1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính của Công ty TNHH Kiểm toán - Tư vấn Thuế (ATC)

68 404 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá rủi ro kiểm toán là công việc xuyên suốt trong quá trình thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, nó thể hiện tầm nhìn của kiểm toán viên và góp phần nâng cao chất lượng của cuộc

Trang 1

đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính

của công ty tnhh kiểm toán – t vấn thuế (ATC)

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Đức Anh

Trang 3

Cổ phầnCông ty kiểm toán độc lậpDoanh nghiệp

Khách hàngKiểm soát nội bộKiểm toán viênHội đồng cổ đôngTài sản cố địnhTrách nhiệm hữu hạnXây dựng cơ bản

Trang 4

DANH MỤC SƠ ĐỒ - BẢNG BIỂU

Sơ đồ 3.1: Quy trình đánh giá mức độ trọng yếu 52

Sơ đồ 3.1: Quy trình đánh giá mức độ trọng yếu 52DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Đề tài

Kiểm toán bắt nguồn từ thuật ngữ “audit” trong tiếng latinh, điều đặc biệt là

nó có nghĩa là “người nghe”

Nền kinh tế thế giới những năm 30 của thế kỉ XX đã xảy ra những khủng hoảng mà nó đã có những ảnh hưởng nặng nề tới nền kinh tế Lúc đó các chuyên gia kinh tế mới nhân ra rằng sự phá sản của các công ty lớn và khủng hoảng kinh tế là

do yếu kém trong kế toán và kiểm tra sổ sách Do vậy, đòi hỏi phải có tổ chức đứng

ra kiểm tra các công ty và ngành kiểm toán đã ra đời

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán độc lập đã hình thành và phát triển ở Việt Nam trong hơn mười lăm năm qua, trở thành nhu cầu tất yếu đối với hoạt động kinh doanh và góp phần nâng cao chất lượng quản lý doanh nghiệp

Kiểm toán độc lập đã tham gia tích cực vào việc kiểm tra, đánh giá, xác nhận

độ tin cậy của các thông tin kinh tế tài chính, góp phần đáng kể vào hoạt động sắp xếp, đổi mới, cổ phần hóa doanh nghiệp và thu hút các hoạt động đầu tư của nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế đất nước Kiểm toán độc lập đã khẳng định được vị trí và vai trò quan trọng trong nền kinh tế

Bước sang thế kỷ XI, Việt Nam đã thực sự đi vào thời kỳ hội nhập mạnh mẽ với nền kinh tế khu vực và thế giới Cột mốc quan trọng đáng nhớ đó là ngày 7 tháng 11 năm 2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới WTO.Tình hình đó đã đặt ra yêu cầu phải nâng cao chất lượng trong mọi ngành nghề để có thể tồn tại và phát triển trong môi trường đầy cạnh tranh như hiện nay Trong đó, hoạt động kiểm toán độc lập cũng không thể nằm ngoài quy luật trên Vấn đề chất lượng và kiểm soát chất lượng đã trở thành vấn đề sống còn đối với các doanh nghiệp kiểm toán

Việt Nam trong thời kì hội nhập, đổi mới kinh tế sao cho phù hợp với nền kinh tế thế giới, cảm thấy ngành kiểm toán là cần thiết trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế hiện nay Nên ngành kiểm toán ở Việt Nam đã ra đời vào năm 1991,và công ty kiểm toán đầu tiên là công ty kiểm toán Việt Nam(VACO) Cho đến nay sau 19 năm phát triển đã có hơn 100 công ty kiểm toán lớn nhỏ, tư nhân , vốn nước ngoài, liên doanh,…,được thành lập

Với mong muốn tìm hiểu về nghề nghiệp mà bản thân quan tâm, cũng như là hiểu biết thêm về quy trình đánh giá rủi ro dịch vụ kiểm toán Báo cáo tài chính, em

đã chọn đề tài: “Đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính của

Công ty TNHH Kiểm toán - Tư vấn Thuế (ATC)” làm chuyên đề thực tập tốt

nghiệp

Trang 6

Nội dung chính của đề tài là tìm hiểu các Chuẩn mực và Quy định về đánh giá rủi ro kiểm toán trong hoạt động kiểm toán được vận dụng linh hoạt trong thực

tế tại Công ty TNHH Kiểm toán - Tư vấn Thuế Thông qua việc xem xét những chính sách và thủ tục đang được áp dụng tại Công ty TNHH Kiểm toán - Tư vấn Thuế có nhiều ưu điểm so với chuẩn mực đã ban hành, tuy nhiên vẫn còn những vấn đề tồn tại trong quá trình áp dụng những chính sách và thủ tục nêu trên để từ đó đưa ra các kiến nghị để khắc phục

2 Mục đích nghiên cứu của Đề tài

Đề tài nghiên cứu thực trạng đánh giá rủi ro kiểm toán BCTC do Công ty TNHH Kiểm toán – Tư vấn Thuế thực hiện; Trong phạm vi chuyên đề này em sẽ nghiên cứu:

- Hệ thống hóa và làm rõ những lý luận cơ bản về rủi ro kiểm toán và các loại hình rủi ro kiểm toán

- Làm rõ thực trạng quy trình, phương pháp xác lập mức rủi ro kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính của Công ty TNHH Kiểm toán – Tư vấn Thuế;

- Đưa ra một số kiến nghị để hoàn thiện chu trình, phương pháp xác lập mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là đánh giá rủi ro kiểm toán BCTC do Công ty TNHH Kiểm toán – Tư vấn Thuế thực hiện;

Phạm vi nghiên cứu của Đề tài: thực trạng rủi ro kiểm toán BCTC tại Công

ty ATC từ khi thành lập tháng 08/2003 đến nay, với dẫn chứng cụ thể là mỗi năm Công ty ATC đã cung cấp dịch vụ kiểm toán cho hàng trăm khách hàng quen thuộc

và khách hàng mới

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở các phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp hệ thống chọn lọc, phân tích làm rõ đối tượng nghiên cứu, so sánh, rút

ra các kết luận, nhận xét đánh giá trên nền tảng của các tư liệu sau:

Trang 7

5 Đóng góp của Đề tài

Đề tài làm rõ những đặc điểm về tổ chức hoạt động kinh doanh, hoạt động quản lý tài chính để phân tích thực trạng về việc đánh giá rủi ro kiểm toán đối với từng khách hàng cụ thể Trên cơ sở kết hợp lý luận cơ bản với việc mô tả và phân tích thực tiễn đánh giá rủi ro kiểm toán BCTC với mỗi khách hàng; Đề tài đưa ra những kiến nghị, đề xuất giải pháp hoàn thiện việc đánh giá rủi ro kiểm toán và các loại hình rủi ro kiểm toán đối với từng nhóm khách hàng cụ thể

6 Kết cấu của Chuyên đề thực tập tốt nghiệp:

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, chuyên đề thực tập tốt nghiệp gồm 3 phần:

- Phần 1: Đặc điểm vận dụng việc đánh giá rủi ro kiểm toán & các loại rủi

ro kiểm toán trong kiểm toán BCTC do Công ty TNHH Kiểm toán – Tư vấn Thuế thực hiện;

- Phần 2: Thực trạng về vận dụng đánh giá rủi ro kiểm toán và các loại hình rủi ro kiểm toán do Công ty TNHH Kiểm toán – Tư vấn Thuế thực hiện;

- Phần 3: Nhận xét và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đánh giá rủi ro

kiểm toán BCTC của Công ty TNHH Kiểm toán – Tư vấn Thuế (ATC);

Trang 8

Phần I ĐẶC ĐIỂM VẬN DỤNG VIỆC ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN & CÁC LOẠI HÌNH RỦI RO KIỂ`M TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BCTC DO

CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN - TƯ VẤN THUẾ THỰC HIỆN

1.1 Đặc điểm về đánh giá rủi ro kiểm toán và các loại hình rủi ro kiểm toán của khách hàng trong kiểm toán BCTC của Công ty TNHH Kiểm toán – Tư vấn Thuế (ATC)

Theo Chuẩn mực kiểm toán VSA 400: Đánh giá rủi ro kiểm toán là việc kiểm

toán viên và công ty kiểm toán xác định mức độ rủi ro kiểm toán có thể xảy ra là cao hay thấp, bao gồm đánh giá rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện Rủi ro kiểm toán được xác định trước khi lập kế hoạch và trước khi thực hiện kiểm toán

Rủi ro kiểm toán luôn được xem xét trong khi lập kế hoạch kiểm toán, lấy mẫu kiểm toán và lựa chọn thử nghiệm

