sở các tài liệu như báo cáo kết quả kinh doanh kỳ trước, sổ kế toán các tài khoản từ 5 đến loại 9, số kế toán các tài khoản 133 và tài khoản 333 Những loại thuế như: VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, về bản chất không phải là doanh thu, chi phí của doanh nghiệp nên không được phản ánh trên báo cáo kết quả kinh doanh Các khoản thuế đối với doanh nghiệp và các khoản phải nộp khác được phản ánh trong phần: tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước
Trang 19Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT ) là một bộ phận hợp thành của báo cáo
tài chính phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp BCLCTT đánh giá sự bền vững của dòng tiền của doanh
nghiệp trong quá khứ, khả năng tạo tiền và sự phù hợp của dòng tiền với chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, qua đó đánh giá sự thịnh vượng hay khó khăn về dòng vốn của doanh nghiệp trong từng thời kỳ
Dòng tiền của doanh nghiệp bao gồm dòng tiền vào và dòng tiền ra Những luồng vào ra của tiền và các khoản coi như là tiền được tổng hợp thành ba nhóm: lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính và lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động bất thường
Phần I: Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh: Là luồng tiền có
liên quan đến các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp Cung cấp những thông tin cơ bản để đánh giá khả năng tạo tiền của doanh nghiệp để trang trải nợ nần, duy trì hoạt động, trả cổ tức, duy trì các hoạt động đầu tư mà không cần đến nguồn tài chính bên ngoài Các luồng tiền chủ yếu là: tiền thu từ bán hàng cung cấp dịch vụ, tiền chi trả lãi vay, chi trả cho người lao động…
Phần II: Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư: Là luồng tiền liên quan đến
mua sắm, xây dựng, nhượng bán, thanh lý tài sản dài hạn và các khoản đầu tư khác không thuộc các khoản tương đương tiền Dòng tiền chủ yếu được tính gồm toàn bộ các khoản thu do thanh lý tài sản cố định, thu hồi các khoản đầu tư và các đơn vị khác, chi mua sắm, xây dựng tài sản cố định, chi để đầu tư vào các đơn vị khác
Phần III: Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính: là luồng tiền liên quan
đến việc thay đổi về quy mô kết cấu của vốn chủ sở hữu và vốn vay của doanh nghiệp Dòng tiền lưu chuyển được tính bao gồm toàn bộ các khoản thu, chi liên quan như tiền vay nhận được, tiền thu do nhận vốn góp liên doanh bằng tiền, phát hành cổ phiếu, trái phiếu, tiền chi trả lãi cho các bên góp vốn, trả lãi cổ phiếu, trái phiếu bằng tiền
Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh BCTC được lập để giải thích và bổ sung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất-kinh doanh, tình hình tài chính cũng như kết quả kinh
Trang 20doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các bảng báo cáo khác không thể trình bày rõ rang và chi tiết Qua đó, nhà đầu tư hiểu rõ và chính xác hơn về tình
hình hoạt động thực tế của doanh nghiệp
Thuyết minh BCTC là phần bắt buộc của báo cáo tài chình và đã có mẫu thuyết minh BCTC( theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ Tài chính về việc ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp.Thuyết minh báo cáo tài chính trình bày 7 chỉ tiêu cụ thể hóa các chỉ tiêu mà bảng cân đối kế toán không thể nêu hết được
Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp.
Kỳ kế toán, đơn vị tiền tệ sử dụng trong kế toán.
Chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán áp dụng.
Các chính sách kế toán áp dụng.
Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong bảng cân đối kế toán Thông tin bổ sung cho các khoản mục trình bày trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Thông tin bổ sung cho khoản mục trình bày trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Thuyết minh BCTC ngày càng đóng một vai trò quan trọng, bởi có nhiều khoản mục trên bảng cân đối kế toán, chúng ta có thể không biết hoặc là hiểu sai về những thông tin này, nhưng khi xem xét lại trên thuyết minh báo cáo tài chính sẽ giúp hiểu rõ hơn về thông tin Hay nói cách khác thông qua báo cáo thuyết minh tài chính sẽ cung cấp thêm số liệu, thông tin bổ sung cho các khoản mục trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, bảng cân đối kế toán, cho biết thêm về đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp, các nguyên tắc, chế độ kế toán áp dụng tại doanh nghiệp.Các báo cáo tài chính trong doanh nghiệp có mối liên hệ mật thiết với nhau, mỗi sự thay đổi chỉ tiêu trong báo cáo này hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp làm ảnh hưởng đến báo cáo kia, trình tự đọc hiểu và kiểm tra các báo cáo tài chính phải được bắt đầu từ báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ kết hợp bảng cân đối kế toán kỳ trước để đọc và kiểm tra bảng cân đối kỳ này Do đó, để phân tích tình hình tài chính của một doanh nghiệp, các nhà phân tích cần đọc và hiểu được các báo cáo tài chính, qua đó họ nhận biết được và tập trung vào các chỉ tiêu tài chính liên quan trực tiếp tới mục tiêu phân tích của họ
Trang 21Các thông tin khác
