Nhiệm vụ của Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư là: a, Làm đầu mối tổ chức thực hiện công tác giám sát tổng thể hoạt động đầu tư trong phạm vi toàn quốc; chủ trì tổ chức thực hiện kiểm tra,
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Vụ GS&TĐĐT : Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư
Bộ KH&ĐT : Bộ Kế hoạch và Đầu tư
BQLDA : Ban quản lý dự án
BNN&PTNT : Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ, cùng với việc gia nhập nhiều tổ chức quốc tế (trong đó quan trọng nhất là việc gia nhập WTO – tổ chức thương mại thế giới), Việt Nam đang dần dần khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế Cơ hội khi Việt Nam có thể giao lưu kinh tế với các nước trên thế giới, đó là phát triển kinh tế để theo kịp các nước khác trên thế giới và khẳng định vị thế của mình và đặc biệt là nước ta có thể thu hút một lượng vốn lớn từ bên ngoài để xây dựng cơ sở vật chất, phát triển đất nước
Đóng góp vào công cuộc phát triển của nền kinh tế, là hoạt động đầu tư phát triển Việc sử dụng nhiều nguồn vốn và lượng vốn lớn, để có thể đạt được hiệu quả đầu tư cao nhất cần phải đảm bảo sử dụng vốn có hiệu quả nhất Điều đó đặt ra yêu cầu cần phải có những biện pháp thích hợp nhằm đánh giá, giám sát các dự án đầu
tư Công tác giám sát, đánh giá dự án đầu tư sẽ là công cụ trợ giúp đắc lực cho nhà nước trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Nội dung chính của chuyên đề thực tập này là chất lượng công tác giám sát, đánh giá đầu tư của cả nước trong thời gian qua
Với các yêu cầu trên, trong đợt thực tập vừa rồi tại Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư, Bộ Kế hoạch và đầu tư, dưới sự hướng dẫn của cô giáo Th.S Hoàng Thị Thu Hà và tập thể cô chú, anh chị trong Vụ GS&TĐĐT đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất để em có thể hoàn thành Chuyên đề thực tập tốt nghiệp này
2 Mục đích, phạm vi, đối tượng nghiên cứu của chuyên đề
Mục đích nghiên cứu: Thông qua chuyên đề tốt nghiệp này em có thể nghiên cứu về công tác quản lý Nhà nước trong việc kiểm tra, giám sát và đánh giá hoạt động đầu tư tổng thể, đầu tư các dự án tại các địa phương, các cơ quan Bộ, ban ngành và các tổng công ty 91 trên cả nước của Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề thực tập này là tình hình quản lý hoạt động giám sát và đánh giá đầu tư của Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư
Phạm vi nghiên cứu của em là các hoạt động giám sát, đánh giá đầu tư của Vụ GS&TĐĐT trong các năm 2006 – 2009 và 6 tháng đầu năm 2010
Trang 53 Phương pháp luận nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu mà em sử dụng là phương pháp duy vật biện chứng, bằng cách tiếp cận từ tổng quát đến cụ thể, áp dụng các phương pháp lựa chọn, tổng hợp tài liệu và số liệu, đối chiếu và từ đó phân tích đánh giá và rút ra kết luận
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp của em “Công tác giám sát, đánh giá đầu tư tại Vụ Giám sát và Thẩm định Đầu tư” gồm 2 nội dung chính, được chia làm 2
Em xin chân thành cảm ơn cô Th.S Hoàng Thị Thu Hà đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em thực hiện đề tài này
Em xin chân thành cảm ơn cô chú và anh chị trong Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư đã tạo mọi điều kiện để em có thể hoàn thành tốt đợt thực tập và chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trang 6CHƯƠNG 1 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ ĐẦU TƯ
TẠI VỤ GIÁM SÁT VÀ THẨM ĐỊNH ĐẦU TƯ
1.1 Tổng quan về Bộ Kế hoạch & Đầu tư và Vụ Giám sát & Thẩm định đầu tư 1.1.1 Bộ Kế hoạch đầu tư.
1.1.1.1 Chức năng, nhiệm vụ.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư được thành lập ngày 1 tháng 11 năm 1995, theo
Nghị định số 75/CP của Chính phủ trên cơ sở hợp nhất Ủy ban Kế hoạch Nhà nước
và Ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư
Trong phiên họp ngày 8 tháng 10 năm 1955, Hội đồng Chính phủ đã quyết định thành lập Ủy ban Kế hoạch Quốc gia và ngày 14 tháng 10 năm 1955, Thủ tướng Chính phủ đã ra Thông tư số 603-TTg thông báo quyết định này
Ủy ban Kế hoạch Nhà nước thành lập ngày 9 tháng 10 năm 1961, theo Nghị định số 158-CP của Hội đồng Chính phủ
Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan của Chính phủ Việt Nam, thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về kế hoạch, đầu tư phát triển và thống kê; quy hoạch phát triển, cơ chế, chính sách quản lý kinh tế chung và một số lĩnh vực cụ thể; đầu tư trong nước, đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài; khu kinh tế, khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu, khu công nghệ cao và các loại hình khu kinh tế khác; quản lý nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và viện trợ phi chính phủ nước ngoài; đấu thầu; thành lập, phát triển doanh nghiệp và khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật
Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội chung của cả nước,
Tham mưu về cơ chế, chính sách quản lý kinh tế chung và một số lĩnh vực cụ thể
Tham mưu về đầu tư trong nước, ngoài nước, khu công nghiệp, khu chế xuất,
Quản lý nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt là ODA), đấu thầu, doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh trong phạm vi cả nước;
Quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản
Trang 7lý của Bộ theo quy định của pháp luật.
1.1.1.2 Cơ cấu tổ chức
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Khối các cơ quan giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước bao gồm:
- Vụ Tổng hợp kinh tế quốc dân
- Vụ Kinh tế địa phương và lãnh thổ
- Vụ Tài chính, tiền tệ
- Vụ Kinh tế công nghiệp
- Vụ Kinh tế nông nghiệp
Bộ trưởng
Thứ trưởng thường Trực
Các thứ
trưởng
Khối đơn vị cơ quan
thực hiện chức năng
nhà nước
Các tổ chức sự nghiệp
Tổng cục thống
kê và các đơn vị trực thuộc
Vụ Giám sát và Thẩm Định đầu tư
Thanh tra Bộ
Cục Đầu
tư nước ngoài
Trang 8- Vụ Kinh tế dịch vụ
- Vụ Kết cấu hạ tầng và đô thị
- Vụ Quản lý các khu kinh tế
- Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư
- Vụ Kinh tế đối ngoại
- Vụ Lao động, Văn hóa, Xã hội
- Vụ Khoa học, giáo dục, Tài nguyên và Môi trường
- Vụ Quản lý quy hoạch
- Vụ Hợp tác xã
- Vụ Pháp chế
- Vụ Tổ chức cán bộ
• Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ Kinh tế - Kế hoạch
- Vụ Thi đua – khen thưởng
- Thanh tra Bộ
- Văn phòng Bộ
- Cục quản lý đấu thấu
• Báo Đấu thầu
- Cục Phát triển doanh nghiệp
- Cục Đầu tư nước ngoài
- Cục Quản lý đăng ký kinh doanh
- Tổng cục Thống kê
1.1.2 Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư.
1.1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ.
Vụ Thẩm định và Giám sát đầu tư được thành lập từ năm 1974, lúc đó Vụ có tên là Văn phòng thẩm tra nhiệm vụ thiết kế và báo cáo kinh tế - kỹ thuật - Ủy ban
Kế hoạch Nhà nước
Trong các năm 1984 – 1985, Vụ có tên là Vụ Xây dựng cơ bản - Ủy ban kế hoạch nhà nước Ngày 12 tháng 5 năm 1992 chuyển thành Vụ Thẩm định thuộc Bộ
Trang 9Kế hoạch và Đầu tư Từ năm 1995 đến 2008 Vụ đổi tên thành Vụ Thẩm định và Giám sát và Đầu tư thuộc Bộ kế hoạch và đầu tư
Theo Nghị định số 116/2008/NĐ-CP ngày 14/11/2008 của Chính Phủ, Vụ Thẩm định và Giám sát và Đầu tư có tên chính thức là Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư cho đến nay
Theo quyết định số 446/QĐ-BKH ngày 08/04/2009 của Bộ Kế hoạch và Đầu
tư về chức năng của Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư: Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong việc giám sát, kiểm tra hoạt động đầu tư; thẩm định, thẩm tra và đánh giá dự án đầu tư
Nhiệm vụ của Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư là:
a, Làm đầu mối tổ chức thực hiện công tác giám sát tổng thể hoạt động đầu
tư trong phạm vi toàn quốc; chủ trì tổ chức thực hiện kiểm tra, đánh giá thực hiện
kế hoạch đầu tư của các Bộ, ngành và địa phương, các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước theo nhiệm vụ của Bộ hoặc do Thủ tướng Chính phủ giao và các dự án do
Bộ Kế hoạch và Đầu tư quản lý thực hiện
b, Phối hợp với các đơn vị trong và ngoài Bộ thực hiện đánh giá tổng thể hoạt động đầu tư của cả nước; kiểm tra, đánh giá hoạt động đầu tư của các Bộ, ngành, địa phương và các dự án đầu tư theo quy định của pháp luật và theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền
c, Chủ trì thẩm định, thẩm tra các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình mục tiêu, đề án phát triển kinh tế - xã hội thuộc trách nhiệm của Bộ
Kế hoạch và Đầu tư trình Thủ tướng Chính phủ; tham gia ý kiến đối với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, quy hoạch ngành kinh tế thuộc thẩm quyền quyết định của địa phương và các Bộ, ngành; tổ chức thẩm tra, thẩm định các dự án đầu tư, điều chỉnh dự án đầu tư trong nước sử dụng vốn ngân sách nhà nước, đầu tư trong nước theo các hình thức hợp đồng (BOT, BT, BTO), đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, đầu tư ra nước ngoài theo phân cấp của Chính phủ hoặc do Thủ tướng Chính phủ giao và các dự án khác thuộc thẩm quyền quyết định của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư; thực hiện
Trang 10nhiệm vụ Thường trực Hội đồng thẩm định nhà nước về các dự án đầu tư do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm Chủ tịch Hội đồng.
