1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các đối tác chiến lược vào Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 và giải pháp đến 2020

73 453 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 862,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luồng vốn FDI giảm mạnh tạo ra sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn trong thu hút FDI đòi hỏi Việt Nam phải có những thay đổi căn bản rõ nét trong chiến lược và cách thức thu hút FDI.Tr

Trang 1

trờng đại học kinh tế quốc dân

KHOA ĐầU TƯ



BẢN THẢO CHUYấN ĐỀ TỐT NGHIỆP

“THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TỪ CÁC ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC VÀO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2001- 2010 VÀ GIẢI PHÁP ĐẾN 2020.

GVHD : PGS.TS Phạm Văn Hựng Sinh viờn : Sỏi Thựy Linh

MSV : CQ491558 Lớp : Kinh tế đầu tư 49B

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang 4

Bên cạnh đó, khủng hoảng kinh tế thế giới xảy ra vẫn còn những “dư địa” và hậu quả của nó Luồng vốn FDI giảm mạnh tạo ra sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn trong thu hút FDI đòi hỏi Việt Nam phải có những thay đổi căn bản rõ nét trong chiến lược và cách thức thu hút FDI.

Trong khi đó, theo nhiều báo cáo của các tổ chức quốc tế như UNCTAD, WB, IMF…nhiều nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt là các công ty xuyên quốc gia( TNCs) đang muốn chuyển vốn của họ rời khỏi Trung Quốc sau khi đã thành công tại đất nước này mà mục tiêu là các nước trong ASEAN, các nước Trung và Nam Á Đây

là cơ hội mới cũng như thách thức mới đối với Việt Nam nhằm thu hút được những nguồn vốn đầu tư có chất lượng tốt và phù hợp với trình độ phát triển của đất nước Chính vì những lý do đó, Việt Nam cần phải có những đối tác lớn hay đối tác chiến lược để có thể góp phần thúc đẩy tăng trưởng nhanh hơn và bền vững hơn, phù hợp với mục tiêu chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ tới Việc xác định đối tác chiến lược của Việt Nam và làm thế nào để Việt Nam trở thành đối tác chiến lược với những nhà đầu tư đã được xác định đó là những vấn đề cấp thiết đối với

công tác thu hút đầu tư Chuyên đề: “ Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các đối tác chiến lược vào Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 và giải pháp đến 2020”

được viết nhằm xác định đối tác chiến lược trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, đánh giá thực trạng thu hút đầu tư từ những đối tác này và đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường thu

hút đầu tư từ các đối tác này.

Trang 5

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU HÚT FDI

TỪ CÁC ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC

1 Quan niệm về đối tác chiến lược và sự cần thiết phải lựa chọn đối tác chiến lược trong thu hút FDI

Quan hệ đối tác là quan hệ mang tính chất hai chiều, thể hiện sự hợp tác giữa các bên trong một hay nhiều lĩnh vực và phù hợp với yêu cầu và lợi ích của các bênQuan hệ đối tác chiến lược là mối quan hệ đối tác mang tính chiến lược, nghĩa

là tính chất lâu dài, bền vững, có định hướng, dựa trên những điều kiện hợp tác đã được xác định

Trong thực tế, quan hệ đối tác chiến lược được thành lập có thể giữa các khu vực, các nhóm quốc gia, quốc gia, hay các doanh nghiệp Các quan hệ này có thể thực hiện trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, quốc phòng an ninh, hợp tác thương mại và đầu tư

Đối tác chiến lược trong đầu tư là đối tác đầu tư có thể đáp ứng được các yêu cầu của các bên còn lại, hợp tác đem lại lợi ích lâu dài và bền vững cho các bên tham gia

2 Tiêu chí lựa chọn chiến lược đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay:

Thực tế thu hút và sử dụng FDI cho thấy tuy vốn cam kết đầu tư hàng năm lớn song tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện còn thấp cũng như nhiều dự án được thực hiện còn thiếu hiệu quả, lãng phí nguồn lực, công nghệ thấp…Do vậy, việc lựa chọn đối tác chiến lược cần tập trung vào những đối tác có những điều kiện và nguồn lực phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế đất nước cũng như phù hợp với điều kiện hiện

có và sự phát triển trong tương lai Trong giai đoạn hiện nay các tiêu chí lựa chọn đối tác chiến lược tập trung vào những điểm chính sau:

2.1 Các đối tác có sử dụng công nghệ nguồn.

Công nghệ nguồn là các công nghệ cao và phù hợp gắn với quy trình công

nghệ, chuyển giao công nghệ và tạo ra hiệu ứng tràn đối với nền kinh tế, các công nghệ xanh, sạch không gây ô nhiễm môi trường

Theo Luật công nghệ cao được thông qua tháng 11/ 2008, công nghệ cao là

công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất

Trang 6

quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có

Các công nghệ cao có thể tạo ra hiệu ứng tràn rất lớn khi nó có khả năng thúc đẩy các công nghệ hiện có nhờ tích hợp khoa học và kỹ thuật tiên tiến, tạo ra các tác động lan tỏa đến khả năng phát triển công nghệ trong nước cũng như tạo ra tác động lan tỏa tới không chỉ tăng trưởng kinh tế mà còn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tác động tới môi trường và nhiều yếu tố khác

Công nghệ sạch là công nghệ mà quá trình sản xuất tuân theo điều kiện giảm ảnh hưởng ô nhiễm đến môi trường, sử dụng các nguồn nguyên liệu và năng lượng phù hợp với chi phí hợp lý và kinh tế ( các công nghệ thân thiện với môi trường)

Công nghệ là một biến số quan trọng trong hàm sản xuất, là nhân tố thúc đẩy sự gia tăng năng suất lao động, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Các nhà kinh tế học hiện đại cũng đã chứng minh tầm quan trọng của công nghệ đối với phát triển kinh tế của một quốc gia, khu vực cũng như toàn thế giới Tiến bộ công nghệ là nhân tố tạo ra tăng trưởng kinh tế trong dài hạn của các quốc gia và là động lực của tăng trưởng kinh tế Với vị trí và vai trò quan trọng của công nghệ trong các yếu tố sản xuất, yêu cầu phát triển công nghệ ngày nay đã trở thành vấn đề mà mọi quốc gia, khu vực đều quan tâm nhằm ứng dụng chúng trong việc nâng cao tiềm lực kinh

tế và quân sự của mình Trong khi đó, các công nghệ cao, công nghệ nguồn là các công nghệ có khả năng tạo ra hiệu ứng tràn lớn, kích thích sự phát triển nhanh chóng của các công nghệ hiện có và quy trình sản xuất trở thành mục tiêu nghiên cứu phát triển hay mục tiêu thu hút từ các tổ chưc, tập đoàn kinh tế lớn mạnh sở hữu chúng Điều đó giải thích tại sao tiêu chí đầu tiên trong việc xác định đối tác chiến lược trong thu hút đầu tư vào Việt Nam là các đối tác này phải có những công nghệ nguồn

Theo phân loại của các nước OECD các lĩnh vực công nghệ này bao gồm:

Trang 7

- Công nghệ thông tin và truyền thông

- Công nghệ sinh học (CNSH)

- Công nghệ vật liệu tiên tiến

- Công nghệ tự động hoá và cơ điện tử

- Năng lượng nguyên tử và các dạng năng lượng mới

Các ngành kinh tế chiến lược là những ngành kinh tế trọng điểm nằm trong

kế hoạch ưu tiên phát triển của một quốc gia Trong từng giai đoạn phát triển, mỗi quốc gia đều xác định những ngành kinh tế mũi nhọn đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế trong giai đoạn đó Các mục tiêu đó có thể là thúc đẩy thương mại quốc tế, thúc đẩy phát triển và nâng cao trình độ công nghệ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế…nhằm hướng tới mục tiêu chung là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, tạo cơ sở tăng trưởng và phát triển kinh tế trong dài hạn

Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam 2001- 2010 định hướng phát triển ngành nhằm vào:

- Phát triển nhanh các ngành công nghiệp có khả năng phát huy lợi thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu, như chế biến nông, lâm, thủy sản, may mặc, da - giày, điện tử - tin học, một số sản phẩm cơ khí và hàng tiêu dùng

- Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng: dầu khí, luyện kim,

cơ khí chế tạo, hóa chất cơ bản, phân bón, vật liệu xây dựng với bước đi hợp lý, phù hợp điều kiện vốn, công nghệ, thị trường, phát huy được hiệu quả

- Phát triển mạnh các ngành sản xuất sản phẩm có hàm lượng khoa học và vốn cao: công nghiệp công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tin, viễn thông, điện

tử, tự động hóa Chú trọng phát triển công nghiệp sản xuất phần mềm tin học thành ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng vượt trội

- Phát triển nông nghiệp gắn với sử dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp, công nghiệp phụ trợ cho nông nghiệp