Việc đánh giá rủi ro kiểm toán tiến hành qua ước tính theo tỉ lệ từ 0-100%

• Lợi nhuận trước thuế: 5% - 10%

• Doanh thu: 0.5% - 3%

• Tổng tài sản và vốn: 2%

Việc lựa chọn tỷ lệ càng cao thì có nghĩa là khối lượng công việc được giảm đi; Tủy đánh giá chủ quan về mức độ rủi ro của hợp đồng; Nếu chọn cao quá thì có thể ảnh hưởng đến mức độ tin cậy của BCKT

Mức trọng yếu tổng thể = Giá trị chỉ tiêu được lựa chọn x Tỷ lệ sử dụng để ước tính

Chọn mức trọng yếu thực sự đối với cuộc kiểm toán mà chúng ta đang thực hiện; Là mức cuối cùng mà chúng ta soi ra để xem xét có điều chỉnh hay không

Mức trọng yếu chi tiết = Mức trọng yếu tổng thể x (50%-75%)

Ngưỡng chênh lệch mà kiểm toán viên và công ty kiểm toán đặt ra luôn ở mức từ 4% mức trọng yếu chi tiết cho từng khách hàng cụ thể:

2-Ngưỡng chênh lệch có thể bỏ qua = Mức trọng yếu chi tiết x 4% (tối đa)

(Có thể không cần phải điều chỉnh)

Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán với chi phí kiểm toán (bằng chứng kiểm

Trang 9

Đánh giá rủi ro kiểm toán là một bước vô cùng quan trọng để giúp các công

ty kiểm toán xây dựng kế hoạch và thực hiện kiểm toán một cách hợp lý và hiệu quả, bảo đảm chất lượng kiểm toán Đánh giá rủi ro kiểm toán là công việc xuyên suốt trong quá trình thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, nó thể hiện tầm nhìn của kiểm toán viên và góp phần nâng cao chất lượng của cuộc kiểm toán Tuy nhiên, thực tế hiện nay việc đánh giá rủi ro ở các công ty kiểm toán vẫn chưa hoàn thiện

do đây là một công việc khó và đòi hỏi rất nhiều ở trình độ phán xét của kiểm toán viên

Để đánh giá rủi ro kiểm toán thì Công ty TNHH Kiểm toán – Tư vấn Thuế

đã xem xét, đưa ra những đánh giá ban đầu về rủi ro hệ thống kiểm soát của khách hàng; Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát là việc đánh giá hiệu quả hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị trong việc ngăn ngừa hoặc phát hiện

và sửa chữa các sai sót trọng yếu Rủi ro kiểm soát thường không hoàn toàn được loại trừ do sự hạn chế tiềm tàng của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ

Dựa trên sự hiểu biết hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên và Công ty Kiểm toán – Tư vấn Thuế phải đưa ra những đánh giá ban đầu

về rủi ro kiểm soát đối với cơ sở dẫn liệu cho từng số dư tài khoản hoặc các loại nghiệp vụ kinh tế chủ yếu

Kiểm toán viên thường đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức độ cao đối với cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính trong trường hợp:

- Hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không đầy đủ;

- Hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không hiệu quả;

- Kiểm toán viên không được cung cấp đầy đủ cơ sở để đánh giá sự đầy đủ

và hiệu quả của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng

Kiểm toán viên thường đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức độ không cao đối với

cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính trong trường hợp:

- Kiểm toán viên có đủ cơ sở để kết luận hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế có thể ngăn ngừa, phát hiện và sửa chữa các sai sót trọng yếu;

- Kiểm toán viên có kế hoạch thực hiện thử nghiệm kiểm soát làm cơ sở cho việc đánh giá mức độ rủi ro kiểm soát.

1.2 Mục tiêu của việc đánh giá rủi ro kiểm toán và các loại hình rủi ro kiểm toán trong kiểm toán BCTC của Công ty TNHH Kiểm toán – Tư vấn Thuế

Theo Chuẩn mực Kiểm toán Viêt Nam số 200: Mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính là giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác

Trang 10

nhận rằng báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành ( hoặc được chấp nhận ), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực các khía cạnh trọng yếu hay không?

Văn bản Chuẩn mực kiểm toán 1 ( SAS 1 ( AU 110 )): Mục tiêu của cuộc kiểm tra bình thường các báo cáo tài chính của kiểm toán viên độc lập là sự trình bày một nhận xét về mức trung thực mà các báo cáo tài chình phản ánh tình hình tài chính, các kết quả hoạt động và sự lưu chuyển đồng tiền theo nguyên tăc kế toán đã thừa nhận

Như vậy việc thu thập bằng chứng nhằm đánh giá tính trung thực của báo cáo tài chính, chúng có được lập trên một cơ sở chuẩn mực và chế độ ban hành hay không và đưa ra một báo cáo tài chính thích hợp Chỉ khi việc thu thập bằng chứng đầy đủ thì kiểm toán viên mới có thể đưa ra y kiến về tính trung thưc và hợp lý của báo cáo tài chính Mục tiêu kiểm toán nhằm cung cấp một bố cục để giúp kiểm toán viên tập hợp đủ chứng cứ cần thiết và quyết định chứng cứ đúng đắn phải tập hợp

có căn cứ theo tình huống hợp đồng Các mục tiêu không thay đổi giữa cuộc kiểm toán nhưng chứng cứ thì thay đổi, phụ thuộc vào các tình huống

Mục tiêu kiểm toán chung của kiểm toán báo cáo tài chính là nhận xét trung thực của các báo cáo tài chính được kiểm toán Các mục tiêu kiểm toán chung được chia làm hai loại cụ thể là sự hợp lý chung và các mục tiêu khác Mục tiêu về tính hợp lý chung giúp kiểm toán viên đánh giá các số dư tài khoản co hợp lý hay không xét theo tất cả các thông tin mà kiểm toán viên có về công việc kinh doanh của khách hàng Nếu kiểm toán viên thấy mục tiêu về tính hợp lý chung chưa thoả mãn thì tất yếu phải xem xét đến các mục tiêu khác Từ đó kiểm toán viên sẽ lên kế hoạch thu thập những bằng chứng chi tiết hơn trên các khoản mục hay phần hành cụ thể với những mục tiêu xác định

Mục tiêu kiểm toán đặc thù được đặt ra tương ứng bao gồm các mục tiêu sau:

* Mục tiêu hiệu lực: là hướng xác minh vào tính có thật của số tiền trên khoản mục có thể xem mục tiêu này hướng vào tính đúng đắn về nội dung kinh tế của các khoản mục trong quan hệ với các nghiệp vụ các bộ phận hình thành khoản mục đó Như vậy mục tiêu hiệu lực là hướng xác minh bổ xung vào sự cam kết sự tồn tại hay sảy ra của nhà quản lý

* Mục tiêu trọn vẹn: hướng xác minh vào sự đày đủ về thành phần (nội dung) cấu thành số tiền ghi trên khoản mục.Mục tiêu này cũng là phần bổ xung cho xác nhận về tính chọn vẹn của nhà quản lý

* Mục tiêu quyền và nghĩa vụ: Đơn vị có quyền sở hữu, quyền định đoạn lâu dài với tài sàn và có nghĩa vụ phải thanh toán với các khoản công nợ được trình bày trên Báo cáo tài chính Do vây kiểm toán viên cần phải kiểm tra chủ quyền với các

Trang 11

* Mục tiêu định giá: Sự định giá đúng từng số dư tao thành tổng số dư tài khoản, kể cả tính chính sác về mặt tính toán, sự nhận thức về các mức giảm của giá trị rong có thể thực hiện được Kiểm toán viên phải xác xác định qua trình tính toán, tổng cộng luỹ kế các số liệu trên Báo cáo tài chính xem có chính xác hay không.

* Việc phân loại: là hướng xem xét lại việc xác định các bộ phận nghiệp vụ được đưa vào tài khoản cùng việc việc sắp xếp các tài khoản trong Báo cáo tài chính theo bản chất kinh tế của chúng được thể chế bằng các văn bản pháp lý cụ thể

có hiệu lực

* Mục tiêu trình bày: hướng xác minh vào cách ghi và thuyết trình các số dư (hoặc tổng tài khoản) vào các Báo cáo tài chính Thực hiện mục tiêu này đòi hỏi kiểm toán viên thử nghiệm chắc chắn tất cả tài khoản thuộc Bảng cân đối tài sản và Báo cáo kết quả kinh doanh cùng các thông tin có liên quan đã được trình bày đúng

và thuyết minh rõ trong các bảng và các giải trình kèm theo

Một bằng chứng chỉ thoả mãn một mục tiêu hay một vài mục tiêu kiểm toán chứ không thể thoả mãn toàn bộ các mục tiêu kiểm toán đề ra Chính vì vậy khi thu thập bằng chứng kiểm toán viên phải luôn hướng vào mục đích kiểm toán Chỉ khi hướng vào mục tiêu bằng chứng cần tìm thì kiểm toán viên mới có thể xác định bằng chứng thực hiên ở đâu, với đổi tượng nào? Tránh tìm tràn lan nhưng không thảo mãn được mục tiêu kiểm toán làm ảnh hưởng tới việc đưa ra kết luận của kiểm toán viên, kết lụân của kiểm toán viên sẽ không chính sác, không có cơ sở đưa ra kết luận Ngoài ra nó còn làm tăng chi phí kiểm toán khi bằng chứng thu thập một cách không hiệu quả

Bảng 1.1 Mối quan hệ giữa các kiểu mẫu bằng chứng với các mục tiêu kiểm toán

Mục tiêu của kiểm toán

Kiểu mẫu báo cáo Hiệu lực Chon vẹn

Quyền

và nghĩa vụ

Định giá

Việc phân loại

Trình bày

Chínhxác cơ học

• Đưa ra ý kiến về sự trung thực và hợp lý của Báo cáo tài chính dựa trên

sở các nguyên tắc cơ bản là: tuân thủ pháp luật của Nhà Nước Việt Nam; tuân thủ nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp; tuân thủ chuẩn mực kiểm toán

Trang 12

• Quá trình kiểm toán của Công ty TNHH Kiểm toán – Tư vấn Thuế sẽ luôn gắn liền với việc hỗ trợ thông tin và Tư vấn nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ, hoàn thiện công tác tổ chức kế toán, quản lý tài chính của Quý Doanh nghiệp.

