1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung-dài hạn tại chi nhánh Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam

64 403 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 649 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với chức năng cơ bản của ngân hàng, tín dụng là một giao dịch về tài sản tiền hoặc hàng hóa giữa bên cho vay ngân hàng và các định chế tài chính và bên đi vay cá nhân, doanh nghiệp và cá

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một trong những giải pháp quan trọng để hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Để có thể thực hiện được điều đó nhất thiết phải tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ, trang bị kỹ thuật tiên tiến, đồng thời có sự nâng cấp, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh đối với các thành phần kinh tế, từ đó tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế trong tương lai Tuy nhiên, với nguồn vốn chủ sở hữu có giới hạn, bản thân các doanh nghiệp không có khả năng tự tài trợ một lượng vốn lớn cho các dự

Trang 2

án nên để khắc phục những khó khăn về vốn, họ cần được cung cấp những khoản vốn vay ngân hàng đặc biệt là vay trung và dài hạn.

Vì vậy, hoạt động cho vay trung và dài hạn có ý nghĩa rất quan trọng đối với

sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và đó cũng chính là một trong những hoạt động quan trọng nhất của các ngân hàng thương mại Những hạn chế, tồn tại trong hoạt động này cũng là sự quan tâm, lo lắng của không chỉ riêng các ngân hàng mà còn là một vấn đề chung của nền kinh tế Bên cạnh sự khuyến khích,

ưu tiên của Nhà nước đối với lĩnh vực đầu tư trung và dài hạn, cần thiết phải có sự nghiên cứu, đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của các khoản vốn vay cũng như các hoạt động cho vay trung và dài hạn, trên cơ sở đó nâng cao chất l-ượng cho vay, hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội

Chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam là một đơn vị hoạt động kinh doanh về nội tệ và ngoại tệ, phần lớn các khoản vay trung và dài hạn ở đây là cho vay nội tệ Do vậy, trước sự biến động của nền kinh tế nước ta, Ngân hàng Nông nghiệp huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam cũng đã gặp phải không ít những khó khăn, vướng mắc và những rủi ro vốn có trong hoạt động cho vay của mình Trong quá trình thực tập tại ngân hàng em đã lựa chọn đề

tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung-dài hạn tại chi nhánh Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam” làm

khóa luận tốt nghiệp

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kết cấu của đề tài được chia làm 3 chương:

 Chương 1: Những vấn đề chung về tín dụng và chất lượng tín dụng trung–dài hạn

 Chương 2 : Thực trạng chất lượng tín dụng trung-dài hạn tại chi nhánh NHN o & PTNT Lý Nhân.

 Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung-dài hạn tại chi nhánh NHN o & PTNT Lý Nhân

Trang 3

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÍN DỤNG TRUNG-DÀI HẠN VÀ CHẤT

Trang 4

hộ một khoản tiền công Khi xã hội phát triển, nhu cầu về tiền ngày càng lớn thì ngân hàng trở thành nơi giữ tiền cho những người có tiền và cung cấp tiền cho những người cần tiền Là trung gian tài chính, ngân hàng huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội và dùng chính tiền đó cho cá nhân và tổ chức vay lại Tín dụng là một trong những hoạt động của ngân hàng, hoạt động này mang lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng.

Thuật ngữ “tín dụng” ra đời cùng với sự xuất hiện tiền tệ Tín dụng xuất phát

từ chữ la tinh là CREDO (tin tưởng, tín nhiệm) Trong thực tế tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau:

Trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ từ người cho vay sang người đi vay

Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên

cơ sở hoàn trả giữa hai chủ thể Ví dụ trong hoạt động thương mại một công ty bán hàng trả chậm cho một công ty khác, như vậy người bán đã chuyển giao hàng hóa cho bên mua và theo thỏa thuận sau một thời gian nhất định bên mua phải trả tiền cho bên bán Hoặc giao dịch giữa ngân hàng với các định chế tài chính khác, với doanh nghiệp và cá nhân thể hiện dưới hình thức cho vay và cũng sau một thời gian nhất định người đi vay phải thanh toán cả gốc và lãi cho ngân hàng

Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay mà các định chế tài chính cung cấp cho khách hàng

Với chức năng cơ bản của ngân hàng, tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính) và bên

đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác) trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán

1.1.2 Đặc trưng của tín dụng ngân hàng.

Quan hệ tín dụng tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế xã hội, nhưng dù vận động ở phương thức nào tín dụng đều mang những đặc trưng sau:

Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản) Khi xã hội phát triển thì hình thức cho thuê cũng phát triển ngày càng mạnh mẽ

Trang 5

Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả - người cho vay phải nhận được tài sản sau một thời gian nhất định từ người đi vay.

Giá trị mà người cho vay nhận được phải lớn hơn giá trị ban đầu mà họ cho vay Chênh lệch này chính là giá nhận được do việc chuyển nhượng quyền sử dụng vốn

Trong quan hệ tín dụng ngân hàng tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện hay quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở tin tưởng giữa người đi vay và người cho vay Cơ sở của sự tin tưởng này có thể là do uy tín của người đi vay, do giá trị tài sản thế chấp hoặc do sự bảo lãnh của người thứ ba

1.1.3 Vai trò của tín dụng

1.1.3.1 Đối với nền kinh tế:

Vai trò quan trọng nhất của tín dụng là cung ứng vốn một cách kịp thời cho các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của các chủ thể kinh tế trong xã hội Từ nguồn vốn đó, các chủ thể mở rộng hoạt động kinh doanh, đưa tiền vào nền kinh tế đẩy mạnh sản xuất và tiêu dùng-hai mắt xích quan trọng của quá trình tái sản xuất và như thế tín dụng ngân hàng đã thúc đẩy sản xuất phát triển

Một hệ thống các hình thức tín dụng đa dạng không những thỏa mãn nhu cầu

đa dạng về vốn của nền kinh tế mà còn làm cho sự tiếp cận các nguồn vốn tín dụng trở nên dễ dàng, tiết kiệm chi phí giao dịch và giảm bớt các chi phí nguồn vốn cho các chủ thể kinh doanh

Việc mở rộng và nâng cao hiệu quả các hình thức tín dụng sẽ tạo sự chủ động cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh khi

nó không phải phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn tự có của bản thân Điều này giúp cho các nhà sản xuất tích cực tìm kiếm cơ hội đầu tư mới và nâng cao năng lực sản xuất của xã hội

Khi nền kinh tế có những thay đổi, thông qua việc điều chỉnh các điều kiện tín dụng, Nhà nước có thể thay đổi quy mô tín dụng hoặc chuyển hướng vận động của nguồn vốn tín dụng nhờ đó mà ảnh hưởng đến tổng cầu của nền kinh tế cả về quy mô cũng như kết cấu Sự thay đổi của tổng cầu dưới tác động của chính sách tín dụng sẽ tác động ngược lại tới tổng cung và các điều kiện sản xuất khác

1.1.3.2 Đối với các tổ chức tín dụng.

Ngày nay, mặc dù các ngân hàng đã mở rộng các hoạt động như tư vấn, bảo lãnh…nhưng hoạt động tín dụng vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong toàn bộ các hoạt động của ngân hàng và là hoạt động sinh lời chủ yếu của các ngân hàng đó Bản thân

Trang 6

ngân hàng sẽ tìm kiếm được lợi nhuận từ chệnh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi Lợi nhuận này chính là cơ sở để tồn tại và phát triển của ngân hàng.

1.1.4 Phân loại tín dụng

1.1.4.1 Phân loại theo mục đích vay vốn

Theo căn cứ này thì tín dụng được chia ra các loại sau:

- Cho vay bất động sản: là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây

dựng bất động sản như nhà ở, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp , thương mại

và dịch vụ Đối với loại hình cho vay này ngân hàng được đảm bảo bằng chính tài sản thực: đất đai, nhà cửa và các công trình khác

- Cho vay công nghiệp và thương mại: là loại cho vay ngắn hạn để bổ

sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ

- Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như

phân bón, thuốc trừ sâu, giống vật nuôi cây trồng cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu

- Cho vay các định chế tài chính: là việc cấp tín dụng cho các ngân hàng,

công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các định chế tài chính khác

- Cho vay cá nhân: là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng của cá

nhân như nhà ở, ô tô và các vật dùng thiết yếu khác

- Cho thuê: bao gồm cho thuê vận hành và cho thuê tài chính Tài sản cho

thuê bao gồm bất động sản và động sản mà chủ yếu là máy móc, thiết bị Đây là nghiệp vụ mà ngân hàng đảm nhận việc thanh toán tiền mua máy móc, thiết bị và giữ quyền sở hữu máy móc, thiết bị đó còn người đi thuê được quyền lựa chọn thiết

bị phù hợp với nhu cầu kinh doanh và lắp đặt tại nơi tiến hành hoạt động kinh doanh của mình trong suốt thời gian thuê Kết thúc hợp đồng thuê, ngân hàng sẽ nhận được tiền từ người đi thuê, bên đi thuê có thể mua lại tài sản đó theo giá bán được định trước khi kí kết hợp đồng thuê

