Từng là nơi gia tộc nhà Trần chọn làm nơi cư trú, dấy nghiệp với làngTức Mặc nổi tiếng là ngôi làng chỉ có một họ Trần, quê hương của các vua Trần,trên mảnh đất Nam Ðịnh đâu đâu cũng man
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hình thành ý tưởng, tìm kiếm tài liệu, khảo sát thực tế cho tớikhi hoàn thành đề tài này, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ nhiệttình từ lãnh đạo của các Sở, ban ngành, người dân tại xã Lộc Vượng thành phốNam Định cũng như gia đình, bạn bè và người thân của tôi
Tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Tiến sĩ Nguyễn Anh Cường – Giáo viên trường Đại học Văn Hóa Hà Nội người đã hướng dẫn cho tôi những
bước đầu tiên trong quá trình hình thành ý tưởng cũng như phương hướng tiếp cậnvấn đề
Cuối cùng, tôi mong muốn được gửi lời cảm ơn của mình tới các thầy cô giáotrong khoa Văn hóa du lịch – trường Đại học Đông Đô đã dạy bảo tôi trong suốt 4năm học qua; cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã giúp đỡ, tạo điều kiện đểtôi có thể hoàn thành đề tài này
lễ hội Việt Nam phong phú và đa dạng
Nam Định là một vùng đất cổ có gần 700 năm tuổi và là vùng gần trung tâmĐBSH Lễ hội nơi đây mang đậm nét văn hoá chung của vùng hoà quyện vớinhững nét riêng của cư dân vùng đất cổ Nói đến lễ hội ở Nam Định chúng takhông thể không nhắc đến lễ hội đền Trần như một biểu tượng văn hoá truyền
Trang 2thống của cư dân vùng này.
Trần Miếu tên cổ của đền Trần - Tức Mặc Nam Định không chỉ là biểu tượngcủa Nam Định, một danh thắng của trốn Thành Nam mà lễ hội đền Trần và những
lễ hội khác trong vùng còn là nơi lưu giữ những giá trị văn hoá truyền thống, là dịp
để con người gửi gắm bao ước mơ khát vọng về một cuộc sống bình an và hạnhphúc Tìm về đền Trần và lễ hội đền Trần là chúng ta tìm đến chìa khoá giải mãphần nào con người và cuộc sống nơi đây
Là một người con sinh ra từ mảnh đất Nam Định qua việc tìm hiểu về đềnTrần và lễ hội đền Trần bản thân em ngoài việc nhằm làm rõ vai trò và vị trí của nótrong đời sống cư dân trong vùng Đây không chỉ là nơi để cho mọi người về đâyhành hương lễ thánh nơi các đệ tử tìm về chốn linh thiêng mà còn là nơi để dukhách tham quan vãng cảnh đền tìm hiểu di tích, lịch sử, chiêm ngưỡng kiến trúcđộc đáo của các vị Vua nhà Trần hay để thưởng thức vẻ đẹp sơn thuỷ hữu tình củathiên nhiên hoà quyện nơi đây Lễ hội đền Trần ngoài là ngày giỗ của Hưng ĐạoVương Trần Quốc Tuấn còn là nơi tưởng niệm 14 vị vua nhà Trần Đây vừa là nơithể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta vừa là môi trường giáo dụctruyền thống văn hoá cho thế hệ trẻ
Mặc dù lễ hội là một biểu tượng của văn hoá nhưng hàng năm bên cạnh việcđưa lễ hội đền Trần vào việc phát triển loại hình du lịch văn hoá truyền thống củadân tộc thì những vấn đề bất cập trong quá trình diễn ra lễ hội là không tránh khỏi.Như các tệ nạn xã hội trong các lễ hội: cướp giật, móc túi, chen lấn xô đẩy Dukhách đến đây không phải là để xin ấn mà đã trở thành đi cướp ấn, từ đó dẫn đếnhiện tượng bán ấn đen ngay trước cổng đền Và hậu quả để lại sau mỗi buổi lễ hội
là sự ô nhiễm môi trường Những yếu tố trên đã phần nào làm mất đi nét đẹp cảnhquan, nét đẹp văn hoá lễ hội truyền thống của con người nơi đây
Vì vậy nghiên cứu về Đền Trần và lễ hội đền Trần nhằm góp phần giữ gìnbản sắc văn hoá truyền thống tốt đẹp của lễ hội vùng này đang bị biến đổi mạnh
mẽ trong đời sống xã hội hiện đại Đồng thời qua đó phát huy giá trị văn hoá vàthắng cảnh của khu di tích lịch sử này nhằm phục vụ đời sống tinh thần của nhân
Trang 3dân trong vùng và hoạt động du lịch của địa phương trong sự nghiệp phát triển
kinh tế hiện nay Chính vì lý do đó, tôi đã chọn đề tài: “Khu di tích lịch sử văn hóa và lễ hội đền Trần trong phát triển du lịch của tỉnh Nam Định” làm đề tài
khóa luận tốt nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Từ trước tới nay có nhiều nhà nghiên cứu về lễ hội nói chung ở nhữnggóc độ, liều lượng khác nhau Nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về lễ hộitruyền thống được công bố như: “Hội hè đình đám” của Toan Ánh(1969), “Lễ hội -truyền thống và hiện đại” của Thu Linh và Đặng Văn Lung (1984), “ Lễ hội trongcộng đồng các dân tộc Việt Nam” GS Vũ Ngọc Khánh (2004)
Nhìn chung các công trình nghiên cứu này đã nêu khá đầy đủ về nội dung
và hình thức thể hiện của lễ hội truyền thống, đồng thời nó cũng mô tả diễn biếncủa các lễ hội trong mối quan hệ trực tiếp với phong tục tín ngưỡng dân gian…Trên đây là các công trình nghiên cứu liên quan đến lễ hội truyền thốngnhưng chủ yếu là các bài viết này chỉ nói sơ qua về tất cả các phong tục trong lễhội chung của Việt Nam chứ chưa đi vào một lễ hội cụ thể
Viết về thời Trần cho đến nay nổi tiếng nhất vẫn là cuốn “Cuộc kháng chiếnchống xâm lược Nguyên Mông” của hai tác giả Đại học Tổng hợp Hà Nội là HàVăn Tấn và Phạm Thị Tâm in từ thập niên 60 của thế kỉ XX Nhưng cuốn sách nàychỉ tập trung vào công cuộc giữ nước của nhà Trần, giúp người đọc hiểu thêm vềnhà Trần
Để hiểu thêm về lễ hội đền Trần Nam Định, nhà xuất bản văn hoá thông tin(2006) cho phát hành cuốn “Trần Miếu di sản và tín ngưỡng dân gian” Cuốn sáchgiới thiệu về quần thể di tích lịch sử đền Trần, cùng với đại lễ khai ấn mùa xuân
và hội Đức Thánh Trần, nhằm giúp người đọc hiểu rõ về lễ hội điển hình của mảnhđất Thành Nam
Điểm lại các công trình nghiên cứu từ trước tới nay cho thấy, nhằm giữ gìn
Trang 4truyền ngày càng được quan tâm thu hút nhiều nhà nghiên cứu Tuy vậy cho đếnnay chưa có công trình nào khảo sát, mô tả một cách có hệ thống, chi tiết cụ thể về
lễ hội thôn Tức Mặc - Lộc Vượng - Nam Định ﻌﻌﻌﻌﻌ
3 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu những giá trị của quần thể di tích và lễ hội đền Trần, xã Lộc Vượng thành phố Nam Định, đồng thời khẳng định vai trò của những giá trị
đó trong hoạt động du lịch văn hóa của tỉnh Nam Định
Khảo sát thực trạng khai thác quần thể di tích này phục vụ cho việc pháttriển du lịch hiện nay
Đưa ra một số kiến nghị, đóng góp để khai thác có hiệu quả quần thể di tíchnày trong việc phát triển du lịch văn hóa của tỉnh Nam Định
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi luận văn tốt nghiệp của mình, tôi tập trung nghiên cứu những
giá trị kiến trúc, lịch sử, nghệ thuật, văn hóa của quần thể di tích lịch sử văn hóa
và lễ hội đền Trần , xã Lộc Vượng thành phố Nam Định và hiện trạng hoạt động du
lịch của quần thể di tích, lễ hội này trong phạm vi xã Lộc Vượng thành phố NamĐịnh
5 Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp tiếp cận hệ thống: Nhìn đối tượng nghiên cứu như một hệthống để khảo sát, phân tích
Phương pháp so sánh: Để thấy cái chung và cái riêng của đối tượng nghiêncứu
Phương pháp thống kê: Để có cái nhìn khái quát về đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu, phân tích, tổng hợp tài liệu
Phương pháp điền dã: Khảo sát thực tế
6 Bố cục khóa luận.
Với những mục đích và lý do kể trên, ngoài phần mở đầu và các phụ lục, đềtài của tôi bao gồm những phần chính sau:
Trang 5 Chương 1: Tỉnh Nam Định và những ảnh hưởng của triều đại nhà Trần tớivùng đất Nam Định.
Chương 2: Thực trạng hoạt động du lịch tại quần thể di tích lịch sử văn hóa,
lễ hội đền Trần – Nam Định
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm phát huy giá trị của quần thể
di tích và lễ hội đền Trần trong phát triển du lịch của tỉnh Nam Định
CHƯƠNG 1: TỈNH NAM ĐỊNH VÀ QUẦN THỂ DI TÍCH ĐỀN TRẦN
NAM ĐỊNH
1.1 Một số khái niệm.
Di tích lịch sử văn hóa.
- Theo Hán Việt tự điển
Di: Sót lại, rơi lại, để lại
Tích: Tàn tích, dấu vết
Di tích: Tàn tích, dấu vết còn lại của quá khứ
- Theo Đại từ điển Tiếng Việt: Di tích lịch sử văn hóa là tổng thể những côngtrình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn hóađược lưu lại
- Theo luật di sản văn hóa của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namđược quốc hội khóa X thông qua trong kỳ họp thứ 9 ngày 29.09.2001: Di tích lịch
sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật bảo vật quốc giathuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử văn hóa khoa học
Khái niệm về lễ hội.
Có rất nhiều khái niệm về lễ hội khác nhau tuy nhiên ở đây tôi chỉ đưa ra mộtkhái niệm chung nhất về lễ hội:
Trang 6Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân
cư trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vậtlịch sử hay huyền thoại; đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của conngười đối với thiên nhiên, thần thánh và con người trong xã hội
1.2 Khái quát về tỉnh Nam Định.
1.2.1 Vị trí địa lý – Tự nhiên
Nam Định là một tỉnh nằm ở phía nam đồng bằng Bắc Bộ, Việt Nam Theo
quy hoạch năm 2008 thì Nam Định thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ
Vị trí địa lý: Nam Định nắm ở 19°54′đến 20°40′độ vĩ bắc, 105°55′ đến
106°45′ độ kinh đông Nam Định tiếp giáp với tỉnh Thái Bình ở phía bắc,tỉnh Ninh Bình ở phía nam, tỉnh Hà Nam ở phía tây bắc, giáp biển (vịnh BắcBộ) ở phía đông
Diện tích tự nhiên: 1.669 km² Nam Định gồm có 1 Thành phố(thành phố
Nam Định) và 09 huyện (Giao Thủy, Hải Hậu, Mỹ Lộc, Nam Trực , NghĩaHưng, Trực Ninh, Vụ Bản, Xuân Trường, Ý Yên) trong đó có 195 xã, 20phường và 15 thị trấn
Khí hậu: Nam Định mang khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm Nhiệt độ
trung bình trong năm từ 23 – 24 °C Tháng lạnh nhất là các tháng 12 và 1,với nhiệt độ trung bình từ 16 – 17 °C Tháng 7 nóng nhất, nhiệt độ khoảngtrên 29 °C Lượng mưa trung bình trong năm từ 1.750 – 1.800 mm, chia làm
2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa ít mưa từ tháng 11 đếntháng 2 năm sau Số giờ nắng trong năm: 1.650 – 1.700 giờ Độ ẩm tươngđối trung bình: 80 – 85%
Mặt khác, do nằm trong cùng vịnh Bắc Bộ nên hàng năm Nam Định thườngchịu ảnh hưởng của bão hoặc áp thấp nhiệt đới, bình quân từ 4 – 6 cơn/năm Thuỷtriều tại vùng biển Nam Định thuộc loại nhật triều, biên độ triều trung bình từ 1,6 –1,7 m; lớn nhất là 3,31 m và nhỏ nhất là 0,11 m
Địa hình: Địa hình Nam Định có thể chia thành 3 vùng:
Vùng đồng bằng thấp trũng: gồm các huyện Vụ Bản, Ý Yên, Mỹ Lộc, Nam
Trang 7Trực, Trực Ninh, Xuân Trường Đây là vùng có nhiều khả năng thâm canh pháttriển nông nghiệp, công nghiệp dệt, công nghiệp chế biến, công nghiệp cơ khí vàcác ngành nghề truyền thống.
