vị thành viên hạch toán phụ thuộc không hạch toán tăng nguyên giá tài sản cố định mà hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ.g, Tài sản cố định hữu hình nhập góp vốn liên doa
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA NGÂN HÀNG - TÀI CHÍNH
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài “Các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý vốn
cố định của Công ty cổ phần tư vấn - đầu tư và xây dựng 306”
Giảng viên hướng
Họ và tên sinh viên : Phạm Thị Xuyến
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực, thế giới đang diễn ra mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu, đặc biệt từ sau khi Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO Đây là cơ hội lớn để tranh thủ các nguồn lực bên ngoài phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội đồng thời phát huy các tiềm năng và lợi thế cạnh tranh của đất nước Ngược lại hội nhập cũng đặt ra những thách thức không nhỏ trước sức ép cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, nhất là những ngành mũi nhọn trong đó có ngành xây dựng Khi không còn
sự bảo hộ của Nhà nước thì sự tồn tại, phát triển của mỗi doanh nghiệp do chính doanh nghiệp quyết định
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp không thể không có vốn Nói cách khác, vốn là yếu tố có tính chất quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Ngoài ra vốn cố định có tính chất luân chuyển, là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định Vì vậy việc quản lý vốn trong doanh nghiệp cần được quan tâm và chú ý Do đó việc mua sắm, sử dụng, tính khấu hao, bảo quản tài sản cố định các doanh nghiệp đều được nghiên cứu, đánh giá chính xác kịp thời, đầy đủ và khoa học
Trong những năm gần đây Công ty cổ phần tư vấn - đầu tư và xây dựng 306 luôn chủ động khai thác, tìm kiếm, lựa chọn những phương pháp tối ưu trong việc khai thác và sử dụng vốn cố định Tuy nhiên, trong quá trình đó vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định đòi hỏi phải có những phương án toàn diện, đầy đủ và tìm cách giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng trong việc quản lý sử dụng vốn cố định, mà đặc trưng là tài sản cố định
Xuất phát từ những cơ sở lý luận, thực tế và nhận thức được tầm quan trọng
của công tác sử dụng vốn cố định, em đã chọn đề tài nghiên cứu “Các giải pháp
Trang 3nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý vốn cố định của Công ty cổ phần tư vấn - đầu tư và xây dựng 306”.
2 Mục đích nghiên cứu
1 Hệ thống những cơ sở lý luận về vốn cố định trong doanh nghiệp
2 Đánh giá thực trạng công tác quản lý vốn cố định của Công ty cổ phần tư vấn - đầu tư và xây dựng 306
3 Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác nâng cao hiệu quả quản lý vốn cố định của Công ty cổ phần tư vấn - đầu tư và xây dựng 306
3 Đối tượng phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chuyên đề tập trung nghiên cứu về thực trạng quản lý vốn
cố định, đồng thời tìm ra ưu, nhược điểm và đề ra các giải pháp hoàn thiện
- Phạm vi nghiên cứu: Các tài sản cố định được sử dụng trong Công ty cổ phần tư
vấn - đầu tư và xây dựng 306
4 Kết cấu
Ngoài phần mở đầu và kết luận nội dung chuyên đề thực tập được trình bày thành ba chương:
1 Chương 1: Tổng quan về vốn cố định trong doanh nghiệp
2 Chương 2: Thực trạng hoạt động quản lý vốn cố định tại Công ty cổ phần tư vấn - đầu tư và xây dựng 306
3 Chương 3: Các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý vốn cố định tại Công ty cổ phần tư vấn – đầu tư và xây dựng 306
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo – ThS Lê Phong Châu, các cán bộ phòng Tài chính kế toán, phòng tổ chức hành chính và toàn bộ cán bộ trong Công
ty cổ phần tư vấn - đầu tư và xây dựng 306 đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho em hoàn thành chuyên đề thực tập này Do kiến thức lý luận và thực tiễn còn hạn chế, đây là một vấn đề thực tế đòi hỏi nhiều công sức nghiên cứu nên chắc chắn chuyên đề thực tập của em không tránh được các thiếu sót, em mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp để sửa chữa và hoàn thiện hơn
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VỐN CỐ ĐỊNH TRONG DOANH
1.1 KHÁI NIỆM VỐN CỐ ĐỊNH CỦA DOANH NGHIỆP
Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng
Trong nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ để mua sắm, xây dựng tài sản cố định, một trong những yếu tố của quá trình kinh doanh đòi hỏi các Doanh nghiệp phải có một số tiền ứng trước Vốn tiền tệ được ứng trước để mua sắm tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình được gọi là vốn cố định Do vậy, đặc điểm vận động của tài sản cố định sẽ quyết định sự vận động tuần hoàn của vốn cố định
1.1.1 Đặc điểm luân chuyển của vốn cố định.
- Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất của sản phẩm
- Vốn cố định được luân chuyển dần dần từng phần trong các chu kỳ sản xuất
- Sau nhiều chu kỳ sản xuất, vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển
1.1.2 Khái niệm tài sản cố định
Tài sản cố định trong các doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ yếu và các tài sản khác do doanh nghiệp nắm giữ sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh
có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài
Tóm lại những tài sản được ghi nhận là tài sản cố định hữu hình phải thoả mãn đồng thời các tiêu chuẩn sau:
- Chắc chắn thu được lợi ích trong tương lai từ việc sử dụng chúng
- Nguyên giá tài sản phải xác định một cách đáng tin cậy
- Thời gian sử dụng trên 1 năm
- Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo tiêu chuẩn hiện hành
- Cụ thể giá trị tối thiểu từ 10000000đ trở lên
1.1.2.1 Xác định nguyên giá
Nguyên giá tài sản cố định là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để
có tài sản cố định tính đến thời điểm đưa tài sản cố định đó vào sử dụng theo dự tính
Trang 5-Nguyên giá tài sản cố định hữu hình là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp
phải bỏ ra để có tài sản cố định tính đến thời điểm đưa tài sản cố định đó vào sử dụng theo dự tính Cách xác định đối với các trường hợp cụ thể như sau:
a, Tài sản cố định hữu hình do mua sắm: Nguyên giá tài sản cố định do mua
sắm bao gồm giá mua (trừ các loại được chiết khấu thương mại, giảm giá), các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế hoàn lại) và các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng như chi phí chuẩn bị mặt hàng, chi phí vận chuyển và bốc xếp ban đầu, chi phí lắp đặt chạy thử ((-) các khoản thu hồi về sản phẩm phế liệu do chạy thử), chi phí chuyên gia và các chi phí liên quan trực tiếp khác
Đối với tài sản cố định mua sắm dùng vào sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ thì kế toán phản ánh giá trị tài sản cố định theo giá mua chưa có thuế GTGT
Đối với tài sản cố định mua sắm dùng vào sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT, hoặc chịu thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp, hoặc dùng vào hoạt động sự nghiệp, chương trình dự án hoặc dùng cho hoạt động phúc lợi, phản ánh tài sản cố định theo tổng giá thanh toán đã có thuế GTGT
b, Tài sản cố định hữu hình do đầu tư xây dựng cơ bản theo phương pháp giao
thầu: Nguyên giá tài sản cố định hữu hình hình thành do đầu tư xây dựng cơ bản hoàn
thành theo phương thức giao thầu là giá quyết toán công trình xây dựng theo quy định tại quy chế quản lý đầu tư và xây dựng hiện hành, các chi phí khác có liên quan trực tiếp và lệ phí trước bạ (nếu có) Đối với tài sản cố định là các con vật làm việc hoặc cho sản phẩm, vườn cây lâu năm thì nguyên giá là toàn bộ các chi phí thực tế đã chi ra cho con súc vật, vườn cây đó kể từ lúc hình thành cho tới khi đưa vào khai thác, sử dụng theo quy định tại Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng hiện hành, các chi phí khác có liên quan
c, Tài sản cố định hữu hình mua trả chậm: Nguyên giá tài sản cố định hữu
hình mua sắm được thanh toán theo phương thức mua trả chậm được phản ánh theo giá mua trả tiền ngay tại thời điểm mua Khoản chênh lệch giữa giá mua trả chậm
và giá mua trả tiền ngay được thanh toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh theo kỳ hạn thanh toán
Trang 6d, Tài sản cố định hữu hình tự xây dựng hoặc tự chế: Nguyên giá tài sản cố định
hữu hình tự xây dựng hoặc tự chế là giá thành thực tế của tài sản cố định tự xây dựng hoặc tự chế (+) chi phí lắp đặt, chạy thử Trường hợp doanh nghiệp dùng sản phẩm do mình sản xuất ra để chuyển thành tài sản cố định từ nguyên giá là chi phí sản xuất sản phẩm đó (+) các chi phí trực tiếp liên quan đến việc đưa tài sản cố định vào trạng thái sẵn sàng sử dụng Trong các trường hợp trên, không được tính lãi nội bộ vào nguyên giá của tài sản đó Các chi phí không hợp lý như nguyên liệu vật liệu lãng phí, lao động hoặc các khoản chi phí khác sử dụng vượt quá mức bình thường trong quá trình tự xây dựng hoặc
tự chế không được tính vào nguyên giá tài sản cố định hữu hình
đ, Tài sản cố định hữu hình mua dưới hình thức trao đổi: Nguyên giá tài sản cố
định hữu hình mua dưới hình thức trao đổi với một tài sản cố định hữu hình không tương tự hoặc tài sản khác được xác định theo giá trị hợp lý của tài sản cố định hữu hình nhận về hoặc giá trị hợp lý của tài sản đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu về Nguyên giá tài sản cố định hữu hình mua dưới hình thức trao đổi với một tài sản cố định hữu hình tương tự hoặc có thể hình thành do được bán để lấy quyền sở hữu một tài sản tương tự Trong cả hai trường hợp không có bất kỳ khoản lãi hay lỗ nào được ghi nhận trong quá trình trao đổi Nguyên giá tài sản cố định nhận về được tính bằng giá trị còn lại của tài sản cố định đem trao đổi
e, Tài sản cố định hữu hình được cấp, điều chuyển đến: Nguyên giá tài sản cố
định hữu hình được cấp, được điều chuyển đến…bao gồm: Giá trị còn lại trên sổ kế toán của tài sản cố định ở đơn vị cấp, đơn vị điều chuyển…hoặc giá trị theo đánh giá thực tế của Hội đồng giao nhận và các chi phí vận chuyển, bốc dỡ, chi phí nâng cấp, lắp đặt, chạy thử lệ phí trước bạ (nếu có)…mà bên nhận tài sản phải chi ra tính đến thời điểm đưa tài sản cố định vào trạng thái sẵn sàng sử dụng Riêng nguyên giá tài sản cố định hữu hình điều chỉnh giữa các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc trong doanh nghiệp là nguyên giá phản ánh ở đơn vị được điều chuyển phù hợp với bộ hồ sơ của tài sản cố định đó Đơn vị nhận tài sản cố định căn cứ vào nguyên giá, số khấu hao lũy kế, giá trị còn lại trên sổ kế toán và bộ phận của tài sản cố định đó để phản ánh vào
sổ kế toán Các chi phí có liên quan tới việc điều chuyển tài sản cố định giữa các đơn
Trang 7vị thành viên hạch toán phụ thuộc không hạch toán tăng nguyên giá tài sản cố định mà hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ.