1.1.4.2 Phân loại theo mục đích tín nhiệm: tín dụng gồm có hai loại

Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở bảo đảm như thế chấp

hoặc cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba Đối với khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có tài sản đảm bảo Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thu thứ hai, bổ sung cho nguồn

nợ thứ nhất thiếu chắc chắn

Trang 7

Cho vay không có bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm

cố hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba Việc cho vay này dựa trên uy tín của khách hàng Với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, khả năng tài chính mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cho vay mà không cần nguồn thu

nợ bổ sung

1.1.4.3 Phân loại theo xuất xứ tín dụng

Dựa vào căn cứ này tín dụng chia làm hai loại

- Cho vay trực tiếp: đây là việc ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu

cầu đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng

- Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại

các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán Loại cho vay này gồm có chiết khấu thương phiếu, mua các phiếu bán hàng và nghiệp

vụ bao thanh toán

1.1.4.4 Phân loại theo phương pháp hoàn trả

Gồm có cho vay có thời hạn và cho vay không có thời hạn cụ thể

- Cho vay có thời hạn: là loại cho vay có thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ thể

theo hợp đồng Loại cho vay này gồm các loại sau:

 Cho vay chỉ có một kì hạn trả nợ là loại cho vay thanh toán một lần theo thời hạn đã thỏa thuận

 Cho vay có nhiều kì hạn trả nợ cụ thể (cho vay trả góp) là loại cho vay mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kì

 Cho vay hoàn trả nợ nhiều lần nhưng không có kì hạn nợ cụ thể, việc trả

nợ phụ thuộc vào khả năng tài chính của người đi vay Với loại cho vay này khách hàng có thể trả nợ trước hạn, nhưng ngân hàng được quyền thu lãi toàn bộ kì hạn trả

nợ theo hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

- Cho vay không có thời hạn cụ thể: ngân hàng có thể yêu cầu hoặc người đi

vay tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lí, thời gian này có thể thỏa thuận trong hợp đồng

1.1.4.5 Phân loại theo thời hạn cho vay: gồm ba loại

- Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng, được sử dụng

để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân

- Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng

- Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 60 tháng.

Trang 8

1.2 Tín dụng trung – dài hạn

1.2.1 Khái niệm tín dụng trung – dài hạn

Tín dụng trung-dài hạn là các khoản cho vay có thời gian trên 1 năm, nhưng không dài hơn thời gian khấu hao cần thiết của tài sản hình thành từ vốn vay Việc phân chia cụ thể tín dụng trung-dài hạn tuỳ thuộc vào qui định của mỗi quốc gia Theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam các khoản tín dụng

có thời gian từ trên 1-5 năm được gọi là tín dụng trung hạn Các khoản trên 5 năm được gọi là tín dụng dài hạn Đối tượng tín dụng trung dài hạn rất đa dạng, phong phú Ngân hàng có thể cho vay nhiều đối tượng khác nhau mà pháp luật không cấm

Trong tín dụng trung-dài hạn là các công trình, hạng mục dự án đầu tư, mua sắm tài sản cố định nâng cấp hạ tầng cơ sở của các đơn vị kinh tế, nhà nước hay cá nhân có luận chứng kinh tế tốt, xác thực có tính khả thi cao, những khoản cho vay dài hạn thường được thực hiện cho vay với khách hàng là doanh nghiệp nhà nước

để đầu tư những dự án lớn công trình trọng điểm quốc gia, những dự án quy mô lớn như nhà máy thuỷ điện, nhiệt điện công trình giao thông, cơ sở hạ tầng hay lĩnh vực mũi nhọn nền kinh tế Các khoản tín dụng dài hạn thường được áp dụng phương pháp giải ngân và trả nợ nhiều lần

1.2.2 Vai trò tín dụng trung–dài hạn đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Thứ nhất: Vốn trung và dài hạn tạo điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng

của thị trường vốn ngắn hạn do những khoản trung và dài hạn đã thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, tạo năng lực sản xuất mới với chu kỳ ngắn hơn Do đó, những yêu cầu về các khoản vốn vay ngắn hạn cho việc đảm bảo vốn lưu động như mua sắm nguyên vật liệu, tiền lương tăng lên Đồng thời các khoản thu nhập tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất cũng tăng lên, chu kỳ sản xuất ngắn lại làm cho chu kỳ các khoản phải thu cũng ngắn lại Đây là những cơ sở cần thiết để thị trường vốn ngắn hạn được mở rộng, đáp ứng nguồn vốn lưu động cho các thành phần kinh

tế, mở rộng và nâng cao quá trình sản xuất kinh doanh

Thứ hai: Hoạt động tín dụng trung-dài hạn tạo điều kiện phát triển các quan

hệ kinh tế đối ngoại: trong điều kiện hiện nay, sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn gắn liền với thị trường thế giới Các hoạt động tín dụng trung-dài hạn đã trở thành nhịp cầu nối liền quan hệ kinh tế giữa các quốc gia với nhau bằng các kinh doanh cho vay quốc tế như: các hình thức giữa các chính phủ, giữa các cá nhân với

Trang 9

chính phủ, giữa cá nhân với cá nhân, các hình thức tài trợ, cho vay không hoàn lại của chính phủ các nước.

Thứ ba: Tín dụng trung-dài hạn là hình thức đầu tư chiều sâu, là hình thức

cung cấp vốn cho các doanh nghiệp, các hộ sản xuất mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật hoặc chuyển giao công nghệ Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp, các hộ sản xuất có điều kiện tái đầu tư, mở rộng sản xuất, nhất là đầu tư mở rộng phát triển kinh tế Hơn nữa, những khoản vay trung và dài hạn tạo động lực thúc đẩy các doanh nghiệp luôn tìm cách nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh bằng các hình thức tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường Được sự

hỗ trợ nguồn vốn trung-dài hạn, không những doanh nghiệp sẽ đứng vững, củng cố

vị trí trên thị trường truyền thống mà còn dựa vào thế mạnh đó mở rộng thị trường mới, hạn chế rủi ro và tăng thu nhập

Thứ tư: Khoản tín dụng trung-dài hạn đã góp phần làm tăng lợi nhuận, tạo

cơ sở mở rộng phạm vi kinh doanh và làm tăng trưởng nguồn vốn cho mỗi Ngân hàng Chính vì vậy, mặc dù những khoản tín dụng trung-dài hạn thường gặp nhiều rủi ro hơn nhưng vẫn là hoạt động đem lại nguồn lợi nhuận trước mắt và lâu dài lớn nhất, đảm bảo thực hiện mục tiêu lợi nhuận của mỗi ngân hàng

1.2.3 Các loại tín dụng trung–dài hạn.

- Cho vay theo dự án đầu tư

Đây là hình thức cấp tín dụng dựa trên cơ sở dự án sau khi đã xem xét khẳng định tính hiệu quả, tính khả thi của dự án đó Do vậy, công việc của ngân hàng không chỉ đơn thuần là cho vay mà còn thẩm định lại các vấn đề: chi phí sản xuất, giá thành thị trường tiêu thụ, quy trình công nghệ Bởi vì việc quyết định cấp một khoản tín dụng sẽ ràng buộc ngân hàng với người vay một khoảng thời gian dài tùy theo từng dự án cho nên cần phải nghiên cứu một cách nghiêm túc và xem xét kĩ các rủi ro xảy ra Hình thức cho vay theo dự án gồm:

 Tín dụng hợp vốn (cho vay đồng tài trợ)

Cho vay đồng tài trợ là quá trình cho vay của một nhóm tổ chức tín dụng cho một dự án do một tổ chức tín dụng làm đầu mối, phối hợp với các bên tài trợ để thực hiện nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng

Quan hệ tín dụng dưới hình thức đồng tài trợ gồm hai bên tham gia: bên đồng tài trợ và bên nhận tài trợ

Trang 10

Bên đồng tài trợ: tối thiểu phải có từ hai ngân hàng thành viên trở lên, mỗi ngân hàng thành viên là một tổ chức tín dụng hoặc nhiều khi cũng có thể là một chi nhánh của một tổ chức tín dụng được ủy quyền Các ngân hàng thành viên sẽ bàn bạc cùng nhau chọn ra một tổ chức tín dụng làm đầu mối Nhìn chung mọi quan hệ

về tín dụng giữa bên đồng tài trợ và bên nhận tài trợ đều được thông qua tổ chức tín dụng làm đầu mối