d, Tham gia nghiên cứu, soạn thảo, góp ý kiến các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đầu tư; chủ trì nghiên cứu soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giám sát, thẩm định đầu tư, hướng dẫn về nghiệp vụ giám sát đầu tư, theo dõi, kiểm tra, thẩm định và đánh giá dự án đầu tư; thực hiện các đề án, đề tài nghiên cứu về các lĩnh vực liên quan
e, Tham gia soạn thảo, cung cấp thông tin về các vấn đề có liên quan để xây dựng báo cáo tổng hợp và trang tin điện tử của Bộ
f, Phối hợp với Văn phòng Bộ quản lý và sử dụng phí, lệ phí liên quan đến công tác giám sát, thẩm định, kiểm tra, đánh giá đầu tư theo quy định của Nhà nước
g, Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư giao
1.1.2.2 Cơ cấu tổ chức.
Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư gồm có Vụ trưởng và một số Phó Vụ trưởng Vụ làm việc theo chế độ chuyên viên Biên chế của Vụ do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư quyết định riêng
Tổng số cán bộ của Vụ có người trong đó gồm 5 lãnh đạo ( Vụ trưởng và 4 phó vụ trưởng ) và 16 chuyên viên Vụ Giám sát và Thẩm Định đầu tư có cơ chế hoạt động khá đặc biệt, một cán bộ chuyên viên có thể làm việc cùng một lúc với các vụ phó
Mỗi cán bộ làm việc theo sự phân công của lãnh đạo Vụ, có trách nhiệm thực hiện các công việc, nhiệm vụ theo quy chế chung, quy định của Nhà nước
Trang 11Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức của Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư:
1.2 Một số vấn đề về công tác giám sát và đánh giá đầu tư theo quy định hiện hành của Nhà nước
1.2.1 Quy trình giám sát và đánh giá đầu tư theo quy định của Nhà nước.
(theo Quyết định số 550/QĐ-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Giám sát và đánh giá đầu tư là một hoạt động được tiến hành thường xuyên và liên tục, đối với cơ quan quản lý nhà nước, công tác giám sát và đánh giá đầu tư được tiến hành theo quy trình theo quy định của pháp luật
Quy trình giám sát, đánh giá bao gồm theo dõi, kiểm tra và đánh giá tổng thể đầu tư hoặc dự án đầu tư Cơ quan nhà nước tiến hành theo dõi thường xuyên, kết hợp kiểm tra đột xuất hoặc định kỳ, trên cơ sở đó đánh giá đầu tư
Kế hoạch kiểm tra, đánh giá tổng thể đầu tư tại các Bộ, Ngành, địa phương
do đơn vị nào chủ trì thì Thủ trưởng của đơn vị đó chịu trách nhiệm tổ chức lập và trình lãnh đạo phê duyệt
Phó Vụ Trưởng Phó Vụ Trưởng Phó Vụ Trưởng Phó Vụ Trưởng
Vụ Trưởng Vụ Giám sát
- Các DA Công nghiệp
- Các DA Nông nghiệp
Trang 12Quy trình kiểm tra, đánh giá dự án đầu tư theo quyết định 550/QĐ-BKH được áp dụng cho tất cả các Bộ, ngành và địa phuơng có đơn vị đầu mối thực hiện giám sát và đánh giá đầu tư, trong đó có Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư
Quy trình kiểm tra và đánh giá được thực hiện theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 3: Quy trình kiểm tra, giám sát và đánh giá tổng thể đầu tư:
Lập và trình duyệt kế
hoạch kiểm tra tổng thể đầu tư
Thành lập Đoàn kiểm tra
Các đơn vị nộp hồ sơ và tài liệu
Thực hiện kiểm tra
Thu thập, nghiên
cứu tài liệu
Đến đơn vị tiến hành kiểm tra trên thực tế
Tổng hợp các kết quả kiểm tra và làm báo cáo
Kết thúc cuộc kiểm tra
Trang 13Cụ thể quy trình trên được tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Lập và trình duyệt kế hoạch kiểm tra, đánh giá tổng thể đầu tư
Các cuộc kiểm tra phải dựa vào các căn cứ pháp lý Các căn cứ pháp lý của cuộc kiểm tra là các quy định và quyết định có liên quan đến kế hoạch thanh tra, kiểm tra của Chính phủ, của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch đầu tư
Đối tượng được kiểm tra đầu tư: kiểm tra về tổng thể đầu tư, các quy hoạch, các dự án đầu tư tại các địa phương, các Bộ, ngành và các dự án nhóm A, các dự án đầu tư quan trọng quốc gia…
Nhiệm vụ của cuộc kiểm tra, giám sát: nhằm kiểm tra tổng thể đầu tư và qua
đó đánh giá được các hoạt động liên quan đến quá trình đầu tư
Nội dung kiểm tra:
+ Đối với các Bộ, ngành và địa phương, nội dung kiểm tra: là tình hình hoạt động đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước, những mặt được và chưa được, từ đó đưa ra các nguyên nhân và kiến nghị;
+ Đối với các dự án đầu tư, nội dung kiểm tra là: kiểm tra, đánh giá năng lực của chủ đầu tư; trình tự lập thẩm đinh, thẩm tra dự án; kiểm tra các báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư của chủ đầu tư; các cơ chế chính sách thực hiện,…
Trên cơ sở pháp lý, đối tượng, nhiệm vụ và nội dung kiểm tra, đơn vị lập bảng kế hoạch hoạt động kiểm tra, và bảng dự trù kinh phí thực hiện
Bước 2: Thành lập đoàn kiểm tra, đánh giá
Đoàn kiểm tra gồm 01 lãnh đạo, 01 phó Đoàn, 01 Thư ký và các thành viên Đơn vị chủ trì kiểm tra phát hành văn bản đề nghị các đơn vị liên quan cử đại diện tham gia
Bước 3: Yêu cầu các đơn vị được tiến hành kiểm tra, giám sát nộp báo cáo,
hồ sơ và các tài liệu liên quan
Trước khi tiến hành kiểm tra trên thực tế, đoàn kiểm tra luôn cần thu thập các thông tin liên quan để xác định những nội dung nào cần kiểm tra và đánh giá kỹ, nội dung nào có thể giảm bớt để khi đi vào thực tế có thể đem lại kết quả cao nhất
Bước 4: Thực hiện cuộc kiểm tra.
Đầu tiên là họp đoàn kiểm tra để triển khai kế hoạch kiểm tra với các thành viên trong đoàn
Trang 14Đoàn kiểm tra sẽ tiến hành thu thập và nghiên cứu tài liệu.
Khi thực hiện cuộc kiểm tra, đoàn kiểm tra sẽ đi thực tế các địa bàn đơn vị để thực hiện kiểm tra các nội dung các kế hoạch Các thành viên của đoàn kiểm tra cần tiến hành kiểm tra các nội dung theo kế hoạch được giao ban đầu
Sau khi có số liệu trên thực tế, các thành viện của Đoàn sẽ làm báo cáo kết quả kiểm tra của các mình về nội dung được giao
Trên cơ sở thu thập và nghiên cứu các tài liệu báo cáo và kiểm tra thực tế trên địa bàn, đơn vị, các thành viên của đoàn kiểm tra tổng hợp và hoàn chỉnh báo cáo kiểm tra về các nội dung được phân công
Bước 5: Kết thúc cuộc kiểm tra.
Trưởng đoàn kiểm tra hoàn chỉnh báo cáo về kết quả cuộc kiểm tra trình Lãnh đạo đơn vị chủ trì cuộc kiểm tra và lãnh đạo của đơn vị
Thành viên trong đoàn sẽ thay mặt đoàn kiểm tra thông báo cuộc kiểm tra tới các đơn vị liên quan
Cuối cùng, báo cáo kiểm tra sẽ được lưu trữ hồ sơ tại đơn vị được kiểm tra
và thành phần đoàn kiểm tra, kết thúc đợt kiểm tra
Đối với các kế hoạch kiểm tra tổng thể đầu tư tại các Bộ, ngành, địa phương thì kế hoạch kiểm tra được quy định tại phụ lục 1, phụ lục 2, phụ lục 3 được ban hành kèm theo quyết định 550/QĐ-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
1.2.2 Nội dung giám sát và đánh giá đầu tư theo quy định của Nhà nước.
(Theo Nghị định số 113/NĐ-CP của Chính phủ)
1.2.2.1 Nội dung giám sát và đánh giá đầu tư.
A Giám sát và đánh giá tổng thể đầu tư.