• Công ty TNHH Kiểm toán – Tư vấn Thuế luôn luôn hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các tổ chức quốc

tế hoạt động tại Việt Nam nắm bắt kịp thời các quy định và pháp luật của Nhà Nước Việt Nam về Kế toán – Tài chính – Thống kê – Thuế trong quản lý kinh tế, góp phần tổ chức tốt hệ thống kế toán của doanh nghiệp, giúp cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao

1.3 Quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán BCTC do Công ty TNHH Kiểm toán – Tư vấn Thuế thực hiện

Quá trình đánh giá rủi ro cần thực hiện qua các giai đoạn:

Trước hết kiểm toán viên cần căn cứ vào hệ thống kiểm soát nội bộ của Công

ty khách hàng, yêu cầu của lãnh đạo cấp cao trong Công ty khách hàng để xác định đối tượng nào sẽ được đưa vào chương trình kiểm toán này Sau đó kiểm toán viên cần tìm hiểu từng đối tượng kiểm toán cụ thể, xem xét các nhân tố có khả năng làm tăng rủi ro của Công ty khách hàng Công việc này luôn được kiểm toán viên coi trọng trong bất cứ một cuộc kiểm toán nào Lý do là KTV không thể hiểu một cách sâu sắc mọi công việc trong từng hoạt động, từng bộ phận trong Công ty khách hàng Trong quá trình tìm hiểu KTV đặt các câu hỏi và tìm đáp án hợp lý nhất:

- Những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động của Công ty khách hàng

- Lãnh đạo các cấp của Công ty khách hàng có chính sách gì trong quản lý, điều hành hoạt động đơn vị cũng như sự quan tâm tới kết quả kiểm toán nội bộ (trước kia và hiện nay)?

- Trong giai đoạn hiện nay Công ty khách hàng có ưu tiên tối đa hóa lợi nhuận không?

- Cơ chế tính tiền lương, thưởng cho người quản lý, viên chức?

- Công ty khách hàng có tham gia các hoạt động của cộng đồng không?

Xác định đối tượng

được kiểm toán

(khách hàng)

Xác định các nhân tố ảnh hưởng tới rủi ro của từng đối tượng

Nhận diện rủi ro Đánh giá rủi ro

Trang 13

- Giữa các cán bộ ở các vị trí, bộ phận quan trọng có mối quan hệ họ hàng hay tình cảm không?

- Trong vòng 12 tháng trở lại, Công ty khách hàng có sản phẩm, dịch vụ mới không?

Trên cơ sở những rủi ro có thể xảy ra, KTV lựa chọn các nhân tố chủ yếu và sắp xếp theo thứ tự ưu tiên để làm cơ sở đánh giá Do có thể có nhiều loại rủi ro nên kiểm toán viên cần chọn những rủi ro quan trọng nhất đối với các bộ phận trong Công ty khách hàng (5 – 10 loại) để xem xét Công việc này được thực hiện dựa trên kinh nghiệm của kiểm toán viên với các đối tượng được kiểm toán, kết hợp với tham khảo các thông tin từ người quản lý và các nguồn khác Chẳng hạn, khi kiểm toán hoạt động huy động vốn của ngân hàng cần xem xét rủi ro về lãi suất, rủi ro môi trường trong nước và thế giới, rủi ro đạo đức của cán bộ huy động vốn Còn khi kiểm toán quá trình thi công các công trình XDCB tại Công ty khách hàng cần quan tâm hơn tới rủi ro không tuân thủ các qui định trong xây dựng, thiết kế, rủi ro do tập hợp chi phí không chính xác và đúng kỳ, rủi ro về tính hiệu quả sản xuất Trong mọi trường hợp KTV đều xây dựng mô hình đánh giá rủi ro cho từng đối tượng kiểm toán ( theo các công trình xây dựng ) theo mẫu:

Bảng 1.2 Bảng đánh giá rủi ro cho từng đối tượng

Bộ phận (hoạt động)

Rủi ro Điểm cho mức độ ảnh hưởng Điểm cho khả năng xảy ra

Kiểm toán viên chấm điểm về khả năng xảy ra và mức độ nghiêm trọng cho từng bộ phận hoạt động, từng nội dung theo nguyên tắc khả năng rủi ro càng lớn thì điểm càng cao (thang điểm 10/10) Trong đó rủi ro có mức độ nghiêm trọng, khả năng xảy ra gần như chắc chắn (76 - 100%) có điểm cao nhất từ 8 – 10 điểm, còn những rủi

ro hiếm khi xảy ra (dưới 5%) có điểm thấp nhất từ 0 đến 2 điểm Sau đó kiểm toán viên

có thể lập Bảng tổng hợp rủi ro của các đối tượng kiểm toán trong đó sắp xếp các bộ phận (hoạt động) theo thứ tự ưu tiên trên cơ sở tổng điểm rủi ro Nếu có những đối tượng cùng điểm thì căn cứ thêm vào các nhân tố khác để xếp hạng

2

Trang 14

Các phương pháp đánh giá rủi ro mà KTV có thể sử dụng là:

- Phương pháp hồi cố: đánh giá hoạt động đã qua thông qua các bằng chứng

có giá trị (chứng từ, thông tin thứ cấp)

- Phương pháp dự báo: đánh giá tác động tiềm tàng gây ra bởi các tác nhân đang tồn tại và sẽ phát triển trong tương lai

1.4 Các loại rủi ro kiểm toán có thể gặp phải và mối liên hệ giữa chúng khi kiểm toán BCTC do Công ty TNHH Kiểm toán – Tư vấn Thuế thực hiện

Việt Nam hiện nay đang trên đường phát triển hội nhập kinh tế thế giới Với những bước tiến vượt bậc trong nền tri thức, khoa học giáo dục ngày càng thể hiện

vị trí quan trọng trong việc phát triển đất nước Bên cạnh đó, các công ty kiểm toán đang và ngày càng lớn mạnh và khẳng định được tính chuyên nghiệp, góp phần làm hưng thịnh quốc gia Vì vậy, việc đánh giá rủi ro mà các công ty kiểm toán hiện nay thường gặp phải dựa trên cách đánh giá các loại rủi ro sau đây:

1.4.1 Rủi ro tiềm tàng

Rủi ro tiềm tàng là khả năng tồn tại các sai phạm trọng yếu trong bản thân

các đối tượng kiểm toán (chưa tính đến sự tác động của bất cứ hoạt động kiểm toán nào kể cả kiểm soát nội bộ)

Theo Chuẩn mực kiểm toán VSA 400: Rủi ro tiềm tàng: Là rủi ro tiềm ẩn,

vốn có do khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ

Đánh giá IR:

Để đánh giá rủi ro tiềm tàng, KTV thường dựa trên các yếu tố sau:

- Bản chất kinh doanh của khách thể,

- Năng lực nhân viên của khách thể,

- Phong cách làm việc, phong cách quản lý của ban giám đốc,

- Kết quả của các lần kiểm toán trước,…

- Trên phương diện báo cáo tài chính:

+ Sự liêm khiết, kinh nghiệm và hiểu biết của Ban Giám đốc cũng như sự thay đổi thành phần Ban quản lý xảy ra trong niên độ kế toán;

+ Trình độ và kinh nghiệm chuyên môn của kế toán trưởng, của các nhân

Trang 15

+ Những áp lực bất thường đối với Ban Giám đốc, đối với kế toán trưởng, nhất là những hoàn cảnh thúc đẩy Ban Giám đốc, kế toán trưởng phải trình bày báo cáo tài chính không trung thực;