g, Tài sản cố định hữu hình nhập góp vốn liên doanh, nhận lại vốn góp, do
phát hiện thừa được tài trợ, biếu, tặng…nguyên giá tài sản cố định nhận vốn góp liên
doanh, nhận lại vốn góp, do phát hiện thừa, được tài trợ, biếu, tặng…là giá trị theo đánh giá thực tế của hội đồng giao nhận các chi phí thực tế mà bên nhận phải chi ra tính đến thời điểm đưa tài sản cố định vào trạng thái sẵn sàng sử dụng như: chi phí vận chuyển, bốc dỡ, lắp đặt, chạy thử, lệ phí trước bạ (nếu có)…
Chỉ được thay đổi nguyên giá tài sản cố định hữu hình trong các trường hợp:
- Đánh giá lại theo quyết định của Nhà nước
- Xây lắp trang bị thêm cho tài sản cố định
- Thay đổi bộ phận của tài sản cố định hữu hình làm tăng thời gian sử dụng hữu ích hoặc làm tăng công suất sử dụng của chúng
- Cải tiến bộ phận của tài sản cố định hữu hình làm tăng đáng kể chất lượng sản phẩm xuất ra
- Áp dụng công nghệ sản xuất mới làm giảm chi phí của tài sản so với trước
- Tháo rỡ một hoặc một số bộ phận của tài sản cố định
Nguyên giá tài sản cố định vô hình là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp
phải bỏ ra để có được tài sản cố định vô hình tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào sử dụng theo dự kiến
- Nguyên giá tài sản cố định vô hình mua riêng biệt, bao gồm giá mua (-) (các khoản được chiết khấu thương mại hoặc giảm giá), các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại) và các chhi phí liên quan trực tiếp đưa tài sản vào sử dụng theo dự tính
- Trường hợp tài sản cố định vô hình mua sắm được thanh toán theo phương thức trả chậm, trả góp, nguyên giá của tài sản cố định vô hình được phản ánh theo giá mua trả tiền ngay tại thời điểm mua Khoản chênh lệch giữa giá mua trả chậm và giá mua trả tiền ngay được hạch toán và chi phí sản xuất kinh doanh theo kỳ hạn thanh toán, trừ khi số chênh lệch được tính vào nguyên giá tài sản cố định vô hình (vốn hóa)
- Tài sản cố định vô hình hình thành từ việc trao đổi, thanh toán bằng chứng từ liên quan đến quyền sở hữu vốn của đơn vị, thì nguyên giá của nó là giá trị hợp lý của các chứng từ được phát hành liên quan đến quyền sở hữu vốn của đơn vị
Trang 8nguyên giá tài sản cố định vô hình là quyền sử dụng vốn có thời hạn: là giá trị quyền
sử dụng đất khi doanh nghiệp đi thuê đất trả tiền thuê 1 lần cho nhiều năm và được cấp chứng nhận sử dụng đất hoặc số tiền đã trả khi nhận nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp, hoặc giá trị quyền sử dụng đất nhận vốn góp
- Nguyên giá tài sản cố định vô hình là quyền sử dụng đất không có thời hạn là
số tiền trả khi sử dụng quyền sử dụng đất hợp pháp (gồm chi phí đã trả cho tổ chức, cá nhân chuyển nhượng hoặc chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng, san lấp mặt bằng, lệ phí trước bạ…)
- Nguyên giá tài sản cố định vô hình được nhà nước cấp hoặc được tặng, biếu, được xác định theo giá trị hợp lý ban đầu (+) các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa tài sản vào sử dụng theo dự tính
Toàn bộ chi phí phát sinh liên quan đến giai đoạn triển khai được tập hợp vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ
Trong quá trình sử dụng phải triển khai hình thức khấu hao tiến hành trích khấu hao tài sản cố định vô hình vào chi phí sản xuất kinh doanh Riêng đối với tài sản cố định là quyền sử dụng đất thì tính khấu hao đối với những tài sản cố định vô hình là quyền sử dụng đất có thời hạn
Chi phí liên quan đến tài sản cố định vô hình phát sinh sau khi nhận ban đầu phải được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ, trừ khi thỏa mãn đồng thời 2 điều kiện sau thì được ghi tăng nguyên giá tài sản cố định vô hình:
- Chi phí phát sinh có khả năng làm cho tài sản cố định vô hình tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai nhiều hơn mức hoạt động được đánh giá ban đầu;
- Chi phí được xác định một cách chắc chắn và gắn liền với tài sản cố định vô hình cụ thể
Chi phí phát sinh liên quan đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp gồm: chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí đào tạo nhân viên, chi phí quảng cáo phát sinh trong giai đoạn trước hoạt động của doanh nghiệp mới thành lập, chi phí cho giai đoạn nghiên cứu, chi phí chuyển dịch địa điểm được ghi nhận là chi phí SXKD trong kỳ hoặc phân bổ dần vào chi phí SXKD trong thời gian tối đa không quá
3 năm
Trang 9Chi phí liên quan đến tài sản vô hình đã được doanh nghiệp ghi nhận là chi phí
để xác định kết quả kinh doanh trong kỳ trước đó thì không được tái ghi nhận vào nguyên giá tài sản cố định vô hình
Các nhãn hiệu hàng hóa, quyền phát hành, danh sách khách hàng và các khoản mục tương tự được hình thành trong nội bộ doanh nghiệp không được ghi nhận là tài sản cố định vô hình
1.1.2.2 Phân loại tài sản cố định
Phân loại tài sản cố định là việc phân chia toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp theo những tiêu thức nhất định nhằm phục vụ yêu cầu quản lý của doanh nghiệp
- Phân loại tài sản cố định theo hình thái biểu hiện
Theo hình thái biểu hiện, tài sản cố định trong doanh nghiệp được phân thành 2 loại là tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình
Tài sản cố định hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất (từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định) thỏa mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nà cửa, vật kiến trúc, máy móc thiết bị…
Trường hợp một hệ thống gồm nhiều bộ phận riêng lẻ có liên kết với nhau, trong đó mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính của nó nhưng do yêu cầu quản lý sử dụng tài sản cố định đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận tài sản thì mỗi bộ phận tài sản đó nếu cùng thỏa mãn đồng thời cả 4 tiêu chuẩn của tài sản cố định được coi là một tài sản cố định hữu hình độc lập
Đối với súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm, nếu từng con súc vật thỏa mãn đồng thời bốn tiêu chuẩn của tài sản cố định đều đượ coi là một tài sản cố định hữu hình
Đối với vườn cây lâu năm nếu từng mảnh vườn cây hoặc cây thỏa mãn đồng thời bốn tiêu chuẩn của tài sản cố định thì cũng được coi là một tài sản cố định hữu hình
Tài sản cố định vô hình: là tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư thỏa mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định mà không
Trang 10hình thành tài sản cố ðịnh hữu hình Những khoản chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra không thỏa mãn đồng thời cả 4 tiêu chuẩn của tài sản cố định thì được hạch toán trực tiếp hoặc được phân bổ đầu vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp
Riêng các chi phí phát sinh trong giai đoạn triển khai được ghi nhận là tài sản cố định vô hình được tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp nếu thỏa mãn được 7 điều kiện sau:
Tính khả thi về mặt kỹ thuật đảm bảo cho việc hoàn thành và đưa TSCĐ vô hình vào sử dụng theo dự tính của hoặc để bán
Doanh nghiệp dự định hoàn thành TSCĐ vô hình để sử dụng hoặc bán
Doanh nghiệp có khả năng sử dụng hoặc bán tài sản vô hình đó
TSCĐ đó tạo ta được lợi ích kinh tế trong tương lai
Có đầy đủ các nguồn lực về kỹ thuật, tài chính và các nguồn lực khác để hoàn tất các giai đoạn triển khai, bán hoăc sử dụng TSCĐ vô hình đó
Có khả năng xác định một cách chắc chắn toàn bộ chi phí trong giai đoạn triển khai để tạo ra TSCĐ vô hình đó
Ước tính có đủ tiêu chuẩn về thời gian sử dụng và giá trị theo quy định cho TSCĐ cố định vô hình
Chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí đào tạo nhân viên, chi phí quảng cáo trước khi thành lập doanh nghiệp, chi phí cho giai đoạn nghiên cứu, chi phí chuyển dịch địa điểm, lợi thế thương mại không phải là TSCĐ vô hình mà được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh trong kỳ