Ngoài những thông tin trong báo cáo tài chính cần phải tìm hiểu những thông tin về chiến lược, chính sánh kinh doanh của doanh nghiệp, năng lực quản trị Bởi trong doanh nghiệp sẽ có nhiều thông tin không công bố chính thức ra ngoài, hay có những thông tin bắt buộc công bố nhưng doanh nghiệp muốn che dấu nên sẽ sử dụng những từ ngữ chuyên ngành gây khó khăn cho các đối tượng theo dõi, vì vậy các nhà phân tích cần tìm hiểu đầy đủ các thông tin về doanh nghiệp, công khai và không công khai để có thể phân tích tài chính doanh nghiệp một cách chính xác hơn
1.2.5.2 Thông tin bên ngoài doanh nghiệp
Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp không chỉ là từ trong nội bộ doanh nghiệp mà cần thu thập các thông tin từ bên ngoài doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể kinh tế ngày càng có quan hệ kinh tế mật thiết với nhau, ảnh hưởng lớn tới nhau, doanh nghiệp nào nắm được càng nhiều các thông tin kinh tế và xử lý các thông tin bên ngoài doanh nghiệp là hết sức quan trọng
Thông tin về nền kinh tế
Mỗi doanh nghiệp là một thực thể trong nền kinh tế, chịu sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, bị tác động bởi tình hình tăng trưởng suy thoái của nền kinh tế, cơ hội kinh doanh, các thông tin về lãi suất ngân hàng, tỷ giá ngoại tê, lạm phát…Vì vậy khi phân tích tài chính của doanh nghiệp cần phải đặt trong mối quan hệ với nền kinh tế, kết hợp với những thông tin trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp sẽ cho ta cái nhìn rõ nét, chân thật hơn về tình hình của doanh nghiệp
Thông tin về ngành kinh doanh
Cần thiết phải đặt sự phát triển của doanh nghiệp trong mối liên hệ với các hoạt động chung của ngành kinh doanh Bởi trong cùng một ngành sẽ có những tính chất và đặc điểm giống nhau Những nghiên cứu theo ngành sẽ chỉ rõ tầm quan trọng của ngành nghiên cứu trong nền kinh tế, các sản phẩm và hoạt động khác nhau của ngành, quy trình công nghệ, các khoản đầu tư, cơ cấu ngành, độ lớn của thị trường Các chỉ số tính từ báo cáo kinh doanh của doanh nghiệp đối chiếu với
Trang 22chỉ số chung của ngành sẽ đánh giá rõ hơn về doanh nghiệp hơn là so sánh với chỉ
số chung của thị trường
Thông tin về pháp lý, kinh tế đối với doanh nghiệp
Thông qua các chính sách kinh tế được cụ thể hóa thành các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà Nước để quản lý mọi doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế quốc dân Sự thay đổi chính sách của Nhà nước đòi hỏi doanh nghiệp phải
có sự điều chỉnh tương ứng, điều này sẽ tạo những thay đổi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà những nhà phân tích cần quan tâm khi phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
1.2.6 Quy trình tổ chức công tác phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.6.1 Thu thập thông tin
Đây là quy trình đầu tiên và cũng là quan trọng nhất Phân tích tài chính cần phải sử dụng tất cả các nguồn thông tin để có thể đưa ra các phân tích, lý luận, thuyết minh về tình hình tài chính của doanh nghiệp, phục vụ cho công tác phân tích Các thông tin ở đây chính là những thông tin bên trong doanh nghiệp, bên ngoài doanh nghiệp, thông tin về chính sách kinh doanh, kế toán doanh nghiệp
1.2.6.2 Xử lý thông tin
Sau khi có được các thông tin thì người phân tích dựa vào phương pháp phân tích sẽ sắp xếp các thông tin theo những tiêu chí nhất định để phục vụ cho mục đích nghiên cứu
1.2.6.3 Dự đoán quyết định
Thu thập thông tin và sử lý thông tin là những bước cần thiết để đưa ra các dự đoán và các quyết định tài chính, đây chính là mục đích chính của những người phân tích
Trang 23cho nhà quản trị theo các lợi ích khác nhau Xuất phát từ đặc điểm hoạt động kinh doanh của từng bộ phận, từng doanh nghiệp khác nhau trong quá trình phân tích có thể vận dụng những phương pháp cho phù hợp với mục đích của việc nghiên cứu
Về lý thuyết có nhiều phương pháp phân tích nhưng người ta thường vận dụng
ba phương pháp phân tich đó là
biến trong phân tích tài chính bởi ưu điểm đơn giản, ít tính toán
Để áp dụng phương pháp so sánh cần phải đảm bảo các điều kiện để có thế so sánh được của các chỉ tiêu tài chính ( thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán…) và theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh Gốc so sánh được chọn là gốc về mặt thời gian hoặc không gian, kỳ phân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so sánh có thể lựa chọn bằng
số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân
Nội dung so sánh bao gồm:
So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số thực tế của kỳ kinh doanh trước nhằm xác định rõ xu hướng thay đổi về tình hình hoạt động tài chính, đồng thời đánh giá tốc độ tăng trưởng hay giảm đi của các hoạt động tài chính của doanh nghiệp
So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số kỳ kế hoạch để xác định xem mức phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu của doanh nghiệp tới đâu
So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình của ngành để đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay xấu, khả quan hay không khả quan, so với ngành tình hình của doanh nghiệp đang ở mức nào