Vùng đồng bằng ven biển: gồm các huyện Giao Thủy, Hải Hậu và NghĩaHưng; đất đai phì nhiêu, có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế tổng hợp ven biển.Vùng trung tâm công nghiệp – dịch vụ thành phố Nam Định: có các ngànhcông nghiệp dệt may, công nghiệp cơ khí, công nghiệp chế biến, các ngành nghềtruyền thống, các phố nghề… cùng với các ngành dịch vụ tổng hợp, dịch vụchuyên ngành hình thành và phát triển từ lâu Thành phố Nam Định từng là mộttrong những trung tâm công nghiệp dệt của cả nước và trung tâm thương mại - dịch
vụ, cửa ngõ phía Nam của đồng bằng sông Hồng
Nam Định có bờ biển dài 72 km có điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi và đánhbắt hải sản Ở đây có khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia Xuân Thủy (huyện GiaoThủy) và có 4 cửa sông lớn: cửa Ba Lạt, cửa sông Đáy, cửa Lạch Giang và cửa HàLạn
1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển.
Theo các công trình nghiên cứu khoa học, miền đất Nam Định hình thànhcách đây khoảng 70 triệu năm do ảnh hưởng tạo sơn thời kỳ Đại Tân Sinh, nângghềnh phía nam sông Hồng cao lên, biển Đông lùi dần và từng bước hình thànhvùng đồng bằng châu thổ sông Hồng Dấu tích các loại động - thực vật có ở vùngbiển và những hoá thạch tìm thấy trong lòng đất cho thấy: đây là vùng đất màu mỡ,phì nhiêu, tạo cơ hội cho con người quần tụ thành cộng đồng đông vui và khá sầmuất
Thời thuộc Đường, Nam Định thuộc huyện Chu Duyên Đời Trần được gọi là
lộ Thiên Trường, sau lại chia làm ba lộ: Kiến Xương, An Tiêm, Hoàng Giang.Thời thuộc Minh, vùng đất này được chia làm 3 phủ: Trấn Nam, Phụng Hoá, KiếnBình Đời Lê, thuộc xứ Sơn Nam, đến niên hiệu Cảnh Hưng thứ 2 năm 1741, vùngđất này thuộc lộ Sơn Nam Hạ Đến triều Nguyễn, năm 1832 đổi tên thành tỉnhNam Định, với 4 phủ, 18 huyện, bao gồm phần đất tỉnh Thái Bình hiện nay Năm
Trang 81890, Thái Bình tách ra thành tỉnh riêng Nam Định còn lại 2 phủ và 9 huyện
Từ năm 1926, tỉnh Nam Định có 2 phủ và 7 huyện, 78 tổng, 708 xã (phủ làcấp trung gian, tương đương với cấp huyện) Riêng thành phố Nam Định có 10phường Đến những năm 1930, địa giới hành chính của tỉnh Nam Định không cónhiều thay đổi
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các đơn vị hành chính trong tỉnh luôn
có sự thay đổi Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, tỉnh Nam Định thuộc Liênkhu ba Năm 1953, 7 xã bắc sông Đào thuộc huyện Nghĩa Hưng được cắt nhập vàohuyện ý Yên Đồng thời, 03 huyện Mỹ Lộc, Vụ Bản, ý Yên nhập vào tỉnh Hà Nam.Đến tháng 4-1956, 03 huyện này lại được cắt trả cho Nam Định Tháng 5-1965,Nam Định hợp nhất với Hà Nam thành tỉnh Nam Hà Cuối năm 1967, 02 huyệnGiao Thuỷ và Xuân Trường hợp thành huyện Xuân Thuỷ Tháng 3-1968, 07 xãphía nam sông Ninh Cơ thuộc huyện Trực Ninh nhập với huyện Hải Hậu, 02 huyệnTrực Ninh, Nam Trực nhập thành huyện Nam Ninh Năm 1976, Nam Hà và NinhBình hợp nhất thành tỉnh Hà Nam Ninh Đến năm 1991, lại chia tách và tái lập tỉnhNam Hà và tỉnh Ninh Bình Tháng 11-1996, tách tỉnh Nam Hà để tái lập 02 tỉnhNam Định và Hà Nam Sau đó, trong nội bộ tỉnh Nam Định, các huyện hợp nhấttrước đây lại chia tách và tái lập như cũ, đó là: Xuân Trường, Trực Ninh, GiaoThuỷ, Nam Trực và tái lập huyện Mỹ Lộc (gồm 10 xã) Năm 1997, xã Nam Vân,Nam Phong được cắt nhập từ huyện Nam Trực về thành phố Nam Định Như vậy,đến cuối thế kỷ XX, tỉnh Nam Định có 10 đơn vị hành chính, bao gồm: 1 thànhphố và 9 huyện, 225 xã, phường, thị trấn
Trang 9thẳng cánh cò bay, những vườn cây trĩu quả, những dòng sông đỏ nặng phù sa vànhững bãi biển trải dài cát mịn.
Từ xưa Nam Định đã được coi là miền đất “Địa linh nhân kiệt”, nơi phát tíchcủa Vương triều Trần, một triều đại hưng thịnh bậc nhất trong lịch sử phong kiếnViệt Nam Từng là nơi gia tộc nhà Trần chọn làm nơi cư trú, dấy nghiệp với làngTức Mặc nổi tiếng là ngôi làng chỉ có một họ Trần, quê hương của các vua Trần,trên mảnh đất Nam Ðịnh đâu đâu cũng mang đậm dấu ấn văn hóa của triều đại này.Ngoài quần thể di tích văn hóa nhà Trần tập trung tại khu vực thành phố Nam Ðịnh
và huyện Mỹ Lộc còn có hàng trăm di tích gồm đền, phủ, chùa miếu, lăng với cáckiểu dáng kiến trúc đa dạng có liên quan đến tục thờ Ðức thánh Trần và các vuaquan, hoàng thân quốc thích nhà Trần Một số di tích tiêu biểu của văn hóa thờinhà Trần tại Nam Ðịnh có khả năng khai thác, phát huy giá trị phục vụ phát triển
du lịch, trước hết phải kể đến Khu di tích lịch sử văn hóa triều Trần trải rộng trênphạm vi các phường Lộc Vượng, Lộc Hạ (thành phố Nam Ðịnh) và một số xã MỹThành, Mỹ Phúc, Mỹ Trung của huyện Mỹ Lộc bao gồm 45 di tích gắn với lịch sửvương Triều Trần Các di tích: Ðền Trần, Chùa Tháp, Ðền Bảo Lộc, Ðền CaoÐài có giá trị về lịch sử, văn hóa và nghệ thuật kiến trúc, đã được Nhà nước xếphạng di tích lịch sử văn hóa Tại đây còn lưu giữ và trưng bày nhiều hiện vật lịch
sử về cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông của quân dân Ðại Việt thế kỷ
13 Xưa kia, nơi đây vốn là hành cung Thiên Trường từng được ví như kinh đô thứhai thời Trần với các cung điện Trùng Quang, Trùng Hoa (nơi dành cho các TháiThượng Hoàng và các Vua đương triều ngự), cung Ðệ Nhất, Ðệ Nhị, Ðệ Tam, Ðệ
Tứ (dành cho các Thái Hoàng thái hậu, các phi tần tôn nữ ở)
Du khách cũng có thể ghé thăm các làng nghề, làm quen với các nghệ nhântài hoa làm nghề chạm khắc, đúc đồng, dệt lụa, trồng hoa cây cảnh ở La Xuyên,Cát Đằng, Vân Chàng, Cổ Chất, Điền Xá Du khách cũng có thể tận hưởng nhữngngày nghỉ ngơi giải trí sảng khoái tại khu du lịch biển Thịnh Long, Quất Lâm nơi
mà được xem là vẫn còn vẻ hoang sơ Du khách cũng có thể tham quan khu bảotàng thiên nhiên Xuân Thủy, khu bảo tồn thiên nhiên đầu tiên của Việt Nam tham
Trang 10gia công ước quốc tế RAMSAR với hệ sinh thái rừng ngập mặn độc đáo, đa dạng
và phong phú bao gồm nhiều loại động thực vật quý hiếm Đây là điểm dừng châncủa các loài chim di trú từ phương Bắc trong đó có nhiều loại được ghi vào sách đỏQuốc tế
Người Nam Định vốn tài hoa, thông minh, cần cù và năng động; từ xưa đã tạodựng và để lại cho con cháu kho tàng di sản văn hóa tinh thần mang đậm bản sắcdân tộc với những nét đặc trưng của nền văn minh lúa nước
Đến Nam Định quý khách luôn được đón tiếp nồng hậu và chu đáo trong cáckhách sạn, nhà nghỉ đầy đủ tiện nghi, được thưởng thức những món ăn đặc sản củađịa phương, được nghe hát chèo văn và xem múa rối nước một loại hình nghệ thuậtđộc đáo
1.3 Triều đại nhà Trần và những ảnh hưởng tới vùng đất Nam Định.
1.3.1 Triều đại nhà Trần với lịch sử Việt Nam
Thời nhà Trần (1226 – 1400) đã đi vào lịch sử Việt Nam với một diện mạoriêng, một thần thái đặc biệt so với các triều đại khác kể từ Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lýđến Hậu Lê, Mạc và Nguyễn Các sử gia xưa gọi là hào khí Đông A tức là hào khícủa đời Trần, không những thể hiện trong chiến đấu mà cả trong xây dựng Nhữngngười anh hùng đời Trần như Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần NhânTông, Trần Tung… khi ở nơi chiến trường, họ làm nên những võ công hiển hách.Lúc giặc tan, trời yên biển lặng, trên văn đàn hay chốn học thuật, họ lại có nhữngđóng góp lớn lao
Những năm cuối thế kỷ XII, triều Lý bắt đầu rơi vào suy vong do các vua đềulên ngôi khi còn nhỏ tuổi và bị chết yểu (Lý Thần Tông thọ 23 tuổi, Lý Anh Tôngthọ 40 tuổi, Lý Cao Tông thọ 38 tuổi, Lý Huệ Tông thọ 33 tuổi)…do đó quyềnhành rơi vào tay ngoại tộc vốn lắm kẻ gian tham, bất tài, hại dân Vào cuối thời Lý,các quý tộc quan lại họ Trần nổi lên như một thế lực lớn có công giúp nhà Lý bìnhđịnh thiên hạ
Năm 1209, khi trong triều có biến loạn, vua Lý Cao Tông phải chạy lên QuyHoá, Thái tử Sảm chạy về Hải Ấp đã được gia đình Trần Lý giúp đỡ Hoàng tử
Trang 11Sảm đã kết duyên cùng Trần Thị Dung, con gái thứ hai của Trần Lý Họ Trần đãtập hợp hương binh giúp nhà Lý dẹp loạn, diệt trừ Quách Bốc (thuộc tướng củaPhạm Bỉnh Di), đưa vua Lý trở lại kinh đô Cậu ruột Trần Thị Dung là Tô Trung
Từ đã được phong làm Điện tiền chỉ huy sứ
Uy thế họ Trần bắt đầu được đề cao từ khi hoàng tử Sảm lên ngôi vào năm
1211, tức là vua Lý Huệ Tông Ông cho đón vợ là Trần Thị Dung về cung lập làmnguyên phi Lúc này, Tô Trung Từ được phong Thái uý phụ chính
Huệ Tông là người yếu đuối, lại bị Thái hậu họ Đàm khống chế, nên mọi việcđều phó thác cho Đàm Dĩ Mông, người chức cao, quyền lớn nhưng không có họcthức, không có mưu thuật, lại nhu nhược không quyết đoán Vì thế chính sự ngàymột đổ nát Lợi dụng tình hình đó, Đoàn Thượng làm phản, tụ tập bè đảng ở HồngChâu thả sức cướp bóc, khiến triều đình không chế ngự nổi Năm 1216, trước tìnhthế bức bách của Đàm thái hậu, Lý Huệ Tông đã bí mật rời bỏ hoàng cung, cùngvới Trần Thị Dung trốn đến nơi đóng quân của Trần Tự Khánh (con trai thứ củaTrần Lý) Từ đó, vua Lý hoàn toàn phụ thuộc vào thế lực anh em họ Trần
Năm 1223, Trần Tự Khánh chết, mọi việc đều uỷ quyền cho Trần Thủ Độ khi
ấy là chỉ huy sứ, quản lĩnh cấm quân Là người cơ mưu, quyết đoán, Trần Thủ Độ
đã sắp xếp để vua Huệ Tông nhường ngôi cho công chúa Chiêu Thánh, rồi cắt tóc
đi tu ở chùa Chân Giáo Liền sau đó, Trần Thủ Độ lại thu xếp cho Lý Chiêu Hoànglên 7 tuổi lấy con trai thứ của Trần Thừa là Trần Cảnh lên 6 tuổi Một năm sau, vàotháng 12 âm lịch năm 1225, Lý Chiêu Hoàng đã nhường ngôi cho chồng, nhà Trầnbắt đầu nắm quyền cai trị với vị vua đầu tiên là Trần Thái Tông – Trần Cảnh Ngay sau khi thành lập, nhà Trần dã chấm dứt được tình trạng hỗn loạn của
xã hội Đại Việt vào cuối thời Lý, củng cố và xây dựng bộ máy chính quyền từTrung ương đến địa phương, lập lại trật tự chính trị, xã hội, chăm lo phát triển kinh
tế, văn hóa
Về mặt nông nghiệp:
Để tránh nạn ngập lụt, vua Thái Tông sai đắp đê hai bên bờ sông và cử quanđặc trách trông coi việc đắp đê gọi là hà đê sứ Mỗi năm sau vụ mùa, triều đình còn
Trang 12ra lệnh cho quân sĩ đắp đê hay đào lạch, hào, giúp đỡ dân chúng Triều đình cũngcho phép các vương, hầu có quyền chiêu tập những người nghèo khó, lưu lạc đikhai khẩn đất hoang để mở mang thêm ruộng nương.