Bên nhận tài trợ: thường là một pháp nhân hoặc cá nhân có nhu cầu vay vốn đầu tư cho dự án

có nguồn, trong thời gian hợp đồng có hiệu lực

Trong các doanh nghiệp cổ phần khi có nhu cầu về vốn trung–dài hạn, doanh nghiệp có thể gia tăng việc phát hành cổ phiếu, nhưng cũng có thể vay ngân hàng dưới hình thức tín dụng tuần hoàn, sau đó sử dụng phần lợi nhuận tính trả cho cổ đông để trả nợ, đồng thời tăng vốn góp của cổ đông lên Thực chất đây là một hình thức cải biến cơ cấu tài chính của doanh nghiệp, chuyển nợ vay ngân hàng thành vốn trung–dài hạn

Doanh nghiệp vay vốn cũng có thể yêu cầu ngân hàng chuyển tín dụng tuần hoàn thành tín dụng trung–dài hạn và thậm chí có thể ra hạn kéo dài nhiều năm với điều kiện có tài khoản đảm bảo cho khoản vay một cách chắc chắn Việc chuyển đổi này thường được diễn ra vào cuối giai đoạn của hợp đồng và điều đó còn phụ thuộc vào mức độ hợp đồng và tình hình tài chính của khách hàng vay vốn

Trang 11

pháp lí đối với thiết bị thuê nên ngân hàng có khả năng nhanh chóng lấy lại thiết bị nếu người đi thuê không tuân thủ theo hợp đồng thuê Tín dụng thuê mua bảo đảm

sử dụng đúng đắn số vốn tài trợ, tỉ lệ sử dụng vốn cao

Đối với người đi thuê: người đi thuê không phải bỏ ngay một số tiền để mua sắm thiết bị nhưng vẫn có thiết bị sử dụng, có thể tiếp cận được công nghệ tiên tiến đồng thời hạn chế được sự lỗi thời nhanh chóng của thiết bị Mô hình tín dụng thuê mua có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển đất nước, tạo điều kiện giúp đỡ những doanh nghiệp không đủ vốn nhưng vẫn có thể thuê được máy móc, thiết bị hiện đại, thúc đẩy việc sản xuất kinh doanh, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm

1.2.4 Nội dung nghiệp vụ tín dụng trung–dài hạn

Khi khách hàng có nhu cầu được cấp tín dụng trước hết ngân hàng tiếp nhận

hồ sơ sau đó tiến hành thẩm định dự án mà khách hàng có nhu cầu vay Việc thẩm định này là cơ sở để quyết định nên hay không nên cấp vốn cho khách hàng Sau khi quyết định cho vay, ngân hàng và khách hàng ký kết hợp đồng cho vay Hợp đồng cho vay phải có nội dung về: điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, cách thức giải ngân và sử dụng vốn vay, phương thức và kỳ hạn trả nợ, hình thức bảo đảm tiền vay giá trị tài sản đảm bảo nợ vay, biện pháp xử lý tài sản làm bảo đảm, và những cam kết khác được các bên thoả thuận

* Nguyên tắc vay vốn

Khách hàng vay vốn của ngân hàng phải bảo đảm các nguyên tắc sau:

- Sử dụng vốn đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng cho vay

- Phải hoàn trả tiền gốc và tiền lãi vay đúng hạn đã thoả thuận trong hợp đồng cho vay

* Điều kiện cho vay

Các pháp nhân là doanh nghiệp Nhà nước, Hợp tác xã, Công ty TNHH, công

ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các tổ chức khác, hộ gia đình, các cá nhân phải có đủ các điều kiện sau:

- Phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật

- Tình hình tài chính kinh tế lành mạnh

- Sử dụng vốn vay đúng mục đích

- Dự án đầu tư khả thi và có hiệu quả, phù hợp với quy định của pháp luật

- Phải có tài sản đảm bảo theo quy định của Ngân hàng Nhà nước

* Mục đích cho vay trun –dài hạn

Trang 12

Cho vay trung-dài hạn nhằm đầu tư vào các dự án có thời gian tương đối dài như mua sắm máy móc thiết bị đổi mới trang thiết bị công nghệ, xây dựng sửa chữa nhà xưởng cơ sở vật chất kỹ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh,và phát triển trong tương lai của khách hàng.

* Nguồn vốn để cho vay:

- Vốn tự có và quỹ dự trữ: Đây là nguồn vốn chủ yếu hình thành nguồn vốn cho vay trung dài hạn của các ngân hàng thương mại góp vốn hoặc tích luỹ trong quá trình kinh doanh Các ngân hàng có vốn lớn sẽ có nhiều ưu thế trong cho vay trung-dài hạn

Ngân hàng có thể huy động vốn từ dân cư dưới hình thức phát hành trái phiếu dài hạn hoặc huy động định kỳ dài hạn để cho vay trung dài-hạn Nguồn vốn này hiện nay rất hạn chế do dân chúng ít người muốn gửi tiền dài hạn vì giá cả thị trường biển đổi không ổn định

- Vốn huy động và đi vay trong nước và nước ngoài có kỳ hạn dưới 01 năm

do Thống đốc NHNO quy định trong từng thời kỳ

- Vốn nhận uỷ thác và vốn tài trợ để cho vay theo chương tình hoặc dự án đầu tư của Nhà nước, của các tổ chức kinh tế-tài chính-cho vay-xã hội ở trong và ngoài nước

* Đối tượng cho vay

Ngân hàng thương mại cho vay các đối tượng:

Các công trình, hạng mục công trình hay dự án đầu tư có thể tính toán được hiệu quả kinh tế trực tiếp, nhanh chóng phát huy tác dụng, đảm bảo thu hồi vốn nhanh Cụ thể đối tượng cho vay trung–dài hạn là:

+ Giá trị máy móc thiết bị

+ Công nghệ chuyển giao

+ Sáng chế phát minh

+ Chi phí nhân công và vật tư

+ Chi phí mua bảo hiểm cho tài sản thuộc dự án đầu tư

+ Chi phí khác

+ Các công trình xây dựng cơ bản mới

+ Công trình xây dựng cải tạ, hay mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh

+ Công trình khôi phụ, thay thế tài sản cố định

+ Cải tiến kĩ thuật hợp lý

Trang 13

Các đối tượng cho vay được ưu tiên theo thứ tự trên cơ sở mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội:

 Theo ngành kinh tế

 Theo yêu cầu mở rộng và phát triển thị trường

 Theo tính chất đầu tư

 Theo khả năng thu hút lực lượng lao động

* Thời hạn cho vay

Thời hạn cho vay tính từ khi bên vay nhận khoản vốn đầu tiên cho đến khi trả hết nợ gốc và lãi

Căn cứ vào chu kỳ sản xuất, kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án, khả năng trả nợ của khách hàng và nguồn vốn cho vay của ngân hàng mà ngân hàng xác định thời hạn vay cho khách hàng Đối với các pháp nhân Việt Nam và nước ngoài, thời hạn cho vay không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép hoạt động tại Việt Nam, với cá nhân nước ngoài thì thời hạn cho vay không quá thời hạn sinh sống, hoạt động tại Việt Nam

Thời hạn cho vay gồm thời hạn ân hạn và thời hạn trả nợ

Thời hạn ân hạn là thời gian kể từ khi công trình, dự án đã hoàn thành, đưa vào sử dụng cho đến khi bên vay bắt đầu trả nợ cho ngân hàng

Thời hạn trả nợ là thời gian kể từ ngày bên vay bắt đầu trả nợ cho đến ngày toàn bộ số nợ được trả hết cho ngân hàng

* Lãi suất cho vay

Về cơ bản, khoản đầu tư có kỳ hạn càng dài thì rủi ro càng lớn, vì thế lãi suất cho vay trung-dài hạn thường cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn Lãi suất cho vay được xác định tuỳ vào dự án, ngành nghề, lĩnh vực đầu tư, chính sách của Mức lãi suất cho vay do ngân hàng nơi cho vay và khách hàng thoả thuận phù hợp với quy định của NHTM về lãi suất cho vay tại thời điểm ký kết hợp đồng cho vay

Lãi suất cho vay có thể được tính theo lãi suất cố định hoặc lãi suất thay đổi theo từng thời kỳ

Lãi suất cố định là lãi suất giữ nguyên không thay đổi trong suất thời kỳ thực hiện hợp đồng Lãi suất thay đổi có thể thay đổi trong thời hạn vay Trong cho vay trung dài hạn phần lớn các ngân hàng sử dụng lãi suất thay đổi để tránh rủi ro cho ngân hàng và người vay khi lãi suất trên thị trường biến động

Trang 14

Ngân hàng phải có trách nhiệm công bố công khai các mức lãi suất cho vay cho khách hàng biết Trường hợp khoản vay bị chuyển sang nợ quá hạn, phải áp dụng lãi suất nợ quá hạn theo mức quy định của Thống đốc NHNO