Trang 24Về kỹ thuật so sánh, bao gồm:
So sánh bằng số tuyệt đối: Là việc so sánh chênh lệch trị số của chỉ tiêu kỳ phân tích với chỉ tiêu kỳ gốc Kết quả chênh lệch cho ta biết sự biến động về số tuyệt đối của chỉ tiêu phân tích
So sánh bằng số tương đối: Là việc xác định tăng giảm giữa chỉ tiêu thực tế so với chỉ tiêu kỳ gốc So sánh bằng số tương đối cho ta thấy tốc độ phát triển hoặc sự thay đổi kết cấu, mức phổ biến của hiện tượng kinh tế
So sánh theo chiều ngang : Là việc so sánh đối chiếu tình hình biến động cả về
số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu, từng báo cáo tài chính Thực chất đây là phân tích sự biến động về quy mô của từng khoản mục, trên từng báo cáo tài chính của doanh nghiệp, qua đó xác định được mức biến động ( tăng hay giảm) về quy mô của chỉ tiêu phân tích và mức độ ảnh hưởng của từng chỉ tiêu nhân tố đến chỉ tiêu phân tích
So sánh dọc : Là xem xét một khoản mục trong mối tương quan với một khoản mục khác( thường là theo tỷ lệ %) trong báo cáo tài chính và so sánh số tương đối này qua các thời kỳ Chẳng hạn, trong BCTC, nợ và vốn chủ sở hữu chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp Việc so sánh này cho
ta thấy mức độ quan trọng của từng thành phần trong tổng thể, và sẽ cho chúng ta cái nhìn rõ nét hơn về tình hình tăng trưởng của doanh nghiệp hơn là qua các con
số tuyệt đối Điều quan trọng cần làm trong phân tích dọc là xác định quy mô chung được làm tổng thể để từ đó xác định cơ cấu cho tổng thể đó
1.2.7.2 Phương pháp tỷ số
Phương pháp truyền thống được áp dụng trong phân tích tài chính là phương pháp tỷ số Phương pháp tỷ số là phương pháp trong đó các tỷ số được sử dụng để phân tích, đó là các tỷ số đơn được thiết lập bởi chỉ tiêu này so với chỉ tiêu khác Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện do nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến, cung cấp đầy đủ hơn là cơ sở để hình thành những tỷ lệ tham chiếu đáng tin cậy; việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tính toán các tỷ số, hệ thống được hàng loạt các tỷ số theo chuỗi thời gian liên tục
Trang 25Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực của các tỷ số của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính Sự biến đổi các tỷ số phản ánh sự biến đổi của các đại lượng tài chính Các tỷ số này được phân thành các nhóm tỷ số đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp Bao gồm nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán, nhóm chỉ tiêu về cơ cấu vốn, nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động và nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời Mỗi nhóm tỷ
số lại bao gồm nhiều tỷ số phản ánh riêng lẻ từng bộ phận hoạt động tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau, tuỳ theo giác độ phân tích, người phân tích lựa chọn các nhóm chỉ tiêu khác nhau để phục vụ mục tiêu phân tích của mình
Cũng như phương pháp so sánh, phương pháp tỷ số đơn giản và được sử dụng
ở rất nhiều doanh nghiệp, nó yêu cầu phải xác định được các ngưỡng, các định mức,
để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ số của doanh nghiệp với tỷ lệ tham chiếu Vì vậy để nâng cao hiệu quả phân tích tài chính, phương pháp tỷ số thường được sử dụng kết hợp với phương pháp so sánh
1.2.7.3 Phương pháp phân tích theo thời gian ( Mô hình Dupont)
Ngoài hai phương pháp trên người ta còn sử dụng mô hình Dupont trong phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính Ra đời lần đầu tiên vào khoảng sau chiến tranh thế giới lần thứ I nhưng đến tận bây giờ đây vẫn là một phương pháp khá phổ biến bởi tính hiệu quả của nó
Bản chất của phương pháp phân tích tài chính Dupont là tách một tỷ số tổng hợp thành tích của chuỗi các tỷ số có mối liên hệ nhân quả với nhau Điều đó cho phép phân tích những ảnh hưởng của các tỷ số thành phần với tỷ số tổng hợp Với phương pháp này, các nhà phân tích có thể nhận ra những nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của doanh nghiệp
ROA=LNST/tổng TS=LNST/DT x DT/tổng TS=PM x AU
PM: Là doanh lợi tiêu thụ sản phẩm trong kỳ ( hay còn gọi là doanh lợi doanh
thu), phản ánh lợi nhuận sau thuế so với doanh thu của doanh nghiệp Việc tăng PM cho thấy là doanh nghiệp đang quản lý doanh thu và chi phí có hiệu quả
AU: Hiệu suất sử dụng tổng tài sản của doanh nghiệp Tỷ số này cho biết một
đồng tài sản được huy động mang lại bao nhiêu đồng doanh thu Tỷ số cao chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng tài sản có hiệu quả tốt
Trang 26Với cách tính ROA mới này có thể thấy khả năng sinh lợi của đồng vốn doanh nghiệp bỏ ra đầu tư chịu ảnh hưởng bởi khả năng sinh lợi từ hoạt động tiêu thụ sản phẩm và hoạt động quản lý của doanh nghiệp
ROE= LNST/VCSH= LNST/DT x DT/ tổng TS x tổng TS/ VCSH
= PM x AU x EM
EM: hệ số nhân vốn chủ sở hữu, phản ánh mức độ huy động vốn từ bên ngoài
của doanh nghiệp EM tăng chứng tỏ doanh nghiệp tăng vốn huy động từ bên ngoài,
và ngược lại EM giảm doanh nghiệp giảm vốn huy động từ bên ngoài