Trước đây hoạt động giám sát, đánh giá đầu tư được thực hiện theo các quy định và nội dung quy định tại thông tư 03/2003/TT-BKH về hướng dẫn công tác giám sát, đánh giá đầu tư, hiện nay công tác này được thực hiện theo nội dung quy định tại Nghị định số 113/2009/NĐ-CP về giám sát, đánh giá đầu tư Nhìn chung cả
2 văn bản đều có cùng nội dung, nhưng Nghị định 113 quy định chi tiết và chính xác về công tác giám sát và đánh giá đầu tư
Giám sát và đánh giá tổng thể đầu tư được thực hiện thông qua theo dõi, kiểm tra và đánh giá tổng thể đầu tư
Trang 15* Theo dõi tổng thể đầu tư
Theo khái niệm mà văn bản Nhà nước quy định, theo dõi tổng thể đầu tư là
“hoạt động thường xuyên và định kỳ cập nhật các thông tin liên quan đến hoạt động đầu tư và việc quản lý đầu tư của các cấp, các ngành và địa phương; tổng hợp, phân tích, đánh giá thông tin và đề xuất các cơ chế, chính sách liên quan đến quản lý đầu tư” Theo dõi tổng thể đầu tư bao gồm các nội dung chính sau:
Đầu tiên là việc cập nhật tình hình ban hành văn bản hướng dẫn các chính sách, pháp luật liên quan đến đầu tư theo thẩm quyền
Tiếp theo đơn vị thực hiện theo dõi tiến hành cập nhật tình hình lập dự án, thẩm định dự án, phê duyệt và quản lý thực hiện các quy hoạch Và sau đó là tiến hành cập nhật tình hình lập, thẩm định phê duyệt và thực hiện các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước
Đơn vị cũng tiến hành cập nhật tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước; tình hình nợ đọng vốn trong đầu tư; tình trạng lãng phí, thất thoát trong đầu tư sử dụng vốn nhà nước
Cùng với việc cập nhật tình hình lập, thẩm định, đơn vị thực hiện theo dõi cũng tiến hành cập nhật tình hình thẩm tra, cấp giấy chứng nhận đầu tư; quản lý thực hiện các dự án đầu tư theo luật đầu tư
Cuối cùng, các cấp, các ngành và địa phương sẽ cập nhật việc tổ chức thực hiện công tác giám sát, đánh giá đầu tư
* Kiểm tra tổng thể đầu tư
Theo khái niệm về kiểm tra tổng thể đầu tư quy định tại các văn bản của Nhà nước: Kiểm tra tổng thể đầu tư là “hoạt động định kỳ theo kế hoạch hoặc đột xuất, nhằm kiểm tra việc chấp hành quy định về quản lý đầu tư của các cấp, các ngành; phát hiện và chấn chỉnh kịp thời những sai sót, yếu kém, bảo đảm việc quản lý đầu
tư đúng quy định của pháp luật; phát hiện và kiến nghị các cấp có thẩm quyền xử lý kịp thời những vướng mắc, phát sinh hoặc việc làm sai quy định về quản lý đầu tư; giám sát việc xử lý và chấp hành các biện pháp xử lý các vấn đề đã phát hiện”
Các cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ thực hiện kiểm tra nội dung của tổng thể đầu tư sẽ thực hiện các nội dung và công tác sau:
Thứ nhất là kiểm tra việc thực hiện các quy định của các văn bản hướng dẫn các chính sách, pháp luật liên quan đến đầu tư
Trang 16Thứ hai, kiểm tra việc lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý thực hiện quy hoạch theo quy định (quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội; quy hoạch phát triển ngành, sản phẩm chủ yếu và các quy hoạch khác có liên quan).
Thứ ba đó là tiến hành kiểm tra việc lâp, thẩm định, phê duyệt và thực hiện các dự án đầu tư sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên
Tiếp theo các đơn vị sẽ thực hiện kiểm tra việc phân bổ và quản lý thực hiện kế hoạch đầu tu sử dụng vốn nhà nước (mục tiêu, đối tượng, mức độ các nguồn vốn và tình hình thực hiện vốn đầu tư; kết quả, hiệu quả đầu tư); tình trạng nợ đọng trong đầu tư; lãng phí, thất thoát trong đầu tư sử dụng vốn nhà nước
Cuối cùng đơn vị kiểm tra tiến hành kiểm tra việc thẩm tra, cấp giấy chứng nhận đầu tư, quản lý thực hiện các dự án đầu tư theo quy định của Luật đầu tư và kiểm tra việc tổ chức thực hiện công tác giám sát, đánh giá đầu tư
* Đánh giá tổng thể đầu tư
Theo quy định tại văn bản của Nhà nước xác định: Đánh giá tổng thể đầu tư là “hoạt động định kỳ theo kế hoạch nhằm phân tích, đánh giá kết quả đầu tư của nền kinh tế, ngành, địa phương; xác định mức độ đạt được so với quy hoạch, kế hoạch trong từng thời kỳ hay từng giai đoạn; phân tích nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả đầu tư cũng như đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư trong kỳ hay giai đoạn kế hoạch sau”
Công tác đánh giá tổng thể đầu tư được các đơn vị đầu mối tại các Bộ, các
Sở Kế hoạch và Đầu tư và các tập đoàn kinh tế thực hiện với 3 nội dung chính sau:
Đầu tiên đó là tiến hành tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và kết quả đầu tư của nền kinh tế theo các chỉ tiêu về quy mô, tốc độ, cơ cấu, tiến độ, hiệu quả đầu tư
Thứ hai, các đơn vị đầu mối sẽ đánh giá mức độ đạt được so với quy hoạch được duyệt, nhiệm vụ kế hoạch hoặc so với mức độ đạt được của kỳ trước
Và cuối cùng các đơn vị sẽ xác định các yếu tố, nguyên nhân ảnh hưởng tới tình hình và kết quả đầu tư; đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư trong kỳ hoặc giai đoạn kế hoạch sau; đánh giá tính khả thi của các quy hoạch, kế hoạch được duyệt
Trong công tác đánh giá tổng thể về quản lý đầu tư tại các Bộ, ngành, địa phương, Tập đoàn kinh tế Nhà nước và tổng công ty 91 của Nhà nước sẽ được thực
Trang 17hiện với 4 nội dung sau:
+ Thực hiện các quy định trong công tác chuẩn bị đầu tư: trình tự lập, thẩm tra, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư; sự phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước trong việc ra quyết định đầu tư
+ Thực hiện các quy định trong quá trình thực hiện đầu tư: quản lý sử dụng đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng, huy động các nguồn vốn, trình tự xây dựng cơ bản (lập, phê duyệt thiết kế, dự toán ), tổ chức đấu thầu và cac quy định cụ thể khác về thực hiện dự án đầu tư
+ Phân tích các nguyên nhân thực hiện tốt và chưa tốt các quy định về quản lý đầu tư ở các Bộ, ngành, địa phương; phát hiện các vấn đề chưa phù hợp với tình hình thực tế và đề xuất các giải pháp xử lý kể cả các kiến nghị bổ xung sửa đổi các quy định hiện hành
B Giám sát và đánh giá dự án đầu tư.
Đối với công tác giám sát, đánh giá dự án đầu tư cũng bao gồm theo dõi dự
án, kiểm tra dự án và đánh giá dự án đầu tư
B1 Giám sát và đánh giá dự án đầu tư sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên.
* Theo dõi dự án đầu tư:
Theo dõi dự án đầu tư theo văn bản của Nhà nước là “hoạt động thường xuyên và định kỳ cập nhật các thông tin liên quan đến tình hình thực hiện dự án; tổng hợp, phân tích, đánh giá thông tin, đề xuất các phương án phục vụ việc ra quyết định của các cấp quản lý nhằm đảm bảo dự án đầu tư thực hiện đúng mục tiêu, đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng và trong khuôn khổ các nguồn lực đã được xác định”
Cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư thực hiện theo dõi các dự án đầu tư với
Tiếp theo đơn vị kiểm tra sẽ phản hồi và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh
Trang 18theo thẩm quyền của đơn vị mình.
Sau đó đơn vị thực hiện theo dõi việc xử lý và chấp hành các biện pháp xử lý của Chủ đầu tư, của người quyết định đầu tư liên quan đến dự án
Trên cơ sở theo dõi, cuối cùng cơ quan quản lý sẽ kịp thời báo cáo và đề xuất các khó khăn, vướng mắc, các vấn đề vượt quá thẩm quyền của mình
* Kiểm tra dự án đầu tư
Theo khái niệm quy định tại các văn bản hiện hành của nhà nước: Kiểm tra
dự án đầu tư là “hoạt động định kỳ theo kế hoạch hoặc đột xuất, nhằm kiểm tra việc chấp hành quy định về quản lý dự án của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan; phát hiện kịp thời những sai sót, yếu kém về quản lý dự án theo quy định của luật pháp; kiến nghị các cấp có thẩm quyền xử lý những vướng mắc, phát sinh,việc làm sai quy định về quản lý dự án; giám sát việc xử lý vàc chấp hành các biện pháp xử
lý các vấn đề đã phát hiện”
Cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư quyết định tổ chức kiểm tra dự án theo
kế hoạch hoặc đột xuất Nội dùng kiểm tra dự án đầu tư của cơ quan quản lý nhà nước bao gồm các nội dung sau:
Thứ nhất đó là việc chấp hành quy định về: lập, thẩm định, phê duyệt dự án; đấu thầu; đền bù giải phóng mặt bằng, tái định cư; sử dụng vốn đầu tư và các nguồn lực khác của dự án; bố trí vốn đầu tư, giải ngân, thanh toán, quyết toán vốn đầu tư; giải quyết các vướng mắc, phát sinh trong quá trình thực hiện đầu tư dự án; nghiệm thu đưa dự án vào hoạt động; quản lý, vận hành dự án; bảo vệ môi trường, sinh thái;
Thứ hai, cơ quan, đơn vị sẽ kiểm tra năng lực quản lý thực hiện dự án của cơ quan trực tiếp quản lý các Chủ đầu tư, Chủ đầu tư, Ban quản lý dự án;
Cuối cùng đơn vị kiểm tra sau khi phát hiện những khó khăn và sai phạm sẽ kiến nghị các cấp có thẩm quyền xử lý kịp thời những khó khăn, vướng mắc và sai phạm đó; đồng thời tiến hành giám sát việc xử lý và chấp hành các biện pháp xử lý các vấn đề đã phát hiện của cơ quan trực tiếp quản lý Chủ đầu tư, Chủ đầu tư, Ban quản lý dự án
* Đánh giá dự án đầu tư.