* Mức cho vay

NHTM nơi cho vay căn cứ vào nhu cầu vốn vay của khách hàng, vốn tự

có của khách hàng tham gia vào dự án, phương án sản xuất, dịch vụ, đời sống; tỷ

lệ cho vay tối đa so với giá trị tài sản bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ, NHNO; khả năng trả nợ của khách hàng và khả năng nguồn vốn của Ngân hàng nơi cho vay để quyết định mức vốn vay, nhưng không vượt quá mức quy định của pháp luật

Hiện này mức cho vay được quy định như sau:

Đối với một khách hàng, tổng dư nợ cho vay không được vượt quá 15% vốn

* Thủ tục xét duyệt cho vay

Bên cạnh những loại hồ sơ do ngân hàng lập (các loại báo cáo thẩm định, các loại thông báo, sổ theo dõi cho vay ), khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng phải lập

và gửi đến ngân hàng các giấy tờ sau:

- Hồ sơ pháp lý khi thiết lập quan hệ vay vốn gồm:

+ Quyết định hoặc giấy phép thành lập doanh nghiệp

+ Điều lệ doanh nghiệp (trừ doanh nghiệp tư nhân)

+ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

+ Giấy chứng nhận vốn đầu tư ban đầu (doanh nghiệp tư nhân)

+ Hồ sơ dự án đối với cho vay trung, dài hạn

+ Các giấy tờ khác cần thiết theo quy định của pháp luật

- Hồ sơ kinh tế:

+ Kế hoạch sản xuất, kinh doanh trong kỳ

+ Bảng cân đối kế toán, kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ liền kề

+ Báo cáo thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh trong kỳ trước liền kề

- Hồ sơ vay vốn (cho mỗi lần vay hoặc một hợp đồng cho vay)

+ Giấy đề nghị vay vốn

Trang 15

+ Dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống.

+ Bản sao hợp đồng mua hàng hoá hoặc báo giá, phiếu nhập kho, các chứng

từ thanh toán (nếu có)

+ Hồ sơ bảo đảm tiền vay theo quy định

Đối với khách hàng đã vay vốn lần đầu, từ lần thứ hai chỉ cần bổ sung các tài liệu có thay đổi

* Thẩm định dự án

Công tác thẩm định tập trung ở hai nội dung sau:

• Thẩm định toàn diện các nội dung của luận chứng kinh tế kỹ thuật, báo cáo kinh tế của các dự án tiền khả thi

• Thẩm định tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp

Sau khi đã nhận bộ hồ sơ gồm luận chứng kinh tế kỹ thuật và các tài liệu liên quan một cách đầy đủ, cán bộ cho vay phải tiến hành thẩm định theo các hoạt động sau:

Phân tích sự cần thiết phải đầu tư:

Với quan điểm mỗi dự án đầu tư là một mắt xích quan trọng trong chương trình phát triển kinh tế của ngành, của vùng lãnh thổ, nên để đạt được mục tiêu đó việc phân tích phải trả lời được các câu hỏi sau:

1/ Dự án có vị trí ưu tiên như thế nào trong quy hoạch phát triển chung?2/ Dự án nếu được đầu tư thì sẽ có những đóng góp gì cho xã hội như tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập và phân phối thu nhập như thế nào cho hợp lý, có tác động tích cực gì đến chất lượng cuộc sống, giáo dục, vấn đề về bảo vệ môi tr-ường có được tính đến hay không?

- Thẩm định về phương diện thị trường:

+ Kiểm tra cân đối cung cầu về sản phẩm của dự án, tuỳ theo phạm vi tiêu thụ sản phẩm ở trong nước hay xuất khẩu thì xét đến:

 Nhu cầu của thị trường, dự báo mức độ gia tăng

 Sản phẩm có khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường về cả khối lượng và chất lượng

 Đánh giá những sản phẩm có khả năng thay thế sản phẩm của dự án trong tương lai, độ bền của nhu cầu sử dụng sản phẩm của dự án

 Khả năng đáp ứng các nguồn cung cấp đầu vào: tính ổn định và thường xuyên của nguồn cung ứng

Trang 16

+ Căn cứ vào khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp về sản phẩm:

• Ưu thế tương đối của sản phẩm do dự án sản xuất về: giá thành, chất lượng, mẫu mã, điều kiện lưu thông và tiêu thụ

• Khả năng và uy tín của doanh nghiệp trong quan hệ thị trường về sản phẩm, kênh phân phối, về khả năng nắm bắt thông tin

• Những con số cụ thể về khả năng tiêu thụ sản phẩm trong quá khứ và tương lai

+ Riêng đối với các sản phẩm xã hội hoặc là các mặt hàng thay thế nhập khẩu thì cần lưu ý đến tính pháp lý của hợp đồng kinh tế và lợi thế so sánh của nguồn khai thác để cung cấp lượng đầu vào thích hợp

+ Vốn xây lắp: thường được tính toán trên cơ sở khối lượng công tác xây lắp

và đơn giá xây lắp tổng hợp

+ Vốn thiết bị: căn cứ vào danh mục thiết bị để kiểm tra giá cả mua và chi phí vận chuyển, bảo quản theo quy định của Nhà nước Đối với những thiết bị được chuyển giao công nghệ thì tính gồm cả chi phí chuyển giao công nghệ

+ Vốn kiến thiết cơ bản khác: cần tính tới nhu cầu vốn lưu động ban đầu và nhu cầu bổ sung vốn lưu động và những khoản mục chi phí cần thiết khác

Dựa trên những tính toán cơ bản thì chủ dự án có trách nhiệm bỏ một phần vốn tự có của mình vào tổng khoản vay và đó được coi là điều kiện cần đảm bảo về

uy tín và độ an toàn của khoản vay trung và dài hạn

♦ Tiến độ bỏ vốn đầu tư: có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt là đối với những công trình có thời gian xây dựng lâu dài, cần thiết phải phân bổ tiến độ bỏ vốn theo chu kỳ thích hợp để tạo điều kiện cho việc điều hành vốn của ngân hàng

♦ Yếu tố mang tính quyết định cho việc lựa chọn cho vay hay không chính

là khả năng sinh lợi của dự án Chính vì vậy, trước khi quyết định bỏ vốn đầu tư, các doanh nghiệp và ngân hàng thường tiến hành thẩm định tính khả thi của dự án qua hai chỉ tiêu:

Giá trị hiện tại ròng của dự án NPV

NPV = ΣPV - ΣV

Trang 17

Trong đó: ΣPV là tổng giá trị hiện tại của thu nhập ròng của dự án

ΣV là tổng vốn đầu tư ban đầu của dự án

Tỷ suất hoàn vốn nội bộ IRR tại đó NPV = 0Một dự án được coi là có tính khả thi khi NPV >0 hoặc IRR lớn hơn lãi suất cho vay, khi đó ngân hàng có thể quyết định cho vay được vì có khả năng thu hồi vốn, có thể trả nợ cho ngân hàng theo đúng hợp đồng quy định

Do điều kiện về thời hạn vay vốn tương đối dài, lượng vốn đầu tư tương đối lớn nên độ rủi ro càng cao, nên công tác thẩm định trở thành phương tiện góp phần nâng cao chất lượng các khoản cho vay đồng thời là cơ sở để đánh giá năng lực phân tích cho vay của các cán bộ ngân hàng

* Trả nợ gốc và lãi: Sau khi tiến hành giải ngân, cán bộ cho vay phải thường

xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn vay có đúng với mục đích xin vay không Nếu thấy khách hàng sử dụng sai mục đích thì phải báo cáo ngay với lãnh đạo để xử lý kịp thời và áp dụng các chế tài đã ghi trong hợp đồng cho vay

Căn cứ vào đặc điểm sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và khả năng tài chính, thu nhập và nguồn trả nợ của khách hàng và khách hàng thoả thuận về việc trả nợ gốc

và tiền lãi vay như sau:

- Khi đến kì hạn trả nợ hoặc đến thời hạn trả nợ nhưng khách hàng không có khả năng trả được nợ thì có thể yêu cầu bằng văn bản đến ngân hàng xin điều chỉnh

kì hạn trả nợ hoặc gia hạn nợ Ngân hàng điều chỉnh kì hạn trả nợ hoặc gia hạn nợ trên cơ sở nguồn vốn của mình và khả năng trả nợ của khách hàng vay:

+ Khách hàng không có khả năng trả nợ đúng kì hạn trong phạm vi thời hạn cho vay đã thoả thuận và ngân hàng đánh giá là có khả năng trả nợ trong các kì hạn tiếp theo thì ngân hàng xem xét điều chỉnh kì hàn trả nợ, toàn bộ số dư nợ vay gốc của khách hàng này được phân loại vào nợ từ nhóm 2 đến nhóm 4