Trang 8

- Phát triển ngành dịch vụ du lịch; dịch vụ tài chính, ngân hàng…

Để phục vụ cho các mục tiêu mà chiến lược phát triển đề ra cần phải tập trung đẩy mạnh việc xây dựng tiềm lực cho các ngành trọng điểm Trong điều kiện nguồn vốn trong nước còn hạn hẹp, các doanh nghiệp trong nước còn thiếu những công nghệ và kỹ năng đối với một số ngành nghề, thu hút các đối tác chiến lược thực hiện FDI tại Việt Nam sẽ bổ sung nguồn vốn lớn, các kỹ năng quản lý, công nghệ tiên tiến phục vụ cho phát triển các ngành chiến lược phục vụ cho các mục tiêu đã đề raChiến lược phát triển kinh tế trong từng thời kỳ là khác nhau ở các mục tiêu

cụ thể phụ thuộc vào bối cảnh kinh tế xã hội toàn cầu cũng như thực trạng và nhu cầu phát triển của nền kinh tế trong từng thời kỳ Do đó, các ngành kinh tế chiến lược là khác nhau trong từng thời kỳ và việc xác định đối tác chiến lược đầu tư vào những ngành mang tính chiến lược đối với kinh tế Việt Nam trong từng thời kỳ cũng có sự thay đổi

2.3 Tạo cơ hội cho Việt Nam tham gia thị trường toàn cầu/ khu vực, chuỗi giá trị toàn cầu/ khu vực, mạng sản xuất toàn cầu…

Chuỗi giá trị là tập hợp các hoạt động để đưa sản phẩm từ một khái niệm cho đến khi đưa vào sử dụng và cả dịch vụ sau bán hàng Như vậy, chuỗi giá trị bao gồm các hoạt động như thiết kế mẫu mã, sản xuất, marketing, phân phối và dịch vụ sau khi bán cho người tiêu dùng cuối cùng Những hoạt động này có thể được thực hiện trong phạm vi một doanh nghiệp hoặc được chia sẻ giữa các doanh nghiệp khác nhau

Chuỗi giá trị có thể được thực hiện trong phạm vi một khu vực địa lý hoặc trải

rộng trong phạm vi nhiều quốc gia và trở thành chuỗi giá trị toàn cầu (Global value

chain) Theo cách nhìn này, các doanh nghiệp từ nhiều quốc gia trên thế giới sẽ đóng vai trò như những mắt xích quan trọng và có thể chi phối sự phát triển của chuỗi giá trị Việc phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo quan điểm chuỗi giá trị chính là một phương pháp hữu hiệu để đánh giá tốt nhất năng lực cạnh tranh, cũng như vai trò và phạm vi ảnh hưởng của quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu

Xu thế toàn cầu hoá có tác động đến tất cả các nước, đặc biệt là những nước

Trang 9

đang phát triển, và điều đó dẫn đến sự liên kết, phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng chặt chẽ, do đó các nước dù giàu hay nghèo, dù lớn hay nhỏ, cũng phải tìm cách nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, nếu như không muốn bị đánh bại trong cuộc chiến toàn cầu của nền kinh tế Quá trình quốc tế hoá sản xuất và phân công lao động diễn ra ngày càng sâu rộng Việc tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu đã trở thành yêu cầu đối với các nền kinh tế Bản thân Việt Nam cũng đã xác định được yêu cầu phát triển trong điều kiện hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, việc tham gia vào thị trường toàn cầu hay khu vực tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và mạng lưới sản xuất toàn cầu không chỉ đem lại giá trị gia tăng trong mỗi công đoạn của quá trình sản xuất, phân phối mà còn tạo điều kiện cho nền sản xuất Việt Nam có điều kiện phát triển khi thâm nhập được vào thị trường thế giới dần nâng cao năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh.

Thực tế hiện nay, chúng ta đang tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu trong một số ngành tuy nhiên lại tham gia vào những khâu đem lại giá trị gia tăng thấp Ngành gia công may mặc là một ví dụ điển hình Trong ngành dệt may toàn cầu, khâu thiết kế kiểu dáng được làm ở các trung tâm thời trang thế giới tại Paris, London, New York… vải được sản xuất tại Trung Quốc, phụ liệu khác được làm tại

Ấn Đô Khâu sản xuất sản phẩm cuối cùng được thực hiện ở các nước có chi phí nhân công thấp như Việt Nam, Trung Quốc, Campuchia… Sau cùng, sản phẩm được đưa trở lại thị trường do các công ty thương mại danh tiếng đảm nhận bán ra Trong chuỗi giá trị toàn cầu hàng dệt may đó, khâu có lợi nhuận cao nhất là thiết kế mẫu, cung cấp nguyên phụ liệu và thương mại Việt Nam chỉ tham gia vào khâu sản xuất sản phẩm cuối cùng với lượng giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi giá trị

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để nâng cao vị thế của Việt Nam trong các chuỗi giá trị toàn cầu, tham gia vào những khâu đem lại giá trị gia tăng cao trong thời gian tới? Các đối tác nào là đối tác sẽ tạo điều kiện để Việt Nam có thể giải quyết vấn đề này

2.4 Vốn lớn và có khả năng cung cấp lâu dài

Các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm bổ sung sự thiếu hụt của khả năng tích lũy vốn cho phát triển kinh tế

Trang 10

quan trọng, có tính dài hạn và hạn chế được các rủi ro phát sinh, tạo điều kiện cho Việt Nam lập kế hoạch định hướng thu hút và sử dụng vốn cho những ngành kinh tế trọng điểm, các dự án cần quy mô vốn đầu tư lớn Các nhà đầu tư có vốn lớn cũng

là các nhà đầu tư có uy tín và năng lực quản lý điều hành tốt, có khả năng tài chính mạnh khi tham gia vào các dự án sẽ có thể đảm bảo được việc chủ động nguồn vốn đầu tư và nâng cao hiệu quả thực hiện dự án

Trong điều kiện hiện nay, khi thực tế thu hút và sử dụng cho thấy một bộ phận không nhỏ các nhà đầu tư cùng với các dự án thực hiện đầu tư trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh thiếu hiệu quả, mặc dù đăng ký dự án đầu tư với tổng vốn đầu tư lớn nhưng không chủ động được nguồn vốn mà phụ thuộc nhiều vào khả năng huy động từ bên ngoài, thậm chí vay các ngân hàng thương mại trong nước Điều đó đặt ra yêu cầu đối với thu hút FDI cũng như thẩm tra và phê duyệt các dự

án đầu tư, đòi hỏi phải có sự chọn lọc các đối tác Do vậy, đối tác mang tính chiến lược trong thu hút FDI tại Việt Nam phải đảm bảo là nguồn cung cấp vốn lớn và có khả năng cung cấp lâu dài

2.5 Có khả năng giải quyết việc làm và nâng cao trình độ người lao động.

Thông qua hoạt động đầu tư các doanh nghiệp FDI góp phần giải quyết việc làm cho người lao động Các doanh nghiệp FDI trực tiếp tạo việc làm thông qua việc tuyển dụng lao động ở nước sở tại Song song đó, doanh nghiệp FDI còn gián tiếp tạo việc làm thông qua việc tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành và phát triển của các doanh nghiệp vệ tinh cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khu vực kinh tế này

Mức độ tác động của FDI trong việc giải quyết việc làm phụ thuộc trực tiếp vào các nhân tố như: quy mô đầu tư, lĩnh vực sản xuất, trình độ công nghệ, chính sách công nghiệp và chính sách thương mại của nước tiếp nhận đầu tư Bên cạnh

đó, tác động của FDI đến thị trường lao động cũng phụ thuộc vào cơ cấu nền kinh

tế, định hướng phát triển cũng như chất lượng lao động và chính sách lao động của nước tiếp nhận đầu tư

Ngoài tác động tạo việc làm cho người lao động FDI còn đóng góp tích cực vào việc nâng cao chất lượng lao động và phát triển nhân lực ở nước tiếp nhận đầu

tư FDI làm thay đổi cơ bản năng lực, kỹ năng lao động và quản trị doanh nghiệp

Trang 11

thông qua hoạt động đào tạo và quá trình làm việc của lao động Làm việc trong các doanh nghiệp FDI đòi hỏi người lao động phải có kiến thức và khả năng đáp ứng yêu cầu cao về cường độ và hiệu quả công việc Cụ thể:

- Người lao động phải có sức khỏe tốt để có thể làm việc với cường độ cao

- Có trình độ văn hoá cao để đáp ứng những đòi hỏi của trang thiết bị và kỹ thuật công nghệ hiện đại

- Có kỷ cương, tác phong công nghiệp nhằm đảm bảo hiệu quả lao động của

cá nhân và tập thể

Ngoài ra, các doanh nghiệp FDI luôn đòi hỏi người lao động nỗ lực không ngừng để hoàn thiện mình thông qua những yêu cầu ngày càng cao đối với công việc, cơ hội phát triển, cơ hội thăng tiến… Do vậy, trong các doanh nghiệp FDI trình độ học vấn và trình độ nghiệp vụ của người lao động tương đối cao so với mặt bằng chung

Những yêu cầu trên đòi hỏi phải không ngừng phát triển bản thân cả về thể lực và trí lực Bên cạnh đó, để người lao động đáp ứng được các yêu cầu của công việc các doanh nghiệp FDI thường tiến hành tuyển chọn, đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ khá chặt chẽ, nhất là các ngành nghề đòi hỏi chất lượng lao động cao Do