Đánh giá dự án đầu tư theo văn bản của Nhà nước là “hoạt động định kỳ theo
kế hoạch hoặc đột xuất nhằm xác định mức độ đạt được theo mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể so với quyết định đầu tư dự án hoặc tiêu chuẩn đánh giá quy định của nhà nước
Trang 19tại một thời điểm nhất định”
Các dự án nhóm B trở lên phải thực hiện đánh giá ban đầu và đánh giá kết thúc dự án
Cơ quan quản lý nhà nước thực hiện đánh giá dựa án đầu tư với 3 nội dung chính đó là: đánh giá ban đầu, đánh giá giữa kỳ, đánh giá kết thúc, ngoài ra các đơn
vị còn tiến hành đánh giá tác động và đánh giá đột xuất đối với dự án
Đầu tiên, trong nội dung đánh giá ban đầu sẽ bao gồm:
+ Đánh giá công tác chuẩn bị, tổ chức, huy động các nguồn của dự án, bảo đảm thực hiện dự án đúng mục tiêu, tiến độ đã được phê duyệt;
+ Đánh giá những vướng mắc, phát sinh mới xuất hiện so với thời điểm phê duyệt dự án; những vướng mắc, phát sinh mới do yếu tố khách quan (như môi trường chính sách, pháp lý thay đổi, phải điều chỉnh dự án cho phù hợp với điều kiện khí hậu, địa chất…) hoặc do các yếu tố chủ quan (như năng lực, cơ cấu tổ chức quản lý thực hiện dự án )
+ Đề xuất giải quyết các vấn đề vướng mắc, phát sinh phù hợp với điều kiện thực tế
Thứ hai, đối với công tác đánh giá giữa kỳ sẽ được thực hiện với các nội dung sau:
+ Đánh giá sự phù hợp của kết quả thực hiện dự án so với mục tiêu đầu tư.+ Đánh giá mức độ hoàn thành khối lượng công việc đến thời điểm đánh giá
so với kế hoạch thực hiện dự án được phê duyệt
+ Đề xuất các giải pháp cần thiết, kể cả việc điều chỉnh thiết kế, mục tiêu của dự án (nếu cần)
+ Các bài học kinh nghiệm rút ra từ việc lập, thẩm định, phê duyệt dự án và quản lý thực hiện dự án
Thứ ba, đánh giá kết thúc sẽ được các cơ quan quản lý thực hiện với các nội dung:
+ Đánh giá quá trình chuẩn bị đầu tư dự án
+ Đánh giá quá trình thực hiện dự án: hoạt động quản lý thực hiện dự án; kết quả thực hiện các mục tiêu của dự án; các nguồn lực đã huy động cho dự án; các nguồn lực đã huy động cho dự án; các lợi ích do dự án mang lại cho những người
Trang 20thụ hưởng và những người tham gia; các tác động của dự án; tính bền vững và các yếu tố bảo đảm tính bền vững của dự án.
+ Các bài học rút ra sau quá trình thực hiện dự án và đề xuất các khuyến nghị cần thiết
Thứ tư, đối với đánh giá tác động sẽ được thực hiện sau khi dự án đã đi vào hoạt động, và bao gồm các nội dung:
+ Đánh giá thực trạng kinh tế – kỹ thuật vận hành của dự án
+ Đánh giá tác động kinh tế – xã hội của dự án
+ Đánh giá tác động môi trường sinh thái của dự án
+ Đánh giá tính bền vững của dự án
+ Các bài học thành công và thất bại của các khâu thiết kế – thực hiện – vận hành dự án
Ngoài ra, công tác đánh giá dự án đầu tư sẽ còn thực hiện đánh giá đột xuất đối với một số dự án đầu tư, tức là không phải dự án đầu tư nào cũng thực hiện nội dung đánh giá này Nội dung đánh giá đột xuất bao gồm:
+ Xác định tình trạng và bản chất những phát sinh ngoìa dự kiến
+ Xác định các ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của những phát sinh đến việc thực hiện dự án, khả năng hoàn thành các mục tiêu của dự án
+ Kiến nghị các biện pháp can thiệp, cơ quan thực hiện và thời gian hoàn thành
B2 Giám sát và đánh giá dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn khác.
Dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn khác là dự án đầu tư không sử dụng vốn nhà nước hoặc có thành phần vốn nhà nước tham gia nhỏ hơn 30% tổng mức đầu tư của dự án
* Theo dõi dự án đầu tư:
Theo dõi dự án đầu tư là nội dung đầu tiên của công tác giám sát dự án đầu
tư của cơ quan nhà nước Theo dõi dự án đầu tư theo văn bản của Nhà nước là “hoạt động thường xuyên và định kỳ cập nhật các thông tin liên quan đến tình hình thực hiện dự án; tổng hợp, phân tích, đánh giá thông tin, đề xuất các phương án phục vụ việc ra quyết định của các cấp quản lý nhằm đảm bảo dự án đầu tư thực hiện đúng mục tiêu, đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng và trong khuôn khổ các nguồn lực đã được xác định” Công tác này bao gồm các nội dung chính, đó là:
Trang 21Thứ nhất, đó là tiến hành theo dõi tình hình thực hiện chế độ báo cáo của chủ đầu tư
Thứ hai, cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư sẽ tổng hợp tình hình thực hiện dự án đầu tư
Thứ ba, cơ quan quản lý sẽ tiếp tục tổng hợp tình hình thực hiện các yêu cầu về bảo vệ môi trường, sử dụng đất đai, sử dụng tài nguyên khoáng sản của các dự án đầu tư
Trên cơ sở theo dõi các nội dung trên, cơ quan quản lý sẽ thực hiện phản hồi và xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh theo thẩm quyền
Sau đó, cơ quan quản lý nhà nước sẽ theo dõi việc xử lý và chấp hành các biện pháp xử lý của Chủ đầu tư và người có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đầu tư
Khi có các vấn đề phát sinh ngoài thẩm quyền của đơn vị mình, các cơ quan
sẽ báo cáo kịp thời và đề xuất các phương án xử lý các khó khăn, vướng mắc, các vấn đề vượt quá thẩm quyền
* Kiểm tra dự án đầu tư :
Theo các văn bản quy định của Nhà nước: Kiểm tra dự án đầu tư là “hoạt động định kỳ theo kế hoạch hoặc đột xuất, nhằm kiểm tra việc chấp hành quy định
về quản lý dự án của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan; phát hiện kịp thời những sai sót, yếu kém về quản lý dự án theo quy định của luật pháp; kiến nghị các cấp có thẩm quyền xử lý những vướng mắc, phát sinh,việc làm sai quy định về quản
lý dự án; giám sát việc xử lý vàc chấp hành các biện pháp xử lý các vấn đề đã phát hiện”
Cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư thực hiện kiểm tra các dự án sử dụng nguồn vốn khác theo kế hoạch hoặc đột xuất với các nội dung chính sau:
Đầu tiên, đó là kiểm tra sự phù hợp của dự án với các quy hoạch liên quan như quy hoạch của địa phương, quy hoạch vùng, quy hoạch ngành và quy hoạch toàn nền kinh tế
Thứ hai, cơ quan quản lý sẽ tiến hành kiểm tra tiến độ thực hiện dự án có đúng với nội dung đã được phê duyệt không
Tiếp theo, các cơ quan này sẽ kiểm tra việc thực hiện các yêu cầu về bảo vệ môi trường, sử dụng đất đai, sử dụng tài nguyên khoáng sản của dự án
Sau đó, kiểm tra việc thực hiện các chính sách, chế độ quy định của Nhà nước, của ngành và địa phương áp dụng cho dự án
Trang 22Cuối cùng cơ quan quản lý về đầu tư sẽ kiểm tra việc thực hiện các nội dung quy định của dự án, của chủ đầu tư tại Giấy chứng nhận đầu tư.
Trên cơ sở các nội dung kiểm tra trên, cơ quan quản lý nhà nước sẽ kịp thời phát hiện và kiến nghị các cấp có thẩm quyền xử lý những khó khăn, vướng mắc và sai phạm trong quá trình thực hiện dự án; đồng thời các cơ quan này sẽ thực hiện giám sát việc xử lý và chấp hành các biện pháp xử lý các vấn đề đã phát hiện
Việc thực hiện đánh giá dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn khác của cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư chỉ được thực hiện khi cần thiết và phải phù hợp với yêu cầu về quản lý hoạt động đầu tư
1.2.2.2 Báo cáo về giám sát và đánh giá đầu tư theo quy định của nhà nước.
a, Chế độ báo cáo.