Về mặt thuế má:
Có 2 loại thuế là thuế thân và thuế điền Thuế thân được đóng bằng tiền và ítnhiều tuỳ theo số ruộng có Ai có dưới một mẫu ruộng thì được miễn thuế Thuếđiền thì đóng bằng thóc Ngoài ra còn có thuế trầu cau, rau quả, tôm cá v.v Về mặttiền tệ, để tiện việc tiêu dùng, vàng bạc được đúc thành phân, lượng và có hiệu củanhà vua
Về việc thi cử, học hành:
Trước kia dưới triều nhà Lý, có mở những khoa thi tam trường để lấy cửnhân, nhưng các khoa thi chỉ được mở ra khi nào triều đình cần người tài giỏi ragiúp nước chứ chưa mở định kỳ Năm 1232, vua Trần Thái Tông cho mở khoa thiThái học sinh để lấy tiến sĩ theo định kỳ cứ 7 năm thì có một kỳ thi Năm 1247,nhà vua lại cho đặt ra khảo thi tam khôi để lấy trạng nguyên, bảng nhãn và thámhoa Lê Văn Hưu là người đầu tiên đậu bảng nhãn Ngoài Quốc Tử Giám có tạikinh đô từ đời nhà Lý, nhà Trần cho lập thêm Quốc Học Viện để giảng Tứ Thư vàNgũ Kinh Tại các lộ cũng cho mở trường học để dạy cho dân chúng
Đại phá quân Mông – Nguyên:
Một trong những chiến công lừng lẫy nhất của vương triều nhà Trần đó là balần đánh thắng quân Mông – Nguyên, thế lực hung hãn nhất lúc bấy giờ vào nhữngnăm 1258, 1285 và 1287
Mông - Nguyên đương thời là đế quốc lớn nhất thế giới Những nơi ngườiMông bại trận lúc đó như Ai Cập quá xa xôi, Nhật Bản và Indonesia đều có biển cảngăn cách và quân Mông cũng không có sở trường đánh thủy quân nên mới bị thuatrận Thế nhưng nước Đại Việt lúc đó nằm liền kề trên đại lục Trung Hoa, chungđường biên giới cả ngàn dặm với người Mông mà người Mông vẫn không đánhchiếm được Một đế quốc đã bao trùm cả đại lục Á-Âu mà không lấy nổi một dải
Trang 13đất bé nhỏ ở phía Nam Có so sánh tương quan lực lượng với kẻ địch và vị trí địa
lý với những quốc gia làm được điều tương tự mới thấy được sự vĩ đại của chiếncông 3 lần đánh đuổi quân Mông - Nguyên của nhà Trần
Những võ công oanh liệt của quân và dân Đại Việt chống quân xâm lượcMông – Nguyên thế kỷ XIII cùng với những công lao của nhà Trần trong việcthống nhất đất nước, ổn định và phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội đã đưa vươngtriều Trần lên vị trí là một trong những triều đại có đóng góp lớn nhất đối với sựphát triển của lịch sử dân tộc và trong công cuộc chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc
Và Thời Trần cũng được coi là thời kỳ vàng son của văn minh Đại Việt, niềm tựhào của dân tộc Việt Nam
1.3.2 Tức Mặc – kinh đô thứ hai của nhà Trần.
Dưới thời Trần vùng đất Tức Mặc-sau này được đặc cách phong thành "phủThiên Trường" từng có những cung điện tráng lệ, những dinh thự quy mô và trênthực tế nơi đây có vai trò như là một "hành đô" một "đông kinh" sau kinh thànhThăng Long thuở đương thời
Nghiên cứu di sản văn hoá Trần ở Việt Nam, các nhà khoa học ngành xã hộinhân văn khẳng định không nơi đâu lại phong phú và đậm dấu ấn như vùng đấtThiên Trường Khác với kinh đô Thăng Long, trải qua biến cố lịch sử, dấu vết kinh
đô khó xác định thì trái lại, các nhà khoa học đã phát hiện khối lượng di vật phongphú đa dạng tại các địa danh vùng đất Tức Mặc Từ những năm 60, 70 của thế kỷ
XX, trong khi canh tác, người dân địa phương đã phát hiện nhiều di vật thời Trầndưới lòng đất như: Giếng cổ được tạo bởi 152 chiếc bao nung ở phía sau chùa PhổMinh, những sản phẩm gốm hoa nâu, ngói, đầu rồng, sành sứ Các nhà khoa học,
đã "khoanh vùng" sự chú ý vào các di chỉ, di tích thời Trần tiêu biểu tập trung tại 4
xã phía bắc thành phố Nam Định là Lộc Vượng, Lộc Hạ, Mỹ Trung, Mỹ Phúc Qua
các đợt khai quật đã tìm thấy 6 mảnh gốm có chữ " Thiên Trường Phủ chế" cho
phép suy đoán có thể quanh Phủ Thiên Trường chính là nơi "xuất phát điểm" củagốm hoa nâu; đồng thời là nơi sản xuất các sản phẩm gốm cao cấp cùng với ThăngLong - Hà Nội, Tam Thọ, Thanh Hoá Đặc biệt, từ tháng 6 đến tháng 12-2006, Sở
Trang 14Văn hoá - Thông tin Nam Định đã phối hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam tiếnhành thám sát khai quật khu vực các di tích Hậu Bồi, Vạn Khoảnh, Đệ Tam Tây,Lựu Phố và khu vực cánh đồng giữa chùa Phổ Minh và đền Trần với tổng diện tích
là 2100m2 Kết quả, đã phát hiện hàng vạn di vật có niên đại và tầng văn hoá kéo
dài từ thế kỷ XIII - XIX như: Gạch lát nền hình vuông có chữ " Vĩnh Ninh Tường",
các loại ngói mũi lá, ngói mũi sen kép, mũi sen đơn, ngói cong; dấu tích các bờ đá
kè, nền sân, nền gạch, xuất lộ dấu tích kiến trúc mới như dải "hoa chanh", các ôvuông bát giác dạng "Bồn hoa", các móng trụ bước đầu nhận diện về kiến trúccung Trùng Hoa cổ của các vua Trần Với hiện trạng nói trên, các di tích vừa đượcphát hiện có ý nghĩa khoa học rất lớn Đó là "khám phá" về một mặt bằng kiến trúchiếm có niên đại chuẩn của thời Trần (thế kỷ XIII-XIV) Các dấu tích kiến trúc ởđây có sự tương đồng với kiến trúc Trần ở Thăng Long, bởi vậy thông qua việcnghiên cứu các di tích này sẽ góp phần xác định niên đại cho nhiều di tích Trần ởThăng Long - Hà Nội như Đại La, Lý, Lê thuộc khu vực Cấm Thành Theo GS.TS
Lưu Trần Tiêu, Chủ tịch Hội đồng bảo vệ di sản: Những di tích, di vật được phát hiện qua đợt khai quật có quy mô lớn nhất từ trước đến nay, là cơ sở khoa học khẳng định Hành cung Thiên Trường là kinh đô thứ 2 của nhà Trần sau Thăng Long.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, nhà Trần đã xây dựng miếu để thờ cúng tổ tiên
từ trước khi Trần Cảnh lên ngôi vua: "Tân Mão năm thứ 7 (1231), tháng 8 mùathu, nhà vua ngự đến hành cung Tức Mặc làm lễ hưởng ở Tiên Miếu" Tấm biaNam Mặc miếu trách bi ký dựng năm Duy Tân 9 (1915) có đoạn: "Tức Mặc đếhương dã, Trần Miếu tại yên" (Tức Mặc là quê hương của nhà vua, miếu nhà Trần
ở đấy) Vùng đất Tức Mặc, nơi dấy nghiệp và lập căn cứ địa của 3 lần chống giặcNguyên - Mông, theo thuyết phong thuỷ xưa có dạng ngoạ long là thế đất đẹp, phát
về đường đế vương, khanh tướng Thực tế lịch sử triều đại Trần - đỉnh cao của vănminh Đại Việt với rất nhiều đức anh quân, văn thần, võ tướng đã minh chứng
Ngay từ năm 1239, Trần Thái Tông, vị vua đầu tiên của triều Trần đã cho xâydựng ở đây nhiều đền đài, cung điện nguy nga, tráng lệ Sách Đại Việt sử ký toàn
Trang 15thư ghi rõ: "Đến năm 1262, vào tháng 2, Thượng hoàng ngự đến hành cung TứcMặc ban tiệc to Đổi hương Tức Mặc làm Phủ Thiên Trường, cung gọi là TrùngQuang Lại mà cung riêng cho vua đương triều đến chầu ở, gọi là cung TrùngHoa Từ đây về sau các vua nhường ngôi đều ngự ở cung này" Bao bọc khu cungđiện là dinh thự, thái ấp của các tướng lĩnh cao cấp của triều đình Thái ấp QuắcHương của Thượng phụ Thái sư Trần Thủ Độ, thái ấp Cao Đài của Thượng tướngThái sư Trần Quang Khải Trong suốt 175 trị vì, Phủ Thiên Trường được coi nhưkinh đô thứ 2, là phên dậu vững chắc phía Nam kinh thành Thăng Long Nhà thơđương thời Phạm Sư Mạnh từng ca tụng:
Tức Mặc hành đô cảnh lạ lùngDân vui đời thịnh lại thuần phong
Sau bảy thế kỷ giặc giã, bão lụt, thiên tai, cung điện Trùng Quang, Trung Hoađều không còn Song qua nhiều cuộc khai quật khảo cổ học tại khu vực đền Trần,chùa Tháp, với những thành tựu nghiên cứu gần đây, giới nghiên cứu khoa học xãhội và nhân văn bước đầu nhận định đây là đồ án kiến trúc hoàn chỉnh và tươngđối sớm trong kiến trúc cung điện, chùa chiền ở Việt Nam
Với vị trí quan trọng đó, trong ba lần kháng chiến Nguyên-Mông, cung điệnThiên Trường đều là căn cứ địa quan trọng để triều đình tôn thất từ kinh thànhThăng Long lui về ẩn náu, bàn kế sách phản công chiến lược, dẫn đến những thắnglợi oanh liệt của dân tộc, đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc
Ngày nay, khi bước vào đền Thiên Trường, chúng ta gặp ngay ba bức hoànhphi lớn treo trang trọng ở gian tiền đường ghi rõ "Thiên trường cung," bên tả là
"Trùng Quang," bên hữu là "Trùng Hoa" và đặc biệt có bức hoành phi ghi "Triệu
cơ vương tích" trong cung cấm nói rõ việc phát tích của dòng họ Trần ở đất này.Chính đền Thiên Trường, đền Cố Trạch được xây dựng sau này cùng với chùa thápPhổ Minh (tôn tạo, mở rộng từ năm 1262) là những chứng cứ vật chất được xâydựng trên nền tảng và cương vực của cung điện Trung Quang, Trùng Hoa xưa.Giờ đây, quần thể di tích này đang hàng ngày hàng giờ được nhân dân cả nước và
Trang 16trong tỉnh Nam Định chăm lo gìn giữ.
CHƯƠNG 2: QUẦN THỂ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA , LỄ HỘI ĐỀN
Là một khu đền nằm ở ngoại thành Nam Định cách quốc lộ 10 chỉ khoảng300m tạo điều kiện thuận lợi cho khu di tích về giao thông dễ ràng thu hút dukhách khắp nơi hành hương về đây lễ phật bằng các phương tiện giao thông khácnhau Tại đây ngoài là một điểm thu hút du khách về đây thắp hương, cầu khấn.Đền Trần còn là một di tích có phong cảnh hữu tình, đến đây chúng ta còn có thểvãn cảnh chùa để quên đi những sầu muộn của cuộc sống Với điều kiện như vậyhàng năm đền Trần đã thu hút rất nhiều du khách đến thăm quan mang lại nguồnthu không nhỏ cho địa phương và cho ngành du lịch của tỉnh
Trần Miếu, tên cổ của đền Trần - Tức Mặc Nam Định Nói đến Trần Miếu tất
có người ngỡ ngàng, song dân gian trên địa bàn hiểu ngay đây là đền Trần Nơi thờ
Tổ tiên dòng tộc Đông - A, các vua Trần, vương phi công chúa triều Trần cùng
Trang 17Trần triều Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn và thân quyến của Đại vương.Phải chăng từ xa xưa cổ nhân muốn khu thờ tự này có sự khác biệt với các đềnmiếu khác nên đặt tên Trần Miếu (Trần tức họ Trần, nhà Trần, Miếu có nghĩa đềnthờ Thánh, Thần lại còn hàm ý chỉ cung điện của các bậc đế vương) Cụ thể hơn làmiếu nhà Trần, nơi thờ tự có liên quan đến cung điện Thái thượng hoàng, phủ đệcủa các vương hầu.