Các yếu tố cơ bản tác động đến ROE là khả năng tăng doanh thu, công tác quản lý chi phí, quản lý tài sản và đòn bẩy tài chính Với cách tính như thế này ta có thể biết được nguyên nhân tăng giảm ROE, ROA ở đâu
Phân tích báo cáo dựa vào mô hình Dupont có ý nghĩa rất lớn đối với nhà quản trị doanh nghiệp Điều này được thể hiện ở chỗ, có thể đánh giá hiệu quả kinh doanh sâu sắc và toàn diện, đồng thời đánh giá đầy đủ và khách quan đến những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó đưa ra được những biện pháp nhằm cải tiến tổ chức quản lý doanh nghiệp, góp phần nâng cao không ngừng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ở các kỳ kinh doanh tiếp theo Tính hiệu quả đối với mô hình là điều không cần nói ở đây, tuy nhiên mô hình này chủ yếu được áp dụng ở các công ty lớn, có đội ngũ cán bộ phân tích chuyên trách,
có trình độ là do phương pháp này không chỉ đòi hỏi đánh giá sự tác động của chỉ tiêu thành phần với chỉ tiêu tổng hợp mà còn sử dụng kinh tế lượng đế đánh giá mức độ tác động của các chỉ tiêu thành phần với nhau
1.2.8 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.8.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp
Phân tích khái quát tình hình tài chính là việc dựa vào những dữ liệu tài chính trong quá khứ và hiện tại của doanh nghiệp để tính toán và xác định các chỉ tiêu tài chính phản ánh thực trạng và an ninh tài chính của doanh nghiệp Từ đó, tạo điều kiện giúp cho nhà quản trị nhìn nhận đúng đắn về vị trí hiện tại và an ninh tài chính của doanh nghiệp để đưa ra các quyết định tài chính hợp lý
Mục đích chính của phân tích khái quát tình hình tài chính là đưa ra những nhận định sơ bộ, như là khả năng độc lập về mặt tài chính, về an ninh tài chính cũng
Trang 27như những khó khăn mà doanh nghiệp đang đối đầu Phương pháp được sử dụng để phân tích khái quát cũng khá đơn giản chủ yếu là các phương pháp so sánh dựa trên Bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo kết quả kinh doanh để tiến hành phân tích ở những mảng nội dung chính sau:
• Về tài sản: So sánh số đầu kỳ với cuối kỳ về số tuyệt đối và tỷ trọng, đồng thời so sánh tỷ trọng của từng khoản mục bên tài sản với tổng tài sản hoặc với một gốc so sánh để thấy được xu hướng biến động qua các năm
• Về nguồn vốn: Cũng giống như tài sản sử dụng phương pháp so sánh để thấy được tình hình biến động nợ, vốn chủ sở hữu, xem xét đến khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
• Về kết quả kinh doanh: Xem xét sự thay đổi hàng năm của doanh thu thuần, lợi nhuận kế toán trước thuế và sau thếu, đồng thời xem xét các khoản mục chi phí của doanh nghiệp để đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
• Về khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp: Xem xét mức độ độc lập, tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp thể hiện qua các chỉ tiêu như hệ số tự tài trợ,
Trang 28tương đối Từ những thông tin ghi trên bảng các nhà phân tích sẽ tiến hành đánh giá
và đưa ra các nhận định
b) Phân tích tình hình nguồn vốn
Cũng như phân tích tình hình tài sản, phân tích tình hình nguồn vốn cũng là một chỉ tiêu quan trọng trong phân tích tài chính Đây là sự phân tích biến động của các mục nguồn vốn bằng việc so sánh các chỉ tiêu cuối kỳ so với đầu kỳ trên Bảng cân đối kế toán bằng cả số tương đối và số tuyệt đối để tìm hiểu về sự thay đổi về giá trị, tỷ trọng của nguồn vốn qua các thời kỳ như thế nào, sự thay đổi này bắt nguồn từ những dấu hiệu tích cực hay thụ động trong quá trình sản xuất kinh doanh,
có phù hợp với việc nâng cao năng lực tài chính, tính tự chủ, khả năng khai thác nguồn vốn trên thị trường cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay không
Bên cạnh việc xem xét sự biến động theo thời gian của tổng số nguồn vốn và
cơ cấu nguồn vốn, các nhà phân tích còn xem xét sự tác động của vốn chủ sở hữu
và nợ lên sự biến động của tổng nguồn vốn Sự tăng hay giảm của vốn chủ sở hữu phản ánh sự tăng hay giảm tương ứng của nguồn vốn với một lượng như nhau, phản ánh tình hình tài trợ tài sản bằng số vốn của doanh nghiệp Tương tự sự tăng hay giảm của NPT sẽ dẫn đến sự tăng hay giảm tương ứng của tổng số nguồn vốn với một lượng như nhau, phản ánh việc tài trợ tài sản bằng nguồn vốn chiếm dụng của doanh nghiệp Tăng VCSH đồng nghĩa vơi việc doanh nghiệp tăng khả năng tự chủ, độc lập về mặt tài chính của mình Còn ngược lại gia tăng các khoản NPT sẽ đồng nghĩa với giảm tính tự chủ tài chính
Đồng thời cũng phải xem xét mối quan hệ cân đối giữa nguồn tài trợ ngắn hạn
so với TSNH ; giữa nguồn tài trợ dài hạn so với TSDH Từ đó đánh giá xem doanh nghiệp có đảm bảo được nguyên tắc cân bằng tài chính hay chưa
1.2.8.3.Phân tích khái quát về kết quả hoạt động kinh doanh của DN
Mục tiêu cơ bản của việc phân tích khái quát kết quả hoạt động kinh doanh đối với một doanh nghiệp là tìm hiểu nguồn gốc, thực trạng và xu hướng của thu nhập, chi phí, lợi nhuận của doanh nghiệp đó Quá trình này tập trung vào những vấn đề
cơ bản sau:
Trang 29- Thu nhập, chi phí lợi nhuận có thực không và tạo ra từ những nguồn nào, sự hình thành như vậy có phù hợp với chức năng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay không.