Bộ Kế hoạch đầu tư báo cáo với Thủ tướng Chính phủ về đánh giá tổng thể đầu tư hàng năm và từng thời kỳ kế hoạch, theo yêu cầu của Chính phủ; tổng hợp báo cáo về giám sát tổng thể đầu tư, trong đó bao gồm nội dung báo cáo tổng hợp giám sát, đánh giá dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A trong phạm vi toàn quốc 6 tháng và cả năm
Các Bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế nhà nước và Tổng công ty 91 của nhà nước sẽ định kỳ báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư về giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư 6 tháng và cả năm để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính Phủ Các đơn vị trực thuộc Bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện chế độ báo cáo thường xuyên theo quy định của các Bộ, ngành và địa phương,
Chủ đầu tư các dự án sử dụng 30% vốn Nhà nước trở lên:
• Báo cáo tháng cho người có thẩm quyền quyết định đầu tư;
• Báo cáo quý, 6 tháng và năm cho cơ quan chủ quản của mình;
• Báo cáo giám sát đầu tư khi điều chỉnh dự án cho người có thẩm quyền quyết định đầu tư và cơ quan đầu mối thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư thuộc cơ quan chủ quản của mình
Chủ đầu tư dự án quan trọng quốc gia và dự án nhóm A ngoài việc lập và gửi báo cáo giám sát, đánh giá dự án đầu tư đến cơ quan đầu mối thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư thuộc cơ quan chủ quản của mình, đồng thời gửi đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư báo cáo quý, 6 tháng, năm và báo cáo khi điều chỉnh dự án để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ
Trang 23Chủ đầu tư các dự án sử dụng nguồn vốn khác: Báo cáo 6 tháng và năm cho
cơ quan đầu mối thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư thuộc Cơ quan chủ quản và cơ quan cấp giấy chứng nhận đầu tư
b, Thời hạn báo cáo định kỳ
Đối với chủ đầu tư sẽ gửi báo cáo tháng đến người có thẩm quyền quyết định đầu tư trước ngày 05 của tháng tiếp theo; và gửi báo cáo quý về giám sát, đánh giá dự án đầu tư đến cơ quan đầu mối thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư thuộc cơ quan chủ quản của mình và Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp (đối với dự án quan trọng quốc gia và dự án nhóm A) trước ngày 10 của tháng đầu quý tiếp theo
Đối với các Bộ, ngành và địa phương, thời hạn báo cáo cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư về giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư trước ngày 20 tháng 7 hàng năm ( đối với báo cáo 6 tháng) và 20 tháng 01 năm sau (đối với báo cáo năm)
Đối với Bộ Kế hoạch và Đầu tư chỉ báo cáo Thử tướng Chính phủ Thời hạn báo cáo cho Thủ tướng Chính phủ về giám sát, đánh gia tổng thể đầu tư trước ngày
20 tháng 8 hàng năm (đối với báo cáo 6 tháng) và trước ngày 20 tháng 02 năm sau (đối với báo cáo năm)
Ngoài ra các cơ quan thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư có thể có báo cáo đột xuất khi cần thiết và khi có yêu cầu của cơ quan cấp trên
c Mẫu báo cáo giám sát và đánh giá đầu tư.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định mẫu biểu báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư tại Nghị Định số 113/2009/NĐ-CP ngày 15 tháng 12 năm 2009 về giám sát và đánh giá đầu tư và tại Thông tư số 13/2010/TT-BKH ngày 02 tháng 6 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định về mẫu giám sát, đánh giá đầu tư
1.2.3 Các yếu tổ ảnh hưởng đến công tác giám sát, đánh giá đầu tư.
1.2.3.1 Thông tin và xử lý thông tin.
Khái niệm thông tin (information) là khái niệm được sử dụng thường ngày Thông tin mang lại cho con người sự hiểu biết, nhận thức tốt hơn về những đối tượng trong đời sống xã hội, trong thiên nhiên, giúp cho họ thực hiện hợp lý công việc cần làm để đạt tới mục đích một cách tốt nhất Thông tin là yếu tố cần thiết trong mọi hoạt động của con người Và do đó thông tin cũng là yếu tố quan trọng có liên quan đến tất cả mọi hoạt động đầu tư phát triển Muốn có thể đầu tư đạt hiệu quả đòi hỏi cần phải có lượng thông tin cần thiết Hoạt động giám sát, đánh giá đầu
Trang 24tư cũng như vậy, thông tin là yếu tố quan trọng.
Trong hoạt động giám sát, đánh giá đầu tư, chất lượng của hoạt động này phụ thuộc rất nhiều vào thông tin của dự án Thông tin đầy đủ thì chất lượng công tác mới cao Thông tin có ý nghĩa quan trọng quyết định tới hiệu quả của công tác giám sát, đánh giá bởi lẽ trong tình hình hiện nay cùng một thời điểm, một công việc sẽ có nhiều thông tin khác nhau từ các nguồn, việc thông tin thiếu chính xác hoặc không đầy đủ khiến giám sát, đánh giá không đúng đắn dẫn tới việc có những dự án
đi vào hoạt động nhưng kém hiệu quả, có nhiều dự án đang thực hiện phải ngừng lại vì các lý do khác mà trong quá trình giám sát, đánh giá không thể phát hiện ra, điều đó làm gây lãng phí vốn và ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế ngành, vùng, địa phương và trên cả nước
Muốn có được nguồn thông tin chính xác cần phải biết tổng hợp và xử lý thông tin Bởi vì khi tiếp nhận được thông tin, đó chỉ là những thông tin thô chưa qua xử lý Mọi nguồn thông tin mà công tác giám sát, đánh giá đầu tư nhận được đều mang tính chủ quan của người thực hiện, do đó cần phải xử lý khối lượng thông tin đó, để đem lại chất lượng thông tin tốt nhất phục vụ cho công tác kiểm tra, đánh giá tổng thể đầu tư và các dự án đầu tư Qua việc xử lý thông tin bằng cách phân tích, chọn lọc, áp dụng các hệ thống tin học hiện đại, các phần mềm liên quan đến giám sát, đánh giá đầu tư giúp cho nội dung thông tin đem lại đạt hiệu quả cao
Có thể với một vấn đề sẽ có nhiều luồng thông tin khác nhau, nếu không xủ
lý lượng thông tin đó thì chất lượng của công tác giám sát, đánh giá đầu tư sẽ không
có hiệu quả, tác động tiêu cực tới các việc ra các quyết định đầu tư
1.2.3.2 Hệ thống luật pháp về giám sát và đánh giá đầu tư.
Hệ thống các văn bản luật và các văn bản dưới luật có ảnh hưởng lớn giám sát, đánh giá đầu tư Nội dung và quy trình theo dõi, kiểm tra và đánh giá đầu tư được thực hiện theo các quy định của nhà nước, do đó để chất lượng công tác này được tốt cần có hệ thống luật hoàn chỉnh và đồng bộ
Các Luật và các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư nói chung đều có tác dụng rõ rệt trong việc huy động nguồn lực đầu tư, cải thiện môi trường đầu tư, phân
Trang 25cấp phát huy tính chủ động của địa phương, từng bước đưa việc giám sát, đánh giá đầu tư đi vào nề nếp.
Các Nghị định, quyết định và thông tư của nhà nước về giám sát đánh giá đều có tác dụng giúp các cơ quan quản lý, các cơ quan có thẩm quyền ra quyết định đầu tư và các chủ đầu tư thực hiện giám sát, đánh giá được tốt nhất
1.2.3.3.Quy trình giám sát và đánh giá đầu tư.
Quy trình là một quá trình được diễn ra tuần tự từ việc lập kế hoạch, các bước thực hiện kế hoạch và hoàn thành công việc Quy trình là một quá trình khép kín, đối với quy trình giám sát, đánh giá đầu tư thì nó được thực hiện thường xuyên, khép kín tuy nhiên trong một số trường hợp có sự phối hợp thực hiện của một hay một số cơ quan đơn vị có liên quan
Quy trình thực hiện có tác động tới chất lượng công tác giám sát, đánh giá đầu tư Việc thực hiện đúng quy trình mới đảm bảo thực hiện đầy đủ các nội dung, thực hiện đúng tiến độ của công việc, đem lại hiệu quả cao và kịp thời
Giám sát, đánh giá đầu tư bao gồm 3 nội dung chính là đó là theo dõi, tiến hành kiểm tra, trên cơ cở đó mới đánh giá đầu tư, nếu không thực hiện đúng theo trình tự này, ví dụ bỏ qua khâu theo dõi hoặc kiểm tra thì không thể tiến hành đưa ra các kết luận về đầu tư, hoặc các kết luận là không chính xác, không có giá trị trên thực tế, làm hco chất lượng công tác giám sát, đánh giá đầu tư thấp Do đó quy trình giám sát, đánh giá đầu tư có ảnh hưởng tới chất lượng công tác này
1.2.3.4 Nội dung giám sát và đánh giá đầu tư.
Quy trình giám sát, đánh giá ảnh hưởng trực tiếp tới nội dung của công tác này, và nội dung cũng ảnh hưởng tới chất lượng công tác giám sát, đánh giá đầu tư
Nội dung giám sát là thực hiện theo dõi, kiểm tra, giám sát và đánh giá quá trình thực hiện đầu tư, từ lập kế hoạch, thực hiện và quản lý đầu tư, qua đó tổng hợp, phân tích và đánh giá kết quả đó theo các chỉ tiêu cho trước Trên cơ sở các nội dung giám sát, chủ đầu tư hay cơ quan quản lý nhà nước sẽ đưa ra các kết luận nhằm đảm bảo hiệu quả và mục tiêu theo kế hoạch ban đầu
Đây chính là nhân tố tác động trực tiếp tới chất lượng của công việc Nội dung của công tác giám sát, đánh giá đầu tư phải chính xác, kịp thời và đầy đủ mới đem lại
Trang 26chất lượng giám sát, đánh giá cao, và tác động tích cực tới hoạt động đầu tư của cả nước Nếu không thực hiện đầy đủ các nội dung thì công tác giám sát, đánh giá chỉ có tính hình thức không có số liệu thực tế, sẽ không đem lại hiệu quả trong công tác đầu