+ Đặc điểm hoạt động của đơn vị, như: Quy trình công nghệ, cơ cấu vốn, các đơn vị phụ thuộc, phạm vi địa lý, hoạt động theo mùa vụ;

+ Các nhân tố ảnh hưởng đến lĩnh vực hoạt động của đơn vị, như: các biến động về kinh tế, về cạnh tranh, sự thay đổi về thị trường mua, thị trường bán và sự thay đổi của hệ thống kế toán đối với lĩnh vực hoạt động của đơn vị

- Trên phương diện số dư tài khoản và loại nghiệp vụ:

+ Báo cáo tài chính có thể chứa đựng những sai sót, như: Báo cáo tài chính

có những điều chỉnh liên quan đến niên độ trước; báo cáo tài chính có nhiều ước tính kế toán, hoặc trong năm tài chính có sự thay đổi chính sách kế toán;

+ Việc xác định số dư và số phát sinh của các tài khoản và nghiệp vụ kinh tế, như: Số dư các tài khoản dự phòng, nghiệp vụ kinh tế đối với chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu TSCĐ tính vào chi phí hay tính tăng nguyên giá TSCĐ, ;

+ Mức độ dễ bị mất mát, biển thủ tài sản, như: phát sinh nhiều nghiệp vụ thu, chi tiền mặt, tạm ứng tiền với số lượng lớn, thời gian thanh toán dài, ;

+ Mức độ phức tạp của các nghiệp vụ hay sự kiện quan trọng đòi hỏi phải có

ý kiến của chuyên gia, như: xảy ra kiện tụng hoặc trộm cắp, ;

+ Việc ghi chép các nghiệp vụ bất thường và phức tạp, đặc biệt là gần thời điểm kết thúc niên độ;

+ Các nghiệp vụ kinh tế, tài chính bất thường khác

1.4.2 Rủi ro kiểm soát

Rủi ro kiểm soát là khả năng hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị kiểm toán

không phát hiện, ngăn chặn và sửa chữa kịp thời các sai phạm trọng yếu

Theo Chuẩn mực kiểm toán VSA 400: Rủi ro kiểm soát: Là rủi ro xảy ra sai

sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời

Đánh giá rủi ro kiểm soát : Việc đánh giá rủi ro kiểm soát phụ thuộc vào kết

quả đánh giá về hệ thống kiếm soát nội bộ

Trang 16

• Kiểm toán viên thường đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức độ cao đối với cơ

sở dẫn liệu của báo cáo tài chính trong trường hợp:

- Hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không đầy đủ;

- Hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không hiệu quả;

- Kiểm toán viên không được cung cấp đầy đủ cơ sở để đánh giá sự đầy đủ

và hiệu quả của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng

• Kiểm toán viên thường đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức độ không cao đối với cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính trong trường hợp:

- Kiểm toán viên có đủ cơ sở để kết luận hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế có thể ngăn ngừa, phát hiện và sửa chữa các sai sót trọng yếu;

+ Kiểm toán viên có kế hoạch thực hiện thử nghiệm kiểm soát làm cơ sở cho việc đánh giá mức độ rủi ro kiểm soát

+ Lưu giữ tài liệu về đánh giá rủi ro kiểm soát

1.4.3 Rủi ro phát hiện

Rủi ro phát hiện là khả năng mà các thủ tục kiểm toán không phát hiện được

các sai phạm trọng yếu

Theo Chuẩn mực kiểm toán VSA 400: Rủi ro phát hiện: Là rủi ro xảy ra sai

sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán không phát hiện được

Nguyên nhân:

+ Do phạm vi kiểm toán không phù hợp,+ Do áp dụng sai hệ thống phương pháp kiểm toán, + Do trình độ chuyên môn và kinh nghiệm của kiểm toán viên

Mức độ rủi ro phát hiện có liên quan trực tiếp đến thử nghiệm cơ bản của

kiểm toán viên:

- Kiểm toán viên phải dựa vào đánh giá mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát để xác định nội dung, lịch trình và phạm vi thử nghiệm cơ bản để giảm

Trang 17

Để giảm rủi ro phát hiện và rủi ro kiểm toán, kiểm toán viên cần xem xét:

- Nội dung thử nghiệm cơ bản, ví dụ thủ tục thu thập tài liệu, hoặc xác nhận thông tin từ bên ngoài độc lập với đơn vị có giá trị cao hơn là thu thập tài liệu trong nội bộ đơn vị; hoặc kết hợp kết quả kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ và số dư với thủ tục phân tích;

- Lịch trình của thử nghiệm cơ bản, ví dụ thủ tục kiểm tra số dư hàng tồn kho cuối năm được thực hiện vào cuối niên độ kế toán có giá trị cao hơn là thực hiện kiểm tra vào một thời điểm khác và phải điều chỉnh;

- Phạm vi thử nghiệm cơ bản, ví dụ xác định cỡ mẫu kiểm tra rộng hơn là hẹp

Tuy nhiên, khó có thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro phát hiện ngay cả khi kiểm toán viên kiểm tra chi tiết toàn bộ các nghiệp vụ và số dư tài khoản;

1.4.4 Mối liên hệ giữa các loại rủi ro kiểm toán

Mô hình rủi ro kiểm toán:

AR =IR x CR x DR

Với mô hình này, kiểm toán viên có thể sử dụng nó để điều chỉnh rủi ro phát hiện dựa trên các loại rủi ro khác đã được đánh giá nhằm đạt được rủi ro kiểm toán

ở mức thấp như mong muốn

Sự biến động của rủi ro phát hiện dựa theo đánh giá của kiểm toán viên về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được thể hiện trong bảng sau đây:

Bảng 1.4 Bảng đánh giá của kiểm toán viên về rủi ro kiểm soát

Đánh giá của kiểm toán viên về

rủi ro kiểm soát

Trang 18

Vùng tô đậm thể hiện mức độ rủi ro phát hiện;

Loại rủi ro phát hiện được chia thành 5 mức: Cao nhất, cao, trung bình,

thấp và thấp nhất

Mức độ rủi ro phát hiện tỷ lệ nghịch với mức độ rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát; Ví dụ: Trường hợp mức độ rủi ro tiềm tàng được kiểm toán viên đánh

giá là cao và mức độ rủi ro kiểm soát được kiểm toán viên đánh giá là thấp thì mức

độ rủi ro phát hiện có thể đánh giá là trung bình nhằm giảm rủi ro kiểm toán xuống thấp đến mức có thể chấp nhận được Ngược lại, nếu mức độ rủi ro tiềm tàng là thấp và rủi ro kiểm soát được đánh giá là trung bình thì có thể xác định mức độ rủi

ro phát hiện là cao nhưng vẫn đảm bảo rủi ro kiểm toán là thấp có thể chấp nhận

được;

Trang 19

Phần II THỰC TRẠNG VỀ VẬN DỤNG ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN

VÀ CÁC LOẠI HÌNH RỦI RO KIỂM TOÁN DO CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN – TƯ VẤN THUẾ (ATC) THỰC HIỆN TẠI KHÁCH HÀNG

2.1 Thực trạng đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán BCTC tại Công ty ABC do Công ty TNHH Kiểm toán – Tư vấn Thuế (ATC) thực hiện

2.1.1 Đánh giá rủi ro khi lập kế hoạch

Trước khi tiến hành kí hợp đồng kiểm toán Công ty Kiểm toán – Tư vấn Thuế (ATC) sẽ tìm hiểu, thu thập những thông tin cần thiết về Công ty ABC và môi trường hoạt động để xác định và hiểu các sự kiện, giao dịch và thông lệ kinh doanh của Công ty ABC có ảnh hưởng trọng yếu tới BCTC, qua đó giúp xác định rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn

Về môi trường kinh doanh chung: Các thông tin về môi trường kinh doanh

chung của Công ty ABC trong năm hiện hành, nhưng không giới hạn các thông tin sau: Thực trạng chung của nền kinh tế (suy thoái, tăng trưởng, tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát ); Biến động về lãi suất cơ bản, tỷ giá ngoại tệ, và lạm phát; Biến động thị trường mà Công ty ABC đang kinh doanh và Các nội dung khác …

Các vấn đề về ngành nghề mà Công ty ABC kinh doanh và xu hướng của ngành nghề: Các thông tin chung về ngành nghề mà Công ty ABC đang kinh

doanh và xu hướng của ngành nghề đào tạo, nhưng không giới hạn các thông tin sau: Thị trường và cạnh tranh, bao gồm nhu cầu, năng lực cung ứng, cạnh tranh về giá; Đặc điểm kinh doanh ngành liên tục; kinh doanh các dịch vụ chính; Sự thu hẹp hay mở rộng quy mô kinh doanh của ngành; Nguồn cung cấp đầu vào cho ngành và giá cả (hang hóa, dịch vụ, lao động)…