đó, FDI vừa gián tiếp khuyến khích người lao động tăng đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực vừa trực tiếp đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực

Thêm vào đó, do chi phí thuê lao động nước ngoài cao hơn lao động địa phương, các doanh nghiệp trong khu vực FDI phải tuyển dụng lao động địa phương

Để người lao động có thể sử dụng máy móc thiết bị và công nghệ hiện đại các doanh nghiệp FDI phải có kế hoạch đào tạo Thế nên, trong chiến lược phát triển của các tập đoàn lớn hay các công ty đa quốc gia luôn có kế hoạch đào tạo lao động địa phương nhằm từng bước thay thế lao động người nước ngoài

Như vậy, các đối tác chiến lược mà Việt Nam lựa chọn phải là các đối tác khi đầu tư vào Việt Nam có khả năng tạo ra nhiều việc làm cho người lao động và nâng cao chất lượng lao động Khả năng này phụ thuộc vào quy mô đầu tư của nhà đầu tư, lĩnh vực đầu tư, trình độ công nghệ và năng lực quản lý của nhà đầu tư

3 Xác định đối tác chiến lược trong thu hút FDI với VN.

Khi xem xét lựa chọn các đối tác chiến lược trong thu hút FDI, chúng ta thấy rằng các công ty xuyên quốc gia là những công ty có những lợi thế đặc biệt về công nghệ tiên tiến, trình độ quản lý hiện đại, năng lực cạnh tranh cao, mạng lưới

Trang 12

hoạt động rộng, lượng tài sản sở hữu lớn, doanh thu lớn thương hiệu mạnh…Hiện nay, các công ty xuyên quốc gia sở hữu tới 80% công nghệ thế giới, 60% đầu tư quốc tế và 40% thương mại toàn cầu Những đặc điểm này tạo ra những lợi thế và sức mạnh lớn cho bản thân TNCs trong các hoạt động của chúng

Xem xét các nhân tố nào thúc đẩy TNCs đầu tư vào Việt Nam để so sánh sự tương hợp giữa một bên là nhu cầu thu hút đầu tư và lựa chọn đối tác chiến lược trong đầu tư của Việt Nam, một bên là các TNCs và khả năng xúc tiến hình thành mối quan hệ đối tác chiến lược

3.1 Các nhân tố thúc đẩy TNCs đầu tư vào Việt Nam

3.1.1 Nhân tố đẩy

Nhân tố đẩy là các nhân tố thuộc bản thân các nhà đầu tư, chúng liên quan đến tác các động cơ chủ quan thúc đẩy các nhà đầu tư thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Các động cơ chính thúc đẩy các nhà đầu tư đầu tư ra nước ngoài đó là:

3.1.1.1 Xâm nhập thị trường quốc gia, khu vực.

Khi các tập đoàn lớn phát triển đến mức độ nhất định, thị trường trong nước trở nên hạn hẹp và tạo ra cuộc chiến cạnh tranh gay gắt đặt ra yêu cầu mở rộng thị trường ra khỏi khuôn khổ quốc gia Tuy nhiên thực hiện sản xuất trong nước và tiến hành xuất khẩu không còn là phương thức hiệu quả trong việc mở rộng thị trường

và đem lại lợi nhuận đầu tư cao Điều đó thúc đẩy các công ty và tập đoàn này thực hiện đầu tư ở nước ngoài bằng hình thức trực tiếp xây dựng cơ sở sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngay tại nước tiếp nhận đầu tư

Bên cạnh đó, các nhà đầu tư còn sử dụng FDI như là một biện pháp hữu hiệu

để vượt qua các rảo cản pháp lý nhằm xâm nhập một thị trường quốc gia hay khu vực Chính phủ các nước thường sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại để hạn chế nhập khẩu, bảo hộ sản xuất trong nước Do vậy, để xâm nhập được các thị trường này các công ty phải tiến hành đầu tư trực tiếp để sản xuất hàng hóa tại quốc gia đó hoặc đầu tư thông qua một nước thứ ba có chính sách thương mại thông thoáng hơn Mặt khác, FDI của các công ty cung ứng phục vụ khách hàng của họ ở nước ngoài nhằm thích ứng với thị hiếu của thị trường, đáp ứng nhu cầu của địa phương và sử dụng các nguồn nguyên liệu địa phương Các TNCs loại này thường

là các TNCs sản xuất các mặt hàng tiêu dùng hoặc công nghiệp muốn đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai, thực hiện chiến lược đầu tư lâu dài

Trang 13

Hiện nay với việc ngày càng nhiều quốc gia tham gia các hiệp định thương mại, cam kết mở cửa thị trường thì các rào cản thương mại đang được giảm dần, tự

do hóa thương mại gia tăng, tuy nhiên động cơ thực hiện FDI để xâm nhập thị trường quốc gia, khu vực vẫn là một trong những động cơ thúc đẩy các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư ra nước ngoài

để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Hầu hết các FDI vào các nước đang phát triển và chuyển đổi là loại tìm kiếm nguồn lực, loại đầu tư này nhằm khai thác lợi thế so sánh của một nước

3.1.1.3 Tìm kiếm hiệu quả.

Thay vì đầu tư trong nước phải sử dụng các nguồn nguyên vật liệu và năng lượng với giá cao, các nhà đầu tư đầu tư ra nước ngoài để tiết kiệm chi phí cho nguyên vật liệu và năng lượng đầu vào sẵn có hơn ở các nước tiếp nhận Hơn nữa việc sản xuất trong nước rồi xuất khẩu sẽ làm tăng chi phí so với thực hiện đầu tư sản xuất ở nước tiếp nhận do chi phí vận tải lớn

Các TNCs đầu tư ra nước ngoài cũng nhằm mục đích khai thác lợi thế độc quyền của mình về vốn, công nghệ, các kỹ thuật quản lý…

Vì động cơ tìm kiếm hiệu quả, các TNCs thực hiện các hoạt động kết nối khu vực/ toàn cầu để có được các sản phẩm xuyên biên giới tạo nên chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu nhằm khai thác tối đa lợi ích từ chuỗi giá trị đó hoặc chuyên môn hóa quy trình sản xuất Khi xem xét chuỗi giá trị toàn cầu chúng ta cũng thấy rằng chuỗi giá trị toàn cầu đem lại lợi ích lớn hơn cho các quốc gia, các công ty có vị thế trong chuỗi giá trị đó Nhằm khai thác tối đa lợi ích từ các chuỗi giá trị đó, các công ty xuyên quốc gia giữ lại những mắt xích của chuỗi giá trị đem lại giá trị gia

Trang 14

tăng lớn hơn và thực hiện những công đoạn khác ở nước ngoài nhằm khai thác các nguồn lực sẵn có, giá rẻ ở nước ngoài.

3.1.2 Nhân tố kéo

Nhân tố kéo là các nhân tố thuộc về các nước tiếp nhận đầu tư Các nhân tố này là những điều kiện cụ thể khiến cho các nước tiếp nhận đầu tư trở thành địa bàn hấp dẫn các nhà đầu tư

3.1.2.2 Các yếu tố kinh tế đáp ứng những động cơ của nhà đầu tư

Những nước có quy mô thị trường lớn, dân cư có mức thu nhập cao… sẽ có sức hấp dẫn mạnh đối với một nhà đầu tư nước ngoài đang hy vọng tìm kiếm thị trường nhằm mở rộng mạng lưới tiêu thụ và doanh số bán hàng quốc tế Những nơi

có nguồn nguyên liệu thô, lao động lành nghề, giá rẻ…sẽ là nơi thực hiện đầu tư tốt đối với những nhà đầu tư có động cơ tìm kiếm nguồn lực Tùy vào động cơ khi thực hiện FDI mà các nhà đầu tư yêu cầu các yếu tố đáp ứng khác nhau Vì vậy các nước chủ nhà cần phải nắm được những yếu tố này để cải thiện chúng theo hướng tích cực nhằm thu hút nhà đầu tư

Việt Nam là một quốc gia có thị trường nội địa khá lớn với trên 86 triệu dân,

là một thị trường mới nổi ở châu Á Hiện nay cùng với xu thế toàn cầu hóa, Việt Nam đang tham gia vào nhiều liên kết quốc gia, khu vực nhất là Việt Nam đã trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới Đầu tư vào Việt Nam sẽ giúp các công ty xuyên quốc gia có thể khai thác mở rộng thị trường đối với sản phẩm, dịch

vụ của mình đồng thời tận dụng được các quy chế thương mại, đầu tư mà Việt Nam phải thực hiện khi tham gia các liên kết quốc gia, khu vực và trở thành doanh nghiệp mang quốc tịch Việt Nam, các chi nhánh này sẽ có thể khai thác các thị

Trang 15

trường khu vực mà Việt Nam tham gia với những ưu tiên nhất định trong nội bộ khối Đó là sức hút lớn đối với các tập đoàn xuyên quốc gia khi họ đang trong giai đoạn tìm kiếm địa điểm đầu tư.