tư và quản lý hoạt động đầu tư
1.2.3.5 Năng lực và kinh nghiệm của cán bộ quản lý.
Việc có phản ánh được đầy đủ các nội dung phải thực hiện trong từng quá trình theo dõi, kiểm tra và đánh giá hay không phụ thuộc vào cán bộ thực hiện công tác giám sát và đánh giá đầu tư
Đây chính là nhân tố ảnh hưởng quyết định tới chất lượng công tác giám sát, đánh giá đầu tư Cán bộ quản lý có trình độ, có kinh nghiệm mới có thể thực hiện giám sát, đánh giá được chính xác Nếu cán bộ quản lý không có đủ năng lực thì không thể thực hiện giám sát, đánh giá đầu tư với chất lượng tốt nhất Đặc biệt đối với công tác quản lý nhà nước về giám sát, đánh giá của Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư, các cán bộ chuyên viên còn cần có khả năng tổng hợp và phân tích từ các số liệu, dữ liệu từ các báo cáo do các đơn vị trong cả nước để từ đó lập báo cáo của cả nước
1.3 Thực trạng công tác giám sát và đánh giá đầu tư tại Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư.
1.3.1 Quy trình giám sát và đánh giá đầu tư tại Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư.
Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư là cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động giám sát, đánh giá đầu tư cả nước, do đó Vụ thực hiện công tác giám sát và đánh giá của mình thông qua các báo cáo giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư của các đơn vị gửi về Bộ Kế hoạch và Đầu tư, qua đó tổng hợp các báo cáo thành báo cáo tổng hợp công tác giám sát, đánh giá đầu tư hàng năm trình Bộ trưởng của Bộ và trình Thủ tướng chính phủ Ngoài ra, Vụ còn thực hiện kiểm tra, đánh giá đầu tư trên cơ sở thực tế tại các cơ quan theo kế hoạch hàng năm của Bộ chủ quản
* Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư thực hiện giám sát tổng thể đầu tư thông qua các báo cáo của các Bộ, ngành và địa phương theo quy trình sau:
Trang 27Sơ đồ 4: Quy trình giám sát và đánh giá thông qua báo cáo tại Vụ Giám sát
và Thẩm định đầu tư:
Cụ thể quy trình giám sát và đánh giá tại Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư được thực hiện thông qua các bước sau:
Tiếp nhận các văn bản báo cáo tổng thể
đầu tư
Vụ GS&TĐĐT tiến hành tổng hợp và phân tích
Xem xét các kết quả kiểm tra trên thực tế
Bộ trưởng Bộ KH&ĐT xem xét và yêu cầu bổ xung (nếu có)
Lập báo cáo trình Thủ tướng Chính phủTổng hợp thành báo cáo tổng hợp cuối kỳ
Trang 28Bước 1: Các báo cáo tổng thể về đầu tư được gửi đến văn phòng của Bộ Kế
hoạch và Đầu tư, văn phòng của Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ tiếp nhận các báo cáo này, và sau đó chuyển đến Vụ GS&TĐĐT để có báo cáo tổng hợp về giám sát và đánh giá đầu tư
Bước 2: Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư tiếp nhận các báo cáo từ văn
phòng Chính phủ và chuyển cho các cán bộ trong Vụ tổng hợp từng địa phương và đơn vị theo các nội dung của giám sát, đánh giá đầu tư Việc tổng hợp của các cán
bộ sẽ theo phân công được giao
Bước 3: Các cán Bộ của Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư sẽ tổng hợp, phân
tích và đánh giá về công tác giám sát, đánh giá đầu tư từng cơ quan và dự án dựa trên báo cáo; đây là quá trình đánh giá trên báo cáo, không có kiểm tra trên thực tế
do đó các đơn vị gửi báo cáo phải có trách nhiệm với những nội dung mà đơn vị mình kiểm tra, giám sát và có trong báo cáo gửi lên Với các đơn vị đã được Vụ tiến hành kiểm tra, giám sát trong năm, các cán bộ sẽ xem xét xem nội dung báo cáo có chính xác hay không Sau đó tổng hợp thành báo cáo chung về đầu tư của cả nước, báo cáo lên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư xem xét
Bước 4: Cuối cùng Vụ sẽ tổng hợp thành văn bản báo cáo trình Thủ tướng
Chính phủ về tình hình thực hiện công tác giám sát, đánh giá đầu tư hàng năm vào cuối tháng 3 năm sau
* Đối với công tác giám sát kiểm tra và đánh giá đầu tư tại địa phương và đơn vị, Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư đã thực hiện kiểm tra, đánh giá đầu tư theo đúng quy trình kiểm tra, giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư được quy định tại quyết định số 550/QĐ-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đó là:
Bước 1: Công tác lập và trình duyệt kế hoạch kiểm tra tổng thể đầu tư
Các cán bộ và chuyên viên trong Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư sẽ tiến hành lập các kế hoạch kiểm tra tại các địa phương và một số dự án Các kế hoạch của cuộc kiểm tra sẽ được căn cứ theo các quy định như: Nghị định số 99/2006/NĐ-CP ngày 15/9/2006 của Chính phủ về công tác kiểm tra việc thực hiện chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; các quyết định của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư như quyết định số 1408/QĐ-BKH ngày 18/12/2008 về kế hoạch thanh tra kiểm tra năm 2009, quyết định số 2081/QĐ-BKH ngày 30/12/2009 và Quyết định điều chỉnh số 1026/QĐ-BKH ngày 30/6/2010 về Kế hoạch thanh tra, kiểm tra năm 2010,
Trang 29Khi lập kế hoạch kiểm tra, các cán bộ sẽ xác định các đối tượng được kiểm tra Đối tượng được kiểm tra đầu tư bao gồm: quy hoạch một số ngành kinh tế lớn của cả nước, quy hoạch phát triển kinh tế của các tỉnh, tổng thể đầu tư của các tỉnh, các Bộ, giám sát các dự án quan trọng của địa phương và của cả nước.
Sau đó các cán bộ thực hiện lập kế hoạch sẽ phải xác định nhiệm vụ của cuộc kiểm tra, giám sát, đó là: nhằm kiểm tra tổng thể đầu tư và qua đó đánh giá được các hoạt động liên quan đến quá trình đầu tư, để phản ánh kịp thời tình hình và kiến nghị điều chỉnh hoặc đề xuất các giải pháp xử lý cụ thể
Trên cơ sở kế hoạch kiểm tra, đã xác định được đối tượng kiểm tra và nhiệm
vụ của cuộc kiểm tra, các cán bộ trong Vụ mới tiến hành xác định các nội dung cần tiến hành kiểm tra
+ Đối với các đơn vị như Bộ, địa phương thì nội dung kiểm tra của các cán bộ
là về tình hình hoạt động đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước, quản lý các dự án đầu tư theo luật đầu tư, và quá trình lập, thẩm định, quản lý một số dự án chính của đơn vị … những mặt được và chưa được, từ đó đưa ra các nguyên nhân và kiến nghị;
+ Đối với các dự án đầu tư, các cán bộ thực hiện kiểm tra cần tiến hành kiểm tra, đánh giá năng lực của chủ đầu tư; trình tự lập thẩm định, thẩm tra dự án; kiểm tra các báo cáo giám sát, đánh giá nội dung đầu tư của chủ đầu tư; các cơ chế chính sách thực hiện, kiểm tra kết quả giải ngân vốn,…
Sau đó các cán bộ thực hiện lập dự án phải lập bảng kế hoạch hoạt động kiểm tra, và bảng dự trù kinh phí thực hiện;
Sau khi các cán bộ trong Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư lập được kế hoạch kiểm tra, Vụ trưởng của Vụ sẽ xem xét lại và yêu cầu các cán bộ bổ xung (nếu cần) Cuối cùng Vụ trưởng sẽ trình Bộ trưởng Bộ Kế hoạch đầu tư duyệt nội dung và kinh phí thực hiện kế hoạch kiểm tra
Bước 2: Thành lập đoàn kiểm tra.