Công ty sẽ tiến hành kí kết hợp đồng kiểm toán với khách hàng Hợp đồng kiểm toán là sự thỏa thuận chính thức giữa công ty kiểm toán và khách hàng về việc thực hiện cuộc kiểm toán và các dịch vụ có liên quan Ở nhiều nước, thư hẹn kiểm toán thường do KTV soạn thảo và gửi cho khách hàng, nếu khách hàng chấp thuận các điều khoản trong hợp đồng thì họ sẽ kí vào thỏa thuận thư hợp đồng và gửi trả lại một bản sao đăng kí cho công ty kiểm toán Còn ở Việt Nam nói chung và Công

ty TNHH Kiểm toán – Tư vấn Thuế và khách hàng thường gặp gỡ trực tiếp, thỏa thuận các hợp đồng và kí một hợp đồng kiểm toán

Mặc dù các chuẩn mực kiểm toán không yêu cầu cần phải có thư hẹn kiểm toán nhưng công ty kiểm toán trên thế giới đều coi đó là một phần công việc của mình Còn ở Việt Nam, theo CMKT số 210 thì hợp đồng kiểm toán phải được lập

và kí chính thức trước khi tiến hành công việc kiểm toán nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng và của công ty kiểm toán Trong một số trường hợp đặc biệt, “ nếu khách hàng và công ty kiểm toán sử dụng văn bản cam kết thay cho hợp đồng thì văn bản cam kết phải đảm bảo các điều khoản cơ bản của hợp đồng kiểm toán”

Trang 20

Điều này hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam Bộ Tài chính giữ vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động kiểm toán độc lập và ban hành các CMKT nên các CMKT ở nước ta mang tính quy phạm bắt buộc Trong khi đó các CMKT quôc tế do Hiệp hội nghề nghiệp ban hành nên chỉ mang tính hướng dẫn chứ không mang tính bắt buộc.

Thêm vào đó, ở nước ta, trong CMKT số 210 cũng quy định việc kí hợp đồng kiểm toán phải tuân thủ các quy định của pháp luật ban hành về hoạt động kinh tế mà cụ thể là Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (ban hành ngày 25/09/1989) và Nghị định số 17/HĐBT (nay là Chính phủ) ban hành ngày 16/01/1990 quy định chi tiết về việc thi hành pháp lệnh hợp đồng kinh tế Điều này rất phù hợp với thực tế Việt Nam khi hoạt động kiểm toán chưa được hiểu biết rộng rãi và môi trường pháp

lý cho hoạt động kiểm toán chưa được ổn định Và để tạo điều kiện cho hoạt động kiểm toán của các hang quốc tế tại Việt Nam và sự liên kết giữa các hãng này với các công ty kiểm toán Việt Nam trong quá trình kiểm toán các công ty, các dự án có vốn đầu tư nước ngoài,… CMKT Việt Nam đã cho phép sử dụng cam kết khác thay

vì sử dụng hợp đồng kiểm toán do các hãng kiểm toán này và các khách hàng của

họ đã quen với hình thức thư hẹn kiểm toán

Tương tự thư hẹn kiểm toán, hợp đồng kiểm toán bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

- Mục đích và phạm vi kiểm toán: Mục tiêu của cuộc kiểm toán là cái đích cần đạt tới đồng thời là thước đo kết quả của mỗi cuộc kiểm toán cụ thể Trong cuộc kiểm toán BCTC do kiểm toán độc lập tiến hành, mục tiêu của cuộc kiểm toán thường là xác định tính trung thực và hợp lý của các thông tin trên BCTC Phạm vi kiểm toán là sự giới hạn về không gian, thời gian của đối tượng kiểm toán, thường được xác định cùng với việc xác định mục tiêu của cuộc kiểm toán Trong cuộc kiểm toán BCTC, phạm vi kiểm toán thường là toàn bộ báo cáo tài chính của năm kết thúc

- Trách nhiệm của Ban giám đốc công ty khách hàng và KTV, ban giám đốc

có trách nhiệm trong việc lập và trình bày trung thực các thông tin trên BCTC, KTV

có trách nhiệm đưa ra ý kiến độc lập về BCTC dựa trên kết quả của cuộc kiểm toán

Và trách nhiệm của công ty khách hàng trong việc cung cấp các tài liệu và thông tin liên quan tới công việc kiểm toán

- Hình thức thông báo kết quả kiểm toán: kết quả kiểm toán thường được biểu hiện cụ thể dưới một báo cáo kiểm toán và có kèm theo một thư quản lý trong

đó nêu rõ những khiếm khuyết của hệ thống kiểm soát nội bộ hoặc những gợi ý sửa chữa những khiếm khuyết này

- Thời gian tiến hành cuộc kiểm toán, thời gian thực hiện kiểm toán sơ bộ, kiểm toán chính thức, thời điểm kết thúc kiểm toán và phát hành báo cáo kiểm toán

Trang 21

- Căn cứ tính giá phí cuộc kiểm toán và hình thức thanh toán phí kiểm toán thường được BCTC xác định căn cứ vào thời gian làm việc của các cấp bậc KTV khác nhau trong cuộc kiểm toán Giá phí thực hiện kiểm toán Công ty ABC là 22.000.000 VND ( Đã bao gồm thuế VAT ).

- Xác định rằng KTV không chịu trách nhiệm những sai sót do bản chất và hạn chế vốn có của hệ thống kế toán, kiểm soát hệ thống nội bộ và kiểm toán

Thư hợp đồng (hoặc hợp đồng kiểm toán) là cơ sở pháp lý để KTV thực hiện các bước tiếp theo của cuộc kiểm toán và có thể ảnh hưởng đến trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên đối với khách hàng, nó đảm bảo cho một cuộc kiểm toán thực thi

Sau khi hợp đồng kiểm toán được kí kết, công ty kiểm toán trở thành chủ thể kiểm toán chính thức của công ty khách hàng

Dựa trên bản Hợp đồng đã được ký kết, phù hợp với hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam hiện hành và Chuẩn mực kiểm toán Quốc tế được thừa nhận, Công ty TNHH Kiểm toán – Tư vấn Thuế sẽ tiến hành lập kế hoạch kiểm toán tổng thể định hướng cho cuộc kiểm toán (có được từ các thông tin chung về Công ty), lập kế hoạch kiểm toán chi tiết ( Có được thông tin từ bản hợp đồng, Chương trình kiểm toán chuẩn của Công ty ), bố trí hệ thống nhân sự các cấp phù hợp với hợp đồng đã ký kết với Công ty ( Ban giám đốc điều hành Hợp đồng – Ban cố vấn thường trực – Công ty liên kết (nếu cần thiết) – Cộng tác viên (nếu cần thiết) – Nhóm kiểm toán ) Trong quá trình này, Công ty TNHH Kiểm toán – Tư vấn Thuế

sẽ gửi đến đơn vị các Văn bản đề nghị chuẩn bị số liệu, tài liệu, Văn bản thông báo

về kế hoạch, lịch trình, nhân sự chính thức của cuộc kiểm toán, các dự kiến về thời gian phát hành báo cáo, tổ chức cuộc họp

Công ty TNHH Kiểm toán – Tư vấn Thuế sẽ nghiên cứu Hệ thống kế toán và

Hệ thống kiểm soát nội bộ đơn vị đang áp dụng trên 2 mặt tính hiện hữu và tính hiệu quả;

• Đánh giá tính hiện hữu và hữu hiệu của Hệ thống kiểm soát nội bộ:

- Nghiệp vụ kinh tế, tài chính được thực hiện sau khi đã có sự chấp thuận của những người có thẩm quyền;

- Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được ghi chép kịp thời, đầy đủ và chính xác vào các tài khoản trong kỳ kế toán phù hợp, làm cơ sở lập báo cáo tài chính phù hợp với chế độ kế toán theo qui định hiện hành;

- Chỉ được tiếp cận trực tiếp với tài sản hay tài liệu kế toán khi có sự đồng ý của Ban Giám đốc;

- Các tài sản ghi trong sổ kế toán được đối chiếu với tài sản theo kết quả kiểm kê thực tế ở những thời điểm nhất định và có biện pháp thích hợp để xử lý nếu

có chênh lệch

• Đánh giá sự phù hợp của Hệ thống kế toán về các mặt:

Trang 22

- Hệ thống chứng từ kế toán;

- Hệ thống tài khoản kế toán đang sử dụng;

- Hệ thống sổ sách kế toán và phương pháp ghi chép;

- Hệ thống các Báo cáo tài chính và Báo cáo quản trị;

- Tổ chức công tác kế toán

Các thủ tục kiểm soát để đánh giá rủi ro Hệ thống kế toán chủ yếu bao gồm:

- Lập, kiểm tra, so sánh và phê duyệt các số liệu, tài liệu liên quan đến đơn vị;

- Kiểm tra tính chính xác của các số liệu tính toán;

- Kiểm tra chương trình ứng dụng và môi trường tin học;

- Kiểm tra số liệu giữa sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết;