3.1.2.3 Các yếu tố thuận lợi cho kinh doanh

Đó là các khuyến khích của nước sở tại đối với hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh của nhà đầu tư, hỗ trợ thông qua hoạt động xúc tiến đầu tư, ít tiêu cực gây phiền hà, sách nhiễu đối với nhà đầu tư trong quá trình làm việc…

Trang 16

Chúng ta có thể tổng hợp các yếu tố của nước chủ nhà quyết định đến FDI thông qua bảng sau:

Bảng 1: Các nhân tố tác động đến thu hút đầu tư của các TNCs

Động cơ đẩu tư của các TNCs

Các yếu tố kinh tế cơ bản quyết định FDI

A Tìm kiếm thị trường

- Quy mô và tăng trưởng thị trường

- Thu nhập dân cư

- Tiếp cận các thị trường khu vực và toàn cầu

- Thị hiếu người tiêu dùng

- Cấu trúc thị trường

B Tìm kiếm nguồn lực

- Nguyên vật liệu thô

- Giá nguồn lực và tài sản ở mục B

- Giá các yếu tố đầu vào khác

- Thành viên của một hiệp ước liên kết khu vực cho phép lập ra mạng lưới liên kết hợp tác khu vực

I Chính sách FDI

- Ổn định kinh tế, chính trị, xã hội.

- Quy chế đăng ký và hoạt động

- Tiêu chuẩn đối xử với nhà đầu tư

Trang 17

3.2 Sự phù hợp với các tiêu chí lựa chọn đối tác chiến lược

Các công ty xuyên quốc gia (TNCs) là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy toàn cầu hóa và tăng trưởng của nền kinh tế thế giới Dựa trên sở hữu những yếu tố có tính chất cốt lõi đối với quá trình sản xuất cũng như năng lực cạnh tranh, vốn đầu tư, bí quyết công nghệ, các kỹ năng quản trị và mạng lưới hoạt động toàn cầu, sở hữu các tài sản và làm chủ các khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu, hiện nay, hoạt động của khoảng trên 82.000 TNCs (công ty mẹ) thông qua trên 900.000 chi nhánh trên thế giới đã và đang thực hiện phần lớn (khoảng 4/5) đầu tư trực tiếp nước ngoài và khoảng 3/5 trao đổi thương mại toàn cầu Mặt khác, TNCs cũng thực hiện chủ yếu các hoạt động nghiên cứu và phát triển ( R & D), chuyển giao công nghệ giữa các nước Các hoạt động đầu tư, thương mại và chuyển giao công nghệ đã tạo ra được nhiều việc làm, góp phần quan trọng vào phát triển nguồn nhân lực và tăng cường hội nhập giữa các nền văn hóa trên thế giới

Đặc trưng trong hoạt động đầu tư của các TNCs

Thứ nhất, nguồn vốn FDI từ các TNCs thường có quy mô lớn Với những lợi

thế về năng lực tài chính lớn mạnh, có tiềm lực to lớn về vốn, các TNCs luôn tích cực đầu tư ra nước ngoài nhằm tối đa hóa lợi nhuận trên phạm vi toàn cầu Do đó khi quyết tâm đầu tư vào một quốc gia nào đó với một mục đích kinh doanh nhất định, họ thường bỏ ra một lượng vốn lớn phục vụ cho mục tiêu của mình

Thứ hai, hầu hết các TNCs là chủ sở hữu của các công nghệ nguồn, nguồn FDI từ các TNCs thường kèm theo việc chuyển giao công nghệ tiên tiến và kỹ năng

II Các yếu tố kinh tế

III Các yếu tố thuận lợi cho kinh

doanh.

- Khuyến khích đầu tư

- Hoạt động xúc tiến đầu tư: Xây

dựng hình ảnh, tạo đầu tư, các dịch

vụ tạo thuận lợi cho đầu tư.

- Giảm tiêu cực phí.

- Điều kiến sống.

- Dịch vụ trước và sau đầu tư

Trang 18

quản lý hiện đại Trong chiến lược phát triển của mình, các TNCs luôn đặt vấn đề

công nghệ lên hàng đầu Đi đầu trong công nghệ cũng có nghĩa là tiến trước đối thủ cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường Vì vậy, đa số các TNCs có công nghệ tiên tiến,

sự phát triển công nghệ đối với mỗi TNC là yếu tố sống còn và hoạt động nghiên cứu phát triển luôn là hướng ưu tiên trong chính sách của các TNCs trên thế giới Khi đầu tư trực tiếp vào một quốc gia, các TNCs cần sử dụng công nghệ của mình

để sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ, do đó cùng với đầu tư trực tiếp là quá trình chuyển giao công nghệ để các TNCs có thể sử dụng công nghệ của mình có hiệu quả nhất

Các TNCs hàng đầu là những tập đoàn sở hữu những công nghệ nguồn hiện đại nhất trên thế giới

Thứ ba, Các TNCs thường có quan hệ với nhiều thị trường khác nhau trên thế giới Thông qua FDI, các TNCs sẽ mang đến cho nước sở tại những quan hệ khách

hàng mới, mở cửa các thị trường tiềm năng mà trước đây nước sở tại chưa có, tạo điều kiện cho nước sở tại thâm nhập thị trường thế giới, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu/khu vực Các TNCs lớn là các TNCs có vị thế lớn trong các chuỗi giá trị toàn cầu Đầu tư trực tiếp của các TNCs này có thể tạo điều kiện cho Việt Nam tận dụng cơ hội tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và mạng lưới sản xuất quốc tế

Thứ tư, Các TNCs thường đầu tư vào nhiều ngành khác nhau Các TNCs trên

thế giới là các tập đoàn kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực Với mục tiêu lợi nhuận

và với tiềm lực to lớn về vốn, công nghệ, năng lực quản lý, họ có thể đầu tư vào những ngành khác nhau trên phạm vi toàn cầu, thậm chí trong một quốc gia

Các TNCs đầu tư ra nước ngoài thường tập trung đầu tư vào các ngành công nghiệp, dịch vụ, các ngành công nghệ mới nhằm khai thác tốt lợi thế của nước nhận đầu tư Cùng với quá trình các TNCs đầu tư vào sản xuất kinh doanh ở nước tiếp nhận thì nó cũng góp phần rất lớn vào việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng, lãnh thổ…theo hướng tiến bộ

Thứ năm, với lợi thế về tiềm lực tài chính, trình độ công nghệ và kỹ năng quản

lý hiện đại các TNCs có khả năng đầu tư với quy mô lớn, tạo ra nhiều việc làm

đồng thời giúp người lao động có khả năng học hỏi các công nghệ kỹ thuật mới, kỹ năng quản lý mới

Thông qua việc phân tích các tiêu chí lựa chọn đối tác chiến lược của Việt

Trang 19

Nam hiện nay cũng như nhu cầu đầu tư của các TNCs và các điều kiện của Việt Nam đáp ứng những nhu cầu đó có thể thấy rằng có sự phù hợp giữa nhu cầu đầu tư của các công ty xuyên quốc gia và nhu cầu thu hút đầu tư của Việt Nam Điều đó tạo điều kiện cho việc hình thành mối quan hệ hợp tác chiến lược trong đầu tư trực tiếp giữa các công ty xuyên quốc gia và Việt Nam Trong điều kiện hiện nay có thể

thấy các tập đoàn xuyên quốc gia là những đối tác chiến lược chính mà Việt Nam cần chọn lựa và có định hướng cũng như các giải pháp cụ thể nhằm thu hút đầu tư

của họ

3.3 Các TNCs chiến lược theo ngành

Để nâng cao hiệu quả thu hút vốn FDI từ các TNCs Việt Nam cần tập trung thu hút FDI vào những ngành và lĩnh vực:

- Các ngành mà chúng ta có thể tận dụng được lợi thế của các TNCs : công nghệ cao, công nghệ nguồn, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, vật liệu mới, viễn thông;

- Các ngành mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh : dệt may, da giầy, công nghiệp chế biến

- những ngành có khả năng sinh lợi cao (du lịch, tài chính ngân hàng, bảo hiểm và một số ngành dịch vụ khác) để tạo thêm nhiều công ăn việc làm và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Từng bước mở cửa thị trường, thực hiện đúng lộ trình mở cửa đối với những ngành và lĩnh vực như trong cam kết gia nhập WTO, tạo động lực thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển như: ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, viễn thông

Theo The Global Fortune 500, thống kê của tạp chí Fortune Hoa Kỳ về 500 tập đoàn hàng đầu thế giới năm 2010 tính theo doanh thu Các quốc gia có nhiều TNCs hàng đầu nhất trong danh sách là Hoa Kỳ với 139 công ty, Nhật Bản 71, Trung Quốc 46, Pháp 39…So với danh sách của năm 2009 số công ty Trung Quốc được lọt vào danh sách này đã tăng lên từ 37 lên 46 công ty cho thấy sự lớn mạnh của các TNCs Trung Quốc ngay cả trong giai đoạn hậu khủng hoảng

Trang 20

Bảng 2: Các quốc gia có nhiều tập đoàn hàng đầu nhất

Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc Hầu hết các tập đoàn trong top 10 này cũng là những tập đoàn sử dụng nhiều lao động nhất

Bảng 3: 10 tập đoàn hàng đầu thế giới theo Fortune Global 500

Trang 21

( số trong ngoặc đơn biểu thị thứ tự xếp theo tập đoàn có số lao động lớn nhất )