Dân gian cũng phân biệt miếu nhà Trần khác hẳn Văn Miếu thờ Khổng Tử,hoặc văn từ, văn chỉ thờ Tiên hiền ở các địa phương Lại càng khác xa các miếunhỏ thờ Thổ Thần thuộc các làng xã Nói vậy để khẳng định tầm cỡ Trần Miếu,một công trình thờ tự đặc biệt trên quê vua mà xa xưa có cung điện, tẩm miếu củaThượng hoàng cùng tự quân vương triều Trần Vậy miếu nhà Trần có từ bao giờ?Trần miếu là danh từ riêng chỉ công trình thờ tự của họ Trần đại tông, liênquan đến vùng đất quê vua, có cung điện từ đầu thế kỉ XIII một thời vang bóng.Trần Miếu gồm tổng thể cả hai công trình Thượng miếu và Hạ miếu Thượngmiếu còn gọi đền Thiên Trường, Hạ Miếu thường gọi đền Cố Trạch
Theo “Nam Mặc miếu trạch bi ký” niên hiệu Duy Tân cửu niên thì khoảngnăm Thiên Ứng Chính Bình (1232 - 1250) Phùng Vương về tạo dựng Trần Miếutrên nền cũ của nhà thờ họ Trần Nhưng theo sử liệu thì miếu thờ nhà Trần đã cótrước năm Tân Mão (1231) và chính Trần Thái Tông đã về làm lễ vào tháng 8 năm
ấy, lại ban yến tiệc cho các bô lão trong hương Vậy miếu nhà Trần đã có từ rấtsớm, Phùng Vương về tôn tạo có thể vào năm 1239, cũng làm trên nền nhà thờ cũ.Điều này chứng tỏ các bậc Tiên tổ nhà Trần rất quan tâm đến cội nguồn Và nếudựa vào “Phả hệ bảo tích” thì cụ Thuỷ tổ Trần Kinh về khu Tức Mặc đã mauchóng dựng nhà ở, cũng như thiết lập từ đường tạo phúc cho dòng họ và con cháumai sau Nếu đúng thế thì nhà thờ phải có trước thời kì Thái Tông về thăm quêhàng nhiều thập kỉ
Những công trình thờ tự của Đông - A dù có từ rất sớm, hoặc vào đầu thế kỉXIII cũng đã lui vào dĩ vãng Ngay nhà từ tái lập năm Chính Hoà thập ngũ niên màvăn tự “ Trần thị đại tông từ đường” thôn Tức Mặc ghi, hoặc như câu đối tại
Trang 18Thượng miếu cũng chỉ tồn tại rất ít cấu kiện, trong đó có ngạch, ngưỡng và bộcánh cửa chạm lưỡng long chầu nguyệt, hiện còn lưu tại đền Thượng mà thôi Lạicông trình mở rộng vào niên hiệu Long Đức thứ hai (1733) cũng đâu còn nhiều dấutích.
Sang thời Nguyễn, Trần Miếu được trùng tu dưới thời Tự Đức ngũ niên(1852), rồi Tự Đức Mậu Thìn (1868) được cải tạo mở mang thêm cũng không cònnguyên vẹn Nhưng kiểu dáng kiến trúc, phong cách vẫn giữ dấu ấn văn hoá thờiNguyễn Người xưa đánh giá việc hưng công đền thờ vua là quan trọng nên thờigian trùng tu được ghi trên tấm biển lớn hai chữ “Trần Miếu” và hàng chữ nhỏ ghi:Hoàng triều Tự Đức vạn vạn niên chi lục, tuế tại Quý Sửu lục nguyệt thượng cán,phụng chỉ xuất khố tiền trùng tu Mười sáu năm sau Trần Miếu lại tiếp tục sửachữa nên trên câu đầu gian giữa toà tiền đường Thượng Miếu ghi: Tự Đức CanhNgọ hạ - Mùa hè năm Canh Ngọ niên hiệu vua Tự Đức -1868
Có lẽ tổng thể quy trình kiến trúc thời kì này chưa hoàn chỉnh, bình diệnchưa đáp ứng yêu cầu tín ngưỡng đối với khách hành hương, cũng như cộng đồnglàng xã, con cháu họ Trần nên dưới triều vua Thành Thái và đầu niên hiệu DuyTân ( cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20) Thượng miếu được tôn tạo, đồng thời phụcdựng Hạ miếu, làm thêm cổng ngõ, hồ nước mặt tiền, ngũ môn… Khiến tổng thểkhu vực hài hoà đẹp mắt, tạo một bình diện toà ngang dãy dọc ẩn hiện dưới bóngcây xanh, cây đại thụ trên khoảng đất cao ráo rộng tới tám hecta Đây lại là đắc địabởi có thế ngoạ long, theo thuyết phong thuỷ là rất quý hiếm
Thượng miếu thờ vua, đế hậu,đế phi cùng các bậc Thuỷ tổ tộc Đông-A
Hạ miếu thờ Hưng Đạo đại vương cùng thân quyến, tả hữu tướng lĩnh, nhưng trongtín ngưỡng thì có sự khăng khít Dân gian về khu Trần miếu trong dịp Xuân - Thunhị kì, ngay cả những ngày kỉ niệm các vua ở Thượng miếu đều xuống lễ ở Hạmiếu và ngược lại
2.1.2 Hệ thống các công trình.
Đền Trần là một đền thờ tại đường Trần Thừa phường Lộc Vượng thành phố
Nam Định là nơi thờ các vua nhà Trần cùng các quan lại có công phù tá nhà Trần
Trang 19Đền Trần được xây dựng trên nền Thái miếu cũ của nhà Trần đã bị quân Minh pháhủy vào thế kỷ 15.
Đền Trần bao gồm 3 công trình kiến trúc chính là đền Thiên Trường (hay đềnThượng), đền Cố Trạch (hay đền Hạ) và đền Trùng Hoa Trước khi vào đền, phải
qua hệ thống cổng ngũ môn Trên cổng ghi các chữ Hán Chính nam môn ( cổng chính phía nam) và Trần Miếu ( Miếu thờ nhà Trần) Qua cổng là một hồ nước
hình chữ nhật Chính giữa phía sau hồ nước là khu đền Thiền Trường Phía Tâyđền Thiên Trường là đền Trùng Hoa, phía Đông là đền Cố Trạch
Cả 3 đền đều có kiến trúc chung, và quy mô ngang nhau Mỗi đền gồm tòatiền đường 5 gian, tòa trung đường 5 gian và tòa chính tẩm 3 gian Nối tiền đường
và trung đường là kinh đàn (thiêu hương) và 2 gian tả hữu vu
Đền Thiên Trường được xây trên nền Thái miếu và cung Trùng Quang của
nhà Trần mà trước nữa là nhà thờ họ của họ Trần Cung Trùng Quang là nơi cácthái thượng hoàng nhà Trần sống và làm việc Đền Trần hiện nay được dân địaphương xây bằng gỗ từ năm Chính Hòa thứ 15 (tức năm 1695) Các năm 1773,
1854, 1895, 1907-1908, đền được mở rộng và xây thêm
Đền Thiên Trường hiện tại gồm có tiền đường, trung đường, chính tẩm, siêuhương, 2 dãy tả hữu vu, 2 dãy tả hữu ống muống, 2 dãy giải vũ Đông Tây Tổngcộng có 9 tòa, 31 gian Khung đền bằng gỗ lim, mái lợp ngói, nền lát gạch
Tiền đường của đền Thiên Trường gồm 5 gian, dài 13 mét Có 12 cột cái cùng
12 cột quân, tất cả đều được đặt trên chân tảng bằng đá hình cánh sen có từ thờiTrần là chân cột cung Trùng Quang cũ Tại đây có đặt ban thờ và bài vị của cácquan có công lớn phù tá nhà Trần
Sau tiền đường là trung đường là nơi thờ 14 vị hoàng đế nhà Trần Tuy nhiên,không có tượng thờ mà chỉ có bài vị Trước cửa trung đường có ba cỗ ngai là nơithờ bái vọng các vị hoàng đế
Sau trung đường là chính tẩm gồm 3 gian Đây là nơi thờ 4 vị thủy tổ của họ
Trang 20được đặt bài vị thờ ở 2 gian trái, phải.
Tòa thiêu hương (hay kinh đàn) là nơi đặt ban thờ và bài vị của các công thầnnhà Trần Có ban thờ riêng cho các quan văn, và ban thờ riêng cho các quan võ
Đền Cố Trạch nằm phía Đông của đền Thiên Trường Nhìn từ sân, là bên
phải đền Thiên Trường Đền Cố Trạch được xây vào năm 1894 Theo bia Trùngkiến Hưng Đạo thân vương cố trạch bi kí, thì lúc tu sửa đền Thiên Trường năm 21đời Tự Đức (năm 1868), người ta đào thấy ở phía Đông đền Thiên Trường mộtmảnh bia vỡ có ghi chữ Hưng Đạo thân vương cố trạch (nhà cũ của Hưng Đạo thânvương) Do đó khi xây đền này vào năm 1894 khánh thành vào năm 1895, đềnđược đặt tên là Cố Trạch Từ (đền nhà cũ) Đền Hạ là tên thường gọi
Đền Cố Trạch đặt bài vị của Trần Hưng Đạo, gia đình và gia tướng Tiềnđường của đền Cố Trạch là nơi đặt bài vị của 3 gia tướng thân tín của Trần HưngĐạo, đó là Phạm Ngộ, Phạm Ngũ Lão và Nguyễn Chế Nghĩa
Thiêu hương (kinh đàn) là nơi đặt long đình trong có tượng Trần Hưng Đạocùng 9 pho tượng Phật Bên trái đặt bài vị các quan văn Bên phải đặt bài vị củacác quan võ
Gian tả vu là nơi đặt bài vị Trương Hán Siêu, Phạm Thiện Nhân và các bài vịvăn thần triều Trần
Gian hữu vu là nơi đặt bài vị võ thần triều Trần, bài vị Trần Công và các thânnhân họ Trần
Tòa trung đường là nơi đặt bài vị và tượng của Trần Hưng Đạo, bài vị của 4người con trai, của Phạm Ngũ Lão và các tả hữu tướng quân
Tòa chính tẩm là nơi đặt bài vị của cha và mẹ Trần Hưng Đạo, của Trần HưngĐạo và vợ (công chúa Thiên Thành), của 4 người con trai và 4 người con dâu củaTrần Hưng Đạo, của con gái và con rể (Phạm Ngũ Lão)
Đền Trùng Hoa mới được chính quyền tỉnh Nam Định với sự hỗ trợ về kinh
phí của chính phủ xây dựng từ năm 2000 Đền được xây trên nền cung Trùng Hoa
Trang 21xưa - nơi các đương kim hoàng đế nhà Trần về tham vấn các vị thái thượng hoàng.Trong đền Trùng Hoa có 14 pho tượng bằng đồng của 14 hoàng đế nhà Trần đặt tạitòa trung đường và tòa chính tẩm Tòa thiêu hương là nơi đặt ngai và bài vị thờ hộiđồng các quan Gian tả vu thờ các quan văn Gian hữu vu thờ các quan võ.
2.1.3 Giá trị kiến trúc, nghệ thuật của quần thể di tích Đền Trần
Trong kiến trúc quần thể Đền Trần thì công trình trung tâm là Thượng miếu.Thượng miếu có nội dung thờ tự một phần của Tiên miếu mà năm 1231 Trần TháiTông về làm lễ nhưng vị trí nhà từ xưa có ở trên nền Thượng miếu không? Điềunày khó có thể chứng minh bằng phế tích công trình Nhưng theo truyền thuyếtcùng bản ghi “Trần thị đại tông từ đường” thì sau tai họa giặc Minh, Lê Thái Tổthống nhất giang sơn, con cháu họ Trần tìm về khu Khang Kiện, khu Động Kính
và khu Bái Thôn của hương Tức Mặc tái định cư lập nghiệp, hình thành các chiphái như Trần Huy, Trần Đăng, Trần Thế
Một vài tài liệu khác của hậu duệ Đông - A còn khẳng định công trình nàyban đầu có ba gian bằng gỗ lim và lợp vào năm Chính Hoà thập ngũ niên
Cũng theo tài liệu và di ngôn dân gian thì sau ba mươi năm, vào niênhiệu Đức Long, Trần miếu được làm thêm năm gian tiền tế bằng gỗ lim, nhưng vẫnlợp tranh Sang thời Nguyễn Tự Đức, triều đình quan tâm, các quan chức hàngtỉnh, huyện hết lòng vào công việc tu sửa tôn tạo, thay mái tranh bằng mái ngói.Vào cuối thế kỉ XIX(1895) rồi niên hiệu Thành Thái thứ 15 (1903), tiếp đến niênhiệu Duy Tân đầu thế kỷ XX Trần miếu lại được tu sửa phần ngoại thất, như xâydựng ngũ môn, tạo hồ nước trước công trình, đắp đôi voi chầu tại sân Thượngmiếu Như vậy các hạng mục ngoại thất được kiến tạo cách đây khoảng 100 năm
Nó trở thành di sản vật thể cùng với toà ngang dãy dọc trên khu vực miếu cổ nhàTrần tạo nên thắng tích, góp phần cho trang sử vàng Đông - A thêm lung linh màusắc
Thượng miếu nằm trên khu đất cao ráo, có thể khẳng định là vị trí trung tâmcủa tổng thể miếu đền nơi đây Toàn bộ công trình làm theo trục đối xứng Bắc -Nam bao gồm chính điện(chính tẩm) tả, hữu vu, siêu hương (thiêu hương), tiền tế,
Trang 22ống muống (nhà nhỏ hai bên tiền tế), tả, hữu giải vũ, Ngũ môn (Ngọ môn) với 10toà lớn nhỏ, được bố cục đăng đối hài hoà đẹp mắt Bình diện công trình có sântrong (còn gọi sân rồng) với hàng rồng đá từ trên thềm cao năm cấp nhao xuống,cùng hàng gạch hoa trên đường chính đạo (gạch phục chế theo mẫu từ thời Trần).Sân rồng còn có tường bao, đồng trụ, đôi voi lớn đứng chầu hai bên dưới bóng câybàng cổ thụ, khiến ngoại thất nơi tẩm miếu thoáng đãng, sáng chiều đều râm mátgợi cảm Phía ngoài sân rồng là hồ nước rộng hàng mẫu, xung quanh có vườn câycảnh, cây lưu niên, cây cổ thụ toả bóng nghiêng ngả trên hồ, hoà quyện với cột trụ,tường hoa, mái ngói cùng mây trời như thêu dệt bức tranh thuỷ mặc Trần miếu.Phía ngoài hồ nước có sân giữa với hàng cây cổ thụ nhiều dáng vẻ, rồi Ngũ môn cổkính, hoành tráng với ba chữ lớn tạc trên đá “Chính Nam môn” như nhắn nhủ chohiện tại và mai sau, phải quay về phía Nam, hoài tưởng hương Tức Mặc quê vuanhư văn bia có ghi “ Cố đế hương dã”.