- Kiểm tra và phê duyệt các chứng từ kế toán, tài liệu kế toán;

- Đối chiếu số liệu nội bộ với bên ngoài;

- So sánh, đối chiếu kết quả kiểm kê thực tế với số liệu trên sổ kế toán;

- Giới hạn việc tiếp cận trực tiếp với các tài sản và tài liệu kế toán;

- Phân tích, so sánh giữa số liệu thực tế với dự toán, kế hoạch

Ngoài ra, khi xem xét các thủ tục kiểm soát, phải xem các thủ tục này

có được xây dựng trên cơ sở nguyên tắc cơ bản, như: chế độ thủ trưởng, nguyên tắc phân công, phân nhiệm, nguyên tắc tách biệt về trách nhiệm, nguyên tắc phân cấp, uỷ quyền

Rủi ro trong việc đánh giá Hệ thống kiểm soát nội bộ: KTV có thể bị hạn chế

về tài liệu tiếp cận dẫn đến các trường hợp nhìn nhận sai lệch về hệ thống kiểm soát nội bộ của Công ty ABC, làm tăng thời gian và chi phí trong việc thực hiện thử nghiệm cơ bản trong việc đánh gia hệ thống KSNB Bên cạnh đó, nó còn làm tăng rủi ro kiểm toán mà kiểm toán viên và công ty kiểm toán có thể đối mặt trong tương lai;

Trang 23

2.1.2 Đánh giá rủi ro trong giai đoạn thực hiện kiểm toán

2.1.2.1 Đánh giá rủi ro trên phương diện toàn bộ BCTC :

Đây là quá trình quan trọng, quyết định đến phần lớn chất lượng của cuộc kiểm toán, đây là quá trình các kiểm toán viên Công ty Kiểm toán - Tư vấn Thuế tiến hành thu thập số liệu, thực hiện các thủ tục kiểm toán từ tổng hợp đến chi tiết

số liệu liên quan đến Báo cáo được kiểm toán Trong quá trình này ngoài các thủ tục kiểm toán thông thường, các kiểm toán viên cũng có thể dùng các thủ tục như Xác nhận, Phỏng vấn, Kiểm kê, Quan sát để củng cố bằng chứng kiểm toán nhằm đưa ra

ý kiến về Báo cáo tài chính

+ Trong quá trình này, sự xuất hiện của Ban giám đốc, các cố vấn kỹ thuật (nếu cần thiết) sẽ giúp cho các kiểm toán viên bổ sung và hoàn thiện các thủ tục kiểm toán nhằm thu thập bằng chứng kiểm toán

+ Cuộc kiểm toán tại đơn vị sẽ được định hướng tập trung vào những khu vực then chốt thông qua việc phân tích rủi ro và sử dụng các kỹ thuật kiểm toán

+ Quan tâm đến các vấn đề tài chính, về thuế theo quy định từng thời kỳ từng niên độ kế toán và coi đó là một trọng tâm trong các cuộc kiểm toán báo cáo tài chính thường niên Phần lớn mục tiêu này được các công ty kiểm toán nội địa xem là một vấn đề khá nhạy cảm trong các kiểm toán Báo cáo tài chính thường niên Đây cũng là

lý do giải thích vì sao các Báo cáo tài chính đã được kiểm toán vẫn còn có những sự việc khác biệt quá lớn (khác biệt là điều không thể tránh khỏi) kết quả so với các công ty tài chính, cơ quan thuế Điều này có thể giải thích là một sự tất yếu do Chính sách tài chính, chính sách Thuế và chế độ kế toán của Việt Nam chưa có sự hòa hợp trong việc xem xét, ghi chép các khoản thu nhập hay chi phí Tuy nhiên ATC luôn quan tâm đến vấn đề này và xem xét vấn đề này nhưng một khoản mục trọng tâm trong tất cả các cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính với mục tiêu đưa ra các ý kiến đánh giá, tư vấn hữu hiệu nhất cho khách hàng về Báo cáo tài chính hàng năm

Trước hết, Công ty sẽ tiến hành đánh giá khái quát tình hình tài chính của Công ty ABC; từ đó đưa ra những nhận định ban đầu về rủi ro có thể gặp phải khi thực hiện chương trình kiểm toán và có được cái nhìn tổng quát nhất, tránh gặp phải những rủi ro đáng tiếc trong quá trình thực hiện kiểm toán và đưa ra các phán đoán ban đầu về trọng yếu và rủi ro đối với Công ty ABC (Bảng 2.1)

Việc đánh giá ban đầu này rất quan trọng, nó định hướng cho các công việc cần thực hiện trong giai đoạn sau, giúp cho kiểm toán viên lựa chon được mục tiêu kiểm toán và đưa ra các thủ tục kiểm toán phù hợp nhất Trong quá trình kiểm toán KTV sẽ tập trung vào những khoản mục trọng yếu đã được lựa chọn ngay từ ban đầu để tiến hành kiểm tra chi tiết 100% hay chọn mẫu kiểm toán

Trang 24

Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu tổng quát đánh giá tình hình tài chính

7 Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn 25.20 12.56 12.64 100.6%

8 Hệ số khả năng thanh toán nhanh 24.83 12.56 12.27 97.6%

9 Hệ số khả năng chi trả 19.04 3.42 15.62 0.0%

IV Tỷ suất sinh lời

10 Hệ số khả năng sinh lời của tài sản (ROA) 0.94 0.94 0.0%11

Hệ số khả năng sinh lời của vốn

KTV sẽ tiến hành đánh giá sơ bộ ban đầu về các chỉ tiêu tài chính quan trọng thông qua khung tỉ lệ được thiết kế cho các doanh nghiệp (công ty) hoạt động trong cùng một lĩnh vực và có quy mô tương tự nhau; qua việc đánh giá tổng quát và đánh giá sơ bộ thì KTV dựa vào kinh nghiệm của bản than để tiến hành lựa chọn mức độ rủi ro trọng yếu cho toàn bộ BCTC của Công ty ABC (Bảng 2.2)

Trang 25

Bảng 2.2 Đánh giá sơ bộ về rủi ro kiểm toán thông qua khung tỉ lệ đối với một số

chi tiêu tài chính

Chỉ tiêu Khung tỷ lệ Số liệu doanh nghiệp năm

nay

Ước lượng ban đầu về

trọng yếu

Tối thiểu Tối đa Tối thiểu Tối đaLợi nhuận trước

thuế 4,00% 8,00% 894,592,461 35,783,698 71,567,397 Doanh thu thuần 0,40% 0,80%

6.041.426

.035 24.165.704 48.331.408 Tài sản ngắn hạn 1,00% 2,00% 1.213.627,537 12.136.275 24.272.551

Nợ ngắn hạn 1,00% 2,00%

48.160

.857 481.609 963.217 Tổng tài sản 0,50% 1,00% 1.402.845.488 7.014.227 14.028.455

* Mức độ rủi ro được kiểm toán viên lựa chọn năm 2010 (tối thiểu 1% và tối đa 2%)

Nợ ngắn hạn (tức là tối thiểu 461.609 VNĐ và tối đa 963.217VNĐ)

* Tại thời điểm kết thúc năm tài chính Công ty ABC không thực hiện xác nhận công nợ đối với các khoản nợ ngắn hạn theo đối tượng khách hàng Các khoản Doanh thu thuần và Lợi nhuận trước thuế được kiểm tra 100% bằng các thủ tục kiểm toán Bên cạnh đó, khoản mục tài sản được ngoại trừ khỏi BCTC năm 2010 do Công ty kiểm toán và KTV được bổ nhiệm sau niên độ, không tham gia chứng kiến kiểm kê TSCĐ Vì vậy, việc lựa chọn khoản mục Nợ ngắn hạn để đánh giá mức độ rủi ro và trọng yếu là hoàn toàn hợp lý

Bên cạnh đó, KTV phải dựa vào việc xét đoán chuyên môn của mình để đánh giá rủi ro kiểm toán dựa trên các yếu tố chủ yếu sau:

- Sự liêm khiết, kinh nghiệm và hiểu biết của Ban Giám đốc cũng như sự thay đổi thành phần Ban quản lý xảy ra trong niên độ kế toán;

- Trình độ và kinh nghiệm chuyên môn của kế toán trưởng, của các nhân viên kế toán chủ yếu, của kiểm toán viên nội bộ và sự thay đổi (nếu có) của họ

- Những áp lực bất thường đối với Ban Giám đốc, đối với kế toán trưởng, nhất là những hoàn cảnh thúc đẩy Ban Giám đốc, kế toán trưởng phải trình bày báo cáo tài chính không trung thực

- Đặc điểm hoạt động của đơn vị, như: Quy trình công nghệ, cơ cấu vốn, các đơn vị phụ thuộc, phạm vi địa lý, hoạt động theo mùa vụ;

Trang 26

- Các nhân tố ảnh hưởng đến lĩnh vực hoạt động của đơn vị, như: các biến động về kinh tế, về cạnh tranh, sự thay đổi về thị trường mua, thị trường bán và sự thay đổi của hệ thống kế toán đối với lĩnh vực hoạt động của đơn vị.