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp thấy được cơ cấu đầu tư vào TSCĐ
cố định vô hình và hữu hình Từ đó lựa chọn các quyết định đầu tư hoặc điều chỉnh cơ cấu sao cho phù hợp và có hiệu quả nhất
- Phân loại tài sản cố định theo tính chất của tài sản cố định
Căn cứ vào tính chất của tài sản cố định trong doanh nghiệp, doanh nghiệp tiến hành phân loại tài sản cố định theo các chỉ tiêu sau:
- Tài sản cố định dành cho các mục đích kinh doanh
Tài sản cố định dùng cho mục đích kinh doanh là những tài sản cố định do doanh nghiệp cho các mục đích kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 11• Đối với những tài sản cố định hữu hình, doanh nghiệp phân loại như sau:
Loại 1: Nhà cửa, vật kiến trúc là tài sản cố định của doanh nghiệp được hình thành sau quá trình như nhà xưởng, trụ sở làm việc, nhà kho, tháp nước, hàng rào, sân bãi, cầu cảng…
Loại 2: Máy móc, thiết bị: là toàn bộ các loại máy móc thiết bị dùng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác, dây chuyền công nghệ, những máy móc đơn lẻ…
Loại 3: Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn là các loại phương tiện vận tải gồm phương tiện đường sắt, đường thủy, đường ống, đường không và các thiết bị dẫn truyền như hệ thống điện, hệ thống thông tin, đường ống dẫn nước, khí đốt băng tải…
Loại 4: Thiết bị dụng cụ quản lý: là những thiết bị dụng cụ dùng trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy vi tính phục vụ quản lý, thiết
bị điện tử, thiết bị, dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng, máy hút bụi, hút ẩm, chống mối mọt
Loại 5: Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc: là các vườn cây lâu năm như vườn chè, vườn cà phê, vườn cây cao su, vườn cây ăn quả, thảm cỏ, thảm cây xanh…súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm như đàn voi, đàn ngựa, đàn bò…
Loại 6: Các loại tài sản cố định khác: Là toàn bộ các loại tài sản cố định khác chưa liệt kê vào 5 loại trên như tác phẩm nghệ thuật, tranh ảnh…
• Tài sản cố định vô hình: Quyền sử dụng đất, quyền phát hành, bằng sáng chế phát minh, nhãn hiệu thương mại…
Tài sản cố định dành cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng là những tài sản cố định do doanh nghiệp quản lý sử dụng cho các mục đích phúc lợi, sử dụng cho an ninh quốc phòng trong doanh nghiệp các tài sản cố định này cũng được phân loại như trên
Tài sản cố định bảo quản hộ, giữ hộ, cất giữ hộ Nhà nước là những tài sản cố định mà doanh nghiệp bảo quản hộ, giữ hộ cho đơn vị khác hoặc cất giữ hộ Nhà nước theo quy định của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp thấy được cơ cấu tài sản cố định của mình theo mục đích sử dụng của nó Từ đó có biện pháp quản lý tài sản cố định theo mục đích sử dụng sao cho có hiệu quả nhất
Trang 12- Phân loại theo tình hình sử dụng
Tài sản cố định đang sử dụng là những tài sản cố định của doanh nghiệp đang
sử dụng cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hoặc các hoạt động phúc lợi, sự nghiệp hay an ninh, quốc phòng của doanh nghiệp
Tài sản cố định chưa cần sử dụng là những tài sản cố định cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay các hoạt động khác của doanh nghiệp xong hiện tại chưa cần dùng đang được dự trữ để sử dụng sau này
Tài sản cố định không cần sử dụng và chờ thanh lý là những tài sản cố định không cần thiết hay không phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cần được thanh lý, nhượng bán để thu hồi vốn đầu tư đã bỏ ra ban đầu
Cách phân loại này cho thấy mức độ sử dụng có hiệu quả các tài sản của doanh nghiệp như thế nào từ đó có biện pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng chúng
- Phân loại tài sản cố định theo quyền sở hữu
Căn cứ vào quyền sở hữu tài sản cố định được chia làm 2 loại là tài sản cố định
tự có và tài sản cố định đi thuê
Tài sản cố định tự có là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệpTài sản cố định đi thuê là những tài sản cố định thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp khác bao gồm 2 loại là tài sản cố định thuê hoạt động và tài sản cố định thuê tài chính
Tài sản cố định thuê tài chính là những tài sản cố định mà doanh nghiệp thuê của công ty cho thuê tài chính Khi kết thúc thời hạn thuê bên đi thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê tài chính Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng thuê tài chính ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản cố định đó tại thời điểm ký hợp đồng
Mọi hợp đồng thuê tài sản cố định nếu không thỏa mãn các quy định trên được coi là tài sản cố định thuê hoạt động phân loại theo cách này giúp cho người quản lý thấy kết cấu tài sản cố định thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và tài sản cố định thuộc quyền sở hữu của người khác mà khai thác, sử dụng hợp lý tài sản cố định của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả của đồng vốn
1.1.2.3 Nguồn hình thành vốn cố định
Trang 13Đầu tư vào tài sản cố định là sự bỏ vốn dài hạn nhằm hình thành và bổ sung những tài sản cố định cần thiết để thực hiện mục tiêu kinh doanh lâu dài của doanh nghiệp Do đó việc xác định nguồn tài trợ cho những khoản mục đầu tư như vậy là rất coi trọng bởi vì nó có yếu tố quyết định cho việc quản lý và sử dụng vốn cố định sau này Có thể chia làm 2 loại nguồn tài trợ chính:
-Nguồn tài trợ bên trong: là những nguồn xuất phát từ bản thân doanh nghiệp
như vốn ban đầu, lợi nhuận để lại…hay nói cách khác đó là những nguồn thuộc quyền
sở hữu của doanh nghiệp
∗ Vốn do ngân sách Nhà nước cấp
Vốn do ngân sách Nhà nước cấp được cấp phát cho các doanh nghiệp Nhà nước Ngân sách chỉ cấp một bộ phận vốn ban đầu khi các doanh nghiệp này mới bắt đầu hoạt động Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp phải bảo toàn vốn do Nhà nước cấp Ngoài ra các doanh nghiệp thuộc mọi tầng lớp, thành phần kinh tế cũng có thể chọn được nguồn tài trợ từ phía Nhà nước trong một số trường hợp, một điều đáng chú ý ở đây là những khoản tài trợ này thường không lớn và cũng không thường xuyên do đó doanh nghiệp khi gặp trường hợp hết sức khó khăn doanh nghiệp mới tìm đến nguồn tài trợ này Bên cạnh đó, Nhà nước cũng xem xét trợ cấp cho các doanh nghiệpnằm trong danh mục ưu tiên Hình thức hỗ trợ có thể được diễn ra dưới dạng cấp vốn bằng tiền, bằng tài sản, hoặc ưu tiên giảm thuế, miễn thuế…
∗ Vốn tự có của doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp mới hình thành, vốn tự có là vốn do các doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp, chủ đầu tư bỏ ra để đầu tư và mở rộng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Số vốn tự có nếu là vốn dùng để đầu tư thì phải đạt được một tỷ lệ bắt buộc trong tổng vốn đầu tư và nếu là vốn tự có của Công ty, doanh nghiệp tư nhân thì không được thấp hơn vốn pháp định
Những doanh nghiệp đã đi vào hoạt động, vốn tự có còn được hình thành từ một phần lợi nhuận bổ sung, để mở rộng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thực tế cho thấy từ tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ là một con đường tốt Rất nhiều Công ty coi trọng chính sách tái đầu tư từ số lợi nhuận để lại đủ lớn nhằm tự đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng Tuy nhiên với các Công ty cổ phần thì việc để lại lợi nhuận có liên quan đến một số khía cạnh khá nhạy cảm Bởi khi Công ty để lại lợi nhuận trong năm
Trang 14cho tái đầu tư tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần Các cổ đông không được nhận tiền lãi cổ phần nhưng bù lại họ có quyền sở hữu số vốn tăng lên của Công ty Tuy nhiên, nó dễ gây ra sự kém hấp dẫn của cổ phiếu do cổ đông chỉ được nhận một phần nhỏ cổ phiếu và do đó giá cổ phiếu có thể bị giảm sút.