Dựa trên những thông tin xếp hạng của The Fortune Global 500 trong nhiều năm có thể thấy rằng các TNCs hàng đầu thế giới phần lớn có quốc tịch Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Canada và EU Các TNCs Hoa Kỳ là những TNCs hàng đầu trong lĩnh vực tài chính, bảo hiểm, dầu khí, công nghiệp ô tô, công nghệ thông tin truyền thông, vật liệu điện tử và lĩnh vực bán lẻ với các tập đoàn hàng đầu như: Exxon mobil, Ford, Microsoft, Apple, Intel, Wal-Mart…Nhật Bản có thế mạnh với các lĩnh vực công nghiệp ô tô, điện tử, ứng dụng công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học…Các TNCs châu Âu là những TNCs có công nghệ hiện đại và không ngừng nghiên cứu triển khai Đây là các đối tác mà Việt Nam cần xúc tiến thu hút đầu tư Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần tập trung xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với các tập đoàn quy mô vừa đến từ khu vực Đông Á, các TNCs này tuy không

có tiềm lực về vốn và công nghệ bậc nhất thế giới, song chúng là các TNCs hoạt động trong các lĩnh vực tạo nhiều việc làm và hướng đến xuất khẩu

Bảng 4: Các TNCs mục tiêu theo ngành

Ngành mục tiêu Các TNCs mục tiêu

Công nghệ thông Mỹ, Nhật Bản, EU, Intel, IBM,

Trang 22

Hewlett-tin Singapore, Ấn Độ Packard, Motorola, NidecĐiện tử Mỹ, Nhật Bản, EU, Hàn Quốc

Sony, Mashushita, Samsung Electronis, Toshiba, CanonViễn thông Pháp, Đức France Telecom, Siemens, Telstra, NTTĐiện, năng lượng Nhật Bản, Anh BP, EDF, Tokyo Electric.Hoá chất Mỹ, Nhật Bản, EU, Hàn Quốc

Dịch vụ phân

phối, bán lẻ Mỹ, Đức

Metro, Big C, Wal- mart

Dầu khí Mỹ, EU, Nga

BP, Exxon mobil, Statoil, ConocoPhilips, Petronas, Chevron

Xây dựng cơ sở hạ

tầng và hạ tầng

KCN

Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc, Hàn Quốc, Anh

Tập đoàn Cảng biển P&O (Anh), Sembcorp

(Singapore)

Tài chính, ngân

City Group, HSCB Holdings, J.P MorganBảo hiểm EU, Mỹ, Trung Quốc ACE life,

4 Các công cụ, chính sách thu hút FDI từ các đối tác chiến lượ c

Các công cụ, chính sách thu hút FDI từ các đối tác chiến lược là các TNCs cần tập trung vào những đặc điểm, xu hướng đầu tư và các vấn đề mà các nhà đầu

tư này quan tâm đối với quốc gia mà họ dự định đầu tư Do đó, các chính sách thu hút FDI phải cụ thể hướng vào giải quyết các vấn đề đó nhằm tăng sức hấp dẫn đối với môi trường đầu tư kinh doanh ở nước sở tại

Trước tiên cần có những nghiên cứu đánh giá và nắm bắt được xu hướng đầu

tư của các TNCs mục tiêu trên cơ sở đó đưa ra những chính sách thích hợp

Thứ nhất, chính sách tự do hóa FDI : Tự do hóa FDI là chính sách nới lỏng sự quản lý chặt chẽ của nhà nước trong các hình thức đầu tư, các ngành và lĩnh vực được phép đầu tư, cơ chế giám sát đầu tư được thực hiện minh bạch và giảm thủ tục hành chính Chính sách tự do hóa FDI cũng nằm trong các cam kết thực hiện khi

Trang 23

Việt Nam tham gia các liên kết quốc tế, các hiệp định thương mại và đầu tư đồng thời với việc nghiên cứu xu hướng đầu tư trực tiếp từ các công ty xuyên quốc gia thường hướng tới thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và hình thức mua lại và sáp nhập (M &A) Tự do hóa FDI được thực hiện từng bước sẽ tiến hành mở cửa dần các lĩnh vực như tài chính, bảo hiểm, ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác, dịch vụ lữ hành và du lịch … tạo ra thị trường lớn cho các tập đoàn hoạt động trong các lĩnh vực này đầu tư vào Việt Nam Bên cạnh tự do hóa đầu tư thì cơ chế quản lý đầu tư cần có những biện pháp nhằm quản lý có hiệu quả các dự án, có khả năng kiểm soát tốt đầu tư vào các ngành và lĩnh vực ưu tiên phát triển Cho phép thực hiện FDI tiềm năng trong các lĩnh vực quan trọng, khuyến khích dòng FDI mới

và năng động Thu hút đầu tư vào các lĩnh vực đó đòi hỏi phải có chiến lược tự do hóa thị trường được lên kế hoạch một cách thống nhất và phù hợp

lý, cho phép khấu hao nhanh, cho phép chuyển lỗ, hoàn thuế thu nhập do tái đầu tư,

+ Chính sách chi viện về tài chính đối với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.

Thứ ba, Chính sách phát triển vùng lãnh thổ: Xây dựng cơ sở hạ tầng khu

công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao nhằm tạo ra khu vực thu hút đầu tư nước ngoài với các yếu tố kinh tế kỹ thuật, các dịch vụ đầy đủ và phù hợp

Phát triển các vùng công nghiệp trọng điểm, kết nối các địa phương từ nguồn cung cấp nguyên vật liệu đến sản xuất và phân phối, xây dựng kết cấu hạ tầng giao

Trang 24

thông vận tải, thông tin liên lạc, phát triển công nghiệp phụ trợ và mạng lưới dịch vụ.

Khuyến khích đầu tư vào những khu vực kém thuận lợi hơn bằng các ưu đãi tài chính

Thứ tư, Chính sách xúc tiến và hỗ trợ đầu tư.

Xác định nhà đầu tư mục tiêu và xây dựng các chương trình xúc tiến đầu tư trọng tâm hướng vào các nhà đầu tư đã xác định Sử dụng các kỹ thuật đầu tư phù hợp, đổi mới phương thức và kỹ thuật xúc tiến đầu tư và đầu tư cho các hoạt động xúc tiến Chính sách về xúc tiến đầu tư đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà lãnh đạo, các bộ ngành địa phương và cơ quan xúc tiến đầu tư, các cơ quan truyền thông và các doanh nghiệp

Thứ năm, hoàn chỉnh hệ thống luật pháp nói chung và pháp luật về quản lý đầu tư nói riêng, cải cách thủ tục hành chính trong đầu tư, phân cấp đầu tư và nâng cao năng lực quản lý đầu tư Các thủ tục hành chính trong đầu tư như thủ tục đăng

ký đầu tư, thủ tục thẩm tra đối với các dự án thuộc diện thẩm tra đầu tư, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp, liên doanh, liên kết…Thực hiện các cơ chế và dịch

Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 2000- 2010 Từ năm

2001 đến 2004 là thời kỳ hồi phục chậm của hoạt động FDI Tính đến cuối năm

2004, tổng vốn đăng ký FDI ở Việt Nam là 4547.6 triệu USD và vốn thực hiện 2852.5 triệu USD Con số này cho thấy, sau nhiều năm luồng vốn FDI vào Việt Nam bị chững lại, năm 2004 đã có dấu hiệu hồi phục rõ rệt Những dấu hiệu lạc

Trang 25

quan có thể minh chứng cho xu hướng phục hồi dòng vốn FDI vào Việt Nam, kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á

Từ khi ban hành luật đầu tư nước ngoài đến hết năm 2005, đã có 7279 dự án FDI được cấp phép đầu tư với tổng vốn đăng ký đạt 66,3 tỷ USD Hết năm 2005 còn 6030 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký hơn 65 tỷ USD (kể cả tăng vốn) Tính riêng năm 2006, số dự án cấp mới là 833 dự án , chỉ bằng 86,1% so với năm 2005, với số lượng vốn đăng ký cấp mới là 7839 triệu USD bằng 166.6% so với năm 2005 Số lượt dự án tăng vốn năm 2006 là 486 dự án với số vốn tăng thêm

là 2362.3 triệu USD Năm 2008 đạt kỷ lục trong vốn đăng ký là 71,726 tỷ USD tuy nhiên vốn đã đưa vào thực hiện chỉ bằng 16%

Giai đoạn 2006- 2010 dòng FDI vào Việt Nam gia tăng nhanh chóng, kết quả của việc Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới cùng với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế Năm 2006, tập đoàn Intel Hoa Kỳ đầu tư vào Việt Nam với số vốn cho dự án lên tới 605 triệu USD mở đầu cho các dự án lớn vào Việt Nam Năm 2008 đạt kỷ lục trong vốn đăng ký là 71,726 tỷ USD

Tuy nhiên, số vốn đã đưa vào thực hiện còn thấp Tỷ lệ này thấp trong giai đoạn 2006- 2010 và thấp hơn các giai đoạn trước do sự gia tăng nhanh chóng trong vốn đăng ký và các dự án lớn thực hiện trong nhiều năm do vậy vốn giải ngân hàng năm không lớn như tổng vốn đăng ký