2.1.2.2 Đánh giá rủi ro theo từng khoản mục

Sau khi tiến hành đánh giá sơ bộ, tổng quát và phân bổ ước lương ban đầu về rủi ro có thể gặp phải của các chỉ tiêu tài chính; KTV sẽ tiến hành phân bổ rủi ro kiểm toán của các chỉ tiêu theo từng khoản mục cụ thể theo bảng cân đối số phát sinh dựa trên kinh nghiệm; khả năng phán xét của kiểm toán viên và chương trình kiểm toán mẫu Mức độ rủi ro từng khoản mục, phần hành cần điều chỉnh hay không hoặc đưa ra ý kiến kiểm toán còn tuỳ thuộc vào nhận định và đánh giá của KTV; Một số khoản mục có chênh lệch không đáng kể nằm trong khoảng có thể chấp nhận được thì kiểm toán viên sẽ chỉ đưa ra ý kiến trong biên bản kiểm toán và yêu cầu kế toán của Công ty ABC điều chỉnh lại chính xác hơn (Bảng 2.3)

Bảng 2.3 Phân bổ ước lượng ban đầu về mức rủi ro cho các bộ phận

Phân bổ ước lượng ban đầu về mức rủi ro

cho các bộ phận

Sai số có thể chấp nhận được (MP)

Khung điều chỉnh

HS Số dư cuối kì thiểuTối Tối đa thiểuTối Tối đa

Tiền và tương đương tiền 1 1.195.911.533 193.726 387.452 3.875 116.236 Đầu tư tài chính ngắn hạn 1 - - - - - Các khoản phải thu (Ngắn + Dài) 1 19.454 3 6 - 2

Tài sản ngắn hạn khác 3 17.696.550 8.600 17.200 172 5.160 Tài sản cố định 1 57.228.251 9.270 18.541 185 5.562 Bất động sản đầu tư 1 - - - - - Đầu tư tài chính dài hạn 1 - - - - - Tài sản dài hạn khác 2 131.989.700 42.762 85.524 855 25.657

Nợ ngắn hạn 1 48.160.857 7.802 15.603 156 4.681

Nợ dài hạn 3 - - - - - Vốn chủ sở hữu 1 1.354.684.631 219.446 438.891 4.389 31.668 Nguồn kinh phí & quỹ khác 3 - - - - -

Total 2.973.073.77 6 481.60 9 963.21 7 9.63 2 288.965

Riêng đối với DN phá sản, thanh lý thì áp dụng mức rủi ro trọng yếu là 0,25% - 0,5% tổng giá trị tài sản

Trang 27

Việc kiểm tra chi tiết đối với khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền rất được chú trọng, Công ty ABC không thực hiện kiểm kê tiền mặt tại quỹ tại thời điểm cuối năm nên KTV sẽ không đưa ra ý kiến về tính hiện hữu của khoản mục tiền mặt tại quỹ (Bảng 2.4).

Đối với Tiền gửi ngân hàng:

- Hoạch toán giấy báo Nợ, Có ngân hàng chưa kịp thời

- Chưa đối chiếu số dư cuối kì với ngân hàng của ngân hàng Vietbank tại thời điểm 31/12/2010

- Hoạch toán lãi ngân hàng chưa đầy đủ trong năm tài chính 2010 do không tính lãi tiền gửi tại ngân hàng Viettinbank cả năm 2010

Đối với các khoản Tiền đang chuyển:

- Chưa có sổ theo dõi khoản tiền đang chuyển và chưa đối chiếu giữa các khoản tiền đang chuyển với các giao dịch phát sinh trong kì;

Trang 28

Bảng 2.4 Trích giấy tờ làm việc phần hành Tiền mặt tại Trung tâm

TÊN KHÁCH HÀNG: Công ty ABC

Niên độ kế toán: 01/01 - 30/12/2010 Tham chiếu : D130

Bước công việc:

Đối chiếu số liệu tổng hợp

Ngày thực hiện:

04/04/201 1

Nguồn số liệu:

Nợ đầu kỳ

Có đầu

kỳ Phát sinh tăng Phát sinh giảm Nợ cuối kỳ Có cuối kỳ

5.115.621.303

- Bằng các thủ tục kiểm toán thay thê khác, KTV không thể thu thập được các bằng chứng đầy đủ và thích hợp để đưa ra ý kiến về tính hiện hữu của khoản mục TSCĐ cũng như ảnh hưởng của nó tới các khoản mục khác trên Báo cáo tài chính kết thúc ngày 31/12/2010

Trang 29

Việc đánh giá và phân bổ rủi ro và trọng yếu cho từng khoản mục của Công

ty ABC được kiểm toán viên đánh giá thông qua bảng phân bổ rủi ro cho các khoản mục trên bảng cân đối số phát sinh (Bảng 2.5); Kiểm toán viên dựa trên kinh nghiệm kết hợp với mô hình chung và lĩnh vực ngành để tiến hành đánh giá rủi ro các khoản mục

Trang 30

Bảng 2.5 Phân bổ rủi ro cho từng khoản mục trên bảng cân đối số phát sinh

TK Tên tài khoản Số dư cuối kì Sai số có thể chấp nhận được (MP)

Khung điều chỉnh

Tối thiểu Tối đa Tối thiểu Tối đa

112 Tiền gửi ngân hang 403.005.645 65.283 130.566 1.306 39.170

Đầu tư tài chính ngắn hạn

- -

- - - Các khoản phải thu (Ngắn + Dài) - - - - - Hàng tồn kho - - - - - Tài sản ngắn hạn khác

Trang 31

- -

- - - Tài sản dài hạn khác 131.98 9.700 42.7 62 85.5 24 85 5 25.657

242 Chi phí trả trước dài hạn

Trang 32

2.1.2.3 Trên phương diện số dư tài khoản và loại nghiệp vụ:

- Báo cáo tài chính có thể chứa đựng những sai sót, như: Báo cáo tài chính

có những điều chỉnh liên quan đến niên độ trước; báo cáo tài chính có nhiều ước tính kế toán, hoặc trong năm tài chính có sự thay đổi chính sách kế toán;

- Việc xác định số dư và số phát sinh của các tài khoản và nghiệp vụ kinh

tế, như: Số dư các tài khoản dự phòng, nghiệp vụ kinh tế đối với chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu TSCĐ tính vào chi phí hay tính tăng nguyên giá TSCĐ ;

- Mức độ dễ bị mất mát, biển thủ tài sản, như: phát sinh nhiều nghiệp vụ thu, chi tiền mặt, tạm ứng tiền với số lượng lớn, thời gian thanh toán dài, ;

- Mức độ phức tạp của các nghiệp vụ hay sự kiện quan trọng đòi hỏi phải có

ý kiến của chuyên gia, như: xảy ra kiện tụng hoặc trộm cắp, ;

- Việc ghi chép các nghiệp vụ bất thường và phức tạp, đặc biệt là gần thời điểm kết thúc niên độ;

- Các nghiệp vụ kinh tế, tài chính bất thường khác

- Đối với nghiệp vụ thường xuyên: là những nghiệp vụ thường diễn ra hàng

ngày như thu-chi tiền mặt, xuất, nhập vật tư, mua bán hàng hóa… Các loại nghiệp

vụ này có đặc điểm chung là số lượng nhiều, tần suất lớn, tất yếu phải có và diễn ra lập lại hằng ngày; Do vậy, trong quản lý chúng thường là đối tượng quan tâm của cả

hệ thống kiểm soát nói chung và hệ thống kế toán nói riêng theo một quy trình xác định và thường được xử lý bằng máy Vì vậy cách thức tiếp cận các loại nghiệp vụ này thường là các trắc nghiệm đạt yêu cầu; Tuy nhiên đối tượng của nghiệp vụ này

là tiền mặt và các khoản thanh toán, là hàng tồn kho và tài sản khác có thể bán…

Do đó, nếu không có hệ thống kiểm soát nội bộ tốt, các loại nghiệp vụ này dễ xảy ra sai sót và gian lận Tuy nhiên để đáp ứng nhu các mục tiêu trọn vẹn, hiệu lực và chính xác máy móc- đặc biệt đối với các khoản trọng yếu, cách thức tiếp cận hiệu quả phải là trắc nghiệm độ tin cậy trong trắc nghiệm nghiệp vụ

- Đối với các nghiệp vụ không thường xuyên: là nghiệp vụ ngoài hoạt động

thường xuyên của khách thể kiểm toán như những nghiệp vụ được tính toán và ghi

sổ định kì (trích khấu hao hằng năm) hoặc bất thường (điều chỉnh sai sót, chênh lệch do kiểm kê hoặc do thay đổi chính sách kế toán…) Những nghiệp vụ này thường có số lượng ít, nhiều khi không thể dự tính trước được hoặc do có tính chủ quan do quy ước trong tính toán;

Rủi ro tiềm tàng của những nghiệp vụ này so với nghiệp vụ thường xuyên cao hơn; Nguyên nhân của tình hình này có thể do:

Trang 33

- Sai sót, gian lận phát sinh từ sự tính toán phức tạp hoặc các quy định kế toán phức tạp.