∗ Vốn cổ phần
Nguồn vốn này hình thành do những người sáng lập Công ty cổ phần phát hành
cổ phiếu và bán những cổ phiếu này trên thị trường mà có được nguồn vốn nhất định Trong quá trình hoạt động, nhằm tăng thực lực của Doanh nghiệp, các nhà lãnh đạo có thể sẽ tăng lượng cổ phiếu phát hành trên thị trường thu hút lượng tiền nhàn rỗi phục
vụ cho mục tiêu kinh doanh Đặc biệt để tài trợ cho các dự án đầu tư dài hạn, thì nguồn vốn cổ phấn rất quan trọng Nó có thể kêu gọi vốn đầu tư với khối lượng lớn, mặt khác, nó cũng khá linh hoạt trong việc trao đổi trên thị trường vốn Tận dụng các cơ hội đầu tư để được cả hai giá là người đầu tư và doanh nghiệp phát hành chấp nhận Tuy nhiên, việc phát hành cổ phiếu thêm trong quá trình hoạt động đòi hỏi các nhà quản lý tài chính phải cực kỳ thận trọng và tỷ mỷ trong việc đánh giá các nhân tố có liên quan như: uy tín của Công ty, lãi suất thị trường, mức lạm phát, tỷ lệ cổ tức, tình hình tài chính Công ty gần đây Để đưa ra thời điểm phát hành tối ưu nhất, có lợi nhất trong Công ty
- Nguồn tài trợ từ bên ngoài: là những nguồn mà doanh nghiệp huy động từ
bên ngoài để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình như vốn vay, phát hành trái phiếu, cổ phiếu, thuê mua, thuê hoạt động
Nguồn vốn bên ngoài của Doanh nghiệp.
Tỷ lệ lãi vay càng cao sẽ tạo điều kiện cho phía Doanh nghiệp huy động vốn càng
Trang 15nhiều nhưng lại ảnh hưởng đến lợi tức cùng với khả năng thanh toán vốn vay và lãi suất tiền đi vay.
∗ Tài trợ bằng thuê (thuê vốn)
Các Doanh nghiệp muốn sử dụng thiết bị và kiến trúc hơn là muốn mang danh làm chủ sở hữu thì có thể sử dụng thiết bị bằng cách thuê mướn hay còn gọi là thuê vốn
Thuê mướn có nhiều hình thức mà quan trọng nhất là hình thức bán rồi thuê lại, thuê dịch vụ, thuê tài chính
1.2 Nội dung quản lý vốn cố định của doanh nghiệp
1.2.1 Nội dung hoạt động quản lý vốn cố định
Quản lý việc sử dụng vốn cố định là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý Doanh nghiệp Trong quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận động của vốn cố định gắn liền với hình thái vật chất của nó
TSCĐ là cơ sở vật chất chủ yếu giúp cho doanh nghiệp đạt được các mục tiêu
về hoạt động sản xuất và tài chính trong quá trình sản xuất kinh doanh Nhiệm vụ đặt
ra đối với mỗi doanh nghiệp là phải tăng cường công tác quản lý TSCĐ nhằm đạt hiệu quả cao Hơn nữa trong quá trình sản xuất kinh doanh, TSCĐ vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu nhưng giá trị của nó giảm dần sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh nên trong công tác quản lý TSCĐ, các doanh nghiệp cần phải theo dõi cả về mặt hiện vật và giá trị của TSCĐ
Quản lý về mặt hiện vật bao gồm quản lý về mặt chất lượng và số lượng của TSCĐ
Về mặt số lượng: bộ phận quản lý TSCĐ phải đảm bảo cung cấp đầy đủ về công suất, đáp ứng yêu cầu về sản xuất kinh doanh của TSCĐ
Về mặt chất lượng: Công tác quản lý phải đảm bảo tránh hỏng hóc, mất mát các
bộ phận chi tiết làm giảm giá trị TSCĐ
Trang 16Để thực hiện tốt vấn đề này mỗi doanh nghiệp phải xây dựng nội quy bảo quản TSCĐ và sử dụng một cách hợp lý, phù hợp với các đặc điểm của mình Đồng thời để đảm bảo sử dụng có hiệu quả TSCĐ, các đơn vị cần xây dựng các định mức kinh tế kỹ thuật đối với từng loại từng nhóm TSCĐ Thông qua đó giúp đơn vị lên kế hoạch và
có biện pháp sửa chữa nâng cấp cũng như đầu tư mới TSCĐ phục vụ kịp thời cho hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp
Quản lý về giá trị: Là xác định đúng nguyên giá và giá trị còn lại của TSCĐ đầu
tư, mua sắm, điều chuyển và giá trị hao mòn
Quản lý TSCĐ là công việc chủ yếu trong công tác hạch toán Công việc này đảm bảo cho ban quản lý có thể biết chính xác kịp thời và đầy đủ những thông tin về mặt giá trị, (giá trị hao mòn, giá trị còn lại, nguyên giá) của từng loại TSCĐ (hữu hình,
vô hình, thuê tài chính) trong doanh nghiệp tại từng thời điểm xác định
1.2.2 Trích khấu hao tài sản cố định
Khái niệm: Để bù đắp giá trị hao mòn trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải chuyển dần dần phần giá trị hao mòn đó vào giá trị sản phẩm sản xuất trong kỳ
Khấu hao tài sản cố định là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá của tài sản cố định vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong thời gian sử dụng của tài sản cố định
1.2.3 Lập kế hoạch khấu hao tài sản cố định của doanh nghiệp
1.2.3.1 Một số quy định về trích khấu hao và sử dụng tiền trích khấu hao
TSCĐ
Mọi tài sản cố định của doanh nghiệp có liên quan đến hoạt động kinh doanh đều phải trích khấu hao Mức trích khấu hao tài sản cố định được hạch toán vào chi phí kinh doanh trong kỳ
- Doanh nghiệp không được tính và trích khấu hao đối với những tài sản cố định đã khấu hao hết nhưng vẫn sử dụng vào hoạt động kinh doanh
Đối với những tài sản cố định chưa khấu hao hết đã hỏng, doanh nghiệp phải xác định nguyên nhân, quy trách nhiệm đền bù, bồi thường thiệt hại…và tính vào chi phí khác
Trang 17- Những tài sản cố định không tham gia vào hoạt động kinh doanh thì không phải trích khấu hao, bao gồm:
+ Tài sản cố định thuộc dữ trữ Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý hộ, giữ hộ
+ Tài sản cố định phục vụ các hoạt động phúc lợi trong doanh nghiệp như nhà trẻ, câu lạc bộ, nhà truyền thống, nhà ăn,…được đầu tư bằng quỹ phúc lợi
+ Những tài sản cố định phục vụ nhu cầu chung toàn xã hội không phục vụ cho hoạt động kinh doanh riêng của doanh nghiệp như đê đập, cầu cống, đường xá,…
mà Nhà nước giao cho các doanh nghiệp quản lý
+ Tài sản cố định khác không tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh.Doanh nghiệp thực hiện việc quản lý, theo dõi các tài sản cố đinh trên đây như đối với các tài sản cố định dùng trong hoạt động kinh doanh và tính mức hao mòn của các tài sản cố định này nếu có; mức hao mòn hàng năm được tính bằng cách lấy nguyên giá chia (:) cho thời gian sử dụng tài sản cố định
Nếu các tài sản cố định này có tham gia vào hoạt động kinh doanh thì trong thời gian tài sản cố định tham gia vào hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp thực hiện tính
và trích khấu hao vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp
Doanh nghiệp đi thuê tài sản cố định tài chính phải trích khấu hao tài sản cố định thuê tài chính như tài sản cố định thuộc sở hữu của doanh nghiệp theo quy định hiện hành Trường hợp ngay tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, doanh nghiệp đi thuê tài sản cố định tài chính cam kết không mua tài sản thuê trong hợp đồng thuê tài chính, thì doanh nghiệp
đi thuê được trích khấu hao TSCĐ thuê tài chính theo thời hạn thuê trong hợp đồng
Doanh nghiệp đi thuê phải theo dõi, quản lý, sử dụng TSCĐ đi thuê như tài sản
cố định thuộc sở hữu của doanh nghiệp và phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng thuê TSCĐ Doanh nghiệp cho thuê với tư cách là chủ đầu tư phải theo dõi và thực hiện đúng các quy định trong hợp đồng thuê tài sản cố định
Doanh nghiệp cho thuê TSCĐ hoạt động phải trích khấu hao đối với tài sản cố định cho thuê, doanh nghiệp đi thuê phải có trách nhiệm quản lý, sử dụng tài sản cố định theo các quy định trong trường hợp đồng thuê
Trang 18Việc trích hoặc thôi trích khấu hao tài sản cố định được thực hiện bắt đầu từ ngày (theo số ngày của tháng) mà tài sản cố định tăng, giảm hoặc ngừng tham gia vào hoạt động kinh doanh.