Trên cơ sở kế hoạch kiểm tra đã được Bộ trưởng Bộ Kế hoạch đầu tư duyệt,
Vụ trưởng Vụ GS&TĐĐT sẽ tiến hành thành lập đoàn kiểm tra do mình chủ trì trên
cơ sở quyết định của Bộ trưởng Bộ KH&ĐT, thành phần đoàn kiểm tra gồm trưởng đoàn là các chuyên viên chính, phó đoàn, thư ký, và một số thành viên là cán bộ của
Vụ, còn lại là các cán bộ của các Vụ, ngành liên quan tới nội dung và đơn vị được kiểm tra
Trang 30Đối với các cuộc kiểm tra, đánh giá do đơn vị khác chủ trì thì Vụ trưởng của
Vụ GS&TĐĐT sẽ cử cán bộ tham gia đoàn kiểm tra theo yêu cầu của Bộ trưởng
Ví dụ như trong đợt kiểm tra tổng thể đầu tư giai đoạn 2006 – 2008 tại tỉnh Trà Vinh vào tháng 10/2009 do Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư chủ trì, đoàn kiểm tra gồm 5 cán bộ trong đó có 4 chuyên viên chính của Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư và 1 chuyên viên của Vụ Kinh tế quản lý quy hoạch
Còn trong đợt kiểm tra tỉnh Đồng Tháp vào tháng 6/2008, do Vụ Kinh tế Nông nghiệp chủ trì thì trong 7 thành viên của đoàn kiểm tra chỉ có 1 thành viên là chuyên viên của Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư do Vụ trưởng cử tham gia
Bước 3: Yêu cầu các đơn vị được tiến hành kiểm tra, giám sát nộp báo cáo,
hồ sơ và các tài liệu liên quan
Trước khi tiến hành kiểm tra trên thực tế, Vụ trưởng Vụ GS&TĐĐT sẽ có các công văn gửi các đơn vị sẽ tiến hành kiểm tra yêu cầu gửi các đơn vị gửi các báo cáo về giám sát, đánh giá đầu tư mà đơn vị đã tiến hành thực hiện, đồng thời cũng yêu cầu gửi các báo cáo, hồ sơ có liên quan
Trong kế hoạch kiểm tra các dự án, các cán bộ sẽ yêu cầu chủ đầu tư báo cáo tình hình thực hiện dự án với các nội dung: Thứ nhất là các chỉ tiêu chủ yếu của dự
án, gồm: các quyết định đầu tư, mục tiêu chính của dự án, quy mô và công suất của
dự án, các hạng mục chính, địa điểm và diện tích sử dụng, tổng mức đầu tư, nguồn vốn và tiến độ thực hiện; Thứ hai cần báo cáo tình hình thực hiện dự án, gồm: phê duyệt thiết kê, tổng dự toán, thực hiện đấu thầu và tiến độ thực hiện, cuối cùng trong báo cáo phải có kế hoạch bố trí vốn đầu tư, công tác đấu thầu, tình hình giải ngân, tiến độ thực hiện và kết quả thực hiện, việc quản lý thực hiện dự án, việc quản
lý sử dụng vốn đầu tư,
Đối với kế hoạch kiểm tra tổng thể đầu tư tỉnh, địa phương, các cán bộ của đoàn kiểm tra sẽ yêu cầu gửi báo cáo phục vụ cho công tác kiểm tra, gồm các nội dung như tình hình hoạt động đầu tư bằng nguồn vốn Nhà nước trong những năm
cụ thể và tình hình hoạt động đầu tư theo Luật đầu tư trên địa bàn tỉnh, thành ph
Bước 4: Thực hiện cuộc kiểm tra.
Đoàn kiểm tra sẽ tiến hành thực hiện kiểm tra trên thực tế tại các địa phương,
Bộ hoặc các dự án đầu tư
Đầu tiên là họp đoàn kiểm tra để triển khai kế hoạch, trưởng đoàn kiểm tra
Trang 31gửi báo cáo của đối tượng kiểm tra tới các thành viên trong đoàn kiểm tra Sau đó đoàn kiểm tra sẽ làm việc với lãnh đạo các ban ngành của tỉnh hay chủ đầu tư và các đơn vị có liên quan trong vòng 2-3 ngày đầu của đợt kiểm tra.
Đoàn kiểm tra sẽ tiến hành thu thập và nghiên cứu tài liệu, có thể nghiên cứu thông qua các báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư của các đơn vị trong các năm trước đây
Các thành viên của đoàn kiểm tra cần tiến hành kiểm tra các nội dung theo
kế hoạch được giao ban đầu trên cơ sở thực tế
Sau khi kiểm tra các nội dung trên thực tế, các thành viên sẽ viết báo cáo kết quả kiểm tra của các thành viên về nội dung được giao
Trên cơ sở thu thập và nghiên cứu các tài liệu báo cáo và kiểm tra thực tế trên địa bàn, đơn vị, các thành viên của đoàn kiểm tra tổng hợp và hoàn chỉnh báo cáo kiểm tra về các nội dung được phân công
Bước 5: Kết thúc cuộc kiểm tra.
Trưởng đoàn kiểm tra hoàn chỉnh báo cáo về kết quả cuộc kiểm tra trình Lãnh đạo đơn vị chủ trì cuộc kiểm tra và lãnh đạo của đơn vị được kiểm tra
Trưởng đoàn kiểm tra sẽ thay mặt đoàn kiểm tra thông báo cuộc kiểm tra cho các Thứ trưởng, Vụ Tổng hợp kinh tế quốc dân (để tổng hợp), Văn phòng Chính phủ, các Bộ, UBND các tỉnh và các đơn vị liên quan
Và cuối cùng báo cáo của đoàn kiểm tra sẽ được lưu trữ hồ sơ về cuộc kiểm tra tại đơn vị được kiểm tra và thành phần đoàn kiểm tra,
Sau khi đã gửi đầy đủ báo cáo và lưu kết quả, trưởng đoàn kiểm tra sẽ thông báo kết thúc đợt kiểm tra
Nhìn chung Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư đã thực hiện rất tốt quy trình giám sát, đánh giá đầu tư theo quy định của nhà nước và theo quy trình giám sát, đánh giá đầu tư qua các báo cáo giám sát của các đơn vị tại Vụ nhờ đó mà công tác giám sát, đánh giá đầu tư được tiến hành thuận lợi và nội dung giám sát, đánh giá đầu tư đạt kết quả cao
1.3.2 Nội dung giám sát và đánh giá đầu tư tại Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư
1.3.2.1 Nội dung giám sát và đánh giá đầu tư
A Giám sát và đánh giá tổng thể đầu tư
Công tác giám sát và đánh giá tổng thể đầu tư được Vụ Giám sát và Thẩm
Trang 32định đầu tư thực hiện thông qua việc đồng thời tiến hành theo dõi tổng thể đầu tư, kiểm tra tổng thể đầu tư và đánh giá tổng thể đầu tư ở các cấp của các Bộ, ngành và địa phương.
A1 Theo dõi tổng thể đầu tư.
Về theo dõi tổng thể đầu tư, Vụ GS&TĐĐT thực hiện thường xuyên, định kỳ cập nhật các thông tin liên quan đến hoạt động đầu tư và việc quản lý đầu tư Vụ tiến hành cập nhật các văn bản liên quan đến hoạt động đầu tư nói chung và các văn bản về giám sát, đánh giá đầu tư nói riêng
Trong các năm qua, Vụ Giám sát và Thẩm định đã tiến hành thực hiện công việc theo nhiều Nghị định và thông tư của Chính Phủ và các Bộ, ngành trong cả nước như: Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 về hướng dẫn thi hành Luật đầu tư 2005; Nghị định số 53/2007/NĐ-CP ngày 04/4/2007 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư; Nghị định số 113/2009/NĐ-CP ngày 15/12/2009 về giám sát và đánh giá đầu tư; Nghị định số 62/2010/NĐ-CP ngày 04/6/2010, Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 53/2007/NĐ-CP ngày 04/4/2007 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch đầu tư;.v.v
Ngoài ra, các cán bộ của Vụ GS&TĐĐT cũng tiến hành theo dõi việc cập nhật các văn bản hướng dẫn các chính sách, pháp luật liên quan đến đầu tư của các hoạt động đầu tư tại các Bộ, ngành, địa phương và các tổng công ty 91
Đồng thời thông qua các báo cáo giám sát và đánh giá của các Bộ, ngành, địa phương và các tập đoàn kinh tế gửi về theo định kỳ, Vụ đã theo dõi được tình hình lập, thẩm định, phê duyệt, quản lý các quy hoạch và các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước; tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước; tình hình nợ đọng vốn trong đầu tư; tình trạng lãng phí, thất thoát trong đầu tư sử dụng vốn nhà nước; tình hình thẩm tra, cấp giấy chứng nhận đầu tư; quản lý thực hiện các dự án đầu tư theo luật đầu tư; việc tổ chức thực hiện công tác giám sát, đánh giá đầu tư tại các đơn vị
Các cán bộ chuyên viên của Vụ được phân công theo dõi và tổng hợp của từng đơn vị khác nhau giúp cho việc theo dõi tổng thể đầu tư được tiến hành thuận lợi, tránh hiện tượng chồng chéo và bỏ sót Việc mỗi cán bộ được phân công theo dõi số lượng các tỉnh, thành phố, các dự án tùy theo năng lực và kinh nghiệm của từng người
Trang 33Ví dụ như, các cán bộ có nhiều kinh nghiệm và trình độ cao (chuyên viên và chuyên viên chính) được theo dõi 15-20 đơn vị (khoảng 12%-16% tổng số đơn vị trên toàn quốc), còn các cán bộ có ít kinh nghiệm và số năm công tác thì được phân công theo dõi khoảng 2-3 đơn vị (khoảng 1,6%-2,5% tổng số các Bộ, ngành, địa phương và các tổng công ty 91) và thường cùng tiến hành thực hiện với một cán bộ nữa của Vụ.
Do ban lãnh đạo của Vụ đã phân công công việc cụ thể cho các cán bộ nên công tác theo dõi tổng thể đầu tư trên các báo cáo gửi đến tại Vụ được tiến hành tốt
và luôn đạt kết quả cao
A2 Kiểm tra tổng thể đầu tư.
Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư thực hiện kiểm tra tổng thể đầu tư thông qua 2 hình thức: thứ nhất là thông qua các báo cáo hàng năm của các cơ quan gửi đến và thứ hai là thông qua các cuộc kiểm tra về tổng thể đầu tư tại các tỉnh, thành phố, Bộ, ngành và các tổng công ty 91
* Kiểm tra tổng thể đầu tư thông qua báo cáo định kỳ của các đơn vị có báo cáo giám sát và đánh giá đầu tư Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư tiến hành
thu thập, tổng hợp báo cáo giám sát tổng thể đầu tư của các tỉnh, thành phố, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan chính phủ, tập đoàn kinh tế và tổng công ty 91; Đốc thúc các đơn vị nộp báo cáo đầy đủ, đúng thời hạn
Thông qua các báo cáo theo định kỳ, báo cáo 6 tháng và báo cáo cuối năm,
Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư đã kiểm tra được việc thực hiện theo quy định của các văn bản hiện hành về đầu tư, từ công tác lập, thẩm định, phê duyệt và quản
lý quá trình thực hiện quy hoạch… Qua đó các cán bộ của Vụ có thể kiểm tra được việc thẩm tra, cấp giấy chứng nhận đầu tư có đúng trình tự và chính xác hay không; Việc phân bổ, quản lý vốn của các đơn vị có thực hiện theo đúng kế hoạch đầu tư và
sử dụng vốn nhà nước về mục tiêu, đối tượng và mức độ phân bổ vốn, tình hình thực hiện, kết quả và hiệu quả đầu tư
Số lượng các đơn vị được Vụ tiến hành giám sát tổng thể đầu tư chính là số lượng các Bộ, ngành, địa phương và các tổng công ty 91 gửi báo cáo giám sát và đánh giá đầu tư tới Vụ Và chỉ có các đơn vị có báo cáo mới được các cán bộ của
Vụ thực hiện theo dõi, kiểm tra
Trang 34Bảng 1: Tình hình nộp báo cáo giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư của các đơn
vị tại Vụ GS&TĐĐT giai đoạn 2006 – 2010 (6 tháng đầu năm)
6 tháng đầu năm 2010
Tỷ trọng số tỉnh, thành phố nộp báo
cáo trên tổng số tỉnh, thành phố
phải nộp báo cáo
2 Bộ, cơ quan ngang Bộ có báo cáo Tổng 20 11 23 10 23
Tỷ trọng số Bộ, cơ quan ngang Bộ
nộp báo cáo trên tổng số Bộ, ngành
phải nộp báo cáo
Tỷ trọng số cơ quan Chính phủ nộp
báo cáo trên tổng số cơ quan Chính
phủ phải nộp báo cáo
Tỷ trọng số đơn vị đã nộp báo cáo
trên tổng số đơn vị phải nộp báo
cáo
(Nguồn: Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư – Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Qua bảng số liệu trên ta thấy:
Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư đã thực hiện được việc kiểm tra tổng thể đầu tư đối với các Bộ, ngành, địa phương và tổng công ty 91 thông qua báo cáo giám sát, đánh giá tổng thể đầu tư, cho thấy đã có sự thay đổi tăng, giảm qua các năm rất khác nhau, không theo chiều hướng nhất định Cụ thể, năm 2006 có 90 đơn
vị, chiếm 68,7% trên tổng số đơn vị phải có báo cáo Năm 2007 có 73 đơn vị nộp báo cáo giám sát tổng thể đầu tư, chiếm 60,3% Năm 2008 tăng lên 102 đơn vị,
Trang 35tương ứng với 84,3%, nhưng năm 2009 lại giảm xuống còn 65 đơn vị, chiếm 54,2%, và đến 6 tháng đầu năm 2010 tổng số các bộ ngành địa phương thực hiện nộp báo cáo tăng lên là 101 đơn vị, tương ứng với tỷ lệ phần trăm khá cao là 83,4%
Sở dĩ như vậy là do công tác thực hiện báo cáo giám sát và đánh giá đầu tư tại các
cơ quan thực hiện chưa nghiêm túc, lơi lỏng trong công tác giám sát đầu tư, chưa thực sự thấy được sự quan trọng của công tác này đối với hoạt động đầu tư của mình nói riêng và trong hoạt động đầu tư của cả nước nói chung Chính vì vậy, hàng năm Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư – Bộ Kế hoạch và Đầu tư phải có các công văn đôn đốc các đơn vị gửi báo cáo đúng thời hạn quy định
Trong đó việc kiểm tra tổng thể đầu tư của Vụ thông qua báo cáo được thực hiện tốt nhất tại khối các cơ quan, đơn vị là tỉnh, thành phố Do đây là khối đơn vị thực hiện công tác báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư tốt nhất, có báo cáo đạt tỷ lệ cao nhất (năm 2006 đạt 84,4%, năm 2007 đạt 81,3%, năm 2008 là 90,5%, năm 2009
là 63,5%, 6 tháng đầu năm 2010 đạt 88,89%) Tiếp đến là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty 91, Bộ, cơ quan ngang Bộ và cuối cùng là các cơ quan Chính phủ là cơ quan có tỷ lệ gửi báo cáo thấp nhất, ảnh hưởng tới công tác giám sát, đánh giá đầu
tư tổng thể Nghị định số 113/2009/NĐ-CP ngày 15/12/2009 về giám sát và đánh giá đầu tư của Vụ
Qua công tác kiểm tra của Vụ, nhận thấy nhiều đơn vị Bộ, ngành và địa phương chưa có báo cáo hoặc chất lượng báo cáo chưa cao, do đó công tác kiểm tra tổng thể đầu tư của Vụ GS&TĐĐT chưa thực sự phản ánh hết tình hình, kết quả của công tác đầu tư
* Kiểm tra tổng thể đầu tư thông qua các cuộc kiểm tra trên thực tế Vụ
Giám sát và Thẩm định đầu tư còn chủ trì thực hiện công tác kiểm tra tổng thể đầu
tư tại các tỉnh thành và tham gia đoàn thanh tra, kiểm tra đầu tư việc thực hiện đầu
tư tại các đơn vị, các dự án quan trọng do cơ quan nhà nước thuộc Bộ hoặc ngoài
Bộ chủ trì
Công tác kiểm tra này được Vụ thực hiện tuân theo quy định tại nghị định số 99/2006/NĐ-CP ngày 15/9/2006 của Chính phủ về công tác kiểm tra việc thực hiện chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; các quyết định của Bộ trưởng Bộ kế hoạch đầu tư về kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm;
Nội dung các buổi làm việc của Đoàn kiểm tra tập trung vào các vấn đề liên quan đến tình hình tổng thể đầu tư và công tác giám sát, đánh giá đầu tư tại đơn vị
Trang 36được kiểm tra.
Nội dung kiểm tra tổng thể đầu tư, Vụ đã thực hiện đúng theo quy định của nhà nước bao gồm:
Thứ nhất các cán bộ của Vụ trong đoàn kiểm tra đã tiến hành kiểm tra việc thực hiện các quy định của các văn bản hướng dẫn các chính sách, pháp luật liên quan đến đầu tư
Sau đó đoàn kiểm tra thực hiện kiểm tra việc lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý thực hiện quy hoạch theo quy định (quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội; quy hoạch phát triển ngành, sản phẩm chủ yếu và các quy hoạch khác có liên quan)
Ngoài ra đối với kiểm tra tổng thể đầu tư tại các địa phương, các cán bộ còn kiểm tra việc lâp, thẩm định, phê duyệt và thực hiện một số dự án đầu tư sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên
Trên cơ sở đó, các thành viên của đoàn kiểm tra sẽ tiến hành kiểm tra việc phân bổ và quản lý thực hiện kế hoạch đầu tu sử dụng vốn nhà nước (mục tiêu, đối tượng, mức độ các nguồn vốn và tình hình thực hiện vốn đầu tư; kết quả, hiệu quả đầu tư); tình trạng nợ đọng trong đầu tư; lãng phí, thất thoát trong đầu tư sử dụng vốn nhà nước
Việc kiểm tra các dự án đầu tư thì các cán bộ sẽ tiến hành kiểm tra việc thẩm tra, cấp giấy chứng nhận đầu tư, quản lý thực hiện các dự án đầu tư theo Luật đầu tư
Nội dung cuối cùng của cuộc kiểm tra đó là kiểm tra việc tổ chức thực hiện công tác giám sát, đánh giá đầu tư, và nội dung báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư
Từ những nội dung kiểm tra như trên thư ký của đoàn kiểm tra sẽ tiến hành tổng hợp và đưa ra kết quả kiểm tra tổng thể đầu tư tại đơn vị đó
Trong các năm 2007 – 2009 và những tháng đầu năm 2010 Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư đã chủ trì thực hiện công tác giám sát, kiểm tra một số quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội hay tham gia đoàn thanh tra do các đơn vị khác trong Bộ chủ trì và các đoàn kiểm tra liên ngành
Bảng 2: Tình hình thực hiện chương trình kiểm tra tổng thể tại các địa phương
trong giai đoạn 2007 – 2010
Trang 37Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
(Nguồn: Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư – Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Qua bảng số liệu trên ta thấy Vụ đã tăng cường công tác kiểm tra tổng thể đầu tư tại các địa phương Cụ thể, năm 2007 Vụ mới chỉ tiến hành kiểm tra quy hoạch tại hai địa phương là Hà Nội và Nghệ An, song đến năm 2008 số địa phương được Vụ tiến hành kiểm tra đã tăng lên là 10 địa phương, một địa phương là Yên Bái không thực hiện được do lũ lụt, và năm 2009 Vụ dự định tiến hành kiểm tra 12 địa phương song mới chỉ thực hiện được 10 địa phương, còn 2 địa phương chưa thực hiện được do khó khăn về chi phí, đó là tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hòa, và trong mấy tháng đầu năm 2010 Vụ đã tiến hành kiểm tra được tại 4 địa phương
Từ kết quả về số lượng các tỉnh, thành được kiểm tra ngày càng tăng đã cho thấy được công tác kiểm tra tổng thể đầu tư tại các địa phương đã ngày càng được
Vụ quan tâm thực hiện tốt hơn, số lượng địa phương được tiến hành kiểm tra nhiều hơn Tuy nhiên vẫn còn một vài địa phương mặc dù đã được lên kế hoạch kiểm tra nhưng vẫn chưa thực hiện được do có một số yếu tố gây ảnh hưởng đến việc tiến hành kiểm tra của Vụ như là thiên tai, bão lũ, khó khăn về chi phí gây cản trở đến việc thực hiện kiểm tra theo kế hoạch ban đầu Do vậy để hạn chế sự ảnh hưởng của các yếu tố này, ngay từ khi lập kế hoạch kiểm tra Vụ cần phải chú ý đến việc lựa