- Thu nhập, chi phí, lợi nhuận thay đổi có phù hợp với đặc điểm chi phí, hiệu quả kinh doanh, phương hướng kinh doanh hay không
Việc xem xét này cần được kết hợp so sánh theo chiều ngang và so sánh theo chiều dọc các mục trên báo cáo kết quả kinh doanh trên cơ sở am hiểu về những chính sách kế toán, những đặc điểm sản xuất kinh doanh, những phương hướng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.8.4 Phân tích khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp
Đánh giá khái quát mức độ độc lập về mặt tài chính, chỉ tiêu thông dụng nhất
là “ hệ số tài trợ ” và “ hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn”
“ Hệ số tài trợ” là chỉ tiêu phản ánh khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính và
mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết, trong tổng
số nguồn vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn chủ sở hữu chiếm mấy phần Trị số càng lớn, khả năng tự đảm bảo tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại trị
số càng nhỏ, mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng giảm
Hệ số tài trợ =Vốn chủ sở hữu/Tổng số nguồn vốn
Vốn chủ sở hữu và tổng số nguồn vốn đều được lấy trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp
“ Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn” là chỉ tiêu phản ánh mức độ đầu tư vốn chủ
sở hữu vào tài sản dài hạn
Hệ số tự tài trợ =Vốn chủ sở hữu/Tài sản dài hạn tài sản dài hạn
Do đặc điểm của TSDH là thời gian luân chuyển dài thường là ngoài một năm hay ngoài một chu kỳ kinh doanh nên nếu VCSH không đủ tài trợ dài hạn của mình
mà phải sử dụng các nguồn vốn khác, thì khi các khoản nợ đến kỳ đáo hạn doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong thanh toán và ngược lại Vì vậy nếu trị số của chi tiêu càng cao thì chứng tỏ là doanh nghiệp đầu tư vào tài sản dài hạn càng lớn, điều này
sẽ giúp doanh nghiệp tự đảm bảo về mặt tài chính nhưng hiệu quả kinh doanh sẽ không cao do vốn đầu tư chủ yếu vào tài sản dài hạn, ít sử dụng vào kinh doanh để xoay vòng sinh lợi
Trang 30Các nhà phân tích tiến hành so sánh sự biến động của các chỉ tiêu theo thời gian cũng như so sánh với trị số bình quân ngành, bình quân khu vực để xác định vị trí hay mức độ độc lập tài chính của doanh nghiệp hiện tại là ở mức nào, trên cơ sở đó có các quyết định tài chính phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể của doanh nghiệp.
1.2.8.5 Phân tích các nhóm tỷ số cơ bản
Trong phân tích tài chính, các hệ số tài chính chủ yếu được phân thành các nhóm chính
• Hệ số về khả năng thanh toán: Đây là nhóm chỉ tiêu được sử dụng để đánh
giá khả năng đáp ừng của các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
• Hệ số cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản: Nhóm chỉ tiêu này phản ánh mức
độ ổn định và tự chủ tài chính cũng như khả năng sử dụng nợ vay của doanh nghiệp
• Hệ số hiệu suất lao động: Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho việc sử dụng
tài nguyên, nguồn lực của doanh nghiệp
• Tỷ số về khả năng sinh lãi: Nhóm chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sản xuất-
kinh doanh tổng hợp nhất của một doanh nghiệp
Tùy theo mục đích phân tích tài chính mà nhà phân tích chú trọng đến nhóm
tỷ số nào nhiều hơn Thông thường, các chủ nợ sẽ thường chú trọng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp, trong khi thì các nhà đầu tư dài hạn lại quan tâm đến khả năng hoạt động và hiệu quả sản xuất kinh doanh nhiều hơn Họ cần nghiên cứu
để xem xét khả năng của doanh nghiệp có thể đáp ứng được nhu cầu thanh toán hiện tại và xem xét lợi nhuận để dự tính được khả năng trả nợ cuối cùng của doanh nghiệp.Bên cạnh đó họ cũng quan tâm tới tỷ số về cơ cấu vốn vì sự thay đổi tỷ số này sẽ ảnh hưởng đáng kể đến lợi ích của họ
• a)Các hệ số về khả năng thanh toán
Để đánh giá khái quát khả năng thanh toán của doanh nghiệp, ta thường xem xét mối quan hệ giữa khả năng thanh toán và nhu cầu thanh toán Khả năng thanh toán và nhu cầu thanh toán thường được tổng hợp các chỉ tiêu tài chính phản ánh tại một thời điểm phân tích Việc quản lý khả năng thanh toán bao gồm việc khớp các yêu cầu trả nợ với thời hạn của tài sản và các nguồn tiền mặt khác nhằm tránh mất khả năng thanh toán mang tính kỹ thuật Do đó, vấn đề chính là liệu một công ty có