Quyền sử dụng đất lâu dài là tài sản cố định vô hình đặc biệt, doanh nghiệp phải ghi nhận là tài sản cố định vô hình theo nguyên giá nhưng không trích khấu hao
Doanh nghiệp phải đăng ký phương pháp trích khấu hao tài sản cố định mà doanh nghiệp lựa chọn áp dụng đối với cơ quan thuế có trách nhiệm thông báo cho doanh nghiệp biết để thay đổi phương pháp khấu hao cho phù hợp
Phương pháp khấu hao áp dụng cho từng tài sản cố định mà doanh nghiệp đã lựa chọn và đăng ký phải thực hiện nhất quán trong suốt quá trình sử dụng tài sản cố định hữu hình đó
1.2.3.2 Lập kế hoạch khấu hao tài sản cố định
Lập kế hoạch khấu hao tài sản cố định hàng năm là một nội dung quan trọng để quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp Thông qua kế hoạch khấu hao, doanh nghiệp có thể thấy được nhu cầu tăng, giảm vốn cố định trong năm kế hoạch, khả năng nguồn tài chính để đáp ứng các nhu cầu đó Vì thế, kế hoạch khấu hao cũng là một căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xem xét, lựa chọn các quyết định đầu tư, đổi mới các tài sản cố định trong tương lai
Trình tự và nội dung của việc lập kế hoạch khấu hao tài sản cố định của doanh nghiệp thường bao gồm những vấn đề chủ yếu sau:
- Xác định phạm vi tài sản cố định phải tính khấu hao và tổng nguyên giá tài
sản cố định phải tính khấu hao đầu kỳ kế hoạch.
Về nguyên tắc mọi tài sản cố định của doanh nghiệp có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải trích khấu hao Mức trích khấu hao tài sản cố định được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ Còn đối với những tài sản cố định không tham gia vào sản xuất kinh doanh thì không phải trích khấu hao
Trên cơ sở xác định rõ phạm vi tài sản cố định phải tính khấu hao, doanh nghiệp xác định nguyên giá tài sản cố định ở đầu kỳ phải tính khấu hao theo phương pháp kế toán hiện hành Trong trường hợp kế hoạch khấu hao được lập từ cuối quý 3 năm báo cáo thì phải dự kiến tình hình tăng, giảm tài sản cố định trong quý 4 để xác định nguyên giá tài sản cố định phải tính khấu hao ở đầu kỳ kế hoạch
Trang 19- Xác định giá trị tài sản cố định bình quân tăng, giảm trong kế hoạch và
nguyên giá bình quân tài sản cố định phải trích khấu hao trong kỳ.
Việc phản ánh tăng hay giảm nguyên giá tài sản cố định trong kỳ được thực hiện tại thời điểm tăng hay giảm tài sản cố định đó trong tháng tuy nhiên việc tăng hay giảm tài sản cố định không phải bao giờ cũng diễn ra tại một thời điểm do đó phải dùng phương pháp bình quân gia quyền để tính giá trị bình quân tài sản cố định phải trích khấu hao tăng, giảm trong kỳ để đơn giản, tài sản cố định phải trích khấu hao tăng thêm hoặc giảm bớt trong kỳ được tính theo nguyên tắc tính chẵn cả tháng Điều
đó có nghĩa là tài sản cố định tăng giảm ngừng tham gia hoạt động SXKD trong tháng
sẽ được trích hoặc thôi trích khấu hao từ ngày đầu của tháng đó
Tùy theo phương pháp khấu hao doanh nghiệp đã lựa chọn mà tỷ lệ khấu hao bình quân hàng năm được tính bình quân hàng năm sẽ được tính toán phù hợp như đã nêu ở trên
Riêng đối với các doanh nghiệp Nhà nước, theo quy định hiện hành tỷ lệ khấu hao bình quân hàng năm được tính bình quân căn cứ vào khung thời gian sử dụng tối
đa và tối thiểu của từng loại tài sản cố định do Nhà nước quy định Doanh nghiệp được phép chủ động xác định thời gian tài sản cố định trong khung thời gian sử dụng tài sản cố định theo quy định
Trường hợp có yếu tố tác động nhằm kéo dài hoặc rút ngắn thời hạn sử dụng đã xác định trước đó của tài sản cố định, doanh nghiệp phải xác định lại thời hạn sử dụng của tài sản cố định đồng thời phải lập biên bản nêu rõ các căn cứ làm thay đổi thời gian sử dụng
Đối với các tài sản cố định thuê tài chính, thời gian sử dụng tài sản cố định được xác định là thời gian thuê tài sản cố định ghi trong hợp đồng Thời hạn sử dụng tài sản cố định vô hình sẽ do doanh nghiệp tự quyết định cho phù hợp song không được quá 40 năm và cũng không dưới 5 năm Đối với thời gian sử dụng tài sản cố định cần được xem xét tời thời hạn của khế ước vay, song tối đa không được giảm quá 30%
so với thời gian sử dụng tối thiểu
Các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, Nhà nước không bắt buộc thực hiện các khung thời gian sử dụng của từng loại TSCĐ để tính khấu hao mà chỉ
Trang 20khuyến khích Nhà nước chỉ có thể sử dụng nó trong việc xác định chi phí khấu hao hợp lý để tính thuế thu nhập đối với doanh nghiệp.
Phân phối và sử dụng số trích khấu hao TSCĐ trong kỳ
Khi lập kế hoạch phân phối và sử dụng số trích khấu hao, doanh nghiệp phải xác định được tỷ lệ của từng nguồn vốn đầu tư để phân phối sử dụng số trích khấu hao hợp lý
Đối với các tài sản cố định được mua sắm từ nguồn vốn chủ sở hữu, các doanh nghiệp được chủ động sử dụng toàn bộ số tiền khấu hao lũy kế thu được để tái đầu tư, thay thế, đổi mới tài sản cố định của mình Khi chưa có nhu cầu đầu tư tái tạo tài sản
cố định, doanh nghiệp có thể sử dụng linh hoạt tiền khấu hao thu được để phục vụ các yêu cầu kinh doanh sao cho có hiệu quả nhất
Đối với các tài sản cố định được mua sắm từ nguồn vốn đi vay, về các nguyên tắc, doanh nghiệp phải sử dụng số tiền trích khấu hao thu được để trả tiền vốn vay Tuy nhiên, trong khi chưa đến kỳ hạn trả nợ, doanh nghiệp cũng có thể tạm thời sử dụng vào các mụ đích kinh doanh khác để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay của doanh nghiệp
Sửa chữa chế độ quản lý tài sản cố định và quản lý khấu hao tài sản cố định cho phù hợp với điều kiện cách mạng khoa học, kỹ thuật diễn ra sâu rộng, giá thị trường biến động, chu kỳ sống của sản phẩm phải cải tiến chế độ khấu hao như sau: quy định chế độ điều chỉnh nguyên giá tài sản cố định, tính khấu hao theo hệ
số trượt giá, chia tài sản cố định theo nhóm nghiên cứu và ban hành nhiều phương pháp và công thức tính khấu hao cho phù hợp với từng đặc điểm của từng máy móc, thiết bị nhằm đẩy nhanh tốc độ thu hồi vốn, phục vụ kịp thời nhu cầu đổi mới, công nghệ Đẩy nhanh tốc độ khấu hao sẽ làm giảm tương ứng lợi nhuận của Doanh nghiệp song xét về mục đích lâu dài đây là con đường đúng đắn nhất để bảo toàn và phát triển vốn cố định
1.2.3.3 Bảo toàn và phát triển vốn cố định
Để đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh được duy trì và phát triển, một trong nhiều yếu tố trong đó là phải bảo tồn và phát triển được vốn cố định Hoạt động sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường không tách khỏi những biến động về giá cả, lạm phát
Trang 21Xu thế này thường có chiều hướng gia tăng làm cho sức mua của đồng tiền và giá trị của tiền vốn giảm xuống so với thực tế Mặt khác do sự lỏng lẻo quản lý dẫn đến hiện tượng hư hỏng, mất mát tài sản cố định trước thời hạn Cả hai nguyên nhân này đều làm cho giá trị của đồng vốn giảm tương đối so với thực tế và giảm tuyệt đối so với thời gian sử dụng vốn.