+ Khách hàng không có khả năng trả nợ đúng thời hạn cho vay và được ngân hàng đánh giá là có khả năng trả nợ trong một khoảng thời gian nhất định sau thời hạn cho vay thì ngân hàng xem xét cho gia hạn nợ Thời gian gia hạn nợ tối đa bằng

Trang 18

1/2 thời hạn cho vay đã thoả thuận trong hợp đồng, toàn bộ số dư nợ vay gốc của khách hàng này được phân loại vào các nhóm nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5

- Khi đến kỳ hạn trả nợ hoặc kết thúc thời hạn cho vay, nếu khách hàng không trả được nợ đúng hạn và không được điều chỉnh kì hạn trả nợ hoặc gia hạn

nợ phải chuyển khoản vay đó sang nợ quá hạn

Trường hợp khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, bị chấm dứt việc cho vay, ngân hàng phải thực hiện thu hồi nợ trước hạn đã cam kết trong hợp đồng, chuyển sang nợ quá hạn Xác định nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó, có biện pháp xử lý kịp thời, đôn đốc khách hàng trả nợ hoặc có thể phát mại tài sản thế chấp, cầm cố để thu hồi nợ

Nếu hết hạn hợp đồng cho vay khách hàng đã thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi thì cán bộ cho vay cùng khách hàng thanh lý hợp đồng cho vay

1.3 Chất lượng tín dụng trung –dài hạn

1.3.1 Khái niệm chất lượng tín dụng

Bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển phải không ngừng nâng cao chất lượng kinh doanh hay nói cách khác tiêu chuẩn để đánh giá hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp nào đó suy cho cùng là đánh giá hiệu quả của nó như thế nào? Mang lại lợi nhuận gì cho doanh nghiệp cũng như phúc lợi xã hội Đã có

một định nghĩa về chất lượng như sau: “ chất lượng là tổng thể các chỉ tiêu, những đặc trưng của nó, thể hiện được sự thỏa mãn nhu cầu trong những biểu hiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng của sản phẩm mà người tiêu dùng mong muốn”.

Sản phẩm dịch vụ ngân hàng là vấn đề vô cùng phong phú, phức tạp do tính

đa dạng của hoạt động kinh doanh ngân hàng Về cơ bản, một sản phẩm do một tổ chức cung cấp phải có khả năng thỏa mãn một nhu cầu nào đó của khách hàng Sản phẩm ngân hàng mang nhiều đặc điểm khác với các sản phẩm của các ngành công nghiệp: tính vô hình, tính không thể tách biệt, tính không ổn định và khó xác định nên việc xác định chất lượng tín dụng ngân hàng là rất khó Theo quan điểm trên thì

có thể hiểu khái niệm chất lượng tín dụng như sau: chất lượng tín dụng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng, phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại, phát triển của các ngân hàng thương mại

+ Dưới góc độ là ngân hàng thương mại: chất lượng tín dụng là các khoản tín dụng được đảm bảo an toàn, sử dụng đúng mục đích, phù hợp với chính sách tín dụng của ngân hàng, hoàn trả gốc và lãi đúng thời hạn, đem lại lợi nhuận cho ngân

Trang 19

hàng với chi phí nghiệp vụ thấp, tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường, làm lành mạnh các quan hệ kinh tế, phục vụ tăng trưởng và phát triển của ngân hàng.

+ Dưới góc độ là khách hàng: chất lượng tín dụng là các khoản tín dụng đáp ứng được các nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất về lãi suất, kì hạn, với hình thức giải ngân và thu nợ phù hợp với chu kì sản xuất kinh doanh của khách hàng, thủ tục đơn giản thuận tiện, thái độ phục vụ của các nhân viên ngân hàng nhiệt tình, chuyên nghiệp

+ Dưới góc độ nền kinh tế: khoản tín dụng có chất lượng là các khoản tín dụng góp phần thúc đẩy công cuộc công nghiệp hóa- hiện đại hóa, công cuộc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh, tiêu dùng hợp pháp, góp phần phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hóa, giải quyết công ăn việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng của đất nước

Chất lượng tín dụng trung–dài hạn là chất lượng của các khoản tín dụng có thời hạn trên một năm Do những đặc điểm của tín dụng trung – dài hạn là thời gian dài, rủi ro lớn, lợi nhuận cao nên việc mở rộng tín dụng trung – dài hạn luôn phải đi kèm với việc nâng cao chất lượng tín dụng trung – dài hạn để đảm bảo thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng, phù hợp với chính sách tín dụng của ngân hàng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung–dài hạn

- Doanh số cho vay và tốc độ tăng trưởng của doanh số cho vay tín dụng trung- dài hạn

Doanh số cho vay biểu hiện quy mô tuyệt đối của hoạt động tín dụng dài hạn, tốc độ tăng doanh số cho vay thể hiện khả năng mở rộng quy mô cho vay trung - dài hạn qua các thời kì Doanh số cho vay lớn và tốc độ tăng nhanh cho thấy khả năng mở rộng tín dụng trung–dài hạn của ngân hàng tốt, sản phẩm tín dụng của ngân hàng có sức cạnh tranh cao và thu hút được nhiều khách hàng

trung Dư nợ tín dụng trung–dài hạn: đây là chỉ tiêu mang tính chất thời điểm phản

ánh số tiền mà ngân hàng đã giải ngân cho khách hàng nhưng chưa thu hồi do khoản vay chưa đến hạn thanh toán hoặc khoản vay đang bị nợ quá hạn

Xét chỉ tiêu:

Tỉ lệ dư nợ tín dụng trung–dài hạn Dư nợ cho vay trung–dài hạn

Tổng dư nợ cho vay

Trang 20

Tỉ lệ dư nợ tín dụng trung-dài hạn cho biết tỉ trọng dư nợ cho vay trung–dài hạn so với tổng dư nợ cho vay của ngân hàng, phản ánh quy mô của tín dụng trung – dài hạn trong mối tương quan với tín dụng ngắn hạn Tỉ lệ này càng cao chứng tỏ ngân hàng đã chú trọng đến việc mở rộng tín dụng trung–dài hạn Các ngân hàng này đều mong muốn tỉ lệ này cao vì tín dụng trung – dài hạn luôn mang lại lợi nhuận cao hơn so với tín dụng ngắn hạn.

Tỉ lệ dư nợ tín dụng trung–dài

hạn trên tổng tài sản =

Dư nợ tín dụng trung–dài hạn

Tổng tài sảnChỉ tiêu này phản ánh tương quan so sánh về quy mô cho vay trung dài hạn so với tổng tài sản, để đánh giá tính hợp lí trong cơ cấu sử dụng vốn của mình

- Chỉ tiêu thu nợ tín dụng trung–dài hạn

Tốc độ tăng doanh số thu nợ cao chứng tỏ công tác thu nợ của ngân hàng đang được tiến hành rất tốt Doanh số thu nợ cao cũng chứng tỏ các khoản tín dụng của ngân hàng có chất lượng tốt, khách hàng sử dụng vốn có hiệu quả và vấn đề quản lý tín dụng của ngân hàng tốt

Vòng quay vốn tín dụng = Doanh số thu nợ tín dụng trung–dài hạn

Dư nợ trung – dài hạn bình quânChỉ tiêu này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn tín dụng trong một năm hay còn gọi là chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt, phản ánh được số vòng chu chuyển của vốn tín dụng trung – dài hạn (thường là một năm) Hệ số này cao phản ánh khoảng thời gian tồn tại trung bình của các món vay ngắn, sự luân chuyển của vốn trung – dài hạn cao

- Chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận do tín dụng trung- dài hạn mang lại:

Tỉ lệ lợi nhuận hoạt động

tín dụng = Lợi nhuận hoạt động tín dụng trung–dài hạn

Tổng lợi nhuậnChỉ tiêu trên đánh giá tầm quan trọng của tín dụng trung–dài hạn trong hoạt động của ngân hàng Tỉ lệ này cao chứng tỏ lợi nhuận do tín dụng trung–dài hạn mang lại lớn và việc mở rộng quy mô cho vay của tín dụng trung–dài hạn trong cơ cấu tài sản của ngân hàng lớn, chất lượng tín dụng trung–dài hạn ngày càng nâng cao

- Chỉ tiêu đánh giá về nợ quá hạn

Trang 21

Nợ quá hạn là các khoản nợ đến kì hạn trả nợ hoặc hết hạn cho vay vốn cộng thêm thời gian gia hạn( nếu có) mà khách hàng vẫn không trả nợ gốc hoặc lãi hoặc

cả gốc và lãi Nợ quá hạn là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá chât lượng tín dụng của các khoản cho vay Nợ quá hạn càng cao chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng càng kém, ngân hàng đang gặp nhiều rủi ro