Trang 31khả năng tạo ra đủ tiền mặt để thanh toán cho những nhà cung cấp nguyên vật liệu
và các chủ nợ hay không
Việc phân tích các tỷ lệ về khả năng thanh toán không những giúp cho các chủ
nợ giảm được rủi ro trong quan hệ tín dụng và bảo toàn được nguồn vốn của mình
mà còn giúp cho bản thân các doanh nghiệp thấy được khả năng chi trả của doanh nghiệp hiện tại đang ở mức nào để từ đó có biện pháp kịp thời điều chỉnh các khoản mục trong tài sản cho phù hợp nhằm nâng cao khả năng thanh toán Các hệ số cơ bản dùng trong đo lường khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát
Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa tổng tài sản hiện có với tổng số nợ phải trả( bao gồm nợ ngắn hạn với nợ dài hạn) Để đánh giá được khả năng thanh toán của doanh nghiệp chỉ căn cứ vào chỉ tiêu này là chưa đủ Tuy nhiên, hệ số này cao
là một dấu hiệu khả quan đối với doanh nghiệp.Chỉ tiêu càng thấp, khả năng thanh toán hiện tại càng kém, trường hợp kéo dài sẽ ảnh hưởng đến uy tín và chất lượng kinh doanh của doanh nghiệp Hệ số này có ý nghĩa trong trường hợp doanh nghiệp giải thể, phá sản hoặc thế chấp tài sản vay nợ
Khả năng thanh toán tổng quát = Tổng tài sản
Tổng nợ
Hệ số thanh toán hiện hành ( current ratio )
Khả năng thanh toán hiện hành = Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
TSNH: Gồm tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác.NNH:Các khoản vay ngắn hạn ngân hàng, khoản nợ tiền hàng do xuất phát từ quan hệ mua bán các yếu tố đầu vào hoặc sản phẩm hàng hóa doanh nghiệp phải trả
Trang 32cho người bán hoặc người mua đặt trước, các khoản thuế chưa nộp ngân hàng nhà nước, các khoản chưa trả lương.
Ý nghĩa: Một đồng nợ ngắn hạn sẽ có bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn có thể được bán đi để trả nợ Hệ số này càng cao, khả năng trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng lớn Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thì doanh nghiệp có khả năng hoàn thành được nghĩa vụ trả nợ của mình khi tới hạn Mặc dù tỷ lệ này nhỏ hơn một, có khả năng không đạt được tình hình tài chính tốt, nhưng điều đó không có nghĩa là công
ty sẽ bị phá sản bởi có nhiều cách huy động thêm vốn Tuy nhiên không phải một tỷ
lệ cao là tốt cho một cho doanh nghiệp, nếu con số này quá cao có nghĩa là doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào tài sản lưu động, mà thông thường những khoản vượt trội này thường sẽ không sinh ra thêm lợi nhuận Do vậy việc đầu tư này thường kém hiệu quả Hay tỉ số này tăng cao là do hàng tồn kho của doanh nghiệp lớn, khi chuyển đổi thường khó khăn, vì thế khả năng thanh toán hiện hành của doanh nghiệp không cao hay không quá nếu nói là không có khả năng thanh toán
Hệ số thanh toán nhanh ( quick ratio)
Khả năng thanh toán nhanh được hiểu là khả năng doanh nghiệp dùng tiền hoặc tài sản có thể chuyển đổi thành tiền để trả nợ ngay khi đến hạn và quá hạn Tỷ
số thanh toán nhanh đã loại bỏ đi tác động của chỉ tiêu hàng tồn kho để tính toán chính xác hơn về khả năng thanh toán của doanh nghiệp, bởi hàng tồn kho là tài sản khó chuyển đổi thành tiền hơn trong tài sản lưu động, và dễ bị lỗ khi mang đi đem bán, do vậy hệ số thanh toán nhanh sẽ đo lường khả năng thanh toán của doanh nghiệp chính xác hơn
Hệ số thanh toán nhanh = Tài sản ngắn hạn- HTK- TSNH khác
Nợ ngắn hạnHàng tồn kho ở đây là hàng hóa, thành phẩm, hàng gửi bán, vật tư chưa thể bán nhanh, nên chưa thể chuyển thành tiền ngay được
Ý nghĩa: Tỷ số này cho biết một đồng nợ ngắn hạn được tài trợ bởi bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn mà không cần bán hàng tồn kho đi, thông thường được các nhà phân tích tài chính sử dụng nhiều.Hệ số lớn hơn 1 doanh nghiệp đảm bảo được thanh toán nhanh các khoản nợ, còn nếu nhỏ hơn 1 doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn Tuy nhiên trong trường
Trang 33hợp doanh nghiệp có khả năng dùng một lượng hàng hóa mà thị trường có nhu cầu cao có thể bán ngay được hoặc xuất đối lưu, hay chưa tính đến khoản phải thu mà khi cần đơn vị có thể thỏa thuận để bù trừ khoản nợ phải trả cho các chủ nợ… mà lại đánh giá khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp thấp Vì vậy để kết luận giá trị của hệ số thanh toán tức thời là tốt hay xấu thì cần xét đến đặc điểm và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp.