Bảng 5: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 2000- 2009

Nguồn: Tổng cục thống kê

Năm Số dự án

Vốn đăng ký (Triệu đô la Mỹ)

Tổng số vốn thực hiện (Triệu đô la Mỹ)

Tỷ lệ VĐK/VTH

Trang 26

Sơ bộ 2009 1208 23107.3 10000.0 43%

1.1 FDI phân theo ngành kinh tế

Trong cả giai đoạn 1988 – 2005, công nghiệp vẫn là ngành có tỷ trọng vốn FDI thực hiện cao nhất, đạt 17,9 tỷ USD, chiếm 68,8% tổng vốn FDI thực hiện Tiếp theo là ngành dịch vụ với 6,4 tỷ USD và chiếm 24,6% tổng vốn thực hiện cả nước Ngành nông – lâm – ngư nghiệp có tỷ trọng số vốn FDI thực hiện rất nhỏ, chỉ đạt 1,8 tỷ USD, tương ứng với 6,9% tổng vốn thực hiện

BẢNG 6: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành 1988-2010

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM THEO NGÀNH

Lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 20/10/2010

TT Chuyên ngành Số dự án

Tổng vốn đầu tư

số lượng

Tỷ trọng (%)

số vốn (tỷ USD)

tỷ trọng (%)

số vốn (tỷ USD)

tỷ trọng (%)

1 CN chế biến,chế tạo 7,128 59.80% 93.813 49.01% 31.331 50.90%

2 KD bất động sản 340 2.85% 43.261 22.60% 10.805 17.55%

3 Dvụ lưu trú và ăn

Trang 28

biến tích cực theo hướng tăng tỷ trọng cả ngành công nghiệp và dịch vụ Trong đó công nghiệp và xây dựng chiếm 69% tổng vốn thực hiện, dịch vụ chiếm 24,7% và nông – lâm – ngư nghiệp chiếm 6,3% tổng vốn thực hiện cả nước.

Về tình hình các dự án giải thể trước thời hạn xét theo ngành kinh tế, tính đến hết năm 2005, ngành công nghiệp và xây dựng có nhiều dự án bị giải thể nhất và tỷ

lệ vốn đầu tư bị giải thể cũng cao nhất, chiếm tới 43% Trong đó, ngành công nghiệp là 570 dự án (chiếm 53% tổng số dự án cấp phép) với tổng số vốn đầu tư 5,4

tỷ USD (chiếm 43% tổng vốn đăng ký) Lĩnh vực dịch vụ có 54 dự án (chiếm tỷ lệ 5% tổng số dự án cấp giấy phép) với 10% tổng số vốn bị giải thể

Còn về tình hình các dự án buộc phải chuyển đổi hình thức đầu tư phân theo ngành kinh tế, trong các dự án chuyển đổi hình thức đầu tư thì ngành công nghiệp

có nhiều dự án nhất với 102 dự án (chiếm 62% tổng số dự án chuyển đổi) và 68% tổng vốn đăng ký Đứng sau công nghiệp là dịch vụ với 39 dự án chuyển đổi hình thức đầu tư, chiếm 24% số dự án và 24% trong tổng số vốn đầu tư chuyển đổi.Tính đến tháng 4 năm 2007, vốn FDI đạt 2,86 tỷ USD, vượt cùng kỳ năm ngoái gần 1 tỷ USD Trong số này, có tới 146 dự án công nghiệp với giá trị hơn 1,6

tỷ USD, tiếp theo là lĩnh vực khách sạn, du lịch với số vốn gần 390 triệu USD đổ vào 8 dự án và thứ ba là dịch vụ, với 99 dự án trị giá 318 triệu USD

Tính đến hết tháng 9/2010, Vốn FDI có 275 dự án đầu tư được cấp mới, tổng

số vốn cấp mới trên 3 tỷ USD và 106 lượt dự án mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tổng số vốn đăng ký tăng thêm là 653,6 triệu USD đưa lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu, chiếm 30,2% tổng vốn đầu tư đăng ký Với 6 dự án đầu

tư được cấp phép trong 9 tháng đầu năm 2010, lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí, nước điều hòa đứng thứ 2 với tổng vốn đầu tư đăng ký khá cao 2,94 tỷ USD, chiếm 24,1% tổng vốn đầu tư đăng ký trong 9 tháng đầu năm

1.2 FDI theo hình thức đầu tư

Trong giai đoạn đầu thu hút FDI vào Việt Nam (1988 – 1990), liên doanh vẫn

là hình thức đầu tư nước ngoài chủ yếu vào Việt Nam, tiếp đến là hình thức hợp tác kinh doanh Một trong những nguyên nhân là do trong thời kỳ đầu thu hút FDI, các

Trang 29

nhà đầu tư nước ngoài còn chưa am hiểu về môi trường đầu tư của Việt Nam, về những thủ tục pháp lý cần thiết… vì thế họ lựa chọn hình thức liên doanh để tìm hiểu thêm về môi trường đầu tư của Việt Nam thông qua các đối tác liên doanh của mình.

Tính tới tháng 10 năm 2010, hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm đến 78.15% số dự án; 62.05% tổng vốn đầu tư đăng ký Tiếp theo là hình thức liên doanh; các hình thức đầu tư khác đã xuất hiện như hình thức liên doanh kiểu công

ty mẹ – con nhưng chiếm tỷ trọng rất nhỏ (xem bảng 4)

BẢNG 7 : Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo HTĐT 1988 – 20/10/2010

TT Hình thức đầu tư Số dự án Tổng vốn đầu tư

đăng ký (USD)

Vốn điều lệ (USD)

số lượng tỷ trọng số vốn tỷ trọng

số vốn tỷ trọng

Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và đầu tư

Sở dĩ mà doanh nghiệp có vốn 100% nước ngoài chiếm tỷ trọng cao như vậy

là do nhà đầu tư đã hiểu thêm về chính sách, luật pháp và phong tục tập quán, cách thức hoạt động kinh doanh ở Việt Nam, hơn nữa, thực tế khả năng của các bên đối tác Việt Nam trong liên doanh thường yếu cả về vốn lẫn trình độ quản lý, dẫn đến hoạt động kinh doanh kém hiệu quả Từ đó các đối tác nước ngoài có xu hướng rút dần ra khỏi liên doanh, thành lập các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, đứng lên

Trang 30

1.3 FDI phân theo quốc gia và vùng lãnh thổ

Nhìn chung, ngày càng có nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia đầu tư tại Việt Nam Tính đến hết năm 2005, có 74 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư vào Việt Nam Nhìn chung, trong cả giai đoạn từ 1988 – 2005, các nước châu Á vẫn

là những đối tác đầu tư chủ yếu của Việt Nam, tỷ lệ dòng vốn từ châu Âu vẫn thấp

và tăng chậm Điều này đồng nghĩa với việc lượng vốn thu hút từ các nước sở hữu công nghệ nguồn còn rất thấp

BẢNG 8: 10 nhà đầu tư hàng đầu ở Việt Nam 1988- 20/10/2010.

Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Trong giai đoạn 1988 – 1996, FDI vào Việt Nam chủ yếu là từ các nước châu

Á Các nước châu Á chiếm tới 71,7% tổng vốn FDI đầu tư vào Việt Nam, trong đó các nước ASEAN chiếm 24,8% tổng vốn FDI đăng ký Năm nước châu Á là Đài Loan, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông chiếm hơn 65% tổng số vốn đăng ký vào Việt Nam Châu Âu chiếm 20,5% và châu Mỹ chiếm 7,8% vốn FDI đăng ký ở Việt Nam giai đoạn này (trong đó Mỹ chiếm tới 3,5% vốn FDI vào Việt

Trang 31

Đến giai đoạn 1997 – 1999, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ trong khu vực nên cơ cấu vốn FDI theo chủ đầu tư của Việt Nam cũng có sự thay đổi Vốn FDI đăng ký của các nước ASEAN vào Việt Nam giảm rõ rệt, năm

1997 giảm 47,9% so với năm 1996, năm 1998 giảm 8,9%, năm 1999 giảm 63% so với năm trước Trong khi đó vốn FDI từ các nước châu Âu lại tăng lên

Giai đoạn 2000 – 2005 là giai đoạn phục hồi của nguồn vốn FDI vào Việt Nam Trong giai đoạn này, cơ cấu vốn FDI đăng ký theo đối tác cũng có nhiều thay đổi Năm 2000, vốn FDI vào Việt Nam chủ yếu là từ châu Âu, chiếm 36,6% tổng vốn FDI vào Việt Nam Vốn FDI từ các nước ASEAN vẫn tiếp tục giảm sút, chiếm 2,4% tổng vốn đăng ký Tuy nhiên vốn từ các nước Đông Á vào Việt Nam lại tăng lên rõ rệt, chiếm tới 22,4% tổng vốn đăng ký Năm 2001, vốn FDI từ các nước châu