Tổng thể các toà Thượng miếu từ chính điện, siêu hương, tả hữu vu,tiền đường, ống muống, giải vũ rồi Ngũ môn tuy lớn nhỏ khác nhau, bộ mái khácnhau nhưng đồng phong kiến trúc thời Nguyễn, lại khiêm tốn việc gia công nghệthuật điêu khắc ở cấu kiện công trình, như một số đền, đình tín ngưỡng khác, nhất
là phục chế đúng nếp cũ của Trần miếu thế kỷ XVII, như chạm khắc rồng trên bộcửa ở toà tiền tế hiện còn lưu Những toà ngang dãy dọc chính, phụ được bố cục cóthấp, có cao vừa trải rộng, vừa vươn dài theo thế tay ngai Trên trăm mét chiềurộng, hàng trăm mét chiều dài được vươn dần về phía Nam tạo một không gianmênh mông trữ tình, đượm thi vị
Chính điện có chiều dài 13m20 rộng gần 12m là công trình thiết kế không cầu
kì nhưng to, cao theo lối cổ chồng diêm, lại cách tân thành ba gian cuốn hậu cungtạo thêm cung thờ tự Chính điện thờ 14 vị hoàng đế, hậu cung thờ Tiên tổ cùngcác hoàng hậu, hoàng phi Hạng mục chính điện cao trên 7m, phần hiên rộng 4,2mkhiến diện tích hiên khá thoải mái, khách hành hương có thể đứng ngoài bái vọng.Ban khánh tiết Thượng miếu cũng đã tạo hương án tại hiên ở gian chính giữa, phíadưới chữ đại tự “Thiên Trường cung”, đáp ứng nhu cầu dâng hương của đông đảo
Trang 23bà con Phía trên hai bộ cửa lớn ở hai bên chạm đề tài tứ quý công phu nghệ thuật,còn treo hai đại tự lớn “Trùng quang”, “Trùng Hoa” ghi lại kỉ niệm 744 năm trước,nơi đây vương triều xây dựng cung riêng để Thượng hoàng về ở và làm cungTrùng Hoa cho các hoàng đế đương nhiệm ở kinh đô lui về thăm hỏi sức khoẻThượng hoàng, hoặc bẩm báo, đệ trình những quốc sách quan trọng.
Phía trước chính điện là công trình siêu hương Đây là toà mái cong bốn mái,nhằm làm dịu sự khô cứng của các hạng mục mái chảy ở 4 phía Siêu hương thiết
kế lối phương đình có cạnh 6m40, chiều cao hài hoà với tổng thể kiến trúc xungquanh, tạo sự thông thoáng sáng sủa chung Bộ khung của siêu hương dựa vào bốncột có đường kính 45cm Đây là các đại trụ chịu lực, bằng gỗ lim nổi vân núi đadạng Cột làm kiểu búp đòng nên to, cao mà vẫn như thanh thoát Chân cột tỳ trêntảng cánh sen có cạnh 70cm, đục cầu kì theo kiểu chân tảng hoa sen thời Trần Nềnnhà được lát bằng lớp gạch hoa thời Trần (phục chế) nên càng tăng thêm vẻ đẹp.Hai bên Đông-Tây siêu hương có hai toà nhà nhỏ, mỗi toà ba gian là kiểu trụ, câuđầu cổ truyền, là nơi thờ các quan văn, võ tướng giúp vua trị quốc an dân, cũngnhư xông pha trận mạc bảo vệ đất nước
Phía trước siêu hương là toà tiền đường ( nhà lễ phía trước chính điện) Côngtrình này có năm gian, dài 13m, rộng 6m làm kiểu bít đốc có bờ, bảng, trụ hồi, kìmnóc theo kiểu dáng thời Nguyễn.Trên câu đầu còn ghi “Tự Đức Canh Ngọ hạ”,song trên đại tự lớn ghi “Trần Miếu” theo kiểu thư pháp lại có hàng chữ nhỏ “Hoàng triều Tự Đức vạn vạn niên chi lục, tuế tại Quý Sửu lục nguyệt thượng cán,phụng chỉ xuất khố tiền trùng tu” tức là miếu thờ của nhà Trần, được xuất tiền từcông quỹ quốc gia để tu sửa vào năm Tự Đức thứ 6 Điều này chứng tỏ công trình
có sự ưu ái của nhà nước
Nhưng đáng lưu tâm nhất là bộ cánh cửa gian giữa toà tiền đường Bộ cửagồm hai cánh chạm “lưỡng long tranh châu” (hai con rồng giành ngậm ngọc) Cửacao gần hai mét làm kiểu chân quay, đặt trên bạo cửa và ngạch ngưỡng lối
cổ Nghệ nhân nhấn, tỉa đôi rồng khoẻ mạnh làm đang thè lưỡi nhe răng, trợn mắt,vểnh râu cùng lớp lớp lá hoả, khiến đôi rồng được nhân lên vẻ hùng dũng Nhìn kĩ
Trang 24còn thấy bốn con rồng nhỏ cùng đôi ly đang nép mình dưới những khúc rồng uốn
éo như trông cậy lão long che chở Khung, bạo cửa cũng được tạo hoa văn, lá hoả
và đôi rồng nhỏ chầu thật mềm mại, khiến hoạ tiết lão long thêm vẻ oai phong,đường vệ Và đây chắc là tác phẩm điêu khắc của thế kỉ 17 còn sót lại, đánh giánhiệt tình của con cháu họ Trần, đã góp công, góp của tạo cho nhà từ những cấukiện kỳ công, sáng giá
Tiền tế xây dựng trên nền cao, phần hiên rộng được tiếp liền với hệ thống bậclên xuống năm cấp bằng đá tảng kiến tạo công phu Và để tạo vẻ tôn nghiêm khibước lên tiền tế, người ta thiết kế hai đôi rồng đá từ trên hiên nhao xuống Rồnglàm theo phong cách thời Nguyễn, được chạm họa tiết cầu kỳ, oai phong Và có lẽ
do sự bố cục rồng chầu, gạch lát sân có hoa sen nổi hoạ tiết hoa chanh, các đườngchỉ viền tạo lỗ vuông cũng như hình tròn giống như đồng tiền cổ, cùng với các chữ
“Thọ” Hai phía Đông-Tây sân rồng là hai dãy giải vũ, rồi tiếp theo hệ thống tườnghoa, đồng trụ xây dựng chắc chắn, khoẻ khoắn hoà nhập với công trình làm tăngthêm vẻ đẹp cho sân rồng
Đền Trần còn có đôi voi chầu trong sân Voi tuy chỉ đắp bằng vôi vữa, nhưng
là cặp voi lớn có tư thế bệ vệ với những chi tiết cấu tạo như đầu, tai, ngà và cảphần bành và yếm voi, cũng được chú ý vừa tả thực vừa cách điệu, do đó cặp voitrầu khá sinh động Qua một hồ nước hình chữ nhật trải rộng như chiếc gương lớn,đến sân ngoài với nhiều cây cổ thụ, cây lưu niên mà do thời gian nên chúng đã sầnsùi gốc, cũng như thân tạo nhiều dáng vẻ tự nhiên, già cỗi tiếp đến Ngũ môn (nămcửa) Dân gian còn gọi hệ thống này là Ngọ môn
Ngọ môn ở phía Nam tổng thể các công trình, lại quay mặt hướng chínhNam, trên cửa lớn chính giữa của Ngọ môn có ba chữ lớn “ Chính Nam môn” Bachữ “Chính Nam môn” đục trên phiến đá lớn dài chừng hai mét, rộng trên một mét.Mặt đá hình lòng máng, khá nhẵn
Tầng thượng của gác lâu Ngọ môn còn có hai chữ lớn “ Trần miếu” hoà nhậpvới đường nét mái cong với long, phượng cùng lan can, tường hoa trụ góc, đại trụnhấn câu đối Hai bên cổng chính, tiếp đến hệ thống cổng phụ xây dựng kiểu cổ
Trang 25diêm hai tầng, rồi tường hoa, trụ cánh làm cân đối và cũng lối chồng diêm cổ đẳng,cũng mái cong, bao loan theo kiến trúc truyền thống, khiến Ngọ môn không chỉchắc khỏe, còn đầy vẻ thầm kín, sâu lắng ý nghĩa của ngôi miếu cổ nhà Trần Đặcbiệt hai bên cổng còn có câu đối ghi:
“Liệt Thánh anh hùng, cố lý miếu đường ưng phục cựu,
Tại nhân công đức, tân niên hương hỏa bất vong sơ”
(Các bậc Thánh anh hùng, nơi quê đền miếu phục hồi theo nếp cũ
Tại dân ghi nhớ công đức, đầu xuân hương khói tưởng lại chuyện xưa)
Đặc biệt Trần miếu còn một di sản quý đó là tấm bia lớn cao 2,07m, chiềurộng 1,20m Trán bia chạm khắc lưỡng long chầu nguyệt cùng các con vật linh,mây tản, tuy không cầu kỳ nhưng rất đẹp Diềm bia ở hai bên cũng như phần dướicũng được trang trí hoa văn, đan xen các loại chim muông, làm tôn thêm ý nghĩacủa tấm bia
Như trên đã nói Trần miếu bao gồm Thượng miếu và Hạ miếu Tuy nhiên
Hạ miếu tức đền Cố Trạch, so với đền thờ các vua có phần thấp, bé hơn,thể hiện ý thức tạo dựng công trình của người xưa có sự thận trọng, cân nhắc vị trítối thượng là hoàng đế Theo tài liệu của dòng họ Trần Tức Mặc cũng như truyềnthuyết thì niên hiệu Thành Thái thứ 7, nhân tu sửa thượng miếu, phục hồi lại đền
Cố Trạch Bởi trên 20 năm trước, khi sửa Thượng miếu nhân dân đã phát hiệnmảnh bia vỡ, trán bia còn 6 chữ “Hưng Đạo thân vương cố trạch” Hưng Đạo đạivương là một người con có hiếu với cha mẹ vì vậy ngay tường mặt tiền hai gian tảhữu toà tiền đường, được đắp nổi hai chữ “ trung, hiếu thật to lớn, khổ chữ trên1m, khiến ai đến đây cũng phải lưu tâm Và ngay ngoài hiên gian giữa toà tiềnđường được treo bức đại tự “ Nam Mặc miếu trạch”, phần lạc khoản ghi long phiĐinh Mùi thu (1907) Đây lại là sự khẳng định đền miếu làm trên nền nhà cũ củaĐại Vương ở đất Nam Mặc Điều đáng nói ở đây là bức đại tự có nghệ thuật thưpháp cao tay, nên nét chữ phóng khoáng, như rồng bay phượng múa Tiền đườnggồm năm gian ở phía ngoài cùng Toà nhà này thiết kế rất đơn giản có các cột gỗlim, xà, bẩy, câu đầu song không đưa đề tài điêu khắc mà trang trí hàng loạt đại tự
Trang 26như “ Hà đức như sơn”, “ Danh đằng lưỡng quốc”, “Đông A ngọc phả” Lại có đại
tự chỉ chạm một chữ đó là chữ “ Trần”, ngoài ra còn dùng hàng loạt câu đối có giátrị
Bên trong tiền đường là toà thiêu hương làm kiểu phương đình bốn mái congcong Toàn bộ xà, bẩy, kẻ cũng như dàn mái đều dồn lực vào tứ trụ Bốn cột gỗ limđường kính tới 45cm cũng làm theo kiểu búp đòng như đề thượng (giữa phình to,đầu cột, chân cột thu nhỏ thon lại) do vậy cột không có vẻ nặng nề, lại đặt trên cácchân tảng chạm hoa sen cách điệu, khiến cấu kiện hoà nhập với công trình theophong cách kiến trúc truyền thống Nói là toà thiêu hương, nhưng ở đây không hẳnchỉ là nơi đốt hương lễ Thánh mang tính cộng đồng, mà công trình này có sập thờlớn, trên đặt long đình chạm khắc rất công phu những đề tài tứ linh cùng hoa lá, lạiđược sơn thếp rất bóng, sáng điệu nghệ Đặc biệt trong long đình chạm bức phùđiêu tượng Phật tam thân, theo kiểu dáng ba toà ở các chùa (Phật thời quá khứ,hiện tại, tương lai)
Với hệ thống kiến trúc cổ kính độc đáo như vậy đền Trần mang đậm nét kiếntrúc của đền Việt Nam kiểu kiến trúc không gian thờ tự Phật và Thánh Từ truyềnthống hiện đại đền Trần đã bao đổi thay Ngày nay mặc dù kiến trúc của đền Trần
đã có nhiều đổi thay không còn giữ được nhiều nét kiến trúc như ngày xưa nhưng
nó vẫn được coi là ngôi đền nổi tiếng của Nam Định, với cảnh sắc thiên nhiên độcđáo, con người hiền hòa thân thiện, mang đậm nét văn hóa phong phú trong ngày
lễ hội vào 14,15 tháng Giêng và ngày hội Đức Thánh Trần 20-8 đã và đang thu hútrất nhiều du khách đến thắp hương cầu khấn và thăm quan vãn cảnh đền
2.1.4 Giá trị lịch sử đền Trần.
Công trình thờ tự tại Thượng miếu.