Hệ số thanh toán tức thời
Hệ số thanh toán tức thời = Tiền và các khoản tương đương tiền
Nợ ngắn hạn
Ý nghĩa: Hệ số thanh toán tức thời thể hiện khả năng thanh toán tất cả các khoản nợ của doanh nghiệp ngay lập tức bằng tiền và các chứng khoán dễ bán mà không dùng đến hàng tồn kho hay các KPT là tốt hay xấu
Đối với từng ngành nghề kinh doanh thì chỉ tiêu này sẽ khác nhau Tuy nhiên thực tế cho thấy rằng nếu hệ số này >=0.5 thì khả năng thanh toán ngay của doanh nghiệp là tương đối tốt, và ngược lại nếu hệ số này nhỏ hơn 0.5 thì doanh nghiệp có thể đang gặp khó khăn Hệ số thanh toán tức thời quá cao cũng không là tín hiệu tốt, bởi khi đó doanh nghiệp đang nắm giữ một khối lượng vốn bằng tiền lớn, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay
Hệ số thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
Số lãi tiền vay phải trả trong kìĐây cũng là một hệ số cần xem xét khi phân tích kết cấu tài chính của doanh nghiệp Hệ số này cho biết khả năng thanh toán lãi tiền vay của doanh nghiệp và cũng phản ánh mức độ rủi ro có thể gặp phải đối với các chủ nợ Nếu một doanh nghiệp nợ nhiều nhưng kinh doanh không tốt, mức sinh lời của đồng vốn quá thấp hoặc bị thua lỗ thì khó có thể đảm bảo thanh toán lãi tiền vay đúng hạn
• b)Hệ số cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản
Các nhà tài chính thông thường xem xét cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn và mối quan hệ với nguồn vốn Bởi vì, cơ cấu tài sản phản ánh tình hình sử dụng vốn,
cơ cấu nguồn vốn phản ánh tình hình huy động vốn, còn mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn phản ánh chính sách sử dụng vốn của doanh nghiệp Chính sách huy
Trang 34động kinh doanh, mặt khác chính sách này có liên quan đến an ninh tài chính, đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Từ đó tác động đến hiệu quả kinh doanh cũng như rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp Phân tích các cơ cấu trên sẽ giúp các nhà quản lý nắm bắt được tình hình phân bổ tài sản và các nguồn tài trợ tài sản, khả năng tự tài trợ về mặt tài chính, mức độ chủ động trong sản xuất kinh doanh hay những khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải trong việc sử dụng vốn.
Hệ số cơ cấu nguồn vốn thể hiện qua
+ Hệ số nợ
Tổng tài sảnTổng nợ ở đây bao gồm cả NGH và NDH
Ý nghĩa: Hệ số nợ được dùng để xác định nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp đối với các chủ nợ đã tài trợ vốn cho doanh nghiệp.Chủ nợ thường thích công ty có
tỷ số nợ thấp vì như vậy công ty có khả năng trả nợ cao hơn Ngược lại, cổ đông muốn có tỷ số nợ cao vì như vậy làm gia tăng khả năng sinh lợi cho cổ đông bằng
sử dụng công cụ đòn bẩy tài chính Tuy nhiên muốn biết tỷ số này cao hay thấp cần phải so sánh với tỷ số nợ của bình quân ngành Tỷ số nợ càng thấp thì mức độ bảo
vệ dành cho các chủ nợ càng cao trong trường hợp doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản và phải thanh lý tài sản
Thật khó để có thể đánh giá được mức độ vay nợ phù hợp của doanh nghiệp, vì tỷ
số nợ phụ thuộc rất nhiều yếu tố: loại hình doanh nghiệp, quy mô của doanh nghiệp, tính chất – lĩnh vực hoạt động, mục đích vay Tuy nhiên thông thường, ở mức 60/40 là chấp nhận được Có nghĩa Hệ số nợ là 60% (Tổng tài sản có 100 thì vốn vay là 60)
Hệ số cơ cấu tài sản
+ Tỷ suất đầu tư vào tài sản ngắn hạn
Tỉ suất đầu tư vào TS ngắn hạn
= Tài sản ngắn hạn
Trang 35Tổng tài sản
+ Tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn
Tỉ suất đầu tư vào
Tài sản dài hạnTổng tài sảnVới hai hệ số trên thì cần căn cứ vào loại hình doanh nghiệp để đánh giá xem liệu doanh nghiệp đầu tư như trên liệu đã hợp lý chưa Một hệ số quan trọng đánh giá chính sách sử dụng vốn của doanh nghiệp
Hệ số tự tài trợ tài sản cố định = Vốn chủ sở hữu
Tài sản cố định
Ý nghĩa: Nó cho biết VCSH của doanh nghiệp có đủ để tài trợ cho TSCĐ hay không Thông thường thì tỷ số này thường nhỏ hơn 1, tuy nhiên để đánh giá tỷ số này là tốt hay xấu thì cần xem xét, so sánh với tỷ số trung bình ngành để làm cơ sở tham chiếu
• c) Các hệ số về hiệu suất hoạt động
Các hệ số hoạt động được sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp Vốn của doanh nghiệp được dùng để đầu tư cho các loại TSCĐ , TSLĐ Do đó, các nhà phân tích không chỉ quan tâm tới việc đo lường hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành TTS của doanh nghiệp Chỉ tiêu doanh thu được
sử dụng chủ yếu trong tính toán các tỷ số này để xem khả năng hoạt động của doanh nghiệp
•Vòng quay hàng tồn kho.