Âu, châu Mỹ và Đông Á tiếp tục tăng mạnh, chiếm 44,5%; 4,6% và 28,7% tổng vốn đăng ký mới Vốn FDI từ các nước ASEAN dần hồi phục, chiếm tới 13,7% tổng vốn đầu tư vào Việt nam Trong 2 năm 2002 – 2003, vốn FDI từ châu Âu tiếp tục giảm xuống, còn 80 triệu USD năm 2002 và 73 triệu USD năm 2003 (so với mức gần 1.082 triệu năm 2001) Vốn FDI từ các nước ASEAN cũng giảm sút, nhưng khu vực Đông Á lại tích cực đầu tư vào Việt Nam, trở thành các chủ đầu tư lớn nhất

ở Việt Nam, đặc biệt là 4 nước Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản, Hàn Quốc Đến hết năm 2004, châu Á vẫn là các chủ đầu tư lớn nhất tại Việt Nam, chiếm 67,8% tổng vốn đăng ký, châu Âu chiếm 11,2% tổng vốn đăng ký và châu Mỹ chiếm 8% tổng vốn đăng ký vào Việt Nam

Tính đến năm 2006, Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông vẫn là 5 nước đứng đầu danh sách về đầu tư FDI vào Việt Nam, chiếm hơn 60% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam, sau đó mới đến các nước châu Âu, châu Mỹ Như vậy, tỷ lệ các dự án đầu tư nước ngoài có sử dụng công nghệ cao, công nghệ nguồn còn thấp Trong số các đối tác nước ngoài thì châu Âu và Hoa Kỳ đầu tư chưa lớn

và chưa tương xứng với tiềm năng của họ Tuy nhiên kể từ 2007 dòng vốn FDI từ Hoa Kỳ vào Việt Nam tăng mạnh, Hoa Kỳ nằm trong top những nước dẫn đầu trong

Trang 32

số các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam Năm 2009 Hoa Kỳ đứng đầu danh sách với số vốn đăng ký 9,8 tỷ USD Giai đoạn này cho thấy các đối tác lớn như Nhật Bản, EU và Hoa Kỳ đang đầu tư nhiều hơn vào thị trường Việt Nam

Sau hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ được phê chuẩn năm 2001, đầu

tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam đã tăng lên hơn gấp đôi trong vòng 5 năm sau khi hiệp định được phê duyệt (2002- 2006) so với 5 năm trước đó (1997- 2001) tăng đều đặn

từ 100 triệu USD năm 2001 lên đến gần 1 tỷ USD năm 2006 Kể từ 2007 dòng vốn FDI từ Hoa Kỳ vào Việt Nam tăng mạnh, Hoa Kỳ nằm trong top những nước dẫn đầu trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam Năm 2009 Hoa

Kỳ đứng đầu danh sách với số vốn đăng ký 9,8 tỷ USD Giai đoạn này cho thấy các đối tác lớn như Nhật Bản, EU và Hoa Kỳ đang đầu tư nhiều hơn vào thị trường Việt Nam

Trong 9 tháng đầu 2010, có 48 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam, các nhà đầu tư lớn nhất lần lượt là Hà Lan với tổng vốn đầu tư đăng ký

là 2,2tỷ USD chiếm 18,2% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam; Hàn Quốc đứng thứ 2 với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 2 tỷ USD, chiếm 17% tổng vốn đầu tư tại Việt Nam; Hoa Kỳ đứng thứ 3 với tổng vốn đăng ký là 1,87 tỷ USD, chiếm 15,3% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam

Tuy nhiên nếu tính đến đầu tư qua nước thứ ba, nghĩa là xét về nguồn gốc của các khoản đầu tư hay tính đến vai trò của các công ty mẹ trong các công ty xuyên quốc gia thì các quốc gia đầu tư hàng đầu hiện nay phải kể đến Nhật Bản, Hoa Kỳ

Tù các đối tác đầu tư chính là các nước ASEAN và các nước Đông Á, đến nay các đối tác đến từ Hoa Kỳ, các nước EU các quốc gia có tiềm lực lớn về tài chính và công nghệ đang chuyển hướng đầu tư sang các thị trường mới nổi trong đó có Việt Nam

1.4FDI phân theo địa bàn đầu tư

Trên địa phương, đến nay có 63 tỉnh thành trong cả nước đã có dự án FDI triển khai thực hiện Tuy nhiên việc phân bổ cho các tỉnh rất không đều nhau,

Trang 33

những vùng có hạ tầng cơ sở phát triển và lao động có tay nghề cao thu hút phần lớn tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Khoảng 26% tổng vốn FDI đã đăng ký giai đoạn 1988- 2006 đều rót về vùng châu thổ sông Hồng xung quanh Hà Nội và Hải Phòng, vùng Đông Nam Bộ thu hút 54% tổng FDI và riêng thành phố Hồ Chí Minh đã chiếm ¼ tổng vốn đầu tư Hiện nay dưới sức ép của mặt bằng đất đai, các

dự án đầu tư nước ngoài đã chuyển sang các tỉnh lân cận Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh như Vĩnh Phúc, Bình Dương, Đồng Nai

Trong giai đoạn đầu tiên thu hút FDI (1988 – 1990), FDI thực hiện chủ yếu tập trung ở các tỉnh, thành phố thuộc Nam Trung Bộ để thăm dò, khai thác dầu khí

và ở Đồng bằng sông Hồng Giai đoạn 1991 – 1999, FDI thực hiện phân bố không đồng đều giữa các địa phương Trong đó các tỉnh, thành phố có FDI thực hiện nhiều nhất là thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu và Hải Phòng, chiếm 68% tổng vốn FDI thực hiện cả nước Giai đoạn tiếp theo (2000 – 2005), vốn FDI thực hiện chủ yếu tập trung vào các địa phương có điều kiện kinh tế thuận lợi, cơ sở hạ tầng phát triển Tính đến hết năm 2005, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chiếm khoảng 50% tổng vốn thực hiện cả nước, vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc chiếm 28,7% tổng vốn thực hiện

Về tình hình các dự án giải thể trước thời hạn, tính đến hết năm 2005, địa phương có số dự án buộc phải giải thể trước thời hạn lớn nhất là thành phố Hồ Chí Minh với 330 dự án và 3,23 triệu USD vốn đăng ký Thứ hai là Bà Rịa – Vũng Tàu với 55 dự án và vốn đăng ký là 1,42 triệu USD Rõ ràng nơi tập trung nhiều dự án nhất cũng là nơi có nhiều dự án giải thể trước thời hạn nhất Về các dự án buộc phải chuyển đổi hình thức đầu tư, số dự án chuyển đổi hình thức đầu tư những năm qua tập trung chủ yếu vào thành phố Hồ Chí Minh chiếm 36% trong tổng số dự án bị giải thể, tiếp theo là Hà Nội với 11% tổng số dự án bị giải thể

Trong các năm 2007-2008, trong các địa phương thu hút được nhiều vốn FDI,

Bà Rịa Vũng Tàu vươn lên vị trí thứ nhất, tiếp theo là Huế, Quảng Ngãi và Bình Dương Điều này cho thấy 2 đầu tàu kinh tế Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh bị các tỉnh miền trung lấn lướt trong cuộc đua thu hút FDI

Trang 34

Bà Rịa – Vũng Tàu là địa phương thu hút nhiều vốn ĐTNN nhất trong 9 tháng đầu 2010 với 2,23 tỷ USD vốn đăng ký mới và tăng thêm Tiếp theo là Quảng Ninh,

TP Hồ Chí Minh, Nghệ An với quy mô vốn đăng ký lần lượt là 2,15 tỷ USD, 1,8 tỷ USD và 1 tỷ USD

Đánh giá khái quát tình hình FDI vào Việt Nam

Qua những phân tích trên có thể thấy tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam thời gian qua như sau:

- FDI vào Việt Nam tập trung vào ngành công nghiệp và dịch vụ, ngành nông lâm nghiệp nhận được ít vốn FDI nhất

- FDI vào Việt Nam đang có xu hướng chuyển nhanh sang hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài

- FDI vào Việt Nam được thực hiện chủ yếu thông qua các công ty xuyên quốc gia, các quốc gia Châu Âu, Nhật Bản, Hoa Kỳ ngày càng đầu tư nhiều vào Việt Nam

- FDI vào Việt Nam phân bổ không đồng đều giữa các vùng Những địa phương nhận được nhiều FDI nhất thường là những thành phố lớn, trung tâm kinh

tế đất nước, cơ sở hạ tầng tốt, tập trung ở đồng bằng sông Hồng và vùng đồng bằng sông Cửu Long

2 Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của các đối tác chiến lược

2.1 Xác định xu hướng đầu tư ra nước ngoài của các TNCs hiện nay.

Các TNCs đang và ngày càng áp đảo trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của toàn thế giới

Dòng lưu chuyển FDI trên thế giới chủ yếu được điều phối bởi các TNCs của các nước phát triển Tuy nhiên, trong những năm gần đây, sự tham gia của các nước đang phát triển ngày càng được tăng cường Tỷ trọng vốn FDI của các TNCs

có xuất xứ từ các nước đang phát triển đã liên tục tăng lên từ 20,3% vào những năm 1978-1980 lên 35,9% vào năm 2003-2005 Trong các nước đang phát triển thì các nước Châu Á và Châu Đại Dương chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp đến là Mỹ La tinh & Caribee, các nước ở Đông & Nam Âu và các nước Châu Phi