Thượng miếu còn gọi là đền Thiên Trường, đền Thượng là nơi thờ mười hai
vị vua thời chính thống và hai vua thời hậu Trần, tổng cộng mười bốn đời vua.Trên các ban đều có ngai rồng cùng bài vị chạm khắc tứ linh, sơn son thiếpvàng lộng lẫy, cũng là điều thể hiện sự kính trọng theo cách truyền thống.Tại toà
đệ nhị, gian chính giữa có ban thờ trên bài trí long ngai, long bài ghi hàng chữ: “
Trang 27Trần triều liệt miếu tiên hoàng đế thần vị” (Thần vị vua các vua vương triều Trầntại miếu thờ) Phía sau ban thờ liệt miếu mang tính chất chung có ba ban và trêncác ban đều có long ngai, long bài ghi thần hiệu hoàng đế Trong số mười bốnhoàng đế, tuy xếp hàng theo hàng ngang, nhưng các vị Trần Thái Tông, TrầnThánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông là những bậc quan vương tiêu biểu,lại là các vị mở nghiệp đế cũng như giữ gìn phát huy chế độ quân chủ, cha truyềncon nối, không chỉ làm cho tông miếu xã tắc hiển vinh, mà còn làm cho quốc gia,dân tộc rạng danh nên được bài trí trang trọng ở gian chính giữa Hai ban ở phíaĐông và phía Tây, mỗi bên bài trí thờ năm vị vua theo cổ lệ của miếu Tức Mặc,đến ngày nay vẫn được trân trọng.
Trong các vị vua thờ tự hai bên thì mỗi vị vua đều có những truyền thuyết
về lịch sử như: Vua Trần Minh Tông hoàng đế cũng là vị vua hiền nhưng cuối đờimắc phải lỗi giết oan nhạc phụ nên ít nhiều ảnh hưởng đến triều chính Đời TrầnHiến Tông, Trần Dụ Tông, Trần Nghệ Tông rồi Trần Duệ Tông tuy đều là conthượng hoàng Minh Tông nhưng anh em được thay nhau làm vua bởi thiếu đội ngũthái tử kế cận, làm mất đi chế độ cha truyền con nối mà hàng ngàn năm đã có trênbản địa Các triều vua này lại hạn chế việc phát huy đức sáng của tổ tiên, cũng nhưthiếu vững vàng chèo lái con thuyền Đại Việt khiến nội trị suy kém, việc chế ngựngoại bang không thành sự Vua Trần Duệ Tông tử trận, con trai 16 tuổi được nốingôi tức Trần Phế Đế Nhưng vì nhu nhược nên 12 năm sau bị phế truất (1388).Ông vua thứ 11 lên thay lại là con út thượng hoàng Nghệ Tông, anh họ Trần Phế
Đế, lên ngôi năm 11 tuổi, 9 năm sau bị truất ngôi rồi xuất gia và bị giết Ông vuathứ 12 là Trần Thiếu Đế, 3 tuổi lên ngôi và chỉ vài năm sau bị phế truất (1398-1400)
Như vậy Thượng miếu ở toà chính điện, dân gian còn gọi chính tẩm, thờ 14
vị hoàng đế Điều đặc biệt là mỗi hoàng đế đều được ghi duệ hiệu đặt trên longngai riêng và được sắp xếp theo hàng ngang ở các gian
Việc tôn thờ ở Trần Miếu có từ lâu đời và được các triều đại nối tiếp quantâm đến việc xây dựng, mở mang nơi thờ tự, cũng như ban cấp sắc phong Nhưng
Trang 28do hoàn cảnh chiến tranh, hiện tại chỉ còn 9 đạo sắc thời Lê Vĩnh Thịnh thứ 6(1710) và một đaọ niên hiệu Tự Đức thứ 33(1880).
Hậu cung Thượng miếu tuy chỉ có ba gian ở phiá sau toà đệ nhị, nhưng tiềnnhân bố trí thờ tự khá phong phú.Gian giữa đắp nổi bức đại tự với bốn chữ “ Triệuvượng cơ tích” ( Dấu vết ban đầu lập nghiệp) Phía dưới có khám thờ Trong khám
có bày hai hàng bài vị:
Hàng phía trong bao gồm ba bài vị 1, 2, 3 ghi: “ Trần triều truy tôn hoàng đếthần vị”(Ngôi thần của các vị Thuỷ tổ vương triều Trần
Hàng bên ngoài cũng có ba bài vị, bài vị số 4 ghi: “ Trần triều truy tôn Mục
Tổ hoàng đế, Ninh tổ hoàng đế, Nguyên Tổ hoàng đế, Thái tổ hoàng đế”(Ngôi thầnđược triều Trần truy tôn: Mục Tổ (Trần Kinh), Ninh Tổ (Trần Hấp), Nguyên Tổ(Trần Lý), Thái Tổ (Trần Thừa ) là bậc hoàng đế Đây là bốn cụ tổ họ Trần về định
cư lập nghiệp ở Tức Mặc rồi sang Thái Đường, từ đây mà sinh ra các con cháuđem vinh quang cho dòng họ cũng như dân tộc
Bài vị số 5 ghi việc truy tôn phu nhân của các cụ tổ vừa nêu là bậc Hoàngthái hậu: “Trần triều truy tôn Mục Từ hoàng thái hậu, Nguyên Từ hoàng thái hậu,Quốc Thánh hoàng thái hậu” (Truy tôn phu nhân của các cụ tổ là Mục Từ, Ninh
Từ, Nguyên Từ hoàng thái hậu, Quốc Thánh là Hoàng thái hậu của triều Trần) Riêng đối với Thái Tổ Trần Thừa là người sinh ra vua, được ghi thêm bài
vị, có sự truy tôn đặc sắc hơn (bài vị số 6): “Trần triều Hiếu Tổ truy tôn Tháithượng hoàng, hiệu thuỵ khai vận lập cực thuỳ dụ chí hiếu hoàng đế thần vị”(TriềuTrần truy tôn ngôi thần cho Hiển Tổ là Thái Thượng Hoàng, tên thuỵ có công mởvận hội lập vương triều, đáng bậc hoàng đế rất mực có hiếu)
Hậu cung còn có hai gian tả hữu Gian bên phải được đắp nổi hai chữ “Khônthừa” (Quẻ khôn, ví với đất, nói về đức hạnh phụ nữ) Ban thờ có bài vị đặt trênlong ngai ghi: “Trần triều đế hậu liệt vị” (Ngôi thần các vị hoàng hậu của nhàTrần) Như vậy đây là bài vị thờ chung tất cả các vị được tôn là hoàng hậu, ngườiđứng đầu cai quản trong nội cung, có vai trò rất quan trọng Các vị đế hậu triềuTrần, phần đa xứng đáng bậc quốc mẫu như Thuận Thiên hoàng hậu, Thiên Cảm
Trang 29hoàng hậu, Khâm Từ hoàng hậu… Các vị này đã góp phần nội trị, giúp vương triềuthuận chiều mát mái, cố kết nhân tâm để hoàng tộc, vua tôi chăm lo việc nước, gópphần đưa việc trị quốc an dân đạt thành quả đáng kể mà sử sách đã có nhữngchương mục ca ngợi.
Gian bên trái có đại tự “ Tốn thuận” Ban thờ ở đây có bài vị “ Trần triều đếphi liệt vị” (Ngôi thần các bà hoàng phi của các hoàng đế) Các hoàng phi thường
là các những người trẻ trung hơn, xinh đẹp hơn, phần lớn các hoàng phi triều Trần
là những người xác định phận sự tuân thủ quy tắc hậu cung Nhiều người còn tỏ rõđức độ như Lệ Trinh nguyên phi thời Trần Thái Tông, là người rất thương dân,khuyến khích việc nông trang, mở chợ cho dân trao đổi hàng hoá, giúp đỡ ngườinghèo Bà còn lập chùa thờ Phật để đôi khi hoàng đế tới thăm có nơi phụng đạo Việc thờ tự tại Thượng miếu nhìn chung từ công trình đến bài trí, đồthờ tự còn đơn giản, chưa được ngang tầm với vị thế, cũng như công lao của cácbậc Tiên quân hoàng đế, cũng như hoàng hậu, vương phi triều Trần
Công trình thờ tự tại Hạ miếu.
Tại Hạ miếu ngoài cùng là tiền đường, tiền đường thường to rộng hơn các tòakhác, nơi thường diễn ra hành lễ, do vậy ít bài trí ban thờ Tại gian giữa tiền đường
có ban thờ chung, trên có long ngai bài vị ghi:
“-Trần triều nhập nội thị Thái úy Phò mã Đô úy Nguyễn An Nghĩa tônthần” (Vị tôn thần Nguyễn An Nghĩa là con rể vua, chức Thái uý triều Trần)
“-Trần triều Phạm Điện súy Thượng tướng quân Quan nội hầu tôn thần”(Vị tôn thần Phạm Ngũ Lão Điện súy Thượng tướng quân tước Quan nội hầu triềuTrần”
“-Trần triều Tham tán quân vụ Phạm tôn thần” (Vị tôn thần Phạm Ngộ,tham mưu việc quân dưới vương triều Trần)
Ba vị trên là danh tướng, trợ tá đắc lực giúp Hưng Đạo đại vương trong sựnghiệp chống đế quốc Mông Nguyên thế kỷ XIII Và tại đây, các vị hiện diện ởcung ngoài, như sẵn sàng chờ lệnh giúp đại vương trợ thuận cho muôn dân theo sởcầu của trăm họ
Trang 30Phía trong tiền đường là tòa thiêu hương làm kiểu phương đình bốn mái congcong Trong thiêu hương có đặt long đình, đặc biệt trong long đình chạm bức phùđiêu tượng Phật tam thân, theo kiểu dáng ba tòa ở các chùa( Phật thời quá khứ,Phật thời hiện tại, Phật thời tương lai) Dưới hàng tượng tam thân( còn gọi tam thế)
có bức phù điêu “Trúc Lâm tam tổ” ( phái Trúc Lâm do đệ Nhất tổ Trần NhânTông, đệ nhị tổ Pháp Loa, đệ tam tổ Huyền Quang) Hai bên siêu hương có hai dãynhà nhỏ tạo sự khép kín nơi tôn nghiêm Nhà bên Đông thờ “Võ ban huân thần liệtvị”(các võ tướng, nhất là lục bộ tướng tâm huyết phù tá Đại vương đánh giặc) Lại
có cả bài vị “Trần gia chính phái liệt vị”(Các vị thuộc chính phái họ Trần) Tòa bênTây thờ “Văn ban huân thần liệt vị” (các văn thần có công lao) Và có bài vị thờ : “Hiệp biện Đại học sỹ, Nhập nội Hành khiển Trương tôn thần” Đây là vị văn thầnđạo cao đức trọng Trương Hán Siêu, được Hưng Đạo đại vương tin cẩn.Ở đây còn
có bài vị thờ : Hiệp biện Đại học sỹ lĩnh Định - An Tổng đốc Phạm Thiện Nhân.Đây là bài vị thờ tổng đốc Phạm Văn Toán, người có nhiều công lao xây dựngmiếu nhà Trần (kể cả đền Thượng cũng như đền Hạ)
Tòa đệ nhị có đại tự: “Hưng Đạo thân vương cố trạch” khắc năm Đinh Dậu(1897) dưới triều vua Thành Thái Qua nội dung đại tự khách hành hương hiểu đây
là nơi nhà cũ của Đại Vương Phần bài trí thờ tự tại tòa đệ nhị như sau: Gian giữa ở
vị trí trung tâm có ngai, bài vị:” Trần triều Thái sư Thượng quốc công Hưng Đạođại vương Phía trước bài vị thờ là thần tượng Hưng Đạo đại vương rất uy nghi,cũng vị trí trung tâm, hai bên có ngai cùng bài vị:
“- Trần triều Thánh tử tứ vị Đại vương tôn thần chi vị”(bài vị bốn Đại vươngtôn thần, con của đức Thánh trần)
“-Trần triều Điện súy Thượng tướng quân, quan nội hầu Phạm Ngũ lão đạivương tôn thần” (Tôn thần Điện súy Thượng tướng quân, tước quan nội hầu PhạmNgũ Lão đại vương)
Gian bên phải có ban thờ, ngai, bài vị đề: “-Trần triều hữu bộ tướng tòng tiền liệtvị” (bộ tướng giúp triều Trần, được thờ phụ); “-Trần triều tả bộ tướng tòng tự liệtvị” (tả bộ tướng được phối thờ cùng đại vương) Các vị tả, hữu bộ tướng là những