Là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vòng quay hàng tồn kho được xác định bằng tỷ số giữa giá vốn hàng bán với số hàng tồn kho bình quân trong kì Số vòng quay hàng tồn kho cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào đặc điểm, ngành nghề kinh doanh
Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán
Số hàng tồn kho bình quân trong kì
•Kì thu tiền trung bình.
Là một hệ số hiệu suất hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh độ dài thời gian thu tiền bán hàng của doanh nghiệp kể từ lúc xuất giao hàng cho đến
Trang 36khi thu được tiền bán hàng Kì thu tiền bán hàng của doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào chính sách bán chịu và việc tổ chức thanh toán của doanh nghiệp.
Kì thu tiền trung bình = Số dư bình quân các khoản phải thu
Doanh thu bình quân 1 ngày trong kì
•Số vòng quay vốn lưu động:
Chỉ tiêu này phản ánh số lần luân chuyển vốn lưu động hay số vòng quay của vốn lưu động thực hiện được trong một thời kì nhất định( thường là một năm)
Số vòng quay vốn lưu động = Tổng mức luân chuyển VLĐtrong kì
Số lần luân chuyển vốn lưu động
•Hiệu suất sử dụng vốn cố định và vốn dài hạn khác.
•Vòng quay tài sản hay toàn bộ vốn:
Vòng quay tài sản hay = Doanh thu thuần trong kì
Số tài sản hay vốn KDBQ
sử dụng trong kìChỉ tiêu này còn được gọi là vòng quay toàn bộ tài sản, nó được đo bằng tỷ số giữa doanh thu và tổng tài sản và cho biết một đồng tài sản đem lại bao nhiêu doanh thu
1.2.8.6 Các hệ số về khả năng sinh lời.
Nếu như các nhóm tỷ số trên đây phản ánh hiệu quả từng hoạt động riêng biệt của doanh nghiệp thì tỷ số về khả năng sinh lãi phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu năng quản lý doanh nghiệp
Tỉ số lợi nhuận sau thuế trên doanh thu hay hệ số lãi ròng.
Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận sau thuế và doanh thu thuần trong kì của doanh nghiệp Nó thể hiện khi thực hiện một đồng doanh thu trong kì, doanh nghiệp có thể thu được bao nhiêu lợi nhuận
Trang 37Tỉ suất lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận sau thuế trong kì
Doanh thu trong kì
Tỉ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn kinh doanh hay tỉ suất sinh lời kinh tế của tài sản( ROAE).
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản hay vốn kinh doanh không tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp và nguồn gốc của vốn kinh doanh
ROAE = Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
Tài sản hay vốn kinh doanh BQ
• Tỉ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này thể hiện mỗi đồng vốn kinh doanh trong kì có khả năng sinh lời
ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trang trải lãi tiền vay
Tỉ suất lợi nhuận trước = Lợi nhuận trước thuế trong kì
vốn kinh doanh BQ sử dụng trong kì
• Tỉ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh hay tỉ suất sinh lời ròng
từ tài sản( ROA)
Phản ánh mỗi đồng vốn sử dụng trong kì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Tùy trong từng điều kiện mà nhà phân tích sẽ sử dụng chỉ tiêu phân tích là lợi nhuận sau thuế hay trước thuế Các chủ nợ thì thường quan tâm đến ROA tính theo thu nhập trước thuế, còn các chủ sở hữu thường quan tâm ROE tính theo thu nhập sau thuế
Tỉ suất lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận sau thuế
Vốn kinh doanh( hay tài sản)bình quân trong kì
• Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu( ROE)
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu và được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp Tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu là một mục tiêu quan trọng nhất trong hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp Tuy nhiên cần phải xem xét ROE trong mối quan
hệ phân tích đánh giá tổng nguồn vốn
Trang 38ROE = Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu bình quân sử dụng trong kì
1.2.9 Các nhân tố ảnh hưởng đến phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.9.1 Các nhân tố chủ quan
a) Nhận thức của Ban giám đốc về tầm quan trọng của hoạt động PTTC
Trong một doanh nghiệp Ban giám đốc chính là người sẽ ra quyết định về việc thực hiện công tác phân tích tài chính doanh nghiệp hay không Vì vậy nhận thức của Ban giám đốc về vấn đề này là rất quan trọng Nếu như ban giám đốc của doanh nghiệp có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt động phân tích tài chính thì ở đó công tác phân tích tài chính sẽ được chú trọng, phát triển, và hoạt động tài chính sẽ thực sự có hiệu quả phục vụ cho các quyết định tài chính công ty chứ không phải phân tích tài chính công ty để đối phó,làm cho xong để đối phó với các cơ quan Nhà nước hay các bạn đối tác Còn trong doanh nghiệp nào công tác phân tích tài chính chưa được Ban giám đốc quan tâm một cách đúng mực, thì hiệu quả phân tích chưa cao, chưa phát huy được hiệu quả của phân tích tài chính DN
Thu nhập 1
cổ phần( EPS) =
Lợi nhuận sau thuế - Cổ tức trả cho cổ đông
ưu đãi( nếu có)Tổng số cổ phần thường đang lưu hành