Trong những năm gần đây, do tốc độ phát triển mạnh của mạng lưới chi

Trang 35

nhánh, làn sóng M&A đã tăng nhanh hơn hình thức đầu tư xây dựng doanh nghiệp mới, trở thành một nét nổi bật và một hiện tượng trong hoạt động của các TNCs Các lĩnh vực sáp nhập cũng ngày càng đa dạng, trong đó các lĩnh vực hàng đầu là: viễn thông, tài chính ngân hàng, bảo hiểm, truyền thông….Sự sát nhập và thôn tính của các công ty ngoại quốc của các TNCs, chủ yếu là Mỹ, Đức và Anh là một trong những nguyên nhân quan trọng gây bùng nổ đầu tư nước ngoài

Dòng vốn FDI của các TNCs tập trung chủ yếu vào các nước công nghiệp phát triển hiện nay mở rộng hơn tới các thị trường mới nổi ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Các nước phát triển không chỉ là chủ thể chính trong hoạt động đầu tư trực tiếp mà còn là những nước nhận phần lớn dòng vốn FDI Vào năm 2000 khi dòng vốn FDI vào của toàn thế giới đạt con số kỷ lục 1.388 tỷ USD thì vốn chảy vào các nước phát triển chiếm tới 77,3% đạt 1.108 tỷ USD Những năm tiếp theo khi dòng vốn FDI trên toàn thế giới giảm thì vốn FDI vào các nước này cũng giảm theo nhưng vẫn chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu dòng vốn FDI trên thế giới Chẳng hạn năm

2001 là 70%, năm 2002 là 72% Mặc dù các nước đang phát triển ngày càng trở nên hấp dẫn nhưng các nước phát triển vẫn chiếm phần lớn số vốn đầu tư Nguyên nhân

Thứ ba: Các nước phát triển có nhiều điều kiện hấp dẫn để thu hút các nhà đầu

tư như cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt, hệ thống pháp luật được xây dựng chặt chẽ và nhất quán, trình độ khoa học kỹ thuật cao, trình độ tay nghề của người lao động và người quản lý cao…

Thứ tư: Chính sách bảo hộ mậu dịch của các nước này rất tinh vi Do vậy, đầu

tư vào các nước này sẽ giúp các TNCs thâm nhập được vào thị trường nội địa và tránh được những quy định khắt khe về hàng nhập khẩu (môi trường, bao bì, nguyên vật liệu nội địa, kiểm dịch vệ sinh)…

Thứ năm: Các nước phát triển có nền kinh tế cạnh tranh, có khả năng ứng phó

Trang 36

linh hoạt với những biến động của thị trường thế giới.

Sự thay đổi về lĩnh vực đầu tư.

Cơ cấu đầu tư nước ngoài vào các ngành có sự thay đổi lớn theo sự điều chỉnh chiến lược của các TNCs Vào những năm sau chiến tranh thế giới thứ hai, hầu hết các TNcs trên thế giới tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực công nghiệp khai thác và chế tạo Hiện nay những ngành dịch vụ, chế tạo với công nghệ hiện đại, các ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm rất được chú ý phát triển, những ngành truyền thống như nông, lâm, ngư nghiệp và khai khoáng thu hút ngày càng ít nhà đầu tư

2.2 Quy trình thu hút FDI từ các TNCs

Mục tiêu thu hút FDI nhằm vào đối tượng là các tập đoàn xuyên quốc gia mới được Việt Nam xác định vào đầu năm 2005 Trước đây khi nền kinh tế thế giới chưa bước vào giai đoạn hội nhập, hầu hết các nước trong đó có nước ta đều e ngại mình sẽ phụ thuộc vào các TNCs do ảnh hưởng của phụ thuộc kinh tế Ngày nay khi nền kinh tế đã hội nhập sâu rộng, tâm lý e ngại các TNCs không còn nữa, trái lại việc thu hút đầu tư của các TNCs trở thành mục tiêu mà các quốc gia quan tâm trong chiến lược thu hút đầu tư của mình Cạnh tranh trong thu hút đầu tư từ các TNCs ngày càng lớn, các quốc gia đều đưa ra hàng loạt các biện pháp khuyến khích đầu tư nhằm mục đích tự do hóa đầu tư, tăng cường thu hút FDI từ các TNCs vào đất nước mình

Theo xu hướng chung của thế giới các quan điểm về thu hút FDI của các TNCs vào Việt Nam cũng có sự thay đổi Từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX đến nay, Việt Nam đã nhìn nhân khách quan hơn về vai trò tích cực và sự cần thiết của các TNCs đối với sự phát triển của hoạt động đầu tư và phát triển kinh tế Việt Nam đang trong quá trình xây dựng lực lượng sản xuất do đó cần nhiều vốn, kỹ thuật công nghệ và kỹ năng quản lý tiên tiến Trong khi đó các TNC nhất là các TNCs lớn thuộc các nước công nghiệp phát triển giàu tiềm năng và có đủ khả năng đáp ứng những yêu cầu trên của Việt Nam Kể từ đó đến nay cùng với việc mở cửa cho các TNCs đầu tư Việt Nam cũng đã tích cực thay đổi môi trường đầu tư nhằm thu hút các TNCs Tuy nhiên chỉ trong vòng 5 năm trở lại đây chúng ta mới xác định TNCs

là đối tượng mục tiêu của các hoạt động thu hút đầu tư Điều này được thể hiện trong mục tiêu xúc tiến đầu tư theo lời thứ trưởng Bộ kế hoạch và Đầu tư Nguyễn

Ngày đăng: 24/03/2015, 13:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Các nhân tố tác động đến thu hút đầu tư của các TNCs - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các đối tác chiến lược vào Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 và giải pháp đến 2020
Bảng 1 Các nhân tố tác động đến thu hút đầu tư của các TNCs (Trang 16)
Bảng 3: 10 tập đoàn hàng đầu thế giới theo Fortune Global 500 - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các đối tác chiến lược vào Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 và giải pháp đến 2020
Bảng 3 10 tập đoàn hàng đầu thế giới theo Fortune Global 500 (Trang 20)
Bảng 2: Các quốc gia có nhiều tập đoàn hàng đầu nhất - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các đối tác chiến lược vào Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 và giải pháp đến 2020
Bảng 2 Các quốc gia có nhiều tập đoàn hàng đầu nhất (Trang 20)
Bảng 4: Các TNCs mục tiêu theo ngành - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các đối tác chiến lược vào Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 và giải pháp đến 2020
Bảng 4 Các TNCs mục tiêu theo ngành (Trang 21)
Bảng 5: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 2000- 2009 - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các đối tác chiến lược vào Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 và giải pháp đến 2020
Bảng 5 Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 2000- 2009 (Trang 25)
BẢNG 6: Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành 1988-2010 - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các đối tác chiến lược vào Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 và giải pháp đến 2020
BẢNG 6 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành 1988-2010 (Trang 26)
BẢNG 7 : Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo HTĐT 1988 – 20/10/2010 - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các đối tác chiến lược vào Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 và giải pháp đến 2020
BẢNG 7 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo HTĐT 1988 – 20/10/2010 (Trang 29)
BẢNG 8: 10 nhà đầu tư hàng đầu ở Việt Nam 1988- 20/10/2010. - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các đối tác chiến lược vào Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 và giải pháp đến 2020
BẢNG 8 10 nhà đầu tư hàng đầu ở Việt Nam 1988- 20/10/2010 (Trang 30)
Bảng 9: TNCs vào Việt Nam phân theo vùng lãnh thổ - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các đối tác chiến lược vào Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 và giải pháp đến 2020
Bảng 9 TNCs vào Việt Nam phân theo vùng lãnh thổ (Trang 40)
Đồ thị cho thấy sự thay đổi cả về vốn đầu tư và số dự án. Năm 2009 FDI đăng - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các đối tác chiến lược vào Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 và giải pháp đến 2020
th ị cho thấy sự thay đổi cả về vốn đầu tư và số dự án. Năm 2009 FDI đăng (Trang 43)
Bảng 11 Đầu tư của các TNCs hàng đầu vào Việt Nam giai đoạn 2001- 2009 - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các đối tác chiến lược vào Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 và giải pháp đến 2020
Bảng 11 Đầu tư của các TNCs hàng đầu vào Việt Nam giai đoạn 2001- 2009 (Trang 43)
Bảng 13: Đầu tư của TNCs vào Việt Nam theo ngành kinh tế giai đoạn - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các đối tác chiến lược vào Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 và giải pháp đến 2020
Bảng 13 Đầu tư của TNCs vào Việt Nam theo ngành kinh tế giai đoạn (Trang 45)
Bảng 14: Một số dự án lớn nhất của các TNCs Hoa Kỳ đầu tư vào Việt Nam - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các đối tác chiến lược vào Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 và giải pháp đến 2020
Bảng 14 Một số dự án lớn nhất của các TNCs Hoa Kỳ đầu tư vào Việt Nam (Trang 47)
Lần vào các năm 1990, 1992, 1996, 2000 và gần đây nhất là năm 2005. Bảng 2.1 - Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các đối tác chiến lược vào Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 và giải pháp đến 2020
n vào các năm 1990, 1992, 1996, 2000 và gần đây nhất là năm 2005. Bảng 2.1 (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w