Theo quy định của Nhà nước, các Doanh nghiệp Nhà nước có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn cố định cả về mặt hiện vật và giá trị
Bảo toàn về mặt hiện vật không có nghĩa là Nhà nước bắt buộc Doanh nghiệp phải giữ nguyên hình thái vật chất của tài sản cố định hiện có khi giao vốn mà là bảo toàn năng lực sản xuất của tài sản cố định Cụ thể, trong quá trình sử dụng tài sản cố định vào sản xuất kinh doanh, Doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ không làm hư hỏng, mất mát tài sản cố định, thực hiện đúng quy chế sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa nhằm làm cho tài sản cố định không hư hỏng trước thời gian, duy trì nâng cao năng lực hoạt động của tài sản cố định Doanh nghiệp có quyền chủ động thực hiện đổi mới, thay thế tài sản cố định theo yêu cầu đổi mới công nghệ, phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định
Bảo toàn về mặt giá trị có nghĩa là trong điều kiện có biến động lớn về giá cả, các Doanh nghiệp phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước về điều chỉnh nguyên giá tài sản cố định theo hệ số tính lại được cơ quan có thẩm quyền công bố nhằm bảo toàn vốn cố định Đồng thời phải sử dụng đúng mục đích và có sự kiểm tra của Nhà nước đối với việc sử dụng vốn thu hồi về thanh lý nhượng bán tài sản cố định
Nội dung của chế độ bảo toàn và phát triển vốn cố định bao gồm:
− Các Doanh nghiệp xác định đúng nguyên giá tài sản cố định trên cơ sở tính đúng, tính đủ khấu hao cơ bản và khấu hao sửa chữa lớn để tạo nguồn thay thế và duy trì năng lực sản xuất của tài sản cố định bảo toàn vốn cố định
− Hàng năm, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ công bố hệ số điều chỉnh giá trị tài sản cố định phù hợp với đặc điểm cơ cấu hình thành tài sản cố định của từng ngành kinh tế - kỹ thuật làm căn cứ thống nhất để các doanh nghiệp điều chỉnh giá trị tài sản cố định, vốn cố định
− Ngoài việc bảo toàn vốn cố định trên cơ sở hệ số trượt giá phải bảo toàn về vốn cố định, còn cả vốn Ngân sách cấp thêm hoặc doanh nghiệp tự bổ sung trong kỳ
Trang 22-Khấu hao
cơ bản tính trong kỳ
×
Hệ số điều chỉnh giá trị TSCĐ
-Tăng (giảm) vốn trong kỳNgoài trách nhiệm bảo toàn vốn, các doanh nghiệp có trách nhiệm phát triển vốn cố định trên cơ sở quỹ khuyến khích phát triển sản xuất trích từ lợi nhuận để lại của Công ty và phần vốn khấu hao cơ bản để lại đầu tư tái sản xuất mở rộng tài sản
cố định
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯƠNG TỚI HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ VỐN CỐ ĐỊNH CỦA DOANH NGHIỆP
1.3.1 Nguyên tố khách quan
1.3.1.1 Chính sách kinh tế của Nhà nước
Nhà nước bằng pháp luật và hệ thống chính sách kinh tế, thực hiện chức năng quản lý và điều tiết các nguồn lực trong nền kinh tế Với bất kỳ một sự thay đổi nào đều chi phối các mảng hoạt động của doanh nghiệp
Đối với quản lý vốn cố định thì các văn bản về tài chính, kế toán, quy chế đầu
tư đều gây ảnh hưởng lớn trong suốt quá trình kinh doanh của doanh nghiệp như các chính sách khuyến khích đầu tư và những ưu đãi về thuế, về vốn, các chính sách tiền tệ hay các quy định về chuyển giao về vốn, đánh giá tài sản, tính khấu hao…
Vì vậy đứng trước các quyết định đầu tư, tổ chức, doanh nghiệp luôn phải xét tới các chính sách của Nhà nước
1.3.1.2 Tác động của thị trường
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh TSCĐ là những tư liệu sử dụng chủ yếu Khi tạo ra sản phẩm thì sản phẩm đó vừa có tính cạnh tranh cao, giá thành hạ điều này chỉ xảy ra khi doanh nghiệp đó tích cực nâng cao hàm lượng công nghệ kỹ thuật Do đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có kế hoạch đầu tư cải tạo, đầu tư mới tài sản trước mắt cũng như lâu dài Nhất là doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh cao, tốc
độ thay đổi công nghệ nhanh như ngành kiến trúc, thi công, thiết kế xây dựng…
Trang 231.3.1.3 Các nhân tố khác
Các nhân tố này là những nhân tố do môi trường tự nhiên tác động như bão lũ, thiên tai… Mức tổn hại không thể dự báo trước, chỉ có thể phòng ngừa nhằm giảm nhẹ thiệt hại
1.3.2 Nguyên tố chủ quan
Đây là các nhân tố chủ yếu quyết định đến hiệu quả quản lý các tài cố định hay nói cách khác là vốn cố định của doanh nghiệp Nhân tố này gồm nhiều yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh trong hiện tại và kéo dài đến tương lai Bao gồm một số các yếu tố sau:
1.3.2.1 Trình độ tổ chức quản lý, tổ chức kinh doanh, hạch toán trong doanh nghiệp
Muốn đạt được hiệu quả cao thì bộ máy quản lý của doanh nghiệp phải có những tác động phối hợp, tránh sự chồng chéo trong công tác quản lý sử dụng TSCĐ, biết thay đổi linh hoạt cho phù hợp với sự biến đổi của các tác động bên trong cũng như ngoài doanh nghiệp
Với mỗi phương thức sản xuất và loại hình sản xuất sẽ có tác động khác nhau tới tiến độ sản xuất, phương pháp và quy trình vận hành máy móc, số bộ phận phục vụ sản xuất kinh doanh
Việc lựa chọn phương thức khấu hao, sử dụng quỹ khấu hao, sao cho hợp lý và hiệu quả để vừa đảm bảo tái sản xuất tài sản cố định trong doanh nghiệp lại vừa đáp ứng được nhu cầu chi tiêu trong doanh nghiệp những lúc cần thiết là công việc rất quan trọng
1.3.2.2 Ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp
Nhân tố này tạo ra điểm xuất phát cho doanh nghiệp cũng như định hướng cho
nó trong suốt quá trình tồn tại Với một ngành nghề kinh doanh đã được lựa chọn chủ doanh nghiệp phải xác định được cơ cấu sao cho hợp lý, cơ cấu tài sản được đầu tư ra sao, mức độ hiện đại hóa, khả năng cạnh tranh, nguồn tài trợ cho những tài sản
1.3.2.3 Trình độ và trách nhiệm của người lao động
Trình độ tay nghề của người lao động cao mới nâng cao năng suất lao động, hiệu quả công việc trong doanh nghiệp cao và họ sẽ có khả năng tiếp cận và sử dụng tốt hơn các thiết bị hiện đại và sẽ đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp Chính vì vậy, để phát huy được hết khả năng của dây chuyền công nghệ, máy móc thiết bị phục