Trang 31người hiền giúp triều đình trong sự nghiệp bình nguyên và trị quốc an dân, phải kểđến tứ vị vương tử là con của Đại vương, cùng với Yết Kiêu, Dã Tượng, PhạmNgũ Lão, Trần Thì Kiến, Trương Hán Siêu, Phạm Lãm
Chính tẩm (còn gọi tòa đệ nhất), công trình này gồm ba gian thiết kế lối trùngthiềm, các cấu kiện như cột, xà, câu đầu làm theo lối cũ Gian giữa bài trí ban thờlớn, phía trong đặt khám thờ có bài thị Vương phụ, Vương mẫu
1 Hiển Thánh khảo An Sinh Vương, truy phong Khâm Minh đại vương thần vị(Thân phụ của Đại vương là An Sinh Vương, truy phong Khâm Minh đại vươngthần vị)
2 Hiển Thánh tỷ An Sinh Vương phu nhân, truy phong Thiện Đạo quốc mẫuthần vị (Thân mẫu của Đại Vương là An Sinh Vương phu nhân, truy phong ThiệnĐạo quốc mẫu thần vị)
3 Thân vương Khâm sai Tiết chế thiên hạ chư quân, Thái sư Thượngphụ Thượng quốc công Nhân vũ Hưng Đạo đại vương thượng đẳng thần, thần vị (Thần vị Thân vương Khâm sai Tiết chế thiên hạ chư quân, Thái sư Thượng phụThượng quốc công Nhân Vũ Hưng Đạo đại vương thượng đẳng thần)
4.Hưng Đạo đại vương phu nhân, hiệu Thiên Thành công chúa, truy phongNguyên Từ quốc mẫu, sắc phong Thiên Uy thái trưởng công chúa (Thần vị phunhân của Hưng Đạo đại vương hiệu là Thiên Thành công chúa, truy phong làNguyên Từ quốc mẫu, sắc phong là Thiên Uy thái trưởng công chúa)
5.Giữa hai long bài 3 và 4 nêu trên còn có cỗ khám nhỏ trong có bài vị ghinhư trên, lại có ván che ngoài (hãm trung) xin coi đây là cỗ khám thờ chung Đạivương và phu nhân
Hai bên gian giữa đều có ban thờ ở phía Đông và phía Tây
Phía Đông thờ các vị phu nhân của Vương tử và các vị Công chúa
Phía Tây thờ bốn vị con của Đại vương và con rể Điện Súy, thượng tướngPhạm Ngũ Lão
Các bài vị ở gian phía Đông gồm:
o Hưng vũ Đại vương nhất phẩm phu nhân
Trang 32o Hưng Nhượng đại vương nhất phẩm phu nhân
o Hưng Hiến đại vương nhất phẩm phu nhân
o Hưng Chí đại vương nhất phẩm phu nhân
(Các vị phu nhân ghi chung bài vị số 6)
Một long bài khác ghi hai Công chúa đó là:
o Đệ Nhất công chúa Nhân Miếu hoàng hậu (vợ Nhân Tông hoàng đế)
o Đệ nhị Thủy Tiên Công chúa Điện súy phu nhân (Vợ đại quan Điệnsúy Phạm Ngũ Lão và là con gái nuôi Đại Vương)
Gian phía Tây thờ bốn Vương tử gồm:
o Trần triều vương tử Khai Quốc công Hưng Vũ đại vương thần vị
o Hưng Nhượng đại vương thần vị (Trần Quốc Tảng)
o Hưng Hiến đại vương thần vị
o Hưng trí đại vương thần vị
Một bài vị khác cũng đặt trên ngai (số 9) ghi:
- Trần triều vương tế Điện súy Thượng tướng quân, quan nội hậu Phạm Tônthần thần vị
Như vậy đền Trần là nơi thờ tự gia tộc nhà Trần, triều đại hưng thịnh nhấtViệt Nam Một triều đại có bộ máy tập quyền thống nhất trên tất cả mọi mặt: vănhóa, giao thông, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Và cũng nhờ có chính sáchthân dân nên các vua Trần đã xây dựng nên khối đại đoàn kết toàn dân trong thờibình và nhất là trong thời chiến Trong đó vai trò hoàng đế thật vô cùng lớn lao.Các vị hoàng đế thời Trần trị vì gần hai thế kỷ có đến 2/3 thời gian làm cho nonnước Đại Việt hùng cường, để lại những mốc son, những ấn tượng tốt đẹp trongdân gian về võ công - văn trị cho dân tộc và nó trở thành truyền thống vàng soncho đất nước Đặt tiền đề huy hoàng cho những trang sử của các triều đại kế tiếp,cũng như thời đại mới của chúng ta Qua việc thờ tự các vua Trần cho thấy được
sự ngưỡng mộ của nhân dân ta đối với thế hệ cha ông đi trước đó chính là truyềnthống uống nước nhớ nguồn của nhân dân Việt Nam ta
2.2 Lễ hội đền Trần.
Trang 332.2.1 Lễ Khai Ấn.
Như trên đã nêu về các ngày kỷ niệm tại Trần Miếu Nếu tính cả Thượngmiếu Hạ miếu phải có tới trên hai chục ngày lễ Nhưng đại lễ mùa xuân vào dịprằm tháng giêng là đông vui, tấp nập hơn Lễ khai ấn được coi là “linh hồn” của lễhội đền Trần
Cội nguồn của lễ khai ấn đền Trần Nam Định.
Nhắc tới lễ khai ấn Đền Trần chắc hẳn không mấy ai là không biết, nhưng có
lẽ khi hỏi về lịch sử và nguồn cội của tục lệ này thì ít có mấy ai biết rõ Trên thực
tế có rất nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc ra đời của lễ khai ấn Đền Trần(Nam Định), nhưng trong bài viết này, em xin trích dẫn một số truyền thuyết về tục
lệ này theo sự kể lại của một số người dân quanh khu di tích Đền Trần, các cụ giàtrông coi trong khu đền và đặc biệt là theo lời kể lại của bác chủ từ Trần VănChiến Truyền thuyết kể laị rằng, sau khi vua Trần Nhân Tông nhường ngôi chocon trai là Trần Anh Tông, Người đã lui về ngự tại làng Tức Mặc một thời gian.Ngày đó, triều Trần là một vương triều hưng thịnh nhất, có chức quyền và bổng lộccao nhất trong xa hội lúc bấy giờ, nên vua nghĩ rằng cần tổ chức một dịp để ban tàiphước lộc cho bách gia trăm họ Vào thời ấy, nhân dân ta thường nghỉ ăn tết đếnhết ngày 15 tháng Giêng, sang ngày 16 thì mới bắt đầu trở lại với công việc củanhà nông, nên vua đã quyết định chọn ngày 14, rạng sáng ngày 15 để ban tài phướclộc cho dân chúng để sang ngày 16 thì mọi người mọi nhà sẽ yên tâm hơn bắt đầucông việc của một năm mới
Trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, tục lệ này chỉ lưutruyền ở làng Tức Mặc, các cụ cao tuổi trong làng Tức Mặc tổ chức một đoàn rướcgồm toàn bộ là con cháu họ Trần, bắt đầu rước từ khoảng 10 giờ đêm ngày 14 đếnThiên Trường và làm lễ tế tại đó, đến khoảng 12 giờ thì bắt đầu khai ấn
Nhưng về sau này, cụ thể là khoảng 20 năm trở lại đây, do nhu cầu nhân dân
và khách thập phương về dự ngày càng đông nên tục lệ này được tổ chức vói quy
mô lớn hơn rất nhiều mặc dù các nghi thức nghi lễ thì vẫn giữ nguyên như trướcđây và cũng vẫn tổ chức tế lễ tại ban cộng đồng của đền Thượng
Trang 34Lại có thuyết cho rằng: Sau khi chiến thắng quân Nguyên lần thứ nhất, vàongày 14 tháng Giêng, vua Trần đã mở tiệc chiêu đãi tại phủ Thiên Trường vàphong chức cho các quan, quân có công Kể từ đó, cứ vào ngày này đúng giờ Tý(23 giờ) , các vua Trần lại “khai ấn” đánh dấu sự trở lại quốc sự sau khi nghỉ Tết
Khái quát về lễ khai ấn đền Trần Nam Định.
Lễ khai ấn đền Trần (Nam Định) là một trong những sinh hoạt văn hóa mangđậm dấu ấn của quê hương Nam Định, nó không chỉ là một nét đẹp nhân văn củaquê hương Nam Định nói riêng và của dân tộc nói chung mà nó còn mang trongmình biết bao ý nghĩa lớn lao
Lễ khai ấn đền Trần còn mang ý nghĩa lịch sử văn hóa vô cùng to lớn Ai đến
dự lễ cũng mong nhận được “bảo ấn” mang về treo tại nơi trang trọng nhất tronggia đình, và như thế “bảo ấn” không chỉ mang lại an bình, phúc lộc cho dân chúng
mà còn nhắc nhở con cháu nhớ về công lao của tổ tiên đã lập lên triều đại nhàTrần- một triều đại hưng thịnh nhất trong xã hội phong kiến, một triều đại đã cócông mở mang bờ cõi, xây dựng hệ thống đê điều, phát triển nông nghiệp rực rỡ
Và hơn thế nữa lễ khai ấn đền Trần còn là một sinh hoạt văn hóa bản địa, nó khôngchỉ tạo lên bản sắc riêng cho vùng quê Nam Định mà còn góp phần bảo tồn và lưugiữ những nét đẹp văn hóa truyền thống
Hàng năm cứ vào dịp này, nguyên xưa dòng tộc Trần ở Tức Mặc cũng nhưngười làm ăn phương xa, kể cả các chi họ liên quan trong tỉnh, trong nước cũng về
Trang 35dự lễ Đây vốn là ngày kỷ niệm các bậc Thế tổ Đông – A trên Tiên miếu xưa Nếutính từ cụ Trần Kinh coi như đệ nhất Thế Tổ, đệ nhị Thế tổ Trần Hấp, đệ tam Thế
tổ Trần Lý, đệ tứ Thế tổ Trần Thừa thì ban đầu kỷ niệm bốn vị cùng các bậc phunhân
Do thời cuộc nên Tiên miếu không còn, Trần Miếu được phục dựng thờ các vịThế tổ, thờ 14 vị hoàng đế triều Trần, đế hậu, đế phi ở đền Thượng, còn đền Hạ thờHưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, là trụ cột quốc gia Vậy đại lễ mùa Xuânvừa bảo tồn nếp cũ từ buổi Trần sơ, vừa tôn thờ có sự tiếp nối các vị hoàng đếcũng như lương tướng của vương triều, do đó mà ý nghĩa càng thêm lớn
Trong tất cả các nghi thức diễn ra trong buổi lễ thì lúc khai ấn là quan trọngnhất Hình thức diễn ra chủ yếu là lễ chứ không có hội Dân gian chờ, trực đến giờ
tý ngày 14 rạng 15 tháng giêng để được nhận điệp ấn đầu Xuân bởi trong ấn có ghi
cả hàng chữ “Trần Miếu tự điển – tích phúc vô cương” Chữ tích ở đây có nghĩa làban cho Vậy ấn điển lễ Trần Miếu sẽ ban cho điều phúc không bờ bến, nói nôm na
là mãi mãi được hưởng phúc Có phúc tất có giàu, có sự yên lành, có tuổi thọ nghĩa
là mọi sự đều hanh thông tốt đẹp.Nghĩa là điển lễ ở Trần Miếu ban phúc lâu dài
Có hai loại “ấn” Ấn được đóng trên giấy điệp vàng là dành cho "thườngdân" Ấn được đóng trên tấm lụa đỏ là dành cho quan chức
Cứ 10 khắc trên lụa đỏ chỉ có 1 tấm duy nhất là có giá trị vì được cắt ra từ tấm
áo hoàng bào của các đời vua
Nếu ai may mắn được tấm lụa đó thì coi như đã đắc lộc, đắc thọ.Mỗi năm,vào lễ Khai ấn, nhà đền thường phát ra khoảng 10 vạn “ấn”
Do khâu tổ chức để diễn ra lễ hội quá vất vả nên ban lãnh đạo định lại chỉ hợp
tế vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu
Công tác chuẩn bị và thời gian diễn ra lễ khai ấn.