- Cần tới đánh giá chủ quan nhiều hơn để xác định giá trị khoản mục

- Cần tới đánh giá chủ quan nhiều hơn để xác định gía trị khoản mục

- Quá trình thu thập và xử lý thông tin được thực hiện trên cơ sở thủ công nhiều hơn bằng máy;

- Khả năng can thiệp sâu hơn của các nhà quản lý

2.1.3 Đánh giá rủi ro khi kết thúc kiểm toán

Kết thúc kiểm toán là bước công việc tương đối quan trong trong suốt quá trình kiểm toán Bước kết thúc kiểm toán thực hiện theo trình tự cụ thể theo quy định của Công ty; bao gồm:

• Xem xét tính hoạt động liên tục của Công ty ABC;

• Xem xét các khoản công nợ ngoài dự kiến

• Xem xét các sự kiện tiếp sau ngày khóa sổ lập BCTC;

• Đánh giá kết quả kiểm toán;

• Lập và công bố báo cáo kiểm toán – Biên bản kiểm toán;

Trước hết, Chúng ta xem xét tính hoạt động liên tục của Công ty ABC :

- Hoạt động liên tục (HĐLT) : Một đơn vị được coi là hoạt động liên tục

trong một tương lai gần có thể dự đoán được (ít nhất là một năm kể từ ngày kết thúc niên độ kế toán) khi không có ý định hoặc yêu cầu phải giải thể, ngừng hoạt động hoặc thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động, tìm kiếm sự bảo hộ từ các chủ nợ theo pháp luật và các quy định hiện hành

- Hoạt động liên tục được quy định cụ thể theo chuẩn mực số 570 Ban hành theo Quyết định số 195/2003/QĐ-BTC ngày 28 tháng 11 năm 2003 của Bộ trưởng

Bộ Tài chính

- Báo cáo tài chính của Công ty ABC được lập trên cơ sở hoạt động kinh doanh liên tục

Thư hai, Xem xét các khoản công nợ ngoài dự kiến : Đây là công việc điều

tra nhằm xem xét xem sau ngày khoá sổ kế toán có còn khoản nợ nào phát sinh

Trang 34

hoặc bỏ sót mà ảnh hưởng trọng yếu đến tình hình tài chính của đơn vị hay không, nếu có thì đơn vị đã xử lý thế nào, đã đưa vào bản thuyết mình báo cáo tài chính chưa? Công việc điều tra này chủ yếu chú trọng vào việc phỏng vấn đơn vị khách hàng là chính Trong một số trường hợp đặc biệt, có thể gửi thư xác nhận lần thứ hai đến một số đơn vị khách hàng của công ty.

Thứ ba, Xem xét các sự kiện tiếp sau ngày khóa sổ lập BCTC : Không có sự

kiện trọng yếu nào xảy ra sau ngày kết thúc niên độ kế toán đòi hỏi được điều chỉnh hay công bố trên Báo cáo tài chính;

Tiếp theo, Đánh giá kết quả kiểm toán: dựa trên mức độ thoả mãn về tính

khách quan và độ tin cậy vào ý kiến kiểm toán của những đối tượng sử dụng dịch

vụ kiểm toán; Mức độ thoả mãn về những đóng góp của kiểm toán viên nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính của đơn vị được kiểm toán theo đúng chế độ chính sách của nhà nước cũng như các qui định riêng của đơn vị Báo cáo kiểm toán được phát hành theo đúng thời gian đã đề ra trong hợp đồng kiểm toán và chi phí cho dịch vụ kiểm toán ở mức độ phù hợp

Cuối cùng, Lập và công bố báo cáo kiểm toán – Biên bản kiểm toán : Công

ty sẽ dựa trên biên bản kiểm toán và Chuẩn mực 700 Báo cáo kiểm toán về báo cáo

tài chính (Ban hành theo Quyết định số 120/1999/QĐ-BTC ngày 27 tháng 9 năm

1999 của Bộ trởng Bộ Tài chính) để tiến hành lập và phát hành Báo cáo kiểm toán

2.2 Thực trạng đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán BCTC tại Công

ty XYZ

2.2.1 Đánh giá rủi ro khi lập kế hoạch

Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán : KTV sẽ phải tiến hành xem xét rủi ro và đánh giá sơ bộ về khách hàng, tìm hiểu những thông tin chung và các lĩnh vực kinh doanh của Công ty XYZ

Thu thập thông tin cơ sở:

Tên chính thức: Công ty XYZ là 1 trong 16 hoạch toán độc lập và là đơn vị

thành viên của Tổng Công ty Xây dựng công trình giao thông 4 Công ty XYZ được

cổ phần hóa theo Quyết định 2575/QĐ-BGTVT ngày 25 tháng 08 năm 2008; người đại diện là Bùi Vĩnh Huệ

Lĩnh vực hoạt động chủ yếu :

- Tư vấn khảo sát địa chất, thuỷ văn, trắc địa công trình;

- Tư vấn thiết kế các công trình: dân dụng, công nghiệp, thuỷ lợi, cầu,

Ngày đăng: 24/03/2015, 13:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 Mối quan hệ giữa các kiểu mẫu bằng chứng với các mục tiêu kiểm toán - Đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính của Công ty TNHH Kiểm toán - Tư vấn Thuế (ATC)
Bảng 1.1 Mối quan hệ giữa các kiểu mẫu bằng chứng với các mục tiêu kiểm toán (Trang 11)
Bảng 1.3 Bảng tổng hợp rủi ro - Đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính của Công ty TNHH Kiểm toán - Tư vấn Thuế (ATC)
Bảng 1.3 Bảng tổng hợp rủi ro (Trang 13)
Bảng 1.2  Bảng đánh giá rủi ro cho từng đối tượng - Đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính của Công ty TNHH Kiểm toán - Tư vấn Thuế (ATC)
Bảng 1.2 Bảng đánh giá rủi ro cho từng đối tượng (Trang 13)
Bảng 1.4 Bảng đánh giá của kiểm toán viên về rủi ro kiểm soát - Đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính của Công ty TNHH Kiểm toán - Tư vấn Thuế (ATC)
Bảng 1.4 Bảng đánh giá của kiểm toán viên về rủi ro kiểm soát (Trang 17)
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu tổng quát đánh giá tình hình tài chính - Đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính của Công ty TNHH Kiểm toán - Tư vấn Thuế (ATC)
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu tổng quát đánh giá tình hình tài chính (Trang 24)
Bảng 2.2 Đánh giá sơ bộ về rủi ro kiểm toán thông qua khung tỉ lệ đối với một số - Đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính của Công ty TNHH Kiểm toán - Tư vấn Thuế (ATC)
Bảng 2.2 Đánh giá sơ bộ về rủi ro kiểm toán thông qua khung tỉ lệ đối với một số (Trang 25)
Bảng 2.5 Phân bổ rủi ro cho từng khoản mục trên bảng cân đối số phát sinh - Đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính của Công ty TNHH Kiểm toán - Tư vấn Thuế (ATC)
Bảng 2.5 Phân bổ rủi ro cho từng khoản mục trên bảng cân đối số phát sinh (Trang 30)
Bảng 2.6 Đánh giá rủi ro và khả năng chấp nhận khách hàng - Đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính của Công ty TNHH Kiểm toán - Tư vấn Thuế (ATC)
Bảng 2.6 Đánh giá rủi ro và khả năng chấp nhận khách hàng (Trang 35)
Bảng 2.7 Một số chỉ tiêu tổng quát đánh giá tình hình tài chính - Đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính của Công ty TNHH Kiểm toán - Tư vấn Thuế (ATC)
Bảng 2.7 Một số chỉ tiêu tổng quát đánh giá tình hình tài chính (Trang 40)
Bảng 2.8 Đánh giá rủi ro đối với các chỉ tiêu quan trọng trên BCTC - Đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính của Công ty TNHH Kiểm toán - Tư vấn Thuế (ATC)
Bảng 2.8 Đánh giá rủi ro đối với các chỉ tiêu quan trọng trên BCTC (Trang 41)
Sơ đồ 3.1: Quy trình đánh giá mức độ trọng yếu - Đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính của Công ty TNHH Kiểm toán - Tư vấn Thuế (ATC)
Sơ đồ 3.1 Quy trình đánh giá mức độ trọng yếu (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w