Trang 24vụ sản xuất kinh doanh đòi hỏi trình độ quản lý và sử dụng máy móc thiết bị của người lao động cao
Ngoài ra, các chủ doanh nghiệp phải có một cơ chế khuyến khích vật chất nhưng đồng thời gắn liền với nó là trách nhiệm đi cùng để việc quản lý tài sản được hiệu quả nhất
Trên cơ sở nghiên cứu những lý thuyết cơ bản thì Chương 1 đã hệ thống hóa được những vấn đề cơ bản về vốn cố định và những nội dung của tài sản cố định Để làm rõ sự vận dụng lý luận trên vào thực tế xem xét, phân tích tình hình quản lý vốn cố định tại Công ty cổ phần tư vấn – đầu tư và xây dựng 306 qua những số liệu cụ thể
Trang 25Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ VỐN CỐ ĐỊNH CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN – ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG 306
2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN – ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG 306
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
• Tên công ty: Công ty cổ phần tư vấn - đầu tư và xây dựng 306
• Tên giao dịch: CONSULTANCY INVESTMENT AND CONSTRUCTION JONT STOCK COMPANY NO.306
• Tên viết tắt: 306JSC
• Trụ sở chính: Số 3/31/18 Trần Quốc Hoàn, Dịch Vọng, Cầu Giấy, Hà Nội Văn phòng: Số 28 – 30, TT6A khu đô thị Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội.Tel: 84 – 04.355.45306 ~ 308 Fax: 84 – 04.35545309
E – mail: Jsj306 @vnn.vn
Doanh nghiệp: Công ty CP Tư vấn - Đầu tư và Xây dựng 306 có giấy phép kinh doanh số 0103006877 do Phòng đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp
Chủ tịch hội đồng quản trị - Giám đốc Công ty: Ông Nguyễn Văn Thắng
Vốn điều lệ của Công ty là: 5.100.000.000 đồng
Ngành nghề kinh doanh:
− Khảo sát địa hình, địa chất các công trình xây dựng hạ tầng cơ sở;
− Thiết kế quy hoạch chung, tổng thể, chi tiết khu đô thị, nông thôn, khu công nghiệp
− Thiết kế các công trình xây dựng đường bộ;
− Thiết kế các công trình thuỷ lợi;
− Thiết kế tổng mặt bằng, kiến trúc nội ngoại thất: Đối với công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp;
− Thiết kế kết cấu; đối với công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp
− Xây dựng dân dụng, công nghiệp, giao thông thuỷ lợi;
Trang 26− Xây lắp đường cáp quang, đường dây và trạm biến thế dưới 35kv;
− Giám sát thi công công trình xây dựng;
− Thẩm định dự án đầu tư; thẩm định thiết kế và dự toán công trình;
− Sản xuất và buôn bán vật liệu xây dựng;
− Cho thuê máy móc, thiết bị thi công xây dựng;
− Kinh doanh siêu thị;
− Tư vấn, khảo sát, thiết kế lập luận chứng kinh tế - kỹ thuật thuộc lĩnh vực đo đạc bản đồ, quản lý đất đai môi trường
− Đo vẽ thành lập bản đồ địa chính, đo đạc phục vụ thiết kế công trình
− Đo vẽ thành lập địa hình, lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
− Đo đạc bản đồ địa chính và lập hồ sơ địa chính, đo đạc phục vụ thiết kế công trình
− Tư vấn đấu thầu, tư vấn giám sát kỹ thuật, quản lý điều hành dự án đầu tư
Một số công trình điển hình mà công ty đã và đang thực hiện:
Khảo sát, lập dự án đầu tư, thiết kế bản vẽ thi công, tổng dự toán đường nội bộ
12 điểm TĐC thuộc khu trung tâm hành chính, chính trị, văn hóa, thể dục thể thao và khu TĐC huyện lỵ (Phường Nèn) huyện Quỳnh Nhai Trị giá 1.650.000.000 đồng chủ đầu tư là Ban quản lý dự án di dân tái định cư, huyện Quỳnh Nhai tỉnh Sơn La
Tư vấn, khảo sát, lập bổ sung quy hoạch chi tiết khu công nghiệp Ninh Phúc, lập dự án đầu tư, thiết kế bản vẽ thi công, dự toán công trình xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ dự án xây dựng cảng khô (ICD) Trị giá 1.350.000.000 đồng và chủ đầu tư là Công ty phát triển kỹ thuật hạ tầng – Khu công nghiệp Ninh Bình
Khảo sát thiết kế các công trình Giao thông và thủy lợi tại huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang – Kế hoạch 2005 Chủ đầu tư Ban quản lý dự án giảm nghèo huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang Trị giá: 1.260.000.000 đồng
Thiết kế kỹ thuật đường tỉnh 477 kéo dài, tỉnh Ninh Bình Sở giao thông vận tải tỉnh Ninh Bình với trị giá là: 5.562.000.000 đồng
Trang 27Tư vấn, khảo sát lập dự án đầu tư đường Noong Hẻo – Nậm Coong – Nậm Cuổi, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu Với chủ đầu tư là Ban quản lý dự án bồi thường di dân tái định cư tỉnh Lai Châu Tổng trị giá là: 497.000.000 đồng.
Lập dự án khả thi, thiết kế KTTC đường TL207 Cao Bằng đoạn Hạ Lang – Bằng Ca – Lý Văn – Cao Bằng Chủ đầu tư là BQLDA đầu tư và xây dựng – Sở giao thông vận tải Cao Bằng Trị giá là: 818.000.000 đồng
Tư vấn thiết kế KTTC cống tròn, cống hộp, tường chắn đất đường Hồ Chí Minh (gói thầu Đ9) Trị giá là: 174.550.000 đồng Chủ đầu tư là: BQLDA đường
Hồ Chí Minh
Khảo sát, lập dự án đầu tư xây dựng công trình: San nền, đường giao thông, thoát nước, kè thuộc khu TĐC Cơ Khí, thị xã Mường Lay tỉnh Điện Biên Trị giá là: 1.238.000.000 đồng Ban quản lý dự án di dân tái định cư, thủy điện Sơn La, tỉnh Điện Biên
Trong những năm qua Công ty đã đảm nhận khảo sát, thiết kế và tư vấn thi công nhiều công trình, dự án và đã được các chủ đầu tư đánh giá cao Đạt được điều đó phải
kể phải kể đến đội ngũ lao động giỏi về chuyên môn kỹ thuật, trình độ tay nghề cao, sử dụng thành thạo các máy móc thiết bị
Kỹ sư trắc địa, địa chất công trình: 04
Trang 28* Công nhân kỹ thuật: 96
Lao động là yếu tố quan trọng hàng đầu đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty Tổng số lao động trong danh sách Công ty quản lý tại thời điểm ngày lập phương án (tháng 6/2010) là 148 người
Với phương trâm hoạt động hiệu quả dựa trên đội ngũ cán bộ trẻ, năng động, nhiệt tình trong môi trường khoa học công nghệ cao Công ty luôn chú ý đào tạo đội ngũ cán bộ bằng cách tự đào tạo hoặc cử cán bộ tham gia các khoá, lớp đào tạo
CTHĐ QT Giám đốc
kế toán
Phòng kinh tế
kế hoạch
Phòng quản lý
kỹ thuật
Phòng thiết kế 1
Phòng thiết kế 2
Phòng thiết kế 3
Phòng giám sát
Trang 29doanh dịch vụ, thi công xây lắp, duy tu sửa chữa các công trình đều ổn định và tăng trưởng, không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ.