Tỉ lệ trên càng thấp càng tốt Tuy nhiên rủi ro trong kinh doanh là không thể tránh khỏi Mặt khác hoạt động của ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất nên các ngân hàng chấp nhận tỉ lệ này ở một mức độ nhất định gọi là giới hạn an toàn

Ngoài ra còn xét đến chỉ tiêu nợ xấu Chỉ tiêu này cho biết trong một đồng cho vay trung–dài hạn thì có bao nhiêu đồng là nợ xấu Chỉ tiêu này càng thấp càng tốt

Nợ xấu từ hoạt động tín dụng trung–dài hạnTổng dư nợ tín dụng trung–dài hạn

1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trung- dài hạn

1.3.3.1 Các nhân tố từ phía khách hàng

Cho vay là nhịp cầu nối giữa hoạt động kinh doanh của ngân hàng với hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng Do đó mỗi biểu hiện tốt hay xấu trong hoạt động của khách hàng sẽ có những ảnh hưởng tương ứng với hoạt động cho vay thông qua cơ chế tác động của mối quan hệ cho vay Với những khách hàng sản xuất kinh doanh có lãi, có xu thế phát triển, có khả năng chiếm lĩnh thị trường và quan hệ cho vay tốt (vay trả nợ sòng phẳng) nhịp cầu nối giữa vay và cho vay thông suốt tạo điều kiện tăng vòng quay vốn cho vay, mở rộng qui mô vốn đầu tư mang lại thu nhập cho ngân hàng cũng như đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Mức độ phù hợp giữa lãi suất ngân hàng với mức lợi nhuận của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân cũng ảnh hưởng đến chất lượng cho vay Do đó lợi nhuận của các ngân hàng thu được từ hoạt động cho vay cũng bị giới hạn bởi mức lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh Nếu như lãi suất tiền vay lớn hơn lợi nhuận thu được từ sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp không có khả năng trả nợ ngân hàng, ảnh hưởng quá trình

Tỉ lệ nợ quá hạn Dư nợ quá hạn tín dụng trung-dài hạn

Tổng dư nợ tín dụng trung–dài hạn

Trang 22

sản xuất của doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung thì lúc này hoạt động cho vay không còn là đòn bẩy thúc đẩy cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phát triển theo đó chất lượng cho vay cũng bị ảnh hưởng.

1.3.3.2 Các nhân tố từ phía ngân hàng

- Khả năng nguồn vốn cho vay

Để tiến hành hoạt động tín dụng ngân hàng cần phải có nguồn vốn Nếu thực hiện theo nguyên tắc là chỉ dùng vốn huy động trung–dài hạn để cho vay trung dài hạn thì các ngân hàng không đủ vốn để đáp ứng được các khoản cho vay trung–dài hạn Trong thực tế ngân hàng có thể sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung – dài hạn nhưng phải tính toán để không ảnh hưởng đến tình hình tài chính của ngân hàng Hiện này Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại được sử dụng tối đa 40% nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung–dài hạn, với tổ chức tín dụng khác là 30% Nếu ngân hàng sử dụng quá quy định trên sẽ xảy ra tình trạng không thanh toán kịp thời cho những khoản huy động ngắn hạn trong khi những khoản vay trung – dài hạn chưa đến hạn và gửi tiền mới thì chưa huy động được Nguồn vốn để cho vay trung–dài hạn của ngân hàng được tạo từ các nguồn sau:

+ Nguồn vốn huy động trung–dài hạn

Đây là nguồn vốn mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và cá nhân trên cơ sở có sự thỏa thuận thời gian rút tiền từ một năm trở lên Khách hàng

cá nhân thường gửi các khoản tiết kiệm với mục đích sinh lời và an toàn tài sản Họ

ít có nhu cầu rút tiền khi đến hạn mà chỉ rút lãi hoặc nhập lãi vào gốc để gửi tiếp nên đây là nguồn vốn khá ổn định Tuy nhiên các khoản gửi tiết kiệm thời gian dài thường chiếm tỉ lệ ít do đó khi cần vốn với số lượng lớn ngân hàng thường phát hành trái phiếu, kì phiếu để huy động vốn

+ Vốn tự có

Nguồn vốn này thuộc sở hữu của ngân hàng Thông thường vốn tự có được

sử dụng để mua sắm tài sản cố định, xây dựng cơ sở vật chất, phần còn lại cùng với vốn bổ sung và lợi nhuận hàng năm của ngân hàng có thể cho vay trung dài hạn

+ Nguồn vốn ngắn hạn

Các ngân hàng hiện nay đều sử dụng một tỉ lệ vốn ngắn hạn để cho vay trung–dài hạn bởi lẽ tại một thời điểm không thể có sự trùng hợp hoàn toàn nguồn vốn và sử dụng vốn ở cả ba yếu tố: số lượng, thời hạn và lãi suất Sử dụng hợp lí nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung–dài hạn cũng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng

Trang 23

- Chính sách tín dụng của ngân hàng

Trong mỗi thời kì khác nhau các ngân hàng có các chính sách tín dụng khác nhau Chính sách tín dụng ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô, số lượng khoản vay, đến các khoản bảo đảm và nhiều yếu tố khác Chính sách cho vay được xây dựng, thực hiện một cách khoa học chặt chẽ, kết hợp hài hoà lợi ích ngân hàng, khách hàng và xã hội thì hứa hẹn một chất lượng cho vay trung-dài hạn tốt Ngược lại nếu xây dựng, thực hiện chính sách cho vay trung-dài hạn không hợp lý, không khoa học thì chắc chắn chất lượng cho vay trung-dài hạn của ngân hàng sẽ không cao thậm chí là rất thấp

- Trình độ đội ngũ cán bộ tín dụng

Trong bất kì lĩnh vực nào con người luôn luôn là yếu tố quan trọng Tín dụng trung–dài hạn là một trong những nghiệp vụ phức tạp nhất trong các khâu nghiệp vụ của ngân hàng, đòi hỏi cán bộ tín dụng phải nắm được đặc thù của mỗi ngành sản xuất kinh doanh Cán bộ tín dụng phải am hiểu về pháp luật, nắm bắt được thông tín thị trường, có khả năng thẩm định tốt để có thể giảm thiểu rủi ro thấp nhất cho ngân hàng Cán bộ tín dụng là người theo sát dự án, phát hiện kịp thời thông tin và

là người chịu trách nhiệm chính của khoản vay cho nên ngân hàng phải chọn lựa những người có năng lực thực sự và phù hợp với chuyên môn của họ

- Chất lượng thẩm định dự án

Khi quyết định cung cấp một khoản vay đặc biệt là vay trung và dài hạn, các ngân hàng bắt buộc phải có sự thẩm định, thông qua đó, có thể đánh giá được tính hợp lý, hiệu quả của dự án đầu từ và đó cũng chính là biện pháp nhằm nâng cao chất lượng các khoản vay Do đặc tính vốn có của những khoản vay trung và dài hạn thường đem lại nhiều rủi ro, khả năng linh hoạt kém nên thông qua công tác thẩm định, có thể đưa ra những quyết định đúng đắn cho vay khối lượng bao nhiêu, thời gian bao lâu, từ đó đảm bảo tính ổn định của khoản vay Nếu việc thẩm định không được tiến hành chặt chẽ thì khả năng xảy ra rủi ro đối với ngân hàng là rất lớn và khoản cho vay sẽ không có hiệu quả cao Do đó các ngân hàng phải có đầy

đủ thông tin về dự án và các lĩnh vực có liên quan Khi cho vay ngân hàng cũng luôn cần thông tin về tình hình thực hiện dự án, về thị trường và các thông tin khác

để có thể phản ứng kịp thời trước những đột biến có thể xảy ra

- Theo dõi, giám sát các khoản tín dụng

Cho dù công tác thẩm định dự án, thẩm định khách hàng tiến hành tốt, dự án

có tính khả thi xong do chưa chắc chắn có được chất lượng cho vay trung - dài hạn

Trang 24

cao Bởi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong suốt thời gian dài luôn chứa đựng rủi ro tiềm ẩn không thể lường trước được Vì vậy công tác theo dõi, giám sát cho vay trung - dài hạn sau khi cho vay có ý nghĩa hết sức quan trọng Hoạt động giám sát chủ yếu về sự tuân thủ đúng mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp, tiến độ trả nợ, quá trình sử dụng bảo quản và biến động tài sản của doanh nghiệp, những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình thực hiện dự án Làm tốt công tác này giúp ngân hàng phát hiện ngăn chặn kịp thời việc sử dụng sai mục đích, âm mưu tẩu tán tài sản, lừa đảo ngân hàng, đồng thời thông qua việc luôn bám sát hoạt động của doanh nghiệp ngân hàng có những biện pháp giúp đỡ doanh nghiệp khi gặp khó khăn để thực hiện dự án đạt hiệu quả cao nhất, góp phần nâng cao chất lượng cho vay trung-dài hạn.