Lễ khai ấn chính thức diễn ra vào giờ Tý ( trước đây lấy giờ tý lúc 12 giờnhưng ngày nay giờ tý được tính vào lúc 11 giờ) ngày 14 tới rạng sáng ngày 15tháng Giêng
Tuy thời gian diễn ra lễ khai ấn chỉ kéo dài trong thời gian ngắn khoảng ba
Trang 36đến bốn tiếng nhưng công tác chuẩn bị cho buổi lễ này cũng rất quy mô và chuđáo Về phần tổ chức để chuẩn bị cho lễ khai ấn, tỉnh và thành phố cùng với địaphương và nhà đền đã phối hợp với nhau thành lập ra một ban tổ chức gồm có bốnban, mỗi ban đảm nhiệm một công việc để đảm bảo cho buổi lễ được diễn ra tốtđẹp
1 Ban lễ và hội do ông chủ từ đảm nhiệm, lo chuẩn bị và tổ chức các nghithức, nghi lễ cũng như các hoạt động hội
2 Ban bảo vệ: do công an và dân quân của tỉnh cũng như của địa phương đảmnhiệm Ban bảo vệ thực hiện việc trông coi, giám sát, đảm bảo an ninh chobuổi lễ
3 Ban văn hóa: Do ban quản lý khu di tích cùng với sở văn hóa và ban văn hóacủa địa phương phối hợp với nhau Ban văn hóa đảm nhiệm việc trang tríkhánh thiết, tuyên truyền và quảng bá về lễ khai ấn cũng như khu di tích đềnTrần
4 Ban tài chính: Do tỉnh và địa phương đảm nhiệm, ban này lo phần việc về tàichính, ngân sách để buổi lễ diễn ra tốt đẹp
Ngày lễ cũng như ngày thường, có rất nhiều những đoàn khách thập phươngđến thăm viếng và cúng lễ tại khu đền, hầu hết khách đến đây đều phát tâm côngđức Số tiền do khách thập phương công đức được nhà đền thu và nộp lại cho địaphương, sau đó địa phương trích lại để trùng tu, tôn tạo khu di tích cũng như để tổchức các lễ hội, ngân sách để tổ chức lễ khai ấn cũng được trích ra từ nguồn thunày Lễ khai ấn chính thức diễn ra vào giờ Tý đêm 14 tháng Giêng nhưng ngay từsáng 14 đã có rất nhiều những hoạt động được tỉnh cùng địa phương khu di tíchphối hợp tổ chức như: Tỉnh chỉ đạo địa phương tổ chức các hoạt động hội tại sântrước cổng “Nam Chính Môn” Trước đây, có thể kể đến một số hoạt động như:Vật, chọi gà, đấu võ thuật, cờ tướng, đu quay, leo cầu kiều…nhưng ngày nay chỉ tổchức được một số hoạt động như múa lân, vật, võ thuật vì khôi phục lại những hoạtđộng này rất khó mà chỉ nặng về lễ nghi tín ngưỡng
Bên cạnh việc tổ chức một số hoạt động hội, địa phương còn tổ chức rước
Trang 37kiệu từ sáng 14 Các xã có liên quan đến khu cung điện phủ đệ nhà Trần như LộcQuý, Hậu Bồi, Đệ Nhất, Đệ Nhì, Đệ Tam, Đệ Tứ, Lựu Phố, Động Kính - Tức Mặc,
Hạ Lộc…đều rước kiệu Thánh sở tại về Trần Miếu hợp tế Ngay bát hương TrúcLâm đệ nhất tổ ở chùa Phổ Minh cũng rước trên kiệu “ngọc lộ” sang Trần Miếu.Truyền thuyết còn nói việc các thôn Tráng Kiện, Động Kính, Thượng Bái (đềuthuộc Lộc Vượng ngày nay) còn phải hợp đồng với ba xã Lộc Quý, Hạ Lộc, HậuBồi (nay thuộc xã Mỹ Phúc - huyện Mỹ Lộc) rước kiệu thần sở tại về bái yết chùaPhổ Minh sau đó mới rước sang Trần Miếu
Như vậy là việc rước kiệu “ngọc lộ” khá long trọng Trước khi rước ôngtrưởng họ Trần, vào thượng điện là nơi thờ đức vua Trần Nhân Tông, làm lễ xinrước bát nhang ra kiệu Đám rước có đầy đủ nghi trượng và các đoàn tín đồ cầmphan theo sau Theo sau kiệu “ngọc lộ” còn có kiệu thần của các xã Lộc Quý, HạLộc, Hậu Bồi Tuy chùa Phổ Minh và Trần Miếu chỉ cách nhau khoảng 400m màphải khởi đầu từ đầu giờ Mão (5h) đến cuối giờ Mão (7h) mới đến nơi Khi đoànkiệu đến sân Trần Miếu thì tế chủ rút năm nén nhang ở lô hương kiệu “ngọc lộ”cắm vào bát nhang chỗ Thần vị đức vua Trần Nhân Tông trong Thượng miếu Sau
đó tiếp tục tế lễ và lưu kiệu ở lại đến chiều ngày 16 mới rước trở lại chùa
Trưa ngày 14 còn rước bát nhang tổ họ Trần và chóe nước xuống đền phốHàng Tiện là nơi thờ đức Thánh Trần, tế lễ một tuần rồi rước về đền ThiênTrường Trước khi rước về có hái một chùm hoa hồng đem theo để cắm trên bancông đồng đền Thiên Trường, còn chóe nước thì để lại đền Hàng Tiện làm nướcThánh
Lệ này lâu nay không thực hiện Nhưng sự việc trên khiến phải nghĩ tới mốiquan hệ tộc Trần giữa Tức Mặc và phố Hàng Tiện phải có sự ràng buộc, mối liênkết nào đó?
Như vậy là trước khi khai ấn kiệu thần ở các nơi cũng như kiệu “ngọc lộ” đãđược tề tựu tại Trần Miếu
Diễn biến đêm khai ấn được thực hiện như sau:
Thường ngày ấn để ở cung cấm đền Cố Trạch, nơi thờ Trần Quốc Tuấn.Sở dĩ
Trang 38đặt ấn tai đền thờ đức Thánh Trần vì họ quan niệm rằng, ấn là thể hiện sức mạnhtriều chính, mà vua là người phải chăm lo, quản lý việc triều chính nên sẽ đặt ấn ởđên thờ Trần Hưng Đạo để Người quản lý và bảo vệ.
Đêm ngày 14 ban tổ chức phải chuẩn bị mực dấu, lụa vàng, giấy vàng dọctheo khổ khoảng 20 x 40 cm và trước giờ Tý tế chủ phải làm lễ ở đền Cố Trạch xinrước ấn ra kiệu Đúng giờ Tý đoàn rước có nhạc cổ, nghi trượng cùng đoàn ngườimặc áo tế rước từ Cố Trạch sang đền Thiên Trường, đặt ấn tại ban công đồng rồitiếp tục làm lễ xin khai ấn.Có một điều đặc biệt là cả đoàn rước khoảng trên mộttrăm người, tất cả đều là những nam thanh nữ tú con cháu nhà Trần taị làng TứcMặc, nam thanh niên thì được rước kiệu, còn nữ giới thì chỉ được đi theo rước hoa.Đoàn rước được sắp xếp theo thứ tự như sau: Đi đầu là đèn nến, kiếm cờ, đến kiệu
ấn rồi mới đến kiệu của đức Thánh Trần và cuối cùng là nhân dân
Trước giờ phút đóng ấn, chủ tế ngồi nghiêm trang ở chiếu giữa, bồi tế dâng ấncùng tập lụa, giấy đặt phía trước một cách trịnh trọng Chiêng trống nổi lên và tếchủ lần lượt đóng ấn trên giấy, hoặc trên lụa, vải.Thường thì người lãnh đạo cóchức sắc cao nhất của Trung Ương về dự sẽ đóng dấu ấn đầu tiên, sau đó mới tớiông Chủ từ và các thầy nho Mọi người vây quanh chờ đợi được nhận tờ điệp códấu ấn của miếu nhà Trần Bên cạnh dấu son, ban tổ chức còn phải đề năm, tháng,ngày trong tờ điệp Nhưng viết sao đủ số chữ để khi tính phải vào chữ sinh (theo
kiểu tính sinh, lão, bệnh, tử) Thí dụ: “Bính Tuất niên chính nguyệt, thập ngũ nhật thừa mệnh phụng khái ấn” Người được tờ “điệp” sẽ đem về dán tại đền, phủ, từ
đường hoặc tại gia, hy vọng sẽ trừ được tà ma, mọi sự được như ý.Trong đêm 14tháng Giêng, nhà đền chỉ phát ấn coi như lộc đầu xuân cho nhân dân, nên số lượng
ấn là có hạn.Những ai muốn nhận được ấn mà không phải chen lấn, xô đẩy trongđêm 14 thì phải đăng kí trước với nhà đền trong khoảng thời gian từ ngày 1 Tết tớihết ngày 12 tháng Giêng, sau khi đăng kí họ sẽ nhận được một phiếu nhận ấn Cóhai loại phiếu, nếu là phiếu bằng vải lụa thì tương ứng với 20.000 cho một phiếu,nếu là phiếu bằng giấy thì tương ứng với 2.000 Đến ngày lế khai ấn thì họ chỉ việcmang phiếu đến để nhận ấn, và những đối tượng này thường nhận ấn vào những
Trang 39ngày sau ngày 14.
Mặc dù phải thức thâu đêm làm lễ khai ấn, nhưng sáng ngày 15 tháng giêngvẫn tổ chức rước nước Trước khi đi, chủ tế vào lễ xin rút một nén nhang ở báthương nhang công đồng, đặt trên kiệu bát cống Đoàn phù giá nghiêm trang trong
lễ phục cùng cờ biển uy nghi, phụng nghing kiệu ra ngoài cổng đền rồi dừng lạilàm lễ tế cáo trời đất Sau đó đám rước tiếp tục diễu hành theo nhịp trống, chiêng
ra bến sông Hồng ở Hữu Bị cách đền chừng 3 km
Đoàn kiệu đến bến sông, đám rước dừng lại, Ban tế chuẩn bị đem chóe đựngnước xuống thuyền, thuyền được chèo ra giữa dòng sông Tế chủ múc độ 10 bátnước đổ vào chóe, rồi quay thuyền trở lại rước nước đặt lên kiệu Đoàn rước từ từtheo nghi thức về đền Nước đó được múc đổ vào các bát trên ban và tiến hành tếnước Sau khi tế nước, lộc này được ban cho con cháu họ Trần uống, để nhắc nhởkhông quên nguồn gốc tổ tiên, cũng như nghề nghiệp mà ông cha từng trải, để từ
đó dựng nên cơ nghiệp đế vương dòng tộc Đông – A
Sang ngày 16 tháng giêng, có lệ tế cá tại đền Thiên Trường Cá được đựngtrong 11 thùng sơn đỏ Một đôi cá triều đẩu (cá quả) nặng chừng 2kg đựng trongmột thùng Cá chép (còn gọi là long ngư) mỗi con nặng 2 kg đều đựng trong thùng
có nước Theo truyền thuyết thì tên cá triều đẩu và cá long ngư gắn với tên hai vịThế tổ họ Trần, đó là Trần Kinh và Trần Lý
Tế cá từ sáng sớm đến trưa mới xong đồng thời rước cá ra thả tại sông Hồng
Cá này được nuôi sạch, lại chuẩn bị cho cá có sức chịu đựng dẻo dai Khi tế cácgiáp còn phải thay nhau tắm cho cá, nghĩa là phải lấy nước mới khoát lên mình cá,giữ cho cá sạch và khỏe
Cũng có năm địa phương tổ chức hát chèo, đấu vật, thi đấu cờ tướng, cờ thẻ,
tổ tôm điếm và đặc biệt còn tổ chức thi thơ vịnh cảnh đền cũng như cảnh đẹp quêhương Cuộc thi này khích lệ ý thức hiếu học, gợi lại tình cảm đối với dòng tộc,đối với chôn rau cắt rốn, do vậy thu hút dông đảo những người có học ở địaphương và hình thức này cũng là kêu gọi những người con đi xa, hằng năm nhớ vềhội Xuân Tức Mặc và với hội 20 tháng 8 kỷ niệm đức Thánh Trần
Trang 40* Ý nghĩa
Lễ khai ấn đền Trần Nam Định là một trong những sinh hoạt văn hoámang đậm dấu ấn của quê hương Nam Định, nó không chỉ là một nét đẹp nhân văncủa quê hương Nam Định nói riêng và của dân tộc nói chung mà nó còn mangtrong mình biết bao ý nghĩa lớn lao
Lễ khai ấn đền Trần còn mang ý nghĩa lịch sử văn hoá vô cùng to lớn Aiđến dự lễ cũng mong nhận được “bảo ấn” không chỉ mang lại an bình, phúc lộccho dân chúng mà còn nhắc nhở con cháu nhớ về công lao của tổ tiên đã lập nêntriều đại nhà Trần - một triều đại hưng thịnh nhất trong xã hội phong kiến, mộttriều đại đã có công mở mang bờ cõi, xây dựng hệ thống đê điều, phát triển nôngnghiệp rực rỡ Và hơn thế nữa lễ khai ấn đền Trần còn là một sinh hoạt văn hoábản địa, nó không chỉ tạo nên bản sắc riêng cho vùng quê Nam Định mà còn gópphần bảo tồn và lưu giữ những nét đẹp văn hoá truyền thống
* Vai trò trong phát triển du lịch Nam Định
Lễ khai ấn đền Trần Nam Định là một lễ hội mang ý nghĩa lịch sử to lớn đốivới nhân dân địa phương thôn Tức Mặc nói riêng và của nhân dân tỉnh Nam Địnhnói chung Bên cạnh ý nghĩa lịch sử to lớn thì lễ hội đền Trần cũng có vai trò rấtlớn trong phát triển du lịch của tỉnh Hàng năm cứ vào dịp lễ hội diễn ra nhân dânkhắp mọi miền của tổ quốc đã đổ về đây để cùng hòa mình vào với không khí tưngbừng của lễ hội Có người đến để cầu phúc cho gia đình được bình an hạnh phúc,
có người lại muốn đến tận nơi để được tận mắt chứng kiến sự linh thiêng của lễhội Dù là các du khách đến đây dưới bất kì hình thức nào thì sự có mặt của họ đãđem lại nguồn thu đáng kể từ du lịch lễ hội đóng góp vào ngân sách nhà nước Cácnhà hàng khách sạn lúc nào cũng đông đúc khách trong các ngày lễ hội Ban quản
lý di tích thu lợi nhuận từ việc trông coi xe trong đền, không những thế còn tạođiều kiện cho nhân dân trong vùng có công ăn việc làm và thu lợi nhuận từ việcbán hàng lưu niệm, đồ ăn, đồ uống phục vụ du khách phương xa Các công ty dulịch tổ chức các tour du lịch tham quan lễ hội nhiều hơn Điều này đã góp phầnkhông nhỏ vào nguồn ngân sách của ngành du lịch tỉnh, đem lại cuộc sống ấm no