Như chúng ta đã thấy kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau của các nhà quản lý Để đánh giá đợc kết quả này ta phải phân tích một số chỉ số tài chính đợc thực hiện và so sánh các chỉ số
đó Các báo cáo tài chính sẽ phản ánh trung thực thờng xuyên kết quả của việc đầu t hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Muốn nắm bắt đợc quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, thấy đợc sự vận hành phối hợp giữa các bộ phận của doanh nghiệp thì cách nào hơn và hiệu quả hơn là so sánh các con số kế toán và báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh và nó có vị trí quan trọng phản ánh thực trạng hoạt động của doanh nghiệp
Trang 302.1.4 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong 3 năm gần đây
Bảng 1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong 3 năm gần đây (Đơn vị: đồng)
+/-Số tiền
(%)
+/-1 Doanh thu bán hàng và cung
-3 Doanh thu thuần về bán hàng
9 Lợi nhuận thuần từ hoạt động
Trang 31(Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2007,2008,2009)
Trang 322.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VỐN CỐ ĐỊNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
TƯ VẤN – ĐẦU TƯ VÀ XÂY DỰNG 306
Hiện nay Công ty đã và đang triển khai kinh doanh các ngành nghề và lĩnh vực như: Kinh doanh dịch vụ, tư vấn, khảo sát, thiết kế, quản lý đô thị, xây lắp, duy tu và sửa chữa công trình… Do đó TSCĐ của Công ty tương đối đa dạng, và được phân cấp cho các đơn vị sử dụng Việc sử dụng và quản lý TSCĐ là nhân tố tác động không nhỏ đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty Chi phí khấu hao TSCĐ được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ, khấu hao theo phương pháp đường thẳng theo năm sử dụng, áp dụng tỷ lệ trích khấu hao hàng năm
Trong các doanh nghiệp vốn là bộ phận quan trọng, trình độ sử dụng quản lý là một nhân tố ảnh hởng tới trình độ trang bị tài chính của sản xuất kinh doanh Do nó ở vào một vị trí then chốt và các đặc điểm vận động của nó tuân thủ theo nguyên tắc cho nên việc quản lý vốn là công tác tài chính trong doanh nghiệp
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực tại doanh nghiệp để đạt đợc kết quả cao nhất trong quá trình kinh doanh với tổng chi phí thấp nhất Đây là vấn đề phức tạp có quan hệ với tất cả quá trình kinh doanh trong doanh nghiệp chỉ có thể đạt đợc hiệu quả cao khi sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh hiệu quả Các chỉ số về năng lực hoạt động có vai trò rất quan trọng trong quá trình đánh giá các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Phân tích tình hình tổ chức và hiệu quả quản lý sử dụng vốn cố định là rất cần thiết trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp nắm bắt được những kết quả đã đạt được, những hạn chế tồn tại về tình hình tài chính để từ đó có thể đưa ra những biện pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp mình Đi sâu nghiên cứu các mặt sau sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về thực trạng vốn cố định dẫn tới hiểu hơn về tình hình quản lý vốn cố định của Công ty
Bảng 2: Cơ cấu vốn kinh doanh của Công ty
Đơn vị tính: (đồng)
Chỉ tiêu
Trang 33(Nguồn: Bảng cân đối kế toán 2009)
Là một Công ty mang tính đặc trưng của ngành xây dựng lẽ ra nguồn vốn cố định phải chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn kinh doanh nhưng do tính chất hoạt động của Công ty chủ yếu trong lĩnh vực thiết kế, tư vấn, khảo sát và hoạt động theo các gói thầu nên một số trang thiết bị, máy móc có thể thuê ngoài hoạt động vì vậy vốn cố định của Công ty chiếm tỷ trọng là thấp mà các sản phẩm của công ty chủ yếu ở dạng các sản phẩm dở dang và cần nhiều nguyên vật liệu vì vậy vốn lưu động
luôn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu vốn kinh doanh Các công trình xây thường thi
công trong thời gian dài, giá nguyên vật liệu như: giá xi măng ,thép liên tục tăng
vì vậy trong cơ cấu vốn lưu động hàng tồn kho luôn chiếm tỷ trong lớn và có xu hướng gia tăng
Qua bảng trên ta thấy tổng số vốn kinh doanh của Công ty cuối năm 2009 tăng so với đầu năm tỷ lệ tăng 46,41% việc tăng lên của vốn kinh doanh trong năm
là vì vốn lưu động của Công ty tăng 6.581.478.880 đồng tương đương với tỷ lệ 50,86% Công ty đã sử dụng vốn lưu động để mua sắm nguyên vật liệu để phục vụ mục đích kinh doanh, đó là các công trình mà Công ty đã thắng thầu trong năm 2008 nhưng những công trình này trong năm 2009 đang nằm trong quá trình sản xuất và đến năm 20011 mới hoàn thành Ngược lại với sự tăng rất mạnh của vốn lưu động vốn cố định lại giảm 164.688.601 đồng tương đương giảm 18,6% việc giảm ở đây là
do đây là giá trị còn lại của tài sản cố định khi mà lượng khấu hao lũy kế tài sản là cao Bên cạnh đó, qua bảng ta thấy rõ rệt vốn lưu động chiếm tỷ trọng lớn hơn vốn
cố định Có sự chênh lệch này là do đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty là ngành xây dựng chuyên thiết kế, khảo sát, tư vấn đòi hỏi vốn cố định là lớn Tuy nhiên, tỷ trọng này vẫn chưa thực sự hợp lý, đặc biệt năm hai năm qua Công ty chưa chủ động trong đầu tư vào máy móc thiết bị hiện đại, công nghệ cao, điều đó có thể làm năng suất lao động chậm lại để khắc phục tình trạng này Công ty
Trang 34đã đi thuê hoạt động các máy móc, phương tiện chuyên chở để phục vụ cho quá trình kinh doanh, mặt hạn chế khi đi thuê đó là chi phí thuê cao, nhiều ràng buộc khác do đó Công ty cần phải xem xét để phù hợp với tình hình của Công ty.
Trong năm 2009, vốn lưu động chiếm 96,44% trong tổng nguồn vốn kinh doanh và có xu hướng gia tăng so với năm trước làm cho việc quản lý vốn càng gặp nhiều khó khăn do hàng tồn kho tăng lên, khó kiểm soát tình trạng hư hỏng mất mát của nguyên vật liệu, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn
Bảng 3: Phân tích cơ cấu nguồn vốn của Công ty
Đơn vị tính: (đồng)
Chỉ tiêu
Trang 35Số tiền % Số tiền % Số tiền %
(Nguồn: Bảng cân đối kế toán 2009)
Vốn tại Công ty trong những năm gần đây chủ yếu là được tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn, còn nguồn vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ, nợ dài hạn không có Có thể nói đây cũng là thực trạng chung của các doanh nghiệp trong thời gian qua đặc biệt là các doanh nghiệp trong ngành xây dựng Tuy nhiên điều này đã ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả kinh doanh của Công ty, bởi vì tỷ lệ nợ ngắn hạn cao sẽ ảnh hưởng tới sự thiếu độc lập về mặt tài chính, không những thế Công ty cũng phải chịu gắng nặng về nợ mà chủ yếu là nợ vay ngân hàng hơn nữa những khoản nợ ngắn hạn chỉ đáp ứng cho nhu cầu trước mẳt của Công ty và có ý nghĩa trong từng thời điểm nhất định Do đó theo quan điểm phát triển trong thời gian tới, Công ty cần cố gắng tạo ra một cơ cấu nguồn vốn hợp lý và tối ưu hơn nữa
Qua bảng 3, đi sâu phân tích cơ cấu nguồn vốn của Công ty thấy được :
Hệ số nợ = Nợ phải trả/Tổng nguồn vốn = 1 – Hệ số vốn chủ sở hữu = 74,45% năm 2009, năm 2008 kết quả này là 62,79% tức là hệ số nợ năm 2009 cao hơn hệ số
nợ năm 2008 là 11,66%, đồng nghĩa hệ số vốn chủ sở hữu của năm 2009 nhỏ hơn của năm 2008 (25,25%<37,21%) Đối với nguồn hình thành tài sản, khi xem xét tỷ trọng trong tổng số, nếu nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao trong tổng số thì doanh
Trang 36nghiệp tự đảm bảo được nguồn tài chính và mức độ độc lập của doanh nghiệp đối với chủ nợ Ngược lại, nếu công nợ phải trả chiếm chủ yếu trong nguồn vốn thì khả năng đảm bảo tài chính của doanh nghiệp là thấp Khi nghiên cứu qua những con số rất cụ thể ta thấy được năm 2009 khả năng đảm bảo tài chính của doanh nghiệp là thấp hơn năm 2008, đi sâu hơn vào vấn đề này, ta thấy điều đặc biệt ở đây là nợ phải trả lại chính bằng nợ ngắn hạn đơn giản là do nợ dài hạn của Công ty bằng 0, vay dài hạn cũng bằng 0, trong nợ ngắn hạn của Công ty có các chỉ tiêu như vay ngắn hạn, phải trả cho người bán, người mua trả tiền trước, thông qua nội dung này cũng thấy được rằng khoản vay ngắn hạn của Công ty tăng rất nhanh từ con số 980 triệu đồng năm 2008, sang năm 2009 đã lên tới gần 5,6 tỷ đồng Vốn đầu tư của chủ sở hữu không hề thay đổi, lợi nhuận chưa phân phối thì tăng chậm mặc dù tỷ lệ phấn trăm tăng là 65,36% nhưng do đó là kết quả so sánh giữa những con số nhỏ và sự chênh lệch số tiền là lớn
so với số đầu năm
Nhận biết được tầm quan trọng của của công tác quản lý vốn cố định Công ty
đã đưa ra mô hình chung để hướng cho các công nhân viên trong công ty thực hiện:
Để phát triển và nâng cao hiệu quả quản lý tài sản cố định, cũng như hiệu quả
sử dụng tài sản cố định, tránh mất mát hư hỏng trước thời hạn, Công ty cổ phần tư vấn
- đầu tư và xây dựng 306 phải tiến hành phân cấp quản lý tài sản cố định
Tình hình phân cấp quản lý tài sản cố định ở Công ty được tiến hành theo cách thức phân cấp quản lý cho các bộ phận phòng ban và quản lý chặt chẽ về cả mặt hiện vật và mặt giá trị Cụ thể như sau:
Ghi chép, phản ánh tổng hợp chính xác kịp thời số lượng, giá trị tài sản cố định hiện có, tình hình tăng giảm và hiện trạng tài sản cố định trong phạm vi toàn Công ty, cũng như từng bộ phận sử dụng Tạo điều kiện cung cấp thông tin để kiểm tra giám sát thường xuyên giữ gìn bảo quản, bảo dưỡng tài sản cố định và kế hoạch đầu tư đổi mới tài sản cố định trong từng đơn vị
Tính toán và phân bổ chính xác mức khấu hao tài sản cố định vào chi phí sản xuất kinh doanh theo mức độ hao mòn dần của tài sản cố định về chế độ quy định
Tham gia lập kế hoạch sửa chữa và dự toán chi phí tài sản cố định, giám sát tài sản cố định về chi phí và kết quả của công việc sửa chữa