- Những yếu tố thuộc về đạo đức

Ngoài trình độ chuyên môn thì đạo đức nghề nghiệp là một đòi hỏi rất cao đối với cán bộ ngân hàng Nếu cán bộ ngân hàng có tư lợi riêng, họ sẽ liên kết với khách hàng để lừa ngân hàng và làm trái với những quy định của Nhà nước, làm sai quy chế quy định của ngành Vì vậy có thể nói rằng yếu tố đạo đức cũng là một yếu

tố tác động đến chất lượng tín dụng

Ngoài những nhân tố từ phía khách hàng và ngân hàng, chất lượng tín dụng trung-dài hạn còn chịu tác động bởi các nhân tố khác như sự biến động về kinh tế-chính trị-xã hội, những thay đổi trong chính sách quản lí của nhà nước, ảnh hưởng của thiên tai địch họa…

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG-DÀI HẠN TẠI CHI

NHÁNH NHN O & PTNN HUYỆN LÝ NHÂN.

2.1 Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh NHN O & PTNT huyện Lý Nhân.

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Lịch sử ra đời và phát triển của hệ thống Ngân hàng Việt Nam có rất nhiều

thời điểm quan trọng trong đó phải kể đến nghị định 53/HĐBT của hội đồng bộ

Trang 25

trưởng (nay là chính phủ) ban hành ngày 26 tháng 03 năm 1988 Theo đó hệ thống Ngân hàng Việt Nam bao gồm: Ngân hàng Nhà Nước và các Ngân hàng chuyên doanh.

Được thành lập từ sau nghị đinh 53/CP của chính phủ NHNO & PTNT Việt

Nam đã trở thành một trong những NHTM quốc doanh lớn nhất nước ta, bên cạnh các ngân hàng lớn như Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Cho đến nay NHNO & PTNT Việt Nam đã thực sự phát triển với hệ thống các chi

nhánh ngân hàng có mặt rộng khắp trên toàn quốc

NHNO & PTNT huyện Lý Nhân trực thuộc NHNO & PTNT tỉnh Hà Nam Tiền thân của NHNO & PTNT huyện Lý Nhân là một chi nhánh ngân hàng huyện trực thuộc NHNO & PTNT tỉnh cũ là Hà Nam Ninh Đầu năm 1997 tỉnh Hà Nam được thành lập Huyện Lý Nhân thuộc tỉnh Hà Nam, bao gồm một thị trấn và 24 xã NHNO & PTNT huyện Lý Nhân được thành lập năm 1988 theo nghị định 53 /NĐ-HĐBT ngày 26/03/1988 Nhiệm vụ chủ yếu của NHNO & PTNT huyện Lý Nhân là hoạt động kinh doanh tiền tệ tín dụng, dịch vụ ngân hàng trong địa bàn huyện Lý Nhân đối với mọi thành phần kinh tế : Công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, thương mại, và chủ yếu là phục vụ chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn

NHNO & PTNT huyện Lý Nhân đã tập trung vốn đầu tư trong nông nghiệp, tăng năng suất cây trồng, đổi mới cơ cấu nông nghiệp hiện đại hoá nông nghiệp

Từ ngày thành lập đến nay NHNO & PTNT huyện Lý Nhân luôn luôn ổn định và phát triển vững chắc, toàn diện cả về tổ chức bộ máy, nhân sự và chuyên môn nghiệp vụ cụ thể

- Nguồn vốn kinh doanh liên tục tăng qua các năm Trong đó chủ yếu là vốn huy động tại chỗ Vốn huy động được để phục vụ trực tiếp cho các nhu cầu phát triển kinh tế xã hội tại địa phương

- Doanh số thu chi tiền mặt qua các năm đều tăng thường xuyên đáp ứng nhu cầu chi tiêu tiền mặt cho các tổ chức kinh tế và dân cư trên địa bàn

- Từ ngày được thành lập NHNO & PTNT huyện Lý Nhân liên tục kinh doanh có lãi đảm bảo hệ thống lương tháng, năm theo quy định Đời sống cán bộ công nhân viên trong cơ quan luôn ổn định và từng bước được cải thiện cả về mặt vật chất và tinh thần Làm tròn nghĩa vụ đối với ngân hàng cấp trên và đối với Ngân sách Nhà Nước

Trang 26

- Cơ sở vật chất kỹ thuật lúc mới thành lập còn nghèo nàn và chưa phù hợp với hoạt động ngân hàng trong thời kỳ đổi mới Đến nay NHNO & PTNT huyện Lý Nhân đã được xây dựng bề thế, khang trang, nâng cấp các thiết bị phương tiện đáp ứng được mọi hoạt động trực tiếp, gián tiếp liên quan tới nghiệp vụ của ngân hàng Từng bước hiện đại hoá công nghệ ngân hàng Có thể nói quá trình xây dựng và phát triển của NHNO & PTNT huyện Lý Nhân là quá trình phát triển vững chắc, ổn định và toàn diện.

2.1.2 Cơ cấu tổ chức.

NHNO & PTNT huyện Lý Nhân có trụ sở giao dịch chính đóng trên địa bàn thị trấn Vĩnh Trụ- huyện Lý Nhân Mạng lưới hoạt động từ 5 đến 6 xã có một phòng giao dịch, hoạt động phục vụ cho khách hàng có nhu cầu giao dịch

NHNO & PTNT huyện Lý Nhân gồm 1 người là Giám đốc ngân hàng loại 3

và 2 người là Phó giám đốc tham mưu cho Giám đốc và trực tiếp điều hành bộ phận

kế toán tiền tệ, kho quỹ, bộ phận tín dụng

Trang 27

Có 3 phòng giao dịch gồm có: 3 người là Trưởng phòng, 3 người là Phó phòng, 3 người là Thủ quỹ, 8 người Kế toán, 15 người làm Tín dụng Về trình độ chuyên môn: có 53% số người có trình độ đại học, số còn lại là cao đẳng và trung cấp.

2.1.3 Hoạt động của chi nhánh trong những năm gần đây.

2.1.3.1 Công tác huy động vốn và sử dụng vốn

* Tình hình huy động vốn

Ngân hàng là một trung gian tài chính, hoạt động dựa trên nguyên tắc đi vay

để cho vay Quy mô nguồn vốn huy động ảnh hưởng lớn đến quy mô và phạm vi hoạt động của chính bản thân ngân hàng Một nguồn vốn có cơ cấu hợp lý, chi phí huy động thấp sẽ tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng và nâng cao hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Trang 28

Bảng 2.1: Cơ cấu nguồn vốn huy động tại NHN O & PTNT HUYỆN Lý Nhân.

Đơn vị: triệu đồng

Chỉ tiêu

Năm 2006 Năm 2007

So sánh 2007/2006 Năm 2008 So sánh 2008/2007

Số tiền

Tỷ trọng ( % ) Số tiền

Tỷ trọng ( % ) Số tiền (%) Số tiền

Tỷ trọng ( % )

Trang 29

Với lợi thế là ngân hàng chủ lực trên địa bàn, NHN0& PTNT huyện Lý Nhân

đã tận dụng được mọi nguồn vốn huy động Nhìn chung nguồn vốn huy động qua các năm đều có xu hướng tăng Năm 2007 tổng nguồn vốn huy động là 307.059 triệu đồng tăng 38.558 triệu đồng, với tỉ lệ tăng là 14,36% so với năm 2006, vượt kế hoạch 4,36% (kế hoạch đặt ra là tăng 10% so với năm 2006) Đến cuối năm 2008 tổng nguồn vốn huy động là 322.696 triệu đồng, tăng 15.637 triệu so với năm 2007, tương ứng với tỉ lệ tăng là 5,09% Mặc dù nguồn vốn huy động tăng nhưng tốc độ tăng lại giảm dần Nguyên nhân là năm 2008 tỉ lệ lạm phát cao (giá tiêu dùng bình quân năm 2008 so với năm 2007 tăng 22,97%) đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng

Trong tổng nguồn vốn huy động thì tiền gửi của các tổ chức kinh tế và dân

cư luôn chiếm tỉ lệ cao nhất Năm 2006 tỉ lệ này là 73,25%, năm 2007 là 75,98% và năm 2008 tỉ lệ này là 73,4% Nguồn vốn này nhìn chung cũng có xu hướng tăng nhưng tốc độ tăng cũng giảm: năm 2007 tăng 18,63% so với năm 2006 nhưng năm

2008 chỉ tăng 1,51% so với năm 2007 Ngay từ cuối năm 2007 đã có những dấu hiệu của khủng hoảng kinh tế và lạm phát gia tăng vì vậy các tổ chức kinh tế cũng như người dân ngần ngại khi gửi tiền vào ngân hàng bên cạnh đó giá vàng liên tục tăng nên người dân sẵn sàng rút tiền từ ngân hàng để đầu tư vào vàng Đây chính là những nguyên nhân làm giảm lượng tiền huy động từ các tổ chức kinh tế và dân cư

Kể từ năm 2005, NHNO & PTNT Lý Nhân đã có thêm hình thức huy động vốn mới, phát hành trái phiếu, kỳ phiếu Đây là hình thức huy động thuận tiện và đã đem lại một nguồn vốn huy động ổn định vì người mua không thể rút trước hạn Năm 2007 tỉ lệ tăng so với năm 2006 là 5%, năm 2008 tăng so với năm 2007 là 11,9% Nguồn vốn từ loại hình huy động này có tốc độ tăng lên vì có sự đảm bảo hoàn trả chắc chắn nhất Tuy nhiên đây là hình thức mới vì vậy mà tỉ lệ của nguồn vốn này vẫn chiếm tỉ lệ rất nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động

Trong cơ cấu nguồn vốn huy động thì tiền gửi của tổ chức tín dụng khác biến động mạnh nhất Năm 2007 tăng 37 triệu đồng, với tỉ lệ tăng là 9,05% Năm 2008 giảm 82 triệu với tỉ lệ giảm là 18,39% Đây là ảnh hưởng chính sách thắt chặt tiền tệ của Ngân hàng nhà nước Đầu năm 2008 với quy định tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc, phát hành tín phiếu bắt buộc Ngân hàng nhà nước đã làm cho các ngân hàng gặp khó khăn thanh khoản vì vậy mà lượng tiền gửi của các tổ chức tín dụng tại NHNO & PTNT Lý Nhân giảm

Trang 30

Tiền gửi kho bạc nhà nước chiếm một tỉ lệ khá lớn trong tổng nguồn vốn huy động Năm 2006 là 71.419 triệu đồng, chiếm 26,6%; năm 2007 là 73.296 triệu đồng chiếm 23,87%; năm 2008 là 85.486 triệu đồng, chiếm 26,49% Tiền gửi này đã hỗ trợ cho sự tăng trưởng nguồn vốn, góp phần mở rộng hoạt động kinh doanh đặc biệt

là hoạt động cho vay

Mặc dù phải đối mặt với những khó khăn trong năm 2008 nhưng nguồn vốn huy động của NHNO & PTNT Lý Nhân vẫn đạt được kết quả tương đối tốt Sở dĩ đạt được kết quả trên là sự cố gắng phấn đấu của NHNO & PTNT Lý Nhân tích cực tìm nguồn khơi tăng tiềm năng về vốn, vốn trong dân cư, tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng và các tổ chức khác, đáp ứng nhu cầu về vốn mở rộng hoạt động tín dụng một cách vững chắc chủ động về nguồn vốn tại địa phương Ngân hàng đã tích cực tuyên truyền, quảng cáo, tiếp thị nhằm tăng tính hấp dẫn, thu hút sự chú ý, tạo sự tin tưởng bên vững lâu dài trong lòng dân bởi thương hiệu và uy tín của NHNO & PTNT trên thị trường

So sánh 2007/2006 Năm

2008

So sánh 2008/2007

(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động tín dụng tại NHNO & PTNT Lý Nhân)

Qua bảng số liệu ta thấy tổng dư nợ qua các năm 2006- 2008 đều tăng và tăng mạnh nhất vào năm 2007 Năm 2007 tổng dư nợ tăng 48.404 triệu đồng, tỉ lệ tăng là 28,92% Dư nợ tăng mạnh là do dư nợ ngắn hạn tăng cao Năm 2007 dư nợ ngắn hạn tăng 31.511 triệu đồng, tỉ lệ tăng là 31,12% Dư nợ trung dài hạn tăng 16.893 triệu đồng, tỉ lệ tăng là 25,52% Với nguồn vốn huy động trong năm cao, ngân hàng đã đẩy mạnh hoạt động cho vay để tìm kiếm lợi nhuận Đến cuối năm

2008 dư nợ cho vay 219.089 triệu đồng, tăng 3.306 triệu đồng, tỉ lệ tăng là 1,53%

Trang 31

Tốc độ tăng năm 2008 giảm so với năm 2007, nguyên nhân thứ nhất là do dư nợ ngắn hạn có tăng nhưng tăng chậm (tỉ lệ tăng là 8,38%), bên cạnh đó dư nợ cho vay trung dài hạn giảm (giảm 9,42%) Kết quả này là do nguồn vốn huy động năm 2008 giảm nên khả năng giải ngân của ngân hàng giảm Mặt khác lãi suất cơ bản tăng đã kéo theo lãi suất cho vay tăng cao làm giảm nhu cầu vay của khách hàng.

Biểu 2.1: Tỉ lệ dư nợ tín dụng theo thời gian

Trang 32

2.1.3.2 Kết quả hoạt động kinh doanh.

Bảng 2.3: Kết quả hoạt động kinh doanh

Đơn vị: triệu đồng

Chỉ tiêu Năm

2006

Năm 2007

So sánh 2007/2006 Năm

2008

So sánh 2008/2007

Số tiền (%)

Số tiền (%) Tổng thu nhập 42.943 51.145 8.202 19,10 57.022 5.877 11,49

(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh tại NHNO & PTNT Lý Nhân)

Biểu 2.2: Lợi nhuận của chi nhánh

Qua bảng và biểu đồ ta thấy lợi nhuận của ngân hàng qua các năm có xu hướng tăng Năm 2007 tăng 5.496 triệu đồng so với năm 2006, tỉ lệ tăng là 41,05% Năm 2008 tăng 2.019 triệu đồng, tỉ lệ tăng là 10,69% Lợi nhuận của ngân hàng thu được chủ yếu từ hoạt động tín dụng Năm 2006 thu từ hoạt động tín dụng chiếm 88,54% tổng thu nhập, năm 2007 tỉ lệ này là 87,81%, năm 2008 tỉ lệ này là 85,54% Khủng hoảng kinh tế đã ảnh hưởng đến thu nhập của dân cư làm cho tỉ lệ thu nhập

từ hoạt động tín dụng trong năm 2008 giảm Tuy nhiên thu nhập từ hoạt động dịch

Ngày đăng: 24/03/2015, 13:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Giáo trình quản trị ngân hàng thương mại-Peter Rose- nhà xuất bản tài chính-2001 Khác
6. Tạp chí khoa học và đào tạo ngân hàng -2008 Khác
7. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh chi nhánh NHN O & PTNT huyện Lý Nhân Khác
8. Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN về phân loại nợ , trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng Khác
9. Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN về sửa đổi bổ sung quyết định 493/2005/QĐ-NHNN Khác
10. Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN về các tỉ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng Khác
11. Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN về ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Cơ cấu nguồn vốn huy động tại NHN O  & PTNT HUYỆN Lý Nhân. - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung-dài hạn tại chi nhánh Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam
Bảng 2.1 Cơ cấu nguồn vốn huy động tại NHN O & PTNT HUYỆN Lý Nhân (Trang 28)
Bảng 2.3: Kết quả hoạt động kinh doanh - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung-dài hạn tại chi nhánh Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam
Bảng 2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh (Trang 32)
Bảng 2.4 : Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung-dài hạn tại chi nhánh Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam
Bảng 2.4 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời (Trang 33)
Bảng 2.5: Dư nợ tín dụng  trung-dài hạn theo thành phần kinh tế - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung-dài hạn tại chi nhánh Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam
Bảng 2.5 Dư nợ tín dụng trung-dài hạn theo thành phần kinh tế (Trang 34)
Bảng 2.6: Dư nợ tín dụng trung–dài hạn theo ngành kinh tế - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung-dài hạn tại chi nhánh Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam
Bảng 2.6 Dư nợ tín dụng trung–dài hạn theo ngành kinh tế (Trang 35)
Bảng 2.7: Doanh số cho vay và thu nợ trung-dài hạn theo thành phần kinh tế - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung-dài hạn tại chi nhánh Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam
Bảng 2.7 Doanh số cho vay và thu nợ trung-dài hạn theo thành phần kinh tế (Trang 37)
Bảng 2.8: Doanh số cho vay và thu nợ trung–dài hạn theo ngành kinh tế - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung-dài hạn tại chi nhánh Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam
Bảng 2.8 Doanh số cho vay và thu nợ trung–dài hạn theo ngành kinh tế (Trang 39)
Bảng 2.9 : Cơ cấu dư nợ quá hạn trung–dài hạn - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung-dài hạn tại chi nhánh Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam
Bảng 2.9 Cơ cấu dư nợ quá hạn trung–dài hạn (Trang 40)
Bảng 2.10 : Tỉ lệ nợ quá hạn và nợ xấu trung-dài hạn - Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung-dài hạn tại chi nhánh Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam
Bảng 2.10 Tỉ lệ nợ quá hạn và nợ xấu trung-dài